01. khăn tay, chiếc cúp và thanh âm
Hội trường bốc lên mùi sáp lau sàn và mùi vải nhung cũ.
Choi Jeong-yo mới mười tuổi và đã ngồi nguyên một chỗ suốt hai tiếng đồng hồ. Chân cậu đã tê dại từ đầu gối trở xuống, song cậu chẳng mấy bận tâm. Cậu đang dõi theo sân khấu - chính xác hơn là cậu bé trên sân khấu, người được gọi tên ở vị trí thứ ba. Cậu bé đó bước đến ghế đàn piano với dáng vẻ như thể mình làm chủ từng tấc đất bên dưới, rồi ngồi xuống và đặt hai tay lên các phím đàn với sự chuẩn xác của một người đang thực hiện nghi thức mà chỉ riêng mình hiểu được.
Jeong-yo đã xem mười hai đứa trẻ chơi piano vào ngày hôm nay. Có đứa thì hốt hoảng. Có đứa tủm tỉm cười với ban giám khảo. Có đứa thì nhìn bố mẹ ở hàng ghế đầu để kiếm sự an ủi trước khi bắt đầu.
Nhưng cậu bé này chẳng nhìn ai cả.
Cậu ấy nhìn cây đàn piano.
Và rồi cậu ấy cất tiếng đàn.
Jeong-yo vẫn chưa có đủ vốn từ để miêu tả nó cho mãi tới tận sau này - kỹ thuật, xử lý câu nhạc, sự kiểm soát - song cậu đã cảm nhận được nó bằng cơ thể mình trước khi trí óc kịp nhận thức. Cậu bé trên sân khấu đang chơi bản Kinderszenen của Schumann, và cậu ấy chơi nó theo cái cách của một bác sĩ phẫu thuật đưa dao: không mảy may do dự, không một chút ủy mị, không một động tác thừa. Mỗi nốt nhạc rơi xuống chính xác nơi nó phải đến. Mỗi sự chuyển đổi sắc thái diễn ra đúng như nhịp điệu đã định sẵn. Ấy là điều chuẩn xác nhất mà Jeong-yo từng được nghe từ một người không phải là người lớn.
Âu đó cũng là điều, theo một cách nào đấy mà Jeong-yo không thể gọi thành tên, cô đơn nhất.
Cậu chồm người về phía trước. Mẹ cậu, ngồi ngay bên cạnh, đưa mắt nhìn sang và mỉm cười - nụ cười âu yếm, riêng tư mà bà chỉ dành riêng cho những khoảnh khắc nhận ra Jeongyo đang chú ý đến một điều gì đó quan trọng. Bà đưa cậu đến đây tựa một buổi học. Đây là dáng vẻ của thế giới piano chuyên nghiệp, bà đã nói với cậu trong xe, hai tay thả lỏng trên vô lăng, giọng điệu ôn tồn. Những đứa trẻ đó đã rèn luyện từ khi chúng còn chưa với tới các phím đàn. Con hãy quan sát chúng thật kỹ.
Cậu đang quan sát. Cậu không thể ngừng dõi theo.
Cậu bé hoàn thành câu nhạc cuối cùng và nhấc tay khỏi bàn phím với sự cẩn trọng y hệt như khi đặt chúng xuống. Cả hội trường vỗ tay. Cậu ấy đứng dậy, cúi chào một lần rồi bước vô trong sân khấu. Ngay cả khi cúi chào, gương mặt cậu ấy cũng không hề để lộ một tí cảm xúc nào.
Jeong-yo từ từ thở ra. Cậu không nhận ra là mình đã nín thở từ nãy tới giờ.
Cậu ấy là ai thế nhỉ? Cậu nghĩ. Và rồi, một cách vô thức, dẫu chưa hề biết rằng câu hỏi này sẽ bám theo mình suốt nhiều năm sau đó: Tại sao nghe tiếng đàn của cậu ấy lại giống như đang chịu đựng đau đớn vậy?
Mẹ cậu đã đi gặp người tổ chức cuộc thi - về một chút thủ tục về lịch trình chiều nay - và dặn Jeong-yo cứ ở loanh quanh sảnh chứ đừng đi đâu xa. Nhưng cậu vẫn đi dạo. Hành lang hậu trường của Trung tâm Nghệ thuật Sejong có mùi khác hẳn với hội trường chính: ít mùi sáp hơn, thay vào đó là mùi nhựa thông, mùi gỗ cũ và cái ấm khô đặc trưng của những căn phòng chứa nhạc cụ quanh năm. Cậu đút hai tay vô túi quần, mắt ngó chung quanh, lướt qua từng thứ trong thế giới đằng sau bức màn - những chiếc xe đẩy thiết bị, những giá để bản nhạc xếp chồng lên nhau, một bảng tin dán kín lịch biểu diễn cùng các thông báo viết tay.
Thế rồi cậu bị chảy máu cam.
Nó xảy ra mà không báo trước, đúng cái cách mà máu cam vẫn luôn xuất hiện - một giây trước còn bình thường, giây sau đã thấy vị ấm trên môi trên và vị đồng chát đặc trưng ở sâu trong họng. Cậu ấn mu bàn tay vô mũi rồi nhìn quanh hành lang. Không thấy một tờ khăn giấy nào. Nhà vệ sinh thì phải rẽ qua hai khúc ngoặt, quá xa. Túi quần cậu thì trống không - sáng nay cậu hấp tấp thay đồ vì mẹ bị trễ lịch, những chi tiết nhỏ nhặt thường ngày vốn được lo liệu chu đáo thì hôm nay lại bị bỏ quên.
Cậu đẩy cánh cửa gần nhất ra mà không gõ.
Phòng có người.
Cậu bé trên sân khấu khi nãy đang ngồi trước cây đàn piano ở góc phòng. Cậu ấy không chơi đàn. Cậu ấy chỉ ngồi đó với hai tay đặt trên đùi, lưng thẳng tắp, mắt nhìn đăm đăm vô khoảng không trước mặt, và nét mặt cậu ấy mang một trạng thái mà Jeong-yo, dù mới mười tuổi, cũng nhận ra ngay: nét mặt của một người đang gồng mình giữ bản thân thật bất động, bởi nếu không làm thế thì mọi chuyện sẽ còn tồi tệ hơn.
Họ nhìn nhau. Jeong-yo vẫn đang ấn mu bàn tay vô mũi. Còn cậu bé kia mang nét mặt của một người vừa gặp phải một biến số ngoài dự đoán.
"Xin lỗi," Jeong-yo nói, giọng hơi nghèn nghẹt. "Cậu có khăn tay không? Tớ cũng không muốn làm phiền đâu nhưng mà-" Cậu xua xua tay chỉ tình trạng của mình, một sự thật đã tự nó giải thích hết cả.
Cậu bé nhìn cậu một chặp bằng đôi mắt đen sâu thẳm và bộc trực đó. Rồi không nói một lời, cậu ấy đưa tay vào túi ngực của chiếc áo vest trang trọng, lấy một chiếc khăn tay - bằng vải bông màu trắng, được là phẳng với sự chỉn chu chứng tỏ có người khác chăm chút, gấp thành một hình vuông gọn gàng - rồi đưa ra.
Jeong-yo bước qua phòng và nhận lấy. "Cảm ơn cậu."
Cậu áp nó vô mũi, ngửa đầu ra sau và chờ đợi. Máu chảy chậm lại. Căn phòng yên tĩnh, ngoại trừ tiếng rì rào khe khẽ từ hệ thống thông gió của tòa nhà và, ở đâu đó sâu hơn trong hành lang, tiếng một đứa trẻ khác đang luyện ngón nghe bị đục. Jeong-yo cúi đầu xuống coi thử. Máu ngừng rồi. Cậu ngó chiếc khăn tay trong tay mình - vải bông trắng, sợi dệt mịn, dấu của nếp gấp cẩn thận vẫn còn lằn rõ trên mặt vải - đoạn ngước nhìn cậu bé, người vẫn đang nhìn cậu bằng ánh mắt đó: không xấu xa, không ấm áp, chỉ đơn thuần là sự chú ý của một người đã quen quan sát mọi thứ một cách cẩn trọng.
"Tớ sẽ trả lại," Jeong-yo nói. "Sau khi tớ - tớ sẽ tìm chỗ giặt sạch nó."
Cậu bé không lên tiếng. Nét mặt cậu ấy cho thấy đây không phải là mối bận tâm mà cậu ấy từng nghĩ tới.
Jeong-yo nhét chiếc khăn tay vô túi quần mình rồi quay người dợm bước.
"Cậu đã xem phần biểu diễn của tớ," Cậu bé lên tiếng.
Jeong-yo khựng người. Cậu quay người lại. Cậu bé vẫn thẳng lưng, vẫn là nét mặt không hẳn là gay gắt mà cũng chẳng phải dửng dưng ấy - một sự cảnh giác gì đó đang lơ lửng giữa hai trạng thái.
"Tớ ngồi ở hàng ghế thứ ba," Jeong-yo nói. "Bên phía tay trái."
"Tớ biết." Một khoảng lặng. "Cậu đã chồm người về phía trước trong đoạn Träumerei."
Jeong-yo chớp mắt. Cậu đúng là đã chồm người về phía trước trong đoạn Träumerei. Việc cậu bé kia nhận ra điều đó - ngay từ trên sân khấu, ngay giữa lúc đang biểu diễn - là một chi tiết mà Jeong-yo ghi nhớ rất kỹ, cái cách cậu vẫn ghi nhớ những điều dường như quan trọng dù không thể giải thích tại sao.
"Đó là đoạn hay nhất," Jeong-yo nói. Cậu thốt ra một cách đơn giản, không hề tâng bốc tẹo nào, vì đó là sự thật.
Một điều gì đó dịch chuyển trên gương mặt cậu bé. Không hẳn là một nụ cười. Vẻ cảnh giác không biến mất mà tự sắp xếp lại, như thể một bộ bài đang được xóc lại trên tay.
"Cậu cũng thi à?" Cậu bé hỏi.
"Chiều nay. Bảng hai." Jeong-yo nhìn về phía cây đàn. Cây đàn piano nhìn lại cậu bằng sự lặng thinh mà kiên nhẫn của những nhạc cụ đang nghỉ ngơi. "Tớ đã luyện bản Chopin này từ tháng Ba."
"Bài nào?"
"Nocturne Rê thứ."
Cậu bé không nói gì. Rồi bất ngờ cất lời: "Chơi đi."
Đó không phải là một lời đề nghị mang theo sự dịu dàng - được thốt ra theo cái cách người ta tuyên bố một thực tế - nhưng nghe không hề ác ý. Nó giống sự tò mò chân thành đang tự thể hiện theo cách duy nhất mà con người này biết tới. Jeong-yo ngồi xuống băng ghế piano và đánh bản Nocturne. Không hoàn hảo - nhịp điệu của cậu bị chệch ở đoạn giữa như mọi khi cậu không suy nghĩ cẩn thận, và cậu thể hiện các nốt luyến láy bằng sự hào hứng nhiều hơn là sự chuẩn xác - song cậu chơi nó theo cách cậu vẫn thường chơi khi không bị đánh giá: như thể cậu thực sự chú tâm, như thể âm nhạc là một cuộc trò chuyện với điều gì đó lớn lao hơn bản thân cậu và cậu đang dốc lòng nói ra một điều chân thật.
Khi cậu kết thúc, căn phòng lặng như tờ.
Cậu bé đang nhìn cậu bằng một nét mặt mà Jeong-yo chưa từng thấy trên gương mặt ấy trước đây. Không phải vẻ cảnh giác. Không phải gương mặt vô cảm khi biểu diễn trên sân khấu. Một thứ gì đó thoáng qua, ngược lại với ý muốn của cậu ấy, trông giống như sự khao khát.
"Nhịp bị chệch," Cậu bé nói.
"Tớ biết."
"Câu nhạc thứ ba. Cậu bị mất nhịp chủ đạo."
"Tớ cũng biết điều đó."
"Cậu chơi không giống một người được đào tạo bài bản."
"Mẹ tớ dạy tớ." Jeong-yo nhìn các phím đàn. "Mẹ bảo nhịp chủ đạo là thứ cậu cảm nhận, chứ không phải thứ cậu đếm."
Một khoảng lặng. Rồi cậu bé đứng dậy và đi về phía băng ghế - không phải để ngồi xuống, mà là dừng lại bên cạnh cây đàn và đặt tay phải lên các phím. "Ở đây," cậu ấy nói, rồi chơi câu nhạc thứ ba. Không phải để khoe khoang. Không phải để sửa lưng. Chỉ đơn giản là thị phạm. Jeong-yo nhìn bàn tay cậu ấy: nhịp chủ đạo giữ ở bên trong, ổn định và vô hình, trong khi giai điệu bay bổng phía trên với sự tự do tuyệt đối. Điều mang tính kỹ thuật mà mẹ cậu từng dùng lời lẽ để miêu tả, thì cậu bé này lại thể hiện mà không cần một từ ngữ nào.
"Ồ," Jeong-yo khẽ thốt lên.
"Cậu nghe ra rồi chứ?"
"Ừ."
Cậu bé nhấc tay khỏi bàn phím. Cậu ấy nhìn Jeong-yo bằng ánh mắt bộc trực, đánh giá đó - và trong một khoảnh khắc, sự cảnh giác hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại hai đứa trẻ mười tuổi trong phòng tập đang nói về thứ ngôn ngữ duy nhất mà cả hai vô tình cùng chung tiếng nói.
"Tớ là Kang Pi-o," cậu bé nói.
"Choi Jeong-yo."
Pi-o không đưa tay ra bắt. Cậu ấy đứng bên cây đàn và nhìn Jeong-yo bằng đôi mắt đen láy mà thẳng thắn ấy, và dáng vẻ của cậu ấy - sau này Jeong-yo mới nghĩ lại - giống như một người vừa tìm thấy một điều gì đó ngoài dự đoán và vẫn chưa quyết định sẽ phải làm gì với sự thật là mình đã tìm thấy nó.
"Cậu nên sửa câu nhạc thứ ba đi," Cuối cùng Pi-o nói. "Trước chiều nay."
"Tớ sẽ thử." Jeong-yo đứng dậy khỏi băng ghế. Cậu chỉnh lại áo vest. Bàn tay cậu thoáng chạm vào túi quần - chiếc khăn tay vẫn ở đó, vẫn là đồ mượn chưa kịp trả. Cậu vốn định hỏi về việc giặt nó. Nhưng cậu đã quên béng, ở đâu đó giữa bản Nocturne, câu nhạc thứ ba và cái cách Pi-o nhìn cậu như thể cậu là một câu hỏi đáng để suy ngẫm. "Cậu chơi hay lắm. Trên sân khấu ấy."
Pi-o nhìn cậu. Một điều gì đó lướt qua mặt cậu ấy mà Jeong-yo không thể đọc được - quá nhanh, quá phức tạp so với biểu cảm nên có của một đứa trẻ mười tuổi.
"Cảm ơn cậu," Pi-o nói. Câu nói thốt ra như một từ mà cậu ấy không quen dùng cho lắm.
Jeong-yo mỉm cười với cậu ấy - rạng rỡ và đơn thuần, cái cách cậu vẫn mỉm cười với hầu hết mọi thứ - rồi quay lại tìm mẹ. Cậu không ngoảnh đầu nhìn lại. Nếu ngoảnh lại, cậu sẽ thấy Pi-o đang đứng một mình trong phòng tập, một tay đặt nhẹ lên nắp đàn piano đang đóng, mắt nhìn ra phía cửa.
Jeong-yo đã thắng.
Cậu đứng trên sân khấu trong chiếc áo sơ mi đẹp nhất của mình - vải bông trắng, hơi rộng ở phần vai vì mẹ mua trừ hao để cậu lớn - và đỡ lấy chiếc cúp giải nhất bằng cả hai tay vì như thế mới lịch sự, rồi cúi chào ban giám khảo, cúi chào khán giả, và lập tức tìm kiếm gương mặt của mẹ trong đám đông.
Bà ngồi ở hàng ghế thứ bảy, phần chính giữa. Bà đang khóc - không phải kiểu khóc nức nở, mà chỉ là những giọt nước mắt lặng lẽ rơi, kiểu như nước mắt bà vẫn luôn rơi trước những điều đẹp đẽ, trước sự tử tế bất ngờ, trước những giai điệu chạm đến một nơi nào đó ngoài dự liệu. Hai tay bà chắp lại dưới cằm. Đôi mắt bà sáng lên và đong đầy nước mắt. Khi Jeong-yo tìm thấy gương mặt bà, bà mấp máy môi nói điều gì đó - cậu ở xa quá nên không đọc được thành lời, nhưng cậu biết đó là gì. Cậu biết hình dáng của những từ đó như biết hình dáng của mọi thứ bà trao cho cậu: bằng cảm nhận, bằng sự lặp đi lặp lại, bằng thực tế là bà đã nói những lời ấy quá đỗi nhiều lần tới độ chúng đã ăn sâu bén rễ trong cơ thể cậu.
Đó là con trai tôi.
Một điều gì đó mở ra trong lồng ngực cậu - rộng rãi, ấm áp, gần như đau đớn vì sự bao la của nó. Cậu cầm chiếc cúp và nhìn mẹ, lần đầu tiên trong đời cảm thấy mình đã trao cho ai đó một điều mà họ thực sự khao khát. Không phải điều bắt buộc. Không phải nghĩa vụ. Một điều được trao đi một cách tự do, được đón nhận một cách tự do, một sự trao đổi thuần khiết giữa hai con người yêu thương nhau vô điều kiện.
Cậu muốn tới bên bà. Cậu vẫn đang ở trên sân khấu, chung quanh là những thủ tục cuối cùng của lễ trao giải, cậu chưa thể đến bên bà ngay lúc này, nhưng cậu sẽ đến. Cậu sẽ bước xuống khỏi sân khấu này, băng qua hội trường và bà sẽ ôm lấy cậu, và sau cùng, sau nhiều giờ gồng mình, cậu sẽ được phép thả lỏng đôi chút.
Cậu mỉm cười với bà từ trên sân khấu.
Bà cười lại.
Đó là điều cuối cùng.
Cậu nhìn thấy nó xảy ra mà không hề hiểu - một sự sụp đỗ nhỏ bé, như thể rối bị đứt dây, yên lặng, hoàn toàn và kết thúc trước khi bất kỳ ai gần đó kịp nhận ra có điều gì đó không ổn. Hai tay mẹ cậu buông thõng khỏi cằm. Đầu bà ngoẹo sang một bên. Người phụ nữ ngồi cạnh bà quay sang, rồi nét mặt người đó thay đổi, rồi một bàn tay đặt lên vai mẹ cậu trở thành một điều gì đó khẩn cấp, rồi có tiếng ai đó hô lên, ban giám khảo khựng lại giữa chừng và hội trường thay đổi tần số, cái cách không khí trong một căn phòng thay đổi khi một điều gì đó không thể đảo ngược vừa bước vô.
Jeong-yo đứng trên sân khấu và nhìn.
Cậu đứng như trời trồng. Đây không phải là một sự lựa chọn - cơ thể cậu chỉ là đã ngừng tiếp nhận mệnh lệnh, cái cách một cây đàn piano chìm vào thinh lặng khi bàn đạp bị nhấc lên, tất thảy âm thanh biến mất cùng một lúc. Cậu đứng đó với chiếc cúp giải nhất được ôm bởi hai tay và nhìn về hàng ghế thứ bảy, phần chính giữa, nơi mọi người khi này đang đứng dậy và gọi giúp đỡ, ai đó đang cố đặt mẹ cậu nằm ngang giữa các ghế và một người khác đang chạy vội về phía sau hội trường.
Mẹ ơi.
Cậu không thốt ra thành tiếng. Cậu nghĩ điều đó gào thét trong đầu to tới mức cậu không chắc mình có vừa nói ra hay không.
Ai đó đang giữ lấy tay cậu - một quản lý cuat cuộc thi, một giáo viên, một ai đó - một bàn tay trên tay cậu và một giọng nói bên tai mà cậu không thể tiếp thu. Những đứa trẻ khác đang được đưa lùi lại, xa khỏi phía trước sân khấu. Một thông báo đang được phát qua loa yêu cầu giữ bình tĩnh, yêu cầu giải tán.
Jeong-yo đứng ở phía trước sân khấu, nhìn về hàng ghế thứ bảy và không thể đến bên bà. Sân khấu được nâng cao. Có những bậc thang ở bên cạnh. Chúng không xa. Nhưng hoàn toàn không thể với tới.
Sau này cậu sẽ không thể giải thích được, khi mọi người hỏi - và người ta sẽ hỏi một cách tử tế và cẩn trọng, cố gắng để hiểu - tại sao cậu không đơn giản là bước xuống các bậc thang. Cậu không thể giải thích vì cậu không thể liên kết mạch suy nghĩ của những phút giây đó. Cơ thể cậu đã đưa ra một quyết định mà không hề tham khảo ý kiến cậu cậu: đứng ở đây. giữ lấy chiếc cúp. không được gục xuống. Và cậu đã tuân theo vì chẳng còn lựa chọn nào khác.
Khi ai đó dẫn cậu rời khỏi sân khấu - một cách nhẹ nhàng, một bàn tay đặt trên lưng cậu - thì nhân viên y tế đã đến. Hội trường hầu như đã trống trơn. Mẹ cậu vẫn ở giữa hàng ghế thứ bảy, các nhân viên y tế đang sơ cứu, và Jeong-yo bước xuống các bậc thang bằng đôi chân không còn cảm giác, đi qua hội trường. Ai đó cố ngăn cậu lại nhưng cậu tránh qua họ.
Cậu ngồi xuống sàn ở lối đi bên cạnh hàng ghế thứ bảy vì các ghế đã có người và sàn nhà là nơi duy nhất còn chỗ. Cậu đặt chiếc cúp giải nhất xuống bên cạnh mình trên thảm. Cậu nắm lấy tay mẹ, bàn tay hãy còn ấm, và cậu nói chuyện với bà bằng chất giọng lí nhí - Con đây rồi, con đây rồi, con đã đến, con ở đây rồi - lặp đi lặp lại cái cách bà từng lặp lại tên cậu trong bóng tối khi cậu còn nhỏ và sợ hãi, sự vỗ về rầm rì liên tục của một người từ chối ở bất kỳ nơi nào khác.
Các nhân viên y tế vẫn làm việc. Jeong-yo nắm tay bà và nói. Cậu sẽ không nhớ mình đã nói những gì. Cậu sẽ chỉ nhớ hơi ấm rời đi từng chút một, dáng vẻ của dải đèn trên trần hội trường nhìn từ dưới sàn nhà, sự cọ xát của tấm thảm dưới gối, và trọng lượng cụ thể của chiếc cúp đang nằm nghiêng gần chiếc ghế sát lối đi.
Màu vàng. Giải nhất. Nằm úp mặt trên tấm thảm của Trung tâm Nghệ thuật Sejong trong khi chủ nhân của nó ngồi trên sàn nhà ở hàng ghế thứ bảy và học được rằng, ở tuổi mười lăm, cái giá phải trả để giành được một điều gì đó.
Pi-o và mẹ cậu đã ở gần lối đi bên cạnh khi buổi lễ kết thúc - không phải đang ngồi, họ đã chuẩn bị ra về, mẹ cậu hướng về phía lối ra rồi chạm nhẹ vào xương bả vai cậu, điều khiển cậu theo cái cách bà vẫn điều khiển mọi thứ: không cần nỗ lực một cách lộ liễu, nhưng đạt hiệu quả tuyệt đối.
Cậu đã dõi theo sân khấu. Cậu đã nhìn Jeong-yo nhận chiếc cúp giải nhất, cúi chào, đứng thẳng dậy và tìm kiếm ai đó trong khán giả - cái cách mắt bạn tìm đến gương mặt duy nhất mà nó tìm kiếm, một cách vô thức và tức thì. Cậu đã nhìn nét mặt Jeong-yo thay đổi khi tìm thấy gương mặt đó: toàn bộ cơ thể cậu ấy làm một điều gì đó không có tên trong vốn từ của Pi-o. Mở ra. Giống như một bàn tay nới lỏng nắm đấm. Giống như một cánh cửa bị giữ chặt đột ngột xả ra cùng một lúc. Pi-o đã nhìn đi chỗ khác. Việc nhìn vào đó cảm giác như đang bị ép xem một điều gì đó riêng tư.
Cậu đang nhìn chiếc cúp bạc của chính mình thì nghe thấy sự thay đổi trong căn phòng.
Không hẳn là một âm thanh - mà là một tập hợp những âm thanh nhỏ làm thay đổi tần số của căn phòng. Giọng một người phụ nữ cất cao lên. Tiếng ghế xê dịch. Sự ngập ngừng trên micro của giám khảo. Pi-o ngước nhìn. Âm thanh phát ra từ hàng ghế thứ bảy. Cậu không thể nhìn rõ từ lối đi - mọi người đang đứng dậy, chồm người về phía sự hỗn loạn - nhưng cậu có thể thấy hình dáng của khung cảnh, sự sắp xếp của những con người xung quanh một điểm tĩnh lặng ở trung tâm. Và ở phía trước sân khấu: Jeong-yo.
Cậu ấy bất động.
Cậu ấy đang đứng đúng nơi mình đã đứng khi Pi-o nhìn đi chỗ khác, vẫn cầm chiếc cúp bằng cả hai tay, nhưng có điều gì đó đã thay đổi hoàn toàn trong tư thế đứng ấy. Sự tĩnh lặng lúc này đã khác - không phải sự tĩnh lặng chỉn chu của một đứa trẻ giữ mình đúng mực cho một buổi lễ, mà là sự tĩnh lặng của một thứ gì đó bị khựng lại. Của một thứ vừa đâm sầm vào một bức tường mà nó không thấy trước được.
Pi-o nhìn cậu ấy đứng ở mép sân khấu được nâng cao, nhìn về hàng ghế thứ bảy. Nhìn cậu ấy không nhúc nhích. Chiếc cúp vẫn ở trong vòng tay cậu ấy.
"Đi thôi," mẹ Pi-o nói bên vai cậu. Rất khẽ. "Chúng ta về thôi."
"Có chuyện gì thế ạ?"
Một thoáng ngập ngừng để suy tính - thoáng ngập ngừng để bà dò xem cậu cần biết điều gì so với những gì bà định nói với cậu. "Có người bị ốm. Người ta đang xử lý rồi. Đi thôi."
Bà dẫn cậu về phía lối ra. Cậu đi theo. Tại cánh cửa, cậu quay đầu lại lần nữa. Jeong-yo đang được dẫn rời khỏi sân khấu - một bàn tay đặt trên lưng cậu ấy, cẩn trọng và kiên quyết - và cậu ấy đang bước đi, nghĩa là chân cậu ấy vẫn hoạt động, nghĩa là cơ thể cậu ấy vẫn tuân lệnh cậu ấy dù chẳng còn điều gì khác tuân lệnh nữa. Cậu ấy đi qua hội trường bên dưới sân khấu về hướng hàng ghế thứ bảy, có ai đó cố ngăn cậu ấy lại, và cậu ấy tránh qua họ, rồi Pi-o không thể nhìn thấy gì nữa vì cánh cửa đã đóng lại.
Chiếc xe đang chờ sẵn. Pi-o bước vào. Cửa xe đóng lại.
Cậu ngồi với chiếc cúp bạc trên đùi và nhìn xuống hai tay mình. Cậu nghĩ: Cậu ấy đã thắng hôm nay. Cậu nghĩ: Và rồi chuyện này xảy ra. Cậu nghĩ: Cậu ấy vẫn đang cầm chiếc cúp. Suy nghĩ ấy không có hồi kết. Cậu mới mười tuổi và chưa phát triển nhận thức để xử lý những gì mình vừa nhìn thấy - khoảnh khắc khi gương mặt ai đó đi từ niềm hạnh phúc rộng mở sang bất kỳ thứ gì mà gương mặt Jeong-yo đã thể hiện khi nhìn về hàng ghế thứ bảy.
Mẹ Pi-o lên tiếng giữa sự yên lặng trong xe: "Ông nội con đang chờ cuộc gọi đấy."
"Con biết rồi," Pi-o nói.
Cậu nhìn ra ngoài cửa sổ. Cậu nghĩ về chiếc túi trống rỗng trên áo vest của mình. Cậu chẳng rõ tại sao.
Chiếc xe chạy qua thành phố. Bên ngoài, ánh sáng buổi chiều tà đang chuyển sang màu vàng nhạt và trải dài qua các tòa nhà. Pi-o nhìn ngắm nó, ấn chiếc cúp bạc vào đùi và nghĩ về phòng tập - về đôi bàn tay của Jeong-yo trên các phím đàn, cẩu thả, bản năng và tràn đầy sống động. Về cái cách bản Nocturne cất lên nghe như một lời thú nhận hơn là một sự thể hiện. Về khoảnh khắc sau đấy, khi Jeong-yo mỉm cười với cậu - rạng rỡ, thuần khiết và không hề có tính toán - rồi nói cậu chơi hay lắm như thể đó đơn giản là sự thật.
Cậu thôi nghĩ về điều đó. Cậu bé với nụ cười tử tế và nhịp điệu chệch chạc đó đã thắng, còn Pi-o thì không, và đó là thực tế duy nhất có ý nghĩa. Mọi thứ khác chỉ là nhiễu loạn.
Cậu không cho phép mình nghĩ về chiếc khăn tay.
Chiếc cúp đã biến mất vào sáng hôm sau.
Pi-o xuống nhà và thấy nó không còn ở trên chiếc bàn ở hành lang, nơi mẹ cậu đã đặt vào tối hôm trước, nhưng cậu không hỏi chuyện gì đã xảy ra với nó. Cậu có một bản năng - cái kiểu bản năng được hình thành khi bạn là con của các bậc cha mẹ đặc biệt - rằng hỏi han không phải là một nước đi đúng đắn. Cậu tự múc đồ ăn sáng và ăn một cách nghiêm chỉnh, và khi mẹ cậu bước vào, bà nhìn vô khoảng trống trên chiếc bàn ở hành lang với nét mặt cho cậu biết là bà đang hài lòng về một điều gì đó, còn cậu thì nhìn xuống bát ăn của mình.
Ông nội cậu gọi điện vào chiều hôm đó. Pi-o ngồi trên chiếc ghế trang trọng bên bàn để nghe điện thoại, lắng nghe và giữ cho giọng nói của mình hoàn toàn phẳng lặng. Cậu trả lời các câu hỏi. Cậu chấp nhận sự đánh giá. Giải nhì không phải là điều được kỳ vọng. Giải nhì cho thấy sự chuẩn bị chưa tới nơi tới chốn.
"Không đâu, thưa ông," Pi-o nói. "Cháu sẽ làm tốt hơn."
"Cậu sẽ phải làm vậy," Ông ngoại cậu nói. Đó không phải là lời động viên. Đó như lời tuyên bố về một yêu cầu bắt buộc.
Pi-o cầm ống nghe sau khi cuộc gọi kết thúc rồi nhìn vào bức tường. Cậu nghĩ về bốn mươi phút trong phòng tập theo cái cách không thể giải thích được, hệt như cuộc trò chuyện chân thật nhất mà cậu từng có về âm nhạc trong suốt khoảng thời gian cậu có thể nhớ - và cậu mới mười tuổi, nên đó không phải là một khoảng thời gian quá dài, nhưng vẫn vậy. Cậu đã nói về âm nhạc. Cậu đã chơi một câu nhạc duy nhất không phải cho một giám khảo, một người cha người mẹ hay một người ông, mà vì một người khác đã hỏi, và lời hỏi han ấy chân thành, và một điều gì đó trong Pi-o đã đáp lại lời hỏi han chân thành ấy như một cái cây đáp lại ánh sáng: một cách vô thức và không thể tránh khỏi, hướng về phía nó.
Cậu đặt điện thoại xuống. Cậu đi đến phòng tập có cây đàn Steinway, ngồi xuống ghế rồi hai tay lên các phím đàn và không chơi một hồi. Khi cuối cùng cậu cất tiếng đàn, cậu chơi bản Schumann. Chuẩn xác từng nốt. Kỹ thuật hoàn hảo không vết xước. Nó cất lên đúng như bản chất của nó. Cậu chơi thêm hai lần nữa rồi dừng lại, lẳng lặng ngồi đó với hai tay đặt trên đùi và nghĩ: Cậu ấy có điều gì mà mình không có?
Không phải giải nhất. Không phải tài năng - hoặc không chỉ là tài năng. Một điều gì đó khác. Một điều gì đó đã làm cho bản Chopin Nocturne cất lên, ngay cả với nhịp điệu chệch chạc của nó, nghe như một điều gì đó đang được bộc bạch hơn là đang trình diễn. Cậu không thể gọi tên nó. Cậu mới mười tuổi và đã dành cả cuộc đời để học cách trở nên hoàn hảo ở một lĩnh vực nào đó, nhưng vẫn chưa học được sự hoàn hảo ấy phải trả giá bằng gì. Cậu sẽ dành bảy năm tiếp theo để tìm ra câu trả lời.
Họ không gặp lại nhau nữa. Họ không biết rằng mình sẽ gặp lại.
Cuộc sống của Jeong-yo thu hẹp lại quanh sự thiếu vắng của mẹ và sức nặng ngày càng tăng từ nỗi đau thương của cha cậu - không phải nỗi đau lặng lẽ của một người đã mất đi điều không thể thay thế và học cách sống chung với nó, mà là cái kiểu đau thương luôn tìm kiếm nơi để xả ra, rồi tìm thấy đáy chai rượu và vẫn tiếp tục tìm kiếm. Cậu nhận ra vào năm mười ba tuổi rằng cha cậu đã biết mẹ bị bệnh từ trước cuộc thi. Cậu nhận ra vào năm mười bốn tuổi rằng cha cậu đã biết về những khoản nợ suốt nhiều năm nay. Cậu nhận ra những điều ấy theo cái cách cậu vẫn nhận ra hầu hết mọi thứ về gia đình mình: chậm rãi, gián tiếp, bằng cách xâu chuỗi những gì không được nói ra.
Cậu vẫn tiếp tục chơi piano.
Cậu không biết tại sao mình vẫn chơi piano. Chẳng còn ai dạy cậu nữa và cũng không có tiền để học. Cây đàn piano trong căn hộ là cây đàn mà mẹ cậu mang theo khi kết hôn - cũ kỹ và hơi phô, kiểu nhạc cụ được chơi tới mức trở nên quen thuộc hơn là được bảo dưỡng để đạt đến sự tuyệt hảo. Cậu chơi nó bởi khi ngồi trước các phím đàn là điều gần nhất cậu có được với giọng nói của mẹ. Cậu chơi bản Nocturne. Cậu chơi những bài mẹ đã dạy. Thi thoảng, cậu chơi bản bốn tay mà mẹ từng rất thích - ngồi một mình trên băng ghế, chơi phần secondo bằng tay trái và phần primo bằng tay phải, sự sắp xếp nghe hơi buồn cười và hơi đau lòng, cả hai phần luôn có chút mỏng mảnh nếu không có một người khác điền vào khoảng trống.
Cậu nghĩ về cậu bé trong phòng tập theo cái cách người ta nghĩ về một điều gì đó được xếp vào mục quan trọng nhưng chưa rõ phân loại. Không thường xuyên cũng không ám ảnh. Chỉ như cách một vài điều cứ lặp đi lặp lại - một bài hát vang lên trong đầu khi đang tắm, một từ ngữ bạn cứ với tới mà chưa thực sự cần đến. Kang Pi-o. Cậu từng tra cứu tên cậu ấy một lần, năm mười bốn tuổi, trong thư viện báo chí ở trường - thần đồng, cuộc thi, piano - và tìm thấy một bức ảnh. Pi-o năm mười ba tuổi, biểu diễn tại một cuộc thi thanh thiếu niên toàn quốc, đứng với chiếc cúp giải nhất. Cùng một tư thế. Cùng đôi mắt đen láy ấy. Một gương mặt đã trút bỏ nét bướng bỉnh của trẻ con song không mất đi phẩm chất của sự chuẩn xác, của mọi thứ được sắp đặt chính xác nơi nó vốn thuộc về.
Giải nhất.
Jeong-yo đóng tờ báo lại, đặt về chỗ cũ và không nghĩ về nó trong một thời gian dài.
Pi-o, ở phía bên kia thành phố, đã thắng mọi cuộc thi cậu tham gia trong suốt bảy năm tiếp theo. Giải nhất. Giải nhất. Giải nhất. Giải nhất. Những chiếc cúp được đặt lên kệ mà mẹ cậu đã mua cho mục đích đó. Ông nội cậu được thông báo. Có những cuộc điện thoại bớt gay gắt hơn đôi chút khi có tin tốt, và cực kỳ gay gắt khi Pi-o thể hiện bất kỳ điều gì kém hơn sự hoàn mỹ tuyệt đối trong mọi thứ - tư thế, lễ nghi, điểm số, tác phong, màn biểu diễn vô hình của một người cháu trai mà Kang Seung-woon có thể tự hào là mình đã nuôi dạy.
Pi-o trở nên rất giỏi trong tất thảy những việc đó. Cậu trở nên rất giỏi trong mọi thứ, thực ra, ngoại trừ một điều mà các giáo viên của cậu không bao giờ có thể chỉ ra một cách chính xác - một dòng ghi chú bên lề cứ xuất hiện bằng những nét chữ khác nhau, ở các học viện khác nhau, từ những giám khảo khác nhau dù chưa từng so sánh ghi chú với nhau:
Kỹ thuật xuất sắc. Không thể thấu được cảm xúc. Âm nhạc thiếu đi–
Rồi những từ ngữ khác nhau cho cùng một điều. Tâm hồn. Tiếng nói. Bản sắc. Trái tim.
Pi-o đọc những lời nhận xét đó, trở lại phòng tập và lao vào luyện kỹ thuật chăm chỉ hơn, đó là phản ứng duy nhất mà cậu biết.
Cậu không nghĩ về cậu bé trong phòng tập thường xuyên. Khi nghĩ đến, đó không phải là với sự ấm áp - mà là với xúc cảm sắc nét và rõ ràng của sự ganh đua, của một tỷ số chưa được phân thắng bại. Một cậu bé đã đánh bại cậu một lần vào năm mười tuổi, bằng một nhịp điệu chệch chạc và một điều gì đấy trong tiếng đàn mà tất cả các giám khảo có lẽ sẽ miêu tả bằng cùng một từ ngữ vô dụng.
Tâm hồn.
Một đối thủ. Đó là phân loại chính xác. Đó là nơi điều đó thuộc về.
Bảy năm sau, trong một căn hộ nhỏ ở một phần thành phố ngày càng rẻ hơn khi khu phố trở nên tiêu điều hơn, Choi Jeong-yo - mười bảy tuổi, đơn xin học bổng nằm trong cặp, cha cậu đang ngủ ở sau nhà - ngồi trước cây đàn piano cũ và mở hộp đàn ra, nơi cậu giữ những vật quan trọng đối với mình.
Điểm số có ghi chú của mẹ cậu cho bản Nocturne. Một bức ảnh. Một tờ báo được gấp lại từ cuộc thi tại Trung tâm Nghệ thuật Sejong, bảy năm đã trôi qua.
Và một chiếc khăn tay. Không phải của cậu - chưa bao giờ là của cậu. Vải bông trắng, sợi dệt mịn, được gấp thành hình vuông mẫu mực của một người đã được dạy cách gấp đồ đạc cẩn thận. Được giặt giũ cẩn thận, bởi chính tay Jeong-yo, lặp đi lặp lại qua bảy năm, cho đến khi nó gần như trong suốt ở những đường gấp ban đầu. Cậu đã định trả lại nó. Cậu đã quay lại tòa nhà đó để trả nó, và rồi xe cứu thương đến, và thế giới tự sắp xếp lại hoàn toàn quanh một thực tế khác, và tới khi Jeong-yo ngoi lên vào những tuần tiếp theo, cậu bé với đôi mắt đen láy đã đi mất và chiếc khăn tay vẫn ở trong túi cậu.
Cậu tự dụ lòng mình rằng việc cậu giữ nó chỉ là vô tình. Cậu đã thôi tin vào điều đó từ khoảng năm mười ba tuổi.
Giờ đây cậu mở nó ra và đưa lên trước ánh đèn. Dẫu sau bảy năm được cậu giữ gìn, bạn vẫn có thể thấy nó từng là gì - chất lượng của vải bông, đường may đều tăm tắp, thực tế là nó chưa bao giờ được mua vì cần thiết như cách gia đình Jeong-yo mua đồ vì cần, mà nó đã được lựa chọn và gìn giữ theo cái cách đồ đạc được lựa chọn và gìn giữ trong những gia đình sung túc. Đầy đủ tiền bạc, sự ổn định, bền vững để đầu tư vào những vật dụng nhỏ bé. Một cuộc sống không giống tẹo nào với ngôi nhà mà cậu đang ngồi, với người cha đang ngủ ở sau nhà, cây đàn piano hơi phô và hệ thống sưởi không đáng tin cậy vào mùa đông.
Cậu nghĩ về Kang Pi-o. Phòng tập. Cái cách cậu ấy yên lặng lấy chiếc khăn tay ra - không hỏi và không do dự, chỉ là sự phản ứng thực tế và tức thì với một người đang cần một thứ gì đó, như thể việc trao đi đồ vật của mình là điều hoàn toàn không có gì đáng nói. Câu nhạc duy nhất được thị phạm mà không có cái tôi, chỉ với ý định đơn thuần là đây này, nó hoạt động như thế này. Đôi mắt đen đã nhìn Jeong-yo như thể cậu là một câu hỏi đáng để ngồi lại cùng.
Cậu nghĩ về một cậu bé một mình trong phòng tập đang gồng mình giữ bản thân thật bất động, và sự tĩnh lặng đó đang đè nén điều gì.
Cậu chơi hay lắm. Trên sân khấu ấy.
Cảm ơn cậu. Từ ngữ được sử dụng một cách không quen thuộc từ miệng cậu ấy.
Jeong-yo gấp chiếc khăn tay lại hình vuông ban đầu - không phải như cách mẹ cậu vẫn gấp khăn của bà, mà là hình vuông phẳng, chuẩn mực như nó vẫn luôn thế, hình dáng mà nó ghi nhớ. Cậu nhét nó vào túi áo. Cậu đã quen giữ nó ở đó, trong túi áo trước ngực, mà không hoàn toàn cố ý. Thứ sức nặng nhỏ nhoi cậu mượn tạm rồi mang theo mà không hề mổ xẻ lý do tại sao.
Cậu nghĩ: Mình sẽ nộp đơn xin học bổng. Mình sẽ vào Trung học Nghệ thuật Korea. Mình sẽ lại chơi piano, một cách đường hoàng, với một người thầy. Cậu không cho phép mình hoàn thành suy nghĩ đến sau đó. Hoặc có lẽ cậu đã hoàn thành - ở đâu đó bên dưới bề mặt của những gì cậu sẵn sàng gọi tên, ở nơi mà những điều chân thật chờ đợi cho đến khi bạn sẵn sàng đối mặt - và chỉ đơn giản là chọn chưa nhìn vào nó khi này.
Ở phía bên kia thành phố, trong một phòng tập với cây đàn Steinway, một kệ cúp và ánh sáng xinh đẹp lọt qua những ô cửa sổ cao, Kang Pi-o - mười bảy tuổi, lịch thi đấu trong năm đã được sắp xếp xong xuôi - đang thay đồng phục đi học thì nhận ra chiếc áo vest.
Chiếc áo vest trang trọng. Từ bảy năm trước. Mẹ cậu đã giữ nó mà không nói với cậu, gấp gọn trong một chiếc hộp ở tủ quần áo của cậu, và cậu đã tìm thấy nó tuần trước khi đang tìm một thứ khác, rồi không di chuyển nó vì cậu không chắc việc mình chưa bỏ nó đi có ý nghĩa gì.
Bây giờ cậu lấy nó ra. Giơ nó lên. Cậu đã lớn hơn đáng kể so với khi mười tuổi, chiếc áo vest nhỏ một cách vô lý, tay áo ngắn củn trên cổ tay cậu. Cậu nhìn nó với nét mặt mà cậu vẫn dành cho mọi thứ mà cậu chưa quyết định cách phân loại.
Ánh mắt cậu chuyển sang túi áo ngực.
Trống không.
Cậu đứng đó với chiếc áo vest nhỏ trên tay và nhìn vào chiếc túi trống rỗng lâu hơn bình thường. Đó là túi áo ngực. Nó trống trơn. Đây không phải là thông tin buộc ta phải nghiền ngẫm.
Thế nhưng.
Bảy năm trước, cậu đã để khăn tay vào chiếc túi đó vào buổi sáng diễn ra cuộc thi - được gấp đúng cách, được là đúng cách, được đặt ở đó theo thói quen và sự kỳ vọng chung rằng một cậu bé biểu diễn tại Trung tâm Nghệ thuật Sejong phải được chỉnh tề trong mọi chi tiết. Cậu đã đưa chiếc khăn tay đó cho một cậu bạn bị chảy máu cam trong phòng tập và không nghĩ về nó nữa trong bảy năm bởi đó chỉ là một chiếc khăn tay, có thể thay thế, một vật dụng sinh hoạt không có ý nghĩa nào vượt quá chức năng của nó.
Cậu nhìn vào chiếc túi trống trơn.
Mình chưa bao giờ lấy lại được nó, cậu nghĩ, một điều vừa chính xác vừa chẳng liên quan.
Và rồi, một cách kém dễ chịu hơn: Mình chưa bao giờ đòi.
Cũng chính xác như thế. Cậu đã nhìn cậu ấy nhét nó vào túi quần của chính cậu ấy mà không nói gì, rồi họ đã nói về bản Nocturne, cậu đã chơi câu nhạc thứ ba và cậu ấy đã nhìn cậu bằng đôi mắt mở to, đơn giản ấy rồi nói cậu chơi hay lắm, còn Pi-o đã nói cảm ơn cậu và cậu ấy rời đi. Và ở đâu đó trong chuỗi sự kiện ấy, Pi-o dường như đã quyết định không đòi lại chiếc khăn tay của mình, để rồi cậu đang nhìn vào chiếc túi trống không bảy năm sau đó, cố gắng hiểu được phiên bản mười tuổi của chính mình, người đã tìm thấy một cậu bé lạ mặt trong phòng tập của mình và trao cho cậu ấy một thứ mà không hề yêu cầu trả lại.
Cho tớ xin lại chiếc khăn tay. Bốn từ. Cậu đã không nói ra.
Thứ không phải lúc nào cũng có một cái khác để thay thế - thứ mà bấy giờ cậu nhận ra mình đang lật đi lật lại, với chiếc áo vest nhỏ trên tay và kệ cúp giải nhất được sắp xếp ngăn nắp đằng sau cậu - chính là thanh âm đó. Nhịp điệu trôi dạt. Bản Chopin Nocturne được chơi một cách vừa vụng về vừa đẹp đẽ, cái cách mà một vài điều sai lệch lại trở nên thú vị hơn những điều đúng đắn tương ứng theo những cách mà phải mất nhiều năm mới thừa nhận được.
Cậu đã dành bảy năm để rèn cho tiếng đàn của mình đạt đến độ hoàn hảo. Cậu cũng đã dành bảy năm chỉ để nghe người ta nói rằng chừng ấy vẫn là chưa đủ.
Cậu bỏ chiếc áo khoác lại vô hộp. Cậu ngồi xuống bên cây đàn Steinway. Cậu đánh bản nhạc của Schumann - luôn luôn là Schumann dành cho các vòng thi đấu, chính là bản nhạc cậu từng chơi vào ngày hôm đó - và cậu đánh nó một cách hoàn hảo, từng nốt nhạc đều nằm đúng vị trí, từng câu nhạc được cân chỉnh chính xác tuyệt đối, toàn bộ cấu trúc chuẩn xác như một công trình kiến trúc và cũng chính xác là lạnh lùng y vậy.
Cậu chơi trọn vẹn bản nhạc và nghĩ về một cậu bé với nhịp đập tự do không lề lối - người từng đánh bại cậu một lần và hiện vẫn đang ở đâu đó trong thành phố này, nắm giữ điều gì đó vốn thuộc về Pi-o.
Không phải với sự ấm áp. Cậu nhận thức rất rõ điều ấy.
Một đối thủ, cậu tự nhắc nhở bản thân. Đó là phân loại duy nhất có ý nghĩa.
Trong khoảng lặng sau đó, đôi bàn tay vẫn đặt trên phím đàn, cậu tự hỏi: Tại sao mình vẫn còn nghe thấy nó.
Câu hỏi đó, hệt như hầu hết những câu hỏi chân thực khác, không có một câu trả lời dễ dàng. Cậu đi ngủ mà vẫn chẳng thể tìm ra.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com