Chương 2: NHỚ NHAU DƯỚI BIỂN MÀ TRÊN NON Ơ VẪN TÌM
Nhà tôi có hai con đò, trước đây tôi cùng cha chia nhau chèo để chở khách sang sông, giờ thì chỉ mình tôi. Nhưng mà tôi lại hay có cái tính tiếc uổng, thế nên hai con đò cứ luân phiên được chở khách theo chu kỳ một ngày.
Rạng sáng, tôi cắp cái giỏ đựng rau mang qua chợ bên bờ kia bán. Lại nói, tôi cứ bận rộn song hành đôi việc, thành thử nhiều lúc tự hoại. Có hôm mấy đứa du thủ du thực làng bên nhân tôi chèo đò giở thói ăn cắp rau, tôi mắng thì hôm sau chúng lại trèo lên đống rau giẫm nát. Chẳng nhẽ tôi lại phải moi hết ruột gan ra mà rằng nhà tôi thực rất cần tiền?
Một đám vô lương tâm nấp dưới sự che chở của cha mẹ...
Ừ thì tôi để chúng giẫm, cũng chấp nhận bỏ một buổi bán rau. Tôi nín thở dùng máng xúc phân gà, phân chó đặt dưới lớp rau để chúng giẫm cho bõ tức. Ấm ức cũng không làm gì được tôi!
Đường ra bến tôi luôn nghe thấy tiếng chân người theo sát phía sau mà không dám quay lại, cứ cố bước đi đến chỗ nhiều người, nhất là chỗ có trai làng, ở đấy tôi sẽ an toàn. Nhưng chết nỗi! Hôm nay số tôi đen nên không gặp lấy một bóng người.
Tới bến đò tôi toan nhảy lên ngay, tôi thấy bóng người cao lớn nhảy lên con đò của cha tôi cột ở cạnh. Đoạn nhìn tôi trân trối.
"Tha tôi ngu đần không hiểu ý ông Kiêu?" Yết Kiêu nhìn mãi làm tôi thấy khó chịu nên tôi đành lên tiếng.
"Xin lỗi cô! Cô Vân ạ, tôi chỉ đoán xem bản đồ sắt có thực ở chỗ cha cô không?"
Tôi toan mở miệng đáp đương nhiên thì nhận ra có gì sai trái lắm. Đây là đang dò xét tôi. Cha đã nói chúng tôi không có bản đồ, giờ tôi thừa nhận có khác nào trái ý cha. Nghĩ lại, sức ba người họ đủ để uy hiếp chúng tôi giao bản đồ sắt ra ngay lập tức, chẳng cần giằng co nhưng họ lại chọn không làm thế, âu cũng là người đáng tin cậy.
"Không có ông ạ! Cha tôi hôm qua đã tỏ rõ, chỉ tại các ông muốn ở, chúng tôi đành chịu." Tôi nhún vai cong môi vẻ bất lực.
Yết Kiêu ngước mặt ngẫm nghĩ, chợt phì cười:
"Cô Vân gọi tôi là ông Kiêu nghe sao kiêu hãnh tự mãn quá..."
"Ông tên Kiêu thì tôi gọi ông là ông Kiêu, ông thích gọi Yết thì sau này tôi đổi. Chẳng nhẽ trước giờ chẳng có ai gọi tên ông hay sao mà ông cười ngặt nghẽo thế?"
"Người ta gọi tôi hẳn hoi hai chữ Yết Kiêu cô ạ! Tên tôi Phạm Hữu Thế quê ở làng Hạ Bì, Hồng Lộ. Khi tôi lên tám tuổi, cha đột ngột qua đời nên mẹ con vất vả sống dựa vào nhau suốt những năm tháng đói khổ. Chẳng bao lâu, mẹ tôi cũng mất. Năm Nguyên Phong thứ bảy, lần đầu quân Nguyên tràn xuống, tôi đã rời quê lên đường tòng quân. Triều đình tổ chức hội thi tuyển binh ở Vạn Kiếp. Nhờ thắng được Đô Châu là một đô vật, gia nô dưới trướng Trần Ích Tắc, tôi được tuyển. Sau đó tôi may mắn trở thành gia nô của Hưng Đạo vương được ngài ban tên, được ngài trọng dụng. Và việc sau nữa thì tôi nghĩ cô cũng biết."
Lộ Hải Đông giáp với đất Nguyên, còn giáp lộ Lạng Châu, Hồng Lộ, Bắc Giang. Tôi với ông ấy cũng có thể xem như hàng xóm. Tuy rằng hơi xa.
"Thế ra Yết Kiêu không phải tên thật của ông..." Tôi gật gù thầm tán thưởng sau khi nghe chuyện của Yết Kiêu.
"Ừ. Nếu cô ngại dài thì gọi tôi là Thế... Còn cô Vân tên đầy đủ là gì?" Yết Kiêu hạ giọng.
"Tôi tên Hoa Vân, tôi không có họ, cha tôi cũng thế..." Tôi phát hiện mình vừa lỡ lời, đáng ra tôi chỉ cần trả lời tên tôi là đủ "Ông biết vậy được rồi, đừng hỏi tôi tại sao."
Cha và tôi không mang họ nào cả. Nói đúng hơn, là họ Lý. Năm đó tân triều ra lệnh đổi họ vì kỵ húy, nhưng ông nội thà làm ma không họ chứ không muốn mang họ nào khác ngoài họ Lý. Chính ông nội đã dạy võ, dụng binh cho cha nhưng vẫn không muốn trở về làm quan...
"Hoa Vân là hoa và mây chăng? Cái tên mỹ miều cô nhỉ? Cha cô khéo đặt."
"Ừ. Tên tôi lấy từ câu thơ 'Vân tưởng y thường hoa tưởng dung'. Trong bài Thanh bình điệu kỳ một của Lý Bạch."
"Ra, cô Vân là người có học à?" Ông ta trầm trồ.
"Ông nội dạy cha, cha dạy tôi."
Giọng Yết Kiêu thực sự ấm và trầm đều, hiển nhiên là hay hơn giọng người cha Yến Phong của tôi rồi. Tôi trót rơi vào cái nhịp điệu du dương ban nãy khi ông kể chuyện, khi ông hỏi chuyện tôi, rồi sửng sốt nhận ra một việc vừa quên.
"Ông Thế đi xa như này, không khéo vợ hiền con mọn ở nhà trông!" Tôi bông đùa, nhân tiện thỏa cái nỗi tò mò hỏi xem người con gái nào tốt số chừng ấy.
"Tôi chưa vợ con cô Hoa Vân ạ." Câu trả lời của Yết Kiêu làm tôi sửng sốt thêm lần nữa. Chả nhẽ tôi đoán sai tuổi người ta rồi. Lại còn đội người ta lên hàng cha chú...
Để kéo về câu hỏi sai lầm của mình, tôi đáp vẩn vơ:
"Ông Thế giống tôi rồi! Chồng con tôi cũng chưa có." Hình như tôi lại vừa lỡ lời.
Nội dung cuộc nói chuyện này, tôi nhớ man mác gần giống như lời của những đôi trẻ ở cây đa trước miễu để tỏ ý vừa vặn tính chuyện lứa đôi. Chỉ khác là người ta hay bắt đầu bằng ca dao:
Cây đa trước miễu ai biểu cây đa tàn?
Bao nhiêu lá rụng anh (em) thương nàng (chàng) bấy nhiêu.
"Ừ, cái đó thì tôi biết. Cô còn ở với cha già thì hiển nhiên chưa chồng." Yết Kiêu nhìn xa xăm.
Ông có cần làm tôi bẽ mặt nhiều lần như vậy không hở ông Thế? Đột nhiên trong mắt tôi một danh tướng thủy quân biến thành người đàn ông hâm dở ế chỏng ế chơ.
"Ông Thế, không biết ông hơn tôi bao tuổi nhỉ? Để tôi đổi cách xưng hô cho đúng."
"Năm nay tôi chín mươi xé đôi."
"Ôi thế thì vừa người rồi ông nhỉ?!" Tôi khoái chí reo lên, nhân tiện làm cho bẽ cái mặt của ông nốt. Nhưng hình như tôi không thành công, ông không quan tâm lắm.
"Cô Vân thì nhỏ hơn tôi là bao..."
Gì? Ông chê tôi già à?
"Tôi hăm bảy ông nhớ! Nhỏ hơn ông những mười tám tuổi. Ông mà lấy vợ là tôi tuổi con ông!" Tôi hất cằm xấc xược, ai bảo ông chê tôi già!
Bẵng đi một lúc, Yết Kiêu kéo chiếc đò của tôi về phía chiếc đò ông đang ngồi trên, bặm trợn nhìn tôi:
"Cô Vân cong cớn quá! Lại chẳng chịu chọn chồng. Khác mấy người con gái môi son má đào, gấm vóc lụa là ở Vạn Kiếp, ở kinh sư."
"Này nhé! Tôi nói sao ông chê tôi mãi thế? Dẫu sao tôi cũng là con gái, tôi không thích nghe người ta chê mình. Nhà tôi nghèo không có tiền mua gấm lụa, cũng chẳng đủ cho tôi tiêu vào cái mặt của mình. Ông có thương ai ở Vạn Kiếp, ở kinh sư thì cứ ngỏ lời với người ta, kẻo người ta trông. Nói với tôi, tôi cũng chẳng giúp gì cho ông được! Còn tôi, tôi ở vậy có cái lý của tôi, điều đó không cậy ông bận tâm!" Tôi tuôn liền một tràng dạy đời Yết Kiêu. Tôi biết thế không tốt, nhưng tôi uất quá không để đâu cho được.
"Hóa ra cái lý của cô là cô có người thương..."
Đúng là ông già gàn dở không để râu! Ông có người thương nên nhìn đâu cũng thấy dăm ba mảnh xuân tình nồng đượm à? Thôi chịu, ông muốn hiểu sao thì hiểu, tôi chẳng buồn cãi lại ông nữa, mặc ông hiểu lầm đi.
May có khách gọi đò tôi mới tạm lánh được kiếp nạn này. Tôi gỡ dây cột, lấy mái chèo đẩy con đò của ông ra xa.
Ánh mắttôi dừng lại ở mấy quả dừa cạn... Ừ nhỉ, sao hôm nay ông ta nói lắm thế?
Yết Kiêu quê ở làng Hạ Bì, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương ngày nay.
Năm Nguyên Phong thứ bảy: 1258
Mùa hạ, tháng Sáu năm Nhâm Thìn - 1232, vua Trần Thái Tông ban bố các chữ quốc húy và miếu húy. Tổ nhà Trần là Trần Lý, họ Lý đổi sang họ Nguyễn.
Thanh bình điệu kỳ 1 - Lý Bạch:
Vân tưởng y thường hoa tưởng dung
Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng
Nhược phi Quần Ngọc sơn đầu kiến
Hội hướng Dao Đài nguyệt hạ phùng.
(Nhìn mây nghĩ đến xiêm áo, ngắm hoa nghĩ về dung mạo
Gió xuân thổi qua cửa, sương hoa nồng
Nếu không gặp ở đầu núi Quần Ngọc
Hẹn gặp nhau ở đài Dao dưới vầng trăng.)
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com