17.
"Minhyungieeee!"
"Dậy ngay! Không em phá cửa xông vào đấy!"
Tôi ngủ rất sâu, sau khi uống thuốc thì luôn như vậy. Tiếng đập cửa truyền tới tai đã có chút gấp gáp, theo sau là tiếng sủa nhắng nhít của cún con. Mỗi lần ngủ quá lâu như thế, tôi lại khiến hai đứa nhóc trong nhà sốt ruột.
Cửa mở ra, đúng như dự đoán, Choi Wooje đang giơ cao một tay, nắm lại, sẵn sàng nện thêm một cú nữa lên cửa phòng. "Anh định ngủ đến mục xương đấy à?" Mũi nó chun lại, hai má phồng lên xấu xí như con cá nóc. "Tám giờ tối rồi, là tám giờ tối đấy!" Biểu cảm trên khuôn mặt nó nghiêm nghị một khắc, rồi xẹp xuống thay bằng nụ cười xòa xòa. "Anh mau ra cho cún ăn đi! Bé con chắc là đang đói lắm rồi."
Con cún đang ngoác miệng thở, nghe thấy từ khoá "ăn" bỗng hai tai dựng đứng, thân hình tròn vo xoắn xuýt cả lên, lao qua lao lại như quả bóng lông. Một người một cún nhốn nháo quanh tôi tạo thành vòng vây hỗn loạn, hành lang hẹp lại vốn được thiết kế cho một người đi qua một lúc. Thế là cả ba buộc phải luồn lách qua nhau, khó nhọc lắm mới có thể tiến ra phòng bếp.
"Anh ăn hay không thì tuỳ, nhưng cún thì không thể để đói. Nó mà nháo lên thì tự anh đi mà trông." Choi Wooje vẫn mải thao thao bất tuyệt trong khi bụng nó đã réo lên một tiếng rất thật thà.
Tôi gặp được Choi Wooje e cũng là do số phận khéo biết trêu ngươi. Lí do rất tình cờ, nhưng thằng nhóc đã bám riết lấy tôi suốt cả nửa năm nay.
____________
Tôi vốn không phải người hay mua sắm linh tinh, đồ đạc toàn những thứ đã dùng quen, không nỡ vứt. Lâu dần, những vật dụng ấy vẫn chất đầy căn hộ cũ, lúc chuyển nhà phần lớn không thể mang theo, chỉ còn cách bỏ đi.
Sau khi dọn xong, căn hộ gần như trống rỗng. Tôi đứng trong phòng một lúc, nhìn quanh, tưởng là sẽ tiếc nuối, hoá ra lại chẳng cảm thấy gì. Những việc phiền toái như chuyển nhà, hoá ra chỉ cần tập trung thì sẽ có thể làm xong rất gọn lẹ.
Thật ra lúc ấy tôi cực kỳ tỉnh táo, đủ minh mẫn để biết mình đang làm gì, cũng cảm thấy những điều mình đang làm là đúng. Rời khỏi nơi cũ, nghĩ cho cùng, cũng chẳng khác mấy việc đổi sang một tuyến tàu vắng vẻ để tránh đám đông giờ cao điểm. Chỉ là chọn một lối đi khác yên tĩnh hơn, tôi không giống như đang cố đào thoát, nhưng có lẽ đã có chút đầu hàng thực tại.
Muốn đi được trên con đường yên tĩnh, rốt cuộc vẫn cần một chỗ dừng chân tương xứng, với tôi thì là một nơi đủ vắng, xa người, gần biển. Buổi sáng se sắt, buổi tối lạnh hơn một chút, nóng thì mở cửa, rét thì mặc thêm áo ngoài. Khi không còn muốn tiếp tục, tôi sẽ để mọi thứ thuận theo tự nhiên, như nước gặp nước, như muối tan vào biển. Ngay cả một chút phiền hà cũng không lưu lại, xem như cuối cuộc đời đã tìm thấy cái kết không quá đau thương.
Chỉ còn một việc duy nhất cần làm. Trước khi rời Seoul, tôi ghé phòng khám tâm lí để đón con cún, theo như lời hứa đã nói ra một cách khá tùy tiện trước đó.
Con phốc sóc được vị trợ lí bế ra từ phòng trong, nhỏ và nhẹ đến mức hai tay tôi chao đi một nhịp. Lông nó xù, nhếch nhác sợi ngắn sợi dài, đôi tai dựng đứng run lên, còn cái đuôi thì cụp hẳn xuống chẳng có chút kiêu hãnh nào của giống chó vốn hay làm dáng. Tôi ôm nó vào lòng, thân hình bé tẹo trên tay giật khẽ rồi rúc sâu hơn một chút. Có cảm giác nó không sợ tôi mà sợ nhất là cái khả năng tôi sẽ đổi ý, sẽ đặt nó trở lại nơi ban đầu rồi bước đi như chưa từng hứa hẹn gì.
Nó ngẩng đầu nhìn tôi, đôi mắt đen ướt át đã đặt trọn sự trông cậy lên một người chỉ vừa xuất hiện. Vì cái nhìn ấy, tôi bỏ qua ý định chui rúc trong một căn phòng tối, thuê hẳn căn hộ hai phòng ngủ ở Busan cho nó có thêm chút không gian.
Cún con khi về nhà mới vẫn còn nhút nhát, nó sợ từ tiếng cửa sập cho tới tiếng nước chảy trong phòng tắm. Ban đêm, nó thường cuộn tròn sát bên tôi, lưng áp vào đùi. Phải cảm nhận được hơi người ngay đó, nó mới yên tâm chìm vào giấc ngủ.
Một người, một cún, cuộc sống đã thu gọn đến mức tối thiểu thì sẽ không thể xảy ra biến số. Tôi đã đặt niềm tin rằng những ngày sau đó sẽ cứ thế yên ổn trôi qua. Niềm tin ấy, cuối cùng, chỉ tồn tại trong chưa tròn một tháng.
Đã cắt đứt hầu hết mọi liên hệ cũ, thậm chí còn đổi cả số điện thoại, vậy mà một sáng đẹp trời, tôi lại bị khủng bố tin nhắn. Điện thoại rung lên tới hàng chục lần trong một phút, suýt tự lết khỏi mặt bàn mà lao xuống đất. Tất cả thông báo đều tới từ một dãy số lạ, người gửi, tự giới thiệu, tên Choi Wooje.
Loạt tin nhắn dồn dập tự xếp lại thành câu chuyện có đầu có đuôi. Choi Wooje vừa tốt nghiệp, đang loay hoay tìm chỗ ở, vừa hay căn hộ này lại quá đắc địa. Do dự một vòng, nhà liền bị người ta ký trước, mà "người ta" ấy, xui cho nó, lại chính là tôi. Chủ nhà cũng gọi điện tới thuyết phục tôi, coi như mở ra khả năng đôi bên cùng có lợi. Thêm một người ở chung, thêm một khoản tiền thuê được san sẻ. Chỉ là thêm một người, cũng giống như kê thêm một chiếc ghế vào bàn ăn còn chỗ trống, xét cho cùng chẳng phải chuyện gì long trời lở đất nếu không phải lo nghĩ tới việc cái ghế ấy có cần thiết hay không.
[Đi mà anh! Em hiền lành, ít nói, dễ nuôi!]
Phòng thì đúng là còn, nhưng dẫu Choi Wooje có mô tả bản thân như một con mèo nhà ngoan ngoãn, tôi cũng chẳng thể hồn nhiên đem nó về chung sống. Đáp lại tin nhắn của nó, tôi không thèm giữ kẽ.
[Tôi có bệnh đấy. Phát bệnh là phiền lắm, không sống chung với người khác được.]
[Không sao. Em có kinh nghiệm. Hồi trước từng làm tình nguyện ở viện dưỡng lão. Em ngoan ngoãn, biết điều.]
Càng nói chuyện với Choi Wooje, tôi càng không nhịn được mà tự hỏi liệu nó bị trục trặc ở hệ thần kinh hay ở chức năng tư duy.
[Tôi là bị bệnh điên đấy. Ngày không nói gì ban đêm gào thét, nhà có nuôi chó dữ, tóm lại không được.]
[Em cũng không bình thường, đặc biệt thích chó. Em nghĩ mình hợp nhau.]
Việc thuyết phục qua tin nhắn dừng lại ở đó. Ba ngày sau, khi tôi còn chưa kịp sắp xếp lại sự bối rối của mình cho ra hình ra dạng, Wooje đã đứng trước cửa nhà, kéo theo một chiếc vali màu sắc lòe loẹt, án ngữ ngay lối đi, dáng vẻ thản nhiên không có chút nào giống với người đến đây xin xỏ.
Tôi vẫn cửa cho nó, mãi sau này khi hồi tưởng lại mới thấy bản thân đã quá lơ là. Choi Wooje bước vào, việc đầu tiên nó làm không phải là nhìn tôi mà là cúi xuống, đặt bàn tay lên đầu con cún. Con cún vốn nhát người lập tức quẫy đuôi không chút dè chừng. Nụ cười trẻ dạ và quá đỗi sáng sủa của Choi Wooje rơi thẳng vào tầm mắt. Cái trật tự khép kín mà tôi kỳ công dựng nên liền cứ thế bị xô lệch bởi một thằng nhóc hai mươi tuổi và một con phốc sóc ngày một béo tròn ra.
Choi Wooje không hề e sợ tôi, đáng ngại hơn cả, tôi đã không còn đủ tàn nhẫn để đuổi nó đi dù lý trí vẫn biết rõ mình nên làm thế.
____________
Ban đầu, tôi đã nghĩ Choi Wooje chỉ có thể chịu đựng tôi được vài hôm rồi sẽ kiếm cớ chuồn êm, dần mới nhận ra lời nó từng khoe khoang "em không bình thường đâu" chẳng câu nào là nói khoác. Thằng nhóc ấy trái khoáy, ồn ào nhưng vô hại. Nó giống thứ cỏ dại mọc sau mưa, chẳng ai gieo hạt mà vẫn cứ thế lên xanh.
Choi Wooje thi đấu đấm bốc bán chuyên. Ban ngày nó tới phòng tập, chiều tối, bốn buổi mỗi tuần, nó làm thêm ở một nhà hàng trong phố. Nó sống chủ yếu bằng đồ ăn vặt, trong ngăn tủ lúc nào cũng tích trữ bánh kẹo như thể ngoài kia là nạn đói. Ăn nhiều như thế, nó bảo, là để cho có sức.
Ở thành phố này, nhịp sống dường như đã được ấn định sẵn, sáng bắt đầu rất sớm, đêm khép lại rất muộn. Người ta quen lao về phía trước, xem mục tiêu là thứ phải có từ khi còn trẻ, gần như không kiên nhẫn nổi với những biểu hiện chần chừ. Choi Wooje cũng là một trong số đó, từ lối sống cho tới cách suy nghĩ đều đơn giản và thẳng tuột, ngay cả những việc nhỏ nhất cũng dành trọn tâm huyết để làm. Tôi có chút ngưỡng mộ thằng nhóc ở điểm ấy, nó khiến tôi hoài niệm về cái thời bản thân cũng từng sống chết theo đuổi cái nghề nhạc công, yêu ghét trực diện, làm việc gì cũng thật quyết liệt.
Chẳng tồ tệch như vẻ bề ngoài, hóa ra Wooje lại là kiểu người nhạy cảm. Hồi còn làm tình nguyện ở viện dưỡng lão, nó từng kể mình khá được các cụ già ưa thích, nhất là những người tính nết khó chiều. Nó có thể ngồi nghe những câu chuyện lặp đi lặp lại, một câu hỏi bị lặp lại đến năm lần nó cũng kiên nhẫn đáp đủ cả năm lần. Tôi chẳng dễ gì tin lời nó, thanh niên mới lớn mười đứa thì đã có đến tám đứa bị dư thừa năng lượng. Cho tới khi cơn bệnh bị nó vô tình bắt gặp, tôi mới miễn cưỡng phải tin.
Có một thời gian bệnh trạng khiến tôi gần như chạm đáy, thuốc men đầy đủ càng không đỡ, giấc ngủ kéo dài bất thường, chỉ cần nhắm mắt là đi tong gần hết một ngày. Cứ mặc kệ vậy thì sẽ chẳng cầm cự nổi, tôi đành học cách sống chung với bệnh như sống chung với một gã hàng xóm khó ưa, biết tính biết nết mà đối phó. Nhờ thế mà tôi xử lý những cơn loạn thần tương đối lý trí, mãi đến khi tình hình thuyên giảm mới dám giảm liều thuốc xuống còn một nửa.
Nhưng tác dụng phụ của thuốc an thần dù chỉ nửa liều vẫn không hề dễ chịu. Chỉ cần nuốt cái viên trắng đục ấy xuống, dù ngoài trời có ầm ầm sấm sét tôi cũng không tài nào ý thức được, đành tối nào cũng chờ Wooje về trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê. Dạo này cún con hay ngứa răng, nửa đêm không có người trông nom là nó sẽ đi cắn chân bàn chân ghế, phải làm hỏng một cái gì đó trong nhà mới chịu. Wooje về càng muộn, tôi càng phải kéo dài trạng thái tỉnh táo. Còn không, khi tỉnh dậy, phòng ngủ chắc chắn sẽ biến thành một bãi chiến trường.
Tối hôm ấy cũng vậy. Chưa uống thuốc cũng chưa lên giường, tôi nằm dài trên sô pha phòng khách, nghĩ chỉ cần chờ nó thêm một lát nữa thôi.
Trần nhà ở trên đầu, bốn bức tường vây quanh, sàn gỗ dưới chân sáng bóng vì mới lau buổi sáng, ý thức trong đầu không hề mất đi. Chợt có cảm giác không gian bắt đầu khép kín quanh mình như cái kén, tôi liền biết cơn bệnh lại tới.
Mùi tinh dầu oải hương vô dụng hòa lẫn với mùi ẩm đặc trưng của một trận mưa lớn cùng lúc thúc ép các giác quan vận động đến cực hạn. Cái lạnh không sắc không buốt âm ỉ bò dọc sống lưng, cuối cùng lại dừng ngay ở gáy, gai ốc nổi lên. Tôi trong lúc ấy không thể cử động cho ra hồn, tay chân nặng dần như bị thay thế bằng những khối vật chất ì ạch, mỗi ý định nhúc nhích đều phải đi qua một quãng rất dài mới tới được cơ thể.
Dưới chân tôi, cún nhỏ sủa nhặng lên, chạy vòng tròn, móng vuốt nó lách cách lên sàn gạch, hai tai cụp sát xuống đầu dường như cũng đã đánh hơi thấy điểm khác thường.
Cái bóng quen thuộc rỉ ra từ góc tủ rồi từ từ hiện hình. Nó lặng lẽ trồi lên từng chút một, từng ngón tay đen dài miết lên mép gỗ thăm dò như một nhạc công tệ hại cố bắt lấy tiết tấu của bản nhạc chỉ mình nó và tôi nghe thấy.
Thật ra tôi đã chẳng còn sợ nó từ lâu. Với tôi, sự xuất hiện của nó chỉ giống như cơn đau cũ trở trời là nhức.
Tôi thử hét lên để xác nhận xem mệnh lệnh của não bộ còn bao nhiêu hiệu lực. Cổ họng co thắt đẩy ra một tiếng nấc cụt lủn, hoá ra ngay cả khả năng phản ứng cũng không còn.
Đúng lúc ấy, Choi Wooje về đến nhà, hình như nó vừa chạy bộ về, đầu tóc mồ hôi bết dính. Vừa nhìn thấy tôi nó đã ném cả cái ba lô trên lưng xuống sàn, nghe "đùng" một tiếng lớn, chạy lại gấp cho bằng được.
"Anh sao thế?"
Nó vừa hỏi vừa cố gắng quan sát, không thấy tôi trả lời lại càng gặng hỏi.
"Anh thấy ma à?"
"Nó đứng ở đâu?"
"Có đi giày không?"
Tôi lơ mơ nhìn sang bóng đen kia. Đúng là không thấy giày dép gì, đôi chân nó nhợt bệch chẳng rõ hình thù. Tôi mới lẩm bẩm, "không."
"Tốt." Bàn tay Wooje ấm áp và khô ráo, nắm lấy tay tôi. "Đi chân đất thì nó chạy chậm lắm. Có gì em bế anh chạy luôn."
Đôi mắt Wooje lướt qua các góc tối như con mèo nhẩn nha rình mồi. Dĩ nhiên nó chẳng thấy gì, vậy mà nét mặt lại trầm ngâm như đang toan tính trong đầu chuyện vô cùng hệ trọng. Sau khi nhìn quanh một vòng, nó liền chỉ tay vào con cún đang vểnh tai hóng hớt. "Anh nghĩ xem, nếu bé con đánh nhau với con ma kia thì ai sẽ thắng?"
"...bé con." Tôi nhìn xuống con cún, trả lời trong trạng thái lơ mơ.
Như nghe hiểu được tiếng người, cún con lập tức nhảy tót lên đùi tôi, dùng hai chân trước bé xíu cào cào lên ngực áo. "Đúng rồi." Wooje gật đầu cái rụp. "Nó mập thế này cơ mà."
"Cơ mà ma trông thế nào? Em tò mò quá. Nó có mặt mũi gì không?"
Trong lúc giúp tôi nắn bóp khớp tay, cái miệng lanh chanh của Wooje vẫn không quên hỏi thêm vài câu ngớ ngẩn, buộc tôi phải nhìn thẳng vào cái bóng. Nhìn kĩ hơn một chút mới phát hiện ra nó đã biến dạng, lờ mờ như bóng người chập chờn nơi góc tối, chẳng còn chút nào cái khí thế hăm doạ ban đầu.
"Người ta tối nào cũng đến thăm anh à?"
"...hay anh là người nổi tiếng mà giấu em?"
Trong lúc đầu óc mơ màng, tôi chỉ còn cách van xin Wooje ngậm miệng. Nó mà hỏi bớt đi một câu, có lẽ tôi cũng đỡ đau đầu hơn một chút.
Đợi cho tôi thở đều trở lại, Choi Wooje mới buông tay. Trước khi chạy vào phòng ngủ tìm thuốc cho tôi, nó vẫn kịp đẩy nhẹ vai tôi một cái.
"Sau này gặp ma, cứ hét "Choi Wooje cứu anh" là được."
Điệu bộ hớn hở của thằng nhóc khiến tôi thoáng thấy ngứa ngáy, liền vặn lại, "lúc nhà không có ai thì buộc phải chờ chết sao?"
"Anh sống ở thời đập đá lấy lửa à? Có cái điện thoại trong túi mà còn hỏi được." Nó trợn tròn mắt nhìn tôi. "Tám trăm cây số em cũng chạy về, miễn anh biết bấm nút gọi. Anh có biết cái nút đấy trông thế nào không thế?"
"Còn có Min Cún kìa. Min Cún nghe anh gọi thì kiểu gì cũng sẽ chạy tới ngay thôi."
Tôi bất chợt giật mình. Khoảnh khắc ý thức vừa nhận ra điều không ổn ấy, nỗi buồn đã nhanh chóng tràn lên trước.
Nghe thấy tên mình, cún con trong vòng tay tôi khẽ động đậy, cái đuôi nhỏ rung lên đầy mong đợi. Có lẽ bằng thứ trực giác mơ hồ của loài vật, nó cũng cảm nhận được điều bất nhất.
Tôi là người đã đặt tên cho nó. Cũng là tôi, từ trước tới nay, chưa từng dám dùng cái tên ấy mà cưng nựng nó bao giờ.
____________
Hôm nay, cũng như mọi ngày, Choi Wooje lại về nhà vào đúng lúc tám giờ tối sau khi chạy bộ quanh khu phố và tiếp tục bài ca "anh hẳn phải là một người nổi tiếng."
"Hẳn là người nổi tiếng thì mới có thể không đi làm, ngủ suốt ngày mà vẫn dư dả như anh."
Tôi đã chối không biết bao nhiêu lần, tôi đoán cũng phải đến trăm lần nếu cộng cả những cái lắc đầu bất lực, rằng chẳng có "người nổi tiếng" nào sống cuộc đời vô công rồi nghề, sáng ngủ đến trưa, tối uống thuốc xong lại ôm chó mà ngủ li bì tới sáng. Thế mà Choi Wooje vẫn chống nạng, nó nghiêm mặt cho rằng mọi luận điểm của tôi đều sai lè.
"Chẳng có người bình thường nào mua được cái xe của anh đâu. Cái xe đấy á, cỡ em phải đầu thai tích góp năm kiếp mới đủ. Hay đấy là xe anh đi cướp?"
Tôi hiểu nó chỉ nói đùa, nhưng chiếc xe ấy nhìn qua đúng là hơi phô trương. Cũng giống như nhiều thứ khác, nó đã không còn hợp với con người tôi bây giờ nữa.
Cơn đói của Choi Wooje không đến đột ngột mà có báo trước rõ ràng. Nó đổi tư thế liên tục trên sô pha, co người rồi duỗi ra, một tay ôm bụng, tay kia chống cằm, miệng ỉ ôi than thở. Chừng ba phút sau khi cuộc tranh đấu giữa mì gói và cơm nguội đã đến hồi kết, nó rướn về phía tôi, trịnh trọng đưa ra kết luận. "Tập luyện xong mà không nạp đủ protein thì nỗ lực cả ngày đi tong mất". Rất nhanh chóng, Choi Wooje chuyển sang trạng thái tràn trề năng lượng, nó lại đặt gà rán trên ứng dụng điện thoại, vẫn là cái món nó đã đặt hôm qua.
Vừa mới bấm nút xác nhận chưa được bao lâu vậy mà chuông cửa đã reo. Chẳng rõ ngoài kia công nghệ đã phát triển đến đâu mà ngay cả việc giao đồ ăn cũng diễn ra nhanh tới mức thần kì như vậy.
Wooje nghe tiếng chuông liền tức tốc chạy ra với dáng vẻ háo hức của một con chó đói. Vừa chạy nó vừa reo lên "anh đẹp trai chưa chi đã tới rồi sao?"
Cửa mở ra, nó lại không thấy anh giao hàng đẹp trai nào cả.
Wooje đứng đờ người, hai mắt nó tròn vo.
"Cho hỏi, Lee Minhyung có ở đây không?"
____________
"Minhyung... chú này..."
"...anh thật sự là người nổi tiếng hả?"
Tôi thở dài, nhờ nó từ chối khéo.
Nó liếc nhanh về phía tôi, rồi lại nhìn ra ngoài, cuối cùng để mặc câu hỏi lơ lửng giữa hai bên khung cửa.
Người đàn ông bên ngoài tự giới thiệu ngắn gọn, "tôi là bố của Lee Minhyung". Ông nghiêng đầu, ánh mắt vượt qua Wooje, cứ thế nhìn thẳng vào bên trong căn hộ mà tìm tôi.
Tôi chỉ đánh tiếng để Wooje ngầm hiểu, chẳng phải vì tôi còn muốn giữ tròn đạo hiếu. Tôi thậm chí còn chẳng muốn nhìn mặt ông ta nữa, sau khi đã cao chạy xa bay nửa năm trời lại càng không.
Wooje lập tức mở rộng toàn bộ phần vai và cánh tay, chắn ngang gần hết khung cửa như một cái thanh chắn. Biết gia đình tôi vốn có bất hoà, nó tuyệt nhiên chưa từng mở lời tra truy dù trong lòng vẫn luôn muốn biết cho tận ngọn nguồn câu chuyện ấy.
Xích mích giữa tôi và bố đã xảy ra quá nhiều lần. Nói ra hay không nói, đối mặt hay né tránh cuối cùng cũng chỉ có chung kết cục. Tôi thà cứ cất hết những chuyện cũ ấy vào một cái hộp, nuốt luôn chìa khoá vào trong bụng là xong.
Cái hộp ấy không mở ra, tôi cũng không cần thiết phải bận lòng vì ông nữa.
____________
"Lee Minhyung." Wooje mới chỉ kịp nắm vào tay nắm cửa thì đã bị bố tôi đẩy sang một bên. "Nuôi nấng con hai mươi mấy năm trời, không ngờ lại dạy nên một thằng hèn nhát. Con nhìn con bây giờ xem, có còn ra dáng vẻ của một con người hay không?"
"Hèn nhát?" Có lẽ cũng vì hai chữ ấy, tôi đứng bật dậy. "Lúc bố tìm đến Ryu Minseok để cầu xin giúp đỡ, bố có tự thấy bản mình hèn nhát không?"
Nhắc đến cậu ấy, tôi biết mình đã cầm lên tay con dao sắc nhất. Con dao đã vạch ra ranh giới cho tôi cắt lìa mọi thứ, cũng đã làm xước xát cả trái tim tôi.
"Bố đã thay con dọn dẹp bao nhiêu chuyện. Còn chưa đủ à? Con còn dám đứng đây trách móc?"
Sắc mặt bố biến đổi trong tích tắc, từ đay nghiến chuyển sang phừng phừng giận dữ.
Không ngờ bố lại mở đầu câu chuyện theo cách đó. Ông không vòng vo mà đánh thẳng vào cái lòng tự trọng tội nghiệp vốn đã tan nát của tôi, đó là cách nhanh nhất để giúp tôi nhớ ra rằng mình vốn là kẻ tội đồ, mang ơn từ trong cốt tuỷ. Cũng không nghĩ rằng sau ngần ấy ngày xa cách ông vẫn không thay đổi. Hễ nhìn thấy tôi, ông lại lập tức coi tôi như một món đồ trục trặc cần được ông ban ơn cứu chữa.
"Minhyung," bố đảo mắt sang phía Wooje trong lúc thằng bé vẫn đang ngơ ngác. "Ra ngoài nói chuyện riêng đi."
Tôi không nhúc nhích, lưng áp vào mép bàn còn nguyên chén bát vừa dọn sẵn cho bữa ăn khuya.
Tôi bảo ông về đi, xin đừng đến làm phiền tôi nữa.
"Chuyện con bẻ gãy cổ chân Ryu Minseok, con định khi nào mới chịu nói với bố?"
Xong rồi.
Mọi thứ tôi cố gắng gom góp, cái bình tĩnh vay mượn, cái thờ ơ tập tành, cả sự dửng dưng mà tôi tưởng mình đã học được trong những ngày trốn chạy, tất cả đều sụp xuống đồng thời.
Lẽ ra tôi phải cắt ngang, phải bảo ông đừng nhắc đến cái tên ấy trước mặt tôi, phải giữ lấy cái con dao sắc mà mình còn nắm trong tay. Tới khoảnh khắc chí mạng mới ngộ ra e là đã không kịp nữa. Vẫn còn một sợi dây thòng lọng treo trên cổ. Mọi sự chuẩn bị của tôi, so với ông, xem ra vẫn còn non nớt.
"Cậu ấy nói với bố sao?"
"Chuyện chỉ con và cậu ta biết với nhau. Nếu không phải do con nói ra, thì còn ai nữa?"
Bố liếc Wooje lần nữa, ánh mắt đầy khó chịu, ông không muốn người lạ nghe được câu chuyện này.
____________
Tôi bước ra khỏi cửa, vẫn còn lơ đãng trong đầu, đến khi luồng gió lạnh quất vào hõm cổ mới chợt nhớ mình không mang theo áo khoác. Đi thêm vài bước, tôi mới thấy Moon Hyeonjun cũng đang đứng đó. Nó dựa người vào cửa xe của bố tôi, thân hình căng lên, bồn chồn không che giấu nổi.
Thấy tôi, Hyeonjun liền xuống dập điếu thuốc bằng gót giày. Gương mặt nó không đổi, nhưng ánh nhìn thì sẫm lại, không rõ là đang đau đớn hay giận dữ.
Phản ứng của Hyeonjun bây giờ hóa ra chẳng có điểm nào tôi có quyền phản đối nếu như nhớ lại mười mấy năm thân thiết, nhớ lại cả cái cách tôi đã biến mất sau khi mơ hồ nhắn cho nó một câu xin lỗi, không để lại dù chỉ một dấu vết để lần theo.
Choi Wooje từ trong nhà lao ra theo, thấy Moon Hyeonjun, nó bỗng "a" lên một tiếng.
"Anh giao hàng đẹp trai sao cũng ở đây?"
Moon Hyeonjun quay đầu nhìn Choi Wooje, ngay cả lời chấn chỉnh thằng nhóc nó cũng chẳng buồn nói nữa. Nó cởi áo khoác trên người, ném về phía tôi. Trước khi tôi kịp chào một câu cho có lệ, Hyeonjun đã túm lấy cổ tay Wooje, kéo đi.
Tôi đứng yên, nhìn theo hai bóng lưng rời xa dần trong tiếng bước chân vội vã dội xuống mặt sân. Chính trong khoảng trống ấy, nhận thức chậm chạp mới kịp hình thành. Người duy nhất còn nắm được tôi sống ở đâu, giờ giấc thế nào, rốt cuộc chỉ còn có Choi Wooje.
Wooje trong lúc bị Hyeonjun lôi đi có ngoái lại nhìn tôi lúng túng. Biểu cảm của nó rất giống một đứa trẻ vô tình làm rơi vỡ món đồ của người khác khi, chưa bị mắng cho một trận thì vẫn chưa kịp hiểu mình vừa gây ra một mớ rắc rối lớn đến nhường nào.
____________
"Bố thân thiết với cậu ấy hơn con tưởng."
"Ryu Minseok hay Moon Hyeonjun?"
"Cả hai."
"Có qua có lại cả thôi." Bố nhún vai nhẹ tênh. Dường như chẳng phải suy xét lại gì, giọng ông vẫn đều đều, thậm chí còn giữ nguyên cái tàn nhẫn đặc trưng. "Moon Hyeonjun thì chạy đến tìm bố đòi báo cảnh sát tìm người mất tích. Ầm ĩ lắm. Bố chỉ gợi ý cho cậu ta vài cách bớt ồn ào hơn mà vẫn hiệu quả. Dù sao thì cũng là cần tìm chung một người."
"Còn Ryu Minseok? Bố nhờ vả người ta cứu giúp con trai bố, có đền bù cho cậu ấy thứ gì chưa?"
Bố ngẩng mặt nhìn tôi, nụ cười thoáng hiện như thể ông đang hài lòng vì cuối cùng tôi cũng nhớ được bài học mà ông luôn răn dạy cả đời. Rằng chẳng có sự tốt đẹp nào tự mọc lên từ đất, rằng mọi ân nghĩa rồi sẽ hóa thành một món nợ phải phải trả dù bằng cách này hay cách khác. Mọi sự giúp đỡ trên đời này, dù có phủ lên thứ ngôn từ bao dung đến mấy, rốt cuộc cũng đều có cách định giá khác nhau.
Ông lấy từ trong túi những tờ bệnh án được xếp phẳng phiu đến kỳ lạ, đặt vào tay tôi, trong từng cử chỉ ấy vẫn là bóng dáng của con người suốt đời tin rằng mọi việc phải được thu xếp thật gọn gàng, thật có mục đích, thật khó mà làm sai lệch lý lẽ của ông.
"Con nên biết, bác sĩ trực tiếp điều trị cho Ryu Minseok là người do bố giới thiệu. Không có chuyện ngẫu nhiên ở đây. Việc cậu ta phục hồi thuận lợi cũng là nhờ có bố đứng ra giải quyết."
"Bố có ý gì?"
"Rằng bố đã làm phần việc của mình." Bố trả lời thản nhiên. "Nhưng phải thú thật, lúc đầu bố chẳng mảy may nghi ngờ những lời Ryu Minseok nói. Chấn thương nghiêm trọng như thế, cậu ta luôn khẳng định với bố là do ngã cầu thang."
Tôi bật cười khô khan, cổ họng có chút đau rát.
"Bác sĩ là người đâu tiên nghi ngờ cậu ta nói dối. Với lí lịch từng bị bạo hành của Ryu Minseok, bệnh viện đã có cơ sở báo án. Thử nghĩ xem, chỉ một mình cậu ta liệu có đủ khả năng để khiến bọn họ ngừng điều tra không?"
"Nếu con thực sự tin rằng mọi thứ nên công bằng và có qua có lại, thì con vẫn còn nợ Ryu Minseok quá nhiều. Ở tình huống ấy mà bỏ trốn, mà rũ bỏ trách nhiệm thì chính là hèn nhát."
Tôi chỉ biết lắng nghe trong câm lặng. Nếu mở miệng, có lẽ tôi sẽ phải thú nhận một điều chẳng mấy tự hào. Tôi từng nghĩ Minseok sẽ ổn thôi, bởi cậu sinh ra đã lì lợm hơn và cũng bao dung hơn tôi. Và chỉ tin thế thôi đã khiến tôi tự cho phép bản thân rời đi, trốn mất. Trả lại yên bình cho cậu ấy, rốt cuộc cũng chỉ là cách văn hoa nhất để nói rằng tôi đã chẳng làm được gì cho người ta cả.
Có vài lần bác sĩ gọi Minseok vào nói chuyện riêng, cửa phòng khép lại rất nhẹ, còn tôi ngồi ngoài, giả vờ chăm chú đọc mấy tờ tạp chí cũ đã nhàu góc, tay lại vô thức xoắn lấy cổ tay mình. Vẫn với cái niềm tin lười biếng ấy, tôi đã chẳng kịp nhận ra cái lúng túng trên gương mặt cậu khi Minseok nặng nhọc bước ra. Cậu luôn bảo chẳng có gì, rằng bác sĩ chỉ dặn dò mấy chuyện vặt vãnh. Những chuyện vặt vãnh mà lần nào cũng giữ cậu lại lâu đến thế, tôi cũng không còn đủ can đảm để hỏi xem rốt cuộc chúng "vặt vãnh" ra sao.
"Con trách bố vì đã tiết lộ chuyện của con cho Minseok, nhưng con quên mất bố đã phải lo bao nhiêu chuyện cho con rồi."
____________
Ryu Minseok đã che chắn cho tôi, còn ông thì che chắn cho cậu ấy, chỉ có tôi là người đến muộn nên còn chưa kịp hiểu. Tôi hỏi ông, rằng ông đã hoá thành người rộng lượng như vậy từ bao giờ.
Ông lắc đầu, chấn chỉnh tôi. Không phải rộng lượng, mà là nghĩa vụ. Ông còn nợ Minseok một lời tạ lỗi. Giúp đỡ cậu ấy, với ông, vốn là chuyện phải làm.
Tôi lập tức nhận ra ánh mắt phũ phàng quen thuộc của ông, ánh mắt của một người đã quá quen với việc dồn người khác đến kiệt quệ tinh thần nhưng vẫn bình thản tin rằng mình chính là lẽ phải. Mọi cái giá phải trả là cần thiết, đổ nát sau này, nếu có, cũng chỉ là hệ quả tất yếu của một lựa chọn dĩ nhiên thôi.
Thì ra, ân oán giữa ông và Minseok đã bắt đầu từ rất lâu trước đó, bắt đầu ngay trong cái mùa đông hiếm hoi yên ả khi tôi và cậu còn bên nhau. Chuyện then chốt như vậy, tới giờ ông mới chịu hé lộ với tôi.
Cả bố tôi lẫn Ryu Minseok đều là những người hết sức cực đoan. Họ cùng thống nhất với nhau rằng riêng chuyện này, người cực đoan thứ ba là tôi, không nên biết tới.
Sau một buổi triển lãm riêng, ông đã hẹn Minseok gặp ở một phòng trà. Những cuộc hẹn riêng tư đối với một hoạ sĩ trẻ có tiếng tăm như Minseok mà nói, vốn cũng không phải điều gì lạ lẫm. Người xem tranh, người mua tranh, những người yêu nghệ thuật nhưng quen nói chuyện bằng giá cả cậu đều gặp không ít, một tháng diễn ra không dưới mười cuộc họp như thế.
Minseok có những tiêu chuẩn rất riêng, cậu khắt khe, cố chấp nhưng nhất quán. Cậu luôn dựa vào những tiêu chuẩn ấy mà đối đãi người khác, không hợp là không hợp, không cần miễn cưỡng vì đồng tiền hay quan hệ.
Không rõ Minseok đã bước vào phòng trà ấy với tâm trạng ra sao. Hôm đó, bố nói là lạnh lắm, lạnh bất thường ngay cả khi trời đã vào đông được nhiều tuần. Vào những ngày rét mướt như thế, tôi từng cố gắng về thật sớm, bật sẵn máy sưởi và chuẩn bị một bình cà phê nóng. Khi Minseok về tới nơi, tôi thường đã tắm kịp tắm gội xong xuôi. Cửa lạch cạch mở ra, tôi sẽ chạy ào ra ôm Minseok vào lòng. Sau cả một ngày không nhìn thấy nhau, phản xạ đầu tiên của tôi luôn là muốn ôm cậu ấy.
Tôi chẳng thể tìm đâu ra câu trả lời, chỉ có thể nghe qua lời bố kể, ông kể tới đâu tôi hay tới đó. Những chuyện được sắp xếp đâu ra đấy, tôi nghe xong, trong đầu chỉ đọng lại một cảnh tượng quá đỗi u buồn. Day dứt hay bất bình cũng đã chẳng kịp thay đổi điều gì, tôi đành ngồi xuống, lặng lẽ mường tượng cho đến hết.
Bố kể rằng hôm ấy Minseok đến sớm hơn giờ hẹn gần mười phút, ngồi ngay ngắn ở chiếc bàn sát cửa sổ, lưng thẳng, hai tay đan vào nhau đặt gọn dưới gầm bàn như đã quen khuôn phép, ánh mắt cậu bình lặng nhưng không có lấy chút nhún nhường. Nhưng những cuộc hẹn mà bố tôi phải đích thân xuất hiện từ trước đến nay đều không đơn giản. Hoặc là ông đang muốn kéo người ta về phía mình, hoặc là ông muốn dứt khoát đẩy họ ra thật xa.
"Dạo này giới nghệ làm ăn ổn chứ?"
Ông đặt câu hỏi thay cho lời chào, chứ thực chẳng bận tâm tới sinh kế của một người lao động bình thường như Minseok.
Minseok đáp rất điềm tĩnh. "Vẫn sống được đến hôm nay, có lẽ cũng sống được tới ngày mai."
Bố tiếp tục nhận xét bằng một câu tưởng như xã giao, rằng người trẻ nếu không có gia đình làm chỗ dựa thì đường đi quả thật sẽ gập ghềnh hơn người khác rất nhiều.
Minseok nghe vậy chỉ khẽ gật đầu, như thể đang xác nhận một thông tin đã quá đỗi quen thuộc. Cậu hiểu ông hẳn đã điều tra đâu đó về lai lịch của mình, nhưng vẫn bình thản bổ sung nốt phần còn lại, ngắn gọn và rành rẽ. Người cha vì bạo hành mà vào tù của cậu nếu đến tận lúc này còn phải nhờ cậy, có lẽ mới thật sự là gánh nặng.
"Ông có vấn đề gì với việc đó chăng? Nếu không muốn mua bán gì với một thằng thợ vẽ có bố ngồi tù, thì ngay bây giờ chúng ta cùng đứng dậy, đi về luôn cho sớm sủa."
Nhận ra bầu không khí đã thay đổi, bố tôi liền lên tiếng tán thưởng, giống như đang ngắm một viên đá cuội bỗng dưng phát sáng, có chút ngạc nhiên, có chút thích thú. Dẫu vậy, từ đầu đến cuối ông vẫn rất rạch ròi. Dù có đẹp đẽ tới đâu, nó rốt cuộc cũng chỉ là một viên đá cuội.
"Không, tôi nào có ý đó."
"Ryu Minseok, cậu quá thông minh, tính cách cũng đặc biệt khảng khái. Bảo sao con trai tôi lại chọn từ bỏ hết mọi hậu thuẫn để học hỏi theo cách sống này."
Minseok nghe xong chỉ khẽ nhếch khóe môi. Chẳng phải cố tỏ ra mạnh mẽ, cậu vốn đã quen đứng dưới ánh nhìn cân đo của kẻ khác, quen đến mức chẳng còn nhu cầu phải chứng minh mình ngay thẳng hay xứng đáng. Cậu biết mình đang bị đặt lên bàn, bị định giá, và cậu cũng thừa biết dù có ra sức biện hộ, cái cân kia vẫn chỉ nghiêng về một phía mà thôi.
"Con người là loài có ý thức cao cấp, tự sẽ dựa theo hệ giá trị riêng mà đưa ra lựa chọn. Lối sống của tôi vốn dĩ đâu có liên quan?"
Từ đó, câu chuyện qua lời kể của bố tôi đã không còn dính dáng gì tới nghệ thuật hay tới cái gọi là mua bán. Nó trượt đi rất nhẹ, như một tảng băng rời khỏi mép nước, sang vùng mà người ta nói về quyền lợi, về giá trị của đời người khi đặt trong cuộc đời người khác.
"Cách sống của cậu tôi không chê, thật đấy, nhưng quả thực có chút không phù hợp." Bố tôi nói vậy, giọng ông điềm đạm như thể thật lòng thông cảm. Chính trong cái giọng điệu tưởng chừng bao dung ấy đã có sẵn một nhát cắt nông, vừa đủ để tách biệt Minseok khỏi tôi, phân nhóm cậu thành một loại người khác.
Loại người, mà theo lời ông, sẽ khiến người khác phải gánh vác bằng thương hại, bằng tình cảm, bằng thứ lòng tốt không có dự phòng.
Minseok hoàn toàn không muốn phản kháng hay tranh luận, chỉ gật đầu. "Đương nhiên tôi biết. Cậu ấy là người rất tốt. Dù có không phù hợp thì mối quan hệ hiện tại của chúng tôi cũng vẫn song phương."
Câu trả lời ấy khiến bố tôi thực sự bất ngờ. Ông khựng lại một nhịp rồi thản nhiên nói về việc đầu tư. Rằng trên đời này, mọi mối quan hệ đều là đầu tư cả, từ tiền bạc, công sức, lòng tin, danh tiếng, cho tới lòng tốt. Nhưng đắt đỏ nhất vẫn là thời gian, thứ một khi đã bỏ ra thì không thể thu hồi, cũng không có cách nào tính lại từ đầu.
Minseok nhíu mày, hai tay ôm lấy ly trà. Hơi ấm không còn bao nhiêu, cậu vẫn ngồi thẳng lưng.
Bố tôi khi ấy đã cho cậu đủ thời gian suy nghĩ. Sau, ông đề ra một ví dụ nghe qua tưởng như vô hại, cốt cũng chỉ để nói lời khó nghe bằng giọng điệu khách quan.
Ông nói, tưởng tượng có hai người cùng lên một chuyến tàu đường dài. Một người mua vé hạng thường, hành lý gọn gàng, trong túi còn dư tiền, biết rõ rằng lỡ chuyến thì đổi vé, tàu trục trặc thì xuống ga khác rồi tính tiếp. Người còn lại cầm một tấm vé khuyến mãi duy nhất, không có phương án dự phòng, chỉ tin rằng chuyến tàu này nhất định sẽ đưa mình tới nơi cần tới.
Ban đầu thì nhìn không ra khác biệt gì. Giữa một khoang tàu đầy người, hai người ngồi cạnh nhau, chiếm cùng một khoảng ghế, nhìn ra cùng một ô cửa sổ, trong lòng cũng dễ sinh ra ảo giác rằng con đường này vốn dĩ ổn thỏa. Lúc ấy muốn nói chuyện gì cũng được, tỉ như ga cuối ở đâu, xuống tàu rồi sẽ làm gì trước tiên.
Nhưng chỉ cần xảy ra một trục trặc nhỏ, thì sự khác biệt lập tức lộ ra. Người thứ nhất thấy phiền, nghĩ nhiều nhất cũng chỉ là bất tiện. Người thứ hai rơi vào nguy hiểm, không có nổi một phương án phòng hờ. Tuy cùng ngồi trên một chuyến tàu, họ chưa bao giờ đối mặt với cùng một mức độ rủi ro. Đến khi tình huống xấu xảy ra, kể cả có muốn tiếp tục đi cạnh nhau, cuối cùng cũng chỉ có một người còn đủ khả năng để đi tiếp.
"Chính vì thế, tôi không thể để cậu biến tương lai của Minhyung thành một ván đầu tư mà chỉ có nó là người chịu lỗ. Yêu thương một người, dù có chân thành đến đâu, cũng cần phải cho người ta một đường lui."
Bị tấn công bằng những lời lẽ cay nghiệt đến thế, Minseok vẫn tuyệt nhiên không kích động. Nụ cười nhạt thếch, thứ vũ khí đã được tôi luyện qua bao năm tháng sống cùng bạo lực và khinh rẻ chợt nở trên môi cậu. "Quả thực, mọi mối quan hệ đều giống một cuộc đầu tư, người ta đầu tư vì lợi ích, chứ hiếm khi vì cao cả." Đợi cho cơn sóng qua đi, cậu mới đưa ra quyết định liệu nên tiến hay nên lùi một bước.
"Chính vì ông tin mọi thứ đều phải được cân đo bằng lợi ích, ông càng không thể khuyên tôi từ bỏ lợi ích của mình."
"Lee Minhyung là tình yêu chân thành duy nhất tôi có được. Tôi còn chẳng dám mơ rằng một người như cậu ấy sẽ xuất hiện trong cuộc đời mình, huống hồ tìm thấy người thứ hai, hay là thứ ba như cậu ấy. Dám bước lên một chuyến tàu xui rủi với tấm vé hạng bét, tôi không có lựa chọn thay thế. Nên tôi càng phải sống chết bám lấy nó. Tàu mà trật bánh, tôi thà theo nó lao xuống vực."
"Từ bỏ Minhyung chính là tự tay chặn đứng lối thoát cuối cùng của tôi. Một kẻ vô giáo dục, không hậu thuẫn, cũng chẳng có tương lai như tôi, làm sao có thể cao thượng như ông muốn được?"
"Thế thì cậu càng phải đi." Sự quả quyết trong ánh mắt Minseok khiến bố tôi nhất thời lung lay, nhưng tư tưởng căn cơ trong ông vẫn bất di bất dịch. "Con người, suy cho cùng, không thể đặt cả sinh mệnh mình lên một cửa thoát duy nhất được."
Tôi không ngờ ông lại dám rao giảng những điều như vậy, trong khi chính ông cũng đã theo tình yêu của đời mình mà lao xuống vực, không hề tính toán rủi ro.
____________
Khi mọi lời kể của bố khép lại, khi những mảnh vụn ký ức tự tìm lấy nhau, tôi bỗng thấy hiện lên một con đường mà tôi chưa từng chịu đứng lại nhìn cho trọn vẹn. Một lối đi tối và dài, nơi Minseok đã lặng lẽ bước đi suốt những năm tháng ấy như một hành lang không cửa sổ, không lối rẽ, một mê cung tự vẽ mà đi hết vòng lại quay về điểm bắt đầu trong vô vọng.
Hóa ra, tôi đã ở trong hành lang tối ấy, trên con đường mà cậu đã định sẵn sẽ chỉ đi đến năm ba mươi tuổi. Không phải như một ánh sáng rực rỡ, cũng chẳng phải sự cứu rỗi cao cả gì, tôi chỉ là một khe hở rất nhỏ giữa những bức tường kín mít ấy, một tia hi vọng để cậu tin rằng giữa lộ trình tăm tối đã được đóng dấu hồi kết ấy vẫn có thể tồn tại một khả năng tốt đẹp.
Ngỡ cậu là bức tượng đồng, là phiến đá vỡ lì không thể mài mòn, hoá ra tôi đã nhầm to.
Sự mạnh mẽ tôi từng thán phục ấy, sau cùng chỉ là lớp vỏ cứng được nung đúc bởi quá nhiều thương tổn. Minseok dù có cố tỏ ra chai sạn đến đâu cũng chỉ là một con người nhỏ bé, một con người bằng xương bằng thịt. Chẳng ai trên đời này là toàn năng, dù có muốn cũng chẳng thể suốt đời mang trên mình vỏ cứng.
Càng không ngờ rằng sự hiện diện đơn thuần của tôi lại là thứ xa xỉ đến vậy trong vũ trụ cô đơn của Ryu Minseok.
Bằng thứ lý trí hèn nhát được bọc trong lớp vỏ văn minh, tôi đã quay lưng, cho rằng sẽ ổn cả thôi nếu như chúng tôi ngừng cố chấp mà giải thoát cho nhau, tôi đã cho cậu thấy một khe nứt nhỏ giữa những tối tăm, sau này cũng tự mình bít lại. Thế là mê cung trong lòng cậu càng dài hơn, tối hơn, lạnh hơn. Bởi vì đã từng thấy ánh sáng, bóng tối về sau sẽ còn đau thương hơn gấp bội.
Đổ vỡ, tự thành, rồi lại đổ vỡ. Chu kỳ tàn khốc ấy lặp đi lặp lại, nguyên nhân căn cơ chẳng đâu xa, chính là do sự hèn mọn nằm sâu bên trong con người tôi. Đến cả khi Minseok đã thấu suốt mọi thương tật trong tâm hồn tôi rồi, tôi vẫn không thôi sợ hãi.
Tôi sợ cái cách cậu nhìn tôi, dịu dàng đến vụng về, chân thành đến mức đầy đe doạ. Sợ rằng cậu nhìn lâu thêm một chút sẽ nhận ra phần cốt lõi trong tôi vốn chỉ có một con người lỏng lẻo, hoang mang. Tôi sợ bị nhìn thấy, bởi tôi biết mình vốn chẳng có gì đẹp đẽ để phô bày.
Trong đêm cuối cùng bên nhau, Minseok cũng đã nhìn tôi bằng ánh mắt hệt như thế, vỡ vụn và hoang mang dồn tụ thành một cái nhìn trong veo. Tôi ghì chặt cậu vào lòng, môi áp sát hõm cổ trắng muốt đang run nhè nhẹ. Tôi đã cố hết sức ép ra tông giọng dịu dàng nhất có thể chỉ để dỗ dành Minseok. Cậu lúc ấy chỉ hỏi đi hỏi lại một câu.
"Cậu vẫn giận tôi sao?"
Giận ư?
Đúng là tôi đã trẻ con, đã giận lẫy chút ít dù không nên. Giận những bí mật cậu giấu kín dù tôi chẳng hơn gì, nhưng giận nhất vẫn là việc cậu và bố vẫn còn ý định cứu giúp tôi trong khi tôi còn không hay biết.
Nhưng những bí mật giữa chúng tôi dù xuất phát từ lòng tốt cũng có trọng lượng riêng. Mang càng nhiều, lòng càng nặng trĩu, mang đủ lâu sẽ không còn cách nào đặt xuống, đem chia đôi cũng không nhẹ bớt. Ôm cậu vào trong lòng, tôi lại chẳng còn đủ sức phân định ai đúng ai sai nữa, rõ rằng chúng tôi đều đúng và đều sai. Càng truy vấn chỉ càng khiến tôi thêm mệt mỏi, nên tôi cứ thế mặc kệ mà không truy vấn.
Nhưng Minseok lại diễn giải sự tê liệt cảm xúc của tôi thành lời buộc tội. Cậu xin lỗi, xin lỗi rất nhiều, như thể mọi điều tồi tệ trên đời này đều có thể quy thành lỗi lầm của cậu. Cậu sợ làm tôi đau, sợ đến mức tự co mình lại trong vòng tay tôi, đau xót thay, như một đứa trẻ quen khép mình chịu trận.
"Minseok à," tôi hôn lên trán cậu. "Việc của tôi, rốt cuộc vẫn nên là do tôi tự giải quyết thì hơn."
Đôi mắt Minseok chợt mở to. "Nhưng cậu sẽ không bỏ rơi tôi, đúng không?"
Khoảng lặng sau câu hỏi ấy tưởng như dài hàng thế kỷ. Tôi đã không nói "phải", cũng chẳng nói "không". Thay vào đó tôi mỉm cười. Nụ cười trống rỗng mơ hồ tới mức Minseok phải mất tới vài giây để hiểu.
Trong vài giây ngắn ngủi ấy cậu đã đấu tranh thầm lặng. Một thoáng ngờ vực, một ý muốn níu kéo đã kịp loé lên. Cuối cùng tất cả tan biến, phản ứng cuối cùng còn lại chính là chấp thuận.
Câu trả lời của tôi dẫu có phũ phàng đến mấy thì cũng là sự thật.
Minseok vòng tay qua cổ tôi, cậu nghiêng mặt vào vai tôi nhè nhẹ như đang tìm chút ấm áp cuối cùng mà trú ngụ. Tôi bỗng thấy trong lòng dâng lên cảm giác thật kỳ quặc, hệt như đang được nhờ cậy một điều gì đó rất lớn lao, rất nặng nề, rất khẩn thiết và cũng rất oan trái nữa.
Đôi bàn tay bướng bỉnh bấu vào lưng tôi, cơ thể khi quấn lấy tôi lại tuyệt vọng đến bứt rứt. Trong từng chuyển động rụng rời ấy lại là cả một mớ thất vọng ê chề co rúm lại như sợ bị tôi phát giác.
Nụ hôn lướt qua những nơi nước mắt đã kịp rơi và khô lại, môi chạm lên da chẳng nghe thành tiếng. Giữa những cái hôn, cơ thể Minseok run lên khe khẽ, hơi thở cũng theo đó mà ngắt quãng, thực chất là đã đi quá xa giới hạn chịu đựng mà vẫn cố tình bám trụ.
Cho tới khi trời hửng sáng Minseok mới lịm dần. Những ngón tay từng bấu chặt lấy tôi giờ yếu đi, rời rạc, buông rơi xuống nệm như đã dùng hết sức lực cho một lần ân ái cuối cùng. Đôi môi sưng đỏ trải qua một trận khóc dài vẫn đang mấp máy gọi tên tôi trong khi chủ nhân của nó đã mê man chẳng còn hay biết điều gì. Cái trái tim tàn nhẫn của tôi lúc ấy không xao động, cũng chẳng biết đường trỗi dậy vẫy vùng. Nó chỉ mong sao khi tỉnh dậy, Minseok sẽ chẳng thể nhớ ra nổi vì sao mình lại khóc.
Lúc ấy, tôi sợ rằng nếu ở lại, tôi sẽ kéo cậu vào một vòng xoáy tàn nhẫn khác. Nhận ra tình cảm đã được cậu nâng niu và hồi đáp, tôi lại không còn biết phải đón nhận ra sao.
Bình minh hôm ấy, tôi chỉnh lại góc chăn cho cậu lần cuối, thu dọn những hoạ cụ trên bàn lần cuối, mặc lại áo quần, thu đồ đạc và bước ra cửa chính. Toàn bộ quá trình không gây ra dù chỉ một tiếng động.
Chỉ đến khi khép cửa lại, tôi mới rõ mình đã tự cắt lìa bản thân mình làm hai nửa. Một nửa vẫn còn nằm trên chiếc giường ấm áp, cạnh hơi thở đều đều của cậu. Phần còn lại, cái phần đang đứng đây với một trái tim tê dại và trống hoác, hoá ra chỉ là cái vỏ rỗng mà thôi.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com