# 25
Một buổi tối tháng năm mưa tầm mưa tã, thầy Bảo đang ngồi giảng giải cho Đăng Dung, Ngọc Tuyền và Đỗ Lân về các huyệt mạch trên cơ thể thì có ba người đàn ông mặc áo tơi đội mưa đến gõ cửa. Ba người đó ăn mặc lam lũ, khuôn mặt hốc hác như thể đã chịu đói rét lâu năm. Tuy vậy, ánh mắt của họ đằng đằng sát khí, bàn tay luôn nắm chặt cây trường kiếm không buông. Đăng Dung nhìn lướt qua, đoán ngay rằng ba người này là thuộc quân khởi nghĩa ở trên mạn bắc của huyện.
Thầy Bảo nhã nhặn mời ba người vào trong nhà uống nước. Đăng Dung, Ngọc Tuyền và Đỗ Lân đứng đằng sau, nghe thầy chuyện trò với họ. Sau màn chào hỏi, một người đàn ông tóc bạc trắng bắt đầu đề cập đến điều muốn nói:
- Anh Bảo à. Anh nhìn bộ dạng của bọn em chắc cũng hiểu. Bọn em hôm nay đến là để mời võ đường của anh gia nhập nghĩa quân.
Rồi y chìa ra một tấm vải thêu rồng vàng, bên ngoài viết ba chữ "Hịch khởi nghĩa" màu đỏ như máu, bên trong là những hàng chữ vuông vắn. Thầy Bảo chỉ khẽ liếc qua tờ hịch đó, chứ không đón nhận lấy. Những người kia có vẻ không hài lòng. Một người cao, gầy như con sếu, nói với thầy:
- Bà con thường nói anh là người trượng nghĩa, tính tình rộng rãi, thương người, hay cứu giúp kẻ bị nạn. Thời thế bây giờ, quan lại tham lam vơ vét chẳng còn chút nhân tính, người dân đói khổ bần cùng, mới phải vùng lên để giành lấy mạng sống. Chẳng lẽ anh bàng quan đứng nhìn không chịu cứu giúp? Chẳng lẽ anh chịu để mặc người dân chết vì đói, còn lũ quan tham cứ nhâng nhâng hưởng thụ hay sao?
Người đàn ông tóc trắng nói thêm vào:
- Hay là anh sợ đi theo nghĩa quân sẽ thất bại? Lê Lợi ngày xưa cũng từng là nông dân yếu đuối, mà về sau thắng cả quân Minh hùng mạnh đấy thôi. Thắng làm vua, thua làm giặc. Nếu sau này nghĩa quân thắng lợi, đầu lĩnh Đào Công lên làm vua thì anh sẽ được phong vương. phong hầu, quyền uy trên cả vạn người. Còn nếu chẳng may mà thất bại thì cùng lắm là da ngựa bọc thây. Đời người ai mà chẳng phải chết. Chết sớm hay chết muộn cũng là chết. Vậy thà chọn cái chết huy hoàng cho xong.
Người cuối cùng trong số họ nói:
- Nếu anh Bảo đồng ý gia nhập, chúng em nguyện tôn anh làm phó tướng, chỉ đứng dưới thủ lĩnh Đào Công mà thôi. Anh là người trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, cả về võ nghệ và binh pháp đều giỏi hơn người. Có anh tham mưu thì nghĩa quân khác nào như hổ mọc thêm cánh.
Thầy Bảo trầm ngâm thở dài:
- Nguyễn Duy Bảo này không ngờ được anh em coi trọng đến vậy. Trước hết, hãy để tôi cảm tạ tấm lòng của anh em.
Thầy đứng dậy, vái ba người kia một vái thật dài. Xong thầy ngồi xuống, giọng rưng rưng:
- Chẳng phải Bảo này là kẻ vô tâm đâu. Tôi thương người dân đói khổ và cũng căm ghét lũ quan lại hại dân hại nước lắm chứ. Nhưng bản thân tôi có cái khó, gia đình tôi mấy đời liền ăn lộc vua Lê, không thể làm chuyện phản nghịch được. Với lại, kẻ gây ra tội lỗi, xét cho cùng cũng chỉ là tên quan huyện nhỏ nhoi mà thôi, chứ không phải là vua Lê ở trên cao. Anh em phẫn uất quá thì lẻn vào phủ, giết tên quan huyện là được, chứ sao phải làm cái việc đại nghịch bất đạo, thay trời đổi đất. Xưa nay chiến tranh chẳng phải là điều tốt. Các anh em dấy động can qua sẽ khiến đầu rơi, máu chảy, bao nhiêu người vì thế phải ra chiến trường, bao nhiêu gia đình vì thế mà phải ly tán. Lúc ấy, nỗi khổ của dân chúng một vùng sẽ biến thành nỗi đau khổ của dân chúng trong một quốc gia. Xin anh em hãy vì đại cục mà .....
Người đàn ông tóc trắng không để thầy Bảo nói hết câu đã đập mạnh tay vào bàn, giọng y cục súc:
- Hừ. Tưởng mày là kẻ tài ba, nghĩa khí, hóa ra cũng chỉ là đồ đàn bà mặc quần. Mày ăn no rửng mỡ nên không hiểu được nỗi khổ của người dân trong đói kém. Anh em chúng tao bị lũ quan lại hành hạ quanh năm, nếu không vùng lên thì mãi mãi chỉ là con sâu để mặc kẻ khác chà đạp thôi. Là mày thì mày có chịu mãi kiếp hèn mọn đó không?
Nói xong, y phủi tay áo, đứng lên đi ra ngoài. Hai người còn lại thì hiền hòa hơn. Họ để tờ hịch trên bàn, nói với thầy Bảo:
- Anh Bảo hãy thông cảm cho anh ấy. Vợ và hai con trai của anh ấy đều chết vì đói. Em để lại tờ hịch này. Anh hãy ngẫm nghĩ. Nếu anh bằng lòng đi theo nghĩa quân thì chức phó tướng sẽ là của anh.
Rồi họ bước khoác áo tơi bước ra ngoài, biến mất trong màn mưa. Thầy Bảo ngồi lặng người nhìn tờ hịch, không nói gì. Bọn Đăng Dung biết thầy có điều phiền não nên không làm phiền nữa, lần lượt đi về phòng ngủ. Ngoài trời mưa lạnh, gió tạt ào ào trên tán lá, đâu đó có một chú ếch cô đơn, đang cố cất những tiếng oạp oạp vô vọng, văng vẳng trong đêm.
Tưởng sau đêm mưa gió ấy thì trời sẽ quang, mây sẽ tạnh. Ngờ đâu, cơn gió đêm ấy chỉ là khởi đầu của một trận bão dữ dội đang ập đến. Đến năm ngày sau, khi Đăng Dung đang đi làm đồng thì thấy quan binh kéo rợp trên đường cái, tiến về làng mình. Lo có chuyện chẳng lành, chàng vội vàng trở về.
Khi Đăng Dung về đến nhà thì đã thấy quan binh đứng nhung nhúc ở sân võ đường. Tên tri huyện Lê Phù bụng phệ đang đứng quát tháo dưới tán một cái lọng to gần bằng một gian nhà. Thầy Bảo bị vây ở giữa sân, xung quanh quân lính cầm giáo nhọn, chĩa tua tủa vào người thầy. Ngọc Tuyền, vợ con thầy Bảo, Đỗ Lân và mấy người võ sinh bị dồn sang một góc sân. Đăng Dung tiến về phía tên quan huyện muốn hỏi cho ra nhẽ, thì bị bọn lính ngăn lại. Chúng tuốt gươm sáng lóe như muốn ăn tươi nuốt sống chàng vậy. Tên tri huyện nhìn thấy chàng thì cười hềnh hệch:
- A thằng oắt con. Mày đừng tưởng có Giản Tu Công đỡ đầu mà tao không dám xử mày.
Đúng lúc đấy thì có một tên lính chạy từ phía bên phía nhà ở của thầy Bảo sang, trên tay y cầm một cuộn vải, thêu hình rồng vàng. Y tấu rằng:
- Bẩm quan lớn. Con có tìm được một tờ hịch của phản quân giấu ở trong nhà ạ.
Tên quan huyện mừng như bắt được vàng. Y cầm lấy tờ hịch, giơ cao trước mặt mọi người:
- Vậy là đã tìm được vật chứng chứng minh tên Nguyễn Duy Bảo cấu kết với phản quân làm loạn. Bay đâu, trói hắn, giải về phủ để bản quan xét xử.
Quân lính xô đến, dùng dây thừng trói gô thầy Bảo lại. Đăng Dung chạy đến can. Bọn lính chĩa mũi giáo ngăn cản đều bị chàng nhanh tay túm được, đẩy bọn nó ngã dúi dụi. Tên quan huyện ở bên ngoài liên tục quát lên "Phản rồi, phản rồi". Đăng Dung nhìn cái mồm rộng ngoác của y mà phát ghét, muốn xông đến, đánh cho y vài cái, thì thầy Bảo đã quát lên:
- Đăng Dung. Dừng lại.
Đăng Dung ngơ ngác nhìn về phía thầy Bảo. Thầy vẫn để mặc cho bọn lính quàng dây vào người. Răng thầy cắn chặt, từng sợi gân trên mặt giật giật chừng như đang phải kiềm chế lắm. Thầy nói với Đăng Dung:
- Con đừng làm loạn kẻo bọn chúng mượn cớ đó mà khép chúng ta vào tội phản nghịch. Lúc đó mọi chuyện còn khó xử hơn. Cây ngay không sợ chết đứng. Ta sẽ không việc gì đâu. Con mau lên kinh thành tìm anh trai ta báo cho anh biết mọi chuyện.
Đăng Dung dằn nắm đấm của mình xuống. Tên quan huyện cười hô hố:
- Sợ rồi à? Mày cứ lên kinh thành mà tìm ai đó đi. Để ta xem vây cánh của bọn mày to như thế nào.
Bên phía Ngọc Tuyền và vợ thầy Bảo khóc như mưa. Tên quan huyện nhìn về Ngọc Tuyền với ánh mắt thèm khát, y nói với nàng:
- Nếu nàng đồng ý làm vợ ta thì ta sẽ tìm cách gỡ tội cho chú nàng, thậm chí còn có thể ban cho y một chức quan nho nhỏ ở huyện.
Thầy Bảo nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống sân:
- Quân chó má. Mày muốn hãm hại tao thì đã thỏa ước nguyện rồi. Đừng có động đến gia đình tao. Bằng không, tao mà nổi giận lên thì nhúm quân này của mày, tao chẳng để vào trong mắt.
Tên quan huyện nhìn thầy Bảo rồi nhìn Đăng Dung, biết là hai người không dễ xơi nên đành lờ đi. Y sai người áp tải thầy Bảo vào trong cũi, khóa lại để dong về phủ.
Đăng Dung nhìn thầy bị người ta bắt đi mà bàn tay cứ hết duỗi ra rồi lại nắm vào. Chàng vốn chẳng hề có chút lòng tin vào tên quan huyện nên lo lắng hắn sẽ giở trò ám hại thầy. Đã mấy lần chàng muốn động thủ, nhưng ánh mắt của thầy Bảo lại kìm chàng lại. Trước khi đi, thầy còn dặn mọi người:
- Mọi người cũng không cần đi theo ta. Hãy mau chóng đi tìm anh Văn Lang.
Một tên lính quất roi lên mấy con ngựa còm cõi, khiến chúng hí lên rồi khó nhọc lôi chiếc cũi chở thầy Bảo đi. Bóng thầy thê lương trải trên con đường làng sỏi đá, nhỏ dần, nhỏ dần rồi biến mất hút sau cánh cổng làng.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com