bbsl 447-454
Dương Hạo từ sau khi tiếp quản Ngân Châu luôn bận rộn tăng cường quân lính bình định dân chúng, khu hoạch vùng dân cư, hộ tịch đóng thuế và các chính sách… tăng cường quân kỷ, bầu nhiệm quan lại. Ngoài mặt thì chỉ thấy hắn đi đi lại lại xem xét, tùy ý nói năng, nhưng trên thực tế thì lại sắp xếp xử trí đâu ra đấy, hết sức bận rộn Do đó không có thời gian chú ý đến đảng Thất Thị, nước Khương Hoành Sơn, các bộ tộc Thổ Phiên Hồi Hột và người Hán.Việc gặp mặt những người đứng đầu bộ lạc, sơn trại là diều rất cần thiết, từ góc độ lễ nghĩa thì mỗi bộ lạc đều không thể không gặp người thủ lĩnh đứng đầu của ình, Dương Hạo cũng cần đích thân gặp một lượt các thủ lĩnh, tìm hiểu những nhu cầu của họ, thiết lập tình cảm đôi bên, có rất nhiều việc cần bọn họ giúp đỡ, phối hợp, phục tùng, nên khi tiếp xúc với các thủ lĩnh, cũng là lúc Dương Hạo tuyên bố chủ quyền thống trị của mình.Do đó rất cần hắn phải trực tiếp bắt tay vào xử lý những việc đại sự, việc này đòi hỏi phải đề cập đến trong bảy ngày. Những việc này còn đòi hỏi nhiều công sức hơn nhiều so với việc hành quân, phải có danh sách, liệt kê thứ tự trước sau, chương trình thế nào, tỉ mỉ rõ ràng, nếu không cẩn thận sẽ xuất hiện sơ xuất, có thể sẽ làm rạn nứt quan hệ giữa các bộ tộc, chư hầu ở Ngân Châu và những rắc rối không đáng có.Việc tỉ mỉ này do thuộc hạ của Dương Hạo làm nhưng cũng không phải ai cũng có thể đảm nhiệm, nguyên sứ bộ nước Đường Từ Huyễn rõ ràng là một người giỏi xử lý chính trị,dùng người phải dùng tài của người, nhưng về lâu dài thì Lý Dục sẽ trở thành đại sứ ngoại giao, sự việc này không dễ, do đó việc này giao cho hắn làm. Dương Hạo và Từ Huyễn phải mất cả một buổi chiều mới có thể làm xong những việc đó, sau đó mới đứng dậy quay về Dương phủ.
Phủ này cũng không phải là phủ rộng rãi và thâm sâu so với những phủ mà Dương Hạo đã từng thấy, có điều phủ được xây dựng theo kiểu dựa vào núi, cao trùng điệp, thuận theo ý tự nhiên, mà vốn là muốn để phòng ngự nên mọi hướng đều quay vào sân, hết sức quy củ.
Đi đến sân sau, đột nhiên nghe thấy tiếng tiêu vọng ra, du dương êm ái, Dương Hạo không khỏi cảm thấy trong lòng khoan khoái lạ thường. Do gần đây nhiều việc cần giải quyết nên hắn rất đau đầu. Hắn ngẩng đầu nhìn thoáng qua, thấy tiếng tiêu được vọng ra từ phía sân của Oa Nhi, bèn cười.
Vị chủ nhân nhỏ này là tài nữ đệ nhất trong số bốn bà vợ của hắn, thường thì Tiểu Chu hoàng hậu hay lui tới, nhưng khi nói đến thơ từ, cầm kỳ, phục sức, trang điểm, ẩm thực, Phật giáo hay đạo giáo… thì đếu có thể trả lời lưu loát, cũng chỉ có mình Oa Nhi mà thôi. Những học vấn này dù không có ích lắm đối với quốc gia đại sự, nhưng cái gì cũng tài giỏi như vậy thì những người trong thiên hạ không có mấy người có thể đạt đến trình độ tài giỏi uyên bác như thế.
Dương Hạo vốn định đùa kiều nữ đáng yêu của mình một chút, nghe thấy tiếng tiêu liền truyền lệnh đi về phía chỗ ở của Oa Nhi.
Trong sân của Oa Nhi có một cái hồ, trên hồ xây một cái đình và một cây cầu gỗ, trong hồ có nhiều cây cối. Lúc này đang là mùa đông, nước hồ đã đóng băng cả, bên trên phủ một lớp tuyết dày, những thực vật trong hồ cũng đã khô héo, trên vài nhánh cây còn phủ một lớp tuyết trắng xóa, duy chỉ có hai cây mai bên hồ là vẫn nở hoa vàng.
Tiểu Chu mặc một bộ quần áo màu trắng, đứng dưới gốc mai, nhìn lên ngọn núi giả như đang ẩn hiện dưới làn tuyết trắng, khẽ khang đưa tiêu lên, một âm thanh nhẹ nhàng thanh thoát cất lên từ chiếc tiêu dài màu tím, trầm bổng, cùng với tuyết, với người tạo thành một bức tranh phong cảnh như thơ như họa hoàn mỹ, kỳ ảo tùng bay, nhưng giữa hai hàng lông mày của nàng vẫn lộ ra nét ưu sầu cô quạnh.
Khi đó, nàng mỗi ngày đều đến soái phủ, dần dần cũng phát hiện ra Dương Hạo không hề có ý đồ thù địch với nàng, hoặc ngày đó hắn vô tình thổ lộ tiếng lòng nên cũng không đủ khiến cảnh giác, hoặc hắn đã coi bản thân như một con chim trong lồng, căn bản không lo lắng bản thân có thể tạo ra uy hiếp gì?
Đúng vậy, cứ coi như bản thân biết chí hướng của hắn thì đã sao? Có thể nói cho ai nghe? Triệu quan gia ư? Nàng e rằng tránh còn không kịp, còn về thế lực khác thì nàng càng không có ý định tiết lộ thông tin cơ mật của hắn cho những người khác biết.
Nghĩ thông suốt rồi, Tiểu Chu hoàng hậu mới thở phào nhẹ nhõm. Điều đáng sợ nhất là nếu như tình thế bắt buộc, nàng cũng không tiếc thân, nhưng cũng không có nghĩa là nàng cam chịu chết. Nếu như có thể sống thì đương nhiên được sống vẫn tốt hơn.
Dẫu cho biết rằng bản thân mình đã lo lắng quá nhiều thứ, nhưng nàng vẫn hay đến Dương gia, một mặt là lo cho Đông Nhi, bọn Diễm Diễm cũng hiếu khách, thường xuyên lui tới. Bản thân Tiểu Chu đã trở thành một người bạn thân thiết không gì không nói của bọn họ. Tiểu Chu cô đơn, khi còn là một hoàng hậu cao sang, trước sau đều có kẻ hầu người hạ, quân lính phục tùng, những người ở bên cạnh nàng chỉ là bọn nữ tì hầu gái, nhưng cung tần mỹ nữ trong cung, còn có cả phu nhân của những vị quan đại thần. Nàng không thể gặp gỡ bất kỳ người phụ nữ bình thường nào khác, nên khi gặp những cô gái thế này nàng rất lấy làm thích, nhanh chóng kết bạn.
Từ sau khi đến Ngân Châu, nàng càng cô đơn, mỗi ngày nàng chỉ ngồi trong căn phòng nhỏ, làm bạn với tĩnh mịch, không có việc gì làm, không có gì để nói, dù yên tĩnh nhưng lại cô đơn đến đáng sợ. Những ngày tháng thế này chỉ có thể hưởng thụ trong một hai ngày, chứ để lâu dài lại chẳng khác nào một sự dày vò, đặc biệt là với tính cách hoạt bát lãng mạn của Tiểu Chu.
Chỗ ở đó của nàng căn bản chỉ có vài kẻ hầu không thể nói chuyện được, chỉ có một cô gái ít hơn nàng vài tuổi tên là Lý Trọng Ngụ, hai người thường không có nhiều chuyện để nói. Khi Dương Hạo xây dựng dịch quán ở Lô Châu, Lý Trọng Ngụ ở nhà chán không có gì làm nên đã tự tiến cử bản thân, cả phủ chỉ có mình nàng, lạnh lùng, không có gì tức giận.
Trong vô thức, nàng đã thích cảm giác đến thăm phủ của Dương Hạo, cùng ngồi với Đông Nhi, Diễm Diễm, Oa Oa, Diệu Diệu, nàng cảm thấy rất vui vẻ đầy đủ, rất vui vẻ, cảm giác này trước nay nàng chưa từng có. Thế nhưng, khi nàng đến chỗ Đông Nhi, cùng chuyện trò với Oa Oa, thì Diễm Diễm đột nhiên cầm quyển sách chạy tới, hai người chạy vào thư phòng nói chuyện gì đó khiến Tiểu Chu đột nhiên hoảng sợ. Bầu không khí náo nhiệt này, ấm áp này hoàn toàn không liên quan gì tới nàng, nàng chỉ là một vị khách mà thôi, thế là cảm giác thương cảm trong cả tháng nay trỗi dậy, nàng lặng lẽ che đậy nỗi đau thương trong lòng.
Nàng vốn cho rằng nước đã tan rồi, nhà đã mất rồi, phu quân thì chết rồi, một người vừa mới hai mươi sáu tuổi như nàng giống như một đóa hồng điêu linh, từ từ héo rũ, khô héo… nay nàng mới biết, trong tim nàng vẫn còn sống…
Chỉ cần còn sống, ai có thể thoát ra được sự cám dỗ? Điều khác biệt chỉ là bạn có cúi đầu trước sự cám dỗ đó hay không. Nàng khát vọng được sống, sống một cách đặc sắc, sống một cuộc sống có ý nghĩa. Nhưng khi tuyết tan, đất trời vào xuân, sức sống lại đâm chồi nảy lộc, nhưng còn nàng thì sao?
Cảm xúc dâng lên, tiếng tiêu mang theo nhiều nỗi ưu thương, lúc này đây, bên tai nàng nghe thấy vài tiếng vỗ tay rất dứt khoát. Tiểu Chu vội quay đầu lại, chỉ thấy trong sân hết sức tĩnh mịch, không có bóng dáng của ai. Một lúc sau, Tiểu Chu vẫn cứ nghĩ rằng mình đã nghe nhầm, lại quay người, kề cây tiêu lên miệng, thì nghe thấy bên cạnh có tiếng nói: “Haha, lão già phong lưu không tuân thủ quy tắc quả nhiên đã tìm được người truyền nhân, bản lĩnh thu nhận mỹ nhân thật đúng là nhất mạch tương nhận”.
“Ai đó?”
Tiểu Chu sau khi định trách một tiếng, nhưng khi quay đầu lại thì lại không thấy ai. Tiểu Chu kinh ngạc lùi lại vài bước, gần như cảm thấy như mình đã gặp quỷ, liền nghe thấy một tiếng nói vọng đến: “Hihi, ngươi không phải sợ, ta không phải là quỷ đâu, cũng không phải yêu ma”.
Tiểu Chu quay mạnh người lại, vẫn không thấy ai, sau lưng nàng là cái ao, trên mặt ao tuyết phủ dày, nhưng không hề có dấu vết gì, Tiểu Chu càng lo sợ, lắp bắp nói: “Người…người là thần tiên?”
“Haha, không sai, không sai, ngươi gọi ta là chị của thần tiên cũng không sai”.
Tiếng nói đó lại vọng đến, thậm chí nàng còn cảm giác thấy một làn hơi mỏng mảnh lướt qua trước mặt. Tiểu Chu vội lui lại vài bước, lại nhìn lại, một người đang đứng sờ sờ trước mặt. Người này mặc một chiếc áo bào màu vàng, lưng đeo một thanh bảo kiếm màu xanh, trên đầu búi một búi tóc bằng cây trâm ngọc xanh biếc, khiến khuôn mặt của người đó càng lộ ra nét thanh tú, xinh đẹp động lòng người.
Tuy sự xuất hiện của người này có phần cổ quái, nhưng nghe giọng nói có phần khách khí, khuôn mặt xinh đẹp tuyệt sắc, Tiểu Chu sau phút giây kinh hãi đã không nén được mà hỏi: “Vị tiên cô này… là… là ai?”
Lúc này đây nàng như đang nghi ngờ không biết người con gái xinh đẹp này có phải thực sự là tiên nữ giáng trần hay không, có phải biết nàng đang đau khổ nên muốn đưa nàng tới miền cực lạc hay không? Theo Lý Dục tụng kinh niệm phật đã lâu, cũng khó trách nàng có suy nghĩ đó.
Cô nương đó nghiêng đầu nhìn nàng một lượt, đôi mát sáng như có thần, giống như một tấm màn thủy tinh trong suốt mềm mại và dịu dàng trong không trung. Sắc đẹp này đúng là có thể làm điên đảo lòng người, nếu như nàng ta có ý định quyến rũ một gã đàn ông nào đó thì e rằng trên đời này không một ai có thể chống lại được ma lực này. Thần thái này không giống như một thần tiên trên trời, có điều Tiểu Chu mới lần đầu gặp một cách xuất hiện thần bí thế này nên không hề nhận ra điều đó.
Người đó nhìn một lượt rồi tấm tắc thở dài nói: “Quốc sắc thiên hương, ta lấy làm xót thương. Cô là Đường Diễm Diễm hay Ngô Oa Nhi?”
Tiểu Chu nghe thấy hỏi như vậy liền tỉnh lại, nàng đang ở trong cung Đường, Lý Dục đã mời rất nhiều cao nhân của Đạo giáo và Phật giáo tới truyền thụ kinh nghĩa, trong đó có không ít cao nhân đã lui về ở ẩn, nay xem ra cô nương xinh đẹp này cũng là một dị nhân. Mấy ngày trước Dương Hạo gặp thích khách, Tiểu Chu cũng biết. Dương Hạo dù đã khống chế Ngân Châu nhưng những thế lực ghen ghét vẫn còn rất nhiều, nay thấy vị cô nương như trên trời rơi xuống thế này, lại hỏi đến hai phu nhân của Dương Hạo, Tiểu Chu càng nảy sinh nghi ngờ.
Nàng được Dương Hạo giúp đỡ rất nhiều, thoát khỏi bàn tay của tên Triệu Quang Nghĩa gian ác, Đường phu nhân và Ngô phu nhân đối xử với nàng hết sức nhiệt tình, bọn họ được coi là bạn thân của nhau, niềm vui duy nhất của nàng hiện giờ là được ở cùng mọi người, nên nàng cũng có ý thức bảo vệ họ.
Cô gái trước mặt không rõ có ác ý gì, Diễm Diễm và Oa Oa hiện vẫn đang ở trong thư phòng, nếu như cô gái này không có ý tốt, võ công lại cao cường thì…
Nghĩ đến đây, Tiểu Chu không ngại ngần mà mạo nhận mình là Ngô Oa Nhi, nói: “Ta là Ngô Oa Nhi, không biết tiên cô là ai?”
Vị tiên cô đó nghe thấy vậy liền cười, ánh mắt lộ ra vẻ nồng nhiệt: “Haha, Ngô Oa Nhi, thanh ngâm Tiểu Trúc chủ nhân, dùng sắc nghệ để lấy lòng đệ nhất Đại Lương hay sao? Dương Hạo trong thư đã nói về lai lịch của cô, nay được nhìn, quả nhiên danh bất hư truyền. Nhan sắc này so với ta khi đó ở Lạc Dương… hừm, không sai, không sai, đúng là mẫu người con gái khiến người ta thích thú.”
Tiểu Chu tự nghĩ: “Đại Lương? Từ khi Chu Ôn diệt nước Đường xưng vương đổi tên thành Đông Bộ Đại Lương, thành Biện Lương không còn được gọi với cái tên Đại Lương nữa. Làm sao lại gọi cái tên cổ như vậy? Con? Xem ra cô gái này chỉ lớn hơn ta khoảng hai, ba tuổi, làm sao nói chuyện lại già như thế chứ?”
Trong lòng nghĩ như vậy, nhưng trong lòng Tiểu Chu lại không hề biểu lộ cảm xúc gì. Nói ra thì Tiểu Chu cũng là một người phụ nữ thông minh, cầm kỳ thi họa thi từ ca phú, nên cũng nhanh chóng ứng biến không để lộ chút sơ hở:
“Không sai, ta chính là Ngô Oa Nhi, tiên cô còn chưa cho biết pháp danh, không biết hôm nay tiên cô giá đáo đến đây có ý gì?”
Vị tiên cô đó khẽ cười, khuôn mặt lộ ra hai lúm đồng tiền đẹp mê người: “Pháp hiệu của bản cô nương ư? Haha, ngươi gọi ta một tiếng là Tịnh Âm Sư Phụ là được. Lần này ta đến đây là nhờ ủy thác của Dương Hạo, muốn nhờ ta truyền thụ cho các ngươi, ta vốn ở trên núi Tử Vi, nhận được thư Dương Hạo, biết được các ngươi muốn đến Thiếu Hoa Sơn để cư ngụ, ta muốn trực tiếp đén, may sao giữa đường hỏi một vài câu mới biết được các ngươi đã đến Ngân Châu…”
Tiểu Chu nghe thấy cô ta không có ác ý gì bèn không muốn mạo nhận là Ngô Oa Nhi nữa, đang định nói rõ thân phận với người đó thì bỗng nghe thấy tin Dương Hạo đang muốn truyền thụ võ công cho các cô gái thấy trong lòng không khỏi tim đập. Nàng thường hay nói chuyện với Diễm Diễm, Dương Hạo đã từng nói đến chuyện có tiên nhân truyền thuyết ở trong Lư Động Binh, cô gái trước mặt có đích thực là truyền nhân của Lư Tổ không?
Nghĩ tới đây, những lời định nói lại chợt im bặt, nàng tò mò hỏi: “Tiên cô… tiên cô có phải là muốn truyền thụ võ công cho chúng tôi hay không?”
Tịnh Âm khẽ nhếch mép cười, trong nụ cười có chút tà ý, không hiểu nụ cười
đó có ý gì: “Thôi, cũng tương đối rồi, hihi, dẫu sao… bản lĩnh của bản cô nương đây đều là muốn truyền cho các ngươi. Dù cho tuổi của cô hơi lớn nhưng so với ta năm đó… năm đó khi mới bắt đầu luyện tập cũng đã hơi lớn tuổi, gân cốt vẫn còn biết nghe lời, chỉ cần không quá ngu dốt thì cũng có thể học được”.
Vừa nói đến đây, tai của Tịnh Âm đã khẽ động, cười nói: “Có người đến rồi, bản cô nương đến đây không muốn Dương Hạo biết, ta ở Tê Vân Quan, trong thành Ngân Châu, rất dễ tìm, người và Đường Diễm Diễm cứ đến tìm ta. Còn với bọn quan gia, ngươi muốn nói tung tích của ta cho bọn chúng cũng không vấn đề, có điều… không được gọi bọn chúng đến gặp ta, hắn là tông đồ của quỷ, gặp hắn ắt thấy xấu hổ”.
Tịnh Âm nói rồi thoáng một cái, cả thân thể đứng thẳng trong không trung rồi đứng thản nhiên tại một điểm trên ngọn núi giả sơn, thoát cái không thấy đâu nữa.
“Theo cô ta học võ nghệ?”
Tiểu Chu đầu nóng ran lên, một ý nghĩ chợt thoáng qua làm cho đầu óc nàng run lên.
Đã trải qua cảnh nước mất nhà tan, cuộc sống lưu vong, Tiểu Chu phát hiện rằng bản thân không biết tí võ công nào thật là ấu trĩ, ngày trước thì tưởng là nho nhã, trong thời chiến này mới nhận ra hóa ra phải có chút tài mọn mới đủ phòng thân.
Một người phụ nữ, đặc biệt là có sắc đẹp mà lại không có một thế lực nào bảo vệ thì sắc đẹp đó có thể đem đến cho cô ta biết bo nguy hiểm và bi kịch. Nếu như bản thân có thể giống như Tịnh Âm, có bản lĩnh đầy người như vậy thì tuy rằng không thể đủ sức cứu cả nước, nhưng khi đối diện với những dạng người tâm địa xấu xa như Triệu Quang Nghĩa thì ít nhất cũng có thể phòng thân.
Từ khi sinh ra, đây là lần đầu ý nghĩ này xuất hiện trong đầu, khiến tim nàng không khỏi đập loạn nhịp. Khi còn ở cung Đường nàng đã giao du với không ít cao tăng, cũng biết những vị cao tăng đó coi trọng y bát, không phải là với ai họ cũng đồng ý truyền thụ võ nghệ, để học được bản lĩnh đó thì cần phải mạo nhận.
“Vị tiên cô đó nhận lầm ta thành Oa Oa, không biết thì ta cứ mạo nhận đi, cô ta vốn muốn truyền võ công cho Oa Oa và Diễm Diễm, đợi ta… đợi ta học xong võ công sẽ dạy lại cho họ, còn nếu như không thành…”
Nghĩ đến đây, đột nhiên nghe thấy có tiếng bước chân vọng đến, Tiểu Chu vội vàng đưa tiêu lên môi, giả bộ như đang thổi một vài âm tiết, nhưng do đang suy nghĩ linh tinh nên khó thành ca khúc. Lúc này là Dương Hạo, hắn cười nói: “Nương tử biết được ta đến hay sao mà đột nhiên thổi không thành điệu thế?”
Tiểu Chu vội vàng quay người lại, thẹn thùng nói: “A, hóa ra là thái úy”.
Tiểu Chu là mẫu mỹ nữ điển hình của Giang Nam, mềm mại lả lướt, vóc dáng tinh tế, mặc bộ đồ da cừu, Dương Hạo nhận ra đây là sân của Oa Oa, ngoài Oa Oa ra thì không có người ngoài, không ngờ lại nhận nhầm người, hắn đang mặt mày hớn hở muốn nhảy ra ôm, chợt thấy người đó là Tiểu Chu nên không khỏi xấu hổ, thu hai tay lại: “Phu nhân xá tội, tại hạ.. nhất thời nhận nhầm người, thực là đã mạo phạm…”
Tiểu Chu sau khi có suy nghĩ mạo nhận trong lòng đang bối rối, tim cũng đang nhảy loạn lên, cố ý giả bộ từ tốn, cười nói: “Thái úy khách sáo rồi, còn nói chi đến mạo phạm…”
Lúc này cửa thư phòng đột nhiên mở ra, Đường Diễm Diễm và Ngô Oa Nhi cùng thướt tha đi ra đình, bốn mắt đều cùng liếc đến, khiến Dương Hạo chợt giật mình, nghiêm trang nói: “Phu nhân, mời!”
Bốn người cùng vào ngồi trong hoa đình, Đường Diễm Diễm nhân tiện hỏi: “Hạo ca ca, thiếp và Oa Nhi vừa mới đọc một hồi trướng nhật, tiền chàng muốn mua sắm lương khô, nông cụ… đều miễn cưỡng góp lại, có điều cũng phải khẩn trương, nếu không phải mượn thương gia dùng một ít?”
Dương Hạo lắc đầu nói: “Đã gom lại được thì không cần phải mượn đâu.
Không chỉ là vấn đề lãi, chúng ta nhất định phải thử gánh vác áp lực, bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề, nếu như từ đầu chí cuối đều là người khác làm vậy thì làm sao các nàng đứng vững được?”
Đường Diễm Diễm trừng mắt nhìn hắn, sẵng giọng: “Được rồi, chàng nói một câu thì cái gì không thể cũng thành có thể, cứ lôi cả một mớ đạo lý như bòng bong ra nói, ai mà nhẫn nại nghe cho được”.
Dương Hạo cười nói: “Thói quen rồi, quen rồi, thường ngày có chuyện gì cũng đều dặn dò như vậy, để cho người nghe được rõ, khiến cho họ hiểu được tường tận ý đồ và cách nghĩ của ta. Haha, đợi chúng ta dùng quen người rồi thì không cần việc gì cũng làm minh bạch nữa, các nàng muốn ta nói nhiều ta cũng lười không nói đâu”.
Đường Diễm Diễm bĩu môi nói: “Chờ đó”.
Oa Oa đi tới đằng sau Dương Hạo, nhẹ nhàng mát xa vai cho hắn, cười nói: “Tỷ tỷ chẳng qua là làm nũng với chàng thôi, quan nhân hà cớ mà không hiểu sự tình như vậy? Đúng rồi, tiệc rượu mời thủ lĩnh các bộ tộc chuẩn bị thế nào rồi?”
Dương Hạo nói: “Cụ thể thế nào ta đều giao cho hội Từ đại nhân lo liệu rồi. Nàng biết đấy, những việc như thế này là việc nhỏ nhặt. Có điều rất nhiều thứ Từ đại nhân ra tay còn khéo hơn phụ nữ gấp bội. Ví dụ như thành Ngân Châu của chúng ta, sau vài trận chiến, đầu bếp tài giỏi đều thưa thớt ít ỏi, đã là yến tiệc thì lại phải làm cho thịnh soạn, nhưng ta nghĩ bọn họ không quen ăn những món sơn hào hải vị, không thích hợp để ăn. Oa Oa, nàng nấu ăn thì không chê vào đâu được, nhưng những món nàng làm đều có nhiều chất quá, không thích hợp với vùng Tây Bắc. Nàng có biết nấu theo kiểu Trung Nguyên sao cho vẫn mang theo phong vị của thảo nguyên không?”
Oa Oa chần chừ một chút rồi làm khó nói: “Quan nhân cũng biết Biện Lương có bao nhiêu thực khách, đều là những người ăn được, chỉ cần hai ba gắp là hết đĩa, đích thực là không thích hợp với bọn họ. Có điều…”
Tiểu Chu thấy vợ cồng nhà họ ngồi trước mặt mình liếc mắt đưa tình nhưng cũng không hề đố kị, nàng vẫn cứ làm một người trong suốt, trong lòng thật không lấy làm thoải mái. Vốn định nói cáo từ, nhưng nghe thấy những lời nó liền không nén nổi, nói: “Thái úy muốn nấu món ăn có phong cách của Trung Nguyên lại vừa có hương vị của thảo nguyên hay sao? Hay là… hay là ta có thể giới thiệu vài món”.
Dương Hạo ngẩn ngơ, ngạc nhiên nói: “Phu nhân biết làm những món ăn như vậy ư?”
Mặt Tiểu Chu hơi đỏ lên, hơi chút xấu hổ nói: “Ngày trước ở trong cung Đường, những khi buồn chán cũng thử nấu nướng chút đỉnh, chứ không hề tỉ mỉ nghiên cứu bao giờ. Ngoài những món ăn phục vụ tiệc rượu thì có bốn món đặc sản, món đặc chế, điểm tâm, món canh… tổng cộng chín mươi hai món, có lẽ… có lẽ hợp để thái úy sử dụng”.
Tiểu Chu không chỉ cầm kỳ thi họa, thơ từ ca phú đều giỏi, nàng còn tự mình làm ra những loại quần áo mới đủ mọi kiểu dáng và màu sắc, làm bánh, nghiên cứu các món ăn.. Nếu nói trong thời đại ngày nay, thì Tiểu Chu ắt hẳn vừa phải là nhà vũ đạo, nhà âm nhạc, nhà thơ, nhà thiết kế trang phục, chuyên gia thẩm mỹ với chuyên gia thông hiểu các món ăn… Một chuỗi những tài năng khiến nàng gần như trở thành một tài nữ nhất thế giới đầy tài năng.
Có điều vào thời đại đó, những thứ đó cũng chỉ dùng chơi mà thôi, nếu như một thiếu nữ tầm thường mà được như thế thì không nói làm gì, nhưng hoàng hậu một nước mà lại có thể nghiên cứu được hết những thứ đó thì đúng là điều bị chỉ trích. Tiểu Chu hoàng hậu không hỏi về chính trị, không nói về quốc sự, không bàn về quyền thuật, cũng không giống hoàng hậu Thiện Đức, cả ngày khuyên nhủ phu quân vẽ bản đồ, dốc toàn tâm lo việc quốc gia đại sự.
Còn nàng, nàng chỉ muốn toàn tâm toàn ý trở thành một người phụ nữ hạnh phúc, thích đem nghệ thuật của cuộc sống trở thành tiểu tư nữ thanh niên, nàng muốn là phu nhân của một vương hầu, làm thế là cực kỳ rồi, nói không chừng hoàng đế còn muốn phong chức cho nàng, khen thưởng nàng. Nếu như nàng là phu nhân của công khanh danh sĩ thì cũng đủ để người khác trông vào, nhưng nàng là hoàng hậu, vị trí không giống so với những người khác. Văn nhân Giang Nam đau đầu vì chuyện nước tan, đã có biết bao người truy căn nguyên nhân, không ít người đổ lỗi cho Tiểu Chu hoàng hậu, điều này cũng khiến nàng khó mà mở mồm nói được gì.
Dương Hạo không tỏ vẻ gì khinh miệt mà ngược lại còn vỗ tay cười lớn: “Đúng là ta thật bất lực. Đa tạ phu nhân, những món này được phu nhân tận tay chế biến, ắt hẳn mọi người sẽ đều phải nhớ, việc này xin mời đích thân phu nhân ra tay vậy?”
Oa Nhi nắm chặt nắm tay lại, nhẹ nhàng đấm vào vai hắn một cái, khẽ sẵng giọng: “Quan nhân dương dương tự đắc cái gì chứ? Thân phận là phu nhân, làm sao có thể xuất đầu lộ diện được? Những việc này sao lại có thể để phu nhân đích thân làm chứ? Mời phu nhân viết ra vài món, rồi để cho đầu bếp làm là được mà”.
Dương Hạo vỗ vỗ trán, cười nói: “Đúng đúng đúng, như vậy mới là thỏa đáng”.
Tiểu Chu cuối cùng cũng phát hiện ra chút tài của mình có chỗ dùng, trong lòng hết sức vui sướng, hơn nữa lúc này cũng đang nghĩ đến vị tiên cô kia nên nhân tiện đứng dậy nói: “Đã như vậy thì ta sẽ lập tức về phủ, viết ra một danh sách các món ăn”.
“Được, được, được. Việc này cũng có chút gấp gáp rồi, chẳng những cần phải đưa cho đầu bếp thử thực hành một lần, còn phải điều chỉnh lượng phụ gia, e rằng nhiều thứ còn khó mua, vậy phiền phu nhân rồi”.
Oa Oa thản nhiên cười nói: “Vậy để ta tiễn phu nhân”.
Tiểu Chu cười với Diễm Diễm và Oa Oa, chắp tay thi lễ rồi cùng với Oa Oa ra ngoài. Do trong lòng vui mừng nên bước đi của nàng có phần nhẹ nhàng hơn, khuôn mặt khôi phục lại được vài phần vui vẻ, dáng vẻ hết sức xinh đẹp. Đén Dương Hạo cũng không nén được đưa mắt trầm trồ, chỉ tiếc là ánh mắt ấy vụt đi chưa được xa thì tai đã bị Diễm Diễm kéo lại.
“Này, hai mắt chàng sắp rơi cả xuống đất rồi đấy”.
Dương Hạo cười ha hả nói: “Nha đầu này, học ở đâu kiểu ăn nói chua như dấm ấy. Quan nhân của nàng cũng chỉ là nhìn thôi mà. Đúng là háo sắc á, thì mới đầu ta đã ôm vào lòng, chủ động luôn rồi, như con hổ đói vồ con dê í, nàng nói có đúng không?”
Diễm Diễm vốn được coi là người phụ nữ mạnh mẽ, nhưng vẫn là phụ nữ, lại hay thẹn thùng, nghe hắn nói như vậy nàng không nhịn được bèn bật cười, dậm chân nói: “Được rồi, lại lôi chuyện đó ra để chọc cười thiếp”.
Dương Hạo lấy tay ôm lấy vòng eo nhỏ nhắn của Diễm Diễm, nàng ngồi yên trong lòng hắn, Dương Hạo nhẹ nhàng vuốt đôi bàn tay nàng, nhẹ nhàng nói:
“Nương tử, mấy ngày nay chỉ ở trong nhà chắc mệt lắm hả? Trước đây khi còn là một đại tiểu thư, nàng có thể vui chơi thoải mái mà không lo nghĩ gì”.
Diễm Diễm trừng mắt nói: “Hừ, bây giờ lại định dùng lời ngon tiếng ngọt đấy hả? Mệt thì không mệt, việc nhà còn đầy ra đấy, thiếp không giúp chàng chăm lo thì cũng không yên tâm. Chỉ có một chuyện thiếp không cam tâm”.
Dương Hạo ngạc nhiên nói: “Có chuyện gì?
Diễm Diễm nói: “Người ta được gả trước cho chàng.. những tháng ngày trước kia không tính nữa, nhưng Đông Nhi tỷ tỷ đã có em bé rồi, người ta đến bây giờ vẫn không có động tĩnh gì. Chàng nói xem có phải chàng thiên vị không?”
Dương Hạo tỏ vẻ oan khuất nói: “Chuyện này sao trách ta được, lão gia ta cung cúc tận tụy, cần cù chịu khó, bao nhiêu công phu đổ trên người nàng, tự nàng không sinh lại còn đi trách ai?”
Diễm Diễm giận dữ, cắn chặt môi, trừng mắt nhìn hắn: “Hứ, chàng là chồng, bản cô nương không sinh không phải do chàng thì tính với ai? Bản thân không có bản lĩnh còn trách người ta, chẳng ra dáng đại trượng phu gì cả”.
Dương Hạo nhấc bổng nàng lên, ôm chặt trong lòng rồi nói: “Dám nói ta không có bản lĩnh? Hừ, điều này phạm đến điều tối kỵ của đàn ông rồi đấy.
Tiểu nương tử, hôm nay ta sẽ cho nàng đại chiến ba hiệp, xem nàng không được, hay phu quân của nàng không được”.
“Này này này, trời vẫn còn sáng mà”.
“Trời sáng thì sao chứ, trời sáng thì càng đỡ phải thắp đèn, nàng không biết hiện giờ giá dầu rất đắt hay sao?”
*******************
Lúc Tiêu Nghiễm đi vào đại đường, Từ Huyễn đang ôm trong lòng một đống văn bản, hắn sau khi quay về phủ giải quyết hết đống văn bản quan trọng liền bày ra trước mặt, tỉ mỉ cân nhắc đắn đo.
Tiêu Nghiễm thấy hắn đang chăm chú, liền tự mình rót một tách trà, ngồi trên ghế nhìn hắn, mãi lúc lâu sau, khi thấy hắn vẫn chưa phát hiện mình đang ở đó, Tiêu Nghiễm mới ho một tiếng, Từ Huyễn ngẩng đầu lên, không nén được cười nói: “Lão Tiêu, đến bao giờ thế?”
Tiêu Nghiễm cười nói: “Đến một lúc rồi, thấy ông đang chuyên tâm quá nên mới phải đánh tiếng”.
Từ Huyễn cười cười, rời khỏi bàn, ngồi xuống bên cạnh Tiêu Nghiễm nói: “Mọi sự bên chỗ ông ổn thỏa rồi chứ?”
Tiêu Nghiễm nói: “Trước mắt thì cũng chỉ nhiều thế thôi, nguyên chỗ sách trong kho của phủ cũng đều là sách các hộ lớn quyên tặng, còn có những bộ đơn, trân bản, cùng với sách của các văn nhân nổi tiếng, toàn bộ đều đưa tặng cho Lô Châu rồi”.
Từ Huyễn cảm khái nói: “Ta vốn cho rằng Dương thái úy chỉ biết đến võ lực, chỉ biết đi tranh chấp đất đai, nhân khẩu, xây dựng quân đội, không ngờ những việc này thái úy cũng hết sức coi trọng. Các thông dịch quán, bảo tàng, ấn thư xã cũng nhanh chóng mọc lên khắp nơi, thái úy còn phát minh ra cách in ấn, thật là đáng khâm phục, thực là tài giỏi. Cũng có lúc ta nghĩ không ra là thái úy có thể suy nghĩ được nhiều chuyện như vậy.
Tiêu Nghiễm gật gật đầu, nói: “Đúng vậy, hưng công thương, lập nông mục, mở mạnh kinh tế. Lấy lợi chung đặt lên trên, lấy văn và dung hòa vạn năng để trị dân an. Thiên văn lịch tính, địa lý ghi chép, thơ văn ca phú, binh thư chiến sách, vẫn cứ cần dịch điển tích của bách gia, đây là điều không thể thiếu của một quốc gia, lại không phải là việc cần của các chư hầu. Thái úy có mộng lớn như v ậy, tầm nhìn cũng thật là xa”.
Dương Hạo có ý định đưa Lô Châu trở thành trung tâm văn hóa, tôn giáo, xây Ngân Châu thành trung tâm chính trị, kinh tế. Đồng thời thu nạp nền văn hóa và học thuyết của những nơi khác, còn mở rộng học phủ. Những kiến thức thu thập được cần phải được phát huy tác dụng thực t ế, cần rất nhiều người học tập. Mà Dương Hạo nay đã bắt đầu bắt tay vào làm những chuyện thế này, tự nhiên đến những người như Từ Huyễn và Tiêu Nghiễm cũng phải
khen ngợi hắn: “ Ý chí thiên hạ, chí hướng xa xăm”.
Tiêu Nghiễm nói đến đây đột nhiên nghĩ tới một chuyện, nói: “ Đúng rồi, khi quay về đây có gặp phu nhân, phu nhân vừa mới từ chỗ Dương thái úy về, dường như đang đến chỗ Tê Vân Quan thắp hương. Đúng là kỳ quái, hai nhà Phật đạo, phu nhân trước nay vẫn sùng Phật, sao giờ lại chuyển sang tín Đạo giáo?”
Từ khi nước Đường tiêu vong, hắn đã chuyển sang gọi Tiểu Chu là phu nhân. Hắn nói đến phu nhân, Từ Huyễn tự nhiên cũng biết rằng hắn đang nói đến ai. Nghe nói đến Tiểu Chu, sắc mặt của Từ Huyễn bỗng có chút do dự, hắn trầm mặc một hồi lâu, rồi mới trầm giọng nói: “Lão Tiêu, phu nhân… những ngày này thường xuyên qua lại phủ của Dương thái úy”.
Tiêu Nghiễm à ừm một tiếng, chẳng nói gì.
Từ Huyễn kinh ngạc nhìn hắn, rồi lại nói: “Dân gian tuy không biết thân phận của phu nhân, nhưng có rất nhiều lời ong tiếng ve, rất khó nghe. Cái này… ông đã từng nghe thấy chưa?”
Tiêu Nghiễm nhướn mày lên, hỏi: “Đỉnh thần tưởng rằng thái úy là người để ý đến những điều trên thế gian hay sao?”
Từ Huyễn thốt lên nói: “Đương nhiên, Mậu Huy huynh hà tất nói những lời đó?”
Tiêu Nghiễm không nói gì, chỉ đáp: “ Đỉnh thần cho rằng Huyền Linh, Đỗ Như Hối, Ngụy Chinh cao thượng một đời có thể sao?”
Từ Huyễn hiểu ý hắn, trầm mặc không nói gì rồi đứng lên.
Tiêu Nghiễm nói: “ Tùy Dương Đế là biểu thúc của Lý Thế Dân, lại là cha dượng của Lý Thế Dân, Lý Thế Dân lại cưới Tiêu Hậu của Tùy Dương Đế làm phi. Từ Vũ thay đổi lại nạp thêm phi, sự trong sạch của cung đình so với Dương Hạo thế nào? Làm sao có thể để những chuyện thế này trong lòng? Chuyện gì không che đậy, tự cổ chí kim, có anh hùng nào là không phong lưu? Ngươi muốn để cho Dương Hạo trở thành thánh nhân hay sao? Thánh nhân có thể trở thành hoàng đế tốt không?”
Tiêu Nghiễm còn nhỏ hơn Từ Huyễn chín tuổi, làm quan, đạo đức, học vấn đều không có gì nói. Trong triều các thần đều khen ngợi không ngớt, lúc ấy Tiêu Nghiễm chỉ nói: “Đáng tiếc dưới lầu còn thiếu một cái giếng”.
Hoàng đế hỏi thế là có ý gì, hắn nói: “Do đó không thể so với cảnh Dương Lâu”.
Thời Nam Bắc triều, hậu chủ Trần Thục Bảo không để ý đến chuyện chính sư, sa vào dâm lạc, sủng ái mỹ nhân, xây cảnh Dương Lâu, dưới lầu có giếng. Trinh Minh ba năm, Tùy tướng, Hàn Du Hổ đánh vào nước, giếng trong cảnh “ngọc thụ hậu đình hoa” cạn kiệt, Trần Hậu bó tay đứng nhìn, từ đó mọi người gọi cái giếng đó là ‘giếng nhục’, do câu nói này có ý phẫn nộ, trong tiếng địa phương nó còn mang hàm ý chỉ trích.
Đợi đến sau khi Lý Dục lên kế vị, hắn lại quay về triều làm tự khanh ở Đại Lý, Dương Hạo và Gia Luật Văn ở nước Đường mâu thuẫn, lần đầu tiên xung đột cũng chính hắn là người vào cung bẩm báo, do thấy Lý Dục mê đắm chơi cờ, không chú ý gì mà phẫn nộ hất phăng bàn cờ của Lý Dục. Đại thần nước Đường, Tiêu Nghiễm vẫn là đệ nhất thần, Từ Huyễn vốn vẫn được coi trọng, nghe những lời này của Tiêu Nghiễm, Từ Huyễn mặt cũng không biến sắc, nhưng vẫn còn đôi chút do dự: “Nhưng… nhưng phu nhân vẫn cứ là phi của vua trước đây, cũng cần phải giữ thể diện…”
Tiêu Nghiễm than thở nói: “Phu nhân là người có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, nhất định sẽ trở thành mục tiêu theo đuổi của bao người đàn ông. Bất kể là ai, nếu như có thể nắm giữ vận mệnh của phu nhân thì cũng có thể coi đó là một chiến lợi phẩm. Người chết thì đã chết rồi, sao không để cho người còn sống một lối thoát? Mẫu nghi thiên hạ, mệnh mang đào hoa, điều này… có lẽ cũng đã là số mệnh rồi…
Nghĩ đến đây, Tiểu Chu không ngại ngần mà mạo nhận mình là Ngô Oa Nhi, nói: “Ta là Ngô Oa Nhi, không biết tiên cô là ai?”
Vị tiên cô đó nghe thấy vậy liền cười, ánh mắt lộ ra vẻ nồng nhiệt: “Haha, Ngô Oa Nhi, thanh ngâm Tiểu Trúc chủ nhân, dùng sắc nghệ để lấy lòng đệ nhất Đại Lương hay sao? Dương Hạo trong thư đã nói về lai lịch của cô, nay được nhìn, quả nhiên danh bất hư truyền. Nhan sắc này so với ta khi đó ở Lạc Dương… hừm, không sai, không sai, đúng là mẫu người con gái khiến người ta thích thú.”
Tiểu Chu tự nghĩ: “Đại Lương? Từ khi Chu Ôn diệt nước Đường xưng vương đổi tên thành Đông Bộ Đại Lương, thành Biện Lương không còn được gọi với cái tên Đại Lương nữa. Làm sao lại gọi cái tên cổ như vậy? Con? Xem ra cô gái này chỉ lớn hơn ta khoảng hai, ba tuổi, làm sao nói chuyện lại già như thế chứ?”
Trong lòng nghĩ như vậy, nhưng trong lòng Tiểu Chu lại không hề biểu lộ cảm xúc gì. Nói ra thì Tiểu Chu cũng là một người phụ nữ thông minh, cầm kỳ thi họa thi từ ca phú, nên cũng nhanh chóng ứng biến không để lộ chút sơ hở:
“Không sai, ta chính là Ngô Oa Nhi, tiên cô còn chưa cho biết pháp danh, không biết hôm nay tiên cô giá đáo đến đây có ý gì?”
Vị tiên cô đó khẽ cười, khuôn mặt lộ ra hai lúm đồng tiền đẹp mê người: “Pháp hiệu của bản cô nương ư? Haha, ngươi gọi ta một tiếng là Tịnh Âm Sư Phụ là được. Lần này ta đến đây là nhờ ủy thác của Dương Hạo, muốn nhờ ta truyền thụ cho các ngươi, ta vốn ở trên núi Tử Vi, nhận được thư Dương Hạo, biết được các ngươi muốn đến Thiếu Hoa Sơn để cư ngụ, ta muốn trực tiếp đén, may sao giữa đường hỏi một vài câu mới biết được các ngươi đã đến Ngân Châu…”
Tiểu Chu nghe thấy cô ta không có ác ý gì bèn không muốn mạo nhận là Ngô Oa Nhi nữa, đang định nói rõ thân phận với người đó thì bỗng nghe thấy tin Dương Hạo đang muốn truyền thụ võ công cho các cô gái thấy trong lòng không khỏi tim đập. Nàng thường hay nói chuyện với Diễm Diễm, Dương Hạo đã từng nói đến chuyện có tiên nhân truyền thuyết ở trong Lư Động Binh, cô gái trước mặt có đích thực là truyền nhân của Lư Tổ không?
Nghĩ tới đây, những lời định nói lại chợt im bặt, nàng tò mò hỏi: “Tiên cô… tiên cô có phải là muốn truyền thụ võ công cho chúng tôi hay không?”
Tịnh Âm khẽ nhếch mép cười, trong nụ cười có chút tà ý, không hiểu nụ cười
đó có ý gì: “Thôi, cũng tương đối rồi, hihi, dẫu sao… bản lĩnh của bản cô nương đây đều là muốn truyền cho các ngươi. Dù cho tuổi của cô hơi lớn nhưng so với ta năm đó… năm đó khi mới bắt đầu luyện tập cũng đã hơi lớn tuổi, gân cốt vẫn còn biết nghe lời, chỉ cần không quá ngu dốt thì cũng có thể học được”.
Vừa nói đến đây, tai của Tịnh Âm đã khẽ động, cười nói: “Có người đến rồi, bản cô nương đến đây không muốn Dương Hạo biết, ta ở Tê Vân Quan, trong thành Ngân Châu, rất dễ tìm, người và Đường Diễm Diễm cứ đến tìm ta. Còn với bọn quan gia, ngươi muốn nói tung tích của ta cho bọn chúng cũng không vấn đề, có điều… không được gọi bọn chúng đến gặp ta, hắn là tông đồ của quỷ, gặp hắn ắt thấy xấu hổ”.
Tịnh Âm nói rồi thoáng một cái, cả thân thể đứng thẳng trong không trung rồi đứng thản nhiên tại một điểm trên ngọn núi giả sơn, thoát cái không thấy đâu nữa.
“Theo cô ta học võ nghệ?”
Tiểu Chu đầu nóng ran lên, một ý nghĩ chợt thoáng qua làm cho đầu óc nàng run lên.
Đã trải qua cảnh nước mất nhà tan, cuộc sống lưu vong, Tiểu Chu phát hiện rằng bản thân không biết tí võ công nào thật là ấu trĩ, ngày trước thì tưởng là nho nhã, trong thời chiến này mới nhận ra hóa ra phải có chút tài mọn mới đủ phòng thân.
Một người phụ nữ, đặc biệt là có sắc đẹp mà lại không có một thế lực nào bảo vệ thì sắc đẹp đó có thể đem đến cho cô ta biết bo nguy hiểm và bi kịch. Nếu như bản thân có thể giống như Tịnh Âm, có bản lĩnh đầy người như vậy thì tuy rằng không thể đủ sức cứu cả nước, nhưng khi đối diện với những dạng người tâm địa xấu xa như Triệu Quang Nghĩa thì ít nhất cũng có thể phòng thân.
Từ khi sinh ra, đây là lần đầu ý nghĩ này xuất hiện trong đầu, khiến tim nàng không khỏi đập loạn nhịp. Khi còn ở cung Đường nàng đã giao du với không ít cao tăng, cũng biết những vị cao tăng đó coi trọng y bát, không phải là với ai họ cũng đồng ý truyền thụ võ nghệ, để học được bản lĩnh đó thì cần phải mạo nhận.
“Vị tiên cô đó nhận lầm ta thành Oa Oa, không biết thì ta cứ mạo nhận đi, cô ta vốn muốn truyền võ công cho Oa Oa và Diễm Diễm, đợi ta… đợi ta học xong võ công sẽ dạy lại cho họ, còn nếu như không thành…”
Nghĩ đến đây, đột nhiên nghe thấy có tiếng bước chân vọng đến, Tiểu Chu vội vàng đưa tiêu lên môi, giả bộ như đang thổi một vài âm tiết, nhưng do đang suy nghĩ linh tinh nên khó thành ca khúc. Lúc này là Dương Hạo, hắn cười nói: “Nương tử biết được ta đến hay sao mà đột nhiên thổi không thành điệu thế?”
Tiểu Chu vội vàng quay người lại, thẹn thùng nói: “A, hóa ra là thái úy”.
Tiểu Chu là mẫu mỹ nữ điển hình của Giang Nam, mềm mại lả lướt, vóc dáng tinh tế, mặc bộ đồ da cừu, Dương Hạo nhận ra đây là sân của Oa Oa, ngoài Oa Oa ra thì không có người ngoài, không ngờ lại nhận nhầm người, hắn đang mặt mày hớn hở muốn nhảy ra ôm, chợt thấy người đó là Tiểu Chu nên không khỏi xấu hổ, thu hai tay lại: “Phu nhân xá tội, tại hạ.. nhất thời nhận nhầm người, thực là đã mạo phạm…”
Tiểu Chu sau khi có suy nghĩ mạo nhận trong lòng đang bối rối, tim cũng đang nhảy loạn lên, cố ý giả bộ từ tốn, cười nói: “Thái úy khách sáo rồi, còn nói chi đến mạo phạm…”
Lúc này cửa thư phòng đột nhiên mở ra, Đường Diễm Diễm và Ngô Oa Nhi cùng thướt tha đi ra đình, bốn mắt đều cùng liếc đến, khiến Dương Hạo chợt giật mình, nghiêm trang nói: “Phu nhân, mời!”
Bốn người cùng vào ngồi trong hoa đình, Đường Diễm Diễm nhân tiện hỏi: “Hạo ca ca, thiếp và Oa Nhi vừa mới đọc một hồi trướng nhật, tiền chàng muốn mua sắm lương khô, nông cụ… đều miễn cưỡng góp lại, có điều cũng phải khẩn trương, nếu không phải mượn thương gia dùng một ít?”
Dương Hạo lắc đầu nói: “Đã gom lại được thì không cần phải mượn đâu.
Không chỉ là vấn đề lãi, chúng ta nhất định phải thử gánh vác áp lực, bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề, nếu như từ đầu chí cuối đều là người khác làm vậy thì làm sao các nàng đứng vững được?”
Đường Diễm Diễm trừng mắt nhìn hắn, sẵng giọng: “Được rồi, chàng nói một câu thì cái gì không thể cũng thành có thể, cứ lôi cả một mớ đạo lý như bòng bong ra nói, ai mà nhẫn nại nghe cho được”.
Dương Hạo cười nói: “Thói quen rồi, quen rồi, thường ngày có chuyện gì cũng đều dặn dò như vậy, để cho người nghe được rõ, khiến cho họ hiểu được tường tận ý đồ và cách nghĩ của ta. Haha, đợi chúng ta dùng quen người rồi thì không cần việc gì cũng làm minh bạch nữa, các nàng muốn ta nói nhiều ta cũng lười không nói đâu”.
Đường Diễm Diễm bĩu môi nói: “Chờ đó”.
Oa Oa đi tới đằng sau Dương Hạo, nhẹ nhàng mát xa vai cho hắn, cười nói: “Tỷ tỷ chẳng qua là làm nũng với chàng thôi, quan nhân hà cớ mà không hiểu sự tình như vậy? Đúng rồi, tiệc rượu mời thủ lĩnh các bộ tộc chuẩn bị thế nào rồi?”
Dương Hạo nói: “Cụ thể thế nào ta đều giao cho hội Từ đại nhân lo liệu rồi. Nàng biết đấy, những việc như thế này là việc nhỏ nhặt. Có điều rất nhiều thứ Từ đại nhân ra tay còn khéo hơn phụ nữ gấp bội. Ví dụ như thành Ngân Châu của chúng ta, sau vài trận chiến, đầu bếp tài giỏi đều thưa thớt ít ỏi, đã là yến tiệc thì lại phải làm cho thịnh soạn, nhưng ta nghĩ bọn họ không quen ăn những món sơn hào hải vị, không thích hợp để ăn. Oa Oa, nàng nấu ăn thì không chê vào đâu được, nhưng những món nàng làm đều có nhiều chất quá, không thích hợp với vùng Tây Bắc. Nàng có biết nấu theo kiểu Trung Nguyên sao cho vẫn mang theo phong vị của thảo nguyên không?”
Oa Oa chần chừ một chút rồi làm khó nói: “Quan nhân cũng biết Biện Lương có bao nhiêu thực khách, đều là những người ăn được, chỉ cần hai ba gắp là hết đĩa, đích thực là không thích hợp với bọn họ. Có điều…”
Tiểu Chu thấy vợ cồng nhà họ ngồi trước mặt mình liếc mắt đưa tình nhưng cũng không hề đố kị, nàng vẫn cứ làm một người trong suốt, trong lòng thật không lấy làm thoải mái. Vốn định nói cáo từ, nhưng nghe thấy những lời nó liền không nén nổi, nói: “Thái úy muốn nấu món ăn có phong cách của Trung Nguyên lại vừa có hương vị của thảo nguyên hay sao? Hay là… hay là ta có thể giới thiệu vài món”.
Dương Hạo ngẩn ngơ, ngạc nhiên nói: “Phu nhân biết làm những món ăn như vậy ư?”
Mặt Tiểu Chu hơi đỏ lên, hơi chút xấu hổ nói: “Ngày trước ở trong cung Đường, những khi buồn chán cũng thử nấu nướng chút đỉnh, chứ không hề tỉ mỉ nghiên cứu bao giờ. Ngoài những món ăn phục vụ tiệc rượu thì có bốn món đặc sản, món đặc chế, điểm tâm, món canh… tổng cộng chín mươi hai món, có lẽ… có lẽ hợp để thái úy sử dụng”.
Tiểu Chu không chỉ cầm kỳ thi họa, thơ từ ca phú đều giỏi, nàng còn tự mình làm ra những loại quần áo mới đủ mọi kiểu dáng và màu sắc, làm bánh, nghiên cứu các món ăn.. Nếu nói trong thời đại ngày nay, thì Tiểu Chu ắt hẳn vừa phải là nhà vũ đạo, nhà âm nhạc, nhà thơ, nhà thiết kế trang phục, chuyên gia thẩm mỹ với chuyên gia thông hiểu các món ăn… Một chuỗi những tài năng khiến nàng gần như trở thành một tài nữ nhất thế giới đầy tài năng.
Có điều vào thời đại đó, những thứ đó cũng chỉ dùng chơi mà thôi, nếu như một thiếu nữ tầm thường mà được như thế thì không nói làm gì, nhưng hoàng hậu một nước mà lại có thể nghiên cứu được hết những thứ đó thì đúng là điều bị chỉ trích. Tiểu Chu hoàng hậu không hỏi về chính trị, không nói về quốc sự, không bàn về quyền thuật, cũng không giống hoàng hậu Thiện Đức, cả ngày khuyên nhủ phu quân vẽ bản đồ, dốc toàn tâm lo việc quốc gia đại sự.
Còn nàng, nàng chỉ muốn toàn tâm toàn ý trở thành một người phụ nữ hạnh phúc, thích đem nghệ thuật của cuộc sống trở thành tiểu tư nữ thanh niên, nàng muốn là phu nhân của một vương hầu, làm thế là cực kỳ rồi, nói không chừng hoàng đế còn muốn phong chức cho nàng, khen thưởng nàng. Nếu như nàng là phu nhân của công khanh danh sĩ thì cũng đủ để người khác trông vào, nhưng nàng là hoàng hậu, vị trí không giống so với những người khác. Văn nhân Giang Nam đau đầu vì chuyện nước tan, đã có biết bao người truy căn nguyên nhân, không ít người đổ lỗi cho Tiểu Chu hoàng hậu, điều này cũng khiến nàng khó mà mở mồm nói được gì.
Dương Hạo không tỏ vẻ gì khinh miệt mà ngược lại còn vỗ tay cười lớn: “Đúng là ta thật bất lực. Đa tạ phu nhân, những món này được phu nhân tận tay chế biến, ắt hẳn mọi người sẽ đều phải nhớ, việc này xin mời đích thân phu nhân ra tay vậy?”
Oa Nhi nắm chặt nắm tay lại, nhẹ nhàng đấm vào vai hắn một cái, khẽ sẵng giọng: “Quan nhân dương dương tự đắc cái gì chứ? Thân phận là phu nhân, làm sao có thể xuất đầu lộ diện được? Những việc này sao lại có thể để phu nhân đích thân làm chứ? Mời phu nhân viết ra vài món, rồi để cho đầu bếp làm là được mà”.
Dương Hạo vỗ vỗ trán, cười nói: “Đúng đúng đúng, như vậy mới là thỏa đáng”.
Tiểu Chu cuối cùng cũng phát hiện ra chút tài của mình có chỗ dùng, trong lòng hết sức vui sướng, hơn nữa lúc này cũng đang nghĩ đến vị tiên cô kia nên nhân tiện đứng dậy nói: “Đã như vậy thì ta sẽ lập tức về phủ, viết ra một danh sách các món ăn”.
“Được, được, được. Việc này cũng có chút gấp gáp rồi, chẳng những cần phải đưa cho đầu bếp thử thực hành một lần, còn phải điều chỉnh lượng phụ gia, e rằng nhiều thứ còn khó mua, vậy phiền phu nhân rồi”.
Oa Oa thản nhiên cười nói: “Vậy để ta tiễn phu nhân”.
Tiểu Chu cười với Diễm Diễm và Oa Oa, chắp tay thi lễ rồi cùng với Oa Oa ra ngoài. Do trong lòng vui mừng nên bước đi của nàng có phần nhẹ nhàng hơn, khuôn mặt khôi phục lại được vài phần vui vẻ, dáng vẻ hết sức xinh đẹp. Đén Dương Hạo cũng không nén được đưa mắt trầm trồ, chỉ tiếc là ánh mắt ấy vụt đi chưa được xa thì tai đã bị Diễm Diễm kéo lại.
“Này, hai mắt chàng sắp rơi cả xuống đất rồi đấy”.
Dương Hạo cười ha hả nói: “Nha đầu này, học ở đâu kiểu ăn nói chua như dấm ấy. Quan nhân của nàng cũng chỉ là nhìn thôi mà. Đúng là háo sắc á, thì mới đầu ta đã ôm vào lòng, chủ động luôn rồi, như con hổ đói vồ con dê í, nàng nói có đúng không?”
Diễm Diễm vốn được coi là người phụ nữ mạnh mẽ, nhưng vẫn là phụ nữ, lại hay thẹn thùng, nghe hắn nói như vậy nàng không nhịn được bèn bật cười, dậm chân nói: “Được rồi, lại lôi chuyện đó ra để chọc cười thiếp”.
Dương Hạo lấy tay ôm lấy vòng eo nhỏ nhắn của Diễm Diễm, nàng ngồi yên trong lòng hắn, Dương Hạo nhẹ nhàng vuốt đôi bàn tay nàng, nhẹ nhàng nói:
“Nương tử, mấy ngày nay chỉ ở trong nhà chắc mệt lắm hả? Trước đây khi còn là một đại tiểu thư, nàng có thể vui chơi thoải mái mà không lo nghĩ gì”.
Diễm Diễm trừng mắt nói: “Hừ, bây giờ lại định dùng lời ngon tiếng ngọt đấy hả? Mệt thì không mệt, việc nhà còn đầy ra đấy, thiếp không giúp chàng chăm lo thì cũng không yên tâm. Chỉ có một chuyện thiếp không cam tâm”.
Dương Hạo ngạc nhiên nói: “Có chuyện gì?
Diễm Diễm nói: “Người ta được gả trước cho chàng.. những tháng ngày trước kia không tính nữa, nhưng Đông Nhi tỷ tỷ đã có em bé rồi, người ta đến bây giờ vẫn không có động tĩnh gì. Chàng nói xem có phải chàng thiên vị không?”
Dương Hạo tỏ vẻ oan khuất nói: “Chuyện này sao trách ta được, lão gia ta cung cúc tận tụy, cần cù chịu khó, bao nhiêu công phu đổ trên người nàng, tự nàng không sinh lại còn đi trách ai?”
Diễm Diễm giận dữ, cắn chặt môi, trừng mắt nhìn hắn: “Hứ, chàng là chồng, bản cô nương không sinh không phải do chàng thì tính với ai? Bản thân không có bản lĩnh còn trách người ta, chẳng ra dáng đại trượng phu gì cả”.
Dương Hạo nhấc bổng nàng lên, ôm chặt trong lòng rồi nói: “Dám nói ta không có bản lĩnh? Hừ, điều này phạm đến điều tối kỵ của đàn ông rồi đấy.
Tiểu nương tử, hôm nay ta sẽ cho nàng đại chiến ba hiệp, xem nàng không được, hay phu quân của nàng không được”.
“Này này này, trời vẫn còn sáng mà”.
“Trời sáng thì sao chứ, trời sáng thì càng đỡ phải thắp đèn, nàng không biết hiện giờ giá dầu rất đắt hay sao?”
*******************
Lúc Tiêu Nghiễm đi vào đại đường, Từ Huyễn đang ôm trong lòng một đống văn bản, hắn sau khi quay về phủ giải quyết hết đống văn bản quan trọng liền bày ra trước mặt, tỉ mỉ cân nhắc đắn đo.
Tiêu Nghiễm thấy hắn đang chăm chú, liền tự mình rót một tách trà, ngồi trên ghế nhìn hắn, mãi lúc lâu sau, khi thấy hắn vẫn chưa phát hiện mình đang ở đó, Tiêu Nghiễm mới ho một tiếng, Từ Huyễn ngẩng đầu lên, không nén được cười nói: “Lão Tiêu, đến bao giờ thế?”
Tiêu Nghiễm cười nói: “Đến một lúc rồi, thấy ông đang chuyên tâm quá nên mới phải đánh tiếng”.
Từ Huyễn cười cười, rời khỏi bàn, ngồi xuống bên cạnh Tiêu Nghiễm nói: “Mọi sự bên chỗ ông ổn thỏa rồi chứ?”
Tiêu Nghiễm nói: “Trước mắt thì cũng chỉ nhiều thế thôi, nguyên chỗ sách trong kho của phủ cũng đều là sách các hộ lớn quyên tặng, còn có những bộ đơn, trân bản, cùng với sách của các văn nhân nổi tiếng, toàn bộ đều đưa tặng cho Lô Châu rồi”.
Từ Huyễn cảm khái nói: “Ta vốn cho rằng Dương thái úy chỉ biết đến võ lực, chỉ biết đi tranh chấp đất đai, nhân khẩu, xây dựng quân đội, không ngờ những việc này thái úy cũng hết sức coi trọng. Các thông dịch quán, bảo tàng, ấn thư xã cũng nhanh chóng mọc lên khắp nơi, thái úy còn phát minh ra cách in ấn, thật là đáng khâm phục, thực là tài giỏi. Cũng có lúc ta nghĩ không ra là thái úy có thể suy nghĩ được nhiều chuyện như vậy.
Tiêu Nghiễm gật gật đầu, nói: “Đúng vậy, hưng công thương, lập nông mục, mở mạnh kinh tế. Lấy lợi chung đặt lên trên, lấy văn và dung hòa vạn năng để trị dân an. Thiên văn lịch tính, địa lý ghi chép, thơ văn ca phú, binh thư chiến sách, vẫn cứ cần dịch điển tích của bách gia, đây là điều không thể thiếu của một quốc gia, lại không phải là việc cần của các chư hầu. Thái úy có mộng lớn như v ậy, tầm nhìn cũng thật là xa”.
Dương Hạo có ý định đưa Lô Châu trở thành trung tâm văn hóa, tôn giáo, xây Ngân Châu thành trung tâm chính trị, kinh tế. Đồng thời thu nạp nền văn hóa và học thuyết của những nơi khác, còn mở rộng học phủ. Những kiến thức thu thập được cần phải được phát huy tác dụng thực t ế, cần rất nhiều người học tập. Mà Dương Hạo nay đã bắt đầu bắt tay vào làm những chuyện thế này, tự nhiên đến những người như Từ Huyễn và Tiêu Nghiễm cũng phải
khen ngợi hắn: “ Ý chí thiên hạ, chí hướng xa xăm”.
Tiêu Nghiễm nói đến đây đột nhiên nghĩ tới một chuyện, nói: “ Đúng rồi, khi quay về đây có gặp phu nhân, phu nhân vừa mới từ chỗ Dương thái úy về, dường như đang đến chỗ Tê Vân Quan thắp hương. Đúng là kỳ quái, hai nhà Phật đạo, phu nhân trước nay vẫn sùng Phật, sao giờ lại chuyển sang tín Đạo giáo?”
Từ khi nước Đường tiêu vong, hắn đã chuyển sang gọi Tiểu Chu là phu nhân. Hắn nói đến phu nhân, Từ Huyễn tự nhiên cũng biết rằng hắn đang nói đến ai. Nghe nói đến Tiểu Chu, sắc mặt của Từ Huyễn bỗng có chút do dự, hắn trầm mặc một hồi lâu, rồi mới trầm giọng nói: “Lão Tiêu, phu nhân… những ngày này thường xuyên qua lại phủ của Dương thái úy”.
Tiêu Nghiễm à ừm một tiếng, chẳng nói gì.
Từ Huyễn kinh ngạc nhìn hắn, rồi lại nói: “Dân gian tuy không biết thân phận của phu nhân, nhưng có rất nhiều lời ong tiếng ve, rất khó nghe. Cái này… ông đã từng nghe thấy chưa?”
Tiêu Nghiễm nhướn mày lên, hỏi: “Đỉnh thần tưởng rằng thái úy là người để ý đến những điều trên thế gian hay sao?”
Từ Huyễn thốt lên nói: “Đương nhiên, Mậu Huy huynh hà tất nói những lời đó?”
Tiêu Nghiễm không nói gì, chỉ đáp: “ Đỉnh thần cho rằng Huyền Linh, Đỗ Như Hối, Ngụy Chinh cao thượng một đời có thể sao?”
Từ Huyễn hiểu ý hắn, trầm mặc không nói gì rồi đứng lên.
Tiêu Nghiễm nói: “ Tùy Dương Đế là biểu thúc của Lý Thế Dân, lại là cha dượng của Lý Thế Dân, Lý Thế Dân lại cưới Tiêu Hậu của Tùy Dương Đế làm phi. Từ Vũ thay đổi lại nạp thêm phi, sự trong sạch của cung đình so với Dương Hạo thế nào? Làm sao có thể để những chuyện thế này trong lòng? Chuyện gì không che đậy, tự cổ chí kim, có anh hùng nào là không phong lưu? Ngươi muốn để cho Dương Hạo trở thành thánh nhân hay sao? Thánh nhân có thể trở thành hoàng đế tốt không?”
Tiêu Nghiễm còn nhỏ hơn Từ Huyễn chín tuổi, làm quan, đạo đức, học vấn đều không có gì nói. Trong triều các thần đều khen ngợi không ngớt, lúc ấy Tiêu Nghiễm chỉ nói: “Đáng tiếc dưới lầu còn thiếu một cái giếng”.
Hoàng đế hỏi thế là có ý gì, hắn nói: “Do đó không thể so với cảnh Dương Lâu”.
Thời Nam Bắc triều, hậu chủ Trần Thục Bảo không để ý đến chuyện chính sư, sa vào dâm lạc, sủng ái mỹ nhân, xây cảnh Dương Lâu, dưới lầu có giếng. Trinh Minh ba năm, Tùy tướng, Hàn Du Hổ đánh vào nước, giếng trong cảnh “ngọc thụ hậu đình hoa” cạn kiệt, Trần Hậu bó tay đứng nhìn, từ đó mọi người gọi cái giếng đó là ‘giếng nhục’, do câu nói này có ý phẫn nộ, trong tiếng địa phương nó còn mang hàm ý chỉ trích.
Đợi đến sau khi Lý Dục lên kế vị, hắn lại quay về triều làm tự khanh ở Đại Lý, Dương Hạo và Gia Luật Văn ở nước Đường mâu thuẫn, lần đầu tiên xung đột cũng chính hắn là người vào cung bẩm báo, do thấy Lý Dục mê đắm chơi cờ, không chú ý gì mà phẫn nộ hất phăng bàn cờ của Lý Dục. Đại thần nước Đường, Tiêu Nghiễm vẫn là đệ nhất thần, Từ Huyễn vốn vẫn được coi trọng, nghe những lời này của Tiêu Nghiễm, Từ Huyễn mặt cũng không biến sắc, nhưng vẫn còn đôi chút do dự: “Nhưng… nhưng phu nhân vẫn cứ là phi của vua trước đây, cũng cần phải giữ thể diện…”
Tiêu Nghiễm than thở nói: “Phu nhân là người có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, nhất định sẽ trở thành mục tiêu theo đuổi của bao người đàn ông. Bất kể là ai, nếu như có thể nắm giữ vận mệnh của phu nhân thì cũng có thể coi đó là một chiến lợi phẩm. Người chết thì đã chết rồi, sao không để cho người còn sống một lối thoát? Mẫu nghi thiên hạ, mệnh mang đào hoa, điều này… có lẽ cũng đã là số mệnh rồi…
Chùa Thê Vân được xây ở thành tây Ngân Châu, Phật giáo khu tây vực vô cùng hưng thịnh, còn Đạo giáo thì chẳng có mấy người biết đến, cho nên quy mô của Thê vân quan rất nhỏ, chiếm diện tích không lớn, trước sau có ba lạc viện, rách nát, bình thường thì cũng chẳng có mấy ai thắp hương. Trong chùa chỉ có đạo nhân ăn mặc lôi thôi lo chuyện hương khói, và có một đồ đệ nhỏ tuổi sống qua ngày. Song thành Ngân Châu nhiều lần chiến loạn, rất nhiều Phật tự đều bị phá bỏ trong lúc chiến loạn, Thê vân đạo quan chẳng có mấy tín đồ hương khói vì quá nghèo, cho nên không bị tổn hại gì cả, đó cũng được coi là một sự may mắn.
Tiểu Chu Hậu đi cùng đám tùy tùng, nghiêm trang tiến vào đạo quan, chỉ thấy trong đạo quan lạnh lẽo, hoang vu, tuyết đọng trong lạc viện cũng chẳng có ai dọn dẹp, mấy cây cỏ dại đâm lên qua lớp tuyết đọng, trơ trọi đứng đó. Vào đại điện bị phá bỏ thì chẳng có một cái gì, những tượng thần bị phá bỏ đều bị mạng nhện chăng, hoang tàn như vậy có tín đồ thắp nhang mới là lạ.
Tiểu Chu Hậu nhìn quanh, không thấy một bóng người, nàng khẽ nhíu mày, bước ra khỏi chính điện thì thấy căn phòng bên trái khép hờ, rèm cửa thò ra một cái đầu, có người sống ở đó, cách ăn mặc không giống đạo nhân chút nào.
Hắn vén tấm rèm, liếc mắt nhìn cô nương mắt ngọc mày ngài, cách ăn mặc trông sang trọng vô cùng, mắt hắn phát sáng lên, mau chóng chạy ra, chắp tay thi lễ, ra vẻ đạo mạo nói: “Vô lượng thiên tôn, bần đạo là Đan Dương Tử, vị thí chủ này tới đây thắp hương sao?”
Tiểu Chu Hậu nói: “Ồ, hóa ra là Đan Dương Tử đạo trưởng, tiểu nữ được lời mời của một vị Tịnh âm tiên cô tới đây gặp nhau, không biết vị tiên cô có ở trong chùa không vậy?”
Đan Dương Tử đạo trưởng vừa nghe, thất vọng, ánh mắt trũng xuống, quay đầu nói: “Tiểu Chân, Tiểu Chân, mau dẫn vị thí chủ này đi ra sau điện gặp Tịnh âm đạo trưởng”.
Một tiểu đạo đồng đi ra từ phía sau cửa, mặt không chút biểu hiện, cũng không biết hắn đang ăn gì, miệng bóng nhẫy, hắn liếc nhìn Tiểu Chu Hậu một cái, liếm mép nói: “Mời nữ thí chủ qua bên này”.
Lão đạo sĩ cười bồi gật đầu, chui tọt về phòng của mình, rèm cửa được kéo vào, Tiểu Chu Hậu ngửi thấy mùi thịt dê, thầm ngạc nhiên: “Hai thầy trò nhà này, chẳng lẽ không tuân thủ quy củ, ăn thịt trong đạo chùa sao?”
Nàng vội nhìn thoáng qua, nhìn quanh thấy lò lửa, trên lò có một cái bồn, bên trong không ít rau.
Tên tiểu đạo đồng dẫn nàng đến hậu viện, chỉ về phía cửa điện nói: “Tịnh âm tiên cô ở đây rồi, mời nữ thí chủ vào trong”. Nói rồi xoay người chạy biến, cứ như sợ về muộn, đĩa rau ấy sẽ bị sư phụ hắn ăn sạch.
Tiểu Chu Hậu thấy cửa điện, cầm vạt áo trước thi lễ nói: “Tiểu nữ…Ngô Oa Nhi cầu kiến Tịnh am sơn trưởng.
“Đến rồi à?”
“Cửa điện được mở ra, Tịnh am đạo cô cười đi ra, nói: “Chùa Thê vân đôi đồ đệ chẳng qua là cầu chỗ ký thân, không phải là đệ tử đạo môn, đương nhiên cũng không cần mong họ tuân thủ phép tắc gì cả, ta cũng chỉ làmượn hắn chỗ ở tạm mà thôi”.
Tịnh âm đạo cô tuy là người xuất gia, song nụ cười vô cùng quyến rũ, nếu như là một nữ tử thì phong tình lắm. Tịnh âm đạo ánh mắt sáng lên lại nói: “Sao lại chỉ có một mình ngươi đến, thế Đường Diễm Diễm đâu?”
Tiểu Chu Hậu chần chừ giây lát, rắn rỏi đáp: “Quan Nhân mới được Ngân Châu, có rất nhiều đại sự quân chính phải làm, phu nhân phò tá quan nhân, bận rộn mọi việc, thực là không rời được, ta theo tiên cô tập nghệ, trở về sẽ lại nói với nàng ấy…”
Tiểu Chu Hậu mãi mới vẽ ra được lời nói dối, khuôn mặt không tự chủ được đỏ ửng lên, Tịnh âm đạo cô thấy nàng có vẻ xấu hổ, nghĩ lệch đi, mặt lạnh tanh, không do dự nói: “Nghe nói vị Đường cô nương là nữ tử của đại hộ người ta? Xem ra coi thường công phu của bàng môn tả đạo ta đây, hừ, thôi vậy, học hay không là do người ta, ngươi vào đi”.
Tiểu Chu Hậu khẽ đáp lời, cất bước vào trong điện, nơi này được lau dọn, bố trí khá là sạch sẽ, Tịnh am đạo cô đưa cho nàng một cái đệm cói để ngồi, nói: “Ta đây công tham tạo hóa vô cùng cao, không chỉ có hiệu quả làm cơ thể khỏe mạnh mà còn kéo dài tuổi thọ, thanh xuân dài lâu, ở cái tuổi của ta còn hơn cả tuổi cửa tổ mẫu nhà ngươi, ngươi xem dung mạo của ta giờ thế nào?”
Tiểu Chu Hậu gật gù: “Tiên cô…đã là người có tuổi rồi ư? Sao có thể kỳ diệu đến vậy?”
Tịnh am đạo cô cười nói: “Đó là chuyện đương nhiên…nói ra thì…ta xuất thân cũng giống như ngươi mà thôi, cho nên cảm nhận gần nhất đối với ngươi, ngươi có tâm học bản lĩnh của ta, ta đương nhiên sẽ truyền thụ cho ngươi thôi”.
Tiểu Chu Hậu vui mừng, vội nói: “Đa tạ sư phụ”.
Tịnh am đạo cô nói: “Cửa này của ta vốn là âm dương càn khôn chi biệt, người mới học thì đương nhiên là phải bắt đầu từ Trúc cơ. Nam tử mà, công phu của Trúc cơ là thuật càn đạo chú kiếm, còn nữ tử thì là thôn đạo chú đỉnh thuật”.
“Trúc Cơ…nhưng lệnh nguyên khí quy nguyên, hình thân câu diệu có thể sử dụng sự cân bằng của âm dương, chu thiên tự thông, trăm mạch lưu xướng, thân cường thể tráng, hít thở nhỏ nhẹ, tâm sáng như trăng, thiên nhân cộng trấn, ngoài vị sinh chi chúng bệnh, không có gì khó khăn, đương nhiên sẽ hồi dương. Tập luyện đến độ thành, thì từ âm dương song tu đạt đến tính mệnh song tu cảnh giới, long hổ tương giao, tu luyện đắc đạo. Nguyên khí hợp lại, kinh mạch lưu thông co thể nói là huyền diệu, cơ thể thành đắc thọ dài lâu…”
Tịnh am tiên cô nói những điều ấy, có rất nhiều thuật ngữ của Đạo gia, nếu như là người Đạo gia thật, nghe được đến đây sẽ hiều những lời tiên cô nói là loại công phu gì, Tiểu Chu Hậu thì đương nhiên là không hiểu, nghe thấy nói huyền ảo, ngược lại vui vô cùng.
Tịnh âm đạo cô cười nói: “Ta đã ngầm dòm ngó phu quân ngươi, đã nhập đạo, song lưỡng phòng thể tử này ngươi đều chưa học qua môn công phu này, chẳng có cách nào phối hợp, cho nên hắn chỉ luyện đến cảnh giới hái thuốc hoàn lô. Hái thuốc hoàn lô ban đầu còn vô sự, nhưng qua thời gian lâu, lò thuốc đầy đủ, không thể âm dương thông, hòa hợp đại lạc, tất sẽ thành cô dương sát, cô dương sát cần vô độ, lại không thể âm dương quán thông, vậy nên như chim sen khát, tất sẽ gây nên họa lớn. Hơn nữa tính tình cũng sẽ trở nên táo bạo mãnh liệt hơn, hắn là người cầm binh, khó màtrở nên tàn nhẫn thị sát.
Lão quỷ đó không biết nặng nhẹ, đồ nhi chưa vô đỉnh lò, đã thụ chú kiếm của hắn, suýt nữa gây đại họa, may mà giờ còn kịp, nếu không ta ở đây truyền thụ ba năm năm cho ngươi thì không thể được. Ngươi là tài nữ Biện Lương, học thức đầy mình, sức lĩnh ngộ vô cùng lớn, ta sẽ ái mộ mà truyền thụ, ngươi nhớ chăm chỉ ghi chú, thử tập luyện một lần, ta sẽ dốc lòng chỉ điểm, công trăn đại thành, tất sẽ tu luyện tốt. Song ta tuy là kiếm đi nghiêng song lại dễ thực hiện, có chỗ nào hơi sai lệch, cũng không sao hết. Dựa vào công lực của phu quân ngươi hiện giờ, có thể hướng dẫn cho ngươi, tuyệt đối sẽ không bị tẩu hỏa nhập ma đâu”.
Tiểu Chu Hậu nghe câu được câu chăng, mập mờ không hiểu. Song sự ngây thơ của nàng vốn là tin tưởng vào thứ thần đạo, nghe vậy càng không hiểu, muốn học thật nhanh để hiểu.
Tịnh âm đạo cô ngước nhìn sắc trời, lại cười nói: “Trời không còn sớm nữa, trước khi dạy cho ngươi Khôn đạo chú đỉnh thuật, sẽ lại dạy cho ngươi thổ nạp vận nhất phiên, nắm vững được bí quyết trong đó, mỗi ngày ngươi có thể tự luyện tập. Còn về ảo ảnh kiếm phát, hí đạo bát động, hợp đạo thập tu, âm dương thái luyện, ngọc dịch hoàn đan, tiên đạo cầu sách chư ban tài nghệ, cũng không phải là nóng lòng nhất thời mà học được”.
Tiểu Chu Hậu nghe thấy nói đến ảo ảnh kiếm pháp, còn cứ tưởng rằng là một kiếm pháp gì đó cao minh, vui mừng khôn xiết, gật đầu lia lịa nói: “Đa tạ sư phụ”. Nói rồi đứng phắt dậy, hai đầu gối quỳ trên đệm, cung kính khấu đầu bái sư phụ, tịnh âm đạo cô cười nhận lễ bái của nàng, nói: “Được rồi, được rồi, ha ha, lễ này của ngươi, bần đạo xin nhận. Đứng dậy đi, vi sư giờ sẽ truyền thụ Khôn đạo chú đỉnh thuật cho ngươi”.
*******
Tại Dương phủ, trong hậu trạch, có gì đó động sau tấm bình phong, tiếng thở hổn hển ở cạnh giường, Dương Hạo tiếp tục, nhìn quanh bốn phía, Đường Diễm Diễm đã mềm yếu như bún, không chịu được cơn cuồng phong, chỉ còn chút ít sức lực dư thừa, đùi thon dài mềm mại kẹo chặt hông của hắn, miên man. Cuối cùng những tiếng kêu rên của Đường Diễm Diễm, uyên ương giao cảnh, tiếng bỡn cợt của Dương Hạo vang lên: “Giờ còn nói phu quân nhà nàng không có bản lĩnh không?”
Trên chiếc giường căng màn đôi chân mềm yếu trắng nõn bất lực, tiếng kêu của Đường Diễm Diễm vang lên thay câu trả lời. Lúc này, màn đã được vén lên, mặt Oa Nhi như được nhuộm đỏ, nhăn mũi gắt giọng: “Ban ngày ban mặt, hai người chiếm giường của người ta làm chuyện hoang đường, thực không biết xấu hổ”.
Dương Hạo cũng không biết bây giờ tại sao mình lại có hứng thú với chuyện trai gái, thực là ban ngày ban mặt, nhưng lúc nào người cũng nóng hừng hực như lửa, hắn thò tay kéo Oa Nhi lên giường cười nói: “Oa Nhi ghen rồi sao, lại đây, lại đây nào, chúng ta cùng giết hạnh đào Yên vũ giang nam…”
Oa Nhi hừ nhẹ một tiếng, mặt đỏ ửng lên vì xấu hổ liếc nhìn sang Đường Diễm Diễm, nhắm nghiền hai mắt lại, người đàn ông của mình kéo ngực phập phồng của nàng, lộ ra đôi nhũ hoa sắc hồng…
****
Một cái đầu chim diều hâu bay vào trong Dương phủ, trong nháy mắt, Đinh Thừa Tông xuất hiện ở hậu trạch Dương gia: “Tiểu Nguyên, thái úy đại nhân đâu?”
Tiểu Nguyên vừa nhìn thấy Đinh Thừa Tông, vẫn theo lệ chào hỏi hắn ở Đinh gia, Đinh Thừa Tông gật đầu nói: “Ta có chuyện gấp, mau mời thái úy đại nhân đến đi”.
Tiểu Nguyên đáp một tiếng rồi chạy biến về phía lạc viện Ngô Oa Nhi, được một lát, Dương Hạo hồ hởi đi tới phòng khách: “Đại ca, ca gọi đệ?”
Đinh Thừa Tông rút từ trong tay áo ra một cái ống trúc, trầm giọng nói: “Không ngoài dự tính của đệ, Hạ Châu quả nhiên giải hòa bí mật”.
Dương Hạo mặt giãn ra, vội cầm lấy ống trúc trong tay hắn, xem xét kỹ những tin mật trong đó, bước đi thong thả trong phòng, Đinh Thừa Tông nói: “Hạ Châu có mấy lần giảng hòa đều bị người ta phá đám, lần này bí ẩn một chút cũng không có gì là ngạc nhiên, vị tất chính là có ý phạt Ngân Châu của ta, nhưng nếu như thái úy ứng chiếu đi phạt Hán quốc, Hạ Châu được tin nhất định sẽ đến, chi bằng tìm chút lý do kéo dài thời gian ra đi”.
Dương Hạo dừng bước, suy nghĩ đắn đo chút nói: “Đi, đi tới tiết đường, chiêu tập văn võ cùng nhau bàn đại sự”.
Văn võ tập trung đông đảo tại tiết đường, Dương Hạo lấy những tình báo mà Thác Bạt Hiếu/Hạo Phong và Xích Bang Tùng tìm hiểu được nói lại một lần nữa với văn võ quan, hắn nhìn khắp một lượt, hỏi: “Chư vị, có ý kiến gì không?”
Tiêu Nghiễm nói: “Thái úy, cho dù Triệu Quang Nghĩa và Lý Quang Duệ không ngầm câu kết với nhau, nếu như biết được thái úy dẫn đại quân phạt Hán quốc, Lý Quang Duệ tuyệt đối sẽ không bỏ qua cơ hội này, theo ý ti chức, chúng ta chưa sống yên ổn ở Ngân Châu, thái úy không nên rời đi, nhất là phải dẫn đại quân rời đi, Ngân Châu hư không, Hạ Châu nếu như huy động toàn bộ lực lượng ra quân, chỉ với Đảng Hạng Thất Thị thì không thể ngăn được đâu”.
Mộc Khôi xua tay nói: “Thiếu chủ, chúng ta dứt khoát nhân Triệu Quan Gia phạt Hán, không ra tay để lo liệu chuyện tây bắc, trực tiếp bỏ Hạ Châu thôi, làm trước lấy thế mạnh, làm sau sẽ bị tai ương đấy”.
Dương Hạo lắc đầu: “Trước mặt là địch, ta giờ chưa phải là đối thủ của Lý Quang Duệ, nếu như ta dẫn binh đi Ngân Châu, Hạ Châu tất sẽ không thủ được, điều Tuy Châu, Hực Châu, Tịnh Châu điều binh mã phạt Ngân Châu, Lô Châu ta, lúc đó thì ta thối lui cũng không kịp”.
Tiêu Nghiễm nói: “Điều này là thứ nhất. Triệu Quang Nghĩa chỉ dựa đơn thuần vào thực lực Tống quân, giờ nếu như diệt Hán quốc cũng dễ như trở bàn tay, thái úy nếu như chủ động xuất binh đi phạt Hạ Châu, ra quân vô danh, Triệu Quang Nghĩa được Hán quốc rồi, ngay lập tức có thể dựa vào danh chính ngôn thuận mà đi phạt Ngân Châu ta, lúc đó bao năm thái úy dốc tâm dốc lực sẽ bị lũ cuốn trôi”.
“Không sai…Tiêu đại nhân nói phải lắm”.
Dương Hạo nói: “Giờ không thể lật mặt với Triệu Quan Gia được, hắn cần điều binh của ta, ta không những phải đi mà còn phải đích thân đi. Duy chỉ như vậy mới có thể có mấy chục vạn hùng sư vào tay, song cầm ta không có cách nào khác. Ta đi Hán quốc còn có một điểm hay, nếu như Hạ Châu chủ động phát binh tấn công Ngân Châu, Lô Châu ta, thì chúng ta theo đạo nghĩa mà đứng trụ, tái phản kích Hạ Châu, Triệu Quan Gia còn lời gì để nói đây?”
Kha Trấn Ác chần chừ nói: “Nhưng mà…nếu đại soái dẫn đại quân phạt Hán quốc, Hạ Châu chấm dứt chiến sự Thổ Phiên, Hồi Hột, công kích đánh Ngân Châu, Lô Châu ta, chúng ta nhất định có thủ được không đây? Ngân Châu bị Lý gia thống trị khoảng thời gian dài trăm năm, thế lực ở đây căn cơ thâm hậu, tuy bề ngoài chúng ta giờ đã hoàn toàn có được Ngân Châu, nhưng lòng dân không phải là dễ lợi dụng. Lý Quang Duệ không đến thì thôi, nếu như mà hắn đến…trung quân Ngân Châu ta có biết bao người họ Lý Thị cũ, cũng không cần quá nhiều người bất ngờ tạo phản, chỉ cần một tốp một nhóm người muốn tạo phản, mở cửa thành rước Lý Quang Duệ vào thành, dù thành có kiên cố đến đâu thì cũng khó mà thủ được, cầu cứu một vị quân sư nổi tiếng, nguy hiểm của chúng ta càng tăng lên”.
Mọi người bàn bạc sôi nổi, có tiếng tán đồng Dương Hạo chiếm Hán quốc, có người lại đồng ý chủ trương giả bộ bệnh không đi, phái ba năm nghìn tên già nua yếu ớt đi ứng tiền chiến, cuối cùng thì vẫn không có ý kiến thống nhất, Dương Hạo đập bộp vào bàn một cái nói: “Nên chiêu xuất binh cũng không được, kháng chỉ không đi cũng không được, chủ động phạt Hạ Châu cũng không được, thì phải làm thế nào mới được đây?”
Đám văn võ im lặng nghiêm nghị, Dương Hạo bất giác nhận ra mình có chút táo bạo vội cười trừ, nói: “Là bổn soái vội đấy, chư vị chớ trách, chúng ta cùng bàn bạc chút. Chuyện ngày hôm nay, Hạ Châu chúng ta tuyệt không thể giành trước tấn công, nếu không mất đi danh đạo nghĩa; Thứ hai là cho dù Hạ Châu và Triệu Quan Gia có câu kết với nhau, chỉ cần bổn soái vừa xuất binh, hắn tất sẽ nhân hậu phương ta trống rỗng phạt căn cơ ta, điểm này còn nghi ngờ gì nữa, còn Triệu Quan Gia hiện nay vẫn ràng buộc với Hạ Châu, tất nhiên dung túng; Thứ ba, giờ chúng ta có Hạ Châu một cường địch, chốc lát không thể quyết liệt đấu với Triệu Quan Gia, chiêu bài này còn phải đánh tiếp, cho nên quân lệnh cần phải tuân thủ, chúng ta cần nghĩ ra hai biệt pháp chu toàn mới được”.
Đám văn võ im lặng một hồi lâu, bỗng có người bước ra, ngang nhiên nói: “Đại soái hà tất phải đau đầu vậy làm gì, Hạ Châu giảng hòa với Thổ Phiên, Hồi Hột, Triệu Quan Gia phạt Tống lệnh đại soái xuất binh, đây là cơ hội trời ban cho đại soái, đại soái nên thiện gia lợi dụng tài”.
Mọi người nghe vậy đều đổ dồn ánh mắt về phía người này, thấy Trương Phố này trầm lặng một lúc, hai mắt Dương Hạo sáng ngời, vội hỏi: “Kế của Trương tướng quân ổn chứ?”
Trương Phố vẫn giữ được danh chủ danh hùng trọng anh hùng, có công lớn, nhưng tiếc xuất thân hàn vi, cuối cùng không được trọng dụng, không dễ dàng được Lý Kế Pháp trọng dụng hắn làm tướng, lại bị thuộc hạ của Lý Kế Pháp lật bỏ kiêu binh hãn tướng. Thời gian Dương Hạo quật khởi tây bắc ngắn ngủi, cần gấp tướng soái tài giỏi, thành tâm chiêu nạp, Trương Phố liền đầu quân vào Dương Hạo.
Dương Hạo dùng Trương Phố với thái độ dùng người không hề nghi ngờ, quân cơ đại sự đều yêu cầu hắn cùng tham mưu. Song thuộc hạ của hắn với thành phần binh mã phức tạp, sự phòng bị là tất phải có, nên năm nghìn Minh đường xuyên tiến hành sắp xếp tổ chức lại, vừa xen kẽ đám binh mã và binh mã của mình vào với nhau, thêm nữa tiến hành hoán đổi tướng tá quan quân cấp thấp với dám tướng ta quan quân binh mã chính thống của mình, đảm bảo sự khống chế của chi quân đội này.
Trương Phố đầu nhập vào quân Dương Hạo có vị trí tương đối thấp, bình thường lên đường thảo luận chính sự đều giữ im lặng, chứ đây là lần đầu hắn phát ngôn, không ngờ giờ lại nổi tiếng, ánh mắt mọi người đều đổ dồn vào hắn.
Trương Phố chắp tay nói: “Tương kế tựu kế, ám độ trần giữ, xuất kỳ binh, đoạt Hạ Châu. Nếu như đoạt được Hạ Châu, thì coi như đại soái đều đánh mất Lô Châu, Ngân Châu, công thủ cũng dịch thế từ đây, tây bắc sẽ được đại soái sở thuộc”.
Lần này hắn phát ngôn, mọi người đều ồ lên, Hạ Châu là cái gì? Tương đương với Thượng Kinh của Khiết Đan, Biện Lương của Tống quốc, Kim Lăng của Nam Đường, Hạ Châu gần trăm năm luôn là đại bổn doanh của Thác Bạt Thị, nếu như chiếm được nơi này, thì sẽ nghiêm trọng đả kích Hạ Châu Lý Thị, cho chính quyền Lý Thị đánh cho một kích cực mạnh. Hơn nữa Hạ Châu là căn cơ của Thác Bạt Thị, tài lực vật lực như thế. Khống chế được Hạ Châu, lợi dụng điều kiện địa lý sơn xuyên, có thể khống chế được phía đông Ngân Châu, Long Châu của nam ách hoàng sơn nam tuyến, Hồng Châu, Diêm Châu, Vi Châu, còn về Định Châu, Hoài Châu, Hưng Châu, Linh Châu đều ở phía tây của Hạ Châu, có thể khống chế được.
Cách nói của Trương Phố rõ ràng là một sự hoán đổi lớn với Hạ Châu Lý Thị, nhưng Dương Hạo đổi quân đến Hạ Châu như thế lực lượng càng thêm lớn mạnh, còn Lý Quang Duệ nếu như bị điệu hổ ly sơn, chỗ thân tín là Dương Hạo, phía sau lưng là hai thế lực Chiết Dương, hắn rất khó có được sự tự tại hiện giờ.
Dương Hạo nghe cuồng ngôn này, cũng ngẩn người ra, lúc này mới nói: “Sao lại thế được? Làm thế nào để đoạt được Hạ Châu?”
Trương Phố đi đến phía chiếc sa bàn nói: “Đại soái, Lý Quang Duệ đại nhân ở Lô Châu, Đảng Hạng Thất Thị quy phủ, Ngân Châu rơi vào tay đại soái, điều này đều lay động chuyện căn cơ của Lý Quang Duệ, cho nên hắn cần diệt trừ thế lực đại soái, loại Lý Quang Sầm đại nhân, lại lần nữa khống chế Đảng Hạng Thất Thị, tiêu đi mối lo tâm phúc cho nên đại soái không thể không có lý do theo Triệu Quan Gia còn Lý Quang Duệ cũng không thể không có lý do đông tiến”.
Đám tướng và Dương Hạo đều đứng trước sa bàn, Dương Hạo vuốt cằm nói: “Đúng đấy, bổn soái không thể không xuất binh phạt Hán, Lý Quang Duệ cũng không thể không lấy toàn bộ lực lượng, lợi dụng cơ hội này, đoạt được Ngân Châu, chiếm lĩnh lấy Lô Châu, ngoài nghĩa phụ ta, khống chế Đảng Hạng Thất Thị”.
Trương Phố nói: “Lý Quang Duệ đông tiến, Hạ Châu sẽ rỗng tuếch, lần này chúng tôi như một đường kỳ quân cắm thẳng vào Hạ Châu, nhân cơ hội đoạt thành này, thế cục tây bắc tất nhiên thay đổi…”
Đinh Thừa Tông trầm mặc không nói tiếng gì từ nãy, giờ mới nói: “Lý Quang Duệ khởi binh tới Ngân Châu, từ Ngân Châu ta khởi binh đến Hạ Châu, binh thực thì thiếu khó chẳng là vấn đề, binh lực nhiều, sự điều động đại đội nhân mã làm sao có thể dấu được tai mắt của Hạ Châu? Lào sao có thể có hiệu quả thu kỳ binh”.
“Phó sứ mời ngài xem, Minh đường xuyên ở trong khống chế đại soái, ta thấy quy mô xuất binh phạt Hán, nửa đường bắc thượng, qua minh đường xuyên vào đất Cân trạch, sa mạc Tây xuyên mao ô tố, thảo nguyên Nam chí hoàng dương bình nhập, kinh an khánh trạch, bẩy dặm bình, vương đình trấn, lấy thế sét đánh không kịp ôm tai lấy Ngân Châu, ngài thấy sao?”
Đi một nửa vòng tròn, giữa còn cần xuyên qua đầm lầy, sa mạc, nguy hiểm, Đinh Thừa Tông không khỏi ám hút một ngụm khí lạnh, còn các chư tướng còn lại không hiểu được hiểm ác chỗ này cho nên lúc lâu không nói gì.
Dương Hạo cẩn thận nhìn hồi lâu, hỏi: “Chư vị thấy sao?”
Kha Trấn Ác lắc đầu nói: “Lao sư viễn chinh, không có sức mà chiến lâu, ngay cả xuất kỳ bất ý, nếu có tiếp ứng, cũng chỉ có cơ hội một công một khắc, một khi thất bại, hậu quả thiết tưởng không chịu nổi, quá mạo hiểm”.
Trương Phố không để ý tới hắn, chỉ cần nhìn Dương Hạo, nói: “Tình hình này, nói thẳng với ti chức, Hạ Châu Lý Thị, hùng bá tây vực hơn trăm năm, tuy bị thương nặng, thực lực cũng ở, đại soái tuy chính nghĩa được ủng hộ, muốn tiêu diệt Hạ Châu, sợ bao nhiêu năm gây dựng, phát triển, cũng không có khả năng”.
Câu này tuy khó nghe, song là câu nói thực, chớ nói Hạ Châu Lý Thị, coi như là thực lực của Lân Châu, Phủ Châu cũng kém xa Hạ Châu, bảo Dương Hạo đi đánh xem xem cũng không thể dễ dàng mà diệt được, Dương Hạo không khỏi gật gù cái đầu nói: “Thế lực của đại soái đương nhiên là càng ngày càng lớn mạnh, nhưng thực lực Tống quốc khi đó sợ rằng cũng không thể so sánh với ngày hôm nay, đến lúc đó Trung Nguyên đã dẹp yên, cho dù bắc có cường địch, Tống quốc cũng không thể tùy tiện xuất binh nhúng tay vào chuyện tây bắc, nhưng muốn có một thế lực tương đương tây bắc ở một trình độ nhất định, lại là khả năng xa vời với thực tại. Đến lúc đó, nhuệ khí đại soái đã mất, tây bắc bốn thế lực thế chân vạc, có sự kiêng kị, song chính là cục diện như vậy”.
Ngải Nghĩa Đào tức giận nói: “Ngươi lảm nhảm cả nửa ngày, rốt cuộc là ngươi muốn nói cái gì?”
Trương Phố nói: “Muốn thành chúa của tây bắc thì người bình thường không thể được, phú quý hiểm trung cầu”.
Ngải Nghĩa Đào nói: “Nhưng, điều này có quá là mạo hiểm không, nói thực ra là một mẻ cờ bạc, một khi Lý Quang Duệ có đề phòng thì ta mất trắng”.
Trương Phố lộ ý cười nói: “Các người đều thấy rằng kế này vạn phần không được, Lý Quang Duệ làm sao mà ngờ đến được chứ? Hơn nữa, theo ý ta, chuyện binh gia này như đánh cờ vây vậy, không cần phải so đo được mất, chỉ cần cuối cùng chúng ta vẫn là người chiến thắng là được. Cho nên…đại soái thầm điều động, tập trung người của Lô Châu đến Ngân Châu, liều mạng mất đi một thành, chỉ cần thủ được Ngân Châu, là rất tốt, coi như là bại rồi thì cũng là đại thương nguyên khí, chúng ta còn có thể trụ chút hương hỏa”.
Đinh Thừa Tông nói: “Thực không cần, chỉ cần mời lão gia tử Lý Quang Sầm đến Ngân Châu, Lô Châu lại có đạt thố hoạt phật tọa trấn, Lý Quang Duệ cũng lười đi đến tổ ong đó, hắn tất nhiên là đến thẳng Ngân Châu rồi. Song…như vậy thực quá nguy hiểm, chúng ta đưa mình đến chỗ chết, nếu như Lý Quang Duệ chưa từng tinh nhuệ, lại làm sao bây giờ?”
Trương Phố nói: “Bảo Đảng Hạng Thất Thị ngăn cản, còn không thể buộc hắn tinh nhuệ ra sao?”
Kha Trấn Ác nói: “Đây là trận quyết chiến ăn được cả ngã về không, một khi thất bại, tất cả nỗ lực đều mặc sức, chúng ta phải làm sao? Ngay lập tức phải xuất binh phạt Hán, điều khiển độc quân xuyên qua đầm lầy, sa mạc, đều chuẩn bị kịp sao? Nếu đợi đến khi xác định hắn tinh nhuệ, rồi huy quân bắc thượng, còn có kịp không?”
Trương Phố thở dài ngao ngán nói: “Đương nhiên thời gian hơi vội, việc này hơi nguy hiểm. Ta chỉ cảm thấy, nguy hiểm này rất là lớn, nhưng một khi mà thành công, hồi báo là trăm lần, nghìn lần, cuối cùng quyết định như nào, thì có mời đại soái định đoạt”.
Ánh mắt của mọi người đều đổ dồn vào Dương Hạo, mắt Dương Hạo thì nhìn chằm chằm vào sa bàn, một lúc lâu sau mới nói được bốn chữ: “Dung hậu tái nghị”.
****
Mảnh đất rậm rạp, tuyết trải ngàn dặm, gió lạnh cuốn theo những bông tuyết bay lên, tiếng gió rít thét gào như tiếng cô hồn khóc nức nở. Trận đại tuyết này là những tháng ngày miêu đông đối với dân chúng Lân Châu, ngồi ở gần lò sưởi, uống một chén rượu nóng, cạnh vợ và con, thì đầm ấm biết bao. Nhưng đối với đám dân du mục chăn nuôi lại là những tháng ngày khốn khó, trú tạm trong chỗ nhà tranh, chăm nuôi đám da súc vô cùng rét mướt.
Dương Hạo và Mộc Ân, Mộc Khôi thúc ngựa phi nhanh trên cánh đồng tuyết, phía trước là doanh trại quân đội, tiếng kèn tù và kêu vang, vũ khí leng keng, cờ bay lên, một đội binh lính đang tập luyện, đây là quân thường trực mà Dương Hạo kiến tạo, tiếng chuông vang lên báo giờ ăn đã sắp đến, thời tiết khốc liệt, luyện tập không ngừng mỗi ngày, sự luyện tập dày công như vậy chứng tỏ một khí thế nghiêm kỷ.
Ba người xuống ngựa, bước đi thong thả trên sườn núi, thị vệ cuốn đệm trên mặt đất, ba người ngồi trên, nhìn đám sĩ bĩnh phía xa đang tập luyện, rong ruổi chiến mã, phi ngựa bắn cung.
Đệm giường bằng da sói, lông bện kỹ, da sói dày. Có tác dụng giữ ấm, trải trên mặt tuyết có tác dụng chặn sự xâm nhập hàn khí vào người, Dương Hạo vuốt ve lông mao mượt mà nói: “Kế của Trương Phố thực là điên cuồng và quá mức điên cuồng, Lý Quang Duệ cũng rất khó nghĩ được cách nguy hiểm này. Nhưng vấn đề nan giải không phải là không có, không suy nghĩ, cứ nghĩ đến bại, chúng ta vẫn chưa đến bước đường cùng, dùng cái thủ đoạn điên cuồng này, thực là…”
Hắn trầm ngâm một lát, bỗng hỏi: “Nếu chúng ta phái một đoàn kỳ quân, dựa vào lời của Trương Phố nói, bắc thượng Minh đường xuyên, vào đất cân trạch, xuyên qua sa mạc Mao ô tố, có khả năng hay không? Có tổn thất nhiều hơn hay không?”
Mộc Ân nói: “Mấy năm nay, lưu lạc đi theo chúa công, những tháng ngày khổ cực đều đã qua, nếu như mạo hiểm xông pha qua đầm lầy sa mạc, tuy rằng rất gian nan, song nếu như do thuộc hạ lãnh binh, tổn thất sẽ không lớn. Nếu như có thời gian mà chuẩn bị, bảo sĩ binh làm đệm da sói, hoặc dê vàng, lông mao lạc đà bện thành chặn cơn lạnh mùa đông thì sẽ không lo chết giữa trời đông này.
Còn về thực vật cũng dễ làm, ta biết cách làm thịt bò, là do học được từ người Khiết Đan, có thể hong thịt cho khô sau đó ướp gia vị, nhồi vào trong dạ dày bò, khi ăn thì lấy ra một chút cho vào bát tô, nước thì cũng dễ kiếm, ở sa mạc cũng không phải nơi nào cũng không có nước, chỉ cần có nước, thì ta có thể tìm được, dự trữ nhiều chút…
Dương Hạo nghe vậy gật gù lia lịa, như có điều gì suy nghĩ nói: “Song nếu muốn kỵ binh nhẹ hành quân, sợ sau khi ra sa mạc, lương thực đều ăn hết thì sao?”
Mộ Khôi cười hắc hắc nói: “Nếu như ra khỏi sa mạc, còn sợ không tìm được gì ăn sao? Các bộ tộc Miêu Đông luôn có thói quen tích gom lương thực, một khi ra sa mạc thì chẳng thành vấn đề.
Dương Hạo lại gật đầu, ý của Mộc Khôi hắn đã hiểu, đến khi đó là gặp được bộ lạc nào, bộ lạc nào bị cướp đoạt không còn. Ngươi có thể nói nó là vũ lực cướp bóc, cũng có thể nói nó là cướp bóc, cũng có thể nói nó là dĩ chiến dưỡng chiến, kỳ thực đều là nhất ký hiệu sự. Ban đầu rong ruổi thảo nguyên, đại chiến hung nô, kỵ binh qua lại, đuổi giết ngàn dặm, làm như vậy không thể nói đến hai từ nhân nghĩa trên chiến trường.
Mộc Ân hỏi: “Thiếu chủ, ngài thực có dự tính làm theo lời Trương Phố nói?”
Dương Hạo cười mếu máo nói: “Chỉ là…ta muốn hiểu được tính khả năng thực hiện lớn đến đâu. Sợ chiến tranh kéo dài liên miên với Hạ Châu mới có thể quyết ra thắng bại, nếu có cơ hội thì làm một kích chí mạng, ta đương nhiên là mong như vậy. Nhưng…haiz, xuất binh phạt Hán, tập kích Hạ Châu, đều cần nhân mã, Lô Châu, Ngân Châu, tất không thể phân binh tác chiến, nếu như muốn thực hiện kế này, hai thành chỉ có thể bảo trì một, tập trung binh mã vào một chỗ, đồng thời, những thứ như đệm da sói, làm thịt bò, chuẩn bị cho tốt, mà muốn vậy thì cần phải có thời gian, song…không kịp nữa rồi, thời gian…ôi thời gian”
Hắn thở dài ngao ngán, đứng dậy nói: “Đi đi, về thôi”.
Về đến Dương phủ, bước vào hậu trạch, hoa đình ấm nóng vô cùng náo nhiệt.
Hai tỷ muội Đinh Ngọc Lạc và Đinh Ngọc Đình đang bế đứa bé cưng của Dương Hạo, Dương Hạo đã đặt cho bé một cái tên là Tuyết Nhi, Đinh Ngọc Đình ẵm bé vuốt nhẹ má đỏ hồng, đứa bé nghịch ngợm giơ tay lên như muốn với gì đó. Đông Nhi thì đang huơ tay sưởi ấm, Diễm Diễm, Oa Oa thì đang nói gì đó với nhau.
Hắn nhìn đứa bé, lòng trào dâng niềm hạnh phúc vô hạn…
Thủ lĩnh thứ bảy, Hoành Sơn chư mộ thủ lĩnh, thế lực trải dài từ Lô Châu đến Ngân Châu; thủ lĩnh các bộ lạc người Hán, Hồi, Diệp Phan, các tộc trưởng, chủ trại… đều lục tục kéo về Ngân Châu. Trận đại hội này do sắp sửa dẫn binh phạt Hán và chuẩn bị cho cuộc chiến Hạ Châu mà có vẻ gấp gáp, có điều công phu đều vẫn còn đang được giấu kín, ngoài mặt thì phồn vinh náo nhiệt và nhàn nhã.
Đối với việc ăn uống và nghỉ ngơi của các thủ lĩnh thì Dương Hạo đã chuẩn bị xong đâu vào đấy, tiến vào Ngân Châu, bạn sẽ không thể nào nhận ra nơi này đã từng xảy ra những cuộc chiến liên tiếp đẫm máu, trong thành phồn vinh thịnh vượng, cả thành trì bố trí có trật tự, đương nhiên, quân kỷ tươi sáng, áo giáp kêu leng keng là những uy lực vô hình không thể thiếu.
Đây không phải là liên minh, mà là hiệu lệnh quần hùng, đích thức là quy tụ về để xưng bá một phương, không che giấu thế lực để chờ đợi phần thưởng là những con dê cừu béo múp chờ làm thịt. Những người đứng đầu phái đoàn tất nhiên phải thể hiện rõ uy phong của mình, cũng may mà trước khi các hào kiệt đến đây Dương Hạo đa chuẩn bị sẵn tinh thần, đến khi tận mắt chứng kiến uy quân và tài lực oai hậu của Ngân Châu, ai nấy đều tâm phục khẩu phục, không ai dám gây chiến.
Hiện chỉ cần khiến cho các bộ tộc, các tại và mọi người tâm phục khẩu phục đã là đủ, ngày ngắn ngủi, cái gọi là thu phục cũng chỉ là một quá trình dần dần mà thôi, muốn bọn họ phục tùng mệnh lệnh của Dương Hạo thì cần phải chọn thời điểm tấn công, chước thuế dễ dàng, muốn bọn họ sống chết theo hắn thì phải sống chết cùng hưởng, hiện cũng không cần trông cậy nhiều, những người thực sự có thể tin cậy, Dương Hạo đã dùng rồi, cứ lẳng lặng mà làm. Do vậy Dương Hạo trong khoảng thời gian này hết sức bận rộn, hắn phải mở cuộc hội kiến công khai với các thủ lĩnh bộ tộc, dẫn dắt bọn họ đi quan sát việc luyện binh, Dương Hạo còn muốn thấy cả mấy cái ‘kim trong bọc’, tự mình mở cuộc họp với bảy họ và họ Khương ở Hoành Sơn, tất cả đều theo Dương Hạo, cùng ra sức chuẩn bị cho trận đại chiến sắp tới, sau cái phồn hoa thịnh vượng, khói lửa chiến tranh đã bắt đầu lặng lẽ bốc lên ngùn ngụt.
Ngoại trừ việc sắp xếp dày đặc việc tổ chức vũ lực đối ngoại, Ngân Châu và Lô Châu còn đồng bộ tiến hành chuẩn bị chiến tranh. Ngoài việc gia tăng quân trú đóng ở Hạ Châu, Tĩnh Châu, Tiêu Châu, Tuy Châu… hệ thống hành chính cũng gấp rút được sắp xếp, để đề phòng những mạch tin liên lạc bị cắt đứt do chiến tranh và trở nên tê liệt mất tác dụng.
Ngoài ra, quan hệ của thống soái và các ủy nhiệm, các lực lượng vũ trang và lương thực đều do Lâm Bằng, Phạm Ân Kỳ sắp xếp chặt chẽ. Dương Hạo có thể đánh một trận hiểm, nhưng không thể đánh mà không có chuẩn bị, hắn có thời gian thì sẽ ra sức chuẩn bị thật tốt cho cuộc chiến, chiếm trước được một bước là có cơ thắng được nhiều hơn, khi chiến đấu cũng sẽ phát huy được những tác dụng to lớn.
Từ Lũ, Tiêu Nghiễm cũng đang hết sức bận rộn, các thế lực của Dương Hạo hết sức phức tạp, có thể trực tiếp quản lý người của Dương Hạo, cũng có khi phải lấy cương làm chủ, có khi phải tiến hành làm cho lung lạc… Bất kể là đối với thế lực nào thì đều là người theo Dương Hạo, muốn có được sự bảo hộ của hắn thì đương nhiên phải trả một cái giá nào đó. Cái giá trả ra càng nhiều thì lợi ích càng cao, như vậy mới là làm ăn. Hai bên cả người đầy tài năng, nhưng khi ở nước Đường thì chỉ có thể học được những quyền cước không có chỗ sử dụng. Khi Dương Hạo tiến hành tiếp kiến thì hai người và các thủ lĩnh bộ lạc môi thương lưỡi tiễn, vừa đấm vừa xoa, đem toàn bộ những chính sách và biện pháp ra quyết định.
Tiêu Nghiễm và Từ Lũ được phân công rõ ràng. Tiêu Nghiễm là người không thích cười đùa, hay nghiêm túc, thêm vào cái tính tài tử là điều đáng kiêu ngạo. Lời ăn tiếng nói không những sắc bén mà còn khắt khe, do vậy vai kẻ mặt đen nhất định là sẽ do hắn đảm nhận. Do lợi ích nên trên bàn đàm phán hoàn toàn không còn có thể diện tôn ti gì nữa, các thủ lĩnh bộ tộc Tây Vực đều là những quặng dầu mỏ hào phóng, vốn cũng không hiểu lắm về chuyện quy tắc, muốn nói chuyện với bọn họ thì chẳng khác nào cãi nhau.
Tiêu Nghiễm ngoài nhu trong cương, cả người đều tràn đầy hỏa khí, chỉ tiếc là khi còn ở nước Đường hắn không có đất dụng võ, nhiều khi chứng kiến những sự việc không thuận mắt hắn cũng chỉ biết nói bóng gió, nhưng nay thì không thế, Dương Hạo đã đặt toàn quyền vào hắn, hơn nữa hắn còn đứng ở phe mạnh, đúng là rất chi hãnh diện.
Để chuẩn bị cho mỗi hạng mục đàm phán, Tiêu Nghiễm đã dốc toàn lực ứng phó, khiến cho những tướng người Hán không còn đất, hai bên trừng mắt phùng râu, đập vỡ bình trà trên bàn, đó là cảnh thường xuyên gặp. Đợi đến khi đối phương có thể hoàn toàn chấp nhận thì kẻ mặt đỏ Từ Lũ mới xuất hiện. Từ Lũ đã làm việc ngoại giao này bao lâu nay, đúng là kẻ tám mặt lả lướt, qua một hồi mặc cả, những thủ lĩnh bộ tộc đó cuối cùng phát hiện ra bọn chúng vừa có mặt lại có trong đó, đối với phía Dương Hạo cũng đạt được những điều tốt ở giới hạn lớn nhất mong muốn có được.
Mặc dù những sự việc này khiến hai lão đại nhân phải hao tâm tổn sức nhưng những thành công mà hai ông mang lại thật là trước nay chưa từng có, đặc biệt là khi kẻ mạnh đàm phán với kẻ yếu, quả là có cảm giác hãnh diện, trước nay chưa từng có. Trong lòng hai người vẫn chưa có quyết tâm hết lòng thuần phục Dương Hạo, nhưng đã được cảm hóa nhiều, bất tri bất giác mà trở thành bạn bè cùng phe với hắn.
Một trang khế ước có tác dụng lớn thế nào? Một trang khế ước có thể bảo đảm nó có thể có nhiều điều kiện được thực hiện, dẫu cho không có nhiều biện pháp cường lực thì một mặt các thủ lĩnh cũng có thể dễ dàng phá hủy bản khế ước, do hai chữ ‘tín dụng’. Tín dụng là vô hình, cũng là hữu hình, nếu như thế lực đầu não của một bên lật lọng, nói một đằng làm một nẻo thì ngôn ngữ không đáng tin, về cơ bản sẽ rất khó để có được sự ủng hộ và tin cậy của thế lực còn lại. Do đó, trừ phi bất đắc dĩ, chứ nếu không sẽ tuyệt đối không vô tình mà dễ dàng phá bỏ lời hứa.
Mặc dầu như vậy, Dương Hạo còn có thể dùng thủ đoạn gia tăng lực lượng, gia tăng như vậy sẽ khiến bọn họ coi trọng việc giữ lời hứa, dẫu cho sau này Ngân Châu bị vây, thì tạm thời bọn họ cũng mất lực khống chế, thì khi bọn họ muốn đưa ra bất kỳ quyết định gì cũng phải đắn đo suy nghĩ, không dám dễ dàng đưa ra quyết định. Thủ đoạn gia tăng lực lượng của Dương Hạo là: uy hiếp tuyệt đối về vũ lực. Tình cảnh thảo nguyên Lô Châu, Hoành Sơn chủ động khiêu chiến, tập kích vào các bộ lạc.
*************
Hoang mạc mịt mờ, nguyên trì lạp tượng.
Sau Sơn Lộc là một sườn núi chạy thong thả, đây là phía Nam của Sơn Lộc, ánh mặt trời chiếu rọi vào, hơn nữa hai bên trái phải là thung lũng, cản trở gió lạnh xâm nhập, hơn nữa cũng có chăn lạc đà, lông bò, thế là đủ cho bọn du mục tránh được cái giá lạnh của mùa đông này.
Một ngọn suối đổ xuống từ trên núi, bên phải bờ suối là một mảnh rừng thưa thớt, có thể vào đó chặt củi đốt lửa, lấy nước. Lều bạt ước chừng có khoảng hai trăm chiếc, như vậy cũng coi là đủ để dựng một bộ lạc quy mô.
Phía trước một chiếc trướng là vị thủ lĩnh Nhật Đạt Mộc Cơ, hắn mặc một chiếc áo bào và đang làm thịt một con dê. Hôm nay con trai hắn đầy trăm ngày, hắn muốn mời bạn bè đến uống rượu chúc mừng. Bên ngoài nước đọng thành băng, nếu như tay chậm một chút thì chiếc đầu dê này cũng nhanh chóng mà bị đóng băng. Nhưng thủ pháp của người này quả thực là siêu phàm, trong tay hắn chỉ có một con dao nhỏ, phi nhanh thoăn thoắt, da dê đã được lột sạch, lúc này đây thịt dê vẫn còn đang bốc hơi nóng hôi hổi.
Bên cạnh hắn đặt một cái nồi to, vợ hắn đang ngồi xuống bên cạnh, cẩn thận nhóm lửa, nước trong nồi đã bắt đầu sôi, lúc này, ở phía xa đột nhiên vang lên một tiếng kèn kéo dài từng đợt thê lương.
Đó chính là tiếng kèn cảnh báo. Nhật Đạt Mộc Cơ thất kinh, vội vàng chạy lên hai bước, vứt cả cái đầu con dê vào nồi nước sôi, rồi chạy lại phía con tuấn mã. Con ngựa vẫn chưa được lắp yên, nhưng nghe tiếng kèn hiệu báo động khẩn cấp cũng không quan tâm nhiều như thế nữa, Nhật Đạt Mộc Cơ nhặt vội một chiếc cung tên vứt gần chỗ yên ngựa, rồi lại lấy một ống tên đeo vào người, vội vã thúc ngựa đi mất.
Vợ hắn vội vàng gọi với theo: “Nhật Đạt Mộc Cơ”.
Nhật Đạt Mộc Cơ quay đầu lại hét lớn: “Mau bế con chạy đi, tiếng kèn hiệu gấp như vậy e rằng có quân địch tập kích”.
Cùng lúc đó, những gã đàn ông trong những chiếc lều khác cũng vội vàng xông ra, bất kể là già hay trẻ, thậm chí có cả những đứa trẻ mới hai ba tuổi cũng đều mặc một chiếc áo da, hết sức nhanh nhẹn leo lên lưng ngựa, chạy thật nhanh về phía trước.
Tiếng kèn hiệu ở hai bên núi lại thổi lên một hồi lớn, hơn nữa càng lúc càng khẩn cấp, trên cánh đồng tuyết phủ trắng xóa chỉ nhìn thấy ba bốn con tuấn mã đang phi, những binh khí trong tay lóe sáng, lớn tiếng kêu thét tiếng gì đó.
“Là Mỹ Ân Tử”, Nhật Đạt Mộc Cơ nhìn bọn chúng rồi đột nhiên kêu lên.
Mỹ Ân có nghĩa là mặt trời, Mỹ Ân Tử có nghĩa là con trai của mặt trời. Người đó chính là con trai của thủ lĩnh bộ lạc. Hắn nhìn thấy nguy hiểm trước mắt nên các chiến sĩ đều hăng hái giương cung tên, phía sau giắt một thanh đao dài, mọi người nhanh chóng tập hợp thành hàng ngũ, tiến về phía trước.
“Chạy mau, chạy mau, đại quân Ngân Châu tới rồi”. Nhật Đạt Mộc Cơ xông lên phía trước, đã nghe thấy tiếng của Mỹ Ân Tử hét lớn, hắn vừa ngẩn ra đã nghe thấy tiếng vó ngựa như tuyết, vô vàn chiến mã đột nhiên xuất hiện ở cửa núi, lưỡi mác dài sáng loáng, mặt ai cũng đằng đằng sát khí.
Ngay sau đó, bầu trời như tối sụp lại, vô số mũi tên bắn ra, nhằm thẳng hướng bọn họ bay tới.
“Mỹ Ân Tử, mau trốn đi!”
Đối phương còn đứng ở một quãng khá xa nên lúc này mũi tên gần như không tới được chỗ bọn họ. Nhật Đạt Mộc Cơ đến mũi tên cũng chẳng buồn rút ra, hai tay bắc vào miệng, hét lớn với Mỹ Ân Tử. Những mũi tên dày đặc như cơn mưa ầm ầm lao về phía bọn họ, thậm chí còn có thể nghe thấy rõ tiếng gió lao đi vun vút trong không trung.
Nhiều người khác cũng giống như hắn ngạc nhiên nhìn lên trên, hằng hà sa số mũi tên đang lao vun vút về phía họ, càng lúc càng gần, mắt họ tối sầm lại, chỉ thấy những mũi tên như mưa bao trùm lên tất cả.
“Giết!”
Đại quân của Dương Hạo không bày binh bố trận, đối phương chưa từng tham chiến bao giờ đã bị dồn cho hoàn toàn không còn lực đối kháng, bọn họ đã hoàn toàn không cần phải phá vỡ thế trận, chỉ cần tiến hành giết bóc là được. Bọn họ có trong tay hơn nghìn con ngựa, nhưng đội hình thì đều nhịp tăm tắp, cả đội hình hình thành một đường cong. Nhật Đạt Mộc Cơ vẫn chưa chết, bên vai trái của hắn đã trúng tên, vai phải cũng bị trúng tên, một mặt hắn dùng hai chân khống chế cơ thể, vội vàng xuống ngựa, mặt khác cố sức dùng đao, ngửa mặt lên trời hét lớn: “Giết bọn chúng”. Sinh mạng của hắn đã bị tiếng hét đó kết thúc, trước mặt quân địch chỉ cách có khoảng một trăm bước chân, bọn họ đang tiến đến gần. Lực lượng của đối phương quả thực là khiến người ta kinh ngạc, bọn chúng dùng mã lực rồi ném tiêu thương bay nhanh như điện xẹt, gào thét lao tới.
Ở khoảng cách gần như vậy, tiêu và thương ném ra gần như không có gì ngăn cản được, huống hồ quân địch trước mặt lại gần như bị thương hết. Nhật Đạt Mộc Cơ lớn tiếng gào thét, một mũi tiêu lao tới xuyên thẳng vào ngực hắn, cả người hắn đổ về phía sau, ngã bay xuống lưng ngựa. Con ngựa đó trên người bị trúng tên, đang đau đớn, trong một lúc bị mất kiểm soát, nó co hai chân sau lên, đá cái xác Nhật Đạt Mộc Cơ ra xa cả trượng.
“Phực phực phực”, tiếng mũi tên và thương lao ra, một khi bị trúng thì căn bản sẽ không cách nào trốn được, dẫu cho có khỏe đến đâu thì khi bị trúng cũng chẳng khác nào một tờ giấy bị xuyên thủng.
“Giết!”
Tướng lĩnh thống binh cánh quân này của Dương Hạo rút ra một thanh trường đao, những kỵ sĩ bên cạnh cũng đồng loạt rút đao hô ứng, chuẩn bị xông lên. Bọn họ đều mặc áo giáp nhẹ, bên trái đeo cung, bên phải là mũi tên, mâu sắt treo trên yên ngựa, nay hoàn toàn không cần dùng đến nó, chỉ cần những binh khí trong tay là cũng có thể hoàn thành trận chiến này được rồi.
Quân địch bên trong không đủ hai trăm người, gào thét nhìn đám quân đến từ Ngân Châu, mặt không còn chút máu, bọn họ quay đầu ngựa định chạy trốn nhưng không thể nào nhanh được bằng quân Ngân Châu, lần lượt từng người bị chết, thây phơi trên cánh đồng tuyết, sau lưng mỗi người đều là vết thương do bị đao chém.
Đám kỵ sĩ nhanh chóng phân làm hai nhánh, lần lượt bao vây toàn bộ hai trăm người. Đỗ Lãn Nhi thúc ngựa đứng giữa, chỉ huy hơn ba mươi quân, toàn bộ những người trong bộ lạc đều đã được tập trung lại.
Những người phụ nữ nắm chặt tay bọn trẻ, yên lặng nghe mệnh lệnh. Từ nhỏ đến lớn họ đã quen với việc kẻ mạnh thắng kẻ yếu trên thảo nguyên, họ đã quen với việc cướp bóc và đâm chém, trong số bọn họ cũng có không ít người bị đoạt từ các bộ lạc khác mà đến, trở thành thành viên của bộ lạc này.
Một lão già râu tóc bạc phơ đứng thẳng người ở hàng đầu, mở to mắt, bước đi từng bước rồi quỳ sụp xuống trên tuyết, khóc không thành tiếng: “Lộ Phật Tử mạo phạm đến Dương Hạo đại nhân, cam tâm xin chịu chết, chỉ xin đại nhân khai ân, tha cho những người trong tộc”.
Đỗ Lãn Nhi thu đao về, lớn tiếng hỏi: “Đừng có nói bản chỉ huy là kẻ bất hiếu. Thái úy sớm đã có lệnh, phàm là dân cư được quản lý ở Ngân Châu, thì sẽ được thả về Ngân Châu. Ngày 28 tháng giêng, thủ lĩnh bộ lạc đi đến Ngân Châu yết kiến, có việc gì xin hãy cứ thoải mái mà thương lượng. Không muốn chịu sự cai quản của Ngân Châu chúng ta thì sớm ra khỏi biên giới Ngân Châu, nếu khong có mưu đồ làm phản sẽ bị xét vào tội xâm nhập bất hợp pháp. Đã không đi lại còn vào thành nhận lương là muốn thế nào đây? Đây là nhà ngươi tự muốn chuốc lấy tai họa, đừng có trách đại nhân chúng ta thủ đoạn.
Lộ Phật Tử cúi đầu sát đất, lắc lắc đầu, lúc này đây máu đang trào trong từng huyết mạch của hắn, hắn biết rằng Hạ Châu Lý Quang Duệ tuyệt đối không thể để mất Ngân Châu. Bộ lạc của hắn nằm trong vòng cai quản của họ Lý đã mấy trăm năm, hắn nghĩ Dương Hạo chẳng qua chỉ là nhất thời chiếm được mà thôi, đại quân Hạ Châu mà đến thì Dương Hạo sẽ bị đánh cho tan tác. Do đó mà hắn không muốn đầu hàng Dương Hạo. Đến hôm có tai nạn, Ngân Châu phát chẩn, hắn cũng không khách khí mà dẫn người đến nhận lương. Hắn nghĩ rằng, Dương Hạo ở Ngân Châu thế lực cũng không được lâu, đợi đến khi đại quân của Lý Quang Duệ đến thì bộ tộc của hắn sẽ phất cờ đứng theo hàng ngũ của Lý Quang Duệ, nhất định sẽ được trọng dụng, chứ hắn không hề nghĩ đến ngày hôm nay, dẫn đến họa lớn cho cả bộ tộc, nhưng hối hận thì cũng đã muộn rồi.
Đỗ Lãn Nhi khoát tay, không nhân nhượng mà rằng: “Chém cái đầu chó của hắn!”
Lập tức có một kỵ sĩ xuống ngựa, vung ngọn đao nhuốm đầy máu tươi ra, kỵ sĩ bốn phía dương mắt nhìn chằm chằm, nam nữ trong bộ tộc của Lộ Pháp đều không ai dám có động tĩnh, mắt nhìn về phía những kỵ sĩ. Vị kị sĩ kia hạ đao trong tay xuống, chém thẳng vào đầu Lộ Pháp Tử, dùng tay cầm chỗ tóc của hắn rồi kéo đầu lên.
Đỗ Lãn Nhi nói: “Tất cả vũ khí, bò dê ngựa, cư dân của cải đều lần lượt đem hết về Ngân Châu, nghe lệnh đại soái xử lý”.
Bộ lạc của Lộ Pháp nhanh chóng thất bại sau trận chiến, tất cả đồ đạc đều bị lấy đi sạch trơn, trên thảo nguyên giờ chỉ còn sót lại những vũng máu tươi và những cái xác nằm đó, trông ra phía xa trông giống như một tấm lụa lớn nhuộm hoa đào.
Lần lượt các bộ lạc khác đều dược diễn lại vở kịch đó, Mộc Ân, Mộc Khôi, Ngải Nghĩa Hải mỗi người đều lần lượt phân thành những đội nhỏ, dần dần càn quét hế những bộ lạc không chịu quy thuận ở Ngân Châu. Đồng thời đem tất cả vũ khí, dê cừu và tài sản đem hết về Ngân Châu. Đây cũng được coi là lấy chiến tranh để nuôi chiến tranh. Dương Hạo hiện đang rất cần tiền. Tuy nói rằng Dương Hạo sau khi lập ra Lô Châu rất chú trọng phát triển công thương, tích lũy của cải, lại gom được một lượng lớn của cải ở trong kho phủ của Ngân Châu, đồng thời cũng nhận được sự giúp đỡ của Kế Tự Đường, nhưng tốc độ mở rộng nhanh chóng, lập nên nhiều hệ thống hành chính, chiêu binh luyện binh, mua binh khí và áo giáp, tu sửa thành trì, mua lương thực dự trữ… Mỗi một thứ đều cần đến tiền, tiền tiêu nhanh như nước chảy.
Đặc biệt là việc xây dựng kinh viện ở Lô Châu, trạch thư quán, ấn thư quán, thư viện, con số đầu tư vào không phải là nhỏ, kể cả có một núi vàng thì cũng phải tiêu hết. Mà để thu về thì phải đến một năm, chậm nhất cũng phải mười năm, hai mươi năm mới trở thành hiện thực, muốn nuôi một đội binh lớn như vậy thì phải có thế lực hùng hậu, cách nhanh nhất là đi cướp bóc. Cách cướp bóc này có thể có tác dụng khuất phục được những nhóm người không chịu phục tùng, vậy thì sao lại không làm?
********************
Nguyệt Hoa Cung, Tiêu Hậu đang ngắm đứa con trai trắng mũm mĩm của mình. Nếu như có người nhìn thấy ắt sẽ không thể tin được. Trong con mắt của bọn họ, một hoàng hậu uy nghi vô hạn như vậy thì không thể nào có thể lè lưỡi giả quỷ để trêu chọc đứa trẻ nhỏ, rồi lớn tiếng cười khanh khách với nó như thế.
Đột nhiên đứa bé giướn mắt lên, nắm chặt lấy miệng, cái mũi nhỏ cứ phập phồng, Tiêu Hậu vì vụ việc nước Đường bị tiêu vong vẫn phải để cho nhũ mẫu chăm con, nên cũng không hiểu lắm ngôn ngữ của đứa trẻ. Nàng hiếu kỳ nghiêng ngó khuôn mặt nó, rồi đoán: “Cục cưng, có phải là muốn đi tè không?”
Mặt đứa bé đột nhiên giãn ra, đôi mắt sáng trở lại “Ai da, ai da”, Tiêu Hậu phi vội vàng tránh ra nhưng vẫn bị cu cậu tè vào tay. Tiêu Hậu vừa tức vừa buồn cười, sẵng giọng: “Tiểu tử thối này, muốn rắp tâm oán mẫu hậu có phải không?”
Tiêu Xước trước nay uôn ưa sạch sẽ, nào ngờ lại bị chính con mình tè vào, nàng vội lấy khăn lau sạch rồi đích thân thay tã cho nó. Đột nhiên bọn cung nữ vội chạy vào, đứng cạnh nàng hạ giọng nói: “Thái Hậu nương nương, Tây Vực có mật thư”.
“Hả” Mắt Tiêu Xước sáng lên, vội vàng đón lấy bức thư được đưa tới, dặn dò bọn cung nữ: “Hoàng thượng đi tiểu, gọi người vào thay quần áo cho người”.
“Dạ”
Tiêu thái hậu vội vàng quay lại thư phòng của mình, dùng dao mở lá thư, lấy từ trong ống tre ra một lá thư được gập lại, trên mặt lộ vẻ nửa cười nửa không: “Hừ, ngươi quả là biết chừng mực, trước nay không bao giờ đưa ra yêu cầu quá mức với ta”.
Nàng ngẩng đầu nhìn nhũ mẫu đang bận rộn ở phòng bên, lập tức đứng lên dặn dò: “Triệu Gia Luật Thể vào cung, gặp ta ở chính điện”.
Tại chính điện, Gia Luật Thể đã đến, hắn đoán chừng có việc gì gấp nên thái hậu mới gọi hắn vào gấp như vậy. Nay vua mới còn nhỏ tuổi, nội chiến ở Khiết Đan nổi lên không ngừng, chính sách của triều đình là nghỉ ngơi dưỡng sức. Duy hệ căn bản, không bưng bít, ngoại không chiến tranh, nội an ủi trăm bộ lạc, vị trí đại tướng thống lĩnh quân đội của hắn đúng là không có đất dụng võ.
Ngoài cung điện đã có tiếng truyền, Tiêu thái hậu đã đến. Tiêu Xước ngồi trên ngai, trong cung chỉ có duy nhất một người được gọi vào hội kiến, ắt cũng không phải là chuyện đùa. Gia Luật Thể chỉ nghe một tiếng lập tức đi tới trước ba bước, quỳ xuống hô lớn: “Thần Gia Luật Thể xin được yết kiến Thái hậu nương nương”.
Mắt hắn chỉ nhìn thấy áo bào của thái hậu như lóe sáng, còn mũi hắn thì ngửi thấy một mùi hương nhè nhẹ, tiếng nói của Tiêu hậu văng vẳng bên tai hắn: “Luật Thể đại nhân miễn lễ, bình thân”.
Sau khi Tiêu Xước đến bên án ngồi xuống, Gia Luật Thể cũng bước tới, cung cẩn nói: “Thần phụng chỉ đến, không biết thái hậu có điều gì dặn dò”.
Tiếng của Tiêu Xước như xé gió nói: “Luật Thể đại nhân, người điều binh của bộ tộc, cùng với một phần binh mã của Ngũ Kinh đến Vũ Thanh, Vĩnh Thanh, Hưng Thành vận động, thanh thế phải ngày càng lớn. Ngẫu nhiên qua sông Bạch Câu, Cự Mã, vào đến địa phận nước Tống cũng không có vấn đề gì”.
Gia Luật Thể giật mình kinh ngạc, thái hậu thì lại mỉm cười nói: “Không cần phải lo tìm danh nghĩa làm gì, cứ nói là phần tử xấu của Đức Vương chạy trốn sang nên triều đình phái quân truy bắt. Có điều lý do này không cần phải lộ ra, đợi đến khi sứ giả nước Tống đến nói chuyện mới lộ mặt”.
Gia Luật Thể cho rằng nước Tống sẽ dụng binh với Khiết Đan, hoặc là Khiết Đan sẽ dụng binh với nước Tống, nghe Tiêu Xước nói như vậy, hắn không thể hiểu nổi, không nén được mà rằng: “Thái hậu, thái hậu có ý gì vậy? Thần vẫn chưa rõ ý của người. Trong lòng có thắc mắc thần phải được giải đáp mới thấy thoải mái, để tránh xảy ra sai sót, làm hỏng chuyện của thái hậu”.
Tiêu Xước nói: “Nước Tống muốn dụng binh với nước Hán rồi, trẫm muốn khanh làm chỉ là để nước Tống kiềm chế lại, kéo dài thời gian, đợi đến khi ta nắm tốt rồi thì không thể không dụng binh với Tống”.
Gia Luật Thể ngạc nhiên nói: “Không phải thái hậu đã có quốc thư, hứa rằng sẽ không can thiệp vào chuyện của Tống phạt Hán hay sao? Hay là người đã thay đổi chủ ý, muốn bảo vệ nước Hán?”
Tiêu Xước lắc đầu: “Nước Hán vốn là một miếng bánh hỏng, không gì có thể đỡ nổi. Cứ cho là không hề có quốc hư thì tr ẫm cũng không có ý định can thiệp vào việc Tống dụng binh với Hán, hành động này chỉ là tranh thủ ít thời gian cho Dương Hạo ở Ngân Châu, Tây Bắc e rằng sắp có đại chiến rồi”.
Nhắc tới tình địch, Gia Luật Thể không khỏi không thoải mái: “Thái hậu, những ngày trước phạt thành Ngân Châu, thần đã bị tổn thất lục viện mà Dương Hạo chỉ việc ngồi hưởng thành quả, dành được Ngân Châu. Nay chúng ta còn giúp hắn như thế là vì lẽ gì?”
Tiêu Xước liếc đôi mắt đẹp của mình, nghiêm túc nói: “Phạt Ngân Châu, nếu như không có kế hoạch phá thành của Dương Hạo thì chúng ta còn thiệt hại nặng hơn là lục viện, cũng không chắc sẽ có được thành Ngân Châu đâu. Cái chúng ta cần không phải là lĩnh công. Nước Hán ngày một điêu linh, đa không thể đem lại lợi ích cho nước Tống nữa rồi. Ở Tây Bắc, chúng ta bắt buộc phải thiết lập một thế lực nâng đỡ. Triệu Quang Nghĩa đã cấu kết với Lý Quang Duệ, ngoài Dương Hạo ra thì chúng ta có thể dùng ai được đây? Gia Luật Thể đại nhân, trẫm hết sức coi trọng ngươi nên mới giao cho ngươi việc này, ngươi phải công tư phân minh đó”.
Tâm tư Gia Luật Thể đã bị thái hậu nhìn thấu, hắn không giấu được thẹn thùng, liền chắp tay vâng dạ nói: “Thái hậu dạy phải, thần đã biết sai rồi”.
*************************
Dương Hạo bận rộn cả một ngày, tinh thần mệt mỏi quay về phủ, ngồi nghỉ ở Hoa đình. Diệu Diệu và Oa Oa lập tức chạy lại, người thì dâng trà, người thì lại ngồi bên hắn, đặt chân hắn lên đùi mình rồi nhẹ nhàng đấm bóp.
Dương Hạo hớp hai ngụm trà từ tay Diệu Diệu rồi nằm ra ghế, hỏi: “Đông Nhi và Diễm Diễm đâu?”
Diệu Diệu xoa xoa bóp bóp đầu cho hắn, đáp: “Đại nương và nhị nương và đại tiểu thư đang đi tuần quanh thành rồi, ai nấy đều có mang theo binh khí, chung quy cũng đi được gần một canh giờ rồi, chắc cũng sắp quay trở lại”.
Dương Hạo “hừm” một tiếng, nhắm nghiền mắt để hưởng thụ cái nhẹ nhàng mềm mại của hai đôi bàn tay đang xoa bóp cho hắn, rồi lại hỏi: “Oa Nhi, thư trả lời quan gia đã được đưa đi rồi chứ?”
Oa Nhi đáp: “Theo ý của lão gia, nô gia được nhuận sắc một phen, lại cho lão gia sau khi xem xong ấn dấu vào đó, đã ngay lập tức chuyển đến kinh thành rồi”.
Dương Hạo gật gật đầu, không nói thêm gì nữa.
Lửa trong phòng đang cháy rất đượm, ấm áp như mùa xuân. Oa Oa và Diệu Diệu đều mặc một bộ quần áo ôm sát mỏng manh hình chữ Phúc, nom mỏng như cánh ve, Diệu Diệu thì có dáng điệu non nớt thuần khiết, còn Oa Oa lại xinh xắn dễ thương và có khuôn mặt như búp bê. Hai người uyển chuyển lạ thường, bộ ngựa căng phồng như muốn nứt ra, những đường cong mềm mại lả lướt, khiến cho mắt Dương Hạo như nóng rực lên.
Mấy ngày nay bận rộn, Dương Hạo đúng là rất mệt, nay lại được hai mỹ nữ ở bên, hắn đến chớp mắt cũng không dám. Oa Oa không nén nổi khẽ hóm hỉnh nói: “Lão gia mấy ngày nay vất vả rồi, các bộ tộc,các tù trưởng đã lục tục đi rồi, lão gia còn có chuyện gì thì giao cho Phạm đại nhân, Từ đại nhân cũng được, chàng nghỉ ngơi dưỡng sức chút đi”.
Dương Hạo thở dài nói: “Không nghỉ ngơi được, ngày mai ta sẽ bí mật rời khỏi Ngân Châu, Lân Châu, Lô Châu, Phủ Châu, đều phải đi một chuyến. Đại chiến sắp tới rồi, còn cần phải làm nhiều việc quá, mà trời chỉ sinh cho có một cái mạng phàm này…”
Thành Lân châu, từ lúc Hỏa Sơn Vương Cổn tự phong là thứ sự Lân châu, chiếm cứ thành này, thành này lại được gọi là Dương gia thành. Men theo khu vực sông hình lòng chảo ngược dòng lên thượng du bốn mươi dặm, trên một toàn núi cao cao, chính là đại bản doanh Dương gia thành của Lân châu Dương gia.
Gió lạnh gào rít, tuyết lớn tung bay, bốn bề là một mảng mênh mông vắng vẻ, trong khúc sông vắng bóng người ngay cả chim tước cũng khó gặp, lúc này lại có một đám đại hán đeo cung vác tên, hông dắt bội đao đội gió đạp tuyến, men theo lũng sông đã khô cạn mà đi như bay, vó ngựa lộp cộp, nhanh chóng bị gió tuyết cuốn đi, từ xa xa chỉ có thể thấy một hàng bóng đen.
Vào thời tiết lạnh lẽo như thế này, các bách tính đại đa số đều trốn ở trong nhà, người đi lại trên đường rất ít, ngay cả chim tước cũng bay hết, nhưng cũng không có bất kỳ ai chú ý tới hành tung của bọn họ. Đoàn kỵ sĩ này lúc tiến vào trong vòng năm mươi dặm ngang dọc Dương gia thành liền lọt vào thị tuyến của tai mắt của Dương gia. Tin tức nhanh chóng được đưa về Dương gia thành, nhưng lại không có ai bước ra ngăn cản bọn họ, chỉ có hơn năm mươi người, cho dù là cung mạnh ngựa lớn, ai ai cũng thiện chiến thì cũng không thể sản sinh ra uy hiếp gì cho thành Lân châu, cho nên bọn họ rất thuận lợi đi tới dưới thành Lân châu.
Lân châu là một nơi người Hán thống trị người Hồ, người Hồ thống trị người Hán, chư tộc tạp cư, có điều nơi này lấy nông canh làm chủ, kiến trúc thành trì cũng theo phong cách của dân tộc nông canh. Khi tới gần thành Lân châu, bình nguyên phía khúc sôngvây quanh hai bên núi kéo dài ra, bờ ruộng ngang dọc, khi tất cả bị bao bọc trong tuyết lớn, đứng ở dưới chân núi nhìn lên, chỉ thấy một tòa thành hùng vĩ trên đỉnh núi, tường thành được xây từ thời Tần Hán Tùy Đường cùng vớn phong hỏa đài chung quanh đầu tường liền thành một thể chạy dài, dò xét bốn phương tám hướng, nhìn rất là hoành tráng.
Sớm đã có người đợi ở sau cửa thành, đoàn người hơn chục người đó xuống ngựa, dắt ngựa vào thành, đi tới gần nói chuyện một lúc với người được cử ra tiếp đón, đầu thành liền hạ cầu treo xuống, đoàn người nối đuôi nhau tiến vào, chậm rãi đi vào thành bảo, cầu treo lại được kéo lên, vùng sơn dã lại quay về cảnh vắng lặng, chỉ có gió tuyết gào thét.
Trong phòng khách của Dương gia, ống thông bếp xây ngầm dưới đất, cả gian phòng ấm áp dễ chịu, hơi nóng lan tỏa. Dương Sùng mặt mày đầy vẻ kinh ngạc nhìn vị quý khách đặc biệt, mặt đầy phong sương này, nói: "Triều đình đã hạ quân lệnh, ít ngày nữa sẽ xuất binh phạt Hán. Vi huynh đang trù bị việc này, đoán rằng tam đệ cũng bận rộn công vụ, thực sự không ngờ tam đệ lại tới chơi vào lúc này, quả thật là có chút bất ngờ.”
Dương Hạo mỉm cười, nói: "Tiểu đệ tới thăm tất nhiên là bất ngờ, mà đại sự muốn bàn bạc với huynh có thể còn bất ngờ hơn nữa kìa."
Dương Sùng hơi biến sắc, vội vàng nói: "Hiện đệ đi đường cực khổ rồi, nào, chúng ta vào thư phòng ngồi đi, có chuyện gì thì để từ từ rồi nói."
Hai người tiến vào thư phòng, ngồi đối diện nhau, Dương Hạo cầm chén trà nóng, mắt nhìn Dương Sùng, trậm giọng nói: "Nhị ca, đệ đã nhận được lệnh điều động của xu mật viện, ít ngày nữa phải thống binh xuất chinh, lần này cấp bách tới đây bí mật hội kiến huynh trưởng, thực sự là có một chuyện rất quan trọng liên quan tới sự đổi thay của chính cục Tây Bắc muốn thương nghị với huynh."
Dương Sùng thấy vẻ mặt của hắn rất nghiêm tục, cũng không khách sáo nữa, rướn người lên trước, chăm chú bảo: "Hiền đệ nói đi."
Dương gia đối với sự ghé thăm của những quý khách này, bảo trì cơ mật cao độ, trong thành Dương gia không có mấy người biết được quý khách tới thành là ai, ba mươi năm mươi kỵ sĩ vào thành, trong mắt bách tính bình thường, đại khái chẳng qua là võ sĩ bình thường được phái ra ngoài thành di tuần tra trở về mà thôi, cho nên cũng chẳng có ai quan tâm.
Cửa thư phòng của Dương Sùng được đóng rất chặt, qua một tiếng đồng hồ mới được lặng lẽ mở ra.
Dương Hạo cáo biệt rời đi, Dương Sùng tự mình tiễn ra khỏi thành, một đoàn người lại ngựa không dừng vó, vội vàng phóng về phía nam.
"Đại nhân, Dương đại nhân có đáp ứng yêu cầu của đại nhân không?"
Tuyết vẫn đang rơi, gió tuyết gào rít ùa vào mặt, Mục Vũ mở cái khăn che tai mồng miệng ra, đuổi theo Dương Hạo, lớn tiếng hỏi.
Dương Hạo cười lạnh, trầm giọng bảo: "Dương Sùng chung quy bá lực có hạn, ta nhờ hắn tập kết trọng binh, vào lúc binh mã của Lý Quang Duệ vây khốn thành ở Ngân châu, công thủ đều thiếu thì xuất binh công kích, nhưng hắn chung quy vẫn không hạ được quyết tâm chính diện chiến đấu với Lý Quang Duệ. Hắc! Có lẽ Dương Sùng hắn vốn cũng tính là hào kiệt một phương, có điều núp bóng Chiết thị lâu ngày cho nên hào khí đều mai một hết rồi."
Mục Vũ giật mình thốt lên: "Vậy không phải là chỉ có dựa vào thành mà tử chiến ư? Vạn nhất..."
Dương Hạo nói: "Dương Sùng chỉ là dưới dâm uy của Lý Quang Duệ, không dám rời khỏi căn cơ độc lập quyết định thắng bại với Tây Bắc vương, cũng không đến nỗi sợ đầu sợ đuôi một lòng khư khư giữ mình. Hắn đã đồng ý bố trí trọng bình ở khu vực Trường thành, một khi Ngân châu không thể thủ, binh trong thành ta có thể đột vây về phía đông, lúc đó hắn sẽ xuất binh tiếp ứng, tiếp nhận quân dân Ngân châu của chúng ta vào Lân châu."
Mục Vũ thở phào một hơi, nói: "Vậy thì còn đỡ, nếu ngay cả một con đường lui cũng không có, thuộc hạ thực sự là rất lo lắng."
Dương Hạo lại lắc đầu, lớn tiếng nói: "Ta thì rất thất vọng, Đảng Hạng thất thị tuy đã hiệu trung đối với ta, nhưng trong bộ tộc của Đảng Hạng thất thị chắc gì đã không có nội gián của Lý Quang Duệ, tin tức cơ mật thì bọn chúng không thám thính được, nhưng đại đội nhân mã hành quân điều động, hành động bố trí mai phục thì nhất định không giấu được hắn, tác dụng của Đảng Hạng thất thị chỉ có thể bức Lý Quang Duệ phải sử dụng hết tinh nhuệ chứ không thể mang tới sát thương hữu hiệu. Duy có xuất ra nhánh kỳ binh khác, mà nhánh kỳ binh này, ta vốn là hi vọng ở Lân châu Dương Sùng, nếu ta có thể thuận lợi chiếm được Hạ châu, đại quân của Lý Quang Duệ ở bên ngoài, nhánh sinh lực quân này vẫn chưa chịu tổn thất bao lớn, nếu Lân châu vào lúc khẩn yếu quan đầu xuất kỳ binh tương trợ, ít nhất thì cũng có thể ngăn cản được Lý Quang Duệ, lúc này binh mã tam phiên phạt Hán của ta vội vàng quay về tiếp viện, trong ứng ngoài hợp với quân phòng thủ ở trong thành, nói không chừng bằng vào một trận chiến có thể đanh bật được tên Tây Bắc vương Lý Quang Duệ này, Dương Sùng không đủ can đảm, không nỡ bỏ vốn, thả hồ về rừng rồi lại phải thu thập hắn, e rằng là sẽ rất phi sức."
Chiến mã phi nhanh, rời khỏi lòng sông.
Dương Hạo quay đầu ngựa lại, nhìn tòa thành bảo nguy nga meo theo Trường thành, đột nhiên bật cười, lạnh lùng nói: "Chẳng trách Dương gia của hắn một mức ở dưới Chiết gia, lòng dạ lớn bao nhiêu thì trời đất lớn bấy nhiêu, Dương Sùng kiến lập không đủ mà thủ thành cũng hiềm không đủ. Tòa Dương gia thành này từ xưa đã gọi là thành Lân châu, lân giả, kỳ lân, đáng tiếc..."
Hắn vô thức liếc về phía Hán quốc, trong phạm vi tầm mắt có thể lướt tới, toàn là một mảng trắng xóa, trời đất hòa thành một màu, sắc trời càng âm trầm hơn. Dương Hạo quay đầu ngựa lại, vung roi quát lớn: "Tiếp tục lên đường, tới Lô châu."
Quan viên lưu thủ Lô châu từ lúc Dương Hạo chuyển trọng tâm thống trị sang Ngân châu thì rất là thanh nhàn, nhưng trong khoảng thời gian này thì đặc biệt bận rộn, các loại công tác chuẩn bị rút quân dưới tình huống mà bách tính bình thường không biết gì đang được khua chuông gióng trống chuẩn bị.
Xưởng chế tạo vũ khí ở hậu sơn đã hoàn toàn đóng cửa, tất cả thợ thủ công, học đồ, máy móc, dưới sự dẫn dắt của Lý Hưng, toàn bộ do một nhánh quân đội hộ tống đi, hiện giờ đã di chuyển tới sâu trong Trà sơn. Lần di dời này, Dương Hạo đã không định lại chuyển bọn họ về nữa. Quặng sat mà bọn họ sử dụng vốn là từ Trà Sơn đưa tới, phí vận chuẩn rất lớn, hiện giờ một giải từ Lô châu tới Ngân châu đều nằm trong sự khống chế của hắn, xưởng chế tạo quân giới có thể trực tiếp xây ở Trà sơn, không cần phải lưu lại đây nữa. Đồng thời, quân đội tiếp nhận huấn luyện ở Lô châu cũng bí mật tiến hành tập kết, tùy thời chuẩn bị nhổ trại khởi hành tới Ngân châu để tăng cường phòng ngự cho Ngân châu. Ở giữa Lô châu và Ngân châu, nếu nhất định phải lựa chọn lấy hay bỏ, Dương Hạo không nghi ngờ gì nữa sẽ lựa chọn Ngân châu. Tuy nói Lô châu là nơi phát tài của hắn, nhưng nơi này vốn không thích hợp để làm một tòa thành trì nhằm tiến hành mở rộng và phát triển không ngừng, chỉ giao thông thôi cũng là một vấn đề lớn làm hạn chế tới sự phát triển rồi.
Nếu như đóng ở đây, cũng chính là bị nhốt ở đây, nông nghiệp chăn nuôi không thể thành chủ lưu, mà công thương nghiệp cũng chỉ chiếm được hoàn cảnh đặc thù, lợi thế vị trí đặc thù, hiện giờ Dương Hạo và hai nhà Chiết, Dương đã chính thức kết minh, Đảng Hạng thất thị cũng cờ xí liên minh ngả về phía Dương Hạo, Lô châu đã kết thúc sứ mạng lịch sử của nó rồi, ưu thế vốn có đã không còn nữa.
Còn bách tính Ngân châu, Dương Hạo tạm thời vẫn không định kinh động, để tránh dẫn tới sự chú ý của người khác. Án chiếu theo lẽ thường, Ngân châu là nơi mà Lý Quang Duệ tất phải đòi lại, Lý Quang Sầm vốn là nhân vật là Lý Quang Duệ ắt phải diệt trừ, thành này người này hiện giờ đều ở Ngân châu, khả năng hắn chia binh đánh Lô châu hoặc là trước tiên tới công đánh Lô châu cơ hồ là không có, ai mà không hiểu dùng binh quý ở thần tốc? Cho dù Lý Quang Duệ muốn đánh Lô châu, đó tất nhiên cũng là chuyện sau khi hắn công hãm được Ngâu châu đã.
Nhưng không sợ nhất vạn, chỉ sợ vạn nhất, phòng bị tất yếu thì vẫn phải có, nếu Hạ châu thật sự phát binh đánh Lô châu, không thể hấp tấp ứng chiến được, như vậy sẽ làm hại tới bách tính. Cho nên các quan viên dân chính đã bắt đầu thực hiện các bước chuẩn bị rút lui, sản phẩm công thương và dê bò vật tư còn tồn đọng và thậm chí là bãi chăn nuôi của Lô châu cũng đã toàn bộ được dời tới Ngân châu. Dương Hạo vốn định xây dựng Ngân châu trở thành trọng tâm kinh tế của hắn, làm như vậy cũng không đến nỗi quá khiến người khác chú ý. Đồng thời bọn họ cũng làm ra một lượng lớn xe ngựa xe bò, người không biết tình hình còn cho rằng đây là có nhiều vật tư phải bắt đầu vận chuyển, trên thực tế là để chuẩn bị cho cuộc rút lui với quy mô lớn, một khi binh mã Hạ châu công đánh Lô châu, các bách tính có thể rút lui gọn nhẹ, nhanh chóng rút tới cảnh bội Phủ châu.
Chùa Khai Bảo, trong sân của Đạt Thố Lạt Ma.
Một gian thiện phòng, hương định thần tỏa khói lượn lờ, một tăng nhân trọc đầu mặc cà sa màu đỏ đang khoanh chân nhập định, hơi thở kéo dài.
Cửa được mở ra, một đôi giày da hươu nhẹ nhàng giẫm lên tuyết hoa tung bay ngập trời bước vào, một bóng mặc áo lông thú mày trắng cộc tay hiện ra.
Nàng ta đứng ở ngoài cửa, nhìn tăng nhân đó một cái, tăng nhân khoanh chân ngồi trên bồ đoàn, hai tay đặt lên đầu gối. Nếu như không phải là theo sự hô hấp của hắn mà ngực không ngừng phập phồng, thì thật sự có thể bị người ta coi là một pho tượng Phật được đúc bằng đồng rồi.
Trúc Vận cắn môi nói: "Người của Phi Vũ đều đi rồi, một giáo viên như ta hiện giờ cũng không còn gì làm, ngày mai... phải tới Ngân châu rồi."
Hòa thượng đó vẫn bất động, Trúc Vận nhướn mày, rồi lại chậm rãi bình thản hỏi: "Ngươi có bằng lòng cùng tới Ngâu châu với ta không?"
Hòa thượng vẫn bất động, ánh mắt của Trúc Vận từ từ chuyển về phía bức tường, trên tường treo một bức Đường tạp. Đó là một bức Đường tạp làm bằng tơ lụa, lấy ngọc trắng làm trục ngang, ba cạnh còn lại thì bên mép điểm trân châu, lộ ra vẻ quý giá dị thường, trên Đường tạp được che một lớp lụa mỏng khiến người ta không thể nhìn rõ nội dung của bức tranh.
Nhưng Trúc Vận biết bên trên đó vẽ cái gì, đó là họa tượng của một ni cô, một ni cô trẻ tuổi, mặt mày như tranh, thanh thuần như nước. Họa tượng vẽ rất sinh động, vẻ mặt thẹn thùng lại mang theo sợ hãi đó đã làm nổi bật ra hết vẻ ôn nhu và thiện lương của nàng ta. Khi Trúc Vận lặng lẽ tiến lại gần thì nhìn thấy hòa thượng đó đã đứng trước Đường tạp, vén tấm lụa mỏng che bên trên ra, nhìn chằm chằm vào họa tượng, rơi nước mắt gọi tên ni cô đó: "Thủy Nguyệt, Tĩnh Thủy Nguyệt...."
Trúc Vận rất cảm phục sự si tình của hắn, chính bởi vì phần si tình này của hắn, Trúc Vận từ một người không biết ái tình là gì đã lần đầu tiên động lòng với một nam nhân. Nhưng nàng ta lại cũng rất thống hận sự si tình của hắn, từ năm mười hai tuổi lần đầu tiên giết người, nàng ta đã thấy qua quá nhiều sinh tử, tưởng nhớ người thân đã mất thì không có gì sai cả, nhưng không cần phải vì một người đã chết mà khiến một người đang sống cũng biến thành sống dở chết dở.
Trúc Vận nghĩ thông nhưng lại không thể khuyên bảo được Bích Túc, càng không biết nên thổ lổ một phần tình cảm mới phát sinh của mình đối với hắn như thế nào. Hắn ta há lại không biết tình ý của mình đối với hắn? Nhưng mình sao lại đi tranh đoạt trái tim hắn với một nữ nhân đã mất rồi?
Trong thiện đường vô cùng yên tĩnh, hương định thần bốc khói xanh nghi ngút, tỏa hương vị khiến tâm trí được tĩnh lặng ra khắp cả thiện phòng. Hai mắt của Trúc Vận chầm chậm dấy lên một lớp sương mù, nàng ta cắn chặt môi, nàng ta đã rất lâu rồi không khóc, hiện tại cũng không muốn mất mặt, đặc biệt là trước mặt một nam nhân hỗn trướng, nàng ta đột nhiên quay người bỏ đi.
"Trúc Vận cô nương!" Hòa thượng đó đột nhiên lên tiếng, hai mắt mở ra, ánh mắt trong veo, thân nhàn khí định, bảo tướng trang nghiêm. Bích Túc ngày trước là kẻ trộm tài trộm sắc, ở thiện viện của chùa Khai Bảo này tung hành một ngày một đêm, tiềm tâm Phật đạo, thần tình khí chất không ngờ đã có biến hóa thoát thai thoát cốt, bất kỳ ai nhìn thấy hắn đều sẽ không còn chú ý tới dung mạo thanh tú, khuôn mặt giống như nữ tử khóc cười của hắn nữa mà sẽ bị khí chất thần thánh trang nghiêm của hắn làm cho chấn động. Tay chắp thành hình chữ thập, chậm rãi nói: "Niệm Nguyệt hiện giờ đã dứt bụi trần, mỹ ý của cô nương, bần tăng xin tâm lĩnh."
Trúc Vận dừng chân một lúc lâu rồi đột nhiên cười lạnh một tiếng, giống như một cơn gió biến mất ở ngoài cửa, chỉ có gió thổi tuyết phất phơ bay xuống, nhẹ nhàng che đi dấu chân mờ mờ của nàng ta.
…
"Hoạt Phật, lần này ta dẫn binh phạt Hán, Hạ châu tám chín phần mười sẽ tới đánh ta, hiện giờ ta đã đưa nghĩa phụ tới Ngân châu rồi, chắc rằng Lô châu cũng chẳng có vật mà hắn muốn nữa, chưa chắc sẽ động binh với nơi này. có điều không sợ nhất vạn, chỉ sợ vạn nhất, sự an nguy của Hoạt Phật là quan trọng, bản soái đã an bài khoái mã và xa giá rồi, lại lệnh cho mật thám tỏa ra khắp nơi, giám thị nhất cử nhất động của Hạ châu, nếu Lý Quang Duệ có ý đồ dụng binh đối với Lô châu, có thể dùng tốc độ nhanh nhất thỉnh Hoạt Phật khởi giá, tạm lánh tới Phủ châu.
Đạt Thốt Hoạt Phật cười sang sảng, nói: "Pháp vương vung tay giành Ngân châu, từ lúc đó, ta đã biết rằng Lý Quang Duệ sớm muộn gì cũng sẽ tới. Pháp vương có biết bao đại sự quân chính phải lo, không cần lo cho ta làm gì. Ta sẽ sống ở trong chùa Khai Bảo này, không đi đâu cả, trong chùa trên dưới có một ngàn năm trăm tăng chúng, cũng đều không thể tan rã được."
Ông ta cười ngạo nghễ, hờ hững nói: "Lý Quang Duệ có cuồng vọng đến mức nào đi chăng nữa thì chung quy cũng là hào cường một phương, lợi hại được mất, hắn chắc biết cân nhắc. Loại chuyện ngu ngốc được không bằng mất, hắn sẽ không làm đâu. Ta dù ở lại đây, chắc rằng hắn cũng sẽ không đụng đến một sợ lông của ta đâu, càng không dám xua binh vào trong chùa Khai Bảo của ta nửa bước, pháp vương cứ yên tâm."
"Cái này..."
Dương Hạo hơi do dự một chút, Đại Thố Hoạt Phật lại nhoẻn miệng cười: "Dịch kinh quán hiện giờ đã xây xong rồi, đã có được hai mươi mốt quyển Phạn kinh, lại có kỹ thuật in ấn mà pháp vương nghiên cứu sáng tạo ra, rất nhất sẽ có thể in ra nhiều bản, ta đã gửi lời mời tới Hoạt Phật ở bốn phương, vào ngày rằm tháng tư, trong thời gian Phật Đản ta sẽ mở lễ khánh chúc ở chùa Khai Bảo, tới lúc đó ta sẽ tặng Phạn kinh mới in cho chư vị Hoạt Phật. Đại sự công đức vô lượng như vậy, vào lúc khẩn yếu quan đầu này, ta tuyệt không rời khỏi đây đâu, pháp vương đừng khuyên nữa.
Còn nữa, trạch thư quán, ấn thư quán, tàng thư quán của ngài cũng không cần phải di dời, chúng đều được xây ở trong chùa Khai Bảo của ta, lão nạp sẽ bảo đảm cho sự an toàn của chúng. Ha ha, Lý Quang Duệ là một kẻ vũ phu, những thứ này ở trong mắt ta và ngài thì là trân bảo, nhưng Lý Quang Duệ thì chẳng buồn chú ý đâu. Pháp vương có nhiều đại sự phải làm, cứ việc đi làm đi.
Còn chuyện quân chính, người xuất gia như ta không giúp được gì cả, có điều tín đồ Phật của ta rất đông, lão nạp sẽ lệnh cho đệ tử tới Hạ châu, nếu pháp vương thuận lợi giành được Hạ châu,việc an ủi dân chúng, khắc phục hậu quả, bình định địa phương đã có những đệ tử này của ta lên tiếng kêu gọi các tín đồ ở Hạ châu, đối với pháp vương ít nhiều cũng có chút giúp đỡ. Ha ha, có một số chuyện phải dùng đao kiếm mới có thể giải quyết, nhưng có một số chuyện thì đao kiếm chưa chắc đã giải quyết được đâu."
Dương Hạo đứng dậy, cung kính chắp tay thành hình chữ thập, nói: "Vậy thì cám ơn Hoạt Phật rồi."
"Pháp vương không cần phải khách khí."
Tư Âm Hoạt Phật cũng mỉm cười đứng dậy: "Lão nạp còn đợi pháp vương nhất thống tây vực, Mật tông trung thổ của ta sẽ theo còn đường này mà truyền bá ra phương tây, khai hoa kết quả, trải khắp thiên hạ, reo xuống đại công đức bất thế. Ma Hà Già La, Mã Cáp Dát Lạp."
…
Trên sườn núi, trong hầm trú, Trúc Vận một chân giẫm lên ghế, uống cạn một bát rượu lớn, dùng mu bàn tay lau miệng đọng trên khóe miệng, trừng đôi mặt hạnh lên quát ra ngoài: "Là ai lén la lén lút trốn ở bên ngoài thế hả, lăn vào đây cho ta, nếu không đừng trách bản cô nương không khách khí."
Vừa nói cổ tay của nàng ta vừa rồi lên, trong lòng bàn tay đã xuất hiện một thanh phi đao sắc bén.
Dương Hạo theo tiếng hiện thân, hành lễ mỉm cười, nói: "Trúc Vận cô nương, ta vừa mới tới chùa Khai Bảo, Niệm Nguyệt thiện sư ta cũng đã gặp rồi, ài, lúc trước ta vốn muốn mượn Phật pháp để hóa giải sát khí trong người hắn, thực không ngờ..."
Đao trong tay Trúc Vận đã không thấy đâu, nàng ta đưa tay ra, ngăn không cho Dương Hạo nói tiếp, hừ lạnh bảo: "Niệm Nguyệt niệm kinh cái rắm ý, đừng có nói với ta, làm bẩn tai bản cô nương."
Dương Hạo không khỏi nghẹn lời, Trúc Vận cầm bình rượu lên, rót một bát đầy, vỗ ngực nói: "Đừng có nói những lời vô thưởng vô phạt với ta nữa, ngươi nếu uống rượu thì bản cô nương hoan nghênh, nếu cho rằng bản cô nương đang ở đây khóc lóc, tìm chết tìm sống thì biến đi cho, Cổ Trúc Vận đời này không bao giờ sống kiểu như vậy đâu!"
Dương Hạo xoa xoa mũi, Trúc Vận lại hỏi hắn: "Sao? Có uống hay không đây?"
Dương Hạo cười rất thoải mái, bước tới ngồi đối diện với Trúc Vận, lớn tiếng nói: "Được, uống thì uống, bát đâu?"
Trúc Vận không vui trợn mắt lườm hắn: "Để làm gì, dùng bát mà ta đã uống thì không được à? Cùng với một con ma men thì giảng đạo ý làm gì?" Dương Hạo thấy nàng ta đã ngà ngà say, chỉ đành nghe lời cầm bát lên, vừa đưa tới miệng thì đột nhiên nói với vẻ lo lắng: "Trúc Vận cô nương, tửu phẩm của cô có tốt không đó?"
"Để làm gì?"
"Cô nếu uống sau rồi thích đánh nhau, vậy bản thái úy có thể phụng bồi, nhưng nếu uống say rồi lại khóc khóc cười cười, thở ngắn than dài rồi lại cứ bắt ta ngồi nghe cố sự thì ta thực sự là không có thời gian đâu."
Trúc Vận bật cười, bỏ cái chân đang đặt trên ghế xuống rồi ngồi xuống, vỗ ngực nói: "Ngươi yên tâm đi, tửu phẩm của bản cô nương so với ngươi thì tốt hơn nhiều, ta sau khi uống say không khóc cũng không làm loạn, so với lúc tỉnh thì còn nhã nhặn hơn cả trăm lần, người vẫn không tin lời cha ta nói ư?"
Dương Hạo thấy yên tâm rồi, hắn bảo: "Vậy thì tốt, vậy thì tốt, nào, ta trước tiên kính cô một chén." Nói xong liền cầm chén lên uống cạn.
Trúc Vận vui vẻ khen: "Thế mới là đàn ông chứ, bình thường ngươi ngồi ở cửa nha môn ra vẻ đạo mạo lắm, bản cô nương nhìn chẳng vừa mắt chút nào. Nào, ta tiếp ngươi một chén."
Nàng ta cầm binh rượu lên rót đầy một bát, tự mình uống cạn sau đó lại đổ đầy, đẩy tới trước mặt Dương Hạo, rất hào sảng, nói: "Tới lượt ngươi!"
Dương Hạo cầm bát lên, đưa bát lên tới miệng thì lại bỏ xuống. Trúc Vận trừng mắt lên, nói: "Sao?"
Dương Hạo nói: "Kỳ thực, ta tới chùa Khai Bảo là.... là có một việc muốn nhờ cô giúp đỡ, về sau lại sợ cô tâm tình không tốt cho nên định để sau. Nhưng ta hành trình vội vàng, sáng sớm ngày mai phải về Ngân châu rồi, nhất thời bán hội không tìm được nhân thuyển tốt, bởi vì nữ tử bình thường rất coi trọng thanh danh, sợ là sẽ không tình nguyện. "
Trúc Vận thấy phiền phức, bảo: "Là một đại nam nhân sao lại ấp a ấp úng như đàn bà vậy, rốt cuộc là có chuyện gì, ngươi nói ra mau đi, làm ta sốt ruột muốn chết rồi đây này."
Dương Hạo vẻ mặt ngưng trọng, nói: "Là thế này, người mà không tính xa thì ắt gặp lo gần. Bốn phủ Ngân, Lân, Lô, Phủ hợp tung, cục diện chỉ hạn chế ở cái xó Tây Bắc, chung quy cũng khó thành đại khí, chiến tuyến này vẫn phải tiếp tục mở rộng về phía nam mới được. Ta có một chuyện tốt nhất để huynnh đệ tiểu Lục và Thiết Ngưu của ta đi làm, nhưng bọn họ nếu rời đi, ngoài mặt sẽ không thể tiếp tục bảo trì mối quan hệ hiện tại với ta, để tránh vạn nhất bị người ta vạch trần thân phận, ta đã tìm ra một cái cớ hợp lý để "đuổi" họ đi."
"Dừng dừng dừng!" Trục Vận đau đầu không thôi, vỗ trán cầu xin: "Dương đại nhân, đừng có nói dài dòng như vậy với bản cô nương nữa, ta nghe mà đau đầu lắm, ngươi cứ nói với ta, muốn ta làm gì là được rồi."
Dương Hạo cười nói: "Ta là muốn nhờ cô phối hợp chế tạo ra một hiện tượng giả là tiểu Lục và Thiết Ngưu nổi lòng dâm tà, có ý đồ bất chính với cô, sau đó ta sẽ thực hiện quân kỷ một cách nghiêm khắc, cùng với bọn "cắt áo bào đoạn tuyệt tình nghĩa", rồi đuổi bọ họ đi."
"Ồ!" Trúc Vận đột nhiên hiểu ra, vỗ đùi nói: "Ta còn tưởng là đại sự gì chứ? Chỉ có thế thôi à? Không phải chỉ là đóng giả một nữ tử yếu đuối để người ta khi phụ thôi ư? Lúc đi giết người, loại kịch này ta cũng đóng không ít lần, chuyện nhỏ thôi mà, có gì đâu. Chúng ta trước tiên cứ uống rượu thống khoái đã rồi nói sau."
Dương Hạo mừng rơn, vội vàng gọi Mục Vũ vào, dặn dò hắn mấy câu, sau đó cầm bát lên, mặt mày tươi cười nói: "Cạn!"
...
"Đây, đây là nơi nào vậy?"
Dương Hạo hoa mày chóng mắt, chỉ cảm thấy trước mặt tất cả đều đang quay cuồng, hắn cũng biết là ai đang đỡ mình, chỉ cố gắng thì thào hỏi.
Tửu lượng của hắn tuy không tính là tốt, nhưng cũng không đến nỗi tồi, nhưng việc rong ruổi đường dài khiến thể lực bị tiêu hao là điều không thể tránh khỏi, người thân thể cực kỳ mệt mỏi cũng rất dễ say rượu. Dương Hạo hiện giờ mí trên vật lộn với mí dưới, đã sắp ngủ đến nơi rồi, kể ra thì tửu phẩm của hắn cũng rất tốt.
Trúc Vận cô nương tửu phẩm so với hắn còn tốt hơn, uống rượu say rồi còn nhã nhặn hơn cả lúc chưa uống hai mắt sáng lên, nàng ta túm Dương Hạo chân nọ đá chân kia đi về phía trước, vừa đi vừa nói: "Kêu cái gì mà kêu, chúng ta tới bờ sông câu cá nào."
Dương Hạo tuy rằng chân tay đã không nghe theo sự sai bảo, nhưng ý thức vẫn còn chút tỉnh táo, hắn líu cả lưỡi, lắp bắp nói: "Trời trời hình như rất tối rồi thì phải?"
"Tối rồi tối rồi, chúng ta chưa ngủ, chắc cá cũng chưa ngủ đâu?"
Trúc Vận kéo Dương Hạo, đã quẹo vào trong cái ao cỏ lau ở bên ngoài thành Lô châu, phía sau là ba tên gia hỏa lén lút đi theo, một người là thiếp thân thị vệ Mục Vũ của Dương Hạo, hai người kia đương nhiên chính là Loan Đao tiểu Lục và Thiết Ngưu phụng mệnh tới dở trò bất chính.
Bọn họ đã ý đồ bất chính một lần rồi, kết quả là bị đánh cho mặt mũi bầm dập, Thiết Ngư trán thì u lên một cục to như cái bánh báo, giống như là lão Thọ Tinh vậy, trên cái mặt rỗ Loan Đao tiểu Lục thì có một dấu tay đỏ hồng, miệng thì tím xanh một khối. Bọn họ còn chưa kịp nói một câu bẩn thỉu nào thì đã lãnh đủ sự bạo lực của Trúc Vận rồi, kết cục làm phiền nàng ta uống rượu không ngờ lại thê thảm như vậy. Tiểu nữ này uống sau rồi tuy rằng không động tới binh khí, nhưng một đôi phấn quyền thì lại đánh cho hai người đến cả mẹ mình cũng nhận không ra.
Sau đó, Trúc Vận cô nương tửu phẩm càng lúc càng tốt uống sạch cả vò rượu, rồi lôi Dương Hạo từ dưới gầm bàn lên, hưng phấn bừng bừng đòi đi câu cá. Kể ra, so với những hành động đánh đánh giết giết thường ngày mà nàng ta hay làm, câu cá quả thực là một chuyện rất văn nhã, chỉ có điều, lúc này thực sự là hơi tối một chút.
Thiết Ngưu ôm mặt, thảm thương nói: "Trời lạnh như thế này, Trúc Vận cô nương không nên kéo đại nhân đi câu cá, chúng... chúng ta cứ một mực đi theo thế này à?"
"Không đi theo thì biết làm gì." Loan Đao tiểu Lục tức giận hừ một tiếng.
Thiết Ngưu mặt mày khổ não nói: "Vậy... vậy thì theo thôi."
Dương Hạo bị Trúc Vận kéo tới mặt băng, ngồi dựa lưng vào nhau, Dương Hạo cố mở mắt ra nhìn xung quanh, líu lưỡi nói: "Tới rồi à? Cần câu đâu? Móc câu đâu? Đưa cho ta một ít mồi đây!"
Trúc Vận cô nương vỗ trán, cười rất ngô nghê: "Ngươi sao không nói sớm, ta hình như quên mất rồi."
Dương Hạo trượt trên mặt băng, hàm hồ nói: "Vậy... vây cô câu đi, ta đi ngủ trước đây."
"Ngủ cái gì mà ngủ, không cho ngù." Trúc Vận giữ hắn lại: "Hay là chúng ta ngâm thơ đi? Ta rất thích ngâm thơ đó. Khụ! Tuyết lớn đổ ào ào, trắng phau như hoa lau. Ê, ngươi tiếp hai câu đi."
"Khò khò!"
Trúc Vận bĩu môi trông rất thục nữ: "Chẳng ra làm sao cả, ngươi đã bỏ mặc ta thì ta ngồi đếm sao. Tối nay ta nhất định có thể đếm ra hết số sao trên trời, một ngôi, hai ngôi, ba ngôi, bốn ngôi."
Ba người nằm trong ổ tuyết, quay sang nhìn nhau, dở khóc dở cười, Mục Vũ che miệng, lo lắng nói: "Mặt băng có chắc không đấy? Nếu đại nhân rơi xuống hố băng thì làm thế nào đây?"
Thiết Ngưu nói: "Tiểu Lục nhi, chúng ta.... có... có phải phi lễ nữa không?"
Tiểu Lục nhi tức giận nói: "Nàng ta càng say càng nhanh nhẹn, ngươi có bản sự phi lễ người ta không? Ta đang lo là nàng ta liệu có phi lễ với đại ca của chúng ta không kìa?"
Thành Lân châu, từ lúc Hỏa Sơn Vương Cổn tự phong là thứ sự Lân châu, chiếm cứ thành này, thành này lại được gọi là Dương gia thành. Men theo khu vực sông hình lòng chảo ngược dòng lên thượng du bốn mươi dặm, trên một toàn núi cao cao, chính là đại bản doanh Dương gia thành của Lân châu Dương gia.
Gió lạnh gào rít, tuyết lớn tung bay, bốn bề là một mảng mênh mông vắng vẻ, trong khúc sông vắng bóng người ngay cả chim tước cũng khó gặp, lúc này lại có một đám đại hán đeo cung vác tên, hông dắt bội đao đội gió đạp tuyến, men theo lũng sông đã khô cạn mà đi như bay, vó ngựa lộp cộp, nhanh chóng bị gió tuyết cuốn đi, từ xa xa chỉ có thể thấy một hàng bóng đen.
Vào thời tiết lạnh lẽo như thế này, các bách tính đại đa số đều trốn ở trong nhà, người đi lại trên đường rất ít, ngay cả chim tước cũng bay hết, nhưng cũng không có bất kỳ ai chú ý tới hành tung của bọn họ. Đoàn kỵ sĩ này lúc tiến vào trong vòng năm mươi dặm ngang dọc Dương gia thành liền lọt vào thị tuyến của tai mắt của Dương gia. Tin tức nhanh chóng được đưa về Dương gia thành, nhưng lại không có ai bước ra ngăn cản bọn họ, chỉ có hơn năm mươi người, cho dù là cung mạnh ngựa lớn, ai ai cũng thiện chiến thì cũng không thể sản sinh ra uy hiếp gì cho thành Lân châu, cho nên bọn họ rất thuận lợi đi tới dưới thành Lân châu.
Lân châu là một nơi người Hán thống trị người Hồ, người Hồ thống trị người Hán, chư tộc tạp cư, có điều nơi này lấy nông canh làm chủ, kiến trúc thành trì cũng theo phong cách của dân tộc nông canh. Khi tới gần thành Lân châu, bình nguyên phía khúc sôngvây quanh hai bên núi kéo dài ra, bờ ruộng ngang dọc, khi tất cả bị bao bọc trong tuyết lớn, đứng ở dưới chân núi nhìn lên, chỉ thấy một tòa thành hùng vĩ trên đỉnh núi, tường thành được xây từ thời Tần Hán Tùy Đường cùng vớn phong hỏa đài chung quanh đầu tường liền thành một thể chạy dài, dò xét bốn phương tám hướng, nhìn rất là hoành tráng.
Sớm đã có người đợi ở sau cửa thành, đoàn người hơn chục người đó xuống ngựa, dắt ngựa vào thành, đi tới gần nói chuyện một lúc với người được cử ra tiếp đón, đầu thành liền hạ cầu treo xuống, đoàn người nối đuôi nhau tiến vào, chậm rãi đi vào thành bảo, cầu treo lại được kéo lên, vùng sơn dã lại quay về cảnh vắng lặng, chỉ có gió tuyết gào thét.
Trong phòng khách của Dương gia, ống thông bếp xây ngầm dưới đất, cả gian phòng ấm áp dễ chịu, hơi nóng lan tỏa. Dương Sùng mặt mày đầy vẻ kinh ngạc nhìn vị quý khách đặc biệt, mặt đầy phong sương này, nói: "Triều đình đã hạ quân lệnh, ít ngày nữa sẽ xuất binh phạt Hán. Vi huynh đang trù bị việc này, đoán rằng tam đệ cũng bận rộn công vụ, thực sự không ngờ tam đệ lại tới chơi vào lúc này, quả thật là có chút bất ngờ.”
Dương Hạo mỉm cười, nói: "Tiểu đệ tới thăm tất nhiên là bất ngờ, mà đại sự muốn bàn bạc với huynh có thể còn bất ngờ hơn nữa kìa."
Dương Sùng hơi biến sắc, vội vàng nói: "Hiện đệ đi đường cực khổ rồi, nào, chúng ta vào thư phòng ngồi đi, có chuyện gì thì để từ từ rồi nói."
Hai người tiến vào thư phòng, ngồi đối diện nhau, Dương Hạo cầm chén trà nóng, mắt nhìn Dương Sùng, trậm giọng nói: "Nhị ca, đệ đã nhận được lệnh điều động của xu mật viện, ít ngày nữa phải thống binh xuất chinh, lần này cấp bách tới đây bí mật hội kiến huynh trưởng, thực sự là có một chuyện rất quan trọng liên quan tới sự đổi thay của chính cục Tây Bắc muốn thương nghị với huynh."
Dương Sùng thấy vẻ mặt của hắn rất nghiêm tục, cũng không khách sáo nữa, rướn người lên trước, chăm chú bảo: "Hiền đệ nói đi."
Dương gia đối với sự ghé thăm của những quý khách này, bảo trì cơ mật cao độ, trong thành Dương gia không có mấy người biết được quý khách tới thành là ai, ba mươi năm mươi kỵ sĩ vào thành, trong mắt bách tính bình thường, đại khái chẳng qua là võ sĩ bình thường được phái ra ngoài thành di tuần tra trở về mà thôi, cho nên cũng chẳng có ai quan tâm.
Cửa thư phòng của Dương Sùng được đóng rất chặt, qua một tiếng đồng hồ mới được lặng lẽ mở ra.
Dương Hạo cáo biệt rời đi, Dương Sùng tự mình tiễn ra khỏi thành, một đoàn người lại ngựa không dừng vó, vội vàng phóng về phía nam.
"Đại nhân, Dương đại nhân có đáp ứng yêu cầu của đại nhân không?"
Tuyết vẫn đang rơi, gió tuyết gào rít ùa vào mặt, Mục Vũ mở cái khăn che tai mồng miệng ra, đuổi theo Dương Hạo, lớn tiếng hỏi.
Dương Hạo cười lạnh, trầm giọng bảo: "Dương Sùng chung quy bá lực có hạn, ta nhờ hắn tập kết trọng binh, vào lúc binh mã của Lý Quang Duệ vây khốn thành ở Ngân châu, công thủ đều thiếu thì xuất binh công kích, nhưng hắn chung quy vẫn không hạ được quyết tâm chính diện chiến đấu với Lý Quang Duệ. Hắc! Có lẽ Dương Sùng hắn vốn cũng tính là hào kiệt một phương, có điều núp bóng Chiết thị lâu ngày cho nên hào khí đều mai một hết rồi."
Mục Vũ giật mình thốt lên: "Vậy không phải là chỉ có dựa vào thành mà tử chiến ư? Vạn nhất..."
Dương Hạo nói: "Dương Sùng chỉ là dưới dâm uy của Lý Quang Duệ, không dám rời khỏi căn cơ độc lập quyết định thắng bại với Tây Bắc vương, cũng không đến nỗi sợ đầu sợ đuôi một lòng khư khư giữ mình. Hắn đã đồng ý bố trí trọng bình ở khu vực Trường thành, một khi Ngân châu không thể thủ, binh trong thành ta có thể đột vây về phía đông, lúc đó hắn sẽ xuất binh tiếp ứng, tiếp nhận quân dân Ngân châu của chúng ta vào Lân châu."
Mục Vũ thở phào một hơi, nói: "Vậy thì còn đỡ, nếu ngay cả một con đường lui cũng không có, thuộc hạ thực sự là rất lo lắng."
Dương Hạo lại lắc đầu, lớn tiếng nói: "Ta thì rất thất vọng, Đảng Hạng thất thị tuy đã hiệu trung đối với ta, nhưng trong bộ tộc của Đảng Hạng thất thị chắc gì đã không có nội gián của Lý Quang Duệ, tin tức cơ mật thì bọn chúng không thám thính được, nhưng đại đội nhân mã hành quân điều động, hành động bố trí mai phục thì nhất định không giấu được hắn, tác dụng của Đảng Hạng thất thị chỉ có thể bức Lý Quang Duệ phải sử dụng hết tinh nhuệ chứ không thể mang tới sát thương hữu hiệu. Duy có xuất ra nhánh kỳ binh khác, mà nhánh kỳ binh này, ta vốn là hi vọng ở Lân châu Dương Sùng, nếu ta có thể thuận lợi chiếm được Hạ châu, đại quân của Lý Quang Duệ ở bên ngoài, nhánh sinh lực quân này vẫn chưa chịu tổn thất bao lớn, nếu Lân châu vào lúc khẩn yếu quan đầu xuất kỳ binh tương trợ, ít nhất thì cũng có thể ngăn cản được Lý Quang Duệ, lúc này binh mã tam phiên phạt Hán của ta vội vàng quay về tiếp viện, trong ứng ngoài hợp với quân phòng thủ ở trong thành, nói không chừng bằng vào một trận chiến có thể đanh bật được tên Tây Bắc vương Lý Quang Duệ này, Dương Sùng không đủ can đảm, không nỡ bỏ vốn, thả hồ về rừng rồi lại phải thu thập hắn, e rằng là sẽ rất phi sức."
Chiến mã phi nhanh, rời khỏi lòng sông.
Dương Hạo quay đầu ngựa lại, nhìn tòa thành bảo nguy nga meo theo Trường thành, đột nhiên bật cười, lạnh lùng nói: "Chẳng trách Dương gia của hắn một mức ở dưới Chiết gia, lòng dạ lớn bao nhiêu thì trời đất lớn bấy nhiêu, Dương Sùng kiến lập không đủ mà thủ thành cũng hiềm không đủ. Tòa Dương gia thành này từ xưa đã gọi là thành Lân châu, lân giả, kỳ lân, đáng tiếc..."
Hắn vô thức liếc về phía Hán quốc, trong phạm vi tầm mắt có thể lướt tới, toàn là một mảng trắng xóa, trời đất hòa thành một màu, sắc trời càng âm trầm hơn. Dương Hạo quay đầu ngựa lại, vung roi quát lớn: "Tiếp tục lên đường, tới Lô châu."
Quan viên lưu thủ Lô châu từ lúc Dương Hạo chuyển trọng tâm thống trị sang Ngân châu thì rất là thanh nhàn, nhưng trong khoảng thời gian này thì đặc biệt bận rộn, các loại công tác chuẩn bị rút quân dưới tình huống mà bách tính bình thường không biết gì đang được khua chuông gióng trống chuẩn bị.
Xưởng chế tạo vũ khí ở hậu sơn đã hoàn toàn đóng cửa, tất cả thợ thủ công, học đồ, máy móc, dưới sự dẫn dắt của Lý Hưng, toàn bộ do một nhánh quân đội hộ tống đi, hiện giờ đã di chuyển tới sâu trong Trà sơn. Lần di dời này, Dương Hạo đã không định lại chuyển bọn họ về nữa. Quặng sat mà bọn họ sử dụng vốn là từ Trà Sơn đưa tới, phí vận chuẩn rất lớn, hiện giờ một giải từ Lô châu tới Ngân châu đều nằm trong sự khống chế của hắn, xưởng chế tạo quân giới có thể trực tiếp xây ở Trà sơn, không cần phải lưu lại đây nữa. Đồng thời, quân đội tiếp nhận huấn luyện ở Lô châu cũng bí mật tiến hành tập kết, tùy thời chuẩn bị nhổ trại khởi hành tới Ngân châu để tăng cường phòng ngự cho Ngân châu. Ở giữa Lô châu và Ngân châu, nếu nhất định phải lựa chọn lấy hay bỏ, Dương Hạo không nghi ngờ gì nữa sẽ lựa chọn Ngân châu. Tuy nói Lô châu là nơi phát tài của hắn, nhưng nơi này vốn không thích hợp để làm một tòa thành trì nhằm tiến hành mở rộng và phát triển không ngừng, chỉ giao thông thôi cũng là một vấn đề lớn làm hạn chế tới sự phát triển rồi.
Nếu như đóng ở đây, cũng chính là bị nhốt ở đây, nông nghiệp chăn nuôi không thể thành chủ lưu, mà công thương nghiệp cũng chỉ chiếm được hoàn cảnh đặc thù, lợi thế vị trí đặc thù, hiện giờ Dương Hạo và hai nhà Chiết, Dương đã chính thức kết minh, Đảng Hạng thất thị cũng cờ xí liên minh ngả về phía Dương Hạo, Lô châu đã kết thúc sứ mạng lịch sử của nó rồi, ưu thế vốn có đã không còn nữa.
Còn bách tính Ngân châu, Dương Hạo tạm thời vẫn không định kinh động, để tránh dẫn tới sự chú ý của người khác. Án chiếu theo lẽ thường, Ngân châu là nơi mà Lý Quang Duệ tất phải đòi lại, Lý Quang Sầm vốn là nhân vật là Lý Quang Duệ ắt phải diệt trừ, thành này người này hiện giờ đều ở Ngân châu, khả năng hắn chia binh đánh Lô châu hoặc là trước tiên tới công đánh Lô châu cơ hồ là không có, ai mà không hiểu dùng binh quý ở thần tốc? Cho dù Lý Quang Duệ muốn đánh Lô châu, đó tất nhiên cũng là chuyện sau khi hắn công hãm được Ngâu châu đã.
Nhưng không sợ nhất vạn, chỉ sợ vạn nhất, phòng bị tất yếu thì vẫn phải có, nếu Hạ châu thật sự phát binh đánh Lô châu, không thể hấp tấp ứng chiến được, như vậy sẽ làm hại tới bách tính. Cho nên các quan viên dân chính đã bắt đầu thực hiện các bước chuẩn bị rút lui, sản phẩm công thương và dê bò vật tư còn tồn đọng và thậm chí là bãi chăn nuôi của Lô châu cũng đã toàn bộ được dời tới Ngân châu. Dương Hạo vốn định xây dựng Ngân châu trở thành trọng tâm kinh tế của hắn, làm như vậy cũng không đến nỗi quá khiến người khác chú ý. Đồng thời bọn họ cũng làm ra một lượng lớn xe ngựa xe bò, người không biết tình hình còn cho rằng đây là có nhiều vật tư phải bắt đầu vận chuyển, trên thực tế là để chuẩn bị cho cuộc rút lui với quy mô lớn, một khi binh mã Hạ châu công đánh Lô châu, các bách tính có thể rút lui gọn nhẹ, nhanh chóng rút tới cảnh bội Phủ châu.
Chùa Khai Bảo, trong sân của Đạt Thố Lạt Ma.
Một gian thiện phòng, hương định thần tỏa khói lượn lờ, một tăng nhân trọc đầu mặc cà sa màu đỏ đang khoanh chân nhập định, hơi thở kéo dài.
Cửa được mở ra, một đôi giày da hươu nhẹ nhàng giẫm lên tuyết hoa tung bay ngập trời bước vào, một bóng mặc áo lông thú mày trắng cộc tay hiện ra.
Nàng ta đứng ở ngoài cửa, nhìn tăng nhân đó một cái, tăng nhân khoanh chân ngồi trên bồ đoàn, hai tay đặt lên đầu gối. Nếu như không phải là theo sự hô hấp của hắn mà ngực không ngừng phập phồng, thì thật sự có thể bị người ta coi là một pho tượng Phật được đúc bằng đồng rồi.
Trúc Vận cắn môi nói: "Người của Phi Vũ đều đi rồi, một giáo viên như ta hiện giờ cũng không còn gì làm, ngày mai... phải tới Ngân châu rồi."
Hòa thượng đó vẫn bất động, Trúc Vận nhướn mày, rồi lại chậm rãi bình thản hỏi: "Ngươi có bằng lòng cùng tới Ngâu châu với ta không?"
Hòa thượng vẫn bất động, ánh mắt của Trúc Vận từ từ chuyển về phía bức tường, trên tường treo một bức Đường tạp. Đó là một bức Đường tạp làm bằng tơ lụa, lấy ngọc trắng làm trục ngang, ba cạnh còn lại thì bên mép điểm trân châu, lộ ra vẻ quý giá dị thường, trên Đường tạp được che một lớp lụa mỏng khiến người ta không thể nhìn rõ nội dung của bức tranh.
Nhưng Trúc Vận biết bên trên đó vẽ cái gì, đó là họa tượng của một ni cô, một ni cô trẻ tuổi, mặt mày như tranh, thanh thuần như nước. Họa tượng vẽ rất sinh động, vẻ mặt thẹn thùng lại mang theo sợ hãi đó đã làm nổi bật ra hết vẻ ôn nhu và thiện lương của nàng ta. Khi Trúc Vận lặng lẽ tiến lại gần thì nhìn thấy hòa thượng đó đã đứng trước Đường tạp, vén tấm lụa mỏng che bên trên ra, nhìn chằm chằm vào họa tượng, rơi nước mắt gọi tên ni cô đó: "Thủy Nguyệt, Tĩnh Thủy Nguyệt...."
Trúc Vận rất cảm phục sự si tình của hắn, chính bởi vì phần si tình này của hắn, Trúc Vận từ một người không biết ái tình là gì đã lần đầu tiên động lòng với một nam nhân. Nhưng nàng ta lại cũng rất thống hận sự si tình của hắn, từ năm mười hai tuổi lần đầu tiên giết người, nàng ta đã thấy qua quá nhiều sinh tử, tưởng nhớ người thân đã mất thì không có gì sai cả, nhưng không cần phải vì một người đã chết mà khiến một người đang sống cũng biến thành sống dở chết dở.
Trúc Vận nghĩ thông nhưng lại không thể khuyên bảo được Bích Túc, càng không biết nên thổ lổ một phần tình cảm mới phát sinh của mình đối với hắn như thế nào. Hắn ta há lại không biết tình ý của mình đối với hắn? Nhưng mình sao lại đi tranh đoạt trái tim hắn với một nữ nhân đã mất rồi?
Trong thiện đường vô cùng yên tĩnh, hương định thần bốc khói xanh nghi ngút, tỏa hương vị khiến tâm trí được tĩnh lặng ra khắp cả thiện phòng. Hai mắt của Trúc Vận chầm chậm dấy lên một lớp sương mù, nàng ta cắn chặt môi, nàng ta đã rất lâu rồi không khóc, hiện tại cũng không muốn mất mặt, đặc biệt là trước mặt một nam nhân hỗn trướng, nàng ta đột nhiên quay người bỏ đi.
"Trúc Vận cô nương!" Hòa thượng đó đột nhiên lên tiếng, hai mắt mở ra, ánh mắt trong veo, thân nhàn khí định, bảo tướng trang nghiêm. Bích Túc ngày trước là kẻ trộm tài trộm sắc, ở thiện viện của chùa Khai Bảo này tung hành một ngày một đêm, tiềm tâm Phật đạo, thần tình khí chất không ngờ đã có biến hóa thoát thai thoát cốt, bất kỳ ai nhìn thấy hắn đều sẽ không còn chú ý tới dung mạo thanh tú, khuôn mặt giống như nữ tử khóc cười của hắn nữa mà sẽ bị khí chất thần thánh trang nghiêm của hắn làm cho chấn động. Tay chắp thành hình chữ thập, chậm rãi nói: "Niệm Nguyệt hiện giờ đã dứt bụi trần, mỹ ý của cô nương, bần tăng xin tâm lĩnh."
Trúc Vận dừng chân một lúc lâu rồi đột nhiên cười lạnh một tiếng, giống như một cơn gió biến mất ở ngoài cửa, chỉ có gió thổi tuyết phất phơ bay xuống, nhẹ nhàng che đi dấu chân mờ mờ của nàng ta.
…
"Hoạt Phật, lần này ta dẫn binh phạt Hán, Hạ châu tám chín phần mười sẽ tới đánh ta, hiện giờ ta đã đưa nghĩa phụ tới Ngân châu rồi, chắc rằng Lô châu cũng chẳng có vật mà hắn muốn nữa, chưa chắc sẽ động binh với nơi này. có điều không sợ nhất vạn, chỉ sợ vạn nhất, sự an nguy của Hoạt Phật là quan trọng, bản soái đã an bài khoái mã và xa giá rồi, lại lệnh cho mật thám tỏa ra khắp nơi, giám thị nhất cử nhất động của Hạ châu, nếu Lý Quang Duệ có ý đồ dụng binh đối với Lô châu, có thể dùng tốc độ nhanh nhất thỉnh Hoạt Phật khởi giá, tạm lánh tới Phủ châu.
Đạt Thốt Hoạt Phật cười sang sảng, nói: "Pháp vương vung tay giành Ngân châu, từ lúc đó, ta đã biết rằng Lý Quang Duệ sớm muộn gì cũng sẽ tới. Pháp vương có biết bao đại sự quân chính phải lo, không cần lo cho ta làm gì. Ta sẽ sống ở trong chùa Khai Bảo này, không đi đâu cả, trong chùa trên dưới có một ngàn năm trăm tăng chúng, cũng đều không thể tan rã được."
Ông ta cười ngạo nghễ, hờ hững nói: "Lý Quang Duệ có cuồng vọng đến mức nào đi chăng nữa thì chung quy cũng là hào cường một phương, lợi hại được mất, hắn chắc biết cân nhắc. Loại chuyện ngu ngốc được không bằng mất, hắn sẽ không làm đâu. Ta dù ở lại đây, chắc rằng hắn cũng sẽ không đụng đến một sợ lông của ta đâu, càng không dám xua binh vào trong chùa Khai Bảo của ta nửa bước, pháp vương cứ yên tâm."
"Cái này..."
Dương Hạo hơi do dự một chút, Đại Thố Hoạt Phật lại nhoẻn miệng cười: "Dịch kinh quán hiện giờ đã xây xong rồi, đã có được hai mươi mốt quyển Phạn kinh, lại có kỹ thuật in ấn mà pháp vương nghiên cứu sáng tạo ra, rất nhất sẽ có thể in ra nhiều bản, ta đã gửi lời mời tới Hoạt Phật ở bốn phương, vào ngày rằm tháng tư, trong thời gian Phật Đản ta sẽ mở lễ khánh chúc ở chùa Khai Bảo, tới lúc đó ta sẽ tặng Phạn kinh mới in cho chư vị Hoạt Phật. Đại sự công đức vô lượng như vậy, vào lúc khẩn yếu quan đầu này, ta tuyệt không rời khỏi đây đâu, pháp vương đừng khuyên nữa.
Còn nữa, trạch thư quán, ấn thư quán, tàng thư quán của ngài cũng không cần phải di dời, chúng đều được xây ở trong chùa Khai Bảo của ta, lão nạp sẽ bảo đảm cho sự an toàn của chúng. Ha ha, Lý Quang Duệ là một kẻ vũ phu, những thứ này ở trong mắt ta và ngài thì là trân bảo, nhưng Lý Quang Duệ thì chẳng buồn chú ý đâu. Pháp vương có nhiều đại sự phải làm, cứ việc đi làm đi.
Còn chuyện quân chính, người xuất gia như ta không giúp được gì cả, có điều tín đồ Phật của ta rất đông, lão nạp sẽ lệnh cho đệ tử tới Hạ châu, nếu pháp vương thuận lợi giành được Hạ châu,việc an ủi dân chúng, khắc phục hậu quả, bình định địa phương đã có những đệ tử này của ta lên tiếng kêu gọi các tín đồ ở Hạ châu, đối với pháp vương ít nhiều cũng có chút giúp đỡ. Ha ha, có một số chuyện phải dùng đao kiếm mới có thể giải quyết, nhưng có một số chuyện thì đao kiếm chưa chắc đã giải quyết được đâu."
Dương Hạo đứng dậy, cung kính chắp tay thành hình chữ thập, nói: "Vậy thì cám ơn Hoạt Phật rồi."
"Pháp vương không cần phải khách khí."
Tư Âm Hoạt Phật cũng mỉm cười đứng dậy: "Lão nạp còn đợi pháp vương nhất thống tây vực, Mật tông trung thổ của ta sẽ theo còn đường này mà truyền bá ra phương tây, khai hoa kết quả, trải khắp thiên hạ, reo xuống đại công đức bất thế. Ma Hà Già La, Mã Cáp Dát Lạp."
…
Trên sườn núi, trong hầm trú, Trúc Vận một chân giẫm lên ghế, uống cạn một bát rượu lớn, dùng mu bàn tay lau miệng đọng trên khóe miệng, trừng đôi mặt hạnh lên quát ra ngoài: "Là ai lén la lén lút trốn ở bên ngoài thế hả, lăn vào đây cho ta, nếu không đừng trách bản cô nương không khách khí."
Vừa nói cổ tay của nàng ta vừa rồi lên, trong lòng bàn tay đã xuất hiện một thanh phi đao sắc bén.
Dương Hạo theo tiếng hiện thân, hành lễ mỉm cười, nói: "Trúc Vận cô nương, ta vừa mới tới chùa Khai Bảo, Niệm Nguyệt thiện sư ta cũng đã gặp rồi, ài, lúc trước ta vốn muốn mượn Phật pháp để hóa giải sát khí trong người hắn, thực không ngờ..."
Đao trong tay Trúc Vận đã không thấy đâu, nàng ta đưa tay ra, ngăn không cho Dương Hạo nói tiếp, hừ lạnh bảo: "Niệm Nguyệt niệm kinh cái rắm ý, đừng có nói với ta, làm bẩn tai bản cô nương."
Dương Hạo không khỏi nghẹn lời, Trúc Vận cầm bình rượu lên, rót một bát đầy, vỗ ngực nói: "Đừng có nói những lời vô thưởng vô phạt với ta nữa, ngươi nếu uống rượu thì bản cô nương hoan nghênh, nếu cho rằng bản cô nương đang ở đây khóc lóc, tìm chết tìm sống thì biến đi cho, Cổ Trúc Vận đời này không bao giờ sống kiểu như vậy đâu!"
Dương Hạo xoa xoa mũi, Trúc Vận lại hỏi hắn: "Sao? Có uống hay không đây?"
Dương Hạo cười rất thoải mái, bước tới ngồi đối diện với Trúc Vận, lớn tiếng nói: "Được, uống thì uống, bát đâu?"
Trúc Vận không vui trợn mắt lườm hắn: "Để làm gì, dùng bát mà ta đã uống thì không được à? Cùng với một con ma men thì giảng đạo ý làm gì?" Dương Hạo thấy nàng ta đã ngà ngà say, chỉ đành nghe lời cầm bát lên, vừa đưa tới miệng thì đột nhiên nói với vẻ lo lắng: "Trúc Vận cô nương, tửu phẩm của cô có tốt không đó?"
"Để làm gì?"
"Cô nếu uống sau rồi thích đánh nhau, vậy bản thái úy có thể phụng bồi, nhưng nếu uống say rồi lại khóc khóc cười cười, thở ngắn than dài rồi lại cứ bắt ta ngồi nghe cố sự thì ta thực sự là không có thời gian đâu."
Trúc Vận bật cười, bỏ cái chân đang đặt trên ghế xuống rồi ngồi xuống, vỗ ngực nói: "Ngươi yên tâm đi, tửu phẩm của bản cô nương so với ngươi thì tốt hơn nhiều, ta sau khi uống say không khóc cũng không làm loạn, so với lúc tỉnh thì còn nhã nhặn hơn cả trăm lần, người vẫn không tin lời cha ta nói ư?"
Dương Hạo thấy yên tâm rồi, hắn bảo: "Vậy thì tốt, vậy thì tốt, nào, ta trước tiên kính cô một chén." Nói xong liền cầm chén lên uống cạn.
Trúc Vận vui vẻ khen: "Thế mới là đàn ông chứ, bình thường ngươi ngồi ở cửa nha môn ra vẻ đạo mạo lắm, bản cô nương nhìn chẳng vừa mắt chút nào. Nào, ta tiếp ngươi một chén."
Nàng ta cầm binh rượu lên rót đầy một bát, tự mình uống cạn sau đó lại đổ đầy, đẩy tới trước mặt Dương Hạo, rất hào sảng, nói: "Tới lượt ngươi!"
Dương Hạo cầm bát lên, đưa bát lên tới miệng thì lại bỏ xuống. Trúc Vận trừng mắt lên, nói: "Sao?"
Dương Hạo nói: "Kỳ thực, ta tới chùa Khai Bảo là.... là có một việc muốn nhờ cô giúp đỡ, về sau lại sợ cô tâm tình không tốt cho nên định để sau. Nhưng ta hành trình vội vàng, sáng sớm ngày mai phải về Ngân châu rồi, nhất thời bán hội không tìm được nhân thuyển tốt, bởi vì nữ tử bình thường rất coi trọng thanh danh, sợ là sẽ không tình nguyện. "
Trúc Vận thấy phiền phức, bảo: "Là một đại nam nhân sao lại ấp a ấp úng như đàn bà vậy, rốt cuộc là có chuyện gì, ngươi nói ra mau đi, làm ta sốt ruột muốn chết rồi đây này."
Dương Hạo vẻ mặt ngưng trọng, nói: "Là thế này, người mà không tính xa thì ắt gặp lo gần. Bốn phủ Ngân, Lân, Lô, Phủ hợp tung, cục diện chỉ hạn chế ở cái xó Tây Bắc, chung quy cũng khó thành đại khí, chiến tuyến này vẫn phải tiếp tục mở rộng về phía nam mới được. Ta có một chuyện tốt nhất để huynnh đệ tiểu Lục và Thiết Ngưu của ta đi làm, nhưng bọn họ nếu rời đi, ngoài mặt sẽ không thể tiếp tục bảo trì mối quan hệ hiện tại với ta, để tránh vạn nhất bị người ta vạch trần thân phận, ta đã tìm ra một cái cớ hợp lý để "đuổi" họ đi."
"Dừng dừng dừng!" Trục Vận đau đầu không thôi, vỗ trán cầu xin: "Dương đại nhân, đừng có nói dài dòng như vậy với bản cô nương nữa, ta nghe mà đau đầu lắm, ngươi cứ nói với ta, muốn ta làm gì là được rồi."
Dương Hạo cười nói: "Ta là muốn nhờ cô phối hợp chế tạo ra một hiện tượng giả là tiểu Lục và Thiết Ngưu nổi lòng dâm tà, có ý đồ bất chính với cô, sau đó ta sẽ thực hiện quân kỷ một cách nghiêm khắc, cùng với bọn "cắt áo bào đoạn tuyệt tình nghĩa", rồi đuổi bọ họ đi."
"Ồ!" Trúc Vận đột nhiên hiểu ra, vỗ đùi nói: "Ta còn tưởng là đại sự gì chứ? Chỉ có thế thôi à? Không phải chỉ là đóng giả một nữ tử yếu đuối để người ta khi phụ thôi ư? Lúc đi giết người, loại kịch này ta cũng đóng không ít lần, chuyện nhỏ thôi mà, có gì đâu. Chúng ta trước tiên cứ uống rượu thống khoái đã rồi nói sau."
Dương Hạo mừng rơn, vội vàng gọi Mục Vũ vào, dặn dò hắn mấy câu, sau đó cầm bát lên, mặt mày tươi cười nói: "Cạn!"
...
"Đây, đây là nơi nào vậy?"
Dương Hạo hoa mày chóng mắt, chỉ cảm thấy trước mặt tất cả đều đang quay cuồng, hắn cũng biết là ai đang đỡ mình, chỉ cố gắng thì thào hỏi.
Tửu lượng của hắn tuy không tính là tốt, nhưng cũng không đến nỗi tồi, nhưng việc rong ruổi đường dài khiến thể lực bị tiêu hao là điều không thể tránh khỏi, người thân thể cực kỳ mệt mỏi cũng rất dễ say rượu. Dương Hạo hiện giờ mí trên vật lộn với mí dưới, đã sắp ngủ đến nơi rồi, kể ra thì tửu phẩm của hắn cũng rất tốt.
Trúc Vận cô nương tửu phẩm so với hắn còn tốt hơn, uống rượu say rồi còn nhã nhặn hơn cả lúc chưa uống hai mắt sáng lên, nàng ta túm Dương Hạo chân nọ đá chân kia đi về phía trước, vừa đi vừa nói: "Kêu cái gì mà kêu, chúng ta tới bờ sông câu cá nào."
Dương Hạo tuy rằng chân tay đã không nghe theo sự sai bảo, nhưng ý thức vẫn còn chút tỉnh táo, hắn líu cả lưỡi, lắp bắp nói: "Trời trời hình như rất tối rồi thì phải?"
"Tối rồi tối rồi, chúng ta chưa ngủ, chắc cá cũng chưa ngủ đâu?"
Trúc Vận kéo Dương Hạo, đã quẹo vào trong cái ao cỏ lau ở bên ngoài thành Lô châu, phía sau là ba tên gia hỏa lén lút đi theo, một người là thiếp thân thị vệ Mục Vũ của Dương Hạo, hai người kia đương nhiên chính là Loan Đao tiểu Lục và Thiết Ngưu phụng mệnh tới dở trò bất chính.
Bọn họ đã ý đồ bất chính một lần rồi, kết quả là bị đánh cho mặt mũi bầm dập, Thiết Ngư trán thì u lên một cục to như cái bánh báo, giống như là lão Thọ Tinh vậy, trên cái mặt rỗ Loan Đao tiểu Lục thì có một dấu tay đỏ hồng, miệng thì tím xanh một khối. Bọn họ còn chưa kịp nói một câu bẩn thỉu nào thì đã lãnh đủ sự bạo lực của Trúc Vận rồi, kết cục làm phiền nàng ta uống rượu không ngờ lại thê thảm như vậy. Tiểu nữ này uống sau rồi tuy rằng không động tới binh khí, nhưng một đôi phấn quyền thì lại đánh cho hai người đến cả mẹ mình cũng nhận không ra.
Sau đó, Trúc Vận cô nương tửu phẩm càng lúc càng tốt uống sạch cả vò rượu, rồi lôi Dương Hạo từ dưới gầm bàn lên, hưng phấn bừng bừng đòi đi câu cá. Kể ra, so với những hành động đánh đánh giết giết thường ngày mà nàng ta hay làm, câu cá quả thực là một chuyện rất văn nhã, chỉ có điều, lúc này thực sự là hơi tối một chút.
Thiết Ngưu ôm mặt, thảm thương nói: "Trời lạnh như thế này, Trúc Vận cô nương không nên kéo đại nhân đi câu cá, chúng... chúng ta cứ một mực đi theo thế này à?"
"Không đi theo thì biết làm gì." Loan Đao tiểu Lục tức giận hừ một tiếng.
Thiết Ngưu mặt mày khổ não nói: "Vậy... vậy thì theo thôi."
Dương Hạo bị Trúc Vận kéo tới mặt băng, ngồi dựa lưng vào nhau, Dương Hạo cố mở mắt ra nhìn xung quanh, líu lưỡi nói: "Tới rồi à? Cần câu đâu? Móc câu đâu? Đưa cho ta một ít mồi đây!"
Trúc Vận cô nương vỗ trán, cười rất ngô nghê: "Ngươi sao không nói sớm, ta hình như quên mất rồi."
Dương Hạo trượt trên mặt băng, hàm hồ nói: "Vậy... vây cô câu đi, ta đi ngủ trước đây."
"Ngủ cái gì mà ngủ, không cho ngù." Trúc Vận giữ hắn lại: "Hay là chúng ta ngâm thơ đi? Ta rất thích ngâm thơ đó. Khụ! Tuyết lớn đổ ào ào, trắng phau như hoa lau. Ê, ngươi tiếp hai câu đi."
"Khò khò!"
Trúc Vận bĩu môi trông rất thục nữ: "Chẳng ra làm sao cả, ngươi đã bỏ mặc ta thì ta ngồi đếm sao. Tối nay ta nhất định có thể đếm ra hết số sao trên trời, một ngôi, hai ngôi, ba ngôi, bốn ngôi."
Ba người nằm trong ổ tuyết, quay sang nhìn nhau, dở khóc dở cười, Mục Vũ che miệng, lo lắng nói: "Mặt băng có chắc không đấy? Nếu đại nhân rơi xuống hố băng thì làm thế nào đây?"
Thiết Ngưu nói: "Tiểu Lục nhi, chúng ta.... có... có phải phi lễ nữa không?"
Tiểu Lục nhi tức giận nói: "Nàng ta càng say càng nhanh nhẹn, ngươi có bản sự phi lễ người ta không? Ta đang lo là nàng ta liệu có phi lễ với đại ca của chúng ta không kìa?"
Dương Hạo cùng tiểu Lục nhi và Thiết Ngưu chậm rãi đi tới đám lau sậy, hắn tự mình bôi thuốc kim sang lên vết thương bị roi quất ở trên lưng hai người. Thân hình của hai người vốn rất săn chắc, lại trải qua nhiều phen rèn luyện ở Khiết Đan và Lô châu, càng lộ ra vẻ cường kiện hơn, hai tên thiếu niên vốn mười bảy mười tám tuổi giờ đã thành hán tử cường tráng, chút thương tích này bọn họ vẫn chịu được.
"Tiểu Lục, Thiết Ngưu, hai đệ là huynh đệ kết nghĩa của ta, là người thân tín nhất của ta, từ lúc tới Lô châu, ta tuy là lúc cần người, nhưng lại không đặt trọng trách lên người các đệ, nguyên nhân chỉ có một, hai đệ vẫn còn trẻ tuổi, chưa thể một mình cáng đáng một mặt. Ta hi vọng các đệ theo người khác học được nhiều việc, nhiều thứ, nhưng thời gian không đợi ta, đánh cờ thì luôn phải bày bồ sớm, ta nghĩ đi nghĩ lại, không thấy có người nào hợp lý hơn hai đệ cả."
Trúc Vận tuy rất say, nhưng tỉnh cũng nhanh, tới nửa đêm thì hơi men liền bớt được bảy tám phần, Dương Hạo cũng như vậy, thế là màn kịch "mưu đồ bất chính" nàng ta cũng phối hợp với tiểu Lục và Thiết Ngưu hoàn thành thuận lợi, Dương thái uy "nghe tin liền nổi giận", để nghiêm minh quân kỷ, ở trước mặt mọi người đánh cho hai tên này ba mươi roi, đuổi họ ra khỏi Lô châu.
Tiểu Lục và Thiết Ngưu đã sớm an bài hơn chục thị vệ tâm phúc, dẫn theo ngựa, mang binh khí và kim ngân rời thành Lô châu từ trước về đợi ở trong hố cỏ lau, Dương Hạo công khai trục xuất bọn họ, lại âm thầm đuổi theo, dặn dò những lời cuối cùng.
Tiểu Lục toét miệng cười nói: "Đại ca không cần nói thì bọn đệ cũng hiểu mà, tuy rằng ở Khiết Đan đã từng làm quan, nhưng kỳ thực bọn đệ đều là nhờ vào La Khắc Địch mà được thơm lây, luận về bạn sự, hai chúng ta còn kéo xa lắm. Từ lúc theo đại ca trỏ về, theo việc hành quân bố trận, điều binh khiển tướng, công đánh thành trì, huấn luyện sĩ tốt, hai chúng ta đã học được rất nhiều thứ, lòng yêu quý của đại ca, chúng ta đều hiểu mà.”
"Ừ!" Dương Hạo gật đầu, vung voi ngựa trong không trung, trầm giọng nói: "Đại ca đang bày một bàn cờ, một bàn cờ rất lớn, bàn cờ này phải đặt tại khối đất Tây Vực, minh tranh ám đấu, đọ sức với hào cường các phương. Các ngươi rời xa nơi này, nhưng không phải là một nước cờ loạn, bàn cờ Tây Vực này nếu như đánh tốt. Áp lực mà đại ca phải đối mặt sẽ càng nặng hơn, tới lúc đó càng phải dựa vào sự phối hợp với ngoại tuyến, nếu bàn cờ này đi nhầm, các đệ sẽ là tiền vốn quan trọng để ta đông sơn tái khởi chứ không phải là không có tác dụng gì cả."
Tiểu Lục gật đầu, nói: "Đại ca, bọn đệ đã hiểu rồi."
Dương Hạo nói: "Các đệ lần này đi, tạm thời chiếm lấy một nơi, phất cờ chiêu binh mãi mà, tìm một cơ hội thích hợp, trước tiên gia nhập vào đội ngũ của bọn họ, cố gắng trở thành một thành viên trong hàng ngũ thống soái của họ, sau đó lớn mạnh dần, cuối cùng thì chiếm nhánh đại quân này làm của riêng, ít nhất thì cũng phải thiết lập được bè phái trong nghĩa quân, chiêm lãm một nửa binh mã.
Bạch Lâm đã từ Biện Lương quay về Thục trung, hắn sẽ liên hệ với các đệ, về vấn đề tài lực, tình báo đều sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các đệ. Có hắn âm thầm phối hợp với hai đệ, các đệ phải có biểu hiện thật đặc biệt, và cuối cùng là lật đổ những têm thảo đầu vương đó (trùm cướp chiếm cứ một vùng), trở thành thống soái của bọn họ, cơ hội sẽ có rất nhiều. Có điều, tuy nói thì là vậy, song hoàn cảnh mà hai đệ phải đối mặt cũng hung hiểm và gian khổ như thế nào thì không cần nghĩ cũng biết, các đệ phải có chuẩn bị tâm lý."
Thiết Ngưu hưng phấn nói: "Đại ca yên tâm, từ lúc tới Lô châu, mắt thấy đại ca mỗi ngày đều bận bịu nhiều việc như vậy, hai người bọn đệ đều phát hoảng, có điều cũng biết phân lượng của mình, không dám tùy tiện vơ chuyện vào người, chỉ sợ sẽ làm hỏng đại sự của đại ca. Đại ca giao chuyện này cho bọn đệ, huynh cứ yên tâm đi, việc quan hệ với hảo hán của tam sơn ngũ nhạc, hai đứa đệ nhất định sẽ làm được.
Dương Hạo cười cười, dừng bước, nói: "Được, ta sắp phải về Ngân châu rồi, không tiễn hai đệ thêm được nữa. Huynh đệ, các ngươi đi đường cẩn thận."
Vẻ mặt của tiểu Lục và thiết Ngưu cũng trở nên trang trọng, ôm quyền với hắn, nghiêm nghị nói: "Đại ca, sau này gặp lại!"
Dương Hạo đứng ở trên cánh đồng tuyết, nhìn hai người dẫn hơn chục nhân mã thân tín phi về phía tây nam. Phía trước là Quan Trung, xương sống của thiên hạ, đầu rồng của Trung Nguyên, tám trăm rdm Tần Xuyên tài nguyên giàu có, đế đô đứng đầu trong năm ngàn năm lịch sử, mưu tính Trung nguyên ắt phải bắt đầu từ Trường An, thủ Trường An thì tất phải bắt đầu từ Lũng hữu. Nếu Dương Hạo đi kế hiểm này, nhổ bật căn cơ của Lý Quang Duệ ở Hạ châu, Hà Tây Lũng hữu sẽ nằm trong tay hắn, có thể chân chính trở thành Hà Tây Lũng hữu binh mã đại nguyên soái rồi.
Đại chiến sắp tới, khi phong vân mật bố, Dương Hạo lại bí mật phái hai huynh đệ kết nghĩa của mình tới nơi khác, vượt qua Quan Trung, tới thẳng Tây Vực. Đất Thục hiện giờ đang có một tốp nghĩa quân hiệu xưng có cả chục vạn người, đang đối kháng với quan binh triều đình.
Cho tới khi đám người của tiểu Lục biến mất trên bình nguyên, Dương Hạo mới tung người lên ngựa, phi về hướng ngược lại, tới bên cạnh một dãy núi cách bên trái thành Lô châu hơn mười dặm. Thân quân của hắn đang đợi ở đó, Dương Hạo vội vàng nhìn lướt một cái, ngạc nhiên nói: "Trúc Vận cô nương đâu? Cô ta không phải cũng muốn về Ngân châu ư, người đâu mất rồi?"
Mục Vũ nhịn cười, đáp: "Trúc Vận cô nương nghe nói chúng ta còn muốn tới Phủ châu, sau đó mới quay về Ngân châu, đã tự mình lên đường rồi, không muốn đi cùng với chúng ta. Thuộc hạ cũng không hiểu là ra làm sao cả, vốn còn khuyên cô ta đợi đại nhân về nói một tiếng rồi hẵng đi, nhưng Trúc Vận cô nương đã một mình một ngựa lao đi rồi."
Dương Hạo nhớ tới tửu phẩm tốt của Trúc Vận, không khỏi bật cười ha hả, cao giọng hô: "Chúng ta cũng đi thôi, tới Phủ châu!"
...
Phủ châu, Bách Hoa ổ.
Gặp mặt Dương Hạo, thái độ của Chiết Ngự Huân cũng giống như Dương Sùng, cảm thấy vô cùng kinh ngạc. Lần này phạt Hán, Tống quốc thế ắt sẽ thắng, là chuyện dệt hoa thếm gấm mà thôi, Chiết Ngự Huân cũng định tự mình dẫn binh đi một chuyến, cho nên đang bàn giao sự nghị của Phủ châu cho huynh đệ Chiết Ngự Khanh, không ngờ Dương Hạo lại đột nhiên bái phỏng. Hai huynh đệ đưa Dương Hạo vào phủ, đợi khi nghe Dương Hạo nói rõ ý đến, thỉnh câu phía Phủ châu một khi Hạ châu đánh tới thì hiệp trợ Lô châu sơ tán bách tính, đồng thời bảo hộ họ, Chiết Ngự Huân lập tức đáp ứng ngay.
Tin tức Chiết Ngự Huân cự tuyệt lời cầu hôn phía Hạ châu đã thông qua con đường không chính thức thông tri cho Dương Hạo một cách xảo diệu, cho nên đối với lâp trường của Chiết gia Dương Hạo sớm đã hiểu rõ trong lòng, phản ứng sảng khoái như vậy của Chiết gia cũng nằm trong ý liệu của hắn. Đợi khi chuyện này được an bài xong, Dương Hạo liền cùng hai huynh đệ Chiết Ngự Huân chui vào trong thư phòng, có một số tin tức trọng yếu, trừ hai nhân vật cầm đầu của Chiết gia ra, người khác không tiện nghe.
Dương Hạo vừa vừa rồi nhờ Chiết gia tiếp ứng bách tính Lô châu, chỉ là một loại phòng bị tất yếu, cho dù Lý Quang Duệ vẫn cùng Thổ Phiên, Hồi Hột khai chiến, lợi dụng cơ hội này để đánh hạ Lô châu cũng không phải là không có khả năng, cũng không liên quan tới hạch tâm cơ mật của Dương Hạo. Tới thư phòng, Dương Hạo mới đưa ra hết toàn bộ kế hoạch của mình.
Tuy huynh đệ Chiết gia tung hoành ở Tây Bắc ba mươi năm, nhưng khi nghe thấy kế hoạch lớn gan này của Dương Hạo, cũng líu cả lưỡi. Gan của tên Dương Hạo này thực sự là quá lớn rồi, kế hoạch này tất nhiên có thể đánh cho Hạ châu Lý thị một kích trí mạng, nhưng đồng thời cũng tự dồn bản thân hắn vào tuyệt cảnh, đây là kế đập nồi dìm thuyền, nếu không đánh hạ được Hạ châu, Ngân châu lại mất, vậy thì cơ nghiệp mà Dương Hạo khổ tâm kinh doanh sẽ mất sạch.
Nếu thật sự lâm vào cảnh sơn cùng thủy tận, ra sức đánh một trận thì cũng không hẳn là không thể, nhưng tình hình phát triển thế lực của Dương Hạo cực kỳ tốt, cho dù không diệt được Hạ châu, hắn cũng có vốn cùng Hạ châu chia đều Tây vực, vạch đất mà cai trị. Nếu như vậy, đối với lưỡng phiên Chiết, Dương mà nói thì cũng đạt tới mục đích dự định của bọn họ, cho nên đối với nước đi hiểm này của Dương Hạo, hai huynh đệ từ sâu tận đánh lòng là có ý phản đối, tất nhiên phải không tiếc dư lực mà khuyên bảo hắn, hi vọng hắn vứt bỏ ý nghĩ mạo hiểm này đi, rồi lưu binh khí dùng để đánh úp bất ngờ Hạ châu ở lại Ngân châu, đảm bảo cho Ngâu châu được an toàn, sau đó từ từ mưu tính hậu kế.
Dương Hạo cười sảng khoái, nói: "Hai vị nhân huynh, lúc này muốn khuyên ta thì cũng muộn mất rồi, hiện tại đã là tên lên dây, không thể không bắn. Ta chỉ hi vọng hai vị phối hợp ăn ý trên hai chiến tuyến Hán quốc và Tây vực, hi vọng hành động này có kinh mà không hiểm, sau cùng giành được thành công, tới lúc đó, con quái vật khổng lồ Hạ châu Lý thị cũng chẳng còn cấu thành được uy hiếp trí mạng nào nữa."
Hai huynh đệ mắt thấy Dương Hạo tâm ý đã quyết, chỉ lắc đầu không nói gì, đối với hành động nguy hiểm này của hắn, trong lòng vẫn không đồng ý.
Cơ nghiệp truyền thừa của Chiết gia so với Hạ châu Lý thị thì còn sớm hơn. Cơ nghiệp hai ba trăm năm, nếu muốn bọn họ thành thì nhất thống Tây Vực, bại thì căn cơ mất hết, bọn họ cũng không chịu mạo hiểm như vậy, đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, tất nhiên cảm thấy Dương Hạo không có sự ổn trọng. Có điều Dương Hạo không phải là thuộc quyền của Phủ châu, mà là minh hữu, Dương Hạo khi xuất binh là dùng binh mã của hắn, chỉ cần Chiết gia giúp đỡ rất hữu hạn, bọn họ cũng không tiện xen vào. Hiện giờ chỉ hi vọng Dương Hạo không đến nỗi rơi vào cảnh thất bại nặng nề, phá tan hết cục diện đang tốt đẹp của hắn.
Kỳ thực trong mắt Dương Hạo, trải qua sự chuẩn bị đầy đủ, lại thêm tình thế nội ngoại, tình cảnh của hắn không đến nỗi một khi thất bại thì sẽ không còn sức trở mình. Nếu như không đánh hạ được Hạ châu, Ngân châu cũng chưa chăc đã mất, hắn từng công đánh Ngân châu mấy tháng trời, biết rõ rằng sau khi Dương Kế Nghiệp nhiều lần tiến hành cải tạo Ngân châu, sức phòng ngự của tòa thành trì này đã kinh người tới mức nào.
Nói tới công thành, quân đội của Hạ châu Lý thị đồng dạng cũng không am hiểu lắm, hơn nữa bọn họ đường xa tập kích, cũng không thể mang theo được khí giới công thành cỡ lớn. Dương Hạo lại không dẫn cả mười phần quân đội tới Hán quốc. Những người lưu thủ trong thành đều là tinh nhuệ đích hệ mà hắn từ Lô châu mang đến, chỉ cần không có nội ứng, Ngân châu trong thời gian ngắn tuyệt đối sẽ không bị công hãm, lúc đó hắn đã dẫn binh từ Hán quốc trở về rồi.
Huống chi, hắn phụng chiếu xuất binh công đánh Hán quốc, lãnh địa của mình thì bị Hạ châu công kích, Triệu Quang Nghĩa như vậy khó tránh bị coi là thiên vị Hạ châu, cũng phải tìm cách lấy lại mặt mũi. Ít nhất thì lúc đó hắn cũng tuyết đối sẽ không trói tay trói chân Dương Hạo nữa, Dương Hạo bản thân trong tay cũng có binh, trong ứng ngoài hợp với thủ quân ở trong thành, lại liên lạc với lưỡng phiên Chiết, Dương và Đảng Hạng thất thị bị Lý Quang Duệ tách rời, lo gì không thể giải vây cho Ngân châu.
Nghĩ lui một vạn bước, cho dù mất Ngân châu thì hắn lại đứng vững trên đạo nghĩa, hơn nữa một nửa binh lực được bảo lưu trong tay so với ngày đó trước khi công đánh Ngân châu cũng cường đại hơn nhiều, cái mà hắn thiếu chứ là một căn cứ địa mà thôi, lúc đó Triệu Quang Nghĩa bất kể là như thế nào cũng phải bù đắp cho hắn, nếu như thật sự trở mặt với nhau, vậy hắn chỉ đành dẫn binh vào Khiết Đan, tạm thời đặt chân dọc theo khu vực Minh Đường Xuyên, về công về tư, Tiêu Xước đều sẽ nể mặt hắn, cho dù gần đây từ lúc nhiễu loạn chiến cục Tây Bắc, trên lý do bồi dưỡng một Đại Lý, Tiêu Xước cũng sẽ tận hết khả năng mà giúp đỡ.
Lý Quang Duệ hiện giờ tri kỷ không tri bỉ, nội bộ lại đang ở vào lúc nhân tâm bất ổn, ở trong mắt người hay mạo hiểm giỏi nắm cơ hội mà nói thì quả thật là đáng để mạo hiểm. Thành thì có thể tránh khỏi chinh chiến mấy chục năm, thậm chí là mấy trăm năm, một lần hành động bình định tây bắc, bại thì chẳng qua là trở lại nguyên hình, khôi phục cục diện tự bảo trước khi công đánh Ngâu châu, Dương Hạo cho dù không phải là kẻ thích đánh bạc, nhưng trạn đánh cuộc này, cũng đáng để hắn xuống tay.
Đương nhiên, đây chỉ là kết luận mà Dương Hạo đưa ra sau một phen cân nhắc lợi ích được mất mà thôi, hắn không cho rằng bản thân đang mạo hiểm, mà trên thực tế thì hành động này của hắn quả thật có thành phần mạo hiểm khá lớn. Dương Hạo vốn không phải là có loại tính cách như vậy, cá tính của hắn là gặp sao hay vậy, lúc bất đắc dĩ thì cũng phải tận hết khả năng trước tiên cầu ổn thỏa đã rồi sau đó mới cầu tiến triển.
Chỉ là ngay cả bản thân hắn cũng không biết, Cô dương sát không chỉ âm thầm ảnh hưởng tới tính tình của hắn, khiến hắn dần dần biết thành rất dễ xung động nóng nảy, tính tình như lửa cháy, cũng khiến hắn dần dần có tính xung động, quyết đoán, lòng mang lề lối quyết định, mệnh vận quyết định tính cách, còn loại tính cách này là họa hay là phúc thì hiện giờ rất khó mà nói được.
Ba người thương nghị xong, Chiếu Ngự Khanh bước ra an bài chỗ ở cho Dương Hạo, bởi vì tin tức Dương Hạo tới Phủ châu phải bảo mật tuyệt đối, ngay cả gia sự bình thường Chiết Ngự Khanh cũng không muốn để người khác đi làm. Đợi Chiết Ngự Khanh đi rồi, Dương Hạo mới giả vờ hỏi bâng quơ: "Từ lúc tới Ngâu châu vẫn chưa gặp lại Tử Du cô nương, nàng ấy... hiện giờ còn ở Bách Hoa ổ không?"
Chiết Ngự Huân ngồi thẳng lưng lên, mắt không nhìn nghiêng, bộ dạng thản nhiên như không, nói: "Ặc, Tử Du phục trách sự nghị của Tùy Phong đường của Chiết gia, sắp phải xuất binh rồi nên không thể không tra rõ động tĩnh xung quanh, đặc biệt là phía tây. Hắc, con hổ to đó cho dù đang cắn nhau với đám sói, nhưng phía ta cũng không dám lơ là, Tử Du tới phía đó rồi nếu có thể nghe thấy tin tức cơ mật gì, ta sẽ phái người thông báo cho Phi Vũ của ngươi."
Hiện giờ Dương Hạo và Chiết Ngự Huân đang trong thời kỳ hợp tác với nhau, tin tức cơ cấu tình báo của hai nhà đều dùng chung, vô cùng mật thiết. Chiết Ngự Huân đã nói vậy, Dương Hạo nghe mà không khỏi cảm thấy mất mát, Chiết Ngự Huân ngồi thẳng lưng, tay vuốt râu dao, hàng lông mi như con tằm ở bên mắt phải hơi nhướn lên, dùng khóe mắt quan sát nhất cử nhất động của Dương Hạo, trong lòng thầm sốt ruột: "Đồ ngu, cầu hôn, cầu hôn đo, ngươi mà mở miệng ta đáp ứng ngay, gạo đã chín một nửa rồi đó!"
Dương Hạo cảm thấy mất mát một lúc lâu mới bất mãn nhướn mắt lên, miễn cưỡng cười nói: "Vậy cũng... thật là không may rồi. Sáng sớm ngày mai ta đã phải quay về, đi đường xa nên có chút mệt mỏi rồi, ta... tới khách phòng tắm rửa một phen, nghỉ mơi một lát, buổi tối sẽ cùng đại ca uống một trận."
Chiết Ngự Huân so với hắn còn thất vọng hơn, lười biếng đứng dậy, nói: "Cũng được, hiền đệ mệt rồi, đi nghỉ ngơi trước đi, buổi tối vi huynh để mở tiệc tẩy trần."
...
Trên đỉnh núi Hoa sơn, Trần Đoàn vẫn mặc đạo bào lôi thôi lếch thếch, mí không giương mắt không động, luôn là bộ dạng như ngủ chưa tỉnh, ngồi đối diện với Lữ Động Tân mày kiếm mắt sáng, mặt như quang ngọc nói chuyện vui vẻ dưới một gốc cổ tùng. Hiện giờ đang là ngày đông giá rét, thỉnh thoảng lại có hoa tuyết từ trên không trung rơi xuống, đỉnh núi gió lạnh thấu xương, không thấy một chút ánh nắng nào, nhưng hai người lại vẫn rất tự nhiên.
"Sư phụ, Lư lão tiền bối, mời uống trà." Cẩu nhi bưng khay trà nhẹ nhàng bước tới, Cẩu nhi mặc một bộ đạo bào vừa khít màu hạnh hoàng, môi hồng răng trắng, mặt mày như vẽ, nàng ta đặt khay trà lên bàn đá, ngoan ngoãn gọi.
"Ặc, Cẩu nhi lớn thế này rồi cơ à, ha ha, đã có chút bộ dạng của đại cô nương rồi đó." Lữ Động Tây quay đầu nhìn về phía nàng ta, mỉm cười nói.
Cẩu nhi trên mặt vẫn mang theo nụ cười ngoan ngoãn, trong lòng thì lại không vui. Từ lúc nàng ta tới Hoa Sơn, bối phận cao quý, chẳng có mấy ai dám gọi thẳng tiểu danh của nàng ta, tiểu cô nương dần dần lớn rồi, cũng hiểu rằng nhũ danh của mình không dễ nghe lắm, gọi nàng ta một tiếng Cẩu nhi cũng chỉ có Dương Hạo đại thúc của nàng ta gọi thì nàng ta mới thấy dễ nghe. Người khác, hừ, cho dù là lão bằng hữu của sư phụ thì nàng ta cũng không vui.
Nghe Thấy Lữ Động Tân gọi như vậy, Cẩu nhi trong lòng không vui, đang muốn quay người bỏ đi thì Lữ Động Tân quay đầu lại nói với Trần Đoàn một câu khiến nàng ta phải dừng bước. Lữ Động Tân đang nhắc tới đại thúc Dương Hạo, ở trên núi này nàng ta ngay cả một chút tin tức về đại thúc cũng không nghe thấy, hiện giờ khó lắm mới nghe được tin tức của hắn, nàng ta làm sao nỡ bỏ đi, thế là đứng nguyên tại chỗ một lát rồi quay trở lại, giả vờ vô tình ngồi ở bên cạnh, hai tay giỏng lên lắng nghe.
Lữ Động Tân vừa rồi nói tới để đạo lữ Tĩnh Âm của ông ta tới dạy phu nhân Dương Hạo công pháp nội đan âm dương song tu, Tĩnh Âm với là đệ nhất danh kỹ Lạc Dương, tên là Bạch Mẫu Đơn, vì nàng ta sắc nghệ song tuyệt, cho nên mắt một mực đặt trên đỉnh đầu, bao nhiêu công tử danh môn theo đuổi dưới váy của nàng ta, nhưng vẫn khó mà lọt được vào mắt của nàng ta, về sau Lữ Động Tân vân du tới đây, Bạch Mẫu Đơn đã đem lòng yêu người tu đạo phong lưu lỗi lạc này. Hai người từ đó kết thành đạo lữ, nàng ta cũng rời khỏi thanh lâu, vứt bỏ nghệ danh Bạch Mẫu Đơn, lấy đạo hiệu là Tĩnh Âm, theo bên cạnh Lữ Động Tân, quy ẩn quan ngoại.
Hiện giờ Cẩu nhi đứng ở bên cạnh, Lữ Động Tân tuy hành vi phóng túng, không để ý tới lẽ thường, nhưng dẫu sao cũng là một lão tiền bối, ở trước mặt hai sư đồ nhà người ta, đồ nhi lại là một tiểu nha đầu, không tiện nhắc tới chuyện về phương diện song tu này nữa, thế là liền đổi đề tài: "Người già rồi, đặc biệt hay nhớ tới bạn cũ, trước đây mười năm, hai mươi năm không gặp cũng chẳng sao, hiện tại thì khác rồi, năm trước vừa gặp, giờ đã đặc biệt nhớ nhung rồi. Ta nghĩ, tuy tuổi của ông so với ta thì nhỏ hơn một chút, nhưng đồ tử đồ tôn lại nhiều, ra ngoài một chuyến sẽ khiến người ta nhớ nhung nên ta tự mình tới vậy."
Trần Đoàn mỉm cười nói: "Phong cảnh của Hoa sơn so với Tử Vi sơn ở quan ngoại thì đẹp hơn cả trăm lần, lão hữu cớ sao không chuyển tới Hoa sơn, lão bằng hữu chúng ta không phải là có thể thường xuyên gặp mặt nhau ư?"
Lữ Động Tân mỉm cười lắc đầu: "Hoa Sơn là nơi của Trần Đoàn ông, bần đạo ngẫu nhiên tới chơi một phen thì không sao, nếu ta chuyển tới đây luôn, ông không sợ làm vấy bẩn danh dự của ông sao?"
Trần Đoàn bật cười, nói: "Phàm phu tục tử, để ý tới hắn làm gì."
Cẩu nhi nghe thấy ông ta không nhắc tới Dương Hạo nữa, trong lòng sốt ruột, với tuổi này của nàng ta thì vẫn chưa thạo đối nhân xử thế, rất khó che giấu được bản nguyện của mình, không nhịn được liền hỏi: "Lữ lão tiền bối, vừa rồi ngài nói... Dương Hạo đại thúc làm sao cơ?"
Nhắc tới đồ nhi của mình, Lữ Động Tân không khỏi đắc ý, dương dương tự đắc khen công tích hắn: "Nhắc tới tên đồ nhi đó của ta, cũng thật sự là rất khá. Nhớ lúc mới gặp hắn vẫn chẳng qua là tri phủ Lô châu, hiện giờ... hắc hắc..."
Lữ Động Tận cầm chén trà lên, khiến cho Cẩu nhi hận tới ngứa răng nhưng lại chẳng dám giục giã. Lữ Động Tân khoan thai uống một ngụm trà, rồi vuốt râu nói khoác: "Hiện giờ hắn đã làm quan tới Hoành sơn tiết độ sứ, gia phong Hà Tây Lũng hữu binh mã đại nguyên soái. Tây Bắc chư phiên đều thuộc tiết chế của hắn, tuổi trẻ như vậy mà đã có bản sự đó, phóng mắt nhìn khắp thiên hạ, từ cổ chí kim, cũng chỉ có đồ đệ Thuần Dương Tử của ta mới có được bản sự như vậy."
Lữ Động Tân đã lâu rồi không quan tâm tới chuyện phàm trần, rất nhiều tư duy vẫn còn ở lại thời kỳ Đường triều, luôn cảm thấy làm tiết độ sứ một phương, nghiễm nhiên là chư hầu một phương, đó là chuyện rất đáng nở mày nở mặt. Trần Đoàn sống ở Hoa Sơn, môn hạ đệ tử rất nhiều, đối với chuyện của Trung Nguyên cũng hiểu biết kha khá, nghe thấy liền không đồng ý, không khỏi nhíu mày nói: "Tống từ lúc lập quốc tới nay đã tiếp thu thu giáo huấn thời Đường, đối với tiết độ một phương luôn đề phòng rất kỹ, chỉ sợ lặp lại vết xe đổ thời Đường, há lại có đạo lý lại trồng cho sinh sôi nảy nở, tự tước quyền binh của mình?"
Lữ Động Tân ngẩn ra, kinh ngạc nói: "Là như vậy sao, lúc ta đi trên đường, nghe người trọng tửu quán nói chuyện, mới hiểu được cảnh ngộ hiện tại của đồ nhi của ta, chỉ biết nó giành được Ngâu châu, chiêu binh mãi mạ, thế lực bành trướng, kết đồng minh với lưỡng phiên Chiết, Dương, Hạ châu Lý gia sợ hãi đứng ngồi không yên, cũng không biết được hoàng gia Triệu tống có điều cố kỵ như vậy, đã như thế, hoàng đế của Triệu gia vì sao còn gia phong cho đồ đệ của ta?"
Trần Đoàn ánh mắt chớp đông, vuốt râu không nói gì. Đối với đệ tử khai sơn của mình, lại là dạng đồ nhi ngoan kiếm thể diện cho sư phụ, Lữ Động Tân luôn rất quan tâm, thấy bộ dạng đăm chiêu của Trần Đoàn, Lữ Động Tân không khỏi nóng lòng nói: "Trong quan trường, toàn là những chuyện dơ bẩn đê hèn, nếu không phải như vậy, ta năm đó cũng không cần trúng tiến sĩ mà lại không chịu làm quan. Đồ nhi của ta tính tình rất ngu dốt thẳng thắn, đừng trúng bẫy của người ta là tốt rồi.
Lão gia nhi ông tinh thông thuật bói toán, mau tính giúp ta xem, nếu ta không bảo vệ chu toàn được cho tên đệ tử khai sơn này, Lữ Động Tân tư còn mặt mũi nào mà tiêu dao trên thế gian này nữa?"
Cẩu nhi nghe vậy cũng không khỏi thấy hoảng hốt, giống như Dương Hạo hắn sắp gặp đại họa lâm đầu vậy, vội vàng kéo tay áo Trần Đoàn mà van cầu: "Sư phụ, Dương Hạo đại thúc đối với đồ nhi ơn nặng như núi, đồ nhi lại một mực chưa báo đáp được, xin sư phụ tính cho một quẻ."
Trần Đoàn nhíu mày nói: "Thiên cơ bất khả lộ, tiểu Diệc à..."
"Sư phụ..."
"Được được được, ... cái gọi là thiên cơ, hư vô mờ mịt, ứng vận mà sinh, ứng vận mà biến. Thế nhân ngu muội, ngông cuồng tự ý suy đoán, hoặc nhận sai tính nhầm, hoặc ngộ cầu ngoại vật, kết quả nhầm người nhầm mình. Đồ nhi chớ có dựa vào nó, nếu không e rằng sẽ hại người hại mình đó. "
Cẩu nhi nghe sư phụ lảm nhảm mãi, chỉ cúi đầu vâng dạ, Trần Đoàn lúc này mới nhắm mắt tính toán, Cẩu nhi nín thở nhìn. Một lúc sau, Trần Đoàn đột nhiên thốt lên một tiếng kinh ngạc, Lữ Động Tân không khỏi biến sắc, nói: "Sao hả?"
Trần Đoàn lẩm bẩm nói: "Quẻ đại hung."
"Cái gì?" Khuôn mặt nhỏ nhắn của Cẩu nhi lập tức biến thành trắng bệch, Lữ Động Tân thì vẫn còn nhịn được, chỉ nhìn chằm chằm vào Trần Đoàn, đợi ông ta giải thích.
Trần Đoàn nhắm mắt, vẫn lẩm bẩm: "Hạ khảm thượng ly, ly là hỏa, khảm là thủy, lửa bốc lên trên, nước đổ xuống dưới, hai thứ không tương giao. Ba âm ba dương, lưỡng lưỡng tương ứng. Thủy hỏa không tương dung, sinh tử buộc vào một đường, thiên cơ chính là thiên cơ, khiến người ta khó đoán."
Cẩu nhi run giọng bảo: "Sư phụ, quả này rốt cuộc là có ý tứ gì?"
Lữ Động Tân nhíu mày nói: "Rốt cuộc là quả gì? Thật sự là khó đoán lắm ư, vượt nước qua sông, nước sông không ngược, cái này gọi là vật không thể tận cùng, sinh sôi không ngừng, đặt mình vào chỗ chết mà sống dậy, là hung hay là cát thì đều được."
Cẩu nhi hoang mang hỏi: "Lữu lão tiền bối, một quẻ này của sư phụ ta là có ý tứ gì?"
Lữ Động Tân nói: "Quái tượng này là nói Dương Hạo trước mặt từng bước đều có nguy cơ, hiểm tượng liên tiếp, chính là điềm đại hung. Có điều trong sáu mươi tư quẻ, đây là một quẻ chưa tận sau cùng. Một quẻ này là không có định luận, trong sinh có tử, trong tử có sinh, liên tiếp không ngừng, vòng đi vòng lại, một quẻ này là huyền diệu khó đoán nhất, khiến người ta không thể nắm bắt được."
Cẩu nhi lo lắng nói: "Sư phụ, Dương đại thúc là người tốt, chúng ta nên nhắc nhở thúc ấy, để thúc ấy cẩn thận đề phòng mới đúng. Băng không... bằng không để thúc ấy lên Hoa Sơn của chúng ta, tránh tới khi mọi việc êm xuôi đã rồi hẵng tính?"
Lữ Động Tân cười khổ, nói: "Cẩu nhi, con chưa nghe sư phụ của con nói ư? Quẻ này là biết rõ không thể làm mà vẫn làm, tự bước vào chỗ chết để cầu sinh, mỗi một bước, đều là hắn tự mình bước đi, không thể né tránh, chẳng lẽ chúng ta có thể bắt hắn bỏ đi cơ nghiệp, làm một người nhàn hạ ư? Đây là quẻ sau cùng của sáu mươi tư quẻ, là điểm kết thúc và cũng là điểm khởi đầu, liên tục không ngừng. Là sinh hay là tử, đều ở ngoài ý liệu, chúng ta không thể giúp được hắn, nếu không cho dù con chịu thì người làm sư phụ như ta cũng không chịu ngồi đây nhìn hắn ứng với kiếp nạn đâu."
Trần Đoàn cũng nói: "Đúng vậy, tiểu Diệc à, sư phụ đã nói rồi, cái gọi là thiên cơ, hư vô mờ mịt, ứng vận mà sinh, ứng vận mà biến, biến hóa khó đoán. Thế nhân ngu muội, tự úy suy đoàn xằng bậy, hoặc là nhận sai đoán nhầm, hoặc ngộ cầu ngoại vật, cuối cùng là hại mình hại người, nếu như chúng ta can thiệp lung tung, chỉ sợ sẽ biến khéo thành vụng."
"Sư phụ..."
Trần Đoàn sầm mặt, nói: "Quay về luyện tập công pháp đi, đừng có phân tâm nữa."
Đuổi Cẩu nhi lui xuống xong, Trần Đoàn lắc đầu cười khổ với Lữ Động Tân: "Phàm nhân như ta, vọng tưởng suy đoán thiên cơ, thiên cơ này há lại dễ dàng suy đoán như vậy? Chưa nhìn ra được kết quả, ngược lại hại mình cứ ngờ vực vô căn cứ mà thôi, đây không phải là biến khéo thành vụng ư?"
Lữ Động Tân nghĩ một lát rồi thản nhiên cười rộ lên: "Đồ nhi đó của ta cũng là ứng với thiên cơ mà sinh. Ta không tin rằng, trời cao sinh một thiên cơ xuống, mà lại để hắn tới một cách mạc danh kỳ diệu, để rồi lại đi một cách mạc danh kỳ diệu, một kiếp này đối với hắn không có gì đáng ngại cả.”
Hai người là người xuất gia, trời sinh tính hào hiệp, đối với việc hư vô mờ mịt, chư từng suy nghĩ kỹ càng bao giờ, liền ôm thái độ tĩnh quan kỳ biến, nhưng đối với Cẩu nhi mà nói thì lại khác, mấy câu này của hai người, Cẩu nhi không hề nghe thấy, người lớn luôn cảm thấy trẻ con không hiểu chuyện, không cần phải chuyện gì cũng nói rõ cho nó hay, chỉ cần nói cho nó nên làm thế nào là được rồi. Nhưng trẻ con có tư tưởng của trẻ con, Trần Đoàn nói ra quẻ này có hiện tượng đại hung, lại nói cái gì mà liên tiếp không ngừng, thiên cơ khó đoán, khiến cho nàng ta cảm thấy vô cùng lo lắng. Ở trong lòng nàng ta, Dương Hạo đại thúc sánh ngang với mẫu thân, là người mà nàng ta trân trọng nhất, thế thì làm sao mà yên tâm cho được?
Cẩu nhi quay về động phủ, tâm phiền ý loạn, căn bản không thể nhập định, dứt khoát chạy tới phía sường núi. Nàng ta và Đặng Tú Nhi tuy rằng chênh nhau mấy tuổi, nhưng lại là bằng hữu thân thiết nhất, trong lòng có phiền não, tất nhiên muốn tâm sự với bằng hữu duy nhất của mình. Ai ngờ khi nàng ta vừa tới Tam Thanh quan, hỏi thăm Xuất Vân quán chủ thì biết rằng Đặng Tú Nhi không ngờ nghệ thành xuống núi rồi, vừa mới rời đạo quán không lâu.
Bằng hữu duy nhất cứ vậy mà đi, không ngờ lại không nói với nàng ta một tiếng, Cẩu nhi tâm tình càng xuống thấp, buồn bã đi về tới trước cửa nhà mình thì phía trước bỗng truyền tới tiếng gọi vui mừng: "Tiểu thái sư thúc."
Cẩu nhi đột nhiên quay đầu lại, thấy Đặng Tú Nhi lưng đeo kiếm, khoác bao quần áo, anh tư oai hùng đứng ở dưới gốc cây ở trước nhà nàng ta, Cẩu nhi lập tức vui mừng chạy lại, nói: "Ta còn cho rằng là ngươi đã đi rồi."
Hôm nay thần khí của Đặng Tú Nhi đặc biệt tốt, nàng ta mỉm cười bước tới chào: "Còn chưa gặp tiểu thái sư thúc, ta làm sao không từ mà biệt được, Tú Nhi nhờ được tiểu thái sư thúc chỉ điểm, hiện giờ võ nghệ cũng tính là có chút sở thành, lần này muốn xuống núi đi tìm cừu gia, đặc biệt tới đây chào từ biệt tiểu thái sư thúc."
Thấy nàng ta muốn đi, Cẩu nhi lưu luyến không thôi, tâm sự của mình nhất thời không tiện nói với nàng ta nữa. Hai người nắm tay nói chuyện một lúc, Đặng Tú nhi ngẩng đầu lên nhìn sắc trời, nói: "Thời gian không còn sớm nữa, Tú nhi đi đây, tiểu thái sư thúc bảo trọng."
Nàng ta lui hai bước, long trọng vái một cái, nghiêm nghị nói: "Được tiểu thái sư thúc chỉ điểm kiếm kỹ, Đặng Tú Nhi cảm kích bất tận, đợi Tú Nhi báo được cừu rồi sẽ lại lên núi, khấu tạ tiểu thái sư thúc. Nhìn bóng lưng đã khuất xa của Đặng Tú Nhi, Cẩu nhi không khỏi cảm thấy xúc động, lẩm bẩm: "Đại thúc có nạn, sư phụ ta chỉ để ý tới tu đạo, bắt chước lão ô quy đó ngủ gà ngủ gật, sư phụ của đại thúc thì chỉ biết nói năng nói cuội không để ý tới chính sự, ta không đi giúp thúc ấy thì ai giúp đây?" Nhớ tới Dương Hạo từng đập tay minh ước với nàng ta, tiểu nha đầu này trong lòng nóng lên, liền có ý định không từ mà biệt.
Cô ta vừa quay người muốn đi nói một tiếng với mẫu thân rồi thu thập hành trang thì bên cạnh có người cười nói: "Tiểu nha đầu ngươi, trông thì rất ngoan ngoãn, thế mà lại ở sau lưng nói xấu trưởng bối nhà ngươi, nếu có thể nhúng tay vào, bần đạo há lại có đạo lý tụ thủ bàng quan với đồ nhi của mình, để rồi bị ngươi quở trách."
Cẩu nhi giật mình, quay đầu lại nhìn thì thấy Lữ Động Tân tay áo tung bay đứng ở bên cạnh, không khỏi kinh hãi nói: "Ông... Lữ lão tiền bối sao lại tới đây?"
Lữ Động Tân vuốt râu, dương dương đắc ý cười nói: "Lão ô quy nhà ngươi đột nhiên phát hiện có chút không đúng, chạy tới động phủ xem thử, tiểu đồ nhi ngoan của ông ta đột nhiên không còn ngoan nữa, tất nhiên là phải đi tứ xứ mà tìm. Luận về thuận bói toán, bần đạo không bằng ông ta, nhưng luận về võ công thì lão ô quy nhà ngươi không bằng bần đạo. Ha ha, may mà bần đạo tới nhanh, không ngờ lại gặp tiểu nha đầu ngươi đang định không từ mà biệt."
Cẩu nhi nhướn mày, không vui gắt lên: "Lão tiền bốn không bắt lỗi ngôn ngữ của người ta, làm nhục sư phó ta."
Lữ Động Tân cười nói: "Ha ha, ta và Phù Diêu tử, làm lão bằng hữu một giáp rồi, nói hắn mấy câu thì có sao đâu? Ha ha, nha đầu ngươi rất quan tâm đến đồ nhi của ta, có điều loại chuyện trong số mệnh này, ngươi có thể làm được gì? Nghe lời bần đạo quay về núi đi."
Cẩu nhi đảo mắt lia lịa, lui từng bước ra sau, nói: "Ta không cần, ông không giúp Dương đại thúc thì ta đi giúp thúc ấy, ông không được cản ta." Nói xong, nàng ta đột nhiên quay ngươi nhảy lên, lướt đi như phi điểu, chạy nhanh xuống chân núi, đang chạy thì đụng phải ngực một người, ngẩng đầu lên nhìn thì thấy Lữ Động Tân ba chòm râu tung bay, đang mỉm cười đứng ở trước mặt, giơ tay ra nắm lấy cổ tay nàng ta: "Ha ha, bần đạo muốn bắt ngươi, ngươi chạy làm sao được? Ái?"
Lữ Động Tiên rú lên một tiếng, nhìn trên tay mình có hai hàm răng chỉnh tề, lại nhìn Cẩu nhi đang phi thân chạy trốn, dở khóc dở cười nói: "Xú nha đầu này, thật đúng là chó con mà, vì Dương đại thúc của nó, không ngờ ngay cả Lữ Động Tân ta cũng dám cắn."
Ông ta rướn người, đang định đuổi theo thì phía sau đột nhiên hiện ra bóng hình của Trần Đoàn, nhìn theo bóng dáng vẫn chưa khuất vào núi rừng của đồ nhi, cười lạnh nói: "Lão hữu chớ đuổi, để mặc nó đi gặp..."
Ngoài thành Ngân châu, hai vạn đại quân mỗi một ngàn người xếp thành một phương trận (trận vuông), trùng trùng điệp điệp, trông rất tráng lệ.
Trên con đường lớn ở giữa, một tướng lĩnh tuổi gần bốn mươi, mặc áo choàng màu lục dẫn mấy hỗ binh chậm rãi dừng bước, nhìn sang hai bên, viên tướng lĩnh này thân hình vừa phải, mặt mũi vuôn vắn, hai hàng lông mày rậm, ba chòm râu nhỏ, giữ gìn thân thể rất tốt, trong mỗi cái giơ tay nhấc chân cũng có vẻ uy phong của võ tướng, đây là giám quân sứ Tào Ngọc Quảng Tào đại nhân do xu mật viện sứ Tào Bân pahsi tới trong quân Dương Hạo.
Chư phiên Tây Bắc so với các cánh quân khác thì luôn có quyền tự chủ khá lớn, phàm là việc điều động binh, triều đình cũng không thể sai phái giám quân, còn Dương Hạo thì khác với hai nhà Chiết, Dương, hắn từng làm quan ở trong triều, về sau được thả ra ngoài, tự thành một phái, ngoài mặt thì sự ước thúc của triều đình đối với hắn vẫn rất lớn, lần này Triệu quan gia đặc biệt phái tới một vị giám quân sứ, cũng không ngoài có ý nhắc nhở: Dương Hạo ngươi đừng bắt chước hai nhà Chiết, Dưỡng, ngươi nên hoàn toàn nằm dưới sự quản thúc của triều đình.
Có điều ý nghĩa tượng chưng của loại hành động này rõ ràng là lớn hơn tác dụng thực tế, từ lúc vị giám quân sứ này tới Ngân châu, Dương Hạo chỉ gặp gã có một lần, sau đó thì đột nhiên nằm trên giường không dậy nữa, Tạo Ngọc Quảng một mực khắc chế bản thân, gã cũng muốn xem xem, Dương Hạo đột nhiên mắc trọng bệnh có gan từ chối đùn đẩy, kháng chỉ bất tuân hay không.
Hiện giờ xem ra, Dương Hạo cho dù là không tình không nguyện nhưng vẫn không dám trở mặt với quan gia, binh mã chuẩn bị xuất trinh đã bày trận ở phía trước, đang đợi vị Hà Tây Lũng hữu binh mã đại nguyên soái hắn, cho dù điệu bộ của hắn hơi kiêu căng một chút, hắn hơi kéo dài một chút, nhưng Tào đại nhân cũng có thể nén được giận: chỉ cần hắn có thể xuất binh, mình cũng là hoàn thành sứ mạng rồi.
Giống như khi các lộ quân phiệt đầu thế kỷ hai mươi đại chiến, vừa thấy binh sĩ đội mũ bông vải che tai, miệng đầy râu ria, người ta liền hiểu đây là nhân mã phụ hệ, quân đội của Dương Hạo so sánh với mấy tướng tá cấm quân ở bên cạnh Tào đại nhân thì cũng rất đặc sắc. Bọn họ đại đa số mặc áo da dài rộng, dưới áo choàng là rất nhiều áo đơn, thân hình lộ ra vẻ mập mạp bất kham, áo da đều là tự mình chuẩn bị, có da dê, có da trâu, còn có cả da của các loại thú khâu lại với nhau, kiểu dáng cũng khác biệt, trông có chút hỗn loạn.
Hôm nay thời tiết rất tốt, gió không lớn, nhưng trong thời tiết lạnh như vậy mà đứng lâu thì cũng không chịu nổi, các binh sĩ kéo cái che tai xuống, có người còn dùng khăn lông dê che mồm miệng. Dắt ngựa, đeo cung, thỉnh thoảng lại giậm giậm chân để xua đuổi khí lạnh trong người, ở trên lưng ngựa, buộc một bọc quần áo lớn, bên trong chứa giáp da, chăn, muối ăn, thịt khô và nước uống.
Quân đội của Dương Hạo thành phần vô cùng hỗn tạp, bên trong có người Hán, có người Hồi Hột, có người Thổ Phiên, người Khiết Đan, đại đa số là tự xếp thành quân đoàn, cờ hiệu hàng ngũ vẫn tính là chỉnh tề. Ngoài ra còn có mấy quân trận là quân đoàn hỗn hợp do võ sĩ của các quốc gia khác lưu lạc tới đây cùng với binh sĩ do các tộc quần tương đối nhỏ yếu tổ thành, binh sĩ của bọn họ tổ thành càng thêm phức tạp, có người Tiên Ti, có người Thổ Cốc Hồn, người Đột Quyết, người Úy Ngột Nhi, người Niêm Bát Cát, người Đại Thực, người Ba Tư, người Thiên Trúc, không những cao thấp gầy béo không đồng đều, mà quần áo phục sức cũng khác nhau, ngay cả tướng mạo cũng đủ loại.
Dương Hạo tới rồi, mấy chục người giống như sao quanh trăng vấy lấy lá cờ lớn thêu chữ Dương, dưới cờ có một con ngựa tắng, trên ngựa là một người, nhưng bọc trong chiếc áo khoác màu đỏ rực, giục ngựa ra khỏi thành. Tào Ngọc Quảng khóe miệng cong lên, ung dung người: "Lúc ở kinh sư đã nghe nói Dương đại bổng chùy rất thích làm dáng, hiện giờ thấy quả nhiên là vậy thật. Ăn mặc như vậy, chỉ sợ trên chiến trường mình không được trở thành cái bia ngắm ư?"
Trong lòng nghĩ vậy, nhưng trên mặt Tào đại nhân thì lại vẫn rất cung kính, vội vàng giục ngựa lên trước, ôm quyền chào: "Mạt tướng Tào Ngọc Quảng, bái kiến đại soái."
Dương Hạo mỉm cười giơ roi ngựa lên, nói: "Ha ha, Tào tướng quân miễn lễ, bản soái mấy ngày trước tiến đón tân khách bốn phương, mệt mỏi quá độ nên nhiêm phong hàn, may mà không chậm rễ thời hạn xuất binh, chỉ là không tự mình tiếp đãi được tướng quân, mong Tào tướng quân chớ trách."
Tào Ngọc Quảng thấy hắn hình dung có chút tiều tụy, tuy rằng vẫn cười nói tự nhiên, nhưng so với lần đầu mình gặp hắn thì quả thực là gầy hơn một chút, không khỏi thầm kinh ngạc, nghĩ: Ta chỉ nghĩ hắn mấy ngày nay trốn đi để bố trí phòng bị cho Ngân châu, tiện thể thì ra oai phủ đầu ta, nhưng nhìn tình hình này? Chẳng lẽ hắn thực sự bị bệnh ư?"
Tào Ngọc Quảng không nghĩ tới Dương Hạo trong mấy ngày nay cưỡi ngựa phi tới phi lui, đã đi đến ba nơi, bái phỏng ba nhân vật quan trọng rồi, gã vội vàng khách khí cười nói: "Dương soái nói đùa rồi, ba quân đã đợi lâu rồi, Dương soái đã tới thì chúng ta khởi hành thôi nhỉ?"
Lúc này hắn mới chút ý tới, hỗ binh của Dương Hạo đều ở bên ngoài, những người ở gần hắn nhất không phải là thị vệ, những người này ước chừng có mười hai mười ba người, toàn bộ đều mặc áo da dày cộp, sau vai còn cắm một lá cờ nhỏ mày xanh, người lớn tuổi thì râu tóc đã hoa râm, người còn trẻ thì khoảng mười sáu mười bảy, thể phách cũng có người kiện tráng, có người yếu ớt, nhưng không biết những người này mang lại tác dụng gì.
Tào Ngọc Quảng tới đây, Tào Bân từng dặn hắn phải tùy cơ hành động: Dương Hạo tuy không phải là giống như Chiết gia, Dương gia, Lý gia là chư hầu một phương sớm đã cùng với Tồng quốc xây phủ mở đường ở Tây Bắc, nhưng lờ mờ đã có hiện tượng thoát ly khỏi sự khống chế của triều đình, gã làm giám quân chỉ là bù nhìn mà thôi, đừng mong kiềm chế được Dương Hạo, gã lần này tới là nhìn nhiều mà nói ít, làm gì cũng nghe theo sự an bài của Dương Hạo, sứ mệnh duy nhất của gã chính là thằm dò thực lực của Dương Hạo, thế nên những hiện tượng không tầm thường này lập tức làm dấy lên sự cảnh giác của gã.
Dương Hạo thúc cương ngựa, cao giọng quát: "Nào, truyền tướng lệnh, lấy bộ đội sở thuộc của Vương Như Phong làm tiên phong, thống binh tiến lên trước hai mươi dặm, tham lộ trinh sát thì đi trước dẫn đường, bộ đội sở thuộc của Mộc Ti làm bản doanh của bản soái, bộ đội sở thuộc của Biên Nhất Lang làm tả doanh, bộ đội sở thuộc của Hàn Kiên làm hữu doanh, bộ đội sở thuộc của Cái Bang Nhi Đắc áp hậu, bộ đội sở thuộc của Lý Tòng Long điều động theo trung quân của bản soái, ba quân nhổ trại!"
Dương Hạo nói xong, trung quân lập tức hưởng ứng, đội ngũ bắt đầu từ từ khởi động, những người sau lưng cắm cờ màu xanh ở bên cạnh hắn nhanh chóng tản đi, cưỡi ngựa tới các phương trận, dùng ngôn ngữ dân tộc bất đồng gào thét một hồi với tướng lĩnh bản bộ, những tướng lĩnh ở trước trận đó nghe xong liền quay người cao giọng truyền lệnh lại cho bộ hạ của mình. Tào Ngọc Quảng ngoài mặt thì giả vờ lơ đãng, nhưng thấy cảnh này không khỏi bật cười, thì ra tác dụng của những người này là như vậy, là quan thông dịch trong quân.
Vừa rồi những phương trận đó khá chỉnh tề, tuy lộ ra vẻ chỉ được luyện tập trong thời gian ngắn ngủi, nhưng cũng có mấy phần khí thế, Dương Hạo vừa hạ lệnh, hai mươi phương trận lại lập tức hỗn loạn, phương trận này chuyển sang bên trái, phương trận kia thì sang bên phải, nhân mã của phương trận phía trước thì vẫn nhìn trái nhìn phải, nghe ngóng tin tức. Binh sĩ của phương trận này đã tung người lên ngựa đi xa rồi, phương trận ở phía sau vẫn đứng thẳng tắp tại chỗ, chăm chú nghe thông dịch truyền lại chỉ thị của đại soái.
Tào giám quân không nhịn được mà bật cười thành tiếng, vội vàng che miệng lại, dùng khóe mắt nhìn lén Dương Hạo, nhưng thấy trên mặt Dương Hạo lúc trắng lúc đó, rõ ràng là bộ dạng đang rất tức giận, vội vàng lại giả vờ như không để ý.
Các phương trận đã trải qua thời gian hai nén hương, chung quy cũng có thể được gọi là tụ tập tới dưới cờ tướng lĩnh của mình, nhổ trại lên đường, theo tin tức báo mà Tào giám quân mấy ngày nay nghe ngóng được từ khắp các hang cùng ngõ hẻm của Ngân châu, Dương Hạo vốn có một vạn nhân mã, đây chính là toàn bộ tiền vốn của hắn, nhưng trong trận chiến công đánh Ngân châu, hao binh thiệt tướng, thương vong quá nửa, nếu không phải là Khiết Đan nhiều lần giúp đỡ đối kháng với chủ lực của Khánh vương, lúc hãm thành lại là đại quân liên hợp của Đảng Hạng thất thị tới giúp, nhân mã của hắn sớm đã hầu như hết sạch rồi.
Tuy là vậy, sau khi đánh hạ được thành Ngân châu, binh sĩ còn có thể chiến đấu ở dưới trướng Dương Hạo không tới ba ngàn, hiện giờ không tới nửa năm, quân đội của Dương Hạo đã khoách trương lên thành ba vạn, từ ba ngàn tới ba vạn, trong mười người chỉ có một lão binh, đổi lại là bất kỳ một nhánh quân đội nào, trong khoảng thời gian ngắn mà lại hình thành quy mô lớn như vậy, có thể chỉ huy hữu hiệu hay không đều là một vấn đề lớn, huống chi những binh sĩ này cơ hồ là được chiêu mộ từ tất cả dân tộc của Tây Vực, thói quen sinh hoạt, ngôn ngữ giao tiếp đều thành vấn đề lớn.
Tào giám quan trong lòng không khỏi thầm khinh bỉ.
"Phu nhân, quân đội của đại soái đã đi xa rồi!"
Đứng ở đầu thành nhìn về phương xa, quân đội của Dương Hạo đã biến mất ở phía cuối Đại Sơn, Phạm Tư Kỳ lập tức quay người lại, lớn tiếng thông báo về phía thành lâu.
Trong thành lâu lập tức có hai người bước ra, hai văn quan là Tiêu Quảng và Từ Huyễn, bốn người còn lại đều một thân giáp trụ, dưới hông đeo bội kiếm, nhìn bộ dạng giống như là mấy tiểu tướng trẻ tuổi ánh tuấn, môi hồng răng trắng anh tư bừng bừng, nam sắc họa thủy khiến các cô nương tiểu tức phụ nhìn thấy e rằng đều phải động lòng xuân, chính là La Đông Nhi, Đường Diễm Diễm, Mục Thanh Tuyền, Đinh Ngọc Lạc, và Điềm Tửu cô nương tuy không xinh đẹp nhưng lại không thiếu vẻ uy vũ.
Dương Hạo viễn chinh, tất phải lưu lại một nhánh tinh nhuệ để thủ thành, điều này vốn nằm trong dự liệu của Tào giám quân, gã đã mấy lần thăm dò rõ ràng, tổng binh lực lưu thủ Ngân châu không tới một vạn, đây là lấy quân đội gồm ba ngàn tinh nhuệ đích hệ làm chủ. Do Mộc Ân Mộc Khôi dẫn một nửa binh ở bên ngoài Ngân châu diệt trừ tất cả những nhân tố không ổn định, cho nên trong việc phòng ngự của thành trì ngay cả nữ binh cũng phải gánh sứ mệnh tương đối quan trọng.
Thống soái của thủ quân Ngân châu là phó tiết độ sứ Lý Quang Cầm và đoàn luyện sứ Kha Trấn Ác, cùng với hai vị chỉ huy sứ Mộc Ân, Mộc Khôi. Trên thực tế tướng lĩnh thủ thành chân chính chỉ còn lại một nam nhân Kha Trấn Ác, mấy người khắc thì đều là anh thư cả. Bản lĩnh thủ thành của Mộc Thanh Tuyền còn hơn cả trượng phu của mình, Điềm Tửu thì giỏi trận kích và mai phục, Đường Diễm Diễm, Đinh Ngọc Lạc thì giỏi điều độ hậu cần, mà La Đông Nhi thì dưới sư tài bồi dạy dỗ của Da Luật Hưu Ca và Tiêu Xước, hoàn toàn có năng lực chỉ huy điều hành binh mã một thành, nắm giữ toàn cục.
Lợi dụng những biện pháp thủ bố phòng mà Dương Kế Nghiệp chế tạo, chuẩn bị thủ vững Ngân châu. Toàn bộ những nhân vật dùng để kiềm chế Lý Quang Duệ lúc này đều xuất hiện trên đầu thành Ngân châu: Võ tướng là Kha Trấn Ác, Mục Thanh Tuyền, Đường Diễm Diễm, Đinh Ngọc Lạc, Điềm Tửu, văn quan thì là Tiêu Nghiễm, Từ Huyễn, Phạm Tư Kỳ, Lâm Bằng Vũ. La Đông nhi là nắm toàn cục. Trận này Dương gia nữ tướng chiếm một nửa.
La Đông Nhi nhìn về phương xa một cái, vẻ mặt bình tĩnh, nói: "Từ đại nhân, Tiêu đại nhân, tiếp tục di dời toàn bộ sơn trại, thành bảo, bộ lạc cư dân trong phòng một trăm dặm vào thành Ngân châu. Ai không chịu di dời thì cưỡng bách phải di dời, gom tất cả nhân khẩu vận tư bên ngoài thôn trấn, cần phải làm tới mức độ vườn không nhà trống."
Từ Huyễn và Tiêu Nghiễm chắp tay nói: "Tuân lệnh."
"Kha đoàn luyện, phu nhân. Nhờ hai vị tiếp tục huấn luyện dân tráng, lần này không án theo dân hộ mà bắt đinh nữa, nhưng phàm là nam tử thân thể cường tráng, tuổi trên mười lăm, dưới năm mươi thì tất cả đều phải tiếp nhận huấn luyện thành phòng."
"Vâng!"
"Phạm đại nhân, Lâm đại nhân, dược liệu, lương thực, hỏa dược cầu, đạn khí độc, cung tên đều phải dữ trự đầy đủ, gỗ lăn đá mài càng nhiều thì càng tốt. Mỗi ngày phân phối binh đinh và dân tráng, chưng tập tất cả xe cộ trong thành ra khỏi thành vận chuyển đá khối, chặt cây cối. Trong vòng ba mươi dặm xung quanh thành Ngân châu, không để lại một một gốc cây to bằng một vòng tay nào, không để lại một khối đá to bằng một vòng tay nào."
"Tuân lệnh."
"Diễm Diễm, Ngọc Lạc, Điềm Tửu, các muội những ngày này mỗi ngày đều phải tuần thị các thành, thao luyện sĩ tốt, làm quen với tất cả phương tiện thành phòng, điều phối các loại vật thư thành phòng tới các thành."
Đường Diễm Diễm và Đinh Ngọc lạc cũng nghiêm nghị đáp: "Vâng!"
Lúc này một nữ binh chạy tới trước mặt La Đông Nhi, ôm quyền nói: "Phu nhân, tam nương nhận được một bức thư mật, mời phu nhân về soái phủ nghị sự."
La Đông Nhi gật đầu nói: "Ta biết rồi."
Nàng ta quay lại bảo văn võ ở bên cạnh: "Được rồi, các vị đều đi làm việc đi, có chuyện thì thì cứ tới nói với ta." Nói xong liền theo nữ binh đó vội vã bước xuống thành. Từ đầu đến cuối chưa từng dõi mắt nhìn theo Dương Hạo thêm một lần nào.
Nàng ta vẫn nhớ Tiêu hậu là áo không cởi giáp, ngày đêm tuần thị thành trì và ba quân như thế nào, dùng trọng thưởng trọng phạt để ổn định quân tâm ra sao. Nàng ta nhớ hoàng đế Khiết Đan bị trúng tên độc, mấy lần suýt mất mạng, khi ngự y trong cung ngày đêm luân phiên cứu trị, Tiêu hậu vẫn lâm nguy mà không loạn như thế nào, lên triều nắm quyền một cách trấn định tự nhiên ra sao, tạo ra dũng khí và lòng tin vô cùng cho quân dân toàn thành. Nàng ta nhớ tên khi tên lưu manh say rượu nói năng linh tinh trên đầu phố, phao tin hoàng đế băng hà, Tiêu hậu đã lãnh huyết vô tình chém đầu cả nhà hắn như thế nào.
Tiêu nương nương vì thương sinh xã tắc của Khiết Đan mà trấn thủ thành Thượng kinh. La Đông Nhi ta cũng có thể thủ thành Ngâu châu vì Dương lang, mặc kệ kẻ tới là sài lang hổ báo gì, ta đểu phải giữ vững nhà của mình.
...
Minh Đường Xuyên, phía trước Song Long lĩnh mười dặm, trên một tòa sơn lĩnh không cao, tòa sơn lĩnh này gọi là Lạt Cô lĩnh.
Xa xa có một kỵ binh phi tới, lập tức dẫn tới sự chú ý của mấy tên lính gác đang phục trên đỉnh núi, bọn họ vừa mới kéo dây nỏ, nhắm vào bóng người đang phi ngựa tới, đợi khi hắn tới dưới dãy núi, nhìn rõ tướng mạo của hắn, mấy tên lính gác lại cẩn thận quan sát phía sau hắn một hồi, thấy không có ai đi theo thì mới đứng dậy, vẫy tay với người đó, chu môi hét lên: "Lão Phun, ở đây này."
Người ở dưới vội vàng dắt ngựa lên, thở hổn hà hổn hển, nói: "Đại soái đã xuất binh."
Mấy tên lĩnh gác ở trên núi nhao nhao đứng lên, tên vừa rồi mới cao giọng gọi vui mừng hớn hở, nói: "Đại soái xuất binh rồi ư? Tốt, ngươi mau đi bẩm báo cho tướng quân đi, mấy ngày nay chui rúc ở đây, xương đầu nhàn đến nỗi ngứa râm ran rồi, đại soái đã xuất binh, chúng ta cũng sắp hết khổ rồi."
Lão Phun từ thắt lưng rút ra một cái túi da dê, mở nút ra rồi uống òng ọc, rồi lại dắt ngựa xuống núi, tung mình lên ngựa, tiếp tục phi về phía trước.
Song Long lĩnh hiện giờ vốn là một tòa thành không, Ngả Nghĩa Hải sau khi bất ngờ tập kích Song Long lĩnh thành công, đưa tất cả người ở đây về thành Ngân châu, tiện thể cũng coi tất cả tiểu bộ lạc ở gần thành Song Long làm chiến lợi phẩm luôn, vừa đấm vừa xoa di dời tất cả vào trong thành Ngân châu. Địa phương này không phải là đầu mối giao thông then chốt, vốn là nơi thưa thớt bóng người, lại thêm khi thành Song Long vẫn còn, người tới cũng không nhiều, từ sau khi người nơi này bị bắt gọn một mẻ, thành này đã thành một tòa thành chết, nhưng hiện tại trong thành lại chật cứng người.
Mộc Ân, Mộc Khôi, Ngả Nghĩa Hải dẫn bộ đội sở thuộc của mình tiêu diệt các bộ loại không thuần phục Dương Hạo ở ngoài thành Ngân châu, đã thể hiện rõ vũ lực, chấn nhiếp chư di, đồng thời cũng là quá trình luyện binh và dưỡng chiến, ngoài trừ những điều này ra còn có một tác dụng, mỗi lần nhân mã ra ngoài rồi quay về đều thần không biết quỷ không hay bớt đi một doanh. Nhân mã của một doanh này mang theo dê bò, lương thực cướp được tới tập kết ở thành Song Long.
Đợi lần sau xuất thành thanh trừ, binh mã mà bọn họ mang theo lại đủ quân số, dùng phương pháp này, bọn họ đã vận đủ binh mã và truy trọng tới thành Song Long, mà trong thành Ngân châu đã có mật thám của triều đình và Hạ châu, bọn họ lại ở ngay dưới mí mắt của những tên mật thám này tập kết, xuất binh, mang tài vật và nô đãi quay về, những tên mật hám này cũng đừng hòng phát hiện ra chút gì dị thường.
Trong thành Song Long lúc này đang khí thế ngất trời, nhiệm vụ mỗi ngày của binh sĩ là ăn no uống đủ, nghỉ ngơi chuẩn bị chiến đấu, đồng thời tự làm thịt khô, pho mát, váng sữa, rượu sữa, chế tạo các loại phương tiện giao thông như xe trượt có thể vận chuyển các loại vật tư vượt qua sa mạc và đầm lầy. Tướng lĩnh thống binh của bọn họ là ba người: Mộc Tư, Mộc Khôi, Ngả Nghĩa Hải.
Ba người này đều là những chuyên gia giỏi lăn lộ đường xa, tiền phục, di chuyển, tập kích trong hoàn cảnh khó khăn, Dương Hạo giao mạch đao trận và trọng kỵ binh trận mà hắn tốn nhiều tiền để tạo thành cho bọn họ. Ba hãn tướng Mộc Ân, Mộc Khôi, Ngả Nghĩa Hải cùng với mạch đao trận, kỵ binh trận dùng không đúng thì là đồ vứt đi, dùng đúng cách thì là vô địch này, đó chính là ba mũi đao sắc chuyên dùng để hàng yêu phục ma.
Thành trì Tây Vực đại đa số không tính là hùng vĩ, nhưng thành Hạ châu lại là ngoại lệ, tòa thành trì này là đô thành của Đại Hạ quốc do đại vương Hung Nô Hách Liên Bột Bột xây dựng từ thời Ngũ Hồ loạn Hoa Hạ. Người Hung Nô này cho rằng mình có thể "nhất thống thiên hạ, quân lâm vạn bang", do đó mới đặt tên cho thành này là thành Thống Vạn. Thành Hạ châu được xây kiên cố vô cùng, tường thành là dùng đất nung dựng thành, đất ở dưới chân thành cũng cứng rắn cực kỳ, năm đó hoàng đế Hậu Đường Lý Tự Nguyên công đánh Hạ châu, phái binh đào địa đạo, cũng chính bởi vì đất cứng mà không thể đào được địa đạo.
Bôn ba đường dài để tới công đánh một tòa thành vững như thế này, vốn là trên phân phối binh lực thì không cần dùng tới vũ trang, nhưng phía Hạ châu vốn lấy kỵ binh làm chủ, phong cách tác chiến của Tây Bắc vương Lý Quang Duệ lại tương tự với người Khiết Đan, đó chính là tiến công, tiến công, không ngừng tiến công, dùng sự tiến công sắc bén để bù đắp cho chỗ thiếu sót của phòng ngự, đồng thời với địa vị siêu nhiên của Lý Quang Duệ ở Tây Bắc, vũ trang có thể tạo thành uy hiếp cho Hạ châu, từ sau Lý Tự Nguyên gần hai trăm năm rồi chưa từng có thêm một ai. Cho nên Dương Hạo cho rằng y tất sẽ để tinh binh lại thủ thành, nhưng những tinh binh này chưa chắc đã toàn bộ đóng ở trong thành Hạ châu. Nếu như thật sự phát hiện ra địch nhân, với phong cách tác chiến trước giờ của quân Hạ châu, ý nghĩ đầu tiên của chúng chính là tấn công, đánh tan địch nhân, mà địch nhân bại rồi, Hạ châu tất được giải vậy. Vậy phải nhanh chóng đánh tan, xuyên thủng đám nhân mã bảo vệ xung quanh thành Hạ châu này, nhanh chóng lao tới dưới thành Hạ châu, mạch đao trận và trọng kỵ binh trận của hắn chính là có đất dụng võ.
Mộc Ân đang chắp tay nhìn trong các doanh trại ở phía trước đang đào ra từng cái hố bếp, thịt ở bên cạnh hố bếp chất cao như núi, còn các loại váng sữa, rượu sữa, pho mát thì được có người phân loại rồi cho vào trong túi da lớn và thắt lưng.
Nghe thấy thám mã hồi báo, Mộc Ân bật cười ha hả, quay đầu lại nhìn về phía thành Ngân châu. Khói bếp từ trong hố bếp tỏa ra, khiến hắn như đứng trong mây mù, gió bắc tổi qua, sương mù liền nhanh chóng tiêu tan trước mắt hắn. Mộc Ân chỉ về phía trước, lớn tiếng hô: "Luôn luôn chú ý tới tin tức từ phía Ngân châu, tin tức của phu nhân được đưa đến thì chúng ta lập tức xuất binh!"
"Báo!"
Một kỵ binh phi tới, sau lưng cắm cờ đỏ hình tam giác, đón gió phần phật, sĩ tốt đang vội vàng hành tiến thấy kỵ sĩ đó trên vai mang cờ đỏ, đều nhao nhao nhường đường cho hắn.
Kỵ sĩ tới trước ngự liễn của Triệu Quang Nghĩa thì liền tung bình xuống ngựa, quỳ một chân, ôm quyền báo: "Khởi bẩm bệ hạ, Phủ châu Chiết Ngự Huân, Ngân châu Dương Hạo, Lân châu Dương Sùng đã hội sư ở Hà Tân, hiện đang cùng nhau hành tiến tới Lam châu."
"Biết rồi." Trong ngự liễn vang lên tiếng ừ, vẫn tiếp tục tiến về phía trước.
Ngự liễn rộng rãi như một gian phòng, trước là phòng khách sau là phòng ngủ, ở giữa dùng một tấm bình phong để chắn. Trong phòng khách đặt một cái bàn dài, ở góc tường đặt hơn chục quyển tấu chương. Nghe thấy tín sứ đó truyền báo, Triệu Quang Nghĩa liền bước tới bàn, Mộ Dung Cầu Túy đã bước lên trước, cầm lên những cái que màu sắc khác nhau như nâu, vàng, lam, tượng chưng cho ba con đường từ Phủ châu, Lân châu, Ngân chân hợp nhau ở Hà Tân rồi sau đó tới thẳng Lam châu.
Triệu Quang Nghĩa chăm chú quan sát lộ tuyến hành quân, mỉm cười nói: "Tới nhanh thật, trẫm còn cho rằng, hắn trên đường sẽ bày không ít trò, cố gắng kéo dài thời gian cơ."
Mộ Dung Cầu Túy nói: "Hắn sao dám làm vậy chứ? Triều đình đã định trước thời gian phạt Hán là đầu tháng hai, bởi vì chuyện bên phía Khiết Đan đã làm chậm trễ một chút, hiện giờ đã quá hơn nửa tháng rồi, hắn dù có lý do cần chuẩn bị nhiều hơn thì cũng trù bị được xong rồi, còn có gì để mà kéo dài thêm nữa."
Triệu Quang Nghĩa gật đầu nói: "Nói cũng đúng, nhắc tới Khiết Đan, đám quan lại Sơn Đông đạo này đúng là hỗn trướng, suýt nữa thì làm lầm lỡ đại sự rồi!"
Mộ Dung Cầu Túy vội vàng nói: "Quan viên Sơn Đông đạo cũng không dám gánh vác trách nhiệm trọng đại như vậy, cho nên mới chưa tra rõ chân tướng đã bấm báo lên triều đình, chuyện đã qua rồi, may mà chưa tạo thành hậu quả không thể khống chế, xin quan gia bớt giận."
Thì ra, Triệu Quang Nghĩa đang thoả thê mãn nguyện ở điện Trường Xuân mở tiệc chiêu đãi chư tướng, ban thưởng thắt lưng vàng, áo lông cừu, yên và ngựa, khi đang muốn thệ sư bắc phạt thì quan viên Sơn Đông đạo đột nhiên dùng quân tình hỏa cấp mười vạn dặm tấu lên triều đình, nói rằng người Khiết Đan đột nhiên tập kết quân đội tại khu vực Vũ Thanh, Vĩnh Thanh, Hưng thành, còn có một cỗ kỵ binh nhỏ xuất hiện ở gần sông Cự mã, sông Bạch Câu nằm ở biên giới hai nước.
Triệu Quang Nghĩa nghe tin liền giật mình kinh hãi, lập tức ra lệnh cho quân đội vừa mới tập kết thẳng tiến về hướng Sơn Đông đạo, đồng thời phái rất nhiều mật thám tiềm nhập vào Bắc quốc để nghe ngóng tin tức, lại lệnh cho Hồng lư tự khanh công khai chất vất sứ tiết Khiết Đan, phí hết một phen trắc trở mới nhận được câu trở lời của sứ tiết Khiết Đan là "bỉ quốc điều binh vây diệt dư nghiệt của Khánh vương, đó là việc nội bộ của Khiết Đan, nơi dụng binh lại là trên lãnh thổ nước ta, chẳng việc gì phải thông báo lý do cho quý quốc cả”.
Tiếp theo thám mã trinh sát cũng nhao nhao hồi báo, nói là Khiết Đan điều tập binh mã Trung kinh, đang vây diệt thế lực tàn dư của Khánh vương ở khu vực Vũ Thanh, Vính Thanh, khi bọn họ tới nơi thì dư nghiệt của Khánh vương cũng bị tiêu diệt rồi, binh mã Khiết Đan đã về Trung kinh rồi.
Một phen dây dưa này, không những tốn nhiều thời gian, hơn nữa đại quân Tống quốc tập hợp ở biên giới, suýt chút nữa cùng với biên quân của Khiết Đan đánh nhau, Triệu Quang Nghĩa tức giận vô cùng, quá trình đi đi về về này cũng chậm trễ gần một tháng thời gian, đợi tới khi hắn phát binh chinh phạt hán quốc thì đã tới lúc băng tuyết tan hết, là đầu xuân tháng ba cỏ mọc tươi xanh rồi.
Triệu Quang Nghĩa nhớ tới chuyện này, vẫn chưa hết giận hỏi: "Chúng ta hiện giờ tới đâu rồi?"
Mộ Dung Cầu Túy chỉ vào bản đồ, nói: "Mời quan gia xem, chúng ta hiện tại vừa qua Phù sơn, đi tiếp về phía trước là Bình Định rồi."
Triệu Quang Nghĩa gật gật đầu, trầm ngâm nói: "Bình Định, Bình Định, là một cái tên mang điềm tốt đó."
Mộ Dung Cầu Túy cười bồi, nói: "Tất nhiên là điềm tốt rồi, Đại Tống ta bình định các nước trong thiên hạ, không có nơi nào là không công đánh được, duy có Hán quốc này là khiến Đại Tống ta ba lần chinh chiến mà không diệt được, thực sự là rất khó chơi, có điều làn này gặp quan gia ngự giá thân chinh, quần thần Hán quốc tất nhiên sẽ bị mất đầu, Trung Nguyên rồi sẽ được nhất thống trong tay bệ hạ!"
Mộ Dung Cầu Túy có ý lảng tránh nguyên nhân mấy lần trước công đánh Hán quốc đều có Khiết Đan nhúng tay vào, lời nói lại rất dễ nghe, Triệu Quang Nghĩa không khỏi lộ ra nụ cười hài lòng, hắn là không cam tâm vĩnh viễn đứng dưới ánh hào quang của Triệu Khuông Dận, hoàng huynh của hắn một tay tạo ra đế quốc Đại Tống, hơn nữa còn khiến Tống quốc trở thành cường quốc đệ nhất trong Trung Nguyên loạn thế, bình định năm quốc gia Kinh, Hồ, Thục, Hán, Đường, trong đó có một Đường quốc là có một phân công lao của Triệu Quang Nghĩa hắn. Hiện giờ thiên hạ đã gần được nhất thống, muốn trên số lượng các nước được bình định vượt qua hoàng huynh là không thể, chỉ có vượt y trên độ khó mà thôi.
Hán quốc dẫu sao cũng là một quốc gia duy nhất mà Triệu Khuông Dận tiến đánh ba lần vẫn chưa thành công, tuy nói rằng Triệu Khuông Dận đã đạt thành đồng minh với Khiết Đan, khiến Khiết Đan thôi không viện trợ Hán quốc, hiện giờ phạt Hán đã mất đi độ khó, nhưng người hái được đào dẫu sao cũng là hắn, bách tính bình dân có mấy người biết được Hán quốc hiện giờ đã khác với Hán quốc trước kia đâu.
Triệu Quang Nghĩa chỉ vào địa đồ, dè dặt hỏi: "Đánh hạ Hán quốc chưa tính là gì, rồi có một ngày trẫm còn muốn đoạt lại U Yến, lấy lại toàn bộ lĩnh thổ và con dân của dị tộc đã tiêu vong từ thời Đường mạt tới nay, đánh ra một thiên hạ rộng lớn, giang sơn bao la!"
Mộ Dung Cầu Túy vội vàng nói: "Quan gia hùng tài đại lược, văn võ đều hơn các vị hiền vương cổ kim, tất có thể công vượt Hán, Đường, lưu tiếng thơm muôn đời!"
Triệu Quang Nghĩa cười ha ha, lại nói: "Tam phiên Tây Bắc đã ứng chiếu mà xuất binh rồi, phía Hạ châu, ngươi hãy kịp thời tiết lộ tin tức ra đi, Lý Quang Duệ chỉ cần không quá ngu xuấn thì hắn nhất định sẽ nắm lấy cơ hội này."
Mộ Dung Cầu Túy ứng tiếng, nói: "Vậy, tin tức sẽ lập tức được đưa đi."
Triệu Quang Nghĩa lại trầm ngâm nói: "Nam trước bắc sau, nhất thống thiên hạ, đây là quốc sách đã được định từ lúc Đại Tống ta mới lập nước, quốc lực ngày một hưng thịnh, là lúc nên binh phong hướng về phía bắc, quất ngựa thượng kinh rồi. Bắc quốc hiện giờ cô nhi quả mẫu, triều chính bất ổn, chính là cơ hội tốt nhất để trẫm đoạt lại U Vân lục thập châu, thời cơ chỉ chợt lóe lên rồi vụt tắt, không thể nào bỏ lỡ được. Lúc này, trẫm tuyệt sẽ không để Tây Bắc níu kéo chân sau của trẫm."
Mộ Dung Cầu Túy nói: "Cho nên, biện pháp tốt nhất chính là để Tây Vực tiếp tục bảo trì cục diện phân liệt và chế ngự lẫn nhau. Trong Tây Bắc chư phiên, Chiết Ngự Huân, Dương Sùng là hạng khó thành đại khí, mà Dương Hạo thì khác, hắn có thiên thời, địa lợi, nhân hòa, lại thêm chiêu bài vàng của Lý Quang Sầm, chưa chắc đã không thể thay thế được Lý Quang Duệ. Chiết Ngự Huân và Dương Sùng có quan hệ rất mật thiết với hắn, một khi để hắn trở thành đệ nhất cường phiên của Tây Bắc, chư phiên này sẽ hợp lại với nhau, rất khó chế ước."
Triệu Quang Nghĩa nói: "Lý Quang Duệ đối với trẫm vẫn tính là cung kính nghe lời, hơn nữa không có dã tâm tự lập, trăm năm nay Lý gia với lưỡng phiên Chiết, Dương tranh quyền đoạt lợi, sớm đã thành thế như nước với lửa, trái lại Dương Hạo thì khác, hắn không những có lợi thế là nghĩa tử của Lý Quang Sầm, chiêm lãm được Đảng Hạng thất thi để sử dụng, mà còn kết đồng minh cùng tiến cùng lui với Phủ châu, Lân châu. Hơn nữa... người này rất có khả năng còn hoạt động ngầm với Khiết Đan, đây mới là nguyên nhân lớn nhất mà trẫm không thể dung thứ hắn."
Mộ Dung Cầu Túy gật đầu, nói: "Quan gia nói rất đúng, Dương Hạo và người Khiết Đan đồng thời tấn công Ngân châu, điều này khó tránh khỏi quá trùng hợp, tuy nói rằng bọn chúng ai có mục đích nấy, nhưng nếu nói bọn chúng không có cấu kết thì thực sự là khiến người ta khó mà tin được.
Đặc biệt là bọn chúng phối hợp công đánh Ngân châu quá hợp lý, sau khi thành Ngân châu thất thủ, người Khiết Đan trước giờ tham lam thành tính không ngờ lại buông bỏ Ngâu châu mà nhanh chóng lui binh, chắp tay nhường Ngân châu lại cho Dương Hạo, giữa hai kẻ này há lại có thể không có âm mưu không thể nói cho người khác? Khiết Đan đối với việc bị bức phải buông bỏ Hán quốc một mực không cam tâm tình nguyện, theo ý kiến của thần, Dương Hạo rất có khả năng chính là một con rối mà Khiết Đan chuẩn bị dùng để kiếm chế Đại Tống ta thay cho Hán quốc, cho nên mới không tiếc sức lực phối hợp và nâng đỡ hắn."
Triệu Quang Nghĩa cười lạnh, nói: "Để phòng hoạn còn chưa kịp xảy ra, trẫm phải mượn sức của Lý Quang Duệ, đánh cho Dương Hạo hắn trở lại nguyên hình."
Mộ Dung Cầu Túy cung kính khen: "Một mũi tên bắn chết hai con chim, quả là diệu kế."
"Ha ha, một mũi tên bắn chết hai con chim ư?"
Triệu Quang Nghĩa cười tự đắc hai mắt nhìn về tình cảnh ở phía trước, ánh mắt dần dần biến thành lạnh lùng.
Quân nghi trượng của hắn vừa ra khỏi Phù sơn, lúc này vẫn đang ở nơi cao, từ trên cao nhìn xuống, chỉ thấy ba lộ đại quân uốn lượn như rắn, đang hành tiến vào giữa vùng sơn dã, dưới chân núi ở phía trước, một nhánh đại quân đã bước ra khỏi sơn dã, đang tiến về phía trước, trong quân dựng một cột cờ, trên cờ thêu một chữ "Triệu".
Sắc mặt của Triệu Quang Nghĩa lại trầm xuống, Mộ Dung Cầu Túy giỏi đoán sắc mặt, liền vội vàng nói: "Bệ hạ, hiện giờ đã tiếp cận biên cảnh của Hán quốc rồi, mã quân đô ngu hậu Mã Phong, bộ quân đu ngu hậu Dương Kế Nghiệp của Hán quốc là hạng quỷ kế đa đoan, rất giỏi đánh mai phục, để đề phòng Hán quân tập kích quân ta bất ngờ, nên lệnh cho tiên phong đi trước một bước.”
"Ừ, lời của ái khanh rất có lý." Triệu Quang Nghĩa gật gật đầu, Mộ Dung Cầu Túy liền cúi người vái một cái, bước ra khỏi ngự liễn, đứng ở mép xe lớn tiếng nói với thống lĩnh cấm quân Bạch Văn Liệt: "Bệ hạ có chỉ, lệnh cho tiên phong tăng tốc tiến lên, gặp núi mở đường, gặp nước dựng cầu, thám thính tin tức của quân địch."
"Bệ hạ có chỉ, lệnh cho quan tiên phong dẫn bộ đội sở thuốc tiến về trước môt trăm dặm, gặp núi mở đường, gặp nước dựng cầu, tham tính tin tức của quân địch."
Triệu Đức Chiêu nghe thấy chỉ ý, hờ hững nói: "Biết rồi, truyền lênh, tăng nhanh tốc độ hành tiến."
Ba quân của tiên phong doanh lập tức gia tăng tốc độ, dứt bỏ đại đội, lúc chạng vạng, phía trước xuất hiện một tòa thành trì, Triệu Đức Chiêu ghìm ngựa hỏi: "Phía trước là nơi nào vậy?"
Thám mã hồi báo: "Tướng quân, chúng ta đã tới thành Bình Định rồi."
"Ặc? Sắc trời đã tối, dừng tiến tới, chúng ta tối nay đóng quân trong thành Bình Định, vào thành."
Phó tướng Cao Dận kinh ngạc thưa: "Tướng quân, thành Bình Định này phía bắc là sông Miên Mạn, thành nam là Quá Thủy, phía trước là cánh đồng cỏ lau mênh mông bát ngát, địa thế này rất dễ gặp công kích. Đại quân của quan gia đi sau sắp tới rồi, chúng ta nên tiếp tục tiến lên trước, xem xét thủy đạo ở xung quanh, dò tìm cánh đồng cỏ lau ở phía trước, đốn ra một khu cách lửa mới đúng."
Triệu Đức Chiêu mặt mày tươi cười nói: "Cao tướng quân nói rất có lý, có điều bản tướng quân lần đầu lĩnh binh, quan gia cũng nhiều lần căn dặn ta phải thật thận trọng, lấy cẩn thận là trên hết. Hiện giờ đại quân chưa tới, phía trước đã tiếp cận biên cảnh của Hán quốc, ba ngàn sĩ tốt của chúng ta nếu không cẩn thận đi vào cánh đồng cỏ lau để rồi trúng phải mai phục, thua trận thì không quan trọng, bản tướng quân có ba dài hai ngắn gì cũng không quan trọng, nhưng làm nhụt nhuệ khí của quân ta thì biết ăn nói hế nào với quan gia? Chúng ta cứ tiến lên trước đi, nếu đại quân của quan gia tối nay tới được thành Bình Định, trong thành không đóng được nhiều quân đội như vậy, tiên phong doanh của ta chuyển ra ngoài thành, đóng trại dựa lưng vào thành, bảo vệ quan gia. Hán quốc binh ít tướng thưa, dù có mai phục thì lúc đó cũng biết khó mà lui. Ha ha ha, nào, vào thành."
Cao Dận ăn phải cái đinh mềm, mắt thấy Triêu Đức Chiêu chuyên quyền độc đoán, đã hạ lệnh vào thành rồi, chỉ đành lui ngựa sang một bên.
Triệu Đức Chiêu ghìm ngựa đứng nghiêm, nhìn quân sĩ vào thành, trong lòng không ngờ lại nhớ tới lời dặn dò của ân sư: "Quan gia lòng mang ý xấu, lệnh cho ngươi làm tiên phong, tuyệt không phải là có ý tốt, đây là mượn đao giết người đó. Nhưng lý do mà hắn đưa ra rất đường hoàng, không thể nào cự tuyệt được. Có điều, đây cũng là một chuyện tốt, ít nhất thì chứng tỏ quan gia không dám công khai động tay động chân với ngươi, hắn có điều cố kỵ, ngươi mới có một tia hi vọng.
Ngươi lần này đi không cầu có công, nhưng cầu không tội, phải thật cẩn thận. Ngươi tuy là tiên phong, nhưng ngàn vạn lần không được xung phong lên trước, trong loạn quân, địch nhân không thể giết ngươi, nhưng phải phòng bị bắn lén ở phía sau. Vô luận là như thế nào, qua được một cửa này, quan gia sẽ càng khó tìm được cơ hội để hạ thủ đối với ngươi, ngươi mới có cơ hội báo thù cho tiên đế, tru sát tên tặc nhân giết vua đoạt quyền này."
Nghĩa tới đây, khóe miệng Triệu Đức Chiêu phác ra một nụ cười lạnh, đúng lúc này thì có người tới bẩm báo: "Tướng quân, tiền doanh đã vào thành rồi."
Triệu Đức Chiêu thúc ngựa nói: "Cao tướng quân ở phía sau, trung quân theo ta vào thành!"
Khi bộ đội tiên phong của Triệu Quang Nghĩa tới thành Bình Đinh thì nhân mã của Dương Hạo, Chiết Ngự Huân, Dương Sùng đã tới Lam châu. Đóng đại doanh xong, Dương Hạo phân phó phó tướng Lý Nhất Đức an bài việc hạ trại, còn mình thì tới trung quân của Chiết Ngự Huân.
Hắn mang Lý Nhất Đức theo bên cạnh, tất nhiên là bởi vì đại tướng tâm phúc đều dùng vào việc khác rồi, hắn mang nhánh tạp quân này tới Hán quốc thực chất cũng một phần là không tìm đâu ra được mấy nhân vật có thể cáng đáng được việc, một phương diện khác cũng không gì ngoài bởi vì Lý Nhất Đức tính tình chất phác, bách tính Ngân châu có một khu vực đều có quan hệ phức tạp chồng chéo với Hạ châu Lý gia, nếu đại quân của Lý Quang Duệ giết tới, rất khó bảo chứng khi đại quân của Lý gia áp cảnh, sẽ không vì tiền trình của gia tộc Lý thị mà bội phản một lần nữa. Vì sự an toàn, chỉ đành mang vị gia chủ của Lý thị này theo bên cạnh, Lý gia muốn đưa ra quyết định gì cũng phải nghĩ thật kỹ.
Dương Hạo tới đại doanh trung quân của Chiết gia, thấy chỉ huy sứ Xích Trung đang chỉ hủy bộ đội sở thuộc đào chiến hào, đóng cọc gỗ, bố trị bụi gai, rào chắn ngựa. Tuy nói rằng thám mã không dò la được tung tích của địch, quân đội của Hán quốc cũng không thể mạo kiểm đi xa mà công kích quân đội của họ như vậy, nhưng trên đường đi, Xích Trung an doanh đóng trại thủy chung không hề cẩu thả, tuyệt không qua loa một chút nào.
Dương Hạo và hắn quen biết nhau, lúc trước dẫn bách tính Bắc Hán dời tới Tây Bắc, người đầu tiên tới nghênh đón, và một đường hộ tống hắn về Phủ châu chính là vị Xích tướng quân này. Dương Hạo mỉm cười gật đầu chào: "Xích tướng quân, Chiết soái có ở trung quân không?"
Xích Trung quay đầu lại thấy là Dương Hạo, trên khuôn mặt luôn luôn nghiệm nghị lộ ra một nụ cười hiếm có: "Dương soái tới rồi đấy à, Chiết soái nhà ta đang ở đại trướng, có nói là lát nữa sẽ tới trung quân của Dương soái để bái phỏng, mời vào mời vào.
Dương Hạo thấy hắn muốn dẫn đường cho mình, vội vàng khách khí nói: "Sao dám phiền đến Xích tướng quân, tướng quân cứ làm việc của mình đi, Chiết soái là nghĩa huynh của ta, vốn không cần phải khách khí như vậy đâu, ta tự đi là được rồi."
Dương Hạo cất bước đi về phía trướng bồng lớn nhất, phó tướng Tiêu Thần của Xích Trung nhìn theo bóng lưng của Dương Hạo, than: "Ài, nhân sinh tế ngộ đúng là khó đoán. Hai năm trước, Dương Hạo vẫn là quan nhi cửu phẩm, nếu không phải là mang danh phận khâm sai, đừng nói là Chiết soái của ta, cho dù là tướng quân ngài, cũng không cần phải hạ mình đi gặp hắn. Hắn tới Biện Lương lòng vòng một hồi, làm quan càng lúc càng lớn, hiện giờ Tiết soái đã xưng huynh gọi đệ với hắn rồi, ngày xưa tướng quân cao cao tại thượng, hiện giờ gặp hắn lại phải vái chào, thuộc hạ trong lòng thật sự là con mẹ nó thấy chua xót sao ý."
"Nói cái rắm gì vậy, đi làm chuyện của ngươi đi!"
Xích Trung trợn mắt lên mắng hắn rồi quay người bỏ đi, đi tới chỗ xa xa, đưng ở mép sông Phần Thủy, đối diện với nước sông phẳng lặng, nhìn những cách hoa vàng lác đác trên mặt nước, Xích Tùng đột nhiên thở dài một tiếng.
Dương Hạo tới trung quân đại trướng của Chiết Ngự Huân, bên trong đã nhận được tin tức, Chiết Ngự Huân và Dương Sùng cùng nhau đứng dậy nghênh đón, Dương Hạo cười nói: "Nhị ca cũng tới rồi à?"
Dương Sùng cười nói: "Bọn ta đang nói tới đệ thì đệ đã tới rồi, vào trong ngồi đi nào."
Ba người vào trướng ngồi xuống, Chiết Ngự Huân lập tức hỏi: "Có tin tức gì chưa?"
Dương Hạo biết là hắn đang hỏi tới phía Hạ chân, liền lắc đầu, mỉm cười nói: "Làm gì mà nhanh như vậy được, muốn có được tin tức từ phía Hạ châu, e rằng phải mất mấy ngày."
Dương Sùng thở dài, nói: "Lão tam đúng là nhân tài làm đại sự, nếu đổi lại là ta, tuyệt không dám vứt bỏ căn cơ, mạo hiểm cử một lộ kỳ binh tới công đánh bản trận của Lý Quang Duệ đâu. Nếu thật sự làm vậy, e rằng ta sẽ ăn ngủ không yên, lão tam thì lại thản nhiên như không có chuyện gì, đảm phách này ta thật không thể sánh bằng."
Dương Hạo lắc đầu nói: "Trong lòng ta sao mà không thấp thỏm cho được? Có điều kế nghị đã định, nghĩ nhiều cũng vô ích, ta đã xuất chiêu rồi, hiện tại chỉ có thể chờ xem Lý Quang Duệ ứng chiêu như thế nào. Nếu như kế này của ta thành công, hai vị huynh trưởng, mấy chục năm mưa máu gió tanh của Tây Vực sau này có thể sau cơn mưa trời lại sáng trong mấy năm ngắn ngủi, điều này đối với ta hay đối với hai huynh đều là chuyện tốt. Lần này đáng để mạo hiểm mà.
Hiện giờ phải lập tức tiến vào Hán quốc, hội hợp với đại quân của quan gia, Hán quốc giờ đã không còn như xưa, lào sao mà kham nổi một trận? Nhưng quan gia lại bày ra trận trượng lớn như vậy, chẳng lẽ chỉ là để khoe khoang binh uy với một Hán quốc đang bấp bênh bên bờ sụp đổ hay sao? Quan gia điều chúng ta xuất binh, e rằng không chỉ đơn giản là điệu hổ ly sơn, tạo cơ hội cho Lý Quang Duệ thôi đâu."
Dương Sùng không nhịn được liền buột miệng hỏi: "Đệ nói sao cơ? Chẳng lẽ quan gia còn dám nhất loạt thu thấp chúng ta ư?"
Dương Hạo cười nhạt nói: "Loại chuyện đó thì hắn tất nhiên là không làm được, có điều mượn vào binh của hán quốc, diệt thế lực của ta và huynh, lại chỉ phải đùng cái miệng một chút là được, nếu đổi lại huynh là Triệu Quang Nghĩa, huynh có làm không?"
Chiết Ngự Huân cười lãnh nói: "Cái này ta cũng từng nghĩ tới rồi, quan gia chưa chắc đã không có tâm tư này, chúng ta cũng không phải là con rối để mặc cho người ta điều khiển, nếu hắn muốn để chúng ta đi đánh trận đầu, chúng ta không thể thừa cơ phóng nước ư?"
Dương Hạo mỉm cười, nói: "Ta chính là có ý này, chúng ta lần này đi phải đồng tâm hiệp lực, cùng tiến cùng lui, chỉ cần ba huynh đệ chúng ta một lòng, quan gia rất khó mà giở được trò gì."
Nói tới đây, hắn lại quay sang Dương Sùng, nói: "Nhị ca, bộ quân đô ngu hậu Lưu Kế Nghiệp của Hán quốc là bào huynh của huynh, lần này, Hán quốc e rằng khó mà tránh khỏi kiếp nạn, lệnh huynh nếu như không kịp thời tránh đi... nhị ca có tính toán gì không?"
Nụ cười trên mặt Dương Sùng lập tức biến mất, da mặt của ít co giật mấy cái, trầm giọng nói: "Đại ca... cùng ta đã hơn hai mươi năm không qua lại rồi. Cái mà ta phải bảo vệ là Dương gia của ta, cái mà đại ca bảo vệ là Hán quốc Lưu thị. Từ sau khi hắn trở thành cháu nuôi của Hán đế Lưu Sùng, ta đã nhiều lần viết thư cho hắn, khuyên hắn bỏ Hán quay về, nhưng đại ca cảm niệm ân tình Hán đề, kiên quyết không nghe. Sau khi Hán đế Lưu quân bái hoàng đế Khiết Đan làm cha, trên tộc phổ ở từ đường của Dương gia đã gạch tên của đại ca rồi, để tránh tổ tông vì hắn mà hổ thẹn. Hiện giờ hắn nếu ở trước trận trở giáo, nhận tổ quy tông, Dương Sùng vẫn nhận hắn là đại ca, nếu không, duy chỉ có đao kiếm gặp nhau, tình huynh đệ khó mà giữ được!
Dương Hạo nói như chém đinh chặt sắt, Dương Hạo nghe mà vừa kinh ngạc lại vừa vui mừng, hắn biết Dương Kế Nghiệp tuyệt đối sẽ không làm ra loại hành vi ở trước trận mà bỏ chủ, hiện giờ bất kể Dương Sùng khí phách lẫm liệt, hay là không muốn để có người làm lung lay địa vị gia chủ Lân châu Dương thị của hắn, nhưng đã rõ tâm ý của hắn, vậy thì mình vẫn có một tia hi vọng thu phục Dương Kế Nghiệp.
Con cháu của ngũ đại thế gia danh tướng thời Tống sơ là Dương, Tào, Chủng, Chiết, Lý cũng có rất nhiều người làm danh tướng, chiến công hiển khách. Hiện giờ Tào gia Tào Bân, Lý gia Lý Kế Long đã theo Tống, Chiết gia Chiết Ngự Huân là đại ca kết nghĩa mình, Chủng gia, thế gia duy nhất từ văn thần đại nho thế gia trở thành võ tướng thế gia hiện giờ vẫn chưa biết người ở nơi nào. Dương gia bài danh đệ nhất có thể lọt vào tay mình hay không, thì phải xem xem hắn lần này có thể từ trong miệng của Triệu Quang Nghĩa đoạt được vị Dương lão bệnh công này không.
Tất cả mọi người đều đang tiến về phía Hán quốc, nhưng sự chú ý của tất cả mọi người lại đều không đặt ở đó. Chiến trường chủ thật sự của Dương Hạo là ở Tây Vực, còn toan tính của Triệu Quang Nghĩa cũng không phải ở Hán. Hán quốc vốn nên là sự tồn tại tập trung ánh mắt của tất cả mọi người hoàn toàn trở thành một lớp ngụy trang, ai ai cũng đều nhận định rằng Hán quốc bị tiêu diệt là chuyện hiển nhiên, nhưng Hán quốc tất nhiên là cũng không cam lòng chịu chết.
Đô thành của Hán quốc, hoàng cung Tấn Dương, quần thần đứng trang nghiêm, hơi khom mình về phía hoàng tọa, bầu không khí vô cùng nặng nề. Trên bảo tạo, Lưu Kế Nguyên mặc một chiếc áo da cừu, mệt mỏi nói: "Chư vị ái khanh, Tống quốc hoàng đế ngự giá thân chinh, tám lộ đại quân sắp bao vây đô thành, các khanh... đã nghĩ ra đối sách gì chưa?"
Giọng nói của hắn rất mệt mỏi, mặc dù vẫn lộ ra một chút âm nhu, nhưng hoàn toàn không còn vẻ tàn nhẫn như năm xưa. Hắn vốn không phải họ Lưu, mẫu thân của hắn vốn là nữ nhi của Hán khai quốc hoàng đế Lưu Sùng, trước gả cho họ Tiết, sinh con trai là đặt tên là Kế Ân, sau gả cho họ Hà, lại sinh con trai đặt tên là Kế Nguyên, hai người đều là dưỡng tử (con nuôi) của cữu phụ Lưu Thừa Quân. Sau khi Lưu Thừa Quân chết, do dưỡng tử Lưu Kế Ân lên ngôi, tháng chín cùng năm Lưu Kế Ân lại bị đại thần Hầu Phách Vinh giết chết, thế là Lưu Kế Nguyên liền làm hoàng đế Hán quốc.
Lúc mới kế vị, để củng cố hoàng quyền, con cháu Lưu thị bị hắn đồ sát gần hết, đối với đại thần trong triều cũng tiến hành thanh trừng một phen, trước tiên thì tin tưởng đại tướng Mã Phong, giết chết đại tướng Trịnh Tiến, lại sủng tín hoạn quan Vệ Đức Quý, giải trừ quân chức của thổ hồn quân thống soái Vệ Trù, về sau lại giết chết ông ta, đại tướng Lý Ẩn vì bất bình cho Vệ Trù, lại bị hắn giết chết. Kể ra, quân đội của Bắc Hán quốc có hai cột trụ lớn thì một là quân đội của bộ quân đô ngu hậu do Lư Kế Nghiệp thống soái, một là thổ cốc hồn quân do Vệ Trù thống soái. Vệ Trù vừa chết, thổ cốc hồn quân kiêu dũng thiện chiến sĩ khí xuống thấp, người cởi giáo đào ngũ nhiều không đếm xuể, chính quyền Bắc Hán vốn đã lộ ra nguy cơ càng như tàn chúc trong gió, Lưu Kế Nguyên tự hủy trường thành của mình, cuối cùng cũng gặp quả báo, hiện tại người một lòng làm việc vì triều đình càng lúc càng ít.
Lưu Kế Nguyên vừa hỏi, đầu của quần thần đã cúi thấp lại càng thấp hơn, Lưu Kế Nguyên giống như không chịu nổi sự lãnh lẽo trên kim điện, thân hình co thành một khối, u buồn nói: "Chẳng lẽ... thiên hạ của Hán thất ta hiện giờ lại mất trong tay của trẫm ư?" Tiếng nói sụt sùi, như khóc như than, giọng nói của hắn tuy hữu khí vô lực, nhưng vừa nhỏ lại vừa dài, trên kim điện tuy rằng bá quan đứng chật ních, nhưng lại vắng lặng như tờ, giọng nói của Lưu Kế Nguyên lượn lờ vang vọng, quần thần nghe thấy đều run rẩy trong lòng, chỉ sợ vị hoàng đế khát máu này trong cơn tuyệt vọng sẽ giết người bừa bãi.
Trung điện giám Lý Uẩn ho khan một tiếng, thu hết can đảm bước ra khỏi hàng, nói: "Bệ hạ, hiện giờ quốc nạn lâm đầu, Hán quốc ta lại mất đi sợ che chở của Khiết Đan, bằng vào mấy tòa thành, mấy vạn nhân mã của chúng ta, thế khó mà đối kháng được với đại quân của Tống quốc, tình hình hiện giờ, nếu tiếp tục chống đối, chẳng qua là lấy trứng chọi đá, Tống quốc nhất thống trung nguyên đã là xu thế không thể nghịch chuyển, thần to gan, liền chết can gián, bệ hạ, không bằng mở cửa đầu hàng, để bảo vệ tông tự."
Những lời này của Lưu Uẩn rất được bá quan văn võ ủng hộ, hiện giờ đã có người nói trước, bá quan văn võ liền nhao nhao phụ họa. Tiễn Thuận, La Huân bước lên trước quỳ xuống, mồm năm miệng mười nói: "Bệ hạ, Lý đại nhân nói rất đúng, tình hình hiện giờ, với cô quân của ta thế khó mà cản được thế công của quân Tống, không bằng... đầu hàng đi."
Lưu Kế Nguyên co ro ngồi đó, một hồi lâu vẫn chưa nói gì, bá quan văn võ phát giác có điều khác thường, giọng nói đều nhỏ dần. Một lúc sau, giọng nói âm nhu của Lưu Kế Nguyên mới lại vang lên: "Đúng vậy, với cô thành của ta, làm sao mà chống cự nổi mấy chục vạn hùng sư của quân Tống chứ?"
Bọn Lý Uẩn mừng rơn, chỉ cho rằng Lưu Kế Nghuyên đã đồng ý đầu hàng, đám văn võ tướng lĩnh Cao Tư Dương, Lý Thuận Dương, Trương Tử Hoặc đang quan sát tình hình thì thầm nghĩ: "Sơn cùng thủy tận, bệ hạ quả nhiên muốn hàng rồi, hôm nay lập trường của mình như thế nào, ngày sau truyền vào tai Tống đình, có thể liên quan tới tiền trình của một nhà ta." Thế là lập tức bước lên trước một bước rồi quỳ xuống, liên tục phụ họa nói: "Bệ hạ anh minh, chúng thần cho rằng, hôm nay đánh không thể đánh, duy có đầu hàng thì mới tránh được ngọc đá đều vỡ."
Không ngờ Lưu Kế Nguyên lại nói tiếp một câu: "Nhưng nếu... hàng Tống quốc rồi, thật sự có thể đảm bảo cho ta tipees tục được phú quý truyền thừa hay không? A a a a..."
Hắn bật cười mấy tiếng âm dương quái khí, mỉm mai nói: "Con trai của Sài Vinh chết rồi... Thục quốc Mạnh Hòa... chết rồi, Đường quốc Lý Dục... chết rồi. Chỉ còn lại ba tên vua mất nước Kinh, Hồ, Nam Hán cả ngày nơm nớp lo sợ, không biết hôm nào thì một mạng về tây. Trẫm nếu hàng Tống quốc, các ngươi vẫn được làm quan của các ngươi, hiệu trung với hoàng đế mới của các ngươi, nhưng trẫm thì không những không làm được thiên tử nữa, mà ngay cả một tù đồ cũng không bằng...
Đám quan viên khuyên hàng như Lý Uẩn cả người toát mồ hôi lạnh, vội vàng quỳ xuống biện giải: "Chúng thần chỉ một lòng tính toán cho bệ hạ mà thôi, bệ hạ nếu hàng, chúng thần hàng theo bệ hạ, bệ hạ nếu không hàng, thần nguyện thề chết tử thủ thành trì, cùng tồn vong với Hán quốc ta."
Lưu Kế Nguyên khép tay áo, hai mắt híp lại không nói gì, lúc này những quan viên đang quan sát tình hình cho là mưu đã thành, quan viên do hữu tướng quân Lý Huân cầm đầu vội vàng nhao nhao bước lên, ưỡn ngựa giậm chân đại biểu cho lòng trung thành sẽ thề chết bảo vệ Hán quốc, quyết một trận tử chiến với Tống quốc.
Lưu Kế Nguyên cười lạnh một tiếng, lạnh lùng nói: "Các ngươi sẽ bảo vệ giang sơn xã tắc như thế nào, quyết một trận tử chiến với Tống quốc ra sao? Chỉ bằng vào cái miệng của các ngươi thôi à."
Chúng thần lập tức câm như hến, không dám nói một tiếng nào nữa, văn võ vừa rồi xin hàng đang quỳ trên mặt đất thì càng sợ hãi không dám thở mạnh. Lưu Kế Nguyên chậm rãi ngổi thằng người dậy, nhìn về phía Lưu Kế Nghiệp từ nãy đến giờ vẫn một mực chắp tay trước ngực không nói gì, nhẹ nhàng hỏi: "Kế Nghiệp, khanh có chủ trương gì không?"
Lưu Kế Nghiệp bước lên trước một bước, đầu cũng không ngẩng lên, trầm giọng thưa: "Bệ hạ, với sức của Hán quốc ta, một cây khó mà chống giữ được đại cục. Hiện giờ hàng thì sợ rằng sống chẳng bằng chết, mà chiến thì chắc chắn sẽ bại, trong mười thành, chưa chắc đã có một thành chiến thắng, thần thấy rằng, hai bên thực lực cách xa nhau, cũng không thể nào nắm chắc được gì. Thần chỉ có thể nghe theo tất cả mệnh lệnh của bệ hạ, bệ hạ muốn hàng thì thần tự sẽ tòng mệnh, bệ hạ muốn chiến, thần sẽ lấy thân mình báo đáp quốc gia."
Những lời nói này của Lưu Kế Nghiệp có chút vô lễ, hoàng đế hỏi hắn, hắn lại đá quả bóng trở về, nhưng những gì mà hắn nói quả thật là tình hình thực tế, không cần hiền quân năng thần gì cả, tình hình của Hán quốc hiện giờ, ai ai cũng biết rõ ở trong lòng. Những lời này nói xong rồi, Lưu Kế Nguyên không ngờ lại không hề tức giận, mắt hắn lấp lánh không biết là đang nghĩ những gì, một lúc sau mới chậm rãi nói: "Kế Nghiệp, trẫm nếu muốn chiến vây thì có một tuyến sinh cơ hay không?"
Lưu Kế Nghiệp nghiêm mặt nói: "Bệ hạ, nếu quyết tâm đánh một trận, trước tiên phải mang lòng ắt phải chết, thần dân cả nước đều sống chết với thành thì may ra có thể ngăn cản được Tống quốc, còn nếu mang lòng cầu may, do dự không quyết đoán, vậy thì chẳng thà hàng còn hơn."
Nhưng lời này của hắn càng vô lý hơn, trên mặt Lưu Kế Nguyên thì lại lộ ra mấy phần tiếu ý. Hắn đa nghi hiếu sát, sủng tín gian nịnh, văn võ trong triều đều bị hắn sai người giám thị, một khi nghe thấy phong thanh gì, lập tức ra tay giết người không chút do dự. Nhưng đối với lòng trung thành của tên nghĩa đệ Lưu Kế Nghiệp này, hắn trước giờ lại chưa từng nghi ngờ, tên hôn quân này tin Lưu Kế Nghiệp như vậy, cũng tính là một kỳ số.
Hắn đưa tay ra, vỗ lên tay vịn của ngự tọa, nói: "Được, vậy trẫm quyết tử một trận, trẫm nên thủ thành như thế nào, ngươi trong lòng có tính toán gì không?"
Lưu Kế Nghiệp chắp tay nói: "Xin để thần cầm bản đồ tới rồi bẩm báo kỹ càng với bệ hạ." Lưu Kế Nguyên gật đầu đáp ứng, lập tức có hai kim qua võ sĩ cầm một bức bản đồ dài ngoằng tới, từ từ mở ra ở trên kim điện, Lưu Kế Nghiệp bước lên trước, chỉ thấy trên bản đồ vẽ đầy đủ núi sông đất đai, văn võ đại thần đều tập trung ở hai bên, chen chúc nhìn tấm bản đồ đó. Lưu Kế Nghiệp bước lên trước, chỉ tay nói: "Bệ hạ nhìn xem, Triệu Quang Nghĩa dùng Phan Mỹ làm Bắc lộ đô chiêu thảo sứ, tự mình dẫn đại quân, đã tới Bình Định. Mễ Tín, Điền Trọng Tiến cùng làm hành doanh chỉ huy sứ, đã tới Bình thành, Thái Cốc. Thôi Ngạn Tiến, Lý Hán Quỳnh, Lưu Ngộ mỗi người dẫn một lộ binh mã đã tới Kỳ huyện, Đại Thông quan, Hồ Đột sơn. Vân châu quan sát sứ Quách Tiến đã tới Vu huyện, ba mặt bắc đông nam đều đã thành thế một giọt nước cũng không lọt, còn mặt tây, Chiết Ngự Huân, Dương Sùng, Dương Hạo đã dẫn binh tới Lam châu, không lâu nữa sẽ tới Lâu Phiền..."
Tuy nói rằng văn võ bá quan sớm đã biết lần này Tống quốc đại quân tập hợp, Hán quốc đã là ba ba trong giỏ, lên trời không lối, xuống đất không cửa, nhưng nghe Lưu Kế Nghiệp nói vậy, tận mắt nhìn thấy tất cả các con đường ở bốn phương tám hướng đều bị quân Tống vây chặt, đang từng bước dồn tới, khép chặt vòng vây về phía thành Tấn dương, ai này mặt đều vàng như nghệ, khuôn mặt vốn đã không còn chút huyết sắc của Lưu Kế Nguyên càng biến thành trắng bệch hơn.
Lưu Kế Nghiệp thì vẻ mặt ung dung, giống như chuyện đang nói chẳng có quan hệ gì tới hắn vậy. Hắn lại nói: "Trái lại Hán quốc của ta thì hiện giờ binh nguyên cạn kiệt, bộ kỵ trong đô thành tổng cộng không quá một vạn bảy ngàn người, binh sĩ của Khống huyện năm ngàn người, sĩ tốt ở ngoài thành cộng lại cũng không tới một vạn người, đây chính là toàn bộ gia sản của Hán quốc ta."
Hô hấp của bá quan văn võ càng gấp rút hơn, Lưu Kế Nghiệp nói: "Hiện giờ Tống quốc binh mạnh ngựa khỏe, với uy thế này, một đường bức tới, không chút cố kỵ, chúng ta lại cũng không thể chia binh tập kích, quấy nhiễu, ngăn cản bước tiến của chúng. Tấn Dương bốn thành chỉ có một chỗ công phá, nhưng lại cũng không kháng cự được, hiện giờ không có Khiết Đan giúp sức, nếu muốn ngăn cản đại quân của Tống quốc, cơ hồ là không có khả năng."
Lưu Kế Nghiệp lập tức nắm được một tia tin tức, thân hình rướn lên trước, truy hỏi: "Cơ hồ là không có khả năng ư? Vậy thì có nghĩa là vẫn còn một tia hi vọng?"
Lưu Kế Nghiệp trầm mặc một lát, cúi người nói: "Thần đã nói rồi, trừ phi bệ hạ ôm lòng quyết tử, toàn dân hi sinh cùng thành, nếu không... mạo hiểm đánh một trận thì chẳng thà hiện tại đầu hàng luôn cho xong."
Lưu Kế Nguyên chăm chú nhìn Lưu Kế Nghiệp một lúc lâu, chậm rãi ngồi thẳng dậy, vẻ mặt đang xúc động dần dần khôi phục lại bộ dạng lạnh lùng tàn nhẫn, âm nhu nói: "Quốc nạn lâm đầu, trẫm quyết tâm hi sinh với thành, quyết không hàng Tống. Đám người Lý Uẩn,Tiễn Thuận, La Huân, Cao Tư Dương, Lý Thuận Dương, Trương Tử Hoặc ăn bổng lộng của quốc gia nhưng lại bất trung với chuyện của quốc gia, quốc nạn lâm đầu, thân là trọng thần triều đình nhưng chỉ tính toán cho bản thân, tội không thể tha! Lập tức đuổi ra khỏi điện, chém đầu tại ngọ môn! Cả nhà giả trẻ lớn bé đều ban chết theo!"
Văn võ đại thần đang quỳ trên điện nghe thấy mệnh lệnh này, nhất thời giống như sấm đánh trên đỉnh đầu, nhao nhao ào lên trước khóc lóc xinh tha mạng. Lưu Kế Nguyên lạnh lùng nhìn bọn họ, nói: "Còn không mau chấp hình?"
Một đám kim qua võ sĩ xông vào điện, không phân bua gì lập tức kéo đám văn võ đó ra khỏi điện, đám quan viên văn võ chưa khuyên hàng đứng ở bên cạnh không khỏi sợ hết hồn, lúc này Lưu Kế Nguyên lại đổi sang vẻ mặt tươi cười, cúi người xuống nhìn Lưu Kế Nghiệp, thân thiết nói: "Ý trẫm đã quyết, ngươi thấy rồi đó. Ái khanh có kế gì hay? Hiện tại... có thể nói ra rồi đấy."
...
Đầu tháng ba, một mặt sườn núi hướng về phía mặt trời đã tan băng tuyết, cỏ dại xanh rì nhô ra khỏi mặt đất, lặng lẽ tỏa ra màu của sắc xuân. Mà mặt khuất thì vẫn ngập trong tuyết trắng, chỉ là tuyết đã hóa thành mỏng rồi, bước bên trên, đất đông cứng cũng đã tan, rất dễ biến thành bùn lầy dưới móng ngựa, bùn đất và tuyết trộn lại với nhau, biến thành màu xám dơ bẩn.
Nước sông đã tan băng, nhưng mép sông vẫn còn đóng một tầng băng mỏng, nước sông trong suốt chảy róc rách dưới mặt băng, khiến tầng băng càng lúc càng mỏng, hơi có chút chấn động là có thể sẽ có một mảng băng đổ xuống, nhanh chóng bị nước sông hòa tan. Có điều nước sông lúc này vẫn lạnh đến thấu xương, rất khó lội qua, cho dù là chiến mã cũng phải băng nhanh qua khe suối nông, nếu không khó mà chịu được thời gian dài trong nước sông lạnh căm.
Từ nơi này một đường tiến về đông, có rất nhiều dòng chảy của Phàn Thủy, phía trước mắt thấy xuất hiện một dòng sông khá rộng, một con sông lớn ước chừng rộng hơi năm mươi trượng, tuy nói rằng mùa đông nên nước sông không cao, chỗ sâu nhất cũng chỉ có bộ phận ở chính giữa là sâu khoảng trượng bốn trượng năm, còn bộ phận ở hai bên thì ngập tới thắt lưng, muốn đi bộ qua đây là một chuyện rất khiến người ta đau đầu, nhưng đừng nói là nhân mã có chịu nổi hay không, cho dù cường hành vượt sông, e rằng nhất nhiều người sẽ bị phát bệnh vì lạnh. May mà trên con sông này có một cây cầu gỗ, nhưng bất hạnh là cây cầu này hiện tại đang bị mấy chục binh sĩ Hán quốc cầm búa lớn liều mạng mà chặt, tiến hành phá hủy.
Quân tiên phong của Dương Hạo vòng qua góc núi, vừa hay nhìn thấy Hán binh đang liều mạng phá cầu gỗ, lập tức hò hét xông lên, một tên tiểu giáo Hán binh ở đầu cầu đang vung búa chặt cột cầu, thấy tình cảnh này vội vàng vứt búa chạy về phía chiến mã, tuổi của hắn không lớn, thân hình cũng khỏe mạnh, tung người nhảy lên lưng chiến mã, rút một cây thương ra, quay đầu lại hô lớn: "Ta đi cản địch, các ngươi cố gắng phá cầu, kéo dài thời gian của bọn chúng, chúng ta sẽ có cơ hội lớn hơn..." Nói xong liền dẫn mấy tên lính hung hãn không sợ sệt lao về phía quân của Dương Hạo.
"Thiếu tướng quân, thiếu..." Một tên lính râu quai nói đang cúi đầu chặt cầu ngẩng đầu lên gọi, thiếu niên đó đã dẫn hơn chục thân binh lao về phía hổ lang kỵ của Dương Hạo, tên râu quai nói đó hậm hực giậm giậm chân, trút toàn bộ khí lực nên cột cầu.
"Ha ha ha... mấy người này không ngờ cũng dám động thủ với chúng ta, nam nhi Hán quốc cũng có được vài hán tử đó." Ở phía trước là một đám Ngân châu binh, thấy đối phương là một thiếu niên, dẫn theo hơn chục binh đinh, không ngờ dám xông về phía bọn họ, những Ngân châu binh này không khỏi mừng rơn, tên tiểu tướng đó cũng sử dụng một cây thương lớn, đại thương trong tay vung lên, "bộp bộp bộp" như kim kê gật đầu, đánh cho hai tên Ngân châu binh không kịp chống đỡ rơi xuống ngựa.
Nhưng khi chiến mã của song phương đụng vào nhau, những tên Ngân châu binh này liền vặn đầu ngựa đi lướt qua họ, tên giáo úy này đánh bị thương hai tên Ngân châu binh thì đại quân của Ngân châu binh không ngừng xông lên, đã bao chùm bọn họ trong dòng lũ, Ngân châu binh ở phía trước không ngừng giết về phía mép cầu, người còn chưa tới đầu cầu, lợi tiễn trong tay đã gào rít bắn ra, những binh sĩ đang cầm búa không kịp né tránh, lập tức có người trúng tên.
Tên giáo úy đó cố gắng ngăn cái quân địch đang lướt tới, nhưng vòng qua góc núi này là một khoảng đất trống trải, không phải là nơi hiểm yếu để dùng ít chặn nhiều, hắn chỉ có hơn chục người, làm sao mà ngăn được nhiều binh mã như vậy, mắt thấy binh sĩ ở đầu cầu đã bị nhấn chìm trong làn mưa tên, hắn có lòng muốn quay đầu ngựa lại để bảo vệ, nhưng bốn phương tám hướng đều là Ngân châu thiết kỵ, bon họ bị vây ở giữa, đã tiến thoái lưỡng nan rồi.
"Báo, đại soái, đầu cầu ở phía trước có Hán binh chặt cầu."
Dương Hạo kinh ngạc nói: "Có bảo vệ được cầu không?"
Tham mã đó nói: "May mà quân ta tới kịp thời, Hán binh đang hủy cầu bị bắn chết hết rồi, cầu chỉ bị chặt mất một đoạn, muốn tu sửa lại cũng không khó."
Dương Hạo lúc này mới an tâm, gật đầu nói: "Lý tướng quân, chúng ta đi xem thế nào."
Khi bọn họ tới phía trước thì cuộc đụng độ ngắn ngủi này đã kết thúc, tuy nói là đường hẹp gặp nhau ai dũng cảm thì thắng, nhưng thực lực của không bên cũng phải là không cách biệt nhau quá lớn, tên giáo úy trẻ tuổi đó chỉ dẫn theo có hơn chục kỵ binh, làm sao có thể là đối thủ của Ngân châu binh được, một cây thương lớn trong tay hắn tuy xảo quyệt độc ác, ngay cả Lý chỉ huy cũng suýt nữa trúng thương của hắn, nhưng dẫu sao cũng là binh ít tướng thiếu, lúc này hơn chục người đã bị đánh ngã cả rồi.
Mặc dù là như vậy, khi Dương Hạo tới nơi vẫn cảm thấy giật mình, Ngân châu binh tuy trước sau bại trong tay Khánh vương và hắn, kỳ thực cũng chẳng liên quan gì tới sức chiến đấu của Ngân châu binh cả, chiến tranh tuyệt không chỉ là đọ võ lực của chiến sĩ, công bằng mà nói, công phu kỵ xạ của Ngân châu binh không hề thua kém thiết kỵ của Khiết Đan, nhưng trận chiến bất ngờ này, Ngân châu binh lấy nhiều đánh ít với hơn chục người này, không ngờ lại chịu thương vong hơn ba mươi người.
Lý chỉ huy bị tên tiểu giáo uy đó một thương đâm rách chiến bào, nếu không phải là binh sĩ đã ngã ngựa kịp thời vung đao chém đứt chân ngựa của tên giáo úy Hán quân đó, khiến cho thương lớn của hắn mất đi độ chuẩn xác, vậy thì một thương ấy đã đâm lủng bụng hắn rồi, do đó mà nổi trận lôi đình, tên giáo úy đó đã bị trúng thương ngã xuống ngựa, hắn vung roi ngựa liều mạng mà quật, roi ngựa gào rít, quất cho tên tiểu giáo úy cả người đầy thương tích, tên tiểu giáo úy cũng rất rắn rỏi, không ngờ lại nghiến răng chịu đựng, không hề phát ra một tiếng hét đau đớn nào.
"Được rồi, dừng tay!" Dương Hạo và Lý Nhất Đức đi tới, thấy tên tiểu giáo úy đó mới chỉ mười sáu mười bảy tuổi, mặt mày vẫn còn rất non nớt, trong lòng có chút bẫn nhẫn, liền cao giọng quát dừng. Lý chỉ huy thấy đại soái và gia chủ tới rồi, lại độc ác quất thêm một rơi nữa mới hậm hực chạy lên đón: "Đại sái, thuộc hạ thấy địch ít, nhất thời sơ xuất, chịu tổn hại..."
Dương Hạo xua tay, nói: "Bảo vệ được cây cầu này đã là một đại công rồi, tướng quân không cần phải tự trách nữa." Hắn cùng Lý Nhất Đực giúp ngựa phi lên trước, trước tiên nhìn cây cầu gỗ đó, cây cầu này dựng rất chắc chắn, chỉ bị những Hán binh này chặt đứt một khối ở giữa, lỗ thủng chẳng qua chỉ khoảng năm thước, cũng không cần phải xuống nước đóng cọc, chỉ cần lát phẳng đoạn bị thủng này là đủ để đảm bảo cho đại quân đi qua rồi, hai người lúc này mới yên tâm.
Trên cầu găm vô số mũi tên, những binh sĩ đang cầm búa phá cầu đại đa số là bị lợi tiễn bắn chết, dưới loạn tiễn không phân biệt chỗ nào là yếu hại, người bị trúng tên vào ngực, bụng, cánh tay đều có, thậm chí có người há miệng la hét còn bị tên bắn trúng miệng, người bị bắn xuyên qua mắt cũng có, tử trạng vô cùng chê thảm, hai người không muốn nhìn thêm nữa, quay đầu ngựa phóng trở lại. Tới trước mặt những tên Hán binh ngăn địch đó, chỉ thấy trên mặt đất ngổn ngang hơn chục cỗ thi thể, có người bị đập cho cả người nát bấy, trên mặt đất chỉ có tên giáo úy trẻ tuổi đó và một binh sĩ trên dưới ba mươi là còn sống. Tên thiếu niên phần bụng trúng một thương, lúc này đang ôm bụng, máu trào ra qua kẽ tay, hắn nghiến chặt răng không rên lên một tiếng nào, trên chân bị chém một đao, càng đau đến nỗi sắc mặt trắng bệch.
Dương Hạo giục ngựa tiến tới, đi vòng quanh hai người này một vòng, mỉm cười khen ngợi: "Chỉ hơn chục binh lính, không ngờ dám xông lên cản đường của đại quân ta, hảo đảm phách.”
Tên giáo úy đó tức giậm lườm hắn, lớn tiếng nói: "Ngươi muốn giết thì giết đi, đừng có nói mát làm gì."
Dương Hạo dùng mũi roi cạ cạ vào mép mũ sắt, cười nói: "Bản soái là bội phục từ tận đáy lòng, sao lại bảo là nói mát được. Các ngươi là thuộc hạ của ai, đã ở nơi này phá cầu, phía trước có thôn trấn nào của các ngươi không? Đóng bao nhiêu binh mã?"
Tên giáo úy trẻ tuổi cắn chặt răng không nói gì, Lý chỉ huy quát: "Đại quân của quan gia áp cảnh, Hán quốc đã là trứng chọi đá, không kham nổi một kích. Các ngươi còn bán mạng cho tên hôn quân Lưu Kế Nguyên đó làm cái gì? Vị này là Hà Tây Lũng hữu binh mã đại nguyên soái Dương đại tướng quân, các ngươi nếu không ngoan ngoãn trả lời, ta sẽ chém cái đầu chó của các ngươi đó."
Tên giáo úy trẻ tuổi trừng mắt lườm hắn, cười lạnh nói: "Nếu chiến mã của của ta không bị chặt chân, một thương vừa rồi của tiểu gia đã lấy cái đầu chó của ngươi rồi, ra vẻ ta đây cái gì chứ?"
Lý chỉ huy thẹn quá hóa giận, lại muốn vung roi quất hắn, Lý Nhất Đức lập tức quát: "Đại soái ở trước mặt, nào đến lượt ngươi càn rỡ, lui xuống!"
Tên lão binh đó nghe nói người ở trước mắt là Hà Tây Lũng hữu binh mã đại nguyên soái Dương Hạo, mặt cũng lộ ra vẻ kinh ngạc, hắn quan sát Dương Hạo từ trên xuống dưới một lượt, đột nhiên nhịn đau đáp: "Ta họ Lý, tên là Lý Mặc, hắn là cháu ruột của ta, tên là Duyên Chung. Đại soái muốn ta trả lời câu hỏi của ngài cũng không sao, nhưng nhà ta chỉ có một dòng độc đinh là hắn, chúng ta sẽ ngoan ngoãn trả lời đại soái, đại soái có thể tha cho tính mạng của chúng ta không?"
Tên thiếu niên đó nghe thấy y mở miệng thì không khỏi giật nảy mình, trợn mắt tức giận lườm y, tên lão binh đó lại cướp lời: "Cháu à, nhà ta chỉ còn một dòng độc đinh là cháu thôi, lúc trước tòng quân nhập ngũ, cha cháu đã dặn đi dặn lại, bảo ta phải chiếu cố chu toàn cho cháu, cháu nếu có ba dài hai ngắn gì, ta há chẳng phải là có lỗi với liệt tổ liệt tông nhà ta ư.
Những tin tức này chúng ta cho dù không nói thì bọn họ tiến về phía trước cũng có thể nghe ngóng được rõ ràng thôi, chúng ta làm binh của Hán quốc, ăn lương của Hán quốc, đã vì Hán quốc mà ra sức rồi, cũng tính là không có gì phải xấu hổ cả, hiện giờ chẳng lẽ không nên tính toán cho mình ư?"
Tên thiếu niên đá nghe vậy liền trầm giọng hừ một tiếng rồi không nói gì nữa.
Dương Hạo nhìn bọn họ, cười nói: "Giết hai người thì ta có lợi gì chứ? Các ngươi ngoan ngoãn trả lời đi, ta thả các ngươi cũng không sao cả."
Tên lão binh đó nghe vậy liền lắc lư đứng dậy, hành lễ với Dương Hạo, nói: "Đa tạ đại soái khai ân, chúng ta là binh lính dưới trướng Lâu Phiền thành thủ tướng Quân Thiên Thương Quân tướng quân, triều đình đã buông bỏ thành bảo các nơi, hạ lệnh tập kết tất cả binh mã bảo vệ Tấn Dương. Trước khi Quân tướng quân dẫn binh mã quay về Tấn Dương đã phái rất nhiều tiểu đội đi các nơi phá hỏng đường xá cầu cống để cản trở hành trì của các người, tận dụng thêm thời gian để phòng thủ Tấn Dương, phía trước... đã không còn binh mã gì cả."
"Ồ?" Dương Hạo và Lý Nhất Đức trao đổi ánh mắt, hiện giờ Hán quốc binh lực kém, loại phương pháp này cũng là biện pháp khi không có biện pháp, tập kết tất cả binh lực, thủ vững một tòa thành lớn Tấn dương, dường như là sách lược có thể thủ duy nhất của Hán quốc vào lúc này, nghe ra những gì mà hắn nói hình như không không phải là dối trá, nói như vậy, trên con đường này cũng không còn trận nào để đánh nữa, khổ chiến chân chính chỉ là ở dưới thành Tấn Dương mà thôi.
Lão binh đó lại nói: "Những binh đinh khốn khổ chúng ta chỉ là tiểu tốt để người ta sai bảo, cũng chỉ biết được có bấy nhiêu đây, đại soái hỏi gì, chúng ta đều đáp rồi, đại soái có chịu tha cho chú cháu chúng ta một mạng không?"
Dương Hạo thấy hai người một người thì bụng trúng thương, một người thì vai cắm lang nha tiễn, độc trên mũi tên đã thâm nhập vào xương cốt, trên đùi lại máu chảy như suối, không khỏi thở dài một hơi, xua tay nói: "Với tình hình hiện tại của hai người các ngươi, có thể sống sót được hay không là rất khó nói, các ngươi có muốn gia nhập với chúng ta hay không, bản soái sai người chữa trị cho hai chú cháu các ngươi."
Lão binh đó nói với vẻ nản lòng thoái chí: "Đa tạ sự coi trọng của đại soái, đối với Hán quốc, chú cháu chúng ta đã tận hết bổn phận của mình rồi, đã xứng đáng với tấm thân nam nhi này, giờ ta cũng chỉ muốn dẫn đứa cháu này quay về gia hương, không muốn động đao động thương nữa. Tống quốc nếu thật sự giành được thiên hạ, bốn phương thái bình, chú cháu ta an tâm làm nông cũng là một con đường sống."
Dương Hạo thở dài một hơi, cười khổ nói: "Vậy thì cứ theo ý nguyện của ngươi."
Lão binh đó bò dậy, khập khà khập khiễng đỡ thiếu niên đó lên, thiếu niên đó tự xé một miếng vải trên áo của mình, trước tiên buộc lại vết thương trên đùi lão binh đó, rồi lại bẻ cán tên trên vai y rồi mới xé một miếng vải buộc chặt bụng mình lại, hai người đỡ nhau đứng dậy, khập khiễng bước tên bên đường. Dương Hạo nhìn hai người này, cũng có chút bội phục sự huyết dũng và kiên cường của bọn họ, hắn đột nhiên mở miệng nói: "Mấy con ngựa vô chủ này, hai người các ngươi mỗi lấy một con mà cưỡi."
Lão binh đó nghe vậy lại lên tiếng cám ơn, nếu nói y vừa rồi nói cám ơn là vì tình thế bức bách, lúc này thì đã thật sự mang theo mấy phần cảm kích, thiếu niên đó tính tình khó bề lay chuyển, vẫn không chịu hành lễ với Dương Hạo, có điều hắn liếc Dương Hạo một cái, địch ý trong mắt cũng giảm đi nhiều.
Hai người vật lột trèo lên ngựa rồi bỏ đi, đi được rất xa, tới một giao lộ, quay đầu lại đã không nhìn thấy bóng dáng của đại quân của Dương Hạo mới dừng ngựa lại. Vào lúc này, máu đã thấm đẫm mảnh vải buộc vết thương của họ. Hai con người này vốn chính là tọa kỵ của đám người bọn họ, tất nhiên biết trong túi buộc trên lưng tọa kỵ có những gì, hai người xuống ngựa, từ trong túi lấy ra thuốc kim sang, giúp nhau bôi thuốc lên vết thương, nhìn thấy vết thương do thương đâm trên bụng thiếu niên, lão binh thầm kêu may mắn: "May mà tên Dương Hạo đó giữ lời, nếu chậm trễ thêm một lát nữa, vết thương này của thiếu tướng quân khó mà cứu được."
Bọc mảnh vải ra sau lưng, thiếu niên đau đến nỗi rên hừ hừ, không vui nói: "Dương Hồng, ngươi cầu hắn làm cái gì, Dương gia chúng ta chỉ có quỷ chiến tử chứ không có người đầu hàng!"
Lão binh thở ngắn than dài, nói: "Tam công tử, tuy là nói vậy nhưng không chết thì vẫn tốt hơn, lúc đó ta không tán thành cậu đi đánh trận, tuy nói tam công tử từ nhỏ đã học được một thân võ nghệ, nhưng dẫu sao vẫn chưa thành niên mà. Khi cậu ra ngoài, phu nhân đã dặn đi dặn lại, bảo Dương Hồng phải chăm sóc cho công tử, công tử nếu thực sự có ba dài hai ngắn gì, Dương Hồng cho dù bị chém thành muôn mảnh cũng không đủ chuộc tội với phu nhân."
Thiếu niên tuy vẫn không vui, nhưng nghe thấy lời này thì cũng không nói gì nữa. Hai người bọn họ băng bó vết thương xong, lại ngồi lên chiến mã, Dương Hồng nhìn về nơi xa, lo lắng trùng trùng nói: "Hiện giờ bọn chúng đã tới đằng trước chúng ta rồi, cậu và ta trên người có vết thương, không thể đi nhanh được, phải làm thế nào đây? Tam công tử, chúng ta về Tấn Dương nhé?"
Thiếu niên nói: "Với tình hình hiện giờ của chúng ta, đợi khi chúng ta tới được Tấn Dương, e rằng thành Tấn Dương sớm đã bị vây kín rồi." Hắn trầm tư một lát rồi dứt khoát nói: "Không về Tấn Dương nữa, chúng ta đi tắt qua đường nhỏ, đi tìm cha ta!"
Hai người đang nói thì trên con đường ở phía trước đột nhiên có một con ngựa phi tới, khi tới gần thì đột nhiên giảm tốc, hiện giờ ở địa phương này địch ta khó phân, hai người lại đang bị thương, lập tức đề cao cảnh giác, vội vàng nắm đao nghiêm trận chờ đợi, kỵ sĩ đó dáng vẻ nhanh nhẹn, mặt che khăn đen, nhưng mặc dù là vậy, thân hình lả lướt tinh tế, đôi mắt sáng như nước mùa thu và đôi mày ngài như núi xa đó, không có gì là không chứng tỏ nàng ta là một nữ nhân, hơn nữa là một nữ tử trẻ tuổi thân thể yểu điệu, tư sắc không hề tầm thường.
Song phương sắp chạm mặt nhau, khăn che mặt của nữ tử đó hơi động đậy, tựa hồ như muốn hỏi gì đó, nhưng chắc là cũng lo lắng rằng ở nơi này địch ta khó phân, cho nên chỉ hơi do dự, ánh mắt lướt một vòng trên thân thể đầy vết thương của hai người, rồi lại phi ngựa như bay, đích đến chính là phía của hai ngươi vừa từ đó đi tới. Hai người thầm thở phào một hơi, không dám dừng ở giao lộ này lâu thêm nữa, lập tức lách vào giữa sơn dã, trốn vào đồng hoang mà đi.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com