Chào các bạn! Truyen4U chính thức đã quay trở lại rồi đây!^^. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền Truyen4U.Com này nhé! Mãi yêu... ♥

Chapter Information 2: Object và đội (Part 1)

Chào mừng đến với chapter information 2

Trong chapter lần này, tớ sẽ tổng hợp các Object được đề cập tới nhưng chưa được giới thiệu hoàn chỉnh cũng như một số Object khác sẽ được spoil trước. Đồng thời tớ cũng sẽ hé lộ về cơ cấu của một số đội của tổ chức ABRC.

I. Object

1. Các Object chưa có thông tin rõ ràng.

- Object #004: Digger
+Mức độ nguy hiểm: 0/5
+Mức độ phổ biến: 0/5

Đây chính là Carla, bạn đồng hành của Mateus xuất hiện trong chapter 7. Toàn bộ khả năng của sinh vật này cũng đã được đề cập trong chapter. Một số khả năng chưa được đề cập là axit dạ dày của sinh vật này là cực kì mạnh. Nó có thể phun axit ra từ mồm, nước dãi của nó thực chất cũng là axit dạ dày, tuy nhiên đã bị loãng đến mức chỉ đủ gây ngứa. Chính vì axit mạnh như vậy, lớp da của sinh vật là cực kì dày. Khoang bụng của sinh vật này cũng được thiết kế làm sao cho người ngồi trong không cảm thấy tối và cũng không cảm nhận được không gian đang bị đảo lộn. Một số sự thật rằng Object này là nhân tạo. Mỗi nhân sự thuộc phòng ban vận tải đều được phát cho 1 Object này nhằm đào tạo khả năng ứng phó với Object và cũng để phục vụ cho công việc vận tải và di chuyển. Đây là thành công lớn của phòng ban lai tạo được hoàn thiện theo yêu cầu của trưởng phòng ban vận tải đầu tiên - Letter θ (Theta).

- Object #005: Puzzle Bug
+Mức độ nguy hiểm: 1,5/5
+Mức độ phổ biến: 4,5/5

Đây là sinh vật đã tạo nên Terracotta Army bằng cách mỗi cá thể ăn một lượng lớn đất, cát,... sau đó tự nung nóng trong cơ thể và rồi "kết hợp" lại với nhau. Loài này có tập tính bày đàn, thường bay theo đàn từ 20 đến hơn 100 cá thể. Chúng có cấu tạo giống loài bọ cánh cứng tuy nhiên lại có thân hình thon dài hình elip. Các sinh vật này có nhiệt độ cơ thể rất cao từ khoảng 70°C cho đến tối đa là 5600°C. Đây là lý do cho việc cấu tạo phần bụng của chúng rất dày nhưng dẫn nhiệt rất tốt mặc dù cánh lại mỏng và nhẹ. Thông thường, khi ở dạng cá thể đơn lẻ, cách săn mồi của chúng thường là dùng nhiệt độ cơ thể để khiến đối thủ bị bỏng hoặc cho nổ toàn thân như đánh bom cảm tử. Đặc tính chính của loài này đó là gộp rất nhiều cá thể vào làm một cá thể với tính chất và khả năng gần như hoàn toàn mới. Tất cả những sinh vật được hợp thể này chia sẻ 3 điểm chung. Thứ nhất là chúng luôn có 1 lõi, nếu lõi này không bị phá hủy thì sát thương gây lên chúng gần như vô nghĩa(gần như). Thứ 2 là chúng đều bất thường trong suy nghĩ, không tỉnh táo, vô tri và luôn luôn chảy nước dãi, thật ra đây là cách để rất nhiều cá thể làm mát, tránh vô tình nướng chín luôn cả hình dạng kết hợp. Thứ 3 là sau khi bị đánh trúng lõi lần thứ nhất, chúng sẽ không chết luôn vì lúc này quá trình hợp thể chỉ diễn ra một nửa. Lúc này có 2 trường hợp, đầu tiên là một vài hoặc tất cả con bọ sẽ tách lõi từ đó vô hiệu hóa luôn cả bầy (tuy bọn chúng không chết), trường hợp còn lại thường xuyên xảy ra hơn là bọn chúng sẽ hợp thể lần hai. Những dạng hợp thể từ lần 2 sẽ không có lõi, đồng thời khắc phục điểm yếu trí tuệ và thiếu nhất quán. Khi này, toàn bộ đàn hợp nhất lại làm 1 cá thể duy nhất.

- Object #036: Galileo's Insect
+Mức độ nguy hiểm: 2,5/5
+Mức độ phổ biến: 0/5

Đây là sinh vật (thường là dạng thứ 2) của Puzzle Bug. Sinh vật này được đề cập ở chapter 6. Nó gần giống như Puzzle Bug phóng to nhưng nó có 4 cánh cộng thêm vỏ cánh nhìn giống như 6 cánh. Phần cánh của nó nhọn ở đuôi có màu đen đỏ hoặc đen vàng. Phần xương nhìn giống như xương sống (không phải xương sống nhé) bị nhô ra ngoài. Đến phần cuối thân, phần xương này hướng lên rồi cong xuống tạo thành một phần cứng nhọn hoắt. Sinh vật này có tay tương tự với hai "kiếm" của loài bọ ngựa tuy sắc hơn nhiều. Khả năng chính của sinh vật này là tổng hợp không khí xung quanh rồi giải phóng nó khiến gia tốc của bản thân tăng lên kinh khủng (cứ coi nó hợp lý đi). Trong quá trình này, nó bị rò rỉ khí khiến tạo nên một tiếng rít kinh khủng. Nó dùng gia tốc này để lao thật mạnh vào mục tiêu. Vì thế đầu của nó rất cứng hoặc một số con thậm chí còn có sừng. Hai "kiếm" của nó cũng có thể chém đá ngọt đến mức không để lại vụn.

2. Một số Object chưa xuất hiện

-Object #023: Runner
+Mức độ nguy hiểm: 1,5/5
+Mức độ phổ biến: 0/5

Đây là những giống sinh vật hình người. Chúng chỉ có thể được tạo ra nhờ Flying Battleship. Sinh vật này cao khoảng 1m5-1m6. Chúng rất nhẹ, đó cũng là lý do chúng rất mỏng manh. Nhưng ngược lại, xương của chúng còn cứng hơn cả sắt. Phần đầu của chúng bị kéo lên trên chéo về phía sau. Phần mặt của chúng cũng bị kéo theo đầu (không phải kiểu như bọn alien đâu) phần kéo lên này nhọn lên, một số cá thể còn có hai phần nhô lên. Phần khuỷu tay của nó gặp biến dị khiến nó không thể mở ra hoàn toàn, tối đa chỉ đến 120°. Chúng không hề có móng tay nhưng phần ngón tay lại nhọn bất thường. Bàn chân chúng chỉ có 3 ngón nhưng lại là cơ quan khỏe vượt chội với cả cơ thể. Đó là lý do tốc độ của loài này là rất nhanh tầm hơn 90km/h nhanh nhất lên tới 150km/h.

Object #044: Horse
+Mức độ nguy hiểm: 1,5/5
+Mức độ phổ biến: 4/5

Không có gì đặc biệt lắm. Chúng là những con ngựa bị thối rữa. Nhưng phần chân lại cơ bắp đặc biệt khỏe. Riêng phần chân của chúng lại không hề bị thối rữa. Chắc đây là điều đặc biệt duy nhất. Chúng chạy rất nhanh thậm chí tốc độ trung bình còn nhanh hơn cả loài báo. Kích thước của chúng cũng rất to, khoảng 4m. Khác với các giống ngựa thông thường, chúng chỉ cần ăn lượng nhỏ thức ăn và không cần ngủ, cũng như có thể di chuyển liên tục trong nhiều ngày.

Object #009: Dispenser
+Mức độ nguy hiểm: 0,5/5
+Mức độ phổ biến: 3,5/5

Chúng là những người hỗ trợ thực thụ. Về ngoại hình, khuôn mặt của chúng là vô cùng kinh khủng. Chúng có tóc nhưng chỉ có vài sợi. Mắt chúng không hề có mí mắt, mồm thì gần như không có. Tai của chúng cũng bị tiêu biến, điều này phục vụ cho đặc tính chính của chúng. Phần thân chúng không thể nói là béo, mà là to, phát triển cao lên theo chiều dọc. Chân của chúng không thể di chuyển theo cách thường khi nó quá nhỏ, nhỏ đến mức không thể chống đỡ cơ thể. Thay vào đó, hai tay chắc khỏe của chúng sẽ kéo lê cơ thể đi. Khi đến lúc phù hợp, chúng sẽ xé lớp da quanh vùng gọi là miệng. Khi này, chúng nôn ra một loại chất màu vàng phục vụ cho đặc tính phụ. Sau khi nôn ra hết chất màu vàng này, phần thân của chúng giờ lại chảy xệ xuống như một người thừa cân. Chúng ngửa cổ lên, hét to lên hết mức có thể. Những Object khác sau khi nghe thấy tiếng hét sẽ lao tới, cắn xé ngấu nghiến chúng. Những Object này sau đó sẽ phát sáng màu vàng ở trong cơ thể, từ từ phình to ra rồi phát nổ khi không thể chịu được nữa. Thời gian chúng phát nổ là không thể dự đoán, vì nó dựa vào khả năng chịu đựng của mỗi cá thể. Đặc tính phụ khác của Dispenser có thể kể đến là tiếng hét của nó. Tiếng hét rất to và mang âm vực cực cao dù không thể làm điếc tai người nhưng cũng có thể làm chảy máu tai hoặc khiến ta bị ù. Nếu nó vẫn chưa mở mồm, mọi nỗ lực làm tổn thương phần thân sẽ khiến nó phát nổ và nó còn to hơn vụ nổ của các Object bị đặc tính chính của nó ảnh hưởng. Chất dịch màu vàng mà nó nôn ra được suy đoán là thứ khiến cơ thể nó ổn định mà không bị phát nổ. Chất này rất giàu dinh dưỡng, thậm chí là an toàn đối với con người. Chất lỏng còn có tính chất dẫn điện và bắt lửa cực kì tốt. Các vụ nổ được cho là gây ra bởi một số chất ở trong người chúng và một loại khí gas đặc biệt.

2. Một số điều về thang đo mức độ Object

-Mức độ nguy hiểm: Chỉ đơn giản là xếp hạng độ nguy hiểm. Thang đo này dựa trên 3 tiêu chí: khả năng của chúng lên con người, quy mô ảnh hưởng của chúng, mức độ phá hủy mà chúng gây ra.

-Mức độ phổ biến: Là số lượng cá thể tồn tại của chúng. Mức 0 tức sinh vật này chỉ tồn tại 1 cá thể hoặc phụ thuộc vào một yếu tố khác để tạo thành. Ví dụ như Flying Battleship chỉ có duy nhất 1 con tồn tại còn Galileo's Insect thì chỉ có thể tạo thành bởi Puzzle Bug cũng như Digger là hoàn toàn nhân tạo (nhân tiện thì mức độ phổ biến của Terracotta Army cũng sẽ được sửa lại mức 0). Ngược lại, mức độ 5 là những Object có số lượng cá thể không thể đong đếm theo đúng nghĩa đen.

-Một số các thang đo phụ khác:

+Mức độ an toàn: Thực chất chỉ có an toàn hoặc không.

+Mức độ kích cỡ: Từ mức độ 1 là nhỏ hơn con người, mức độ 2 là bằng con người đến mức độ 5 gộp chung những sinh vật to đến nỗi chỉ có chỗ đó cho chúng. Tức những sinh vật to hơn cả Flying Battleship và những sinh vật coi những thứ đó là muỗi vẫn sẽ xếp chung là 5. Tương tự với 1, khi những sinh vật chỉ vài cm và những vi sinh vật đều được xếp ở đây. Đó là lý do nó không được đưa vào phân loại chính do kích thước quá đa dạng nên cũng không có tác dụng. Chủ yếu để hù dọa nhân sự yếu tim.

+Mức độ thông minh: những sinh vật thông minh như con người trưởng thành bình thường sẽ xếp ở mức 3. Tuy thế lại không tăng giảm dần ở mức 1 và 5. Sinh vật ở mức 1 không hề có ý thức còn ở mức 5 thì là những sinh vật toàn trí.

+Mức độ sinh tồn: hay được các nhân sự ở đội chi nhánh Đức gọi là mức độ khó giết. Điều này nói lên tất cả rồi. Mức độ 2 là những thứ chịu sát thương tương đương với con người sẽ chết.

+Mức độ biến dạng: Đây là một thang đo ít được biết tới và không phổ biến. Nó được lập ra bởi phòng ban giác quan và được phê duyệt bởi Letter ζ (Zeta). Là độ biến đổi của chúng so với các sinh vật thông thường về tất cả các mặt với mức 1 là hoàn toàn không khác gì.

3. Tổng hợp phân loại của các Object đã được đề cập

-Object #001: Non-human
+Mức độ nguy hiểm: 0,5
+Mức độ phổ biến: 5
+Mức độ an toàn: Không
+Mức độ kích cỡ: 2
+Mức độ thông minh: 2
+Mức độ sinh tồn: 1
+Mức độ biến dạng: 1,5

-Object #002: Zombie
+Mức độ nguy hiểm: 1
+Mức độ phổ biến: 5
+Mức độ an toàn: Không
+Mức độ kích cỡ: 2
+Mức độ thông minh: 2
+Mức độ sinh tồn: 1,5
+Mức độ biến dạng: 2

-Object #003: Big Guy
+Mức độ nguy hiểm: 2,5
+Mức độ phổ biến: 3
+Mức độ an toàn: Không
+Mức độ kích cỡ: 2,5
+Mức độ thông minh: 2
+Mức độ sinh tồn: 2,5
+Mức độ biến dạng: 2

-Object #004: Digger
+Mức độ nguy hiểm: 0
+Mức độ phổ biến: 0
+Mức độ an toàn: Có
+Mức độ kích cỡ: 3
+Mức độ thông minh: 1,5
+Mức độ sinh tồn: 2,5
+Mức độ biến dạng: 3

-Object #005: Puzzle Bug
+Mức độ nguy hiểm: 1,5
+Mức độ phổ biến: 4,5
+Mức độ an toàn: Không
+Mức độ kích cỡ: 1,5
+Mức độ thông minh: 1,5
+Mức độ sinh tồn: 0,5
+Mức độ biến dạng: 1,5

-Object #009: Dispenser
+Mức độ nguy hiểm: 0,5
+Mức độ phổ biến: 3,5
+Mức độ an toàn: Không
+Mức độ kích cỡ: 2,5
+Mức độ thông minh: 1,5
+Mức độ sinh tồn: 1
+Mức độ biến dạng: 2,5

-Object #023: Runner
+Mức độ nguy hiểm: 1,5
+Mức độ phổ biến: 0
+Mức độ an toàn: Không
+Mức độ kích cỡ: 2
+Mức độ thông minh: 2
+Mức độ sinh tồn: 0,5
+Mức độ biến dạng: 1,5

-Object #027: Flying Battleship
+Mức độ nguy hiểm: 4,5
+Mức độ phổ biến: 0
+Mức độ an toàn: Không
+Mức độ kích cỡ: 4
+Mức độ thông minh: 1,5
+Mức độ sinh tồn: 4
+Mức độ biến dạng: 3

-Object #036: Galileo's Insect
+Mức độ nguy hiểm: 2,5
+Mức độ phổ biến: 0
+Mức độ an toàn: Không
+Mức độ kích cỡ: 2,5
+Mức độ thông minh: 1,5
+Mức độ sinh tồn: 2,5
+Mức độ biến dạng: 2

-Object #037: Terracotta Army
+Mức độ nguy hiểm: 3,5
+Mức độ phổ biến: 0
+Mức độ an toàn: Không
+Mức độ kích cỡ: 2
+Mức độ thông minh: 1,5
+Mức độ sinh tồn: 3
+Mức độ biến dạng: 2

-Object #044: Horse
+Mức độ nguy hiểm: 1,5
+Mức độ phổ biến: 4
+Mức độ an toàn: Không/Có
+Mức độ kích cỡ: 2,5
+Mức độ thông minh: 1,5
+Mức độ sinh tồn: 2
+Mức độ biến dạng: 1,5

4. Một số sự thật về Object
-Một số Object là nhân tạo như mọi người đã biết, tuy nhiên một số lại không. Thật ra thì nguồn gốc và một số thứ khác sẽ được tớ giải thích trong tương lai.

(Chỉ có thế thôi hỏi thêm đi còn trả lời)

II. Đội

1. Các đội đã xuất hiện
- Đội Zhandou (Trung Quốc):

+Quân số: Khoảng 200.000 nhân sự.

+Phong cách chiến đấu: Chiến đấu theo phong cách áp đảo đối thủ hoàn toàn. Lấy số lượng hoặc sức mạnh tuyệt đối để chiến thắng. Thường giao chiến trên mặt đất nhưng cũng có thể sử dụng các loại tên lửa đến chiến đấu trên không. Đội thường phân ra nhiều đội nhỏ hơn với nhiều mục đích khác nhau.

+Cơ cấu: Đứng đầu là đội trưởng, dưới đó là các tiểu đội trưởng. Dù là tiểu đội trưởng, họ lãnh đạo các nhóm có quân số khác nhau với nhiều mục đích. Baron ở Chapter 2 cũng là 1 tiểu đội trưởng với một đội nhỏ nhằm ứng phó thảm họa.

+Đặc điểm: Quần áo của họ có màu đen, chính xác là y hệt với quân phục cảnh sát đặc nhiệm của Trung Quốc nhưng không có mũ bảo vệ.

(Nguồn: Giaoduc.net)

+Trang bị: Ngoài các trang bị bình thường, họ thường lựa chọn những vũ khí có sức công phá cao, mang tính phá hủy trên phạm vi nhỏ. Họ thường mang theo lượng lớn trang thiết bị nên những đồ mang theo này phải càng nhỏ càng tốt.

-Đội Hoshu (Nhật Bản):

+Quân số: Khoảng 5.000 nhân sự

+Phong cách chiến đấu: Họ được mệnh danh là đội có lực lượng hải quân mạnh mẽ nhất. Vì vậy, chiến đấu trên biển là sở trường của họ. Quân số tập trung phần lớn trên 4 con tàu lớn của đội làm nhiệm vụ tuần tra và hải chiến nếu cần thiết.

+Cơ cấu: Người đứng đầu là 1 tổng đội trưởng. Bên dưới là 5 đội trưởng sư đoàn. Mỗi sư đoàn sẽ có quân số khoảng 1.000 người và họ đều có 1 con tàu. Mỗi con tàu lại có một khả năng và đặc điểm riêng dẫn đến việc con số của sư đoàn không đại diện cho thứ hạng sức mạnh. Masami Isamu của chúng ta cũng đang nằm trong cấp độ này.

+Đặc điểm: Như đã mô tả với quần áo của Masami ở Chapter 8, với đó là quân phục của chức đội trưởng sư đoàn. Với mức độ lính thường thì quân phục của họ có màu đen hoặc rằn ri tùy theo vai trò. Đen với nhân sự nhận nhiệm vụ chiến đấu, rằn ri với những vai trò khác. Độ dài ngắn cũng tùy theo mỗi người (với Masami là loại dài đến mắt cá chân).


(Nguồn: trên ảnh)

L

oại áo mà Masami hay mặc giống với hình bên dưới bên phải mà không có mũ. Trong khi đó, kiểu phía bên trên lại được nhân sự của đội ưa chuộng hơn.

+Trang bị: Họ không có một loại trang bị thống nhất, tuy nhiên, mỗi người đều nên có kĩ năng với môi trường nước và ít nhất một loại thiết bị giúp hoạt động trong môi trường biển dễ dàng hơn.

2. Một số đội có thể xuất hiện trong tương lai
- Eagle Of Freedom (Hoa Kỳ)
- Glorious Guardians (Anh Quốc)
- Vikingenes Barn (Na Uy)

- вечно белый (Vechno Belyy) (Liên Bang Nga)
- Vin Rouge Et Roses Blanches (Pháp)
- Antiguo Imperio (Tây Ban Nha)
- 신선한 새벽 (Sinseonhan Saebyeog) (Hàn Quốc)

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com