# 31
Ngày hai mươi mốt tháng sáu, trai tráng xã Vạn Nhật hợp quân với ba xã khác, tạo thành một đội quân hơn một nghìn người dưới sự chỉ huy của Hổ tướng Phạm Hác đi về phía Tây để đánh đồn Mỹ Khê, nơi có hơn năm trăm quân triều đình đồn trú.
Đồn Mỹ Khê tuy nhỏ nhưng lại án ngữ bên dòng sông Thương, có vị thế quân sự quan trọng. Thành xây kiên cố, tường cao đến gần hai trượng, từ dưới nhìn lên thực sự thấy choáng ngợp. Hổ tướng Phạm Hác vì nóng lòng muốn lập công để bằng vai vế với Long Tướng Vũ Duy nên liều mạng thúc quân lên đánh. Nghĩa quân dùng phên nứa để che tên, áp sát tường thành, hòng đột phá vào trong. Nhưng, đợi khi phần lớn nghĩa quân đã vào trọn trong tầm ngắm, quan quân trong đồn Mỹ Khê mới đẩy ra ba khẩu pháo thần công ra đặt trên tường thành. Pháo được đúc bằng đồng đen, liên tục nhả đạn như con rồng phun lửa, bắn tới tấp vào dòng người ở dưới. Pháo nổ đì đùng, khói lửa mù mịt. Nghĩa quân bị pháo bắn rát quá, tử thương vô số, đám còn lại dẫm đạp lên nhau để rút lui. Quân lính trong đồn lúc ấy mới mở cổng, đưa kỵ mã ra đuổi, giết chết không biết bao nhiêu mà kể. Đến tối hôm đó, khi Phạm Hác tập hợp lại được tàn quân, kiểm đếm quân số thì phát hiện chết mất ba trăm người. Đội quân của làng Vạn Nhật do may mắn được xếp ở phía hậu quân nên thiệt hại không đáng kể.
Tinh thần nghĩa quân xuống dốc không phanh. Ngay đêm hôm ấy, có hơn năm mươi người đào ngũ, khiến đoàn quân lại thêm một lần suy hại nặng nề. Các vị đội trưởng lo lắng, đều một lòng khuyên Phạm Hác rút quân trở về. Tuy nhiên Phạm Hác không chịu nghe. Y không cam chịu phải nhận thất bại trong lần đầu ra quân, mới quát lên rằng:
- Anh em chúng ta khởi nghĩa tức là đã coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Nay nếu mới thấy một chút khó khăn mà đã chùn thì chẳng bằng một đứa đàn bà. Ngày mai anh em tiếp tục vây hãm, nếu có chết cũng phải huy hoàng.
Đội trưởng của làng Vạn Nhật là người cương cường, không muốn đưa anh em vào chỗ chết nên kiên quyết cãi lời Phạm Hác, bị y trói lại đánh cho ba mươi trượng vì tội không nghe quân lệnh. Quân làng Vạn Nhật phải lên khiêng anh về. Khi mọi người nghe tin Phạm Hác quyết tâm phải đánh thành Mỹ Khê bằng được thì đều run lẩy bẩy. Ai cũng sợ mấy khẩu pháo thần công như sợ quỷ. Anh Trê lại gần chỗ Đăng Dung, hỏi chàng:
- Dung à. Em có cách gì không? Cứ như thế này, sợ chúng ta không chết cũng bị thương hết mất.
Đăng Dung nghe anh Trê than vãn thì chỉ nhắm mắt dưỡng thần không nói gì. Đến tầm giữa trưa, khi mọi người đi nghỉ gần hết, chàng mới xách đao đi tìm Phạm Hác. Lúc đó, Phạm Hác đang ngồi ngẫm nghĩ dưới tán lá cây, thấy Đăng Dung lừ lừ xách đao đến thì giật mình, sai quân lính giữ chàng lại. Đăng Dung cắm đao trên nền đất, từ tốn nói:
- Tôi đến đây để bày kế đánh quân triều đình.
Phạm Hác mới dám để chàng lại gần. Chàng liền ngồi xuống đất, lấy một nhành cây vẽ một hình vuông trên nền đất tượng trưng cho đồn Mỹ Khê, xong rồi lại vẽ dòng sông Thương hiền hòa uốn lượn xung quanh. Phạm Hác thấy Đăng Dung chỉ lặng lặng phác họa địa thế mới sốt ruột hỏi:
- Kế đánh giặc của ngươi là như thế nào?
Đăng Dung trả lời:
- Thuật dụng binh nên biết thế yếu của địch, thế mạnh của ta mà bày ra trận. Quân địch có ba khẩu thần công như ba con rồng phun lửa, nếu ông mà cứ lùa binh đến như hôm trước thì chẳng khác nào đem dê dâng vào miệng rồng. Trận này muốn thắng thì không thể đấu sức, mà phải dùng mưu, đồng thời phải lợi dụng địa thế xung quanh.
Đăng Dung bắt đầu giảng giải tỷ mỷ mưu kế của mình cho Phạm Hác nghe. Ông ta liên tục gật gù, nhưng đến đoạn cuối không khỏi nhăn mặt:
- Việc khó như thế, ai mà có thể làm được. Nếu không thành thì lại hỏng việc mất thôi.
Đăng Dung cười mỉm:
- Việc này hãy để cho tôi. Nếu không thành công thì xin chịu chém.
Phạm Hác nghe theo. Đêm hôm đó, ông ta không cho nghĩa quân tấn công vào thành nữa mà dàn trận đứng trước cổng thành một đoạn xa rồi liên tục cất tiếng chửi bới quan binh. Quân trong thành mới lấy pháo thần công bắn ra, nhưng đạn pháo chỉ dừng trước nghĩa quân năm thước mà không thể vươn xa hơn được nữa. Nghĩa quân khoái chí, càng lớn tiếng lăng mạ triều đình. Nghĩa quân thay phiên hò reo, chửi cả đêm, đến buổi sáng thì rút đi ra ngoài xa.
Đêm hôm sau, nghĩa quân lại đến đúng vị trí cũ, bày thế trận võ mồm như cũ. Lần này, quan binh mở cổng, đưa bộ binh ra đánh. Nghĩa quân thấy bộ binh thì lập tức rút lui chứ không tham chiến. Đêm đó là gần cuối tháng, trời không có trăng, quan binh sợ có mai phục nên không đuổi theo mà chỉ quanh quẩn trước cổng thành.
Đến đêm thứ ba, nghĩa quân tiếp tục dàn trận trước cổng thành chửi bới như trước. Đêm nay là đêm mây mù, trời tối đen như mực. Quan binh chỉ bắn pháo hăm dọa chứ không dám đưa quân ra đuổi như hôm qua nữa. Tuy vậy, sự khó lường của nghĩa quân khiến quan binh tập trung cao độ, dồn hết sự chú ý ra ngoài cổng trước để theo dõi, và vì thế, vô tình bỏ ngỏ mặt thành phía sau.
Mặt thành phía sau giáp với sông Thương, là tuyến đường thủy trọng yếu trong khu vực. Bình thường, quan binh canh gác ở mặt này khá đông, nhưng vì thấy nghĩa quân không có thuyền chiến, lại chủ yếu quấy rối ở mạn đằng trước, nên chỉ phân công vài ba tên lính canh gác ở mặt sau. Mấy tên lính ấy túm tụm lại thành một nhóm ở trên tường thành để cùng tán chuyện, chẳng mảy may để ý đến một đám bèo lớn từ đâu trôi tới, dạt vào gần tường thành. Từ đám bèo ấy, trồi lên thân thể tráng kiện của một người thanh niên. Người đó chọn một góc tối, rồi lấy ra một cuộn dây thừng, buộc vào một thanh đao dài. Sau đó, chàng tung người, phi mạnh thanh đao lên trên. Lưỡi đao sắc bén, cắm lút vào tường thành ở phía trên cao. Tiếng cắm rất ngọt, khiến bọn lính canh chẳng mảy may để ý tới. Sợi dây thừng buộc ở chuôi đao rải xuống, tạo thành đường lên. Chàng thanh niên nắm lấy sợi dây thừng, trèo thoăn thoắt lên tường thành cao đến hơn hai trượng mà chẳng tốn chút công sức nào.
Lên đến nơi, chàng thanh niên trườn đến chỗ mấy tên lính canh như một con mèo trườn trong đêm, không phát ra bất cứ tiếng động nào. Đến khi bọn lính phát giác ra, thì chàng đã ở sau lưng bọn chúng. Chúng hoảng hốt, không kịp phản ứng thì đã bị chàng đánh ngất, rồi trói lại thành một đống ở trên tường thành. Sau đó, chàng mới huýt một tiếng sáo thật nhẹ. Lập tức, đám bèo ở phía dưới trồi lên đến hơn mấy trăm người. Tất cả đều cầm vũ khí sáng loáng lần lượt trèo lên tường thành. Người này trèo lên đến nơi lại thòng dây xuống kéo kẻ khác. Cứ thế, chỉ trong chốc lát, cả mấy trăm con người đã trèo lên được tường thành để lẻn vào bên trong.
Thì ra, đám nghĩa quân đang gào thét ở phía trước cổng thành chỉ có vỏn vẹn hơn trăm người, còn lại phần lớn nghĩa quân đều phục kích ở hướng đằng sau. Và người thanh niên đột kích lên tường thành, đánh ngất lính gác lúc nãy không ai khác chính là Đăng Dung. Chàng là mấu chốt của kế hoạch này. Nếu chàng không hạ gục ngay được mấy tên lính gác mà để bọn chúng hô lên báo động thì toàn bộ kế hoạch này sẽ đổ sông, đổ bể. Dưới chân tường thành giáp sông Thương không có chỗ dàn quân, nếu để quan binh trong thành mà biết nghĩa quân tập kích đằng sau, thì chỉ cần mấy mấy chục người bắn tên từ trên cao xuống là có thể dễ dàng đuổi được nghĩa quân đi.
Sau khi trèo hết lên tường thành, nghĩa quân ào ào tràn về phía cổng trước. Quan binh trong thành ngơ ngác không hiểu nghĩa quân từ đâu chui lên, trong phút chốc rối loạn, không biết xử trí làm sao. Nghĩa quân nhân cơ hội ấy, đánh cho quan binh không kịp trở tay. Thắng thua phân định trong chớp mắt. Nghĩa quân chiếm được thành Mỹ Khê, hạ được hơn hai trăm quân triều đình, bắt sống được gần một trăm, số quan binh còn lại liều mạng mở đường máu, chạy thoát theo lối cổng chính.
Sau khi chiếm được thành thì trời đã hửng sáng, Phạm Hác ra lệnh cho nghĩa quân mau chóng vơ vét binh khí, tiền bạc để mang về nhà. Đăng Dung thấy Phạm Hác không có ý định cho quân ở lại đồn trú tại thành thì thấy kỳ cục lắm, mới đến hỏi:
- Thành Mỹ Khê này có vị trí cực kỳ đắc địa, nếu cho quân đóng đồn trú thì sẽ tạo thế bao bọc cho căn cứ địa của nghĩa quân, đồng thời giúp tăng tầm ảnh hưởng. Tại sao tướng quân không cho người ở lại.
Phạm Hác nhìn chàng lừ lừ rồi nói:
- Không phải cái gì ngươi cũng đúng hết đâu. Bây giờ quân lực của ta vẫn còn yếu, nếu cứ chiếm được đất đai lại phân tán ra thì sẽ mỏng chẳng khác nào tờ giấy. Đến khi đại quân của triều đình quét qua liệu có chống được không?
Đăng Dung thấy y trở mặt nhanh hơn lật bàn tay thì liền nghĩ: "Thằng cha này vốn háo danh. Hôm trước y nghe mình là vì nóng lòng muốn phá được thành. Nay y đã toại nguyện rồi thì chỉ chăm chăm muốn về tâng công, còn say mê gì đến việc khác nữa. Ta mà nói khác ý của y, khéo lại bị đánh đòn. Cứ ngậm miệng lại thì hơn". Chàng không nói gì nữa, liền cùng nghĩa quân lên đường trở về.
Lần này nghĩa quân phá đồn thành công, cướp được rất nhiều lương thảo, vũ khí, đặc biệt còn đoạt được ba khẩu pháo thần công. Hổ tướng Phạm Hác để cho ba khẩu đại pháo đi đầu đoàn quân, còn y đi ngay phía sau. Đầu y nghểnh cao, ngực ưỡn ra phía trước oai phong lẫm liệt. Y lại sai hai chục tên lính liên tục gõ trống thùng thùng ở phía sau, khiến cho một đoạn đường về huyên náo vô cùng.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com