chương 3
Chương III
ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ
ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC (1945 – 1954)
I. ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG, BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN VÀ KHÁNG
CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945 – 1954):
1. Chủ trương xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng (1945 –
1946):
a. Hoàn cảnh nước ta sau cách mạng tháng Tám:
Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng
hòa ra đời, công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta đứng trước bối
cảnh vừa có thuận lợi cơ bản vừa gặp phải nhiều khó khăn to lớn, hiểm nghèo.
Thuận lợi cơ bản:
- Trên thế giới: hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu được
hình thành. Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc có điều kiện
phát triển, trở thành 1 dòng thác cách mạng. Phong trào dân chủ và
hòa bình cũng đang vươn lên mạnh mẽ.
- Ở trong nước: chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, có hệ
thống từ trung ương đến cơ sở. Nhân dân lao động đã làm chủ vận
mệnh của đất nước. Lực lượng vũ trang nhân dân được tăng cường.
Toàn dân tin tưởng và ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Chính phủ Việt Nam
Dân chủ cộng hòa do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Khó khăn nghiêm trọng:
- Hậu quả do chế độ cũ để lại rất nặng nề như: nạn đói, nạn dốt, ngân
quỹ quốc gia trống rỗng. Kinh nghiệm quản lý đất nước của cán bộ
các cấp non yếu.
- Nền độc lập của nước ta chưa được quốc gia nào trên thế giới công
nhận và đặt quan hệ ngoại giao.
- Với danh nghĩa quân Đồng minh đến tước khí giới của phát xít Nhật,
quân đội các nước đế quốc ồ ạt vào chiếm đóng Việt Nam và khuyến
khích bọn Việt gian chống phá chính quyền cách mạng nhằm xóa bỏ
nền độc lập và chia cắt nước ta. Nghiêm trọng nhất là quân Anh, Pháp
đã đồng lõa với nhau nổ súng đánh chiếm Sài Gòn nhằm tách Nanm
Bộ ra khỏi Việt Nam.
- “Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm” là những hiểm họa đối với chế
độ mới, vận mệnh dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc’.
b. Chủ trương “kháng chiến kiến quốc” của Đảng:
Trước tình hình mới, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt
phân tích tình thế, dự đoán chiều hướng phát triển của các trào lưu cách mạng trên
thế giới và sức mạnh mới của dân tộc để vạch ra chủ trương và giải pháp đấu tranh
36
nhằm giữ vững chủ quyền, bảo vệ nền độc lập tự do vừa giành đươc, Ngày
25/11/1945, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc,
vạch con đường đi lên cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Chủ trương
kháng chiến kiến quốc của Đảng là:
- Về chỉ đạo chiến lược: Đảng xác định mục tiêu phải nêu cao của cách
mạng Việt Nam lúc này vẫn là dân tộc giải phóng. Khẩu hiệu lúc này là
“Dân tộc trên hết. Tổ quốc trên hết” nhưng không phải giành độc lập mà là
giữ vững độc lập.
- Về xác định kẻ thù: Đảng phân tích âm mưu của các nước đế quốc đối với
Đông Dương và chỉ rõ “kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm
lược phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”. Vì vậy, phải “lập mặt
trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược”; mở rộng mặt trận
Việt Minh nhằm thu hút mọi tầng lớp nhân dân; thống nhất mặt trận Việt –
Miên – Lào .v.v…
- Về phương hướng, nhiệm vụ: Đảng nêu lên 4 nhiệm vụ chủ yếu và cấp
bách cần khẩn trương thực hiện là: “củng cố chính quyền, chống thực dân
Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân”. Đảng
chủ trương kiên trì nguyên tắc thêm bạn bớt thù, thực hiện khẩu hiệu “Hoa
- Việt thân thiện” đối với quân đội Tưởng Giới Thạch và “độc lập về chính
trị, nhân nhượng về kinh tế” đối với Pháp.
Chỉ thị về kháng chiến kiến quốc có ý nghĩa hết sức quan trọng. Chỉ thị xác
định đúng kẻ thù chính của dân tộc Việt Nam là thực dân Pháp xâm lược. Đảng chỉ
ra kịp thời những vấn đề cơ bản về chiến lược và sách lược cách mạng, nhất là nêu
rõ 2 nhiệm vụ chiến lược mới của cách mạng Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám
là xây dựng đất nước đi đôi với bảovệ đất nước. Đề ra những nhiệm vụ, biện pháp cụ
thể về đối nội, đối ngoại để khắc phục nạn đói, nạn dốt, chống thù trong giặc ngoài,
bảo vệ chính quyền cách mạng.
Những nội dung của chủ trương kháng chiến kiến quốc được Đảng tập trung
chỉ đạo thực hiện trên thực tế với tinh thần kiên quyết, khẩn trương, linh hoạt, sáng
tạo, trước hết là trong giai đoạn từ tháng 9/1945 đến cuối năm 1946.
c. Kết quả, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm:
Cuộc đấu tranh thực hiện chủ trương kháng chiến kiến quốc của Đảng giai
đoạn 1945 – 1946 đã diễn ra rất gay go, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao và đã giành được những kết quả hết sức to lớn.
- Về chính trị - xã hội: xây dựng được nền móng của một chế độ mới - chế
độ dân chủ nhân dân với đầy đủ các yếu tố cấu thành cần thiết. Quốc hội,
HĐND các cấp được thành lập thông qua phổ thông bầu cử. Hiến pháp dân
chủ nhân dân được Quốc hội thông qua và ban hành. Bộ máy chính quyền
từ Trung ương đến làng, xã và các cơ quan tư pháp, tòa án, các công cụ
chuyên chính như Vệ quốc đoàn, công an nhân dân thiết lập và tăng cường.
Các đoàn thể nhân dân như mặt trận Việt Minh, Hội liên hiệp quốc dân
37
Việt Nam, Tổng Công đoàn Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
được xây dựng và mở rộng. Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng xã hội Việt
Nam được thành lập.
- Về kinh tế, văn hóa: phát động phong trào tăng gia sản xuất, cứu đói, xóa
bỏ các thứ thuế vô lý của chế độ cũ, ra sắc lệnh giảm tô 25%, xây dựng
ngân quỹ quốc gia. Các lĩnh vực sản xuất được hồi phục. Cuối năm 1945,
nạn đói cơ bản được đẩy lùi. Năm 1946, đời sống nhân dân được ổn định
và có cải thiện. Tháng 11/1946, giấy bạc “Cụ Hồ” được phát hành. Mở lại
các trường lớp và tổ chức khai giảng năm học mới. Cuộc vận động toàn
dân xây dựng nền văn hóa mới đã bước đầu xóa bỏ được nhiều tệ nạn xã
hội và tập tục lạc hậu. Phong trào diệt dốt, bình dân học vụ được thực hiện
sôi nổi. Cuối năm 1946, cả nước đã có thêm 2,5 triệu người biết đọc biết
viết.
- Về bảo vệ chính quyền cách mạng: Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng
đánh chiếm Sài Gòn và mở rộng phạm vi chiếm đóng ra các tỉnh Nam Bộ,
Đảng đã kịp thời lãnh đạo nhân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến và phát
động phong trào Nam tiến chi viện Nam Bộ, ngăn không cho quân Pháp
đánh ra Trung bộ. Ở miền Bắc, bằng chủ trương lợi dụng mâu thuẫn trong
nội bộ kẻ thù, Đảng và Chính phủ thực hiện sách lược nhân nhượng với
quân đội Tưởng và tay sai của chúng để giữ vững chính quyền, tập trung
lực lượng chống Pháp ở miền Nam. Khi Pháp - Tưởng ký Hiệp ước Trùng
Kháng (28/2/1946) thỏa thuận mua bán quyền lợi với nhau, cho Pháp kéo
quân ra miền Bắc, Đảng mau lẹ chỉ đạo chọn giải pháp hòa hoãn, dàn xếp
với Pháp để buộc quân Tưởng phải rút về nước. Hiệp định sơ bộ
(06/03/1946), cuộc đàm phán ở Đà Lạt, ở Fontainebleau, Tạm ước
(14/9/1946) đã tạo điều kiện cho quân dân ta có thêm thời gian để chuẩn bị
cho cuộc chiến đấu mới.
Ý nghĩa của những thành quả đấu tranh nói trên là bảo vệ được nền độc lập
của đất nước, giữ vững chính quyền cách mạng; xây dựng được những nền móng
đầu tiên và cơ bản cho một chế độ mới, chế độ Việt Nam Dân chủ cộng hòa; chuẩn
bị được những điều kiện cần thiết trực tiếp cho cuộc kháng chiến toàn quốc sau đó.
Nguyên nhân thắng lợi: Có được những thắng lợi quan trọng đó là do Đảng đã
đánh giá đúng tình hình nước ta sau Cách mạng tháng Tám, kịp thời đề ra chủ
trương kháng chiến kiến quốc đúng đắn; xây dựng và phát huy được sức mạnh của
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lợi dụng được mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù
v.v…
Bài học kinh nghiệm: trong hoạch định và chỉ đạo thực hiện chủ trương kháng
chiến kiến quốc giai đoạn 1945 – 1946 là: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc,
dựa vào dân để xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. Triệt để lợi dụng mâu
thuẫn trong nội bộ kẻ thù, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chính, coi sự nhân nhượng có
nguyên tắc với kẻ địch cũng là một biện pháp đấu tranh cách mạng cần thiết trong
38
hoàn cảnh cụ thể. Tận dụng khả năng hòa hoãn để xây dựng lực lượng, củng cố
chính quyền nhân dân, đồng thời đề cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với khả năng
chiến tranh lan ra cả nước khi kẻ thù bội ước.
2. Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và xây dựng
chế độ dân chủ nhân dân (1945 – 1954):
a. Hoàn cảnh lịch sử:
Tháng 11/1946, quân Pháp mở cuộc tấn công chiếm đóng cả thành phố Hải
Phòng và thị xã Lạng Sơn, đổ bộ lên Đà Nẵng và gây ra nhiều cuộc khiêu khích, tàn
sát đồng bào ta ở Hà Nội. Trung ương Đảng đã chỉ đạo tìm cách liên lạc với phía
Pháp để giải quyết vấn đề bằng biện pháp đàm phán, thương lượng.
Trước việc Pháp gửi tối hậu thư đòi ta tước vũ khí của tự vệ Hà Nội, để cho
chúng kiểm soát an ninh trật tự ở Thủ đô, ngày 19/12/1946, Ban Thường vụ Trung
ương Đảng đã họp hội nghị mở rộng tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ trì
của Chủ tịch Hồ Chí Minh để hoạch định chủ trương đối phó. Hội nghị đã cử phái
viên đi gặp phía Pháp để đàm pháp song không có kết quả. Hội nghị cho rằng, hành
động của Pháp chứng tỏ chúng cố ý muốn cướp nước ta một lần nữa. Khả năng hòa
hoãn không còn. Hòa hoãn nữa sẽ dẫn đến họa mất nước. Trong thời điểm lịch sử
phải quyết đoán ngay, hội nghị đã hạ quyết tâm phát động cuộc kháng chiến trong cả
nước và chủ động tiến công trước khi thực dân Pháp thực hiện màn kịch đảo chính
quân sự ở Hà Nội. Mệnh lệnh kháng chiến được phát đi. Vào lúc 20 giờ ngày
19/12/1946, tất cả các chiến trường trong cả nước đã đồng loạt nổ súng. Rạng sáng
ngày 20/12/1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh được phát đi
trên Đài tiếng nói Việt Nam.
Thuận lợi của nhân dân ta khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược là ta chiến đấu để bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc và đánh địch
trên đất nước mình nên ta có chính nghĩa, có “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Ta cũng
có sự chuẩn bị cần thiết về mọi mặt nên về lâu dài ta sẽ có khả năng đánh thắng quân
xâm lược. Trong khi đó, thực dân Pháp có nhiều khó khăn về chính trị, kinh tế, quân
sự ở trong nước và tại Đông Dương không dễ khắc phục được ngay.
Khó khăn của ta là tương quan lực lượng quân sự yếu hơn địch. Ta bị bao vây
4 phía, chưa được nước nào công nhận, giúp đỡ. Còn quân Pháp lại có vũ khí tối tân,
đã chiếm đóng được 2 nước Lào, Campuchia và một số nơi ở Nam Bộ Việt Nam, có
quân đội đứng chân trong các thành thị lớn ở miền Bắc.
Những đặc điểm của sự khởi đầu và các thuận lợi, khó khăn là cơ sở để Đảng
xác định đường lối cho cuộc kháng chiến.
b. Quá trình hình thành và nội dung đường lối kháng chiến:
Đường lối kháng chiến của Đảng được hình thành từng bước qua thực tiễn đối
phó với âm mưu, thủ đoạn xâm lược của thực dân Pháp.
Ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, trong chỉ thị Kháng chiến
kiến quốc, Đảng đã xác định kẻ thù chính, nguy hiểm nhất của dân tộc ta là thực dân
Pháp xâm lược, phải tập trung mũi nhọn đấu tranh vào chúng. Trong quá trình chỉ
39
đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch đã chỉ đạo kết
hợp đấu tranh chính trị, quân sự với ngoại giao để làm thất bại âm mưu của Pháp
định tách Nam bộ ra khỏi Việt Nam.
Ngày 19/10/1946, Thường vụ Trung ương Đảng mở hội nghị quân sự toàn
quốc lần thứ nhất do Tổng bí thư Trường Chinh chủ trì. Xuất phát từ nhận định
“không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”,
hội nghị đề ra chủ trương, biện pháp cụ thể cả về tư tưởng và tổ chức để quân dân cả
nước sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới. Trong chỉ thị Công việc khẩn cấp bây
giờ (5/11/1946), Hồ Chủ tịch đã nêu lên những việc có tầm chiến lược, toàn cục khi
bước vào cuộc kháng chiến và khẳng định lòng tin vào thắng lợi cuối cùng.
Đường lối toàn quốc kháng chiến của Đảng được hoàn chỉnh và thể hiện tập
trung trong 3 văn kiện lớn được soạn thảo và công bố sát trước và sau ngày cuộc
kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Đó là văn kiện Toàn quốc kháng chiến của Trung
ương Đảng (12/12/1946), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh
(19/12/1946) và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh.
Nội dung đường lối:
- Mục đích kháng chiến: Kế tục và phát triển sự nghiệp Cách mạng tháng
Tám, “đánh phản động thực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất và độc
lập”.
- Tính chất kháng chiến: “Cuộc kháng chiến của dân tộc ta là một cuộc
chiến tranh cách mạng của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa. Nó có tính
chất toàn dân, toàn diện, lâu dài”. “Là cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do,
độc lập, dân chủ và hòa bình”. Đó là cuộc kháng chiến có tính chất dân tộc
giải phóng và dân chủ mới.
- Chính sách kháng chiến: “Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động
thực dân Pháp. Đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do,
hòa bình. Đoàn kết chặt chẽ toàn dân. Thực hiện toàn dân kháng chiến…
Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt”.
- Chương trình và nhiệm vụ kháng chiến: “Đoàn kết toàn dân, thực hiện
quân, chính, dân nhất trí… Động viên nhân lực, vật lực, tài lực, thực hiện
toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, trường kỳ kháng chiến.
Giành quyền độc lập, bảo tòan lãnh thổ, thống nhất Trung, Nam, Bắc.
Củng cố chế độ cộng hòa dân chủ… Tăng gia sản xuất, thực hiện kinh tế tự
túc…”.
- Phương châm tiến hành kháng chiến: Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân,
thực hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là
chính.
- Kháng chiến toàn dân: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà không chia tôn giáo, đảng
phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ. Hễ là người V.n phải đứng lên
đánh thực dân Pháp”, thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng
xóm là một pháo đài.
40
- Kháng chiến toàn diện: Đánh địch về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế,
văn hóa, ngoại giao. Trong đó:
o Về chính trị: thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng
Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào
và các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình.
o Về quân sự: Thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ
trang nhân dân, tiêu diệt địch giải phóng nhân dân và đất đai, thực
hiện du kích chiến tiến lên vận động chiến. Bảo toàn thực lực, kháng
chiến lâu dài… Vừa đánh vừa võ trang thêm; vừa đánh vừa đào tạo
thêm cán bộ.
o Về kinh tế: Tiêu thổ kháng chiến, xây dựng kinh tế tự cung tự túc,
tập trung phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và
công nghiệp quốc phòng.
o Về văn hóa: Xóa bỏ văn hóa thực dân, phong kiến, xây dựng nền
văn hóa dân chủ mới theo 3 nguyên tắc: dân tộc, khoa học và đại
chúng.
o Về ngoại giao: Thực hiện thêm bạn bớt thù, biểu dương thực lực.
“Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân Pháp”, sẵn
sàng đàm phán nếu Pháp công nhận Việt Nam độc lập.
o Kháng chiến lâu dài: là để chống âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh
của Pháp, để có thời gian phát huy yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân
hòa” của ta, chuyển hóa tương quan lực lượng từ chỗ ta yếu hơn
địch đến chỗ ta mạnh hơn địch, đánh thắng địch.
o Dựa vào sức mình là chính: “Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt” vì ta bị
bao vây 4 phía, chưa được nước nào giúp đỡ nên phải tự lực cánh
sinh. Khi nào có điều kiện ta sẽ tranh thủ sự giúp đỡ của các nước
song lúc đó cũng không được ỷ lại.
o Triển vọng kháng chiến: Mặc dù lâu dài, gian khổ, khó khăn song
nhất định thắng lợi.
Đường lối kháng chiến của Đảng với những nội dung cơ bản như trên là đúng
đắn và sáng tạo, vừa kế thừa được kinh nghiệm của tổ tiên, đúng với các nguyên lý
về chiến tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, vừa phù hợp với thực tế đất
nước lúc bấy giờ. Đường lối kháng chiến của Đảng được công bố sớm có tác dụng
đưa cuộc kháng chiến nhanh chóng đi vào ổn định và phát triển đúng hướng, từng
bước đi tới thắng lợi vẻ vang.
Thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng, từ năm 1947 – 1950, Đảng đã tập
trung chỉ đạo cuộc chiến đấu giam chân địch trong các đô thị, củng cố các vùng tự
do lớn, đánh bại cuộc hành quân lớn của địch lên Việt Bắc; lãnh đạo đẩy mạnh xây
dựng hậu phương, tìm cách chống phá thủ đoạn “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh,
dùng người Việt đánh người Việt” của thực dân Pháp. Thắng lợi của chiến dịch Biên
41
Giới cuối năm 1950 đã giáng một đòn nặng nề vào ý chí xâm lược của địch, quân ta
giành được quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.
Đến đầu năm 1951, tình hình thế giới và cách mạng Đông Dương có nhiều
chuyển biến mới. Nước ta đã được các nước xã hội chủ nghĩa công nhận và đặt quan
hệ ngoại giao. Cuộc kháng chiến của nhân dân 3 nước Đông Dương đã giành được
những thắng lợi quan trọng. Song lợi dụng tình thế khó khăn của thực dân Pháp, đế
quốc Mỹ đã can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Điều kiện lịch sử
đó đặt ra yêu cầu bổ sunh và hoàn chỉnh đường lối cách mạng, đưa cuộc chiến tranh
đến thắng lợi.
Đáp ứng yêu cầu đó, tháng 2/1951, Đảng cộng sản Đông Dương họp Đại hội
đại biểu lần thứ hai tại Tuyên Quang. Đại hội nhất trí tán thành Báo cáo chính trị của
Ban chấp hành Trung ương do Hồ Chí Minh trình bày và ra nghị quyết tách Đảng
cộng sản Đông Dương thành 3 đảng cách mạng để lãnh đạo cuộc kháng chiến của 3
dân tộc đi tới thắng lợi. Ở Việt Nam, Đảng ra hoạt động công khai lấy tên là Đảng
lao động Việt Nam.
Báo cáo Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới
chủ nghĩa xã hội do Tổng bí thư Trường Chinh trình bày đã kế thừa và phát triển
đường lối cách mạng trong các cương lĩnh chính trị trước đây của Đảng thành đường
lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Đường lối đó được phản ánh trong Chính
cương của Đảng Lao động Việt Nam. Nội dung cơ bản là:
- Tính chất xã hội: “xã hội Việt Nam hiện nay gồm có 3 tính chất: dân chủ
nhân dân, một phần thuộc địa và nửa phong kiến. Ba tính chất đó đang đấu
tranh lẫn nhau. Nhưng mâu thuẫn chủ yếu lúc này là mâu thuẫn giữa tính
chất dân chủ nhân dân và tính chất thuộc địa. Mâu thuẫn đó đang được giải
quyết trong quá trình kháng chiến của dân tộc Việt Nam chống thực dân
Pháp và bọn can thiệp”.
- Đối tượng cách mạng: cách mạng Việt Nam có 2 đối tượng: Đối tượng
chính hiện nay là chủ nghĩa đế quốc xâm lược, cụ thể lúc này là đế quốc
Pháp và bọn can thiệp Mỹ. Đối tượng phụ hiện nay là phong kiến, cụ thể
lúc này là phong kiến phản động.
- Nhiệm vụ cách mạng: “Nhiệm vụ cơ bản hiện nay của cách mạng Việt
Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật
sự cho dân tộc, xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm
cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho
chủ nghĩa xã hội. Ba nhiệm vụ đó khăng khít với nhau. Song nhiệm vụ
chính trước mắt là hòan thành giải phóng dân tộc. Cho nên lúc này phải tập
trung lực lượng vào việc kháng chiến để quyết thắng quân xâm lược”.
- Động lực của cách mạng: gồm “công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị,
tiểu tư sản trí thức và tư sản dân tộc; ngoài ra là những thân sĩ (địa chủ)
yêu nước và tiến bộ. Những giai cấp, tầng lớp và phần tử đó họp thành
nhân dân. Nền tảng của nhân dân là công, nông và lao động trí thức”.
42
- Đặc điểm cách mạng: “Giải quyết những nhiệm vụ cơ bản nói trên do nhân
dân lao động làm động lực, công nông và lao động trí thức làm nền tảng và
giai cấp công nhân lãnh đạo, cách mạng Việt Nam hiện nay là một cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Cách mạng đó không phải là cách
mạng dân chủ tư sản lối cũ cũng không phải là cách mạng xã hội chủ nghĩa
mà là một thứ cách mạng dân chủ tư sản lối mới tiến triển thành cách mạng
xã hội chủ nghĩa”.
- Triển vọng của cách mạng: “cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt
Nam nhất định sẽ đưa Việt Nam tiến tới chủ nghĩa xã hội”.
- Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội: “Đó là một con đường đấu tranh lâu
dài, đại thể trải qua 3 giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất, nhiệm vụ chủ yếu là
hoàn thành giải phóng dân tộc; giai đoạn thứ hai, nhiệm vụ chủ yếu là xóa
bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt để người
cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; giai
đoạn thứ ba, nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội,
tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội. Ba giai đoạn ấy không tách rời nhau,
mà mật thiết liên hệ, xen kẽ với nhau”.
- Giai cấp lãnh đạo và mục tiêu của Đảng: “Người lãnh đạo cách mạng là
giai cấp công nhân”. “Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công
nhân và của nhân dân lao động Việt Nam. Mục đích của Đảng là phát triển
chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, để
thực hiện tự do, hạnh phúc cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và
tất cả các dân tộc đa số, thiểu số ở Việt Nam”.
- Chính sách của Đảng: Có 15 chính sách lớn nhằm phát triển chế độ dân
chủ nhân dân, gây mầm mống cho chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh kháng
chiến đến thắng lợi2.
- Quan hệ quốc tế: Việt Nam đứng về phe hòa bình và dân chủ, phải tranh thủ
sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới, của Trung Quốc,
Liên Xô, thực hiện đoàn kết Việt – Trung – Xô và đoàn kết Việt – Miên – Lào.
Đường lối, chính sách của Đại hội đã được bổ sung, phát triển qua các hội
nghị Trung ương tiếp theo.
Tại hội nghị lần thứ nhất (3/1951), Đảng đã phân tích tình hình quốc tế và
trong nước, nhấn mạnh chủ trương phải tăng cường hơn nữa công tác chỉ đạo chiến
tranh, “củng cố và gia cường quân đội chủ lực, củng cố bộ đội địa phương và dân
quân du kích”; “gia cường việc lãnh đạo kinh tế tài chính”, “thực hiện việc khuyến
khích, giúp đỡ tư sản dân tộc kinh doanh và góp vốn của tư nhân để phát triển công
thương nghiệp”, “tích cực tham gia phong trào bảo vệ hòa bình thế giới”, “củng cố
Đảng về tư tưởng, chính trị và tổ chức”.
2. 15 chính sách gồm: kháng chiến, chính quyền nhân dân, mặt trận dân tộc thống nhất, văn hóa giáo dục, đối với tôn
giáo, chính sách dân tộc, đối với vùng bị tạm chiếm, ngoại giao, đối với Miên Lào, đối với ngoại kiều, đấu tranh cho
hòa bình và dân chủ thế giới, thi đua ái quốc.
43
Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ hai (họp từ ngày 27/9 – 5/10/1951)
đã nêu lên chủ trương đẩy mạnh cuộc kháng chiến trên cơ sở thực hiện tốt 3 nhiệm
vụ lớn là “ra sức tiêu diệt sinh lực của địch, tiến tới giành ưu thế quân sự”; “ra sức
phá âm mưu thâm độc của địch: lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt
đánh người Việt”, đẩy mạnh kháng chiến ở vùng bị tạm chiếm; “củng cố và phát
triển sức kháng chiến của toàn quốc, toàn dân, củng cố và phát triển đoàn kết”.
Tại hội nghị Trung ương lần thứ 4 (1/1953), vấn đề cách mạng ruộng đất được
Đảng tập trung nghiên cứu, kiểm điểm và đề ra chủ trương thực hiện triệt để giảm tô,
chuẩn bị tiến tới cải cách ruộng đất. Hội nghị cho rằng: muốn kháng chiến hoàn toàn
thắng lợi, dân chủ nhân dân thật thà thực hiện, thì phải thiết thực nâng cao quyền lợi
kinh tế và chính trị của nông dân, phải chia ruộng đất cho nông dân.
Đến hội nghị Trung ương lần thứ 5(11/1953), Đảng quyết định phát động
quần chúng triệt để giảm tô và tiến hành cải cách ruộng đất trong kháng chiến. “Cải
cách ruộng đất để đảm bảo cho kháng chiến thắng lợi”. “Cải cách ruộng đất là
chính sách chung của cả nước nhưng phải làm từng bước tùy điều kiện mà nơi thì
làm trước nơi thì làm sau”. “Cải cách ruộng đất là một cuộc cách mạng nông dân,
một cuộc giai cấp đấu tranh ở nông thôn, rất rộng lớn, gay go và phức tạp. Cho nên
chuẩn bị phải thật đầy đủ, kế hoạch phải thật rõ ràng, lãnh đạo phải thật chặt
chẽ…”.
Đường lối hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển chế độ dân chủ nhân dân,
tiến lên chủ nghĩa xã hội của Đảng được thực hiện trên thực tế trong giai đoạn 1951
– 1954.
3. Kết quả, ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh
nghiệm:
a. Kết quả và ý nghĩa lịch sử:
Kết quả của việc thực hiện đường lối:
- Về chính trị: Đảng ra hoạt động công khai đã có điều kiện kiện toàn tổ
chức, tăng cường sự lãnh đạo của đối với cuộc kháng chiến. Bộ máy chính
quyền 5 cấp được củng cố. Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên
Việt) được thành lập. Khối đại đoàn kết toàn dân phát triển lên một bước
mới. Chính sách ruộng đất được triển khai, từng bước thực hiện khẩu hiệu
người cày có ruộng.
- Về quân sự: Đến cuối năm 1952, lực lượng chủ lực đã có 6 đại đoàn bộ
binh, 1 đại đoàn côngbinh – pháo binh3. Thắng lợi của các chiến dịch
Trung Du, Đường 18, Hà-Nam-Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng
Lào.v.v… đã tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất
đai và dân cư, mở rộng vùng giải phóng của Việt Nam và cho cách mạng
Lào.v.v… Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 được ghi vào lịch sử
3. 6 đại đoàn bộ binh là: 308, 304, 312, 320, 325 và 1 đại đoàn công – pháo binh là 351. Bộ đội tập trung năm
1953 lên đến 33 vạn người.
44
- dân tộc ta như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế
kỷ XX và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công hiển hách, báo hiệu
sự thắng lợi của nhân dân các dân tộc bị áp bức, sự sụp đổ của chủ nghĩa
thực dân.
- Về ngoại giao: Với phương châm kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự và
ngoại giao, khi biết tin Pháp có ý định đàm phán, thương lượng với ta thì
ngày 27/12/1953, Ban Bí thư ra thông tư nêu rõ: “lập trường của nhân dân
Việt Nam là kiên quyết kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Song nhân
dân và Chính phủ ta cũng tán thành thương lượng nhằm mục đích giải
quyết hòa bình vấn đề Việt Nam”. Ngày 8/5/1954, Hội nghị quốc tế về
chấm dứt chiến tranh Đông Dương chính thức khai mạc ở Genéve (Thụy
Sỹ). Ngày 21/7/1954, các văn bản của Hiệp nghị Genéve về chấm dứt
chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết. Cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta kết thúc thắng lợi.
- Ý nghĩa lịch sử:
o Đối với nước ta: việc đề ra và thực hiện thắng lợi đường lối kháng
chiến, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân đã làm thất bại cuộc chiến
tranh xâm lược của thực dân Pháp được đế quốc Mỹ giúp sức ở mức
độ cao, buộc chúng phải công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ của các nước Đông Dương; đã làm thất bại âm mưu mở
rộng và kéo dài chiến tranh của đế quốc Mỹ, kết thúc chiến tranh,
lập lại hòa bình ở Đông Dương; giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo
điều kiện để miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội làm căn cứ, hậu
thuẫn cho cuộc đấu tranh ở miền Nam; tăng thêm niềm tự hào dân
tộc cho nhân dân ta và nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường
quốc tế.
o Đối với quốc tế: Cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên
thế giới; mở rộng địa bàn, tăng thêm lực lượng cho chủ nghĩa xã hội
và cách mạng thế giới cùng với nhân dân Làovà Campuchia đập tan
ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, trước hết là hệ
thống thuộc địa của thực dân Pháp.
Đánh giá về ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược, Hồ Chí Minh nói: “Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu
đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân
dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ
và xã hội chủ nghĩa trên thế giới”.
b. Nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm:
Nguyên nhân thắng lợi:
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ là kết
quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân, trong đó nổi bật là:
45
- Có sự lãnh đạo vững vàng của Đảng, với đường lối kháng chiến đúng đắn
đã huy động được sức mạnh toàn dân đánh giặc. Có sự đoàn kết chiến đấu
của toàn dân tâp hợp trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi - Mặt trận
Liên Việt, được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công nông và trí
thức vững chắc.
- Có lực lượng vũ trang gồm 3 thứ quân do Đảng trực tiếp lãnh đạo ngày
càng vững mạnh, chiến đấu dũng cảm, mưu lược, tài trí, là lực lượng quyết
định tiêu diệt địch trên chiến trường, đè bẹp ý chí xâm lược của địch, giải
phóng đất đai của Tổ quốc.
- Có chính quyền dân chủ nhân dân, của dân, do dân và vì dân được giữ
vững, củng cố và lớn mạnh, làm công cụ sắc bén tổ chức toàn dân kháng
chiến và xây dựng chế độ mới.
- Có sự liên minh đoàn kết chiến đấu keo sơn giữa 3 dân tộc Việt Nam, Lào,
Campuchia cùng chống 1 kẻ thù chung. Đồng thời có sự ủng hộ, giúp đỡ to
lớn của Trung Quốc, Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa, các dân tộc yêu
chuộng hòa bình trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Pháp.
Bài học kinh nghiệm:
Trải qua quá trình lãnh đạo, tổ chức cuộc kháng chiến kiến quốc, Đảng đã tích
lũy được nhiều kinh nghiệm quan trọng.
Thứ nhất, đề ra đường lối đúng đắn và quán triệt sâu rộng đường lối đó cho
toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện. Đó là đường lối chiến tranh nhân dân;
kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.
Thứ hai, kết hợp chặt chẽ, đúng đắn nhiệm vụ chống đế quốc với nhiệm vụ
chống phong kiến và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, gây mầm mống cho chủ
nghĩa xã hội, trong đó nhiệm vụ tập trung hàng đầu là chống đế quốc, giải phóng dân
tộc, bảo vệ chính quyền cách mạng.
Thứ ba, thực hiện phương châm vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ mới,
xây dựng hậu phương ngày càng vững mạnh để có tiềm lực mọi mặt đáp ứng yêu
cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến.
Thứ tư, quán triệt tư tưởng chiến lược kháng chiến gian khổ và lâu dài. Đồng
thời tích cực, chủ động đề ra và thực hiện phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ
thuật quân sự sáng tạo, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, đưa
kháng chiến đến thắng lợi.
Thứ năm, tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao sức chiến đấu và
hiệu lực lãnh đạo của Đảng trong chiến tranh.
II. ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC, THỐNG
NHẤT TỔ QUỐC (1954 – 1975)
1. Đường lối trong giai đoạn 1954 – 1964:
a. Hoàn cảnh lịch sử của cách mạng Việt Nam sau tháng 7/1954:
Sau Hiệp định Genéve, cách mạng Việt Nam vừa có những thuận lợi mới vừa
đứng trước nhiều khó khăn, phức tạp.
46
Thuận lợi:
- Hệ thống xã hội chủ nghĩa tiếp tục lớn mạnh cả về kinh tế, quân sự, khoa
học - kỹ thuật, nhất là Liên Xô.
- Phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển ở Châu Á, Châu Phi và
khu vực Mỹ Latinh.
- Phong trào hòa bình, dân chủ lên cao ở các nước tư bản.
- Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, làm căn cứ địa chung cho cả nước.
- Thế và lực của cách mạng đã lớn mạnh hơn sau 9 năm kháng chiến.
- Có ý chí độc lập thống nhất Tổ quốc của nhân dân từ Bắc chí Nam.
Khó khăn:
- Đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, dâm mưu bá chủ thế
giới với các chiến lược toàn cầu phản cách mạng.
- Thế giới bước vào thời kỳ chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang giữa 2 phe
xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.
- Xuất hiện sự bất đồng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa , nhất là giữa Liên
Xô và Trung Quốc.
- Đất nước ta bị chia làm 2 miền: kinh tế miền Bắc nghèo nàn, lạc hậu. miền
Nam trở thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Đế quốc Mỹ trở thành kẻ thù
trực tiếp của nhân dân ta.
Một Đảng lãnh đạo 2 cuộc cách mạng khác nhau, ở 2 miền đất nước có chế độ
chính trị khác nhau là đặc điểm lớn nhất của cách mạng Việt Nam sau tháng 7/1954.
Đặc điểm bao trùm và các thuận lợi, khó khăn nêu trên là cơ sở để Đảng phân tích,
hoạch định đường lối chiến lược chung cho cách mạng cả nước trong giai đoạn mới.
b. Quá trình hình thành, nội dung và ý nghĩa của đường lối.
Quá trình hình thành và nội dung đường lối:
Yêu cầu bức thiết đặt ra cho Đảng sau tháng 7/1954 là phải vạch ra được
đường lối đúng đắn, vừa phù hợp với tình hình mỗi miền, tình hình cả nước, vừa phù
hợp với xu thế chung của thời đại.
Tháng 9/1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ mới và
chính sách mới của Đảng. Nghị quyết đã chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của tình
hình trong lúc cách mạng Việt Nam bước vào một giai đoạn mới là: từ chiến tranh
chuyển sang hòa bình; nước nhà tạm chia làm 2 miền; từ nông thôn chuyển vào
thành thị; từ phân tán chuyển đến tập trung.
Hội nghị lần thứ 7 (3/1955) và Hội nghị lần thứ 8 (8/1955) nhận định: Muốn
chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành
độc lập và dân chủ. Điều cốt lõi là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững
và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam.
Tháng 12/1957, Hội nghị Trung ương lần thứ 13 đã xác định đường lối tiến
hành đồng thời 2 chiến lược cách mạng: “Mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng của toàn
Đảng, toàn dân ta hiện nay là: củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần từng bước
47
lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục đấu tranh để thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ
sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hòa bình”.
Tháng 1/1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 họp bàn về cách mạng miền
Nam. Sau nhiều lần họp và thảo luận, Ban chấp hành Trung ương đã ra nghị quyết
về cách mạng miền Nam. Trung ương Đảng nhận định: “Hiện nay cách mạng Việt
Nam do Đảng ta lãnh đạo bao gồm 2 nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai nhiệm
vụ chiến lược đó tuy có tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau…
nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà,
tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Nhiệm
vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là “giải phóng miền Nam khỏi ách
thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có
ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam”. “Con đường phát triển
cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay
nhân dân”67. Đó là con đường “lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng
chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ
quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của
nhân dân”68. “tuy vậy, cần thấy rằng cách mạng ở miền Nam vẫn có khả năng hòa
bình phát triển, tức là khả năng dần dần cải biến tình thế, dần dần thay đổi cục diện
chính trị ở miền Nam có lợi cho cách mạng. Khả năng đó hiện nay rất ít, song Đảng
ta không gạt bỏ khả năng đó, mà cần ra sức tranh thủ khả năng đó”.
Nghị quyết hội nghị lần thứ 15 có ý nghĩa lịch sử to lớn, chẳng những đã mở
đường cho cách mạng miền Nam đi lên, mà còn thể hiện rõ bản lĩnh độc lập, tự chủ,
sáng tạo của Đảng ta trong những năm tháng khó khăn của cách mạng.
Quá trình đề ra và chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, chủ trương nói trên chính
là quá trình hình thành đường lối chiến lược chung cho cách mạng cả nước, được
điều chỉnh tại Đại hội lần thứ III của Đảng.
Đại hội lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5 – 10/9/1960.
Đại hội đã hoàn chỉnh đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam trong
giai đoạn mới. Cụ thể là:
- Nhiệm vụ chung: “Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ
vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng
thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện
thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước
Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, thiết thực góp
phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á
và thế giới”.
- Nhiệm vụ chiến lược: “cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại có 2
nhiệm vụ chiến lược: Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc. Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và
48
bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ
trong cả nước”.
- Mục tiêu chiến lược: Nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và nhiệm vụ cách
mạng ở miền Nam thuộc 2 chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải
quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia
cắt. Hai nhiệm vụ đó lại nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước
giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng, thực hiện mục
tiêu chung trước mắt là hòa bình thống nhất Tổ quốc”.
- Mối quan hệ của cách mạng hai miền: Do cùng thực hiện một mục tiêu
nên “hai nhiệm vụ chiến lược này có quan hệ mật thiết với nhau và có tác
dụng thúc đẩy lẫn nhau”.
- Vai trò, nhiệm vụ của cách mạng mỗi miền đối với cách mạng cả nước:
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có nhiệm vụ xây dựng tiềm lực và
bảo vệ căn cứ địa của cả nước, hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam, chuẩn
bị cho cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội về sau, nên giữ vai trò quyết định
nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự
nghiệp thống nhất nước nhà. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền
Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền
Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình
thống nhất nước nhà, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân trong cả nước.
- Con đường thống nhất nước nhà: Trong khi tiến hành đồng thời 2 chiến
lược cách mạng, Đảng kiên trì con đường hòa bình thống nhất theo tinh
thần Hiệp định Genéve, sẵn sàng thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử hòa
bình thống nhất Việt Nam. Vì đó là con đường tránh được sự hao tổn
xương máu cho dân tộc ta và phù hợp với xu hướng chung của thế giới.
“Nhưng chúng ta phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với
mọi tình thế. Nếu đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng liều lĩnh gây ra
chiến tranh hòng xâm lược miền Bắc, thì nhân dân cả nước ta kiên quyết
đứng dậy đánh bại chúng, hoàn thành độc lập và thống nhất Tổ quốc”.
- Triển vọng của cách mạngViệt Nam: Cuộc đấu tranh nhằm thực hiện thống
nhất nước nhà là một quá trình đấu tranh cách mạng gay go, gian khổ,
phức tạp và lâu dài chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng ở miền
Nam. Thắng lợi cuối cùng nhất định thuộc về nhân dân ta, Nam – Bắc nhất
định sum họp một nhà, cả nước sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Ý nghĩa của đường lối:
Đường lối tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng
do Đại hội lần thứ III của Đảng đề ra có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức to lớn.
- Đường lối đó thể hiện tư tưởng chiến lược của Đảng: giương cao ngọn cờ
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vừa phù hợp với miền Bắc vừa phù
hợp với miền Nam, vừa phù hợp với cả nước Việt Nam và phù hợp với
49
tình hình quốc tế, nên đã huy động và kết hợp được sức mạnh của hậu
phương và tiền tuyến, sức mạnh của cả nước và sức mạnh của 3 dòng thác
cách mạng trên thế giới. Tranh thủ được sự đồng tình giúp đỡ của Liên Xô
và Trung Quốc. Do đó đã tạo ra được sức mạnh tổng hợp để dân tộc ta đủ
sức đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước.
- Đặt trong bối cảnh Việt Nam và quốc tế lúc bấy giờ, đường lối chung của
cách mạng Việt Nam đã thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo cảua
Đảng trong việc giải quyết những vấn đề không có tiền lệ trong lịch sử,
vừa đúng với thực tiễn Việt Nam vừa phù hợp với lợi ích của nhân loại và
xu thế của thời đại.
- Đường lối chiến lược chung cho cả nước và đường lối cách mạng ở mỗi
miền là cơ sở để Đảng chỉ đạo quan dân ta phấn đấu giành được những
thành tựu to lớn trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh
thắng lợi chống các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai ở
miền Nam.
2. Đường lối trong giai đoạn 1965 – 1975:
a. Bối cảnh lịch sử:
Từ đầu năm 1965, để cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chế độ Sài Gòn và sự phá
sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ đã ào ạt đưa quân viễn chinh
vào miền Nam, tiến hành cuộc “chiến tranh cục bộ” với quy mô lớn. Đồng thời dùng
không quân và hải quân hùng hổ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền
Bắc. Trước tình hình đó, Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước trên phạm vi toàn quốc.
Thuận lợi: Khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cách mạng
thế giới đang ở thế tiến công. Ở miền Bắc, kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đã đạt và
vượt mục tiêu về kinh tế, văn hóa. Sự chi viện sức người, sức của cho cách mạng
miền Nam được đẩy mạnh cả đường bộ và đường biển4.
Ở miền Nam, vượt qua những khó khăn trong những năm 1961 – 1962, từ
năm 1963, cuộc đấu tranh của quân và dân ta có bước phát triển mới. Ba công cụ của
“chiến tranh đặc biệt” (ngụy quân, ngụy quyền, ấp chiến lược và đô thị) đều bị quân
ta tấn công liên tục. Đấn đầu năm 1965, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế
quốc Mỹ được triển khai đến mức cao nhất cơ bản bị phá sản.
Khó khăn: Sự bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc càng trở nên gay gắt và
không có lợi cho cách mạng Việt Nam. Việc đế quốc Mỹ mở cuộc “chiến tranh cục
bộ”, ồ ạt đưa quân đội viễn chinh Mỹ và các nước chư hầu vào trực tiếp xâm lược
miền Nam đã làm cho tương quan lực lượng trở nên bất lợi cho ta.
4. Từ năm 1961 – 1963, qua đường 559, có 40.000 cán bộ chiến sĩ từ Bắc vào Nam chiến đấu cùng với
165.000 khẩu súng các loại. Năm 1964, số bộ đội từ miền Bắc vào miền Nam tăng 14 lần so với năm 1960
917.427/1.2170); vũ khí, phương tiện chuyển vào miền Nam tăng 10 lần (3.435 tấn/337 tấn)
50
Tình hình đó đặt ra yêu cầu mới cho Đảng ta trong việc xác định quyết tâm đề
ra đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhằm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược,
giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
b. Quá trình hình thành, nội dung cơ bản và ý nghĩa của đường lối:
Quá trình hình thành và nội dung cơ bản đường lối:
Khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam, các
hội nghị của Bộ Chính trị đầu năm 1961 và đầu năm 1962 đã nêu chủ trương giữ
vững và phát triển thế tiến công mà ta đã giành được sau cuộc “đồng khởi” năm
1960, đưa cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến
tranh cách mạng trên quy mô toàn miền. Bộ Chính trị chủ trương kết hợp khởi nghĩa
vũ trang của quần chúng với chiến tranh cách mạng, giữ vững và đẩy mạnh đấu
tranh chính trị đồng thời phát triển đấu tranh vũ trang nhanh lên một bước mới,
ngang tầm với đấu tranh chính trị. Thực hiện kết hợp đấu tranh quân sự với đấu
tranh chính trị song song, đẩy mạnh đánh địch bằng 3 mũi giáp công (quân sự, chính
trị, binh vận). Vận dụng phương châm đấu tranh phù hợp với đặc điểm từng vùng
chiến lược (rừng núi, đồng bằng, thành thị).
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 9 (11/1963) ngoài việc xác định đúng đắn
quan điểm quốc tế, hướng hoạt động đối ngoại vào việc kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại để đánh Mỹ và thắng Mỹ, hội nghị còn quyết định nhiều vấn
đề quan trọng về cách mạng miền Nam. Hội nghị tiếp tục khẳng định đấu tranh
chính trị, đấu tranh vũ trang đi đôi, cả hai đều có vai trò quyết định cơ bản đồng thời
nhấn mạnh yêu cầu mới của đấu tranh vũ trang. Đối với miền Bắc, hội nghị tiếp tục
xác định trách nhiệm là căn cứ địa, hậu phương đối với cách mạng miền Nam, đồng
thời nâng cao cảnh giác, triển khai mọi mặt sẵn sàng đối phó với âm mưu đánh phá
của địch.
Trước hành động gây “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, tiến hành chiến tranh
phá hoại ra miền Bắc của đế quốc Mỹ, hội nghị Trung ương lần thứ 11 (3/1965) và
lần thứ 12 (12/1965) đã tập trung đánh gái tình hình và đề ra đường lối kháng chiến
chống Mỹ cứu nước trên cả nước.
- Về nhận định tình hình và chủ trương chiến lược: Trung ương Đảng cho
rằng cuộc “chiến tranh cục bộ” mà Mỹ đang tiến hành ở miền Nam vẫn là
cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới, buộc phải thực thi trong thế thua,
thế thất bại và bị động cho nên nó chứa đựng đầy mâu thuẫn về chiến lược.
Từ sự phân tích và nhận định đó, Trung ương Đảng quyết định phát động
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trong cả nước, coi chống Mỹ cứu
nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc từ Nam chí Bắc.
- Quyết tâm và mục tiêu chiến lược: Nêu cao khẩu hiệu “Quyết tâm đánh
thắng giặc Mỹ xâm lược”, “kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược
của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, để bảo vệ miền Bắc, giải
phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong
cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”.
51
- Phương châm chỉ đạo chiến lược: tiếp tục và đẩy mạnh cuộc chiến tranh
nhân dân chống chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam, đồng thời phát
động chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Thực
hiện kháng chiến lâu dài, dựa vào sức mình là chính, càng đánh càng mạnh,
cố gắng đến mức độ cao, tập trung lực lượng của cả 2 miền để mở những
cuộc tiến công lớn, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời
gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam.
- Tư tưởng chỉ đạo và phương châm đấu tranh ở miền Nam: giữ vững và
phát triển thế tiến công, kiên quyết tiến công và liên tục tiến công. “Tiếp
tục kiên trì phương châm đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính
trị, triệt để vận dụng 3 mũi giáp công”, đánh địch trên cả 3 vùng chiến
lược. Trong giai đoạn hiện nay, đấu tranh quân sự có tác dụng quyết định
trực tiếp và giữ một vị trí ngày càng quan trọng.
- Tư tưởng chiến lược đối với miền Bắc: chuyển hướng xây dựng kinh tế,
bảo đảm tiếp tục xây dựng miền Bắc vững mạnh về kinh tế và quốc phòng
trong điều kiện có chiến tranh, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống
chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ để bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội
chủ nghĩa, động viên sức người sức của ở mức cao nhất để chi viện cho
cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, đồng thời tích cực chuẩn bị đề
phòng để đánh thắng địch trong trường hợp chúng liều lĩnh mở rộng “chiến
tranh cục bộ” ra cả nước.
- Nhiệm vụ và mối quan hệ giữa cuộc chiến đấu ở hai miền: trong cuộc
chiến tranh chống Mỹ của nhân dân cả nước, miền Nam là tiền tuyến lớn,
miền Bắc là hậu phương lớn. Bảo vệ miền Bắc là nhiệm vụ của cả nước vì
miền Bắc xã hội chủ nghĩa là hậu phương vững chắc trong cuộc chiến
tranh chống Mỹ. Phải đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ
ở miền Bắc và ra sức tăng cường lực lượng miền Bắc về mọi mặt nhằm
đảm bảo chi viện đắc lực cho miền Nam càng đánh càng mạnh. Hai nhiệm
vụ trên đây không tách rời nhau mà mật thiết gắn bó với nhau. Khẩu hiệu
chung của nhân dân cả nước lúc này là: “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ
xâm lược”.
Ý nghĩa của đường lối:
Đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Đảng được đề ra tại các hội
nghị Trung ương lần thứ 11 và 12 có ý nghĩa hết sức quan trọng:
- Thể hiện quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, tinh thần cách mạng tiến công,
tinh thần độc lập tự chủ, sự kiên trì mục tiêu giải phóng miền Nam, thống
nhất Tổ quốc, phản ánh đúng đắn ý chí, nguyện vọng chung của toàn Đảng,
toàn quân, toàn dân ta.
- Thể hiện tư tưởng nắm vững, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, tiếp tục tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ 2 chiến lược
52
cách mạng trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh ở mức độ khác nhau,
phù hợp với thực tế đất nước và bối cảnh quốc tế.
- Đó là đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào
sức mình là chính được phát triển trong hoàn cảnh mới, tạo nên sức mạnh
mới để dân tộc ta đủ sức đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
3. Kết quả, ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh
nghiệm:
a. Kết quả và ý nghĩa lịch sử:
Kết quả:
Ở miền Bắc, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, sau 21 năm nỗ lực
phấn đấu, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được những thành tựu đáng
tự hào. Một chế độ xã hội mới, chế độ xã hội chủ nghĩa bước đầu được hình thành.
Dù chiến tranh ác liệt, bị tổn thất nặng nề về vật chất, thiệt hại lớn về người song
không có nạn đói, dịch bệnh và sự rối loạn xã hội. Văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục
không những được duy trì mà còn có sự phát triển mạnh. Sản xuất nông nghiệp phát
triển, công nghiệp địa phương được tăng cường.
Quân dân miền Bắc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ,
điển hình là chiến thắng lịch sử của trận “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời
Hà Nội cuối năm 1972.
Miền Bắc không chỉ chia lửa với các chiến trường mà còn hoàn thành xuất sắc
vai trò căn cứ địa của cách mạng cả nước và nhiệm vụ hậu phương lớn đối với chiến
trường miền Nam.
Ở miền Nam, với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, quân dân ta đã vượt lên mọi
khó khăn gian khổ hy sinh, bền bỉ và anh dũng chiến đấu, lần lượt đánh bại các chiến
lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Trong giai đoạn 1954 – 1960, đánh bại
chiến lược chiến tranh đơn phương của Mỹ - ngụy, đưa cách mạng từ thế giữ gìn lực
lượng sang thế tiến công. Trong giai đoạn 1961 – 1965, giữ vững và phát triển thế
tiến công, đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ. Giai đoạn 1965 – 1968,
đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ và chư hầu, buộc Mỹ phải xuống
thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Paris. Giai đoạn 1969
– 1975 đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ và tay sai mà đỉnh cao
là Đại thắng mùa xuân 1975 với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đập tan toàn bộ
chính quyền địch, buộc chúng phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện, giải phóng
hoàn toàn miền Nam.
Ý nghĩa lịch sử đối với nước ta:
- Kết thúc thắng lợi 21 năm chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược (tính
từ năm 1954), 30 năm chiến tranh cách mạng (tính từ 1945), 115 năm
chống đế quốc thực dân phương Tây (tính từ 1858), quét sạch quân xâm
lược ra khỏi bờ cõi, giải phóng miền Nam; đưa lại độc lập, thống nhất
toàn vẹn lãnh thổ cho đất nước.
53
- Hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ trên phạm vi cả nước. Mở
ra kỷ nguyên mới cho dân tộc ta, kỷ nguyên cả nước hòa bình, thống
nhất, cùng chung một nhiệm vụ chiến lược là đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Tăng thêm sức mạnh vật chất, tinh thần, thế và lực cho cách mạng và
dân tộc Việt Nam, để lại niềm tự hào sâu sắc và những kinh nghiệm quý
báu cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước giai đoạn sau.
- Góp phần quan trọng vào việc nâng cao uy tín của Đảng và dân tộc Việt
Nam trên trường quốc tế.
Ý nghĩa đối với cách mạng thế giới:
- Đập tan cuộc phản kích lớn nhất của chủ nghĩa đế quốc vào chủ nghĩa
xã hội và cách mạng thế giới kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai,
bảo vệ vững chắc tiền đồn phía Đông Nam Á của chủ nghĩa xã hội.
- Làm phá sản các chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, gây
tổn thất to lớn và tác động sâu sắc đến nội tình nước Mỹ trước mắt và
lâu dài.
- Góp phần làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc, phá vỡ một phòng tuyến
quan trọng của chúng ở khu vưc Đông Nam Á, mở ra sự sụp đổ không
thể tránh khỏi của chủ nghĩa thực dân mới, cổ vũ mạnh mẽ phong trào
đấu tranh vì mục tiêu đôc lập dân tộc, dân chủ, tự do và hòa bình phát
triển của nhân dân thế giới.
Đánh giá thắng lợi lịch sử của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, Báo cáo chính
trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12/1976) khẳng định: “Năm
tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một trong những
trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh
hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công
vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại
sâu sắc”.
b. Nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm:
Nguyên nhân thắng lợi:
Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước là kết quả tổng hợp của nhiều
nguyên nhân, trong đó quan trọng nhất là:
- Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam, người đại biểu
trung thành cho những lợi ích sống còn của cả dân tộc Việt Nam, một
Đảng có đường lối chính trị và đường lối quân sự độc lập, tự chủ, sáng
tạo.
- Cuộc chiến đấu đầy gian khổ hy sinh của nhân dân và quân đội cả nước,
đặc biệt là của cán bộ, chiến sĩ và hàng chục triệu đồng bào yêu nước ở
miền Nam ngày đêm đối mặt với quân thù, xứng đáng với danh hiệu
“Thành đồng Tổ quốc”
54
- Công cuộc xây dựng và bảo vệ hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa
của đồng bào, chiến sĩ miền Bắc, một hậu phương vừa chiến đấu vừa
xây dựng, hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ của hậu phương lớn, hết lòng
hết sức chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm
lược.
- Sự đoàn kết chiến đấu của nhân dân 3 nước Việt Nam – Lào –
Campuchia và sự ủng hộ, sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ
nghĩa anh em; sự ủng hộ nhiệt tình của Chính phủ và nhân dân tiến bộ
trên toàn thế giới kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ.
Bài học kinh nghiệm:
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã để lại cho Đảng nhiều
bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc
Một là, đề ra và thực hiện đường lối giương cao ngọn cờ đôc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội nhằm huy động sức mạnh toàn dân đánh Mỹ, cả nước đánh Mỹ.
Đường lối đó thể hiện ý chí và nguyện vọng tha thiết của nhân dân miền Bắc, nhân
dân miền Nam của cả dân tộc Việt Nam, phù hợp với các trào lưu của cách mạng thế
giới, nên đã động viên đến mức cao nhất lực lượng của toàn dân tộc, kết hợp sức
mạnh của tiền tuyến lớn với hậu phương lớn, kết hợp sức mạnh của nhân dân ta với
sức mạnh của thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến đấu và chiến thắng giặc
Mỹ xâm lược.
Hai là, tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc, kiên định tư tưởng chiến lược tiến
công, quyết đánh và quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Tư tưởng đó là một nhân tố
hết sức quan trọng để hoạch định đúng đắn đường lối, chủ trương, biện pháp đánh
Mỹ, nhân tố đưa cuộc chiến đấu của dân tộc ta đi tới thắng lợi.
Ba là, thực hiện chiến tranh nhân dân, tìm ra biện pháp chiến đấu đúng đắn,
sáng tạo. Để chống lại kẻ địch xâm lược hùng mạnh, phải thực hiện chiến tranh nhân
dân. Đồng thời phải chú trọng tổng kết thực tiễn để tìm ra phương pháp đấu tranh,
phương pháp chiến đấu đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo.
Bốn là, trên cơ sở, đường lối, chủ trương chiến lược đúng đắn phải có công
tác tổ chức thực hiện giỏi, năng động, sáng tạo của các cấp bộ Đảng trong quân đội,
của các ngành, các cấp, các địa phương, thực hiện phương châm giành thắng lợi
từng bước đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Năm là, phải hết sức coi trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng thực lực
cách mạng ở cả hậu phương và tiền tuyến. Phải thực hiện liên minh 3 nước Đông
Dương và tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ ngày càng to lớn của các nước xã hội
chủ nghĩa, của nhân dân và chính phủ các nước yêu chuộng hòa bình và công lý trên
thế giới.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com