# 144
Trận này, quân Đăng Dung tuy gặp muôn vàn khó khăn và tổn thất rất nhiều nhưng cuối cùng vẫn đại thắng. Mấu chốt chiến lược nằm ở đội thợ lặn có tài lặn dưới nước như đi ở trên bờ. Những người lính này đều được tuyển chọn kỹ càng từ con em những làng chài ven sông và được đích thân chàng dày công rèn luyện. Trong trận chiến này, Đăng Dung đã chuẩn bị đội thợ lặn này từ ban đầu nhưng không tung ra ngay. Lợi dụng tình cảnh nhốn nháo khi những chiếc thuyền con bị dầu hỏa đốt cháy, chàng ra lệnh cho họ lặn xuống mặt nước. Họ ẩn mình lặng lẽ, chỉ dùng một cái ống nhỏ như ống rơm thò lên mặt nước để lấy không khí hít thở. Nước sông Hồng đục ngầu che chắn cho họ. Quân của Trịnh Tuy mải mê qua sông nên không phát hiện ra được. Đăng Dung đợi cho đến một nửa quân của Trịnh Tuy đi được sang bên bờ phía Đông mới tung ra đòn sát thủ, chỉ huy đội thợ lặn chặt cầu phao và chọc thủng thuyền. Nhờ chiến thuật hợp lý đó mà Đăng Dung chuyển bại thành thắng, đồng thời giáng cho Trịnh Tuy một vố đau đớn khiến hắn không thể phục hồi ngay lại được. Cuối trận chiến, Đăng Dung cho người trục vớt những chiếc thuyền đắm mà Trịnh Tuy bỏ lại, thu được rất nhiều súng thần công.
Trịnh Tuy rút về đóng trong kinh thành. Đăng Dung không nghỉ ngơi một chút nào. Chàng đưa quân vượt sông Hồng sang phía bờ Tây, rồi gấp rút truy đuổi theo hắn. Đang đêm, kỵ binh của Đăng Dung bất thình lình áp sát dưới chân hoàng thành. Trịnh Tuy vừa bị thua trận nên như con chim sợ cành cong, không còn dám nghênh chiến nữa, bỏ cả doanh trại để chạy về phía thành Do Nha, căn cứ địa của chúng nằm ở phía tây Kinh thành. Đăng Dung vào hoàng thành mà Trịnh Tuy bỏ lại, cướp được rất nhiều lương thực, khí giới. Sau đó, Đăng Dung không ở lại kinh thành nữa mà quyết định cho quân quay về hành dinh ở bên Gia Lâm.
Quyết định của Đăng Dung khiến các tướng thắc mắc. Đăng Doanh hỏi chàng:
- Bẩm cha. Quân Trịnh Tuy đã đại bại, sao chúng ta không truy đuổi để tiêu diệt hắn, còn quay về làm gì?
- Việc đó không nên. Quân địch ở vào thế đường cùng, tất sẽ liều mạng để kháng lại. Chúng ta lại vừa trải qua một trận thủy chiến lớn, quân sĩ đều mệt mỏi. Hơn nữa, trận vừa rồi, hai tướng địch là Nguyễn Kính và Nguyễn Áng còn chưa xuất đầu lộ diện. Chúng ta đuổi theo, chưa chắc đã diệt được giặc, mà khéo còn bị mắc bẫy và thiệt thân.
- Vậy tại sao chúng ta đã lấy được kinh thành rồi mà lại bỏ đi, không giữ lấy?
- Kinh thành ở chốn đồng bằng, khó thủ, dễ công. Con nên nhớ, quân Thiên Hiến của Trịnh Tuy đều có gốc gác từ vùng Sơn Tây hoặc Thanh Hóa. Họ là những người giỏi đánh trên bộ, còn ta giỏi đánh dưới nước hơn. Nếu chúng ta cứ tham lam chấp chiếm lấy kinh thành chẳng khác nào dùng sở đoản của mình đi đấu với sở trường của giặc. Vì vậy, nên trở về là hơn.
Đăng Doanh thấy cha giải thích thấu tình, đạt lý, gật đầu nghe theo.
Sau khi chiến thắng trở về, Đăng Dung cho quân sĩ nghỉ ngơi ba ngày và tổ chức một bữa tiệc khao quân. Chàng dẫn vua Quang Thiệu đi úy lạo quân lính. Nhà vua đi đến chỗ doanh trại ồn ào được ba bước đã cảm thấy chán, đòi quay về hành dinh sạch đẹp của mình. Nhà vua chê quân lính:
- Bọn chúng ăn uống bừa bãi, uống rượu say nói chuyện lè nhè, thật là kinh tởm quá đi. Chúng nghĩ chúng là ai mà cứ nhìn trẫm chòng chọc như vậy. Thân phận của trẫm cao quý, đi ở đây nhiều sẽ bị nhiễm tạp mất.
Đăng Dung thấy vua cao ngạo, cảm thấy không vui. Tuy nhiên, chàng vẫn dịu dọng thuyết phục vua:
- Bẩm Hoàng thượng. Trong chiến tranh, sĩ khí và lòng trung thành của quân lính là rất quan trọng. Người lính được chủ mình quan tâm thì họ mới hết mình nơi chốn chiến trường. Hoàng thượng nên đích thân đi gặp gỡ khen ngợi họ, thì họ mới lấy hết sức mình báo đáp hoàng thượng.
- Sao lại thế được. Ta là thiên tử con trời. Bọn họ đều là thần tử của ta. Thần phải trung với vua, đó là lẽ tất yếu, cớ sao còn bày đặt làm điều phiền phức.
Đăng Dung lúc đó ngẫm nghĩ: "Vua chúa cũng chỉ là con người, có máu thịt, có thói hư tật xấu, có thất tình lục dục. Họ tự đặt ra cái thuyết thiên tử con trời là để lòe bịp dân chúng tin theo mà thôi. Bây giờ vua Quang Thiệu không nhận ra những sự khó khăn trước mắt mà vẫn cứ tự cao tự đại, huyễn hoặc mình bằng cái thuyết vô lý ấy. Người như thế, thì sao có thể cáng đáng được triều đình trong buổi loạn lạc này đây". Chàng thấy buồn vô cùng, nhưng vẫn khuyên nhủ nhà vua:
- Trong trận chiến vừa rồi, nhờ có những người lính phải liều mình, bán mạng mà hoàng thượng mới được kê cao gối ngủ yên. Nếu không có họ, thì giờ này chúng ta đã phải cong đuôi chạy trốn rồi. Thần thiết nghĩ Hoàng thượng cũng không nên phụ bạc họ nhanh như vậy.
Vua Quang Thiệu đành nghe theo, nặng nề bước theo Đăng Dung đi qua khắp doanh trại. Khi quay lại hành dinh, nhà vua hỏi Đăng Dung rằng:
- Bao giờ chúng ta quay lại hoàng thành?
- Bẩm Hoàng thượng. Tình thế bây giờ vẫn còn nguy hiểm. Trịnh Tuy chưa từ bỏ tham vọng của hắn. Địa thế nơi kinh thành bằng phẳng trống trải. Nếu Trịnh Tuy đến tập kích thì chúng ta không thể chống đỡ nổi. Vì vậy, hãy cứ lấy dòng sông Hồng này làm tường rào ngăn cản chúng thì hơn.
Vua Quang Thiệu tỏ vẻ không vui. Nói giọng hậm hực:
- Rõ ràng là vừa đại thắng quân địch xong mà. Bọn chúng làm gì còn đủ sức đối kháng với ta. Hay là khanh muốn giam hãm trẫm ở nơi xó xỉnh này để mưu tính ý đồ khác?
Đăng Dung nghe nhà vua vô cớ vu oan cho mình như thế thì bỗng giật mình, vội quỳ xuống thưa:
- Bẩm Hoàng thượng. Quả thực không phải như thế. Trận chiến vừa rồi, Trịnh Tuy gặp thất bại nhưng các tướng Nguyễn Kính, Nguyễn Áng vẫn chưa lộ mặt. Tình hình nông sâu của quân địch như thế nào ta vẫn chưa dò được. Vi thần cẩn trọng cũng là vì nghĩ đến đại cục chung. Mong Hoàng thượng kiên nhẫn.
Nghe Đăng Dung nói thế, vua Quang Thiệu giận dỗi ra mặt, ngúng nguẩy đi vào trong phòng. Đăng Dung thở dài, cũng không biết làm sao để vua hiểu lòng mình. Chàng đành buông thõng tay, trở về quân doanh với những người lính vào sinh ra tử cùng chàng.
Năm ấy, hết tháng giêng, thời tiết bỗng nhiên biến chuyển đột ngột. Từ tháng hai đến tháng tư, trời nắng như đổ lửa, không khí khô như rang, không có mưa phùn. Thời tiết thất thường ảnh hưởng xấu đến mùa màng, lúa kém, trổ ít hạt. Một số nơi vừa thoát khỏi nạn đói lại chìm trong cảnh lao đao.
Đăng Dung buộc phải thực hiện điều phối lương thực cho các vùng bị đói. Cũng vì thế mà quân lương bổ sung cho doanh trại của chàng bị thiếu hụt. Chàng buộc phải thực hiện chính sách thắt lưng buộc bụng. Toàn bộ các quan lại trong triều đều phải ăn uống tiết kiệm, để dành lương thực cho binh lính. Thời gian đầu các quan đều đồng cảm. Nhưng càng về sau, những tiếng ì xèo bắt đầu nổi lên. Điều khiến chàng khổ tâm nhất vẫn là vua Quang Thiệu. Mặc dù Đăng Dung cố lo cho nhà vua có đủ cơm canh thịt cá, nhưng mỗi bữa ăn, nhà vua vẫn không ngừng kêu ca, đòi phải có thêm các món sơn hào, hải vị. Đăng Dung phải nhờ Phạm Gia Mô đến để thuyết phục, nhà vua mới tạm kiềm chế lại sự giận dữ.
Cuộc sống đói kém và chiến tranh khốc liệt khiến phản loạn xảy ra ở một số nơi. Vào tháng ba, ở trên các xứ Thái Nguyên, Tuyên Quang, có giặc Xá nổi lên, cướp bóc vợ con và của cải của dân chúng. Đăng Dung buộc phải phân tán lực lượng, cử Kiều Văn Côn và Nguyễn Như Quế đi đánh. Hai người họ vây ráp giặc Xá hơn tháng trời mới tiêu diệt được.
Trong thời gian ấy, Đăng Dung cũng bắt đầu chiến dịch để tiễu trừ Thiên Hiến quân của Trịnh Tuy và Nguyễn Kính, Nguyễn Áng. Chàng ngược dòng sông Hồng, đi thuyền qua kinh thành, vòng qua cả hồ Tây, đến huyện Từ Liêm để lập một thủy trại ven sông, cách thành Do Nha của Trịnh Tuy khoảng hai mươi dặm. Quân của chàng vốn giỏi về thủy chiến nên dùng thủy trại làm điểm tựa, dần dần tiến vào bên trong. Khi đi sâu vào trong bờ chừng bảy dặm, chàng chọn một quả đồi cao ráo rộng rãi, cho đắp tường thành bằng đất bao quanh, tạo thành một cứ điểm vững chắc, gọi là thành Tây Tựu.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com