cmt81945
a. Hoàn cảnh lịch sử:
- Trên thế giới , chiến tranh thế giới lần thứ hai sắp
kết thúc. Tháng 5-1945 phát xít
Đức bị tiêu diệt. Ngày
8-8-1945 Liên Xô tấn công làm
tan rã một triệu quân Quan
Đông của Nhật. Ngày 15-8-1945 Chính phủ Nhật
tuyên bố đầu hàng Đồng
minh. Quân Nhật ở Đông
Dương bị tê liệt. Chính phủ
bù nhìn tay sai Trần Trọng
Kim hoang mang cực độ. - Trong nước , lực lượng cách mạng đã đủ mạnh để nổi
dậy khởi nghĩa giành thắng
lợi, dưới sự lãnh đạo của
Đảng và Mặt trận Việt Minh
cao trào kháng Nhật cứu
nước đã phát triển mạnh mẽ. Lực lượng cách mạng đã lớn
mạnh. Khi thời cơ đến, Đảng
đã kịp thời phát động tổng
khởi nghĩa toàn quốc. b) Những nét chính về
diễn biến - Từ ngày 13 đến ngày
15-8-1945, hội nghị toàn quốc
của đảng Cộng sản Đông
Dương đã họp ở Tân Trào
(Tuyên Quang) quyết định
phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn
quốc trước khi quân Đồng
Minh kéo vào, thành lập Uỷ
ban khởi nghĩa và ra bản
Quân lệnh số 1 kêu gọi toàn
dân nổi dậy. - Tiếp đó, trong các ngày
16,17-8-1945 Quốc dân đại hội
họp ở Tân Trào đã tán thành
quyết định tổng khởi nghĩa
giành chính quyền trong toàn
quốc và thông qua 10 chính sách lớn của Việt minh; đồng
thời thành lập Uỷ ban dân tộc
giải phóng Việt Nam quy định
quốc kỳ, quốc ca.
- Chiều 16-8-1945 dưới sự chỉ
huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp một đội quân giải phóng
xuất phát từ Tân Trào tiến
về giải phóng thị xã Thái
Nguyên, mở đầu cho cuộc
tổng khởi nghĩa giành chính
quyền trong toàn quốc. Cho đến ngày 18-8-1945 có 4 tỉnh lỵ
đã giành được chính quyền là:
Bắc Giang, Hải Dương, Hà
Tĩnh và Quảng Nam. *Tại thủ đô Hà Nội: - Từ sau cuộc đảo chính Nhật
- Pháp, không khí cách mạng
ngày càng sục sôi. Ngày
15-8-1945 lệnh khởi nghĩa về tới
Hà Nội, phong trào chuẩn bị
khởi nghĩa diễn ra rất khẩn trương với nhiều hình thức:
Diễn thuyết công khai, rải
truyền đơn, căng biểu ngữ.
Chiều 17-4-1945 ta đã biến
cuộc mít tinh của Tổng hội
công chức (thân Nhật) thành cuộc mít tinh, biểu tình ủng
hộ Việt minh.
- Ngày 19-8-1945 cuộc mít tinh
ở quảng trường Nhà hát lớn
thành phố, nhanh chóng
chuyển thành cuộc biểu tình, quần chúng cách mạng chia ra
nhiều đoàn đánh chiếm các
công sở địch. Cuộc khởi nghĩa
ở thủ đô đã giành thắng lợi.
- Sau Hà Nội, ngày 23-8 Huế
giành được chính quyền. - Tới ngày 25-8-1945 Sài Gòn
dinh luỹ cuối cùng của chế độ
thực dân cũng về tay cách
mạng.
- Thắng lợi của cuộc khởi
nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn đã cổ vũ nhân dân các địa
phương khác trong cả nước
vùng lên khởi nghĩa giành
chính quyền. đến cuối tháng
Tám năm 1945 chính quyền
cách mạng đã được thành lập trong cả nước. Cách mạng
tháng Tám thành công trong
toàn quốc tương đối nhanh
chóng và ít đổ máu. c) Ý nghĩa lịch sử: - Đối với lịch sử dân tộc, đây
là một biến cố vĩ đại, đã phá
tan xiềng xích nô lệ của Pháp
- Nhật và lật nhào ngai vàng
phong kiến đưa đất nước ta
trở thành một nước độc lập, nhân dân ta từ địa vị nô lệ lên
địa vị làm chủ đất nước.
- Đối với thế giới, đây là
thắng lợi đầu tiên trong thời
đại mới của một dân tộc
nhược tiểu đã tự vùng lên giải phóng khỏi ách đế quốc
thực dân. Thắng lợi đó đã cổ
vũ mạnh mẽ tinh thần đấu
tranh của nhân dân các nước
thuộc địa trên thế giới đặc
biệt là nhân dân châu á và châu Phi. * Bài học kinh nghiệm
của cách mạng tháng
Tám 1945: - Giải quyết đúng đắn mối
quan hệ giữa hai nhiệm vụ
chống đế quốc và chống
phong kiến, tập hợp mọi lực
lượng trong mặt trận dân tộc
thống nhất rộng rãi dựa trên cơ sở liên minh công nông.
- Triệt để lợi dụng mâu thuẫn
trong hàng ngũ địch, tập
trung mũi nhọn vào kẻ thù cụ
thể trước mắt.
- Thấu suốt tư tưởng bạo lực cách mạng, kết hợp đấu tranh
vũ trang với đấu tranh chính
trị, kết hợp khởi nghĩa ở nông
thôn và thành thị để giành
chính quyền.
- Tích cực chuẩn bị, chớp lấy thời cơ dũng cảm phát động
toàn dân khởi nghĩa giành
chính quyền.
* Sự ra đời của nước
VNDCCH và ý nghĩa
của nó: - Trong cao trào kháng Nhật
cứu nước, khu giải phóng Việt
Bắc được thành lập, bao gồm
các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn,
Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên
Quang và Thái Nguyên. Uỷ Ban lâm thời khu giải phóng
đã thi hành 10 chính sách lớn
của Việt Minh nhằm đưa lại
quyền lợi cho nhân dân... Đó
chính là hình ảnh thu nhỏ của
nước Việt Nam DCCH sau này. Sau khi Cách mạng tháng
Tám thành công, ngày 2-9-1945
chính phủ lâm thời ra mắt
quốc dân ở thủ đô Hà Nội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc
Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam DCCH. * Ý nghĩa: - Nước Việt Nam DCCH ra
đời là một biến cố lịch sử vĩ
đại của dân tộc, nó phá tan
xiềng xích của nô lệ Pháp -
Nhật và phong kiến lập nên
VNDCCH. - Từ một nước thuộc địa
chúng ta đã giành được độc
lập, tự do và chính quyền cách
mạng.
- Mở ra kỹ nguyên mới trong
lịch sử: kỹ nguyên độc lập, tự do gắn liền với chủ nghĩa xã
hội.
- Thắng lợi đầu tiên trong
thời đại mới của một dân tộc
nhược tiểu đã tự giải phóng
khỏi ách đế quốc. - Đồng thời với sự ra đời của
nước Việt Nam DCCH, nhà
nước dân chủ nhân dân đầu
tiên ở Đông Nam Á đã cổ vũ
mạnh mẽ tinh thần đấu tranh
của nhân dân các nước thuộc địa và nữa thuộc địa trên thế
giới, nhất là ở châu á và châu
Phi
Hoàn cảnh lịch sử Thuận lợi: Sau chiến tranh thế giới thứ
hai với thắng lợi của nhà
nước Xô Viết ,Chủ nghĩa xã
hội đã trở thành hệ thống chủ
nghĩa được lan rộng ra trên
khắp thế giới từ Châu Á, Châu Âu, và Châu Phi. Thắng lợi của cách mạng
tháng 8-1945 đã mở ra một kỷ
nguyên mới cho đất nước ta.
Nhân dân ta từ thân phận nô
lệ nay đã được giải phóng
được hưởng quyền tự do, bình đẳng có quyền tự quyết
định số mệnh của mình. Khó khăn: Nước ta vẫn trong vòng vây
của chủ nghĩa đế quốc. Sau chiến tranh nhiều cơ sở
vật chất kỹ thuật bị tàn phá
nặng nề, nền kinh tế lạc hậu.
Năm 1945 xảy ra nạn đói làm
cho hơn 2 triệu người chết.
Rồi lũ lụt xảy ra làm cho 80% ruộng đất canh tác bị bỏ
hoang. Tình trạng dân trí rất
thấp, hơn 95% không biết chữ • Ở miền Bắc; Quân Tưởng
cùng bọn Việt Quốc Việt Cách
điên cuồng chống phá nhà
nước cách mạng. • Ở miền Nam: 20 triệu quân
Anh nhảy vào với cớ giải giáp
quân phát xít Nhật với âm
mưu tiếp tay cho Pháp quay
lại xâm lược nước ta lần thứ
2. Trước những diễn biến hết
sức bất lợi. Đảng đã ra bản
chỉ thị toàn quốc kháng chiến
kiến quốc: "Tổ quốc lâm nguy!
Tình thế nước ta như ngàn
cân treo sợi tóc" Nội dung cơ bản của bản chỉ
thị kháng chiến kiến quốc
tháng 11-1945 1. Nhiệm vụ cơ bản của cách
mạng ở Đông dương hiện nay
vẫn là giải phóng dân tộc.
Khẩu hiệu lúc này là "dân tộc
trên hết tổ quốc trên hết" 2. kẻ thù chính của cách mạng
lúc này là thực dân Pháp xâm
lược. 3. Lực lượng chủ yếu của
cách mạng là giai cấp công
nhân 4. Nhiệm vụ bao trùm của
cách mạng giải phóng dân tộc
là xây dựng bà bảo vệ các
thành quả cách mạng xã hội
chủ nghĩa. Nhiệm vụ cơ bản
trước mắt của toàn dân tộc là củng cố chính quyền cách
mạng, chống thực dân Pháp,
bài trừ nội phản, cải thiện đời
sống nhân dân. 5. Chỉ thị vạch ra các biện pháp
để thực hiện nhiệm vụ trên là • Về chính trị: tổ chức bầu cử
quốc hội, lập ra hiến pháp.
Trừng trị những kẻ phản
động. củng cố chính quyền
nhân dân. • Về quân sự: động viên lực
lượng toàn dân trường kỳ
kháng chiến. • về ngoại giao: kiên trì
nguyên tắc " Bình đẳng tương
trợ " thi hành chính sách ngoại
giao hoà bình, thêm bạn bớt
thù. Đối với quân Tưởng thực
hiện khẩu hiệu Hoa Việt thân thiện Tóm lại : Bản chỉ thị kháng
chiến kiến quốc tháng 11 năm
1945 đã đưa ra được những
chiến lược và sách lược cách
mạng đúng đắn trong thời kỳ
đất nước mới giành được chính quyền, đưa nước ta
vượt qua tình thế " ngàn cân
treo sợi tóc."
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com