Chào các bạn! Truyen4U chính thức đã quay trở lại rồi đây!^^. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền Truyen4U.Com này nhé! Mãi yêu... ♥

Chương I: MÙA CŨ TRONG TÔI

Tôi tên Hải. Phạm Huy Hải.

Trong đơn vị, ít ai nhớ tôi họ gì. Họ chỉ quen miệng gọi "Hải Quảng Nam" là đủ. Nghe tới hai tiếng "Quảng Nam", mấy ông cùng tiểu đội cười cười:
– À, thằng nhỏ đen đen, học giỏi văn mà người như cục đất đó hả?

Ừ, tau đó.
Thằng nhỏ đen như đất, người không cao, vai lúc nào cũng vác cuốc, vác xẻng, đào hầm, nối điện, tìm cống riết nên lưng lúc nào cũng... mỏi.

Tôi sinh ra ở một thị xã nhỏ ở Quảng Nam, sau lưng là dãy núi lổn nhổn đá, trước mặt là một con sông đục màu phù sa.
Mùa hè, gió Lào thổi rát mặt, nóng đến mức muốn chửi thề mà miệng khô, chửi cũng lười.
Mùa mưa thì nước sông cuồn cuộn, bọt trắng xóa, tiếng mưa rơi trên mái tôn nghe như ai gõ trống ẩu trên đầu.

Nhà tôi hồi ấy, người ta gọi là "tiểu tư sản".
Lúc đầu, tôi còn nhỏ, không hiểu chữ đó là chi. Chỉ biết mỗi lần cán bộ phường tới nhà, mở miệng là:
– Gia đình có gốc là thành phần tiểu tư sản, phức tạp...
Là mặt ba tối lại, má im hẳn, em gái cúi gằm xuống.

Ba tôi là kỹ sư.
Ông mê cầu, mê đường, mê cột điện.
Ông vẽ bản đồ, thiết kế cầu qua sông, con đường vượt đèo. Mỗi lần nói về nghề, mắt ông sáng lên, tay ông vẽ trong không trung những đường cong, đường thẳng như có thể bắc ra đời thật.

Nhưng mỗi lần đem bản vẽ lên cơ quan, về nhà, ông chỉ nói được mấy câu:
– Họ coi qua xong... nói "để đó đã".

Thành phần tiểu tư sản, cải tạo chưa tốt... lo nghĩ ít thôi, lo học tập nhiều vô...
"Để đó đã."

Hai chữ ấy, nghe riết, thành cái đinh cắm trong tim ba.
Cầu thì chưa bắc, đường chưa mở, mà lưng ba thì đã còng xuống thêm.

Đêm, tôi nằm trong buồng, lưng quay ra ngoài, làm bộ ngủ. Tiếng mưa gõ lộp bộp ngoài hiên, giọng má vang lên, nhỏ mà đắng:

– Giá như nhà mình có cái bằng liệt sĩ treo trên tường, chắc người ta đỡ khinh mình hơn chút, ông hè...

Ba đập đôi đũa xuống mâm:
– Bà nói chi kỳ cục rứa! Bằng liệt sĩ đâu phải cái giấy xin ưu tiên!

Má cười héo:
– Tôi nói thiệt. Bữa ni qua nhà chị Ba đầu xóm, cán bộ thấy bằng liệt sĩ của thằng con, nói năng ngọt xớt. Còn tới nhà mình... người ta nhìn như mình mắc nợ họ. Có thằng con đi bộ đội, rủi... có mệnh hệ chi... ít ra nó chết cũng có ý nghĩa.

Câu "ít ra nó chết cũng có ý nghĩa" làm tôi rùng mình.
Nằm trong màn, mắt tôi mở trừng, nước mắt chảy thấm vô gối.
Lúc đó, tôi không hiểu hết, chỉ thấy trong lòng vừa đau, vừa tức, vừa thương ba má, mà không biết thương răng cho đúng.

Em gái tôi học giỏi hơn tôi. Nó cũng học Văn, người gầy, tóc buộc cao, mắt lúc nào cũng sáng dưới ngọn đèn dầu.
Năm này qua năm khác, nó được chọn đi thi học sinh giỏi, từ huyện, tỉnh, rồi toàn miền Bắc vì cả nhà đã ra Hà Nội sống.

Thầy giáo Văn của nó – ông thầy gầy, đeo kính, nói chuyện lúc nào cũng lẫn thơ ca – hay ghé nhà tôi. Ngồi dưới hiên, thầy nâng chén nước chè, thở dài:
– Con gái bác có năng khiếu lắm. Vô đội tuyển quốc gia là cái chắc. Có điều...

Ba hỏi:
– Có điều chi, đồng chí?

Thầy nhìn quanh, hạ giọng:
– Hoàn cảnh gia đình... cũng khó đó bác ạ. Mình không quyết hết được mọi chuyện.

Tôi ngồi trong góc, làm bộ đọc sách, nhưng tai nghe rõ từng chữ.
"Tài năng" đứng một bên, "hoàn cảnh" đứng một bên. Và người ta chọn "hoàn cảnh".

Lần thứ ba em tôi bị gạch tên khỏi danh sách thi quốc tế, nó chỉ cười, nói:
– Thôi anh Hai, em ở nhà với má cũng được. Các bạn khác đi thay, chắc hợp hơn.

Nhưng tối đó, tôi nghe nó khóc. Tiếng khóc nhỏ, trong buồng bên kia, giống tiếng má nhiều năm trước.

Tôi cũng mê Văn. Lớp mười, tôi được giải học sinh giỏi Văn toàn miền Bắc. Thầy trao giấy khen, vỗ vai:
– Hải có ngòi bút. Sau này viết báo, viết văn được đấy. Ghi lại chuyện đời, chuyện người, chuyện đất nước nghe chưa?

Tôi cầm tờ giấy, nó mỏng lét.
Nhẹ.
Nhẹ hơn tiếng thở dài của ba.
Nhẹ hơn ánh nhìn hụt hẫng của má.

Chừng đó, ngòi bút không đủ nặng để giữ tôi lại phía sau.

Chiến tranh lúc đó như một đám mây đen phủ trên bản đồ.
Tin từ Quảng Trị, Huế, miền Nam tràn về loa phường – "chiến dịch này", "chiến thắng kia", "hi sinh chỗ nọ".
Bạn bè tôi đăng ký đi bộ đội.
Đứa thì nói:
– Đi giải phóng miền Nam chớ chi!
Đứa khác:
– Đi để sau ni, con cái khỏi hỏi "hồi đó ba làm chi"!

Còn tôi, cầm cây bút, nhìn vào mục "nguyện vọng", tay tự động ghi: "Tự nguyện ra chiến trường."

Ba đọc đơn, im rất lâu. 
Má nhìn tôi, ánh mắt vừa sợ vừa... nhẹ đi, như thể một gánh nặng trong lòng bà vừa có chỗ đặt xuống.

Ba hỏi:
– Con tính đi bao lâu?

Tôi cười:
– Dạ... chừng nào đất nước yên thì con về.

Má lẩm bẩm:
– Biết có về được hôn... Có khi... về trong di ảnh...

Ba quát:
– Bà im ngay! Con còn đứng đây mà nói gở chi rứa!

Ông quát, nhưng mắt ông đỏ hoe. Tôi quay mặt đi, không dám nhìn.
Trong bụng, một giọng nói nhỏ, dai như mưa:

"Nếu con có chết,
nhà mình cũng có một cái bằng treo trên tường.
Cả nhà khỏi phải cúi đầu nữa."

Nghĩ rứa, vừa thấy tội lỗi, vừa... nhẹ người. Một thằng con trai sắp hai mươi tuổi, đôi khi chỉ cần một lý do vừa vặn để đẩy nó ra chiến trường.

Tôi khoác ba lô lên đường.
Từ Hà Nội, tàu chở chúng tôi vào Nam.
Toa tàu đầy mùi mồ hôi, mùi vải mới, mùi thuốc lá rẻ tiền, và mùi háo hức.

Đám con trai mười tám, mười chín tuổi cười nói ồn ào. Đứa cầm ảnh người yêu, đứa khoe thư, đứa hứa với nhau "thống nhất xong đi ăn kem Bờ Hồ".

Tôi ngồi sát cửa sổ, nhìn phong cảnh chạy ngược: ga xép, ruộng, sông, đồi, làng... rồi biến mất sau lưng con tàu.
Thỉnh thoảng, tôi mở sổ, viết mấy dòng:

"Tôi đi, nào biết có ngày trở lại.

Có người mang theo lời hẹn,
còn tôi...
mang theo câu nói lệch lạc của má
và cái lưng còng của ba."

Đoàn tân binh ghép vào các đơn vị khác nhau. Qua mấy trạm, cuối cùng tôi được điều về hướng Quảng Trị, chuẩn bị cho một trận đánh mà lúc đó chưa hiểu hết là lớn như thế nào.

Ở một trạm tập kết trước tuyến lửa,
tôi gặp anh.

Sen.

Chiều đó, trời nặng mây. Gió đem theo mùi nước sông và mùi khói pháo còn vương. Đơn vị vừa nghỉ chân sau chặng hành quân. Mồ hôi dính lưng, giày lính nặng bùn.

Ở một góc sân, bên gốc cây cháy đen vì bom, có người đang ngồi cúi đầu lau súng.

Anh mặc áo bộ đội bạc màu, tay áo xắn lên, bắp tay gân guốc. Mặt anh gầy, xương hàm rõ, lông mày rậm, da rám nắng. Tôi nhìn kỹ, nhưng rồi dừng lại ở đôi mắt:
mắt nâu, sâu, hơi buồn, nhưng tỉnh – cái kiểu mắt của người đã thấy nhiều thứ hơn một thằng như tôi từng tưởng tượng.

Đám lính quanh đó gọi:
– Anh Sen ơi, tối nay còn luyện bơi vượt sông không?

Anh không quay đầu, chỉ "ừ" một tiếng. Giọng Bắc, dứt khoát, khô như một nhát dao chém xuống cây tre.

Lúc đó, tôi nghĩ: "Ủa, sao có người giống mấy nhân vật trong truyện Văn tới rứa?" Trong sách, mấy anh đặc công, trinh sát, thường được tả có mắt kiểu đó – sâu, buồn, mà sáng.

Buổi tập gỡ mìn chiều đó, tôi loay hoay với bó dây dẫn nổ. Tay đổ mồ hôi, dây trơn, tim đập nhanh hơn nhịp tay. Thầy phụ trách khiêng thùng đạn đi chỗ khác, để tôi với mớ dây như một thằng đần.

Đang bực, tôi nghe một giọng trầm, trậm rãi phía sau:
– Làm chậm thôi. Nghĩ từng bước một. Tay run là mìn nó cười đó.

Tôi quay lại.
Anh đứng đó, cách tôi một bước.
Điếu thuốc kẹp giữa ngón tay, chưa châm.
Mắt anh nhìn thẳng vào tay tôi, rồi ngẩng lên nhìn mặt tôi.

Tôi lúng túng:
– Dạ... lần đầu nên...

Anh hơi nghiêng đầu:
– Lần đầu ai chả thế. Giỏi Văn như cậu mà sợ mấy thứ này à?

Tôi trố mắt:
– Răng anh biết...

Anh nhếch môi, như cười mà chưa thành nụ:
– Ở đây tin tức chạy nhanh hơn bom. Nghe bảo cậu là học sinh giỏi Văn toàn miền Bắc, ra Hà Nội học, nhiều lắm...

Giọng anh Bắc, xưng "tôi – cậu", nghe vừa trịnh trọng, vừa mộc.
Tự dưng tôi thấy quê quê.
– Dạ... Văn với bom đạn... chắc khác xa nhau, anh hè.

Anh gật:
– Khác. Nhưng biết đâu được, chiến trường cũng cần người... viết lại cho đúng.

Chỉ tôi xong, anh quay đi. Còn tôi, ngồi ôm bó dây, trong lòng có cái chi vừa ấm, vừa nhói.

Tối đó, dưới ánh đèn dầu ở trạm, tôi mở sổ:

"Hôm nay gặp anh Sen.
Mắt nâu, giọng Bắc, tay lau súng mà nói chuyện Văn như không.

Ở giữa đường ra trận, lần đầu có người nhìn mình như một người,
chứ không phải một con số, một 'thành phần'."

Tôi không viết tên anh, nhưng tay tự động viết chữ "anh" đứng trước chữ "Sen" trong đầu.
Tới lúc nhận ra thì mực đã khô.

Vài ngày sau, đơn vị biên chế lại.
Tôi được phân về Tiểu đội 1.

Tiểu đội 1 – nghe thì bình thường, nhưng đó là bảy con người mà sau này, mỗi khi nghĩ lại, tim tôi vừa ấm vừa đau.

Anh Tạ – tiểu đội trưởng, người Thanh Hóa, ngoài hai mươi lăm.
Người rắn như khúc gỗ lim, giọng xứ Thanh khàn khàn, mỗi lần chửi thề là cả hầm cười rần rần. Anh nói ít nhưng nói câu nào chắc câu nấy, thương anh em như ruột.

Cường – anh người Hà Nội, sinh viên Nhạc viện, cao gầy, da trắng, có cái harmonica lúc nào cũng để trong túi. Cường thổi nhạc giữa bom rơi, làm cả hầm nhớ ra mình vẫn còn là con người.

Bình – người Sài Gòn, theo ba má tập kết ra Bắc, sinh viên Mỹ thuật. Mặt trắng, cười có lúm đồng tiền, tay lúc nào cũng cầm một cuốn sổ vẽ nham nhở than.

Anh Sen – lính đặc công trinh sát, người Nam Định. Ít nói, cộc, mắt nâu sâu, đi như con mèo – nhẹ mà chắc.

Tú – nhỏ nhất tiểu đội, chưa đủ mười tám, quê đâu miền Trung giọng lơ lớ.
Mặt non choẹt, tóc lởm chởm, mồ hôi lúc nào cũng dính trán. Nó gọi anh Tạ là "anh cả" suốt ngày:
– Anh cả ơi, mai yên yên cho em ra sông tắm một bữa...

Ai nghe cũng cười. Tú sợ chết chứ, nhưng nó cười nhanh tới mức nỗi sợ không bám kịp.

Tấn – lính thông tin, người Hà Nội. Mới mười chín, ôm cái máy PRC-25 to hơn nửa người. Giọng nói trong, rõ từng chữ, chỉ huy nghe là mê. Nó hay trêu anh Bình đỏ mặt.

Còn tôi – Hải Quảng Nam, lính công binh, trước làm thợ điện, giờ đào hầm, gỡ mìn, đặt thuốc nổ.
Nhỏ con nhất nhì tiểu đội, da đen, tay chai, miệng ít nói, nhưng trong đầu lúc nào cũng có chữ.

Hôm biên chế, anh Tạ vỗ vai tôi:
– Mi, thằng Hải, từ ni là người Tiểu đội 1. Đào hầm cho chắc vô, hỉ.

Tôi dạ.
Mắt liếc qua, thấy Sen đứng đó, vai vác thêm ba lô của đứa khác, mắt vẫn nâu, vẫn sâu, nhưng ánh nhìn chạm vào tôi một thoáng rồi lướt đi.

Buổi tối đầu tiên ở hầm Tiểu đội 1, mưa bắt đầu rơi. Nóc hầm là đất, nước chảy ròng ròng theo vách. Trong không gian mù mịt khói thuốc, bảy đứa con trai ngồi quanh ánh đèn dầu vàng vọt.

Bình dựa vách vẽ gì đó. Tú dựng súng xong là nằm ngửa, tay gối đầu, miệng huyên thuyên:
– Mai yên là em ra bờ thành coi... nghe nói trong kia có cây ổi...

Anh Tạ quát:
– Ổi với chả eo! Bom nó dần cho nát xác đó con!

Cả hầm cười. Tấn ôm cái máy, ngồi sát cửa, nghe sóng.
Cường lau harmonica.

Còn Sen – anh ngồi sát cửa hầm, lưng dựa tường, một chân co, một chân duỗi.
Mắt anh nhìn ra ngoài – nơi chỉ có bóng tối, tiếng mưa và tiếng pháo xa xa.

Tôi ngồi ở một góc, bên cạnh đống xẻng, cuốc của công binh. Không hiểu sao, mắt cứ lén nhìn về phía anh.

Mỗi lần tôi nhìn, gần như lần nào anh cũng cảm được. Anh quay sang. Đôi mắt nâu chạm vào mắt tôi, làm tim tôi giật một cái. Tôi vội quay đi, giả bộ cúi đầu nghịch mấy viên đá, nhưng mặt nóng.

Tối đó, khi mọi người ngủ, tiếng ngáy của anh Tạ hòa với tiếng mưa, tôi lấy sổ ra.

"Đêm đầu tiên ở hầm Tiểu đội 1.

Bảy người.

Một anh Tạ giọng Thanh, chửi mà ấm như gà mẹ.
Một Cường thổi nhạc như thở.
Một Bình vẽ, mặt trắng.
Một Tú cười to, sợ chết mà hay nói chuyện sống.
Một Tấn ôm sóng, giữ tiếng nói cho cả đơn vị.
Một anh Sen mắt nâu, ngồi chỗ cửa hầm, lưng dựa tường.

Và...
một thằng Hải, người như cục đất, không biết mình sẽ chết ở đâu, nhưng bắt đầu thấy... muốn sống thêm chút nữa."

Tôi dừng bút ở đó. Không viết tiếp về cảm giác lạ trong ngực mỗi lần Sen nhìn lại.
Trong những bài văn tôi từng làm hồi đi thi, tình yêu luôn là "nam nữ", "quê hương đất nước". Sách giáo khoa không có chỗ cho chuyện một thằng lính công binh nhìn trộm một anh lính đặc công bên cửa hầm.

Nhưng chiến trường không hỏi ý sách. Giữa mưa bom và mùi bùn, lòng người vẫn biết nhói,
vẫn biết rung lên vì một ánh mắt, dù người đó cùng mặc một màu áo với mình.

Tôi gấp sổ lại, thổi tắt đèn.
Ngoài kia, đêm ở Thành cổ dày như một trang giấy đen chưa viết chữ.
Tôi không biết ngày mai sẽ ra sao.
Chỉ biết, từ hôm đó, trong lòng tôi,
ngoài Tổ quốc, ngoài má, ngoài em, ngoài cái "bằng liệt sĩ" nào đó,
còn có thêm một cái tên.

Một chữ ngắn ngủn:

Sen.

(Hết Phần I)

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com