1
1
Dễ đến lần thứ một trăm, vị đối tác cấp cao nghiền ngẫm bản lý lịch. Một lần nữa ông chẳng thấy có điều gì không ưng ý nơi Mitchell Y. McDeere, chí ít là qua giấy tờ. Anh ta có đầu óc, có tham vọng, mà trông cũng bảnh bao. Và anh ta đang đói, với xuất thân như thế này thì hẳn phải là như thế. Anh ta đã lập gia đình, và đó là một quy định bắt buộc. Hãng chưa bao giờ tuyển luật sư độc thân, và hãng rất húy kỵ chuyện ly hôn, cả chuyện mê gái và nhậu nhẹt cũng thế. Kết quả kiểm tra ma túy có ghi trong hợp đồng. Anh ta có chứng chỉ kế toán, đậu CPA ngay trong lần thi đầu tiên và đang muốn trở thành một luật sư thuế vụ, điều mà dĩ nhiên hãng luật nào cũng cần cả. Anh ta da trắng, và hãng chưa bao giờ thuê người da đen. Hãng xoay xở bằng sự kín kẽ cùng những mối quen biết, và chưa bao giờ khuyến khích đơn xin việc của người da đen. Các hãng khác khuyến khích người da đen, nhưng hãng thì cứ tuyển mộ và vẫn trắng tinh tươm. Hơn nữa, hãng đặt trụ sở tại Memphis trong khi những người da đen tài giỏi nhất thì lại muốn đi New York, Washington hay Chicago. McDeere là nam và hãng thì không tuyển nữ. Sai lầm đó đã
diễn ra vào giữa thập niên bảy mươi, khi hãng tuyển mộ người đỗ đầu Harvard, mà hóa ra lại là phái nữ và cũng là một phù thủy về thuế vụ. Cô ta đã gây ra bốn năm sóng gió rồi qua đời trong một vụ tông xe. Trên giấy tờ, anh ta trông bảnh bao. Anh ta là lựa chọn hàng đầu.
Thật ra thì năm đó cũng chẳng có triển vọng nào khác. Bản danh sách chỉ ngắn ngủi. Không ai cả ngoài McDeere ra.
Đối tác quản trị Royce McKnight đã nghiên cứu tập hồ sơ mang tiêu đề "Mitchell Y. McDeere Harvard." Một hồ sơ dày hai phân rưỡi ghi chữ nhỏ chi chít kèm với vài tấm ảnh đã được soạn ra bởi vài cựu nhân viên CIA tại một cơ sở tình báo tư nhân ở Bethesda. Họ là những thân chủ của hãng và họ làm miễn phí cái công việc điều tra hàng năm này. Kiểm tra các sinh viên luật chẳng có gì khả nghi là một việc quá dễ, họ nói thế. Lấy ví dụ, họ biết anh ta đang muốn rời khỏi tây nam, anh ta đang thủ trong tay ba lời chào việc làm, hai ở New York và một ở Chicago, mức lương chào cao nhất là 76.000 đô la và thấp nhất là 68.000 đô la. Anh ta đang được săn đón. Anh ta đã được tạo cơ hội để gian lận trong bài kiểm tra chứng khoán năm học thứ hai, nhưng đã từ chối và đạt điểm cao nhất lớp. Mới hai tháng trước, anh ta đã được rủ rê dùng ma túy tại một bữa tiệc của trường luật. Anh ta đã nói không và bỏ đi vào lúc mọi người bắt đầu hút hít. Anh ta thi thoảng có uống bia, nhưng nhậu nhẹt thì tốn kém mà anh ta thì lại không có tiền. Anh ta nợ 23.000 đô la tiền cho sinh viên vay. Anh ta đang đói.
Royce McKnight lật giở tập hồ sơ và mỉm cười. McDeere đã là người của họ.
Lamar Quin năm nay ba mươi hai tuổi và vẫn chưa phải là đối tác. Anh được đưa vào để hãng trông có vẻ trẻ trung, hành động cũng trẻ trung, và để phóng chiếu cái hình ảnh trẻ trung đó lên Bendini, Lambert & Locke, vốn thực tế là một hãng luật trẻ vì hầu hết các đối tác đều nghỉ hưu ở độ tuổi cuối tứ tuần hay đầu ngũ tuần với dư giả tiền bạc để mà đốt. Anh sắp trở thành đối tác của hãng. Với thu nhập sáu con số đủ đảm bảo cho phần đời còn lại, Lamar có thể sắm những bộ vest bó sát 1.200 đô la, ôm thoải mái cái bộ khung cao ráo và lực lưỡng của anh. Anh điềm tĩnh băng qua căn phòng lớn ngàn-đô la-ngày, rót thêm một tách decaf nữa. Anh nhìn đồng hồ. Anh liếc nhìn hai vị đối tác đang ngồi ở chiếc bàn họp nhỏ bên cửa sổ.
Chính xác vào lúc hai giờ ba mươi, có ai đó gõ cửa. Lamar nhìn các đối tác nhét bản lý lịch và hồ sơ vào chiếc cặp để mở. Cả ba cùng với lấy áo vest của họ. Lamar cài lại khuy cổ áo rồi bước ra mở cửa. "Mitchell McDeere phải không?" anh toét miệng cười, chìa tay ra. "Vâng." Họ vồ vập bắt tay nhau.
"Rất vui được gặp anh, Mitchell. Tôi là Lamar Quin."
"Hân hạnh. Xin hãy gọi tôi là Mitch." Anh bước vào và dọ xét nhanh căn phòng rộng.
"Dĩ nhiên, Mitch." Lamar quàng vai anh, dẫn anh băng qua căn phòng, nơi các đối tác tự giới thiệu mình. Họ rất nồng nhiệt và thân thiết. Họ mời anh cà phê và nước uống. Ngồi quanh chiếc bàn họp
gỗ gụ bóng loáng, họ trao đổi những câu chuyện hài hước. McDeere cởi nút áo, ngồi bắt chéo hai chân. Nay anh đã lão luyện trong hoạt động tìm việc, và anh biết họ muốn anh. Anh thư giãn. Với ba lời chào việc từ ba hãng danh giá trên cả nước, anh không cần buổi phỏng vấn này, không cần cái hãng này. Nay anh có thể tự cho phép mình tự tin hơi thái quá. Anh chỉ ở đó vì tò mò mà thôi. Vả lại anh cũng thèm một thời tiết ấm áp hơn.
Oliver Lambert, vị đối tác cấp cao, khom tới, tì trên hai cùi chỏ, nắm lấy quyền kiểm soát cuộc tán gẫu sơ khởi. Ông nói liến thoắng và sôi nổi bằng một giọng nam trung ngọt ngào và hầu như chuyên nghiệp. Ở tuổi sáu mươi mốt, ông là bậc trưởng thượng của hãng, và ông dành phần lớn thời gian của mình vào việc quản trị và cân bằng cái tôi khổng lồ của các luật sư giàu có nhất đất nước. Ông là cố vấn, là người mà các cộng sự trẻ thường tìm đến khi gặp rắc rối. Lambert còn phụ trách cả việc tuyển mộ, và bổn phận của ông là phải ký được hợp đồng với Mitchell Y. McDeere.
"Anh đã chán việc phỏng vấn chưa?" Oliver Lambert hỏi.
"Không hẳn. Chỉ phần nào thôi."
Phải, phải, tất cả bọn họ đều đồng ý. Cứ như thể mới hôm qua chính bản thân họ vừa đi phỏng vấn, trình lý lịch, và đang sợ chết khiếp không tìm được việc làm để rồi ba năm mồ hôi và hành xác đều trôi cả xuống cống rãnh. Họ biết anh đang trải qua những gì. Cũng tốt thôi.
"Tôi hỏi câu này có được không?" Mitch hỏi.
"Được chứ."
"Dĩ nhiên."
"Bất cứ câu gì."
"Tại sao chúng ta phải tiến hành phỏng vấn trong một phòng khách sạn? Các hãng khác đều phỏng vấn ở học khu, thông qua sắp xếp của văn phòng."
"Câu hỏi rất hay." Tất cả bọn họ gật đầu nhìn nhau, đồng ý câu hỏi này là rất hay.
"Có lẽ tôi trả lời được câu này, Mitch ạ," đối tác quản trị Royce McKnight nói. "Anh phải hiểu hãng của chúng tôi. Chúng tôi khác biệt và chúng tôi tự hào về điều đó. Chúng tôi có bốn mươi mốt luật sư, cho nên chúng tôi chỉ là một hãng nhỏ so với các hãng khác. Chúng tôi không tuyển mộ quá nhiều; mỗi năm trước đây chỉ tuyển thêm chừng một người. Chúng tôi chào mức lương và phúc lợi phụ cao nhất nước, và tôi không quá lời đâu đấy. Cho nên chúng tôi rất kén chọn. Chúng tôi đã chọn anh. Lá thư mà anh nhận hồi tháng trước đã được chúng tôi gửi đi sau khi xem xét trên hai ngàn sinh viên luật năm ba từ các trường tốt nhất. Chỉ một lá thư duy nhất được gửi. Chúng tôi không đăng quảng cáo tuyển dụng và cũng không khuyến khích việc nộp đơn. Chúng tôi không rầm rộ, và chúng tôi làm mọi việc theo cách khác. Đó là lời giải thích của chúng tôi."
"Vâng. Hãng ta thuộc dạng nào vậy?"
"Thuế vụ. Một ít chứng khoán, bất động sản, và ngân hàng,
nhưng tám mươi phần trăm là thuế vụ. Đó là lý do vì sao chúng tôi muốn gặp anh, Mitch ạ. Anh có một căn bản vững vàng đến khó tin về thuế vụ."
"Tại sao anh theo học ở Western Kentucky?" Oliver Lambert hỏi.
"Đơn giản lắm. Họ chào tôi một học bổng toàn phần để chơi bóng bầu dục. Nếu không vì lẽ đó thì tôi đã không vào đại học được."
"Kể về gia đình của anh đi."
"Chuyện đó thì có gì là quan trọng?"
"Nó rất quan trọng đối với chúng tôi, Mitch a," Royce McKnight sôi nổi nói.
Bọn họ ai cũng đều nói thế, McDeere nghĩ. "Được thôi, cha tôi chết trong mỏ than khi tôi lên bảy. Mẹ tôi tái hôn rồi đến sống ở Florida. Tôi có hai người anh. Rusty chết ở Việt Nam. Tôi còn người anh nữa tên là Ray McDeere."
"Anh ta đang ở đâu?"
"E rằng đó không phải là việc của các ông." Anh nhìn Royce McKnight, tỏ rõ sự bực bội. Hồ sơ của anh rất ít đề cập đến Ray.
"Tôi xin lỗi," vị đối tác quản trị dịu giọng xuống.
"Mitch này, hãng của chúng tôi nằm ở Memphis," Lamard nói. "Anh có phiền hà gì điều đó không?"
"Không. Tôi không ưa thời tiết lạnh."
"Anh đã đến Memphis bao giờ chưa?"
"Chưa."
"Chúng ta sẽ sớm gặp nhau dưới đó. Anh sẽ yêu nó thôi."
Mitch mỉm cười, gật đầu, ra vẻ nhất trí. Mấy gã này có nghiêm túc không vậy? Làm sao anh có thể cân nhắc một hãng tí tẹo tại một thành phố tí tẹo như thế trong khi Wall Street đang vẫy gọi?
"Anh xếp hạng thứ mấy trong lớp vậy?" ông Lambert hỏi.
"Thuộc tốp năm." Không phải là tốp năm phần trăm mà là tốp năm. Trả lời thế là đủ. Tốp năm trong ba trăm. Anh có thể nhận mình thuộc tốp ba, suýt nữa là hạng hai, và chỉ cách hạng nhất không bao xa. Nhưng anh không làm vậy. Họ đến từ các trường thuộc đẳng cấp thấp hơn – Chicago, Columbia, Vanderbilt - theo như anh nhớ nhờ xem nhanh bản danh mục tư pháp Martindale- Hubbell. Anh biết họ không giỏi về học thuật.
"Sao anh lại chọn Harvard?"
"Thật ra thì Harvard đã chọn tôi. Tôi nộp đơn xin học ở nhiều trường và đâu đâu cũng được nhận. Harvard đề nghị mức hỗ trợ tài chính cao nhất. Tôi nghĩ đó là trường tốt nhất. Đến nay tôi vẫn nghĩ vậy."
"Anh học ở đó rất tốt, Mitch," ông Lambert nói, thán phục bản lý lịch. Hồ sơ vẫn nằm trong chiếc cặp dưới gầm bàn.
"Cảm ơn ông. Tôi đã học tập cần cù."
"Anh đạt điểm cực cao môn thuế và chứng khoán."
"Đó là những môn tôi quan tâm."
"Chúng tôi đã xem bài viết mẫu của anh, nó rất ấn tượng."
"Cảm ơn ông. Tôi thích việc nghiên cứu."
Họ gật đầu thừa nhận lời nói dối sống sượng đó. Đó là một phần nghi thức. Không một sinh viên luật nào có đầu óc lành mạnh lại đi thích việc nghiên cứu, thế nhưng, không chừa một ai, từng cộng sự triển vọng đều bày tỏ tình yêu vô bờ bến của họ đối với thư viện.
"Kể cho chúng tôi về vợ của anh đi," Royce McKnight nói, hầu như bẽn lẽn. Họ vấp phải một sự trách cứ nữa. Nhưng đó là một khu vực chuẩn mực, không phải là húy kỵ, mà mọi hãng đều khai thác.
"Tên của cô ta là Abby. Cô ta có bằng giáo dục sơ cấp tại Western Kentucky. Chúng tôi tốt nghiệp được một tuần thì tuần sau đám cưới. Ba năm qua, cô ta dạy tại một nhà trẻ tư nhân gần trường Boston."
"Và cuộc hôn nhân đó có..."
"Chúng tôi rất hạnh phúc. Chúng tôi quen nhau từ hồi ở trung học."
"Anh chơi bóng ở vị trí nào?" Lamar xoay câu chuyện theo chiều hướng ít nhạy cảm hơn.
"Tiền vệ. Tôi được cho ra sân rất nhiều cho đến khi cái đầu gối gặp sự cố trong trận cầu cuối cùng ở trung học. Mọi người đều mất tăm chỉ ngoại trừ Western Kentucky. Trong bốn năm, tôi lúc chơi lúc nghỉ, thậm chí bắt đầu chơi vài trận cho đội trẻ, nhưng cái đầu gối thì không bao giờ lành lại."
"Làm cách nào anh vừa chơi bóng bầu dục, vừa đạt toàn điểm A vậy?"
"Tôi ưu tiên cho sách vở."
"Tôi không ngờ Western Kentucky lại là một trường hàn lâm," Lamar thốt lên với nụ cười ngốc nghếch và lập tức muốn rút lời. Lambert và McKnight chau mày, nhận ra sự sai lầm.
"Thì cũng kiểu như Kansas State vậy mà," Mitch đáp. Họ đóng băng. Tất cả bọn họ đều đóng băng, nghi hoặc nhìn nhau trong vài giây. Anh chàng McDeere này đã biết Lamar Quin theo học ở Kansas State. Anh ta chưa từng gặp Lamar Quin và không có chút ý niệm ai là người đang hiện diện và tiến hành cuộc phỏng vấn nhân danh hãng. Thế mà anh ta lại biết. Hẳn anh ta đã tìm đến Martindale Hubbell để kiểm tra về họ. Anh ta đã đọc sơ yếu lý lịch của toàn bộ bốn mươi mốt luật sư trong hãng, và chỉ trong tích tắc đã nhớ ra rằng Lamar Quin là người duy nhất trong bốn mươi mốt luật sư từng theo học ở Kansas State.
Chết tiệt, họ cảm thấy ấn tượng.
"Tôi nghĩ mình đã lỡ lời," Lamar cáo lỗi.
"Không sao cả." Mitch cười hồn hậu. Chuyện đó đã được xí xóa.
Oliver Lambert đằng hắng rồi quyết định trở lại với câu chuyện cá nhân. "Nghe này, Mitch, hãng của chúng tôi rất húy kỵ chuyện rượu chè và gái gú. Chúng tôi không phải là những vị thánh, nhưng chúng tôi đặt chuyện làm ăn lên trên hết. Chúng tôi luôn ẩn dật và làm việc cần cù. Và chúng tôi kiếm được rất nhiều tiền."
"Tôi có thể đáp ứng các yêu cầu đó."
"Chúng tôi bảo lưu quyền kiểm tra sử dụng ma túy đối với mọi thành viên của hãng."
"Tôi không dùng ma túy."
"Tốt. Anh theo phái tôn giáo nào vậy?"
"Giáo hội Giám lý."
"Tốt. Anh sẽ thấy một sự đa dạng lớn trong hãng của chúng tôi. Công giáo, Báp-tít, Anh giáo. Đó thực sự không phải là việc của chúng tôi, nhưng chúng tôi cũng muốn biết. Chúng tôi thích những gia đình ổn định. Các luật sư hạnh phúc là các luật sư hiệu quả. Đó là lý do vì sao chúng tôi hỏi anh những câu này."
Mitch mỉm cười gật đầu. Anh đã nghe chuyện này từ trước.
Ba người nhìn nhau rồi nhìn Mitch. Điều đó có nghĩa họ đã đi đến một thời điểm của cuộc phỏng vấn khi người bị phỏng vấn được phép nêu vài câu hỏi thông minh. Mitch duỗi lại chân. Tiền bạc là một câu hỏi lớn, đặc biệt khi phải so sánh với những lời chào mời khác. Nếu nó là không đủ thì, tốt thôi, rất hân hạnh được quen biết các ông, Mitch nghĩ. Nếu tiền bạc là hậu hĩnh thì cứ việc tha hồ mà bàn luận về gia đình, hôn nhân, bóng bầu dục, nhà thờ. Nhưng anh biết, giống như ở tất cả các hãng khác, họ sẽ lượn lờ xung quanh vấn đề này cho đến khi mọi thứ bung bét và té ra họ đã thảo luận về tất cả mọi thứ trên đời ngoại trừ chuyện tiền bạc. Cho nên, trước hết hãy hỏi họ một câu nào mềm mềm.
"Tôi sẽ phải khởi đầu bằng loại công việc nào?"
Họ gật đầu tán thưởng câu hỏi đó. Lambert và McKnight nhìn Lamar. Câu trả lời được dành cho anh ta.
"Chúng tôi có kiểu như hai năm thực tập, mặc dù chúng tôi không
gọi là như vậy. Chúng tôi sẽ cử anh đi khắp đất nước để dự các hội thảo về thuế. Việc học tập của anh còn lâu nữa mới kết thúc. Mùa đông tới anh sẽ trải qua hai tuần ở Washington, tại Viện Thuế Hoa Kỳ. Chúng tôi rất tự hào về kinh nghiệm và kỹ năng của chúng tôi, và việc huấn luyện là liên tục đối với tất cả chúng tôi. Nếu anh muốn học tiếp lên bậc thạc sĩ về thuế vụ thì chúng tôi sẽ trang trải. Còn về việc hành nghề thì hai năm đầu tiên sẽ là rất phấn khích. Anh sẽ phải làm nhiều nghiên cứu và những việc tựu trung là nhàm chán. Nhưng anh sẽ được chi trả hậu hĩnh."
"Bao nhiêu?"
Lamar nhìn Royce McKnight, ông này nhìn Mitch và nói, "Chúng ta sẽ bàn về thù lao và các lợi ích khác khi nào anh đến Memphis."
"Tôi muốn một con số phỏng chừng, hoặc tôi có thể không đến Memphis." Anh mỉm cười, ngạo mạn nhưng thân thiện. Anh đang nói như một người có ba lời chào mời.
Các đối tác mỉm cười với nhau, và ông Lambert là người lên tiếng đầu tiên. "Được thôi. Lương căn bản là tám chục ngàn trong năm đầu tiên, cộng với thưởng. Tám mươi lăm ngàn trong năm thứ hai, cộng với thưởng. Một khoản cho vay thế chấp lãi suất thấp để anh sắm nhà. Hai thẻ thành viên câu lạc bộ thể thao. Và một chiếc BMW mới. Dĩ nhiên, màu sắc là do anh tự chọn."
Họ tập trung nhìn đôi môi anh, chờ cho các nếp nhăn hình thành trên đôi má và những chiếc răng lộ ra. Anh cố nén nụ cười, nhưng không tài nào. Anh cười thành tiếng.
"Không thể tin nổi," anh lẩm bẩm. Tám chục ngàn ở Memphis tương đương với một trăm hai chục ngàn ở New York. Lão này còn nói về chiếc BMW nữa chứ! Chiếc Mazda cửa mở phía sau của anh đã lăn bánh cả triệu dặm và hiện thời phải đẩy để khởi động trong lúc anh đang dành dụm tiền để sửa chữa bộ đề.
"Với một vài khoản phụ trội nữa mà chúng tôi sẽ hân hạnh bàn luận tại Memphis."
Đột nhiên, anh thấy rất tha thiết được viếng thăm Memphis. Nó nằm ở ven sông đúng không nhỉ?
Nụ cười tan biến và anh lấy lại tư thế. Trông anh nghiêm nghị và hệ trọng trước Oliver Lambert. Rồi anh nói như thể đã quên đi chuyện tiền bạc, nhà cửa và chiếc BMW, "Kể cho tôi về hãng của các ông đi."
"Bốn mươi mốt luật sư. Tính trên đầu mỗi luật sư, năm ngoái chúng tôi kiếm được nhiều hơn bất kỳ hãng nào cùng quy mô hoặc lớn hơn, bao gồm những hãng lớn trên cả nước. Chúng tôi chỉ nhận những thân chủ giàu có – công ty, ngân hàng, những người giàu có sẵn sàng chi trả hậu hĩnh cho mọi phí tổn và không bao giờ than vãn. Chúng tôi đã triển khai một phương thức đặc biệt trong thuế vụ quốc tế, và nó vừa thú vị vừa rất sinh lợi. Chúng tôi chỉ làm việc với những ai có khả năng chi trả."
"Phải bao lâu mới được làm đối tác?"
"Trung bình là mười năm, và đó là mười năm rất gian truân. Không có gì là bất thường khi các đối tác của chúng tôi kiếm được
nửa triệu mỗi năm, và hầu hết đều nghỉ hưu trước năm mươi tuổi. Anh chỉ việc làm bổn phận của mình, cứ cho là tám mươi giờ mỗi tuần, nhưng một khi anh trở thành đối tác thì điều đó sẽ đáng đồng tiền bát gạo."
Lamar nhoài mình ra phía trước. "Anh không nhất thiết phải là đối tác mới có được thu nhập sáu con số. Tôi làm ở hãng đã bảy năm và từ bốn năm nay tôi đã vượt mức một trăm ngàn."
Mitch suy nghĩ một lúc và nhẩm ra rằng, vào lúc ba mươi tuổi, anh sẽ vượt xa con số một trăm ngàn, có lẽ là hai trăm không biết chừng. Mới ba mươi thôi đấy nhé!
Họ quan sát anh kỹ càng và biết chính xác anh đang nhẩm tính gì. "Một hãng luật quốc tế thì làm gì ở Memphis?" anh hỏi.
Câu này mang lại những nụ cười. Ông Lambert tháo cặp kính lão ra vân vê. "Câu hỏi hay đấy. Ông Bendini đã sáng lập ra hãng vào năm 1944. Là một luật sư thuế vụ ở Philadelphia, ông ta đã lượm ra được một số thân chủ giàu có ở miền nam. Ông ta đã có một quyết định táo bạo khi đáp xuống Memphis. Trong hai mươi lăm năm, ông ta chỉ thuê luật sư thuế vụ và, ở dưới miệt này, hãng đã phất lên rất nhanh. Chúng tôi không có ai đến từ Memphis cả, nhưng rồi cũng đều yêu thích nơi này. Đó là một thành phố cổ phương nam rất dễ chịu. Nhân tiện, ông Bendini đã từ trần vào năm 1970."
"Trong hãng có bao nhiêu đối tác?"
"Hai mươi người hiện đang hoạt động. Chúng tôi cố gắng giữ tỷ lệ mỗi đối tác một cộng sự. Đó là một tỷ lệ cao trong nghề, nhưng
chúng tôi thích như thế. Xin nhắc lại, cách làm việc của chúng tôi không giống như bình thường."
"Tất cả các đối tác của chúng tôi đều trở thành triệu phú khi đến tuổi bốn mươi lăm." Royce McKnight nói.
"Tất cả ư?"
"Đúng vậy. Chúng tôi không cam đoan nhưng nếu anh gia nhập hãng - cứ cho là mất mười năm nhọc nhằn đi - rồi làm đối tác - cứ cho là thêm mười năm nữa đi - anh sẽ không chỉ là triệu phú ở tuổi bốn mươi lăm đâu. Trong hai mươi năm nữa anh sẽ là triệu phú đầu tiên ở dưới độ tuổi này."
"Thống kê ấn tượng đấy nhỉ."
"Hãng mới là ấn tượng, Mitch ạ," Oliver Lambert nói, "và chúng tôi rất tự hào về nó. Chúng tôi là một tập thể gắn bó, tuy nhỏ nhưng mọi người đều quan tâm lẫn nhau. Chúng tôi không cạnh tranh theo cái lối cắt cổ nhau vốn khét tiếng ở các hãng lớn. Chúng tôi rất thận trọng trong việc tuyển người, và mục tiêu của chúng tôi là mọi cộng sự đều trở thành đối tác càng nhanh càng tốt. Hướng đến mục tiêu đó, chúng tôi đã đầu tư một lượng thời gian và tiền bạc khổng lồ vào chính mình, đặc biệt là vào những người mới. Rất hiếm có luật sư nào rời bỏ hãng, phải nói là cực kỳ hiếm. Điều đó đơn giản là chưa từng ai nghe thấy. Chúng tôi còn đi xa hơn nữa khi giữ cho công danh luôn suôn sẻ. Chúng tôi muốn người của mình được hạnh phúc. Chúng tôi nghĩ đó là cách hoạt động hữu hiệu nhất."
"Tôi còn có một thống kê ấn tượng khác nữa," ông McKnight bổ
sung. "Năm ngoái, ở các hãng cùng kích cỡ hoặc lớn hơn, tỷ lệ bỏ việc trung bình của các cộng sự là hai mươi tám phần trăm. Tại Bendini, Lambert & Locke, con số này là không. Một năm trước cũng là số không. Lâu lắm rồi chưa có luật sư nào rời bỏ hãng."
Họ quan sát anh kỹ lưỡng để đảm bảo tất cả những con số đó ngấm sâu. Từng điều khoản và điều kiện tuyển dụng đều tốt đẹp, kể cả tính bền vững, thứ cuối cùng quyết định sự chuẩn thuận của anh, bao trùm lên tất cả những hạng mục khác trong danh sách. Lúc này, họ ra sức trình bày. Những trình bày kế tiếp sẽ đến sau.
Dĩ nhiên, họ biết nhiều hơn những gì họ có thể nói. Ví như chuyện mẹ của anh sống trong một khuôn viên xe kéo ở bãi Panama City sau khi tái hôn với một lão tài xế xe tải có vấn đề trầm trọng về nhậu nhẹt. Họ biết bà đã nhận 41.000 đô la sau một vụ nổ mỏ; đã vung vãi phần lớn số tiền đó rồi phát điên khi người con trai cả bị chết. Họ biết anh từng bị bỏ bê, được nuôi lớn trong nghèo khổ bởi người anh trai tên Ray (mà họ không lần ra được) và một vài người họ hàng thương cảm. Cái nghèo gây nhức nhối và, rất chính xác, họ nghĩ nó ươm mầm cho một khát vọng thành công mãnh liệt. Anh từng làm việc ba mươi giờ mỗi tuần tại một cửa hàng tiện ích mở cửa suốt đêm mà vẫn chơi bóng bầu dục và đạt điểm số cao ngất ngưởng. Họ biết anh ít ngủ. Họ biết anh đói. Anh đã là người của họ.
"Anh muốn đến thăm chỗ chúng tôi không?" Oliver Lambert hỏi.
"Khi nào?" Mitch hỏi lại, mơ màng về một chiếc 318i màu đen cửa
nóc.
Chiếc Mazda cửa sau cũ chỉ có ba chiếc bọc đùm, và tấm kính chắn gió thì nứt nẻ đến thảm hại. Nó nằm gác trên rãnh nước, bánh trước bẻ quặt sang bên, chĩa vào lề đường, để ngăn ngừa chiếc xe trôi xuống đồi. Abby phải cầm tay nắm giật hai lần thì mới mở được cửa. Cô tra chìa khóa vào, nhấn côn rồi xoay bánh xe. Chiếc Mazda từ từ lăn. Đợi cho nó đạt tốc độ, cô nín thở nhả côn ra và cắn môi cho đến khi tiếng máy xe bắt đầu rền rĩ.
Với ba thư chào việc nằm trên bàn, một chiếc xe mới chỉ còn cách bốn tháng. Cô sẽ không phải làm vậy nữa. Suốt ba năm họ đã sống nghèo khổ trong căn hộ sinh viên hai phòng ở học khu, nơi đầy ắp những chiếc Porsche và Mercedes mui trần loại nhỏ. Họ phớt lờ phần lớn những thói hợm hĩnh của bạn học và đồng nghiệp trong cái thành lũy trưởng giả của East Coast này. Họ là dân miệt vườn, đến từ Kentucky, với rất ít bạn bè. Nhưng họ chịu đựng được và tự thân đã thành công tốt đẹp.
Cô thích Chicago hơn NewYork, cho dù lương có thấp hơn, chủ yếu vì Chicago ở xa Boston hơn và ở gần Kentucky hơn. Nhưng Mitch không hứa hẹn gì cả. Anh cân nhắc mọi việc một cách kỹ càng và giữ kín phần lớn các toán tính. Cô không được mời đến viếng New York và Chicago cùng chồng. Và cô đã chán ngán việc đoán mò lắm rồi. Cô muốn một câu trả lời.
Trên đồi, cô đậu xe phạm luật ở một nơi gần căn hộ nhất, rồi đi
bộ qua hai dãy phố. Khu nhà của họ là một trong ba mươi khu chữ nhật hai tầng lầu bằng gạch đỏ. Abby đứng ngoài cửa, lục tìm xâu chìa khóa trong bóp. Thình lình, cửa bật mở. Anh tóm lấy cô, lôi vào căn hộ nhỏ, quẳng cô lên trường kỷ rồi tấn công cổ cô bằng đôi môi. Cô la lên rồi khúc khích khi những đôi tay và đôi chân cuốn lấy nhau. Họ hôn nhau, một trong những nụ hôn ướt át kéo dài đến mười phút cùng với những sờ soạng, mơn trớn và rên rỉ. Kiểu hôn mà họ đã trải nghiệm từ lúc hãy còn là thiếu niên, khi mà nụ hôn là niềm vui, là sự ảo diệu, sự tột cùng.
"Chúa ơi," cô nói khi họ xong xuôi. "Nhân dịp gì vậy?"
"Em có ngửi thấy mùi gì không?"
Cô nhìn sang bên và mỉm cười. "Ừ, có đấy. Món gì vậy?"
"Mì xào thịt gà và trứng tráng kiểu Tàu. Từ quán Wong Boys."
"Nghe hấp dẫn quá. Nhân dịp gì vậy?"
"Cộng thêm một chai Chablis, loại đắt tiền đấy nhé. Thậm chí có cả nút bần nữa."
"Anh vừa thành công chuyện gì à?"
"Đi theo anh." Trên chiếc bàn bếp nhỏ quét sơn, giữa những ghi chép và sổ sách, là một chai rượu lớn và một bịch thức ăn Tàu. Họ xua những thứ linh tinh của trường luật rồi bày thức ăn ra. Mitch mở chai rượu, rót ra hai ly nhựa.
"Sáng nay anh vừa có một cuộc phỏng vấn tuyệt vời," anh nói.
"Ai phỏng vấn?"
"Em nhớ cái hãng ở Memphis đã gửi thư cho anh hồi tháng trước
không?"
"Nhớ. Anh không thấy ấn tượng lắm."
"Chính là nó đấy. Anh rất ấn tượng. Chỉ rặt công việc về thuế và tiền lương có vẻ tốt."
"Là bao nhiêu?"
Anh trịnh trọng lấy mì xào gà ra khỏi hộp, chia vào hai chiếc đĩa rồi xé chiếc bịch nhỏ đựng nước tương. Cô chờ câu trả lời. Mitch mở một hộp khác rồi bắt đầu chia trứng tráng. Anh nhấp rượu rồi chép môi.
"Là bao nhiêu?" cô lặp lại.
"Nhiều hơn ở Chicago. Nhiều hơn ở Wall Street."
Cô khoan thai hớp một ngụm rượu dài, nhìn anh đầy ngờ vực. Đôi mắt nâu của cô díu lại và ánh lên. Đôi chân mày cụp xuống và vầng trán nhăn lại. Cô chờ đợi.
"Bao nhiêu vậy?"
"Tám chục ngàn trong năm đầu, cộng với thưởng. Tám mươi lăm ngàn năm thứ hai, cộng với thưởng." Anh nói một cách hững hờ, mắt dán vào khúc cần tây trong hộp mì gà.
"Tám chục ngàn," cô lặp lại.
"Tám chục ngàn, cưng ạ. Tám chục ngàn ở Memphis, Tennessee, là tương đương với một trăm hai chục ngàn ở New York lận đó."
"Ai mà thèm New York chứ?" cô nói.
"Cộng thêm một khoản vay thế chấp lãi suất thấp."
Cái từ đó – vay thế chấp – từ lâu lắm đã không hề được thốt ra trong căn hộ này. Thực sự, cô không thể nhớ nổi lần cuối cùng họ bàn bạc chuyện nhà cửa hay bất cứ chuyện gì liên quan. Nhiều tháng qua họ cam tâm sẽ chỉ thuê một nơi nào đó cho đến một thời điểm xa xăm và bất định trong tương lai, khi mà họ đủ phong lưu và đạt đủ tiêu chuẩn để được vay thế chấp một khoản tiền lớn.
Cô đặt ly rượu lên bàn rồi nói như thể chuyện đã rồi, "Em chưa từng nghe vụ này."
"Một khoản vay thế chấp lãi suất thấp. Hãng sẽ cho ta vay tiền đủ để mua nhà. Mấy gã đó rất coi trọng việc các cộng sự trông có vẻ phát đạt, cho nên họ sẽ trao tiền cho chúng ta với một mức lãi suất thấp hơn hẳn."
"Ý anh nói một ngôi nhà có thảm cỏ và những bụi cây bọc quanh?"
"Đúng vậy. Không phải là một căn hộ giá cắt cổ ở Manhattan mà là một ngôi nhà ba phòng ngủ ở ngoại thành có lối đi cho xe hơi và một ga ra hai chỗ, nơi chúng ta sẽ cất chiếc BMW."
Phản ứng bị chậm lại mất vài giây, nhưng rồi cuối cùng cô cũng hỏi, "BMW? BMW của ai?"
"Của chúng ta đó, cưng à. BMW của chúng ta. Hãng sẽ cung cấp cho ta một chiếc mới cứng và trao cho ta chìa khóa. Đó kiểu như là một phần thưởng được ký kết cho cú úp sọt đầu tiên ở hiệp một. Nó trị giá ngang với năm ngàn đô bổ sung mỗi năm. Dĩ nhiên, màu nào là do chúng ta định đoạt. Anh nghĩ màu đen là ổn. Em nghĩ sao?"
"Không còn những tiếng kêu rổn rảng. Không còn những hỏng hóc. Không còn những linh kiện chắp vá," cô nói trong khi khẽ lắc đầu.
Anh nhồm nhoàm nhai mì và mỉm cười với cô. Cô đang mơ, anh đoán thế, hẳn là mơ về nội thất, về giấy dán tường, và có lẽ chẳng mấy chốc nữa sẽ là chiếc hồ bơi. Rồi là những em bé, những đứa nhóc mắt nâu, tóc nâu nhạt.
"Và còn vài lợi ích khác sẽ thảo luận sau."
"Em không hiểu, Mitch. Sao lại hào phóng như thế được?"
"Anh đã hỏi câu này. Họ rất kén chọn, và họ rất tự hào khi trả những khoản tiền đỉnh nhất. Họ muốn là số một và không ngại vung tiền. Tỷ lệ bỏ việc của họ là không. Và lại, anh nghĩ họ phải chịu tốn kém hơn thì mới lôi kéo được những người giỏi nhất về Memphis."
"Ta sẽ ở gần nhà hơn," cô nói mà không nhìn anh.
"Anh làm gì có nhà. Ta sẽ ở gần nhà cha mẹ của em hơn, và điều đó mới làm anh lo ngại."
Cô đánh trống lảng, như cách cô thường làm trước hầu hết những bình phẩm của anh về gia đình cô.
"Anh sẽ ở gần Ray hơn."
Anh gật đầu, táp một miếng trứng tráng và tưởng tượng chuyến viếng thăm đầu tiên của cha mẹ cô, cái khoảnh khắc ngọt ngào khi họ lái chiếc Cadillac rệu rạo vào lối xe hơi và sửng sốt nhìn ngôi nhà với kiến trúc thuộc địa Pháp cùng hai chiếc xe mới coóng trong ga ra. Họ sẽ phát sốt lên vì ganh tỵ và tự hỏi làm cách nào thằng nhóc
nhà nghèo không gia đình đó lại tậu được bấy nhiêu thứ này ở tuổi hai mươi lăm, khi mới vừa chân ướt chân ráo bước ra khỏi trường luật. Họ sẽ cố rặn ra những nụ cười khó nhọc khi bình phẩm mọi thứ đều đẹp đẽ như thế nào. Lão Sutherland sẽ xuống nước để dò la ngôi nhà trị giá bao nhiêu tiền, và Mitch sẽ nói đó không phải là việc của lão ấy, khiến lão tức điên lên. Sau chuyến thăm ngắn ngủi, họ sẽ trở về lại Kentucky, nơi tất cả bạn bè của họ đều nghe tin về việc cô con gái và chàng rể của họ làm ăn khấm khá như thế nào ở Memphis. Abby sẽ rất buồn vì hai bên không hòa giải được với nhau, nhưng cô chẳng thể nói được gì nhiều. Ngay từ đầu, họ đã đối xử với anh như thằng hủi. Anh là một thằng tồi đến mức họ đã tẩy chay cả cái đám cưới nhỏ.
"Em đã đến Memphis bao giờ chưa?" anh hỏi.
"Một lần, hồi em còn là một bé gái. Kiểu như một buổi triệu tập của Nhà thờ ấy mà. Em chỉ còn nhớ mỗi con sông."
"Họ muốn chúng ta viếng thăm nơi đó."
"Chúng ta? Ý anh là em được mời?"
"Phải. Họ rất mong em đến."
"Khi nào?"
"Vài tuần nữa. Họ sẽ đưa chúng ta đi máy bay xuống đó vào chiều thứ Năm cho kịp dịp cuối tuần."
"Chưa gì em đã thấy thích hãng này rồi."
2
Tòa nhà năm tầng được xây cách đây hàng trăm năm bởi một thương gia ngành bông và các con trai của ông ta sau thời kỳ Tái thiết, khi mà hoạt động buôn bán bông được hồi sinh ở Memphis. Nó tọa lạc giữa đường Cotton Row và đường Front, gần bờ sông. Qua các cánh cửa, hành lang và bàn làm việc của nó, hàng triệu kiện bông đã được mua từ Mississippi và đồng bằng Arkansas rồi bán ra khắp thế giới. Sau khi bị bỏ phế rồi trùng tu hết lần này đến lần khác sau đệ nhất thế chiến, nó được mua đứt vào năm 1951 bởi một luật sư thuế vụ năng nổ có tên là Anthony Bendini. Ông tu sửa lại nó một lần nữa rồi rót các luật sư vào và đổi tên nó thành "Tòa nhà Bendini".
Ông nâng niu nó, ấp ủ nó, cưng chiều nó, và mỗi năm lại trát thêm một lớp phù hoa lên cái dấu ấn của bản thân. Ông gia cố tòa nhà, niêm lại các cánh cửa và cửa sổ rồi thuê an ninh có vũ trang để bảo vệ nó và những người bên trong nó. Ông bổ sung thêm thang máy, lắp các thiết bị theo dõi điện tử, gài các mã an ninh, các camera quan sát, xây một phòng giám đốc, một phòng tắm hơi, một
phòng thay quần áo và một phòng ăn ở tầng năm dành cho các đối tác với cảnh quan bắt mắt nhìn ra sông.
Trong hai mươi năm, ông đã dựng lên một hãng luật giàu có nhất Memphis và hẳn nhiên là ít điều tiếng nhất. Kín kẽ là niềm đam mê của ông. Từng cộng sự được thuê đều được giáo huấn về sự xấu xa của những chiếc lưỡi buông thả. Mọi thứ đều kín kẽ. Lương bổng, phúc lợi, đề bạt, và đặc biệt là các thân chủ. Các cộng sự được cảnh báo nếu để lộ công việc làm ăn của hãng thì chiếc chén thánh tưởng thưởng sẽ bị trì hoãn lại: quy chế đối tác. Không một điều gì lọt ra khỏi chiếc pháo đài trên đường. Các bà vợ được răn không được hỏi han chồng, và nếu có hỏi thì họ cũng sẽ bị nghe nói dối. Các cộng sự được kỳ vọng làm việc cần mẫn, giữ im lặng và tiêu pha những khoản lương bổng hậu hĩnh của họ. Họ làm y như vậy, không hề có ngoại lệ.
Với bốn mươi mốt luật sư, hãng được xếp thứ tư về quy mô tại Memphis. Các thành viên của hãng không tìm cách quảng cáo và cũng không tìm danh tiếng. Họ không giao du nhiều và không đàn đúm với các luật sư khác. Các bà vợ của họ chơi tennis, đánh bài bridge và đi mua sắm chỉ trong vòng nội bộ với nhau. Bendini, Lambert & Locke là một đại gia đình, đại thể là như thế. Một đại gia đình rất sung túc.
Lúc 10 giờ sáng thứ Sáu, chiếc limo của hãng dừng lại trên đường Front và Mitchell Y. McDeere bước ra. Anh lịch sự cảm ơn người tài xế rồi nhìn chiếc xe lao đi. Đó là cuốc xe limo đầu tiên trong đời anh. Anh đứng trên vỉa hè cạnh một ngọn đèn đường, chiêm ngưỡng sự
lạ lẫm, vẻ đẹp và sự bề thế toát ra từ tòa nhà của hãng luật Bendini. Nó khác biệt rõ rệt mọi tòa cao ốc đồ sộ bằng kính và thủy tinh, nơi sinh sống những người New York giàu sang nhất, khác cả những khối trụ khổng lồ mà anh từng viếng thăm ở Chicago. Thế nhưng anh lập tức biết rằng anh sẽ thích nó. Nó ít phô trương hơn. Nó giống như chính bản thân anh vậy.
Lamar Quin bước qua cửa trước rồi đi xuống các bậc thang. Anh ta gọi Mitch và vẫy tay với anh. Tối hôm trước, anh ta đã đón họ ở sân bay và giúp họ làm thủ tục nhận phòng tại Peabody – "Đại Khách sạn Phương Nam."
"Chào Mitch! Tối qua thế nào?"
Họ bắt tay nhau như những người bạn lâu năm không gặp. "Tốt. Khách sạn đó rất tuyệt."
"Biết ngay anh sẽ thích mà. Ai cũng thích Peabody cả."
Họ bước vào sảnh trước của tòa nhà Bendini, nơi có một tấm biển nhỏ chào mừng "Ông Mitchell Y. McDeere, vị khách danh dự của ngày hôm đó. Một cô lễ tân ăn mặc bảnh bao, tuy không lấy gì làm quyến rũ, nồng nhiệt cười với anh rồi xưng tên là Sylvia. Nếu anh cần bất cứ điều gì trong thời gian ở Memphis thì hãy cho cô biết. Anh cảm ơn cô. Lamar dẫn anh đi qua một hành lang dài, nơi anh ta bỗng dưng trở thành hướng dẫn viên du lịch. Anh ta giải thích về thiết kế của tòa nhà và dọc đường đã giới thiệu Mitch với nhiều cô thư ký và trợ lý luật sư. Trong thư viện chính ở tầng hai, một đám đông luật sư đang ngồi quanh một chiếc bàn họp khổng lồ, ăn bánh
ngọt và uống cà phê. Họ đột nhiên im lặng khi vị khách bước vào.
Oliver Lambert ra đón Mitch và giới thiệu anh với cả nhóm. Họ gồm khoảng hai mươi người, đa số là các cộng sự trong hãng và đa số đều lớn tuổi hơn vị khách mời một chút. Các đối tác quá bận rộn nên sẽ gặp Mitch sau vào bữa trưa, Lamar giải thích như vậy. Mitch đứng ở đầu bàn vào lúc ông Lambert kêu gọi mọi người giữ im lặng.
"Thưa quý vị, đây là Mitchell McDeere. Hẳn quý vị đã nghe về ông ta, và chính ông ta đây. Ông ta là lựa chọn số một của chúng ta trong năm nay, là ứng viên hàng đầu của chúng ta, có thể nói như vậy. Ông ta đã được các gã lớn ở New York và Chicago ve vãn và biết đâu cả những gã khác nữa, cho nên chúng ta phải lôi kéo ông ta vào cái hãng nhỏ ở Memphis này thôi."
Họ mỉm cười và gật gù tán thưởng. Vị khách thấy lúng túng. "Ông ta sẽ tốt nghiệp Harvard trong hai tháng nữa và sẽ tốt nghiệp với bằng danh dự. Ông ta là cộng sự biên tập của tạp chí Harvard Law Review." Điều này sẽ tạo ấn tượng, Mitch nghĩ. "Ông ta đã có những nghiên cứu sau đại học tại Western Kentucky, nơi ông ta đã tốt nghiệp hạng ưu." Điều này thì không ấn tượng lắm. "Ông ta đã chơi bóng bầu dục trong bốn năm, khởi đầu là vị trí tiền vệ lúc còn trẻ." Giờ thì họ mới thực sự ấn tượng. Một số người đã có vẻ nể phục, cứ như thể họ đang nhìn Joe Namath vậy.
Vị đối tác cấp cao tiếp tục câu chuyện một chiều của ông trong khi Mitch đứng lóng ngóng ở bên cạnh. Ông lải nhải về việc họ đã kén chọn như thế nào và Mitch đã đáp ứng tốt ra sao. Mitch đút hai
tay vào túi và im lặng lắng nghe. Anh quan sát nhóm người. Họ đều trẻ, thành công và phong lưu. Quy định trang phục có vẻ nghiêm ngặt, nhưng cũng chẳng khác gì ở New York hay Chicago. Áo vest bằng vải len màu xám đậm hay xanh dương, áo sơ mi cotton trắng gài khuy cổ hoặc sơ mi xanh hồ bột cùng cà vạt lụa. Không có gì quá nổi bật hay lập dị. Có thể là vài chiếc nơ, nhưng sự táo bạo chỉ đến thế. Chỉn chu là quy tắc. Không râu, không ria mép, không tóc phủ tai. Cũng có vài sự chệch choạc nhưng sự bảnh bao vẫn thống trị.
Ông Lambert đi đến hồi kết. "Ông Lamar sẽ đưa ông Mitch đi tham quan các văn phòng của chúng ta, cho nên quý vị sẽ còn cơ hội để trò chuyện với ông ta. Chúng ta hãy chào đón ông ta. Tối nay ông ta và Abby, người vợ kiều diễm của ông ta - tôi xin nhấn mạnh từ "kiều diễm" - sẽ dùng món sườn tại quán Rendezvous, và dĩ nhiên tối mai sẽ là bữa tiệc tại nhà tôi. Tôi sẽ yêu cầu quý vị cư xử hòa nhã nhất." Ông mỉm cười nhìn vị khách. "Mitch, nếu anh chán Lamar thì hãy cho tôi biết nhé, chúng tôi sẽ cử ai đó chất lượng hơn." Anh bắt tay từng người một lần nữa khi họ rời đi, cố ghi nhớ càng nhiều cái tên càng tốt.
"Ta bắt đầu tham quan nhé," Lamar nói khi căn phòng đã trống vắng. "Đây dĩ nhiên là thư viện, và chúng tôi có những phòng tương tự ở mỗi bốn tầng đầu. Chúng tôi còn dùng chúng cho những cuộc họp lớn. Các cuốn sách thay đổi theo từng tầng, cho nên anh không bao giờ biết được việc nghiên cứu sẽ đưa anh đi đâu. Chúng tôi có hai quản thư toàn thời gian và chúng tôi sử dụng rất nhiều vi phim
và vi phiếu. Theo quy định, chúng tôi không làm việc nghiên cứu ở ngoài tòa nhà. Có cả thảy trên một trăm ngàn cuốn sách, bao gồm mọi dịch vụ khai báo thuế. Như vậy là còn hơn cả một số trường luật nữa đấy. Nếu anh cần cuốn sách nào mà chúng tôi không có, xin cứ nói với quản thư."
Họ băng qua chiếc bàn họp dài giữa hàng chục dãy sách. "Một trăm ngàn cuốn," Mitch lẩm bẩm.
"Phải, chúng tôi chi khoảng nửa triệu mỗi năm cho việc bảo quản, bổ sung và mua sách mới. Các đối tác luôn phàn nàn về khoản tiền đó, nhưng họ sẽ không nghĩ đến việc cắt giảm. Đây là một trong những thư viện luật tư nhân lớn nhất nước, và chúng tôi tự hào về điều này."
"Nó ấn tượng thật đấy."
"Chúng tôi cố gắng làm cho việc nghiên cứu càng ít gian khổ càng tốt. Anh cũng thừa biết rồi, tìm ra đúng tài liệu là một công việc nhàm chán và mất nhiều thời gian. Anh sẽ dành rất nhiều thời gian ở đây trong hai năm đầu, cho nên chúng tôi cố gắng làm cho khoảng thời gian đó được thoải mái."
Đằng sau một chiếc bàn chồng chất tại một góc phía sau, một thủ thư tự giới thiệu rồi đưa họ tham quan nhanh phòng máy tính, nơi có khoảng một chục thiết bị sẵn sàng để cung cấp những nghiên cứu điện toán hóa mới nhất. Ông ta đề xuất biểu diễn thử một phần mềm mới nhất, thực sự rất khó tin, nhưng Lamar nói họ sẽ ghé lại sau.
"Ông ta là một người giỏi," Lamar nói khi họ rời khỏi người thủ thư. "Chúng tôi trả cho ông ta đến bốn mươi ngàn mỗi năm chỉ để giữ gìn các cuốn sách. Thật không thể tin nổi."
Thực sự là không thể tin nổi, Mitch nghĩ.
Tầng hai hầu như cũng y hệt như tầng một, ba và bốn. Trung tâm mỗi tầng đầy ắp các thư ký, bàn làm việc của họ, tủ hồ sơ, máy photocopy và những máy móc cần thiết khác. Thư viện nằm ở một bên cánh của một khu vực trống, cánh bên kia là một kết cấu gồm các phòng họp nhỏ hơn và các văn phòng.
"Anh sẽ không thấy cô thư ký xinh đẹp nào ở đây cả." Lamar khẽ nói khi họ quan sát các cô thư ký làm việc. "Có vẻ như đó là một điều luật bất thành văn của hãng. Oliver Lambert đã cất công tìm những người cao tuổi nhất và ít kiểu cách nhất. Dĩ nhiên, một số người đã ở đây hai mươi năm và họ biết về luật còn nhiều hơn cả những gì chúng ta học được ở nhà trường."
"Họ trông có vẻ đẫy đà," Mitch nhận xét, hầu như với chính mình.
"Vâng, đó là một phần của chiến lược tổng thể nhằm khuyến khích chúng tôi cất tay vào trong túi. Sàm sỡ là một điều bị nghiêm cấm, và theo như tôi biết thì nó chưa bao giờ xảy ra nơi đây."
"Còn ngộ nhỡ nó xảy ra thì sao?"
"Ai biết được. Thư ký có thể bị đuổi việc, dĩ nhiên. Và theo tôi thì luật sư cũng sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc. Có thể họ sẽ phải trả giá bằng quy chế đối tác. Không ai muốn tìm hiểu chuyện đó cả, đặc biệt là với các nàng bò cái này."
"Họ ăn mặc cũng đẹp đấy chứ."
"Đừng hiểu lầm tôi. Chúng tôi chỉ thuê các thư ký pháp luật giỏi nhất và chúng tôi trả họ nhiều hơn bất cứ hãng nào trong thành phố. Chúng tôi tìm người giỏi nhất chứ không nhất thiết phải là người đẹp nhất. Chúng tôi đòi hỏi kinh nghiệm và sự chín chắn. Lambert không thuê ai dưới ba mươi tuổi cả."
"Mỗi luật sư có một thư ký à?"
"Phải, cho đến khi anh trở thành đối tác. Khi đó anh sẽ có thêm một người nữa, và đến lúc đó anh cũng sẽ cần thêm người. Nathan Locke có đến ba thư ký, tất cả đều có hai mươi năm kinh nghiệm, và ông ta vẫn ép được họ chạy vắt giò lên cổ."
"Văn phòng của ông ta ở đâu?"
"Tầng bốn. Nơi đó cấm ra vào."
Mitch toan hỏi, nhưng kịp dừng.
Các văn phòng ở góc rộng tám nhân tám mét, Lamar giải thích. Và chúng được chiếm giữ bởi những đối tác cấp cao nhất. Các văn phòng quyền lực, anh ta gọi như thế với vẻ đầy ngưỡng vọng. Chúng được trang trí theo thẩm mỹ cá nhân mà không phải hao tổn đồng bạc nào, và chúng sẽ chỉ bỏ trống khi có người nghỉ hưu hoặc từ trần, sau đó các đối tác trẻ hơn sẽ đấu với nhau để giành giựt.
Lamar bật đèn một trong các căn phòng này và họ bước vào trong, khép cửa lại sau lưng. "Cảnh quan đẹp đấy nhỉ," anh ta nói khi Mitch bước đến cửa sổ, phóng mắt nhìn ra con sông lững lờ trôi ở phía bên kia đường Riverside Drive.
"Sao anh vào được văn phòng này?" Mitch hỏi trong khi ngắm chiếc xà lan đang nhích dần dưới cây cầu dẫn đến Arkansas.
"Cứ thong thả, khi nào đến được đây anh sẽ rất giàu có, và cũng rất bận rộn nữa. Khi đó anh sẽ chẳng còn thời gian đâu để mà thưởng thức cảnh quan."
"Nó là của ai vậy?"
"Victor Milligan. Ông ta phụ trách về thuế. Một người rất tốt. Xuất thân từ New England, ông ta đến đây từ hai mươi lăm năm trước và đã chọn Memphis làm quê nhà." Lamar đút hai tay vào túi, buóc xung quanh căn phòng. "Sàn và trần gỗ cứng hiện diện cùng tòa nhà đã hơn một trăm năm. Phần lớn tòa nhà được trải thảm, nhưng ở vài nơi gỗ vẫn chưa hư hỏng. Khi nào đến được đây anh sẽ có hai phương án, hoặc là thảm cố định và thảm trải."
"Tôi thích gỗ. Thảm trải thì thế nào nhỉ?"
"Một loại thảm Ba Tư cổ nào đó. Tôi không biết lịch sử của nó. Bàn làm việc từng được cụ cố của ông ta sử dụng. Ông cụ này là thẩm phán ở đâu đó tại Rhode Island, hoặc đó là do ông ta nói vậy. Ông ta chứa đầy những chuyện tào lao, và anh sẽ không bao giờ biết lúc nào thì ông ta tung hỏa mù."
"Ông ta đang ở đâu?"
"Đang nghỉ phép, tôi nghĩ vậy. Họ chưa nói với anh về chuyện nghỉ phép à?"
"Chưa."
"Anh có hai tuần nghỉ phép mỗi năm trong năm năm đầu tiên.
Được chi trả, dĩ nhiên. Rồi ba tuần sau khi anh trở thành đối tác. Sau đó anh muốn lấy phép lúc nào cũng được. Hãng có một căn nhà gỗ ở Vail, một nhà lều ở Manitoba và hai căn hộ chung cư ở bãi Seven Mile Beach trên đảo Grand Cayman. Chúng đều miễn phí, nhưng anh phải đăng ký sớm. Các đối tác được ưu tiên. Sau đó ai đăng ký trước thì được trước. Cayman rất được ưa chuộng trong hãng. Nó là một thiên đường thuế quốc tế và nhiều chuyến đi của chúng tôi được miễn trừ. Tôi nghĩ Milligan đang ở đó, có lẽ ông ta đang lặn biển và gọi đó là đi công chuyện."
Qua một trong những khóa học về thuế, Mitch từng nghe nói về đảo Cayman và biết nó nằm đâu đó ở Caribe. Anh định hỏi nó nằm cụ thể ở đâu, nhưng rồi lại quyết định sẽ tự mình kiểm tra.
"Chỉ hai tuần thôi sao?"
"Ờ, vâng. Có vấn đề gì không?"
"Không, không hẳn. Các hãng ở New York cho nghỉ ít nhất ba tuần." Anh nói như thể có sự chỉ trích kỳ thị đối với các kỳ nghỉ phép tốn kém. Nhưng anh đâu phải thế. Ngoại trừ ba ngày cuối tuần được nhắc đến như tuần trăng mật và một dịp lái xe băng qua New England, anh chưa bao giờ được nghỉ phép và cũng chưa bao giờ ra nước ngoài.
"Anh có thể lấy thêm một tuần, nhưng sẽ không được chi trả."
Mitch gật đầu như thể điều đó là chấp nhận được. Họ rời văn phòng của Milligan và tiếp tục cuộc tham quan. Hành lang dẫn vào một khu chữ nhật dài với các văn phòng luật sư hướng mặt ra ngoài,
tất cả đều có cửa sổ, ánh nắng và cảnh quan. Những căn có cảnh quan nhìn ra sông là những căn danh giá, thường bị các đối tác chiếm giữ, Lamar giải thích. Có cả một danh sách chờ.
Các phòng hội nghị, thư viện, bàn thư ký đều hướng mặt vào hành lang, cách xa các cửa sổ và những thứ có thể gây phân tâm.
Văn phòng của các cộng sự thì nhỏ hơn – rộng năm nhân năm mét - nhưng được trang trí phong phú và trông bề thế hơn hẳn so với các văn phòng của cộng sự mà anh từng thấy ở New York hay Chicago. Hãng đã chi cả một gia tài nhỏ cho các nhà tư vấn thiết kế, Lamar nói. Tiền cứ như mọc ra từ trên cây vậy. Các luật sư trẻ tỏ ra thân thiện, xởi lởi, và hình như họ hoan nghênh sự ngắt quãng. Hầu hết đưa ra những xác nhận ngắn về sự tuyệt vời của hãng và của Memphis. Thành phố cổ này cứ như mọc lên ở bên trong mỗi người, nhưng cần phải có thời gian, họ không ngừng nói vậy. Cả họ cũng từng được chiêu mộ bởi các gã lớn ở Washington và Wall Street. Và họ đã không hề hối tiếc.
Các đối tác thì bận rộn hơn, nhưng cũng tử tế không kém. Anh đã được chọn lọc kỹ và anh sẽ sớm thích ứng thôi, họ lặp đi lặp lại như vậy. Đó là loại hãng mà anh thích. Họ hứa sẽ trao đổi nhiều hơn trong bữa trưa.
Một giờ trước đó, Kay Quin bỏ lại các con cho cô bảo mẫu và cô giúp việc để đến gặp Abby và dùng bữa xế tại Peabody. Kay là một cô gái tỉnh lẻ giống như Abby vậy. Cô kết hôn với Lamar sau khi tốt nghiệp đại học và đã sống ba năm ở Nasville khi anh học luật tại
Vanderbilt. Lamar kiếm được nhiều tiền đến mức cô bỏ việc và sinh hai con chỉ trong vòng mười bốn tháng. Giờ thì cô nghỉ ở nhà sau khi đã sinh nở xong. Cô dành phần lớn thời gian cho câu lạc bộ làm vườn, cho PTA và cho Nhà thờ. Dù có tiền và phong lưu, cô vẫn rất khiêm tốn, không thích phô trương, và có vẻ rất quyết tâm giữ như thế bất chấp sự thành công của chồng. Abby đã tìm được một người bạn.
Sau món bánh sừng bò và trứng Benedict, họ ngồi ở sảnh khách sạn, uống cà phê và nhìn những con vịt bơi lòng vòng xung quanh đài phun nước. Kay gợi ý một chuyến tham quan nhanh Memphis và dùng bữa trưa muộn ở gần nhà cô. Cũng có thể đi mua sắm một chút. "Họ có nhắc đến khoản trả chậm lãi suất thấp không?" cô hỏi. "Có, ngay trong lần phỏng vấn đầu tiên."
"Họ sẽ muốn hai người mua nhà khi chuyển về đây. Hầu hết mọi người đều tậu được nhà sau khi rời trường luật, cho nên hãng sẽ cho hai người vay tiền với lãi suất thấp và giữ thế chấp."
"Trong bao lâu?"
"Tôi không biết. Hai vợ chồng tôi chuyển về đây đã bảy năm rồi, và kể từ đó chúng tôi đã mua một căn nhà khác. Sẽ có một cuộc mặc cả, tin tôi đi. Hãng sẽ tạo điều kiện cho vợ chồng cô sở hữu nhà. Đó kiểu như là một điều luật bất thành văn vậy."
"Sao điều đó lại quan trọng như thế?"
"Có nhiều lý do. Trước hết, họ muốn lôi kéo vợ chồng cô về đây. Hãng này rất kén chọn và họ thường lấy được người nào họ muốn.
Nhưng Memphis lại không thực sự là điểm sáng trên sân khấu, cho nên họ phải chào cao hơn lên. Ngoài ra, hãng đòi hỏi rất cao, đặc biệt là ở các cộng sự. Có rất nhiều áp lực, công việc quá tải, tám mươi giờ mỗi tuần, thời gian xa nhà. Vợ chồng cô sẽ không dễ dàng gì đâu, và hãng cũng biết điều đó. Theo lý thuyết thì một cuộc hôn nhân bền chặt đồng nghĩa với một luật sư hạnh phúc; một luật sư hạnh phúc thì đồng nghĩa với một một luật sư năng suất cao, và mấu chốt vấn đề là lợi nhuận. Luôn luôn là lợi nhuận. Và cũng còn lý do khác nữa. Những gã này – toàn là đàn ông, chẳng có một phụ nữ nào – rất hãnh diện về sự sung túc của họ, và ai cũng muốn mình trông phong lưu cả. Sẽ là một điều sỉ nhục cho hãng nếu một cộng sự nào đó buộc phải sống trong căn hộ. Họ muốn vợ chồng cô có nhà cửa và sau năm năm sẽ có một ngôi nhà lớn hơn nữa. Chiều nay, nếu chúng ta còn thời gian, tôi sẽ chỉ cho cô xem vài ngôi nhà của các đối tác. Cô mà thấy chúng thì sẽ không còn ca cẩm về tuần làm việc tám mươi giờ nữa đâu."
"Đến nay em đã quen với chuyện đó rồi."
"Thế thì tốt, nhưng trường luật thì không thể so sánh với nơi này được. Vào mùa thuế, đôi khi họ làm việc một trăm giờ mỗi tuần cơ đấy."
Abby mỉm cười lắc đầu như thể cô thấy điều đó rất ấn tượng. "Chị có làm việc không?"
"Không, phần lớn chúng tôi không làm gì cả. Tiền thì không thiếu, nên chúng tôi không bắt buộc phải đi làm, vả lại chúng tôi rất ít
được chồng trợ giúp việc chăm con. Dĩ nhiên, chẳng ai cấm đoán chuyện đi làm cả."
"Cấm đoán ư? Ai cấm chứ?"
"Hãng."
"Em mong họ không làm vậy." Từ "cấm" được lặp lại trong đầu của Abby, nhưng cô không nói ra.
Kay nhấp cà phê, nhìn mấy con vịt. Một cậu bé tách khỏi mẹ, đến đứng bên cạnh đài phun nước. "Cô có định sinh em bé không vậy?" Kay hỏi.
"Có lẽ vài năm nữa."
"Em bé được khuyến khích đấy."
"Ai khuyến khích?"
"Hãng."
"Tại sao hãng lại quan tâm đến chuyện chúng ta sinh con?"
"Cũng vì lẽ đó thôi, họ muốn những gia đình ổn định. Một em bé mới sinh là một sự kiện trọng đại ở hãng. Họ gửi hoa và quà cáp đến bệnh viện. Cô sẽ được đối xử như bà hoàng. Chồng của cô sẽ được nghỉ một tuần, nhưng chú ấy sẽ quá bận rộn để nhận kỳ nghỉ đó. Họ sẽ bỏ một ngàn đô la vào một quỹ nghiệp đoàn để dành dụm cho bậc đại học. Nhiều điều hay lắm."
"Nghe có vẻ đại đoàn kết nhỉ?"
"Giống như một đại gia đình thì đúng hơn. Cuộc sống xã hội của chúng ta sẽ xoay quanh hãng, và điều đó là quan trọng vì chúng ta
không ai đến từ Memphis cả. Tất cả chúng ta đều là dân nơi khác."
"Tốt quá, nhưng em không thích ai đó bảo em khi nào đi làm, khi nào nghỉ và khi nào sinh con."
"Đừng lo. Họ rất quan tâm chăm sóc nhau, nhưng hãng sẽ không can thiệp sâu đâu."
"Em bắt đầu thấy lạ."
"Thoải mái đi, Abby. Hãng cũng giống như gia đình ấy mà. Họ là những người tuyệt vời, và Memphis là một thành phố cổ tuyệt vời để sinh sống và nuôi dạy con cái. Chi phí sinh hoạt thấp hơn hẳn và nhịp độ cuộc sống cũng chậm hơn. Hẳn cô đã từng cân nhắc các thành phố lớn hơn. Chúng tôi cũng thế thôi, nhưng tôi thì chọn Memphis chứ không chọn các thành phố lớn."
"Em có được tham gia cuộc đại tham quan không đấy?"
"Tôi ở đây là vì lẽ đó mà. Tôi nghĩ ta nên khởi đầu ở khu thương mại rồi đi ra hướng đông, ngắm vùng ngoại ô xinh đẹp. Có lẽ ta cũng nên xem vài ngôi nhà rồi ăn trưa tại quán ăn ruột của tôi."
"Nghe hay đấy."
Kay trả tiền cà phê vì cô dùng bữa xế. Họ rời Peabody trên chiếc Mercedes mới của gia đình Quin.
Phòng ăn - theo cách đơn giản mà mọi người gọi nó - chiếm đầu phía tây của tầng năm, bên trên đường River Drive, và nhìn từ trên cao xuống con sông. Một dãy cửa sổ hai mét rưỡi nằm dọc tường, mở ra một cảnh quan cuốn hút với tàu lai dắt, tàu bánh guồng, sà lan, bến cảng và những cây cầu.
Căn phòng là một khu vực hạn chế, là vùng đất đặc quyền của những luật sư đủ tài năng và tham vọng để được phong làm đối tác của hãng Bendini. Họ tụ tập hàng ngày để dùng bữa trưa nấu bởi Jessie Frances - một bà già da đen to béo, tính khí thất thường - và phục vụ bởi ông chồng của bà ta, Roosevelt, người luôn xỏ găng tay trắng, khoác chiếc áo vest bạc màu, nhăn nhúm và kệch cỡm, do chính ông Bendini ban tặng ông ta trước khi qua đời. Một số buổi sáng, họ còn tụ tập để uống cà phê và ăn bánh rán, bàn công việc. Đôi khi họ uống một ly rượu vào chiều muộn để ăn mừng một tháng tốt đẹp hay một khoản phí luật sư cao bất thường. Căn phòng chỉ dành cho đối tác, thi thoảng mới có một người khách là thân chủ giàu có hay một người có tiềm năng được tuyển dụng. Các cộng sự có thể ăn ở đó hai lần mỗi năm, chỉ hai lần mà thôi - số lần ăn được ghi sổ - và chỉ khi được một đối tác mời.
Cạnh phòng ăn là một căn bếp nhỏ, nơi Jessie Frances trổ tài, và cũng là nơi bà đã nấu bữa ăn đầu tiên cho ông Bendini và vài người khác cách đây hai mươi sáu năm. Trong hai mươi sáu năm, bà chỉ nấu các món ăn phương nam và bỏ ngoài tai mọi yêu cầu thử nghiệm các món ăn khác mà bà không thể phát âm nổi cái tên. "Không thích thì đừng có ăn," đó là câu nói cửa miệng của bà. Căn cứ theo những thứ thừa thãi mà Roosevelt thu thập được ở các bàn, các món đều được ăn và được cực kỳ ưa chuộng. Bà thường công bố tờ thực đơn trong tuần vào thứ Hai, yêu cầu phải đăng ký trước lúc mười giờ mỗi ngày, và bà sẽ nuôi hận suốt năm nếu ai đó hủy đăng ký hoặc không ló mặt. Bà và Roosevelt làm việc bốn giờ mỗi
ngày và được trả một ngàn đô mỗi tháng.
Mitch ngồi vào bàn cùng Lamar Quin, Oliver Lambert và Royce McKnight. Món chính là sườn bò dùng với mướp chiên và bí luộc.
"Hôm nay bà ta không bỏ mỡ," ông Lambert nhận xét.
"Ngon tuyệt," Mitch nói.
"Hệ thống của anh có tiêu hóa được mỡ không đấy?"
"Có chứ. Ở Kentucky người ta cũng hay cho nhiều mỡ."
"Tôi gia nhập hãng vào năm 1955," ông McKnight nói, "và tôi đến từ New Jersey, đúng không nào? Dĩ nhiên tôi tránh xa hầu hết các món ăn phương nam. Món nào cũng trộn mỡ hay chiên trong mỡ động vật, đúng không nào? Rồi ông Bendini quyết định mở cái quán cà phê nhỏ này. Ông ta thuê Jessie Frances, và thế là tôi bị chứng ợ chua suốt hai mươi năm qua. Cà chua chiên, trứng chiên, mướp chiên, bí đỏ chiên. Cái gì cũng chiên hết ráo. Một ngày nọ, Victor Milligan đã ca cẩm quá nhiều. Ông ta đến từ Connecticut, đúng không nào? Và rồi Jessie Frances đã nấu một xuất dưa chua với thì là chiên. Tưởng tượng nổi không? Dưa chua với thì là chiên! Milligan đã nói câu gì đó rất tồi tệ với Roosevelt và ông ta bèn mách lại cho Jessie Frances. Bà ta bước thẳng ra cửa sau, đùng đùng bỏ về nhà, một tuần sau cũng không thấy trở lại. Roosevelt cũng muốn đi làm chớ, nhưng bà ta giữ chân chồng ở nhà. Cuối cùng, ông Bendini đã xoa dịu mọi thứ và bà ta đã đồng ý quay lại với điều kiện không ai được than phiền. Nhưng bà ta cũng có giảm bớt mỡ. Tôi nghĩ tất cả chúng ta sẽ sống thọ hơn được mười năm."
"Nó ngon đấy chớ," Lamar nói trong khi trét bơ vào một lát bánh nữa.
"Lúc nào mà chả ngon," ông Lambert bổ sung khi Roosevelt đi ngang qua. "Các món của bà ta đều béo ngậy và nhiều dầu mỡ, nhưng chúng tôi rất hiếm khi bỏ bữa trưa."
Mitch ăn một cách cẩn trọng, bồn chồn lắng nghe câu chuyện phiếm và giả tảng như hoàn toàn thoải mái. Điều này không hề dễ. Ngồi giữa các luật sư thành đạt, tất cả đều là triệu phú, trong một phòng ăn đặc quyền được trang trí xa hoa, anh cảm thấy như đang lạc trong một miền đất thánh. Sự hiện diện của Lamar và Roosevelt khiến anh yên tâm hơn.
Đợi khi Mitch có vẻ đã ăn xong, Oliver Lambert chùi miệng, chậm rãi đứng dậy, khuấy ly trà của ông bằng một chiếc muỗng. "Thưa các quý ông, cho phép tôi được phát biểu."
Căn phòng im phăng phắc khi hai mươi đối tác quay mặt sang chiếc bàn ở phía đầu. Họ tháo khăn ăn, nhìn chăm chú vị khách mời. Đâu đó trên mỗi chiếc bàn là một bản sao hồ sơ. Hai tháng trước, họ đã nhất trí biểu quyết anh là lựa chọn số một. Họ biết anh chạy bộ sáu cây số rưỡi mỗi ngày, không hút thuốc, dị ứng với chất bảo quản, không bị amidan, sở hữu một chiếc Mazda, có một bà mẹ điên và từng thực hiện được ba lần chặn bóng trong một hiệp bóng bầu dục. Họ biết anh không dùng bất kỳ loại thuốc nào mạnh hơn aspirine ngay cả khi bị bệnh. Họ biết anh đủ đói để làm việc một trăm giờ mỗi tuần nếu như họ yêu cầu. Họ thích anh. Anh điển trai,
có dáng vóc một lực sĩ, có cái vẻ đàn ông với bộ óc minh mẫn và thân thể tráng kiện.
"Như quý vị đã biết, hôm nay chúng ta có một vị khách rất đặc biệt. Ông ta sẽ sớm tốt nghiệp Harvard với bằng danh dự..."
"Hoan hô! Hoan hô!" vài luật sư tốt nghiệp Harvard hô lớn. "Vâng, xin cảm ơn quý vị. Ông ta và vợ, bà Abby, hiện đang ngụ tại Peabody cho đến hết cuối tuần với tư cách khách mời của chúng ta. Mitch sẽ tốt nghiệp ở tốp năm trong số ba trăm sinh viên và hiện đang được săn lùng ráo riết. Chúng ta muốn ông ta ở đây, và tôi biết quý vị sẽ nói chuyện với ông ta trước khi ông ta đi. Tối nay, ông ta sẽ dùng bữa cùng Lamar và Kay Quin, và tối mai tiệc chiêu đãi sẽ diễn ra ở nhà tôi. Quý vị được mong đợi đến tham dự."
Mitch lúng túng mỉm cười với các đối tác trong khi ông Lambert tán dương sự tuyệt vời của hãng. Khi ông nói xong, họ tiếp tục dùng tráng miệng và uống món cà phê do Roosevelt phục vụ.
Quán ăn yêu thích của Kay là nơi tụ tập sang chảnh của những người trẻ phong lưu ở Đông Memphis. Hàng ngàn cây dương sỉ mọc tua tủa khắp nơi và hộp nhạc chỉ phát những ca khúc của thập niên sáu mươi. Món daiquiri được phục vụ trong những ly thủy tinh cao.
"Một ly là đủ," Kay cảnh báo.
"Em cũng không uống nhiều."
Họ gọi món đặc biệt trong ngày và nhấp daiquiri. "Mitch có hay uống rượu không?"
"Rất ít. Anh ấy chơi thể thao nên đặc biệt chú ý đến cơ thể. Chỉ
thi thoảng mới uống một ly bia, không uống gì nặng hơn. Lamar thì sao?"
"Cũng na ná như thế. Hồi ở trường luật anh ấy rất thích uống bia, nhưng lại gặp vấn đề về cân nặng. Hãng cũng không thích việc rượu chè."
"Thật đáng ngưỡng mộ, nhưng vì sao họ lại quan tâm chuyện đó nhỉ?"
"Vì rượu và luật sư luôn gắn kết với nhau như máu và ma cà rồng vậy. Hầu hết các luật sư đều uống như cá, và cái nghề này giống như bị con sâu rượu làm lây nhiễm vậy. Tôi nghĩ nó khởi đầu từ trường luật. Ở Vanderbilt, ai ai cũng uống cả két bia. Ở Harvard chắc cũng thế thôi. Công việc này gây ra nhiều áp lực và điều đó đồng nghĩa với rất nhiều bí tỉ. Những gã này không phải là một đám kiêng cử, hãy nhớ lấy điều đó, nhưng họ biết cách giữ mình trong vòng kiểm soát. Một luật sư khỏe mạnh là một luật sư có năng suất. Một lần nữa lại là lợi nhuận."
"Em nghĩ em đã hiểu. Mitch nói không có ai bỏ việc cả, đúng không chị?"
"Công việc rất bền vững. Kể từ khi vợ chồng tôi đến đây suốt bảy năm qua, tôi không nhớ đã từng thấy ai bỏ việc. Chuyện tiền bạc là rất ổn và họ lựa chọn rất kỹ những ai họ định thuê. Họ không muốn những người có tiền bạc của gia đình."
"Em không hiểu lắm."
"Họ không thuê luật sư có nguồn thu nhập riêng. Họ muốn các
luật sư trẻ và đói. Vấn đề là lòng trung thành. Nếu toàn bộ tiền bạc đến từ một nguồn duy nhất thì người ta sẽ có khuynh hướng rất trung thành với nguồn tiền đó. Hãng đòi hỏi phải cực kỳ trung thành. Lamar nói sẽ chẳng ai hé răng về chuyện ra đi. Tất cả bọn họ đều vui vẻ khi trở nên sung túc hoặc giữ được như trước. Và nếu ai đó muốn ra đi thì người ấy sẽ không thể nào kiếm được nhiều tiền hơn ở hãng khác Họ sẽ chào Mitch bằng mọi giá để cô chú chịu xuống đây. Họ rất tự hào về việc trả lương cao."
"Tại sao không có luật sư nữ?"
"Họ đã từng thử. Ả ta đúng là một con khốn đã biến nơi đây thành một mớ hỗn độn. Hầu hết luật sư nữ đều vênh váo, thích sục sạo và gây hấn. Rất khó làm việc với họ. Lamar nói hãng rất sợ thuê luật sư nữ vì không thể đuổi việc được họ khi họ làm ăn kém. Đó là do các quy định chống phân biệt đối xử và những ràng buộc khác."
Món bánh mặn quiche đến và họ từ chối một cữ daiquiri nữa. Hàng trăm những người trẻ chuyên nghiệp xúm xít dưới các đám mây dương xỉ, và không khí hội hè tăng dần lên trong quán. Smokey Robinson du dương hát từ hộp nhạc.
"Tôi có ý này hay lắm." Kay nói. "Tôi có quen một nhà môi giới. Tôi gọi cho cô ta rồi chúng ta đi xem vài căn nhà nhé?"
"Loại nhà nào?"
"Loại nhà dành cho cô và Mitch, cộng sự mới nhất của Berdini, Lambert & Locke. Cô ta có thể giới thiệu nhiều căn trong mức giá mà cô chú muốn."
"Em không biết mức giá của bọn em là bao nhiêu."
"Tôi áng chừng từ một trăm đến một trăm năm mươi ngàn. Cộng sự gần đây nhất đã mua một căn tại Oakgrove, và tôi tin chắc anh ta đã trả cỡ đó."
Abby chồm tới, hầu như thì thầm, "Tiền thanh toán hàng tháng là khoảng bao nhiêu vậy?"
"Tôi không biết, nhưng cô chú sẽ lo liệu được mà. Chừng một ngàn mỗi tháng, có thể cao hơn chút đỉnh."
Abby nhìn sững cô, ừng ực nuốt nước miếng. Những căn hộ nhỏ ở Manhattan cũng được cho thuê với gấp đôi. "Chị gọi cho cô ta đi!"
Đúng như chờ đợi, văn phòng của Royce McKnight là một văn phòng quyền lực với cảnh quan tuyệt vời. Nó nằm ở một góc cực tốt ở tầng bốn, đi hết hành lang là ra đến văn phòng của Nathan Locke. Lamar xin cáo lui và vị đối tác quản trị mời Mitch ngồi vào chiếc bàn họp nhỏ cạnh trường kỷ. Một cô thư ký được cử đi lấy cà phê. McKnight hỏi thăm anh về chuyến tham quan. Mitch nói anh thấy rất ấn tượng.
"Mitch, tôi muốn gút lại những điều khoản cụ thể trong lời chào của chúng tôi."
"Vâng."
"Lương căn bản là tám chục ngàn trong năm đầu. Khi vượt qua cuộc thi lấy chứng chỉ hành nghề, anh sẽ nhận thêm năm ngàn. Không phải thưởng mà là nâng lương đấy nhé. Cuộc thi lấy chứng chỉ sẽ bắt đầu trong tháng Tám và anh sẽ dành phần lớn mùa hè
cho việc ôn tập. Chúng tôi có những khóa pháp lý riêng và anh sẽ nhận những huấn luyện tăng cường từ một số đối tác của chúng tôi. Việc này được tiến hành chủ yếu trong thời gian làm việc của hãng. Anh biết đấy, hầu hết các hãng đều đẩy thẳng anh vào công việc và chờ đợi anh dùng thời gian của mình để ôn tập. Chúng tôi thì không vậy. Chưa từng có cộng sự nào trong hãng này bị trượt cuộc thi lấy chứng chỉ, và chúng tôi không lo anh phá vỡ truyền thống đó. Khởi đầu là tám ngàn, lên tám ngàn rưỡi sau sáu tháng. Anh ở đây một năm thì sẽ được nâng lương lên chín ngàn, cộng với tiền thưởng tháng Mười Hai dựa theo lợi nhuận và thành tích trong mười hai tháng trước. Năm ngoái, tiền thưởng trung bình của cộng sự là chín ngàn. Anh biết đấy, việc chia lợi nhuận cho cộng sự là điều cực hiếm thấy ở các hãng luật khác. Còn câu hỏi nào về lương thưởng nữa không?"
"Sau năm thứ hai thì sao?"
"Lương cơ bản của anh sẽ tăng khoảng mười phần trăm mỗi năm cho đến khi anh trở thành đối tác. Cả việc nâng lương lẫn tiền thưởng đều không được đảm bảo. Chúng dựa vào thành tích."
"Được lắm."
"Anh biết đấy, chúng tôi rất coi trọng việc anh mua được nhà. Điều đó làm tăng sự ổn định và uy tín, cho nên chúng tôi quan tâm đến nó, đặc biệt là nơi các cộng sự. Hãng cung cấp một khoản vay thế chấp lãi suất thấp, trong vòng ba mươi năm, lãi suất cố định, không giả định rằng anh quyết định bán nó lại sau vài năm nữa. Đó
là thỏa thuận chỉ một lần, chỉ áp dụng cho ngôi nhà đầu tiên của anh. Sau đó thì anh tự lo liệu."
"Lãi suất cỡ bao nhiêu?"
"Thấp nhất có thể, và không bị IRS sờ gáy. Lãi suất thị trường trung bình là khoảng mười, mười lăm phần trăm. Chúng tôi có thể cho anh lãi suất từ bảy đến tám phần trăm. Chúng tôi đại diện cho một số ngân hàng và họ hỗ trợ cho chúng tôi. Với mức lương này, anh sẽ không gặp khó khăn gì để được duyệt. Trên thực tế, hãng sẽ đứng ra đảm bảo khi cần thiết."
"Như vậy là rất hào phóng, thưa ông McKnight."
"Với chúng tôi điều đó là quan trọng. Và chúng tôi cũng chẳng mất đồng nào trong thỏa thuận đó cả. Khi anh tìm được nhà, bộ phận bất động sản của chúng tôi sẽ xử lý mọi việc. Tất cả những gì anh cần làm là di chuyển vào đó."
"Còn chiếc BMW thì sao?"
Ông McKnight khùng khục cười. "Chúng tôi làm việc này từ khoảng mười năm nay rồi và nó đã chứng tỏ là rất hấp dẫn. Đơn giản lắm. Anh chọn một chiếc BMW, chiếc nào nho nhỏ thôi, chúng tôi sẽ cho thuê nó trong ba năm, rồi đưa chìa khóa cho anh. Chúng tôi trả tiền cà vẹt, bảo hiểm, bảo trì. Đến cuối năm thứ ba anh có thể mua lại nó từ một công ty tín dụng với một mức giá thị trường tốt. Đó cũng là thỏa thuận chỉ một lần."
"Nghe rất cám dỗ."
"Chúng tôi biết điều đó." McKnight nhìn cuốn sổ ghi chép của ông.
"Chúng tôi trang trải chi phí y tế và nha khoa cho toàn bộ gia đình. Mang thai, khám thai, đặt vòng, tất cả mọi việc. Hãng trang trải tất tần tật."
Mitch gật đầu nhưng không mấy ấn tượng. Đó là một chuẩn mực.
"Chúng tôi có kế hoạch hưu trí vào hàng tốt nhất. Với mỗi đô la anh đầu tư, hãng sẽ thêm vào hai đô la, nhưng với điều kiện anh phải đầu tư ít nhất mười phần trăm lương căn bản. Ví dụ, anh khởi đầu ở mức tám mươi, và trong năm đầu tiên anh để dành được tám ngàn. Hãng sẽ đá vào mười sáu cho nên, sau năm đầu tiên, anh sẽ có hai mươi bốn. Một chuyên gia tiền tệ ở New York sẽ xử lý chuyện này và năm ngoái tiền hưu của chúng tôi đã đạt đến mười chín phần trăm. Không tệ. Đầu tư trong hai mươi năm, anh sẽ thành triệu phú ở tuổi bốn mươi lăm, chỉ tính riêng tiền hưu. Nhưng có một điều kiện: nếu anh rút tiền trước hai mươi năm thì anh sẽ mất tất cả trừ số tiền mà anh bỏ vào, và sẽ không có thu nhập nào từ số tiền đó."
"Nghe có vẻ nghiệt ngã nhỉ."
"Không, thật ra nó rất hào phóng đấy chứ. Tìm thử cho tôi xem có hãng nào đá hai vào một không. Theo tôi biết thì chẳng có hãng nào cả. Đó là cách chúng tôi chăm lo cho nhau. Nhiều đối tác của chúng tôi nghỉ hưu ở tuổi năm mươi, một số người thì ở tuổi bốn mươi lăm. Chúng tôi không có quy định bắt buộc về nghỉ hưu, nên có vài người làm việc đến tận sáu mươi hay bảy mươi tuổi. Mỗi người một kiểu. Mục đích của chúng tôi đơn giản là đảm bảo mức lương hưu rộng rãi và làm cho việc nghỉ hưu sớm trở thành một lựa
chọn."
"Các ông có bao nhiêu đối tác đã nghỉ hưu?"
"Khoảng hai mươi. Thỉnh thoảng anh sẽ thấy họ ở đây. Họ thích đến đây dùng bữa trưa và một số người vẫn giữ văn phòng của họ. Lamar đã nói về nghỉ phép rồi chứ?"
"Vâng."
"Tốt. Hãy sớm đăng ký đi Vail và quần đảo Cayman. Anh mua vé máy bay, còn các căn hộ chung cư thì miễn phí. Chúng tôi có nhiều mối làm ăn tại quần đảo Cayman nên thỉnh thoảng anh sẽ được cử xuống đó hai ba ngày để giải quyết công việc. Những chuyến đi này không được tính là nghỉ phép, và cứ khoảng mỗi năm anh sẽ được đi một chuyến. Chúng tôi làm việc cực nhọc, Mitch ạ, và chúng tôi hiểu giá trị của việc nghỉ ngơi."
Mitch gật đầu tán thành và mơ đến việc nằm dài trên bãi biển Caribe ngập nắng, nhấp nước ép dứa và ngắm bikini dây.
"Lamar đã nhắc đến phần thưởng ký kết chưa?"
"Chưa, nhưng nghe thú vị đấy."
"Nếu anh gia nhập hãng, chúng tôi sẽ trao cho anh một tấm séc trị giá năm ngàn. Chúng tôi kỳ vọng anh chi tiêu phần lớn số tiền đó để sắm một tủ quần áo mới. Sau bảy năm mặc quần jeans áo flanel, bộ sưu tập áo vest của anh hẳn là không nhiều nhặn lắm, và chúng tôi hiểu điều đó. Vẻ bề ngoài là rất quan trọng đối với chúng tôi. Chúng tôi kỳ vọng các luật sư của mình ăn mặc chỉnh tề và thủ cựu. Không có quy định nào về ăn mặc cả, nhưng anh sẽ phải tự hình
dung."
Có đúng ông ta nói năm ngàn đô la không? Cho quần áo ư? Mitch chỉ sở hữu hai bộ vest và anh hiện đang mặc một. Anh vẫn nhìn thẳng và không cười.
"Có câu hỏi nào không?"
"Có! Các hãng lớn thường nổi tiếng hay bóc lột, ở đó các cộng sự luôn ngập đầu ngập cổ làm công việc nghiên cứu và tự giam mình trong thư viện trong ba năm đầu tiên. Tôi không thích như vậy chút nào cả. Tôi không ngại chia sẻ phần nghiên cứu của tôi và tôi biết mình sẽ ở vị trí thấp. Nhưng tôi không muốn nghiên cứu và viết tóm tắt cho toàn bộ hãng. Tôi mong được làm việc với các thân chủ thật và những vấn đề thật của họ."
Ông McKnight chăm chú lắng nghe và chờ đợi để đưa ra câu trả lời đã thuộc lòng. "Tôi hiểu, Mitch ạ. Anh có lý, đó thực sự là vấn đề ở các hãng lớn, nhưng không phải ở đây. Ba tháng đầu anh sẽ không làm gì nhiều ngoài việc học để thi lấy chứng chỉ. Khi nào xong việc đó, anh sẽ bắt đầu hành nghề. Anh sẽ được phân công đến một đối tác, và thân chủ của ông ta sẽ trở thành thân chủ của anh. Anh sẽ làm hầu hết công việc nghiên cứu của ông ta, và dĩ nhiên của cả chính anh nữa, và thi thoảng anh mới được yêu cầu hỗ trợ ai đó khác bằng việc chuẩn bị các bản tóm tắt hay một nghiên cứu. Chúng tôi muốn anh vui vẻ. Chúng tôi tự hào về tỷ lệ zero người bỏ việc, và chúng tôi còn đi xa hơn nữa bằng cách giữ cho công danh của mọi người được trót lọt. Nếu anh không thể ăn ý với đối tác của anh,
chúng tôi sẽ tìm cho anh một đối tác khác. Nếu anh phát hiện mình không thích về thuế, chúng tôi sẽ để anh thử nghiệm lĩnh vực chứng khoán hoặc ngân hàng. Đó là tùy theo anh quyết. Hãng sẽ sớm đầu tư một khoản tiền lớn vào Mitch McDeere, và chúng tôi muốn anh ta phải đắc lực."
Mitch nhấp cà phê và cố tìm thêm một câu hỏi khác. Ông McKnight liếc qua tờ liệt kê của anh.
"Chúng tôi trang trải toàn bộ các chi phí để di chuyển đến Memphis."
"Nó chẳng là bao. Chỉ là một khoản nhỏ tiền thuê xe."
"Còn gì nữa không, Mitch?"
"Không, thưa ông. Tôi không nghĩ ra được việc gì cả." Tờ liệt kê được gấp lại và kẹp vào hồ sơ.
Vị đối tác chống hai cùi chỏ lên bàn và chồm tới. "Mitch này, chúng tôi không thúc ép, nhưng chúng tôi cần có câu trả lời càng sớm càng tốt. Nếu anh đi chỗ khác thì chúng tôi sẽ phải tiếp tục phỏng vấn. Đó là một quy trình lâu la, và chúng tôi muốn người mới của mình bắt đầu từ ngày 1 tháng Bảy."
"Mười ngày có đủ sớm không?"
"Được. Trước 30 tháng Ba nhé?"
"Chắc chắn rồi, nhưng tôi sẽ liên hệ ông trước đó."
Mitch cáo lui và bắt gặp Lamar đang đợi sẵn ở hành lang bên ngoài văn phòng của McKnight. Họ thỏa thuận đi ăn tối vào lúc bảy giờ.
3
Không có văn phòng luật nào ở tầng năm của tòa nhà Bendini. Phòng ăn của các đối tác cùng nhà bếp chiếm lĩnh đầu phía tây. Một số phòng kho không dùng đến và không sơn phết đã được khóa lại và bỏ trống ở giữa. Rồi đến bức tường bê tông dày niêm kín một phần ba còn lại của tầng lầu. Một cánh cửa kim loại nhỏ có nút bấm ở bên cạnh và camera ở bên trên. Cánh cửa nằm giữa bức tường, mở vào một căn phòng nhỏ, nơi các bảo vệ vũ trang canh gác cửa và theo dõi bức tường đầy những màn hình mạch kín. Một hành lang hình chữ chi đi qua một mê cung những văn phòng và phòng làm việc san sát nhau, nơi đủ loại nhân vật đang bí ẩn làm công việc canh gác và thu thập thông tin về họ. Các cửa sổ hướng ra ngoài đều bị niêm bằng sơn và phủ rèm. Ánh nắng chẳng có cơ hội nào để lọt được vào cái pháo đài này.
DeVasher, trưởng nhóm bảo vệ, chiếm căn lớn nhất trong số ba văn phòng nhỏ đơn sơ. Tấm bằng chứng nhận duy nhất trên các vách tường xác nhận ông đã có ba mươi năm tận tụy phục vụ trong vai trò thanh tra tại Sở Cảnh sát New Orleans. Trông ông chắc nịch
với chiếc bụng hơi nhô, bờ vai và lồng ngực vạm vỡ, chiếc đầu tròn xoe và khuôn mặt luôn mỉm cười một cách rất miễn cưỡng.
Chiếc áo nhăn nheo của ông được khoan thai mở nút cổ, nhờ đó mà chiếc cổ to bành thoải mái tòi ra ngoài. Một chiếc cà vạt polyester treo trên móc áo cùng chiếc áo cộc tay sờn mòn đến thảm hại.
Sáng thứ Hai sau chuyến viếng thăm của McDeere, Oliver Lambert đứng trước cánh cửa kim loại nhỏ, ngước nhìn chiếc camera ở bên trên. Ông nhấn nút hai lần, chờ đợi, và cuối cùng được an ninh cho qua. Ông bước nhanh qua hành lang chật chội, đi vào văn phòng bừa bộn. DeVasher nhả khói từ điếu xì gà Dutch Masters vào một chiếc gạt tàn chống khói rồi xua các giấy tờ theo đủ mọi hướng cho đến khi phần gỗ tòi ra ở trên bàn của ông.
"Chào Ollie. Tôi đoán ông muốn bàn về McDeere."
DeVaster là người duy nhất trong tòa nhà Bendini dám gọi ông là Ollie.
"Phải, và những chuyện khác nữa."
"Hắn đã có một khoản thời gian vui vẻ và đã tỏ ra rất ấn tượng về hãng. Có vẻ như Memphis không thành vấn đề, chắc hắn sẽ ký thôi."
"Người của ông đâu cả rồi?"
"Chúng tôi đi lấy các phòng khách sạn ở cả hai bên. Phòng của hắn đã bị cài bọ, dĩ nhiên. Cả chiếc limo, điện thoại và những thứ khác nữa. Chuyện vặt mà, Ollie."
"Ta đi vào cụ thể đi."
"Được thôi. Tối thứ Năm họ nhận phòng muộn rồi lên giường ngay. Nói chuyện rất ít. Tối thứ Sáu, hắn kể lại cho vợ tất tật về hãng, về các văn phòng, về những người ở hãng. Nói anh là một người rất tốt. Tôi nghĩ anh thích nghe đấy."
"Tiếp tục đi!"
"Hắn nói với cô vợ về phòng ăn sang trọng và bữa trưa ngắn cùng với các đối tác. Cho cô ta biết những lời chào cụ thể. Cả hai đã mê tít. Tốt hơn hẳn những lời chào mà hắn nhận được. Cô ta muốn một căn nhà có lối xe hơi và lối đi bộ, cùng với cây cối và sân sau. Hắn nói họ sẽ tậu được một căn như thế."
"Hắn có vấn đề gì với hãng không?"
"Không hẳn. Cũng có bình phẩm về việc vắng bóng phụ nữ và người da đen, nhưng điều đó hình như chẳng làm phiền gì hắn."
"Vợ hắn thì sao?"
"Rất hào hứng. Cô ta thích thành phố. Cô ta và vợ của Quin rất ăn ý với nhau. Họ đi tìm nhà vào chiều thứ Sáu, và cô ta đã tìm được vài căn ưng ý."
"Anh có địa chỉ nào không?"
"Dĩ nhiên, Ollie. Sáng thứ Bảy họ gọi chiếc limo rồi đi khắp thành phố. Rất ấn tượng về chiếc limo. Tài xế của chúng ta né những khu vực không đẹp, và họ đã tìm thêm được thêm nhiều căn nữa. Tôi nghĩ họ đã quyết một căn. Căn 1231 East Meadowbrook. Nó bỏ trống. Một cô nàng môi giới có tên là Betsy Bell đã đưa họ đi xem. Chủ nhà đòi một trăm bốn mươi, nhưng sẽ còn bớt giá. Họ cần phải
chuyển nhà."
"Đó là khu vực đẹp của thành phố. Nó bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?"
"Mươi, mười lăm năm. Hai trăm tám mươi mét vuông. Kiểu nhà thời thuộc địa. Khá ổn cho lính mới của anh đấy, Ollie."
"Anh chắc đó là căn họ thích chứ?"
"Ít ra là cho đến lúc này. Họ bàn với nhau sẽ trở lại sau chừng một tháng để tìm kiếm thêm. Chắc hẳn anh chỉ chờ họ đồng ý là đưa ngay họ về. Quy trình bình thường mà, đúng không?"
"Phải. Chúng tôi sẽ lo việc đó. Còn về chuyện lương bổng thì sao?"
"Chuyện đó gây ấn tượng nhất. Lớn nhất cho đến nay. Họ cứ nói tới nói lui về chuyện tiền bạc. Lương, tiền hưu, thế chấp, BMW, tiền thưởng, tất tần tật. Họ không thể tin nổi. Đám trẻ thực sự rất dễ phỉnh."
"Thật vậy. Anh nghĩ chúng tôi sẽ thu nạp được hắn à?"
"Tôi dám cá điều đó. Hắn nói hãng tuy không danh giá bằng ở Wall Street nhưng các luật sư ở đây có chất lượng không thua kém mà lại còn rất tử tế nữa. Tôi nghĩ hắn sẽ ký thôi, đúng vậy."
"Có nghi ngờ gì không?"
"Không hẳn. Chắc chắn Quin đã dặn hắn tránh xa văn phòng của Locke. Hắn nói với vợ rằng không ai được bén mảng vào đó ngoại trừ vài thư ký và một dúm đối tác. Nhưng hắn kể Quin nói Locke là người lập dị và không mấy thân thiện. Tôi thì không nghĩ hắn nghi ngờ gì. Cô ta nói hãng có vẻ quan tâm đến những việc không phải là
của mình."
"Chẳng hạn như?"
"Những chuyện riêng tư. Con cái, các bà vợ đi làm, vân vân. Cô ta có vẻ hơi bức xúc, nhưng tôi nghĩ đó chẳng qua cũng chỉ là một nhận xét. Sáng thứ Bảy, cô ta nói với Mitch rằng cô ta sẽ nổi khùng nếu một đám luật sư bảo ban cô khi nào thì đi làm, khi nào thì sinh em bé. Nhưng tôi không nghĩ đó là một vấn đề."
"Hắn đã biết nơi này là lâu bền như thế nào rồi chứ?"
"Tôi nghĩ hắn biết. Không thấy đả động gì đến chuyện làm thử vài năm rồi đi nơi khác. Tôi nghĩ hắn đã nhận được thông điệp. Hắn muốn trở thành đối tác giống như tất cả bọn họ. Hắn đã khánh kiệt và muốn có tiền."
"Còn bữa tiệc ở nhà tôi thì sao?"
"Họ căng thẳng nhưng rất phấn khích. Rất ấn tượng về ngôi nhà của anh đấy. Họ thích vợ của anh."
"Còn chuyện tình dục thì sao?"
"Mỗi tối. Có vẻ như đây là tuần trăng mật."
"Họ làm gì?"
"Chúng tôi không thấy được, nhớ không? Nghe ra thì có vẻ bình thường. Chẳng có gì khác lạ cả. Tôi đã nghĩ đến anh và việc anh thích xem ảnh như thế nào. Tôi cứ nhủ thầm mãi rằng chúng tôi cần phải gắn vài chiếc camera cho lão Ollie."
"Câm miệng đi, DeVasher."
"Có lẽ để lần tới."
Họ im lặng trong lúc DeVasher nhìn vào cuốn sổ tay. Ông dụi điếu xì gà vào gạt tàn rồi cười một mình. "Tất cả chỉ có thế," ông nói, "đó là một cuộc hôn nhân bền vững. Họ có vẻ rất thân thiết nhau. Tài xế của anh nói họ quấn quýt nhau suốt cả dịp cuối tuần. Không một lời cãi cọ nào trong suốt ba ngày liền. Điều đó là rất tốt, đúng không? Tôi thì sao nào? Bản thân tôi đã kết hôn đến ba lần."
"Chuyện đó thông cảm được mà. Còn chuyện con cái thì sao?"
"Để vài năm nữa. Cô ta muốn đi làm một chút rồi mới có bầu."
"Anh có ý kiến gì về anh chàng này?"
"Rất tốt. Một chàng trai tử tế. Và cũng tham vọng nữa. Tôi nghĩ hắn có động lực và sẽ không từ bỏ cho đến khi leo đến đỉnh. Hắn sẽ chớp lấy vài cơ hội, bẻ cong một số luật lệ nếu cần."
Ollie mỉm cười. "Đó là những gì tôi muốn nghe."
"Hai cú điện thoại. Cả hai đều gọi về cho bà mẹ ở Kentucky. Chẳng có gì đặc biệt."
"Gia đình hắn thế nào?"
"Không thấy nhắc tới."
"Không một lời nào về Ray?"
"Chúng tôi vẫn đang theo dõi, Ollie ạ. Cho chúng tôi chút thời gian đi."
DeVasher đóng tập hồ sơ McDeere rồi mở ra một tập khác, dày hơn hẳn. Lambert chà xát hai thái dương, cụp mắt nhìn xuống sàn.
"Vụ gần đây thì sao?" ông từ tốn hỏi.
"Không tốt, Ollie ạ. Bây giờ thì tôi tin chắc Hodge và Kozinski đang làm việc cùng nhau. Tuần qua, FBI đã lấy được trát khám nhà Kozinski. Đã tìm thấy các thiết bị nghe lén của chúng tôi. Họ nói nhà của hắn bị cài bọ, nhưng dĩ nhiên chúng không biết ai làm việc đó cả. Kozinski kể lại cho Hodge hôm thứ Sáu tuần rồi trong khi hai đứa nó trốn trong thư viện tầng ba. Chúng tôi có gắn một thiết bị nghe lén ở gần đó và đã thu lượm được vài mẩu trò chuyện. Không nhiều, nhưng chúng tôi biết hai đứa chúng có nói về thiết bị nghe lén. Chúng tin rằng mọi thứ đều bị cài bọ, và chúng nghi ngờ chúng ta. Chúng rất cảnh giác về nơi chốn chúng trò chuyện."
"Sao FBI lại quan tâm đến trát khám?"
"Hỏi hay đấy. Có lẽ đó là vì chúng ta. Chúng cần trát khám để làm cho mọi thứ trông có vẻ hợp pháp và đúng đắn. Chúng tôn trọng chúng ta mà."
"Đặc vụ nào vậy?"
"Tarrance. Hiển nhiên hắn là gã phụ trách."
"Hắn có ổn không?"
"Cũng ổn. Trẻ tuổi, còn non nớt, hăng tiết vịt, tuy cũng có năng lực. Hắn không đấu lại người của chúng tôi đâu."
"Hắn có thường xuyên trao đổi với Kozinski không?"
"Không cách nào biết được. Chúng biết chúng tôi đang nghe lén nên rất thận trọng. Chúng tôi biết đã có bốn cuộc gặp trong tháng rồi, nhưng tôi nghi ngờ là còn nhiều hơn thế nữa."
"Hắn phun ra nhiều cỡ nào?"
"Cũng chẳng nhiều nhặn gì, tôi hy vọng là thế. Chúng vẫn đang tung đòn gió. Lần trò chuyện sau cùng mà chúng tội biết là từ một tuần trước, và hắn đã không nói gì nhiều. Hắn sợ đến chết khiếp. Chúng đang dỗ ngọt hắn nhưng chẳng nhận được là bao. Hắn chưa quyết định việc hợp tác. Chúng đã tiếp cận hắn, nhớ không? Chúng tôi nghĩ ít ra chúng đã tiếp cận. Chúng thúc hắn rất dữ và hắn đã sẵn sàng thỏa hiệp. Nhưng giờ thì hắn đang nghĩ lại. Tuy vậy hắn vẫn cứ liên lạc với chúng, và đó là điều khiến tôi thấy lo lắng."
"Vợ hắn có biết không?"
"Tôi không nghĩ vậy. Cô ta biết hắn đang hành động lạ, và hắn nói với cô ta đó là do áp lực ở văn phòng."
"Còn Hodge thì sao?"
"Vẫn chưa nói gì với đám Fibbie, theo như tôi biết. Hắn và Kozinski rất thường hay thủ thỉ với nhau, tôi dám nói là vậy. Hodge luôn miệng nói rằng hắn sợ FBI đến khiếp đám, nói rằng họ chơi không đẹp, họ toàn ăn gian và chơi bẩn. Hắn sẽ không hé răng nếu không có Kozinski."
"Còn nếu Kozinski bị khử thì sao?"
"Thì Hodge sẽ là người mới. Nhưng tôi không nghĩ chúng ta phải đi đến mức đó. Chết tiệt, Ollie, hắn đâu phải là tên sát nhân máu lạnh đang ngáng đường. Hắn là một chàng trai rất tốt, có con nhỏ và mọi thứ."
"Anh cảm thông nhiều quá rồi đó. Anh nghĩ tôi thích làm vậy sao?
Quỷ tha ma bắt, tôi đã từng nuôi dạy mấy gã trai đó đấy."
"Thôi được, vậy hãy chấn chỉnh chúng lại đi. Trước khi mọi việc đi quá xa. New York đã bắt đầu nghi ngại đấy, Ollie. Họ đang đặt ra hàng lô lốc câu hỏi."
"Ai cơ?
"Lazarov."
"Anh đã nói gì với họ, DeVasher?"
"Mọi chuyện. Nghề của tôi mà. Họ muốn anh đến New York ngày mốt để tường trình đầy đủ."
"Họ muốn gì?"
"Các câu trả lời. Và các kế hoạch nữa."
"Kế hoạch gì chứ?"
"Kế hoạch sơ bộ để khử Kozinski, Hodge. Và cả Tarrance nữa, nếu cần."
"Tarrance! Anh có điên không đó, DeVasher? Chúng ta không thể khử một tên cớm. Chúng sẽ gửi cả một đội quân đến cho coi!"
"Lazarov là một gã ngốc, Ollie ạ. Anh biết điều đó mà. Ông ta là một gã ngốc, nhưng tôi nghĩ ta không nên nói như thế với ông ta."
"Tôi nghĩ tôi sẽ nói. Tôi nghĩ tôi sẽ đến New York và nói thẳng với Lazarov rằng ông ta đã hoàn toàn điên rồ."
"Cứ làm vậy đi, Ollie. Cứ làm vậy đi!"
Olivier Lambert đứng bật dậy khỏi ghế rồi đi thẳng ra cửa. "Nhớ theo dõi Mc Deeree thêm một tháng nữa nhé!"
"Tất nhiên, Ollie. Yên tâm đi. Hắn sẽ ký thôi mà. Đừng lo."
4
Chiếc Mazda được bán với giá hai trăm đô la, và phần lớn tiền bán xe lập tức được đầu tư vào việc thuê chiếc xe vận tải U-Haul dài gần sáu mét. Anh sẽ được hoàn trả tại Memphis. Phân nửa những món nội thất cọc cạch được đem cho hoặc vứt đi, và khi chất xong đồ đạc lên xe thì nó bao gồm tủ lạnh, giường, tủ quần áo, tủ ngăn kéo, một chiếc tivi màu be bé, các thùng đựng chén đĩa, quần áo và đồ đạc linh tinh. Một chiếc trường kỷ cũ cũng được mang đi chỉ vì lý do tình cảm và sẽ chẳng tồn tại lâu tại địa điểm mới.
Abby bế Hearsay, con chó lai, trong khi Mitch tìm đường qua Boston rồi đâm thẳng xuống phương nam, hướng đến miền đất hứa của những điều tốt đẹp hơn. Suốt ba ngày, anh đi theo những con đường tắt, thưởng ngoạn cảnh thôn quê, ca hát theo radio, ngủ trong các nhà nghỉ giá rẻ và bàn tính về ngôi nhà mới, về chiếc BMW, về những bàn ghế mới, về những đứa con, về cuộc sống phong lưu. Họ quay cửa sổ xuống, để cho gió lùa vào khi chiếc xe tải phóng đi với vận tốc gần tối đa, hơn bảy mươi cây số mỗi giờ. Tại một điểm đâu đó ở Pennsylvania, Abby nhắc rằng họ có thể
dừng lại ở Kentucky để thực hiện một chuyến viếng thăm ngắn. Mitch không nói gì cả mà cứ tiếp tục chọn lộ trình đi qua Carolinas và Georgia, không bao giờ bén mảng đến gần biên giới Kentucky dẫu chỉ cách có ba trăm cây số. Abby làm ngơ, để xe đi qua.
Họ đến Memphis vào sáng thứ Năm và, như được hứa, chiếc 318i đen đã nằm sẵn trong ga ra cứ như thể nó đã sẵn thuộc về nơi này. Anh bắt đầu bằng chiếc xe. Cô bắt đầu bằng ngôi nhà. Thảm cỏ rất dày, rất xanh, và được cắt xén kỹ càng. Hàng rào đã được nắn chỉnh. Những bụi cúc đang trổ bông.
Các chìa khóa được tìm thấy dưới một chiếc xô trong phòng kho, như đã được hứa.
Sau lần đầu tiên lái thử, họ hấp tấp dỡ đồ xuống khỏi xe tải trước khi hàng xóm có thể soi mói những tài sản đơn sơ. Chiếc U-Haul được trả về cho nhà thầu ở gần nhất. Thêm một lần chạy thử nữa.
Một nhà thiết kế nội thất - cùng cái người sẽ thiết kế văn phòng của anh - đến sau buổi trưa, mang theo các mẫu thảm, tập quảng cáo màu sơn, mẫu ván sàn, rèm, khăn trải giường, giấy dán tường. Sau khi đã sống trong căn hộ ở Cambridge, Abby thấy ý tưởng thuê thiết kế có phần hơi buồn cười, nhưng cô cứ để mặc. Mitch lập tức chán ngán và xin cáo lui để thử xe lần nữa. Anh đánh một vòng những con đường yên tĩnh rợp bóng cây ở cái khu xinh đẹp mà nay anh đã là thành viên. Anh mỉm cười khi một cậu bé đi xe đạp dừng lại và huýt sáo trước chiếc xe bóng lộn. Anh vẫy tay chào người bưu tá đang rảo bước trên vỉa hè, mồ hôi chảy nhễ nhại. Là anh đấy,
Mitchell Y. McDeere. Chỉ mới hai mươi lăm tuổi và chỉ mới một tuần rời trường luật.
Vào lúc ba giờ, họ đi theo nhà thiết kế đến một cửa hàng nội thất cao cấp, nơi người quản lý lịch sự thông báo cho họ rằng ông Oliver Lambert đã thu xếp xong khoản vay của họ, nếu như họ chọn cách vay, và trên thực tế sẽ chẳng có giới hạn nào đối với những gì họ muốn mua và đầu tư. Họ đã mua cả một ngôi nhà với toàn bộ nội thất. Mitch cằn nhằn hết lần này đến lần khác và đã hai lần bác bỏ các món đồ vì chúng quá mắc tiền, nhưng Abby mới là người chủ xị của ngày hôm đó. Nhà thiết kế hết lời khen ngợi gu thẩm mỹ "vi diệu" của cô, và nói rằng cô ta sẽ gặp Mitch vào thứ Hai để thiết kế văn phòng của anh. "Vi diệu," anh lặp lại.
Với tấm bản đồ thành phố, họ lái xe đến nhà Quin. Abby đã thấy ngôi nhà này trong lần viếng thăm đầu, nhưng không nhớ làm cách nào tìm ra nó. Nó nằm ở một khu vực của thành phố có tên là Chickasaw Garden. Nhưng cô nhớ lô nhà gỗ với những căn lớn có sân trước được bài trí chuyên nghiệp. Họ đậu trên lối xe, phía sau một chiếc Mercedes mới và một chiếc Mercedes cũ.
Cô giúp việc lễ phép gật đầu nhưng không cười. Cô ta dẫn họ vào phòng khách rồi bỏ họ lại ở đó. Ngôi nhà tối và im ắng – không có trẻ con, không có tiếng người, không có bóng dáng ai. Họ ngắm nghía nội thất và chờ đợi. Họ cằn nhằn và bắt đầu sốt ruột. Đúng là họ đã thỏa thuận, đúng là họ đã được mời dùng bữa tối vào đêm nay, thứ Năm ngày 25 tháng Sáu vào lúc 6 giờ chiều. Mitch kiểm tra đồng hồ một lần nữa rồi làu bàu câu gì đó liên quan đến thái độ bất
lịch sự. Họ chờ đợi.
Từ hành lang, Kay xuất hiện, cố gượng cười. Đôi mắt cô sưng húp và đờ đẫn, mascara lấm lem nơi khóe mắt. Những giọt lệ lăn tự do trên má, và cô cầm chiếc khăn tay che miệng. Kay ôm hôn Abby rồi ngồi xuống cạnh cô trên trường kỷ. Cô cắn chiếc khăn tay và bật khóc.
Mitch quỳ xuống trước cô. "Kay, có chuyện gì vậy?"
Cô nấc lớn hơn và lắc đầu quầy quậy. Abby ôm một bên gối của cô còn Mitch thì vỗ về gối bên kia. Họ lo lắng nhìn cô, chờ đợi điều tồi tệ nhất. Là chuyện Lamar hay chuyện mấy đứa nhỏ?
"Đã có một thảm họa," cô nói giữa những tiếng nấc khẽ.
"Ai gặp họa vậy?" Mitch hỏi.
Cô lau nước mắt rồi hít một hơi sâu. "Hai thành viên của hãng, Marty Kozinski và Joe Hodge, mới vừa chết hôm nay. Vợ chồng tôi rất thân với họ."
Mitch ngồi lên chiếc bàn cà phê. Anh nhớ lại Marty Kozinski trong lần viếng thăm hồi tháng Tư. Anh ta đã ăn trưa cùng Lamar và Mitch tại một quán ngon trên đường Front. Anh ta là người kế tiếp sẽ trở thành đối tác, nhưng hình như lại chẳng mấy hào hứng. Mitch không thể nhớ mặt Joe Hodge.
"Chuyện gì xảy ra vậy?" anh hỏi.
Kay đã ngưng khóc, nhưng nước mắt vẫn tuôn trào. Cô lau mặt lần nữa rồi nhìn anh. "Tôi cũng không chắc nữa. Họ đi Grand Cayman để lặn biển. Một vụ nổ vì nguyên do nào đó đã diễn ra trên
con tàu, và chúng tôi nghĩ rằng họ đã bị chết đuối. Lamar nói có rất ít chi tiết. Hãng vừa có một cuộc họp cách đây vài giờ và mọi người đều bàn tán về chuyện này. Lamar mới vừa về đến."
"Anh ấy đâu rồi?"
"Ở cạnh hồ bơi. Anh ấy đang đợi chú đấy."
Anh ta đang ngồi trên chiếc ghế xếp chỗ thảm cỏ, bên cạnh chiếc bàn con dưới một chiếc dù nhỏ, chỉ cách mép hồ bơi vài chục phân. Cạnh một luống hoa, chiếc vòi nước đang xoay và khẽ rít lên, phun nước ra thành một hình vòng cung hoàn hảo, bắn đến tận chiếc bàn, cây dù, chiếc ghế và Lamar Quin. Anh ướt như chuột lội. Nước tong tỏng chảy xuống từ mũi, từ tai, từ tóc anh. Chiếc sơ mi cotton xanh và chiếc quần vải len đã sũng nước. Anh không mang giày mà cũng chẳng mang vớ.
Anh ngồi bất động, không màng đến những tia nước mới. Anh đã mất cảm giác. Một vật gì đó xa xa, ở bên hông của bờ dậu, như thu hút và níu giữ sự chú ý của anh. Một chai Heineken chưa khui nằm chơ vơ giữa vũng nước trên sàn xi măng bên cạnh ghế anh ngồi.
Mitch nhìn quanh quất bãi cỏ ở sân sau, phần nào đó để biết chắc không một người hàng xóm nào trông thấy. Không ai trông thấy cả. Bờ dậu hợp thành từ những cây bách cao hai mét rưỡi đã đảm bảo sự riêng tư tuyệt đối. Anh đi bọc quanh hồ rồi dừng lại ở rìa của khu vực khô ráo. Lamar nhận ra anh, gật đầu, cố rặn một nụ cười gượng gạo, rồi ra dấu về phía chiếc ghế ướt. Mitch kéo lui ghế ra vài tấc, vừa kịp lúc tia nước kế tiếp ập đến.
Ánh mắt của Lamar quay trở lại bờ dậu hay vật gì đó ở xa xa. Họ ngồi im như bất tận, lắng nghe tiếng rì rào của vòi phun. Được một lúc, Lamar lắc đầu, toan thốt lên điều gì đó. Mitch bối rối mỉm cười, không biết phải nói gì.
"Lamar, tôi rất tiếc," cuối cùng anh ngỏ lời.
Lamar gật đầu, nhìn Mitch. "Tôi cũng vậy."
"Tôi ước có thể nói được điều gì."
Đôi mắt của Lamar rời bờ dậu. Anh nghiêng đầu về hướng Mitch. Mái tóc đen của anh sũng nước, xõa xuống mắt. Đôi mắt anh đỏ quạch và trông đau đớn. Anh thờ thẫn nhìn, chờ cho tia nước kế tiếp đi qua.
"Tôi biết. Nhưng có chuyện gì đâu để mà nói chứ. Tôi rất tiếc về bữa tiệc mà lẽ ra phải diễn ra lúc này, trong hôm nay. Chúng tôi chẳng còn muốn nấu nướng gì nữa cả."
"Anh lo chi chuyện đó. Tôi cũng đã mất khẩu vị rồi."
"Anh còn nhớ họ không?" Lamar hỏi, thổi nước ra từ môi.
"Tôi nhớ Kozinski, nhưng không nhớ Hodge."
"Marty Koziski là một trong những người bạn thân nhất của tôi. Đến từ Chicago. Anh ta gia nhập hãng trước tôi ba năm và đang là ứng viên kế tiếp cho vị trí đối tác. Một luật sư tuyệt vời, một người mà tất cả chúng tôi đều ngưỡng mộ và trông cậy. Có lẽ anh ta là nhà thương thuyết giỏi nhất của hãng. Rất tỉnh táo và lì lợm trước áp lực."
Lamar quệt chân mày rồi nhìn xuống sàn. Trong khi anh nói, nước
vẫn nhỏ giọt từ mũi anh và ảnh hưởng đến cả phát âm. "Ba đứa con. Hai bé gái sinh đôi của anh ta lớn hơn con trai tôi một tuổi, và chúng vẫn chơi đùa với nhau." Anh nhắm mắt lại, cắn môi rồi bật khóc.
Mitch muốn rời đi. Anh tránh nhìn người bạn. "Tôi thực sự rất tiếc, Lamar ạ. Rất tiếc."
Sau vài phút, tiếng khóc dừng lại, nhưng nước thì vẫn tiếp tục phun. Mitch nhìn thảm cỏ rộng, tìm kiếm một chiếc van khóa nước. Hai lần anh đã toan thu thập hết can đảm để hỏi xem liệu có thể khóa vòi phun hay không, và cả hai lần anh đều quyết định rằng nếu Lamar chịu được thì anh cũng chịu được. Có lẽ điều đó cũng có ích cho anh ta. Anh nhìn đồng hồ tay. Bóng đêm đã buông xuống được một tiếng rưỡi.
"Tai nạn là sao vậy?" Cuối cùng, Mitch hỏi.
"Chúng tôi cũng không biết nhiều. Họ đi lặn biển rồi xảy ra vụ nổ trên con tàu. Người đội trưởng kiêm hướng dẫn viên lặn cũng đã chết. Cậu ta là một người bản địa tại quần đảo đó. Nay họ đang tìm cách đưa các xác chết về."
"Vợ của họ đang ở đâu lúc đó?"
"Ở nhà, may mà đó là một chuyến đi công việc."
"Tôi không nhớ mặt Hodge."
"Joe là anh chàng cao lớn tóc vàng, rất kiệm lời. Loại người anh thường gặp nhưng không bao giờ nhớ. Anh ta cũng tốt nghiệp Harvard giống như anh vậy."
"Anh ta bao nhiêu tuổi?"
"Anh ta và Marty đều ba mươi bốn. Anh ta sẽ được phong làm đối tác ngay sau Marty. Họ thân nhau lắm. Tôi nghĩ tất cả chúng tôi rất gắn bó với nhau, đặc biệt là vào những lúc như thế này."
Với cả mười ngón tay, Lamar chải mái tóc ra sau. Anh đứng dậy, bước đến chỗ khô ráo. Nước nhỏ giọt từ chiếc áo sơ mi và ống quần anh. Anh dừng lại gần Mitch, thất thần nhìn những ngọn cây của ngôi nhà đối diện. "Chiếc BMW thế nào?"
"Rất tuyệt. Một chiếc xe đẹp. Cảm ơn anh đã giao nó lại."
"Anh đến vào lúc nào?"
"Sáng nay. Tôi đã chạy thử bốn trăm cây số."
"Cô trang trí nội thất đã thấy ló mặt chưa?"
"Rồi. Cô ta và Abby đã tiêu hết cả tiền lương năm tới của tôi."
"Thế thì tốt. Nhà đẹp đấy. Chúng tôi rất vui vì anh đến, Mitch ạ. Tôi chỉ tiếc về hoàn cảnh. Anh và cô ấy sẽ thích nơi đây thôi."
"Anh không cần phải xin lỗi đâu."
"Tôi vẫn không tài nào tin nổi chuyện đó. Tôi cứ ngây ra, cứ như tê liệt vậy. Tôi sởn cả gai ốc với ý nghĩ sẽ phải gặp vợ và các con của Marty. Tôi thà bị quất bằng roi bò còn hơn là đến đó."
Hai bà vợ xuất hiện, đi dọc hàng hiên lát gỗ xuống đến các bậc thang ra hồ bơi. Kay tìm ra khóa nước và chiếc vòi phun tắt ngúm.
Dưới ánh mặt trời đang lụi tàn, họ rời Chickasaw Gardens đi về hướng tây theo dòng xe đổ về khu thương mại. Họ cầm tay nhau nhưng nói năng rất ít. Mitch mở mui xe và quay các cửa sổ xuống.
Abby lục lọi trong chiếc hộp đựng băng nhạc và tìm được Springteen. Âm thanh nổi hoạt động tốt. Bản Hundred Heart thoát ra từ cửa sổ xe khi chiếc xe mui trần bóng lộn lao về phía con sông. Tiết hè nóng bức, nhớp nháp và ẩm thấp của Memphis ập xuống cùng màn đêm. Các sân bóng mềm như sống dậy khi các đội bóng của những gã béo mặc quần polyester bó và khoác áo phản quang màu lục nhạt bắt đầu kẻ đường vôi và chuẩn bị cho trận chiến. Những chiếc xe chở đầy ắp thiếu niên xúm xít quanh các cửa tiệm thức ăn nhanh để uống bia, tán gẫu và cưa cẩm người khác phái. Mitch bắt đầu cười. Anh cố quên Lamar, Kozinski và Hodge. Cớ sao anh phải buồn? Họ đâu phải là bạn của anh. Anh rất tiếc cho gia đình họ, nhưng thực sự anh không quen biết những người đó. Còn anh, Mitchell Y. McDeere, một gã nhóc nhà nghèo không gia đình, thì lại đang có nhiều điều để vui vẻ. Vợ đẹp, nhà mới, xe mới, công việc mới, bằng Harvard mới. Một bộ óc sáng láng bên trong một thân thể tráng kiện đã không hề tăng cân và chẳng cần phải ngủ nghê nhiều. Tám chục ngàn mỗi năm, tạm thời là như thế. Sau hai năm, anh sẽ có mức lương sáu con số, và tất cả những gì anh cần làm là cày cuốc chín mươi giờ mỗi tuần. Dễ như ăn bánh vậy.
Anh đưa xe vào một trạm xăng tự phục vụ và bơm năm mươi lít xăng. Anh vào trong thanh toán rồi mua một lô sáu chai bia Michelob. Abby khui hai chai rồi họ phóng ngược ra đường. Giờ thì anh đã cười to.
"Ta đi ăn đi," anh nói.
"Nhưng mình không ăn mặc tề chỉnh," cô nói.
Anh nhìn cặp đùi dài bánh mật của cô. Cô mặc một chiếc váy cotton trắng ngắn trên đầu gối, áo gài khuy cổ cũng bằng cotton trắng. Anh thì mặc quần lửng, mang giày xỏ, khoác chiếc áo polo đen đã bạc màu.
"Với cặp đùi như thế này, em có thể đưa hai ta vào bất cứ quán ăn nào ở New York."
"Quán Rendezvous có được không? Ở đó ăn mặc có vẻ thoải mái."
"Ý hay đấy."
Họ trả tiền đậu xe tại một lô ở khu thương mại rồi đi bộ qua hai dãy phố đến một lối đi hẹp. Mùi thịt nướng hòa trộn với không khí hè lơ lửng suốt dọc đường tựa như một màn sương. Mùi hương của nó thoang thoảng lọt qua mũi, qua miệng, qua mắt, gây ra một cảm giác cồn cao ở thẳm sâu trong bao tử. Khói tràn vào lối đi, từ những chiếc quạt gió chạy ngầm ra đến những chiếc lò khổng lồ, nơi những khúc sườn heo ngon nhất đang được nướng trong quán nướng ngon nhất tại một thành phố nổi tiếng với món thịt nướng tầm cỡ thế giới. Quán Rendezvous nằm ở nhà dưới, bên dưới lối đi và bên dưới một tòa nhà cổ gạch đỏ suýt bị phá hủy từ nhiều thập niên trước nếu như không có người chủ nhà nổi tiếng cư ngụ ở tầng hầm.
Luôn có một đám đông và một danh sách chờ, nhưng các ngày thứ Năm thường vắng khách hơn, có vẻ là như vậy. Họ được dẫn vào cái quán trông như một hang động ngổn ngang và ồn ào, rồi được đưa vào một chiếc bàn nhỏ trải khăn bàn kẻ ô đỏ. Có những
ánh mắt dọc lối đi. Luôn là những ánh mắt. Nam giới ngừng ăn, đực mặt ra, khúc sườn vẫn lơ lửng trên răng khi Abby McDeere lướt qua như một người mẫu trên sàn diễn. Cô đã từng gây đình trệ giao thông trên một vỉa hè ở Boston. Những tiếng huýt sáo đã trở thành chuyện thường tình, và chồng của cô đã quen thuộc với chúng. Anh rất hãnh diện về cô vợ đẹp của mình.
Một ông da đen cáu kỉnh khoác tạp dề đứng trước họ. "Gọi gì?" ông ta quát hỏi.
Tờ thực đơn chính là tấm lót trên bàn và nó hoàn toàn không cần thiết. Sườn, sườn, và chỉ sườn.
"Hai phần đầy đủ, một đĩa phô mai và một vại bia," Mitch quát ngược lại ông ta. Ông phục vụ không ghi gì cả mà chỉ quay đầu hét về hướng đi vào: "Hai đầy đủ, một phô mai, một vại!"
Đợi ông ta đi khỏi, Mitch chộp lấy đùi của cô dưới gầm bàn. Cô phát nhẹ vào tay anh.
"Em đẹp lắm," anh nói.
"Lần cuối anh khen em đẹp là khi nào vậy?"
"Mới cách đây hai giờ."
"Hai giờ! Anh khinh suất đến vậy sao?"
"Đừng để việc đó tái diễn lần nữa nhé."
Anh lại chộp đùi cô và xoa vuốt đầu gối. Cô để yên và nhoẻn một nụ cười quyến rũ, các lúm đồng tiền hiện lên hoàn hảo, những chiếc răng lấp lánh dưới ánh đèn mờ, cặp mắt nâu long lanh, mái tóc nâu duỗi thẳng xõa hoàn hảo vài phân dưới bờ vai.
Món bia đến và ông phục vụ lẳng lặng rót ra đầy hai ca. Abby nhấp một ngụm nhỏ và thôi cười.
"Anh nghĩ Lamar có ổn không?" cô hỏi.
"Anh không biết. Thoạt đầu anh cứ ngỡ anh ấy bị say xỉn. Ngồi nhìn anh ấy ướt sũng mà anh thấy mình cứ như một thằng ngốc vậy."
"Tội nghiệp anh ta quá. Kay nói tang lễ nhiều khả năng sẽ được cử hành vào thứ Hai nếu như họ đưa xác về kịp."
"Ta nói chuyện gì khác đi. Anh không thích tang lễ, bất cứ tang lễ nào, nhất là khi phải đi dự để tỏ ra tôn trọng mà chẳng hề quen biết gì với người đã khuất. Anh đã có vài trải nghiệm xấu với các tang lễ."
Món sườn đến. Họ được phục vụ bằng đĩa giấy với lá nhôm để quệt mỡ. Một đĩa nhỏ rau cải trộn và vài hạt đậu nướng xếp quanh mỗi khúc sườn dày cỡ ba phân, rưới một loại nước sốt bí ẩn. Họ vọc các ngón tay vào.
"Vậy anh muốn ta nói chuyện gì?" cô hỏi.
"Chuyện mang thai."
"Em nghĩ nên đợi thêm vài năm nữa."
"Đợi thì đợi. Nhưng anh nghĩ từ đây cho đến đó chúng ta phải siêng năng hành sự."
"Chúng ta đã hành sự tại tất cả các nhà nghỉ dọc đường giữa nơi đây và Boston rồi còn gì."
"Anh biết, nhưng trong nhà mới của mình thì chưa." Mitch xé các
khúc sườn, làm bắn nước sốt lên lông mày.
"Ta mới đến sáng nay thôi mà."
"Anh biết. Vậy ta còn chờ gì nữa?"
"Mitch, anh hành xử cứ như bị em bỏ lơ vậy."
"Thì đúng rồi, kể từ sáng hôm nay. Anh đề nghị ta hãy làm chuyện đó tối hôm nay, ngay khi về đến nhà, kiểu như để mừng nhà mới đó mà."
"Để xem đã."
"Em đến kỳ à? Coi nào, em có thấy cái gã bên kia chưa? Hắn đang sắp gãy cổ vì cứ mải lo nhìn đùi. Anh sẽ sang bên đó và phát vào mông của hắn."
"Đúng, em đến kỳ. Nhưng đừng lo mấy gã đó. Họ nhìn anh thì có. Chắc họ nghĩ anh xinh trai."
"Vui nhỉ."
Mitch xé các khúc sườn và ăn hết nửa phần của cô. Khi bia đã cạn, anh trả tiền rồi họ leo trở vào lối đi. Anh lái xe cẩn thận băng qua thành phố và tìm ra tên con đường mà anh đã nhận biết nhờ một trong rất nhiều chuyến đi trong ngày. Sau hai ngã rẽ sai, anh tìm được Meadowbrook, và rồi là ngôi nhà của ông bà Mirchell Y. McDeere.
Nệm lò xo đã được chất lên trên chiếc giường khủng, bao quanh bởi những chiếc thùng. Hearsay nấp cạnh chiếc đèn trên sàn nhà, quan sát họ hành sự.
Bốn ngày sau, vào cái dịp mà lẽ ra phải là ngày đầu tiên của anh
sau chiếc bàn làm việc mới, Mitch và cô vợ xinh đẹp của anh tụ tập cùng ba mươi chín thành viên còn lại của hãng và các bà vợ của họ, đến bày tỏ lần cuối sự tôn trọng đối với Martin S. Kozinski. Nhà thờ chật kín người. Oliver Lambert có bài điếu văn đầy cảm động khiến thậm chí Mitchell McDeere - người đã từng dự tang lễ anh trai - cũng phải nổi da gà. Đôi mắt của Abby ngấn lệ khi thấy bà quả phụ và những đứa con thơ.
Chiều hôm đó, họ gặp lại nhau ở nhà thờ của Giáo hội Trưởng Lão ở phía Đông Memphis để nói lời từ biệt Joseph M. Hodge.
5
Khi Mitch đến chính xác vào lúc tám giờ ba mươi, theo đúng lịch trình, hành lang nhỏ bên ngoài văn phòng của Royce McKnight vẫn còn trống lốc. Anh hắng giọng, ho khan, rồi bắt đầu lo lắng chờ. Từ sau hai chiếc tủ hồ sơ, một bà thư ký thâm niên tóc xanh xuất hiện và nhướn mắt nhìn anh. Thấy rõ mình không được chào đón, anh tự giới thiệu rồi trình bày rằng anh có cuộc hẹn với ông McKnight vào giấc đó. Bà mỉm cười, tự giới thiệu mình là Louise, thư ký riêng của ông McKnight đã ba mươi mốt năm nay. Cà phê nhé? Vâng, anh đáp, cà phê đen. Bà biến mất rồi quay lại với một chiếc tách và đĩa lót. Bà thông báo cho sếp qua nội đàm rồi mời Mitch ngồi xuống. Giờ thì bà đã nhận ra anh. Một trong các thư ký đã chỉ ra anh trong tang lễ hôm qua.
Bà xin lỗi vì bầu không khí u ám nơi đây. Chẳng ai muốn làm việc cả, bà giải thích, và chắc phải mất nhiều ngày nữa mọi thứ mới trở lại bình thường. Họ là những chàng trai tốt là thế. Chuông điện thoại reo và bà giải thích rằng ông McKnight đang dự một cuộc họp quan trọng và không thể phân tâm. Điện thoại lại reo, bà nghe điện rồi
đưa anh vào văn phòng của vị đối tác quản trị.
Oliver Lambert và Royce McKnight đón mừng Mitch rồi giới thiệu anh với hai đối tác khác, Victor Milligan và Avery Tolar. Họ ngồi quanh chiếc bàn họp nhỏ. Louise được phái đi lấy thêm cà phê. Milligan là người phụ trách bộ phận thuế, còn Tolar, bốn mươi mốt tuổi, là một trong những đối tác trẻ.
"Mitch này, chúng tôi xin lỗi vì sự khởi đầu buồn như thế," McKnight nói. "Chúng tôi rất cảm kích sự hiện diện của anh trong các lễ tang hôm qua, và chúng tôi lấy làm tiếc rằng ngày đầu tiên của anh với tư cách thành viên của hãng chúng ta lại là một ngày buồn đến vậy."
"Tại các buổi lễ tang, tôi cảm thấy mình giống như người một nhà." Mitch nói.
"Chúng tôi rất tự hào về anh, và chúng tôi đang có những kế hoạch tuyệt vời cho anh đấy. Chúng ta vừa mất hai trong số các luật sư giỏi nhất, cả hai đều chuyên về thuế, cho nên chúng tôi sẽ đòi hỏi nơi anh nhiều hơn. Tất cả chúng ta đều sẽ phải làm việc cực nhọc hơn đôi chút."
Louise đến, mang theo khay cà phê. Ấm cà phê bằng bạc, tách đĩa bằng sứ quý.
"Chúng tôi rất buồn," Oliver Lambert nói. "Cho nên hãy chia sẻ cùng chúng tôi."
Tất cả bọn họ đều gật đầu nghiêm nghị quanh bàn. Royce McKnight xem những ghi chép gì đó trên sổ tay.
"Mitch, tôi nghĩ chúng ta đã nói chuyện này rồi. Ở hãng này, chúng tôi phân công mỗi cộng sự làm việc với một đối tác, người sẽ đóng vai trò giám hộ và cố vấn. Mối quan hệ này rất quan trọng. Chúng tôi cố gắng ghép cộng sự với đối tác nào tương thích nhất để họ có thể làm việc mật thiết với nhau, và chúng tôi thường đúng. Chúng tôi cũng có phạm sai lầm khi ghép sai hay chi đó, nhưng một khi sai lầm diễn ra thì chúng tôi sẽ đơn giản điều phối lại. Avery Tolar sẽ là đối tác của anh."
Mitch lúng túng mỉm cười với đối tác mới của anh.
"Anh sẽ ở dưới sự chỉ đạo của ông ta. Và tất cả các vụ việc và hồ sơ mà anh đào xới sẽ là của ông ta. Hầu như tất cả đều liên quan đến thuế vụ."
"Được thôi."
"Phải nói ngay điều này kẻo lại quên, tôi muốn hai ta dùng bữa trưa hôm nay," Tolar nói.
"Chắc chắn rồi." Mitch nói.
"Hãy lấy chiếc limo của tôi," ông Lambert nói.
"Tôi đã định như thế," Tolar nói.
"Khi nào thì tôi mới có được chiếc limo?" Mitch hỏi. Họ bật cười và có vẻ rất thích thú vì sự giải tỏa.
"Chừng hai mươi năm nữa," Lambert nói.
"Tôi nóng lòng lắm rồi đây."
"Anh thấy chiếc BMW thế nào?" Victor Milligan hỏi.
"Tuyệt. Nó đã sẵn sàng để phục vụ tám ngàn cây số."
"Anh dọn vào nhà mới ổn cả chứ?"
"Vâng, mọi thứ đều ổn. Tôi rất cảm kích sự hỗ trợ của hãng trong mọi việc. Các ông khiến chúng tôi cảm thấy rất được chào đón. Vợ chồng tôi rất cảm kích."
McKnight thôi cười và quay trở lại với cuốn sổ ghi chép. "Như tôi đã nói với anh, Mitch, việc thi lấy chứng chỉ là ưu tiên hàng đầu. Anh có sáu tuần để học thi, và chúng tôi sẽ hỗ trợ anh bằng mọi cách. Chúng tôi có những lớp ôn thi riêng điều hành bởi chính các thành viên của chúng ta. Tất cả các môn thi đều sẽ được bao quát, và tiến bộ của anh sẽ được chúng tôi theo dõi sát sao, đặc biệt là Avery. Ít nhất phân nửa thời gian mỗi ngày và phần lớn thời gian rỗi rảnh của anh sẽ được dành cho việc ôn tập. Chưa từng có cộng sự nào của hãng bị trượt cuộc thi này."
"Tôi sẽ là người đầu tiên."
"Anh mà trượt thì chúng tôi lấy lại chiếc BMW đó," Tolar nhếch miệng cười.
"Thư ký của anh là một bà tên Nina Huff. Bà ta đã ở hãng trên tám năm. Kiểu người hơi thất thường, không dễ nhìn cho lắm, nhưng rất có năng lực. Bà ta hiểu biết rất nhiều về luật và có xu hướng thích khuyên bảo, nhất là với các luật sư trẻ. Anh muốn giữ bà ta hay không là tùy anh. Nếu anh thấy không hợp thì chúng tôi sẽ điều chuyển bà ta đi."
"Văn phòng của tôi ở đâu?"
"Tầng hai, đi hết hành lang là đến chỗ Avery. Cô trang trí nội thất sẽ có mặt ở đây chiều nay để chọn bàn và xem xét cách bài trí. Hãy làm theo lời khuyên của cô ta càng nhiều càng tốt."
Lamar cũng ở tầng hai, ý nghĩ đó khiến anh thấy an tâm. Mitch chợt nhớ đến cảnh anh ta ngồi bên hồ bơi, ướt sũng, thổn thức và ú ớ lầm bầm.
McKnight nói tiếp. "Mitch, e rằng tôi đã bỏ qua một điều mà lẽ ra chúng ta phải thảo luận trong cuộc viếng thăm lần đầu."
Anh chờ đợi, và cuối cùng lên tiếng, "Điều gì vậy?"
Hai đối tác nhìn anh chằm chặp. "Chúng tôi không bao giờ cho phép các cộng sự bắt đầu sự nghiệp của mình với gánh nặng tiền vay sinh viên. Chúng tôi muốn anh tìm ra những việc khác để lo và những cách khác để tiêu tiền. Anh mắc nợ bao nhiêu vậy?"
Mitch nhấp cà phê và tính toán thật nhanh. "Gần hai mươi ba ngàn."
"Điều đầu tiên trong sáng nay là hãy để lại các giấy tờ lên bàn làm việc của Louise."
"Ông..... Ơ... Ý ông là hãng sẽ trang trải khoản vay này?"
"Đó là chính sách của chúng tôi. Trừ khi anh phản đối."
"Không phản đối. Chỉ là tôi không biết phải nói sao."
"Anh chẳng cần phải nói gì cả. Từ suốt mười lăm năm qua chúng tôi đã làm việc đó cho tất cả mọi cộng sự. Anh chỉ việc đưa giấy tờ cho Louise."
"Như vậy là rất hào phóng, thưa ông McKnight."
"Đúng thế."
Avery Tolar cứ nói suốt khi chiếc limo chầm chậm lăn bánh giữa luồng giao thông trưa. Mitch khiến ông nhớ đến chính bản thân, ông nói vậy. Một cậu nhóc nghèo dưới một mái nhà tan vỡ, được nuôi ăn học bởi các gia đình bảo trợ ở suốt dọc miền tây nam Texas, rồi bị đẩy ra đường sau khi tốt nghiệp trung học. Ông từng làm ca đêm trong một nhà máy giày để trang trải học phí cho một trường cao đẳng cộng đồng. Một học bổng của đại học Texas và El Paso đã mở ra cánh cửa. Ông tốt nghiệp với bằng danh dự, đăng ký vào mười một trường luật rồi chọn trường Stanford. Ông ra trường ở vị trí thứ hai trong lớp và đã từ chối lời chào mời của tất cả các hãng lớn tại West Coast. Ông muốn công việc thuế, chỉ công việc thuế mà thôi. Oliver Lambert đã tuyển mộ ông cách đây mười sáu năm, khi mà hãng chỉ có chưa đến ba mươi luật sư.
Ông có vợ và hai con nhỏ, nhưng nói rất ít về gia đình. Ông chỉ nói về tiền bạc mà thôi. Niềm đam mê của ông, ông gọi nó là vậy. Một triệu đầu tiên của ông đã nhanh chóng nằm gọn trong ngân hàng. Hai năm sau đó là đến phiên triệu thứ hai. Chẳng mấy chốc, ông sẽ đạt tổng giá trị thu nhập bốn trăm ngàn mỗi năm. Lĩnh vực chuyên môn của ông là hình thành các mối hợp tác để mua lại các tàu dầu siêu khủng. Ông là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực này và làm việc với mức phí ba trăm đô mỗi giờ, sáu mươi ngàn, đôi khi là bảy mươi ngàn mỗi tuần.
Mitch sẽ khởi đầu với mức một trăm đô mỗi giờ, ít nhất năm giờ mỗi ngày cho đến khi anh vượt qua kỳ thi và có chứng chỉ. Có thể kỳ
vọng tám giờ mỗi ngày, với mức một trăm năm mươi mỗi giờ. Ghi hóa đơn là mạch máu sống của hãng. Tất cả mọi thứ đều xoay quanh nó. Thăng tiến, nâng lương, tiền thưởng, tồn vong, thành đạt, tất cả đều xoay quanh việc ghi hóa đơn tốt hay không. Nhất là với những tân binh. Con đường nhanh nhất để đi đến sự khiển trách là xem thường thành tích ghi hóa đơn hàng ngày. Avery không nhớ đã có sự khiển trách nào như thế. Đơn giản là ông chưa từng nghe nói có thành viên nào của hãng lơ là với việc ghi hóa đơn.
Mức bình quân của cộng sự là một trăm bảy mươi lăm mỗi giờ. Với đối tác thì là ba trăm. Milligan đạt đến bốn trăm mỗi giờ từ một số thân chủ của ông ta, còn Nathan Locke từng đạt đến năm trăm mỗi giờ cho một công việc về thuế bao gồm việc đổi chác tài sản tại nhiều quốc gia hải ngoại. Năm trăm đô mỗi giờ! Avery có vẻ khoan khoái với ý nghĩ đó. Năm trăm đô mỗi giờ nhân lên với năm mươi giờ mỗi tuần và năm mươi tuần mỗi năm. Một triệu hai trăm năm mươi ngàn mỗi năm! Đó là cách người ta kiếm tiền trong lĩnh vực làm ăn này. Gom một đám luật sư làm việc theo giờ rồi xây lên cả một triều đại. Càng có nhiều luật sư, các đối tác sẽ càng kiếm ra tiền.
Đừng lơ là việc ghi hóa đơn, ông cảnh báo. Đó là luật sinh tồn đầu tiên. Nếu không có hồ sơ nào để ghi hóa đơn thì hãy lập tức báo cáo lên văn phòng của ông. Ông thì có thừa mứa. Vào ngày thứ mười mỗi tháng, các đối tác sẽ đánh giá việc ghi hóa đơn của tháng trước trong một bữa tiệc trưa đặc biệt. Đó là một nghi thức lớn. Royce McKnight đọc tên từng luật sư, rồi tổng số tiền ghi hóa đơn
hàng tháng của anh ta. Cạnh tranh giữa các đối tác là rất lớn, nhưng là với tinh thần tốt. Họ đang giàu có lên, đúng không? Việc cạnh tranh đó rất tạo động lực. Về phần các cộng sự thì chẳng ai đả động gì đến những người thành tích kém trừ phi đó là thành tích trong ba tháng liên tiếp. Cộng sự có thể được thưởng nhờ ghi hóa đơn cao ngất ngưởng. Quan hệ hợp tác dựa trên thành tích ghi nhận được trong việc tạo phí. Cho nên đừng có lơ là nó, ông cảnh báo lần nữa. Nó cần phải được ưu tiên sau kỳ thi lấy chứng chỉ, dĩ nhiên rồi.
Cuộc thi này là một sự phiền toái, một thử thách phải chịu đựng, một nghi thức phải thông qua, và chẳng gì có thể khiến một người tốt nghiệp Harvard phải lo lắng cả. Chỉ cần tập trung ôn lại các khóa học, cố nhớ lại mọi thứ vừa học xong ở trường luật.
Chiếc limo lăn bánh vào con đường hông giữa hai tòa nhà cao tầng rồi dừng lại trước một mái vòm nhỏ phủ từ lề đường đến một cánh cửa kim loại màu đen. Avery nhìn đồng hồ rồi nói với tài xế. "Quay lại đón lúc hai giờ." Hai giờ cho bữa ăn trưa, Mitch nghĩ. Là hơn sáu trăm đô tiền ghi hóa đơn thời gian đó! Quá lãng phí!
Câu lạc bộ Manhattan chiếm tầng trên cùng của tòa nhà văn phòng mười tầng xây vào đầu thập niên năm mươi. Avery chê kiến trúc của nó là tủn mủn, nhưng nhanh chóng chữa lại rằng câu lạc bộ là nơi ăn trưa và ăn tối độc đáo nhất thành phố. Ông đãi món ăn ngon nhất trong một môi trường da trắng, toàn những người đàn ông giàu có và sang trọng. Những bữa trưa uy lực dành cho những con người uy lực. Chủ nhà băng, luật sư, các nhà điều hành, các doanh nhân, một số chính trị gia và một số nhà quyền quý. Một
thang máy dát vàng chạy liên tục qua những văn phòng trống rỗng rồi dừng lại ở tầng mười thanh lịch. Người quản lý gọi ông bằng tên tục và thăm hỏi những người bạn của ông, Oliver Lambert và Nathan Locke. Ông ta bày tỏ sự tiếc thương đối với ông Kozinski và ông Hodge. Avery cảm ơn ông rồi giới thiệu thành viên mới nhất của hãng. Chiếc bàn ưa thích đã chờ sẵn ở góc. Một anh chàng da đen phong nhã có tên là Ellis đến trao cho họ sổ thực đơn.
"Hãng không cho phép rượu bia vào bữa trưa," Avery nói trong khi mở cuốn sổ.
"Tôi không uống rượu bia vào bữa trưa."
"Thế thì tốt. Vậy anh uống gì nào?"
"Trà. Trà đá."
"Trà đá cho ông ta," Avery nói với người phục vụ. "Cho tôi một Martiny Bombay với đá viên và ba trái ô liu."
Mitch cắn lưỡi, cười toe phía sau cuốn thực đơn.
"Chúng ta đã có quá nhiều luật lệ rồi," Avery lầm bầm.
Ly Martini đầu tiên dẫn đến ly thứ hai, nhưng Avery dừng sau hai ly. Ông gọi món cho cả hai, cá nướng hay gì đó. Món đặc biệt trong ngày. Ông theo dõi số cân nặng rất kỹ, ông bảo thế. Ông còn tập tành hàng ngày tại một câu lạc bộ sức khỏe nữa, câu lạc bộ của chính ông. Ông mời Mitch đến đó để vã mồ hôi cùng ông. Có lẽ để sau cuộc thi đã. Ông nêu những câu hỏi thông thường về bóng bầu dục ở đại học và những trở ngại thường gặp để đi đến sự vĩ đại.
Mitch hỏi thăm các con của ông. Ông nói chúng ở cùng với mẹ.
Món cá chỉ toàn xương còn món khoai tây nướng thì lại sượng. Mitch lựa thức ăn trong đĩa của anh, từ tốn ăn món salad và lắng nghe vị đối tác nói về phần đông những người đang có mặt tại bữa trưa. Ông thị trưởng ngồi ở chiếc bàn lớn với mấy người Nhật Bản. Một trong những chủ ngân hàng của hãng ngồi ở bàn bên cạnh. Còn có vài vị đại luật sư và người của các đại công ty, tất cả đều hùng hục ăn, vừa khệnh khạng vừa uy nghi. Bầu không khí khá ngột ngạt. Theo lời Avery, mọi thành viên câu lạc bộ đều là những nhân vật cuốn hút và quyền uy, cả trong lĩnh vực của họ lẫn trong thành phố. Avery đang ở nhà của ông ta.
Cả hai từ chối món tráng miệng và gọi cà phê. Mitch được kỳ vọng có mặt tại văn phòng vào lúc chín giờ mỗi sáng. Avery trình bày khi châm điếu Montesino. Các thư ký sẽ đến trước vào lúc tám giờ ba mươi. Giờ làm việc là từ chín giờ sáng đến năm giờ chiều, nhưng chẳng ai làm việc tám giờ mỗi ngày cả. Cá nhân ông thì đến văn phòng từ tám giờ và hiếm khi rời khỏi đó trước sáu giờ. Ông có thể ghi hóa đơn mười hai giờ mỗi ngày, tất cả mọi ngày, bất kể ông thực sự làm việc bao nhiêu giờ. Mười hai giờ mỗi ngày, năm ngày mỗi tuần, với giá ba trăm một giờ trong vòng năm mươi tuần. Chín trăm ngàn đô la! Theo thời gian ghi hóa đơn! Đó là mục tiêu của ông. Năm ngoái, ông đã ghi hóa đơn bảy trăm ngàn, nhưng đó là do ông có vài vấn đề cá nhân. Hãng không quan tâm nếu Mitch đến vào lúc sáu giờ sáng hay lúc chín giờ sáng, miễn là công việc hoàn thành.
"Các văn phòng mở cửa vào lúc mấy giờ?" Mitch hỏi.
Mọi người đều có chìa khóa, Avery giải thích, cho nên anh muốn đến muốn đi lúc nào thì tùy. An ninh rất nghiêm ngặt, nhưng các bảo vệ đã quá quen với những người nghiện việc. Một vài thói quen làm việc đã trở thành huyền thoại. Trong những ngày trẻ tuổi, Victor Milligan đã làm việc mười sáu tiếng mỗi ngày, bảy ngày mỗi tuần, cho đến khi ông ta trở thành đối tác. Rồi ông ta nghỉ làm vào các ngày Chủ nhật. Nhưng ông ta lại bị nhồi máu cơ tim, đành phải buông cả những ngày thứ Bảy. Bác sĩ của ông ta chỉ cho phép làm việc mười giờ mỗi ngày, năm ngày mỗi tuần, và từ đó đến nay ông ta vẫn còn hậm hực. Marty Kozinski thuộc tên tất cả các nhân viên vệ sinh. Anh ta là một trong những người làm việc lúc chín giờ và muốn dùng điểm tâm với lũ nhóc. Anh ta thường đến lúc chín giờ và ra về lúc nửa đêm. Nathan Locke thường than phiền rằng ông ta không thể nào làm việc tốt sau khi các cô thư ký đến, cho nên ông ta đến chỗ làm từ lúc sáu giờ. Sẽ là nhục nhã nếu bắt đầu muộn hơn thế. Ấy là một người đàn ông sáu mươi mốt tuổi, trị giá đến mười triệu, làm việc từ sáu giờ sáng cho đến tám giờ tối, năm ngày mỗi tuần, rồi thêm nửa ngày nữa vào thứ Bảy. Nếu nghỉ hưu thì ông ta chết mất thôi.
Không ai canh giờ giấc đi làm cả, vị đối tác giải thích. Muốn đến muốn đi lúc nào thì tùy, miễn là xong công việc. Mitch nói anh đã hiểu thông điệp. Mười sáu giờ mỗi ngày sẽ chẳng còn là điều gì mới mẻ.
Avery khen bộ vest mới của anh. Hãng có một quy định trang phục bất thành văn, và có vẻ như Mitch đã nắm bắt được nó. Ông
có biết một thợ may, một ông lão người Triều Tiên sống ở phía nam Memphis, và ông khuyên Mitch nên may đồ ở đó khi nào anh dư giả. Một ngàn năm trăm mỗi bộ vest. Mitch nói chắc anh phải chờ thêm vài năm nữa.
Một luật sư từ một hãng lớn hơn xen ngang vào và bắt đầu trò chuyện với Avery. Ông ta bày tỏ sự tiếc thương và hỏi thăm các gia đình. Năm ngoái ông ta và Joe Hodge đã làm việc cùng nhau trong một vụ việc, và ông ta không thể nào tin nổi một chuyện như vậy. Avery giới thiệu ông ta với Mitch. Ông ta đã có mặt tại lễ tang, ông ta bảo vậy. Họ chờ cho ông ta đi khỏi, nhưng ông ta cứ huyên thuyên về việc mình tiếc thương như thế nào. Rõ ràng là ông ta muốn biết chi tiết. Avery không hé lộ điều gì cả, và cuối cùng ông ta cũng đành phải ra đi.
Lúc hai giờ, bữa trưa uy lực nhạt dần và đám đông đã thưa đi. Avery ký tấm séc, và người quản lý tiễn họ ra cửa. Người tài xế kiên nhẫn đứng sau chiếc limo. Mitch leo vào băng sau, ngả sâu vào chiếc ghế da êm ả. Anh ngắm nghía các tòa nhà và khung cảnh giao thông. Anh nhìn những khách bộ hành đang hối hả bước đi trên vỉa hè và tự hỏi có bao nhiều người trong số họ từng được vào chiếc limo hay đặt được chân vào Câu lạc bộ Manhattan. Bao nhiều người trong số họ sẽ trở nên giàu có sau mười năm nữa? Anh mỉm cười và cảm thấy dễ chịu. Harvard ở cách xa triệu dặm, một Havard đã sạch tín dụng cho sinh viên. Kentucky đã thuộc về một thế giới khác. Quá khứ của anh đã đi vào dĩ vãng. Anh đã là người thành đạt.
Nhà trang trí nội thất đang chờ ở văn phòng của anh. Avery xin
cáo lui sau khi yêu cầu Mitch đến văn phòng của ông sau một giờ nữa để bắt đầu công việc. Cô ta mang theo những tập sách chứa đầy ảnh nội thất văn phòng và các loại mẫu mã. Anh yêu cầu cô đưa ra gợi ý, lắng nghe với tất cả sự chăm chú, rồi nói rằng anh tin vào phán xét của cô và cô có thể chọn bất cứ thứ gì mà cô thấy phù hợp. Cô thích bàn làm việc phải cứng cáp, làm bằng gỗ anh đào, không ngăn kéo; các ghế xoay phải được bọc da màu vang đỏ; và phải có một tấm thảm phương đông loại đắt tiền. Mitch nói lựa chọn đó là "vi diệu".
Cô ta ra về và anh ngồi vào chiếc bàn làm việc cũ. Nó trông khá ổn và có vẻ cũng phù hợp với anh, chỉ có điều nó bị xem là hàng dùng rồi và vì vậy không đủ tốt cho một luật sư mới của Bending, Lambert & Locke. Văn phòng rộng bốn mét rưỡi nhân bốn mét rưỡi, với hai cửa sổ một mét tám hướng ra bắc, nhìn trực tiếp vào tầng hai của tòa nhà cũ ở đối diện. Cảnh quan chẳng có gì là ghê gớm. Nếu rướn người, anh có thể nhìn ra được một đoạn của con sông ở phía tây bắc. Các bức tường được lát tấm thạch cao Sheetrock hay để trần. Cô ta đã chọn ra vài món đồ mỹ thuật. Anh quyết định rằng bức tường Kỷ Vật phải đối diện với bàn làm việc, phía sau các ghế xoay. Các tấm bằng phải được treo lên tường và đóng khung. Văn phòng khá rộng đối với một cộng sự, rộng hơn nhiều so với những cái ổ tù túng mà các tân binh tại New York hay Chicago bị nhồi nhét vào. Nó sẽ ổn trong vài năm nữa. Rồi sẽ đến một căn với cảnh quan đẹp hơn. Và tiếp nữa là một văn phòng ở góc, một trong số những văn phòng quyền lực.
Bà Nina Ross gõ cửa rồi tự giới thiệu mình là thư ký. Đó là một người phụ nữ đẫy đà ở tuổi bốn mươi lăm, và chỉ cần liếc qua thôi cũng dễ dàng hiểu được vì sao bà vẫn còn độc thân. Không phải lo cho gia đình nên, hiển nhiên, bà tiêu tiền vào quần áo và trang điểm – tất cả đều không mấy tác dụng. Mitch tự hỏi cớ sao bà không đầu tư cho một nhà tư vấn về thể hình. Để dằn mặt, bà thông báo cho anh rằng bà đã làm ở hãng từ tám năm rưỡi nay và bà biết tất cả những gì cần biết về quy trình văn phòng. Nếu anh có câu hỏi nào thì cứ việc hỏi bà. Anh cảm ơn bà về điều này. Bà từng ở trong tổ đánh máy và rất mừng được trở lại với phận sự của thư ký tổng hợp. Anh gật đầu như thể đã hiểu tất. Bà hỏi anh có biết vận hành thiết bị đọc ghi hay không. Biết, anh nói. Thật vậy, năm ngoái anh có làm việc cho một hãng ba trăm nhân viên ở Wall Street và hãng này có sở hữu một công nghệ văn phòng thuộc hàng tối tân nhất. Nhưng nếu có vấn đề gì thì anh sẽ hỏi bà, anh hứa vậy.
"Tên vợ ông là gì?" bà hỏi.
"Vì sao chuyện đó lại quan trọng?" anh hỏi lại.
"Vì nếu bà ấy gọi tới thì tôi đã biết sẵn tên, nhờ đó sẽ hết sức ngọt ngào và thân thiện với bà ấy qua điện thoại."
"Abby."
"Ông thích uống cà phê như thế nào?"
"Đen, nhưng tôi sẽ tự pha."
"Tôi không ngại pha cà phê cho ông đâu. Đó là một phần của công việc."
"Để tôi tự pha."
"Tất cả các thư ký đều làm việc đó."
"Bà mà đụng đến cà phê của tôi, tôi sẽ gửi trả bà về phòng văn thư để bà ngồi đó mà liếm tem."
"Chúng tôi có máy liếm tem tự động. Ở Wall Street họ có máy liếm tem không vậy?"
"Đó chỉ là một lời ẩn dụ thôi."
"Tốt lắm, tôi đã ghi nhớ tên của vợ ông và chúng ta đã giải quyết xong vấn đề cà phê, do đó tôi nghĩ mình đã sẵn sàng để bắt đầu."
"Buổi sáng, hãy đến vào lúc tám giờ rưỡi."
"Vâng, sếp." Bà ra về và Mitch mỉm cười một mình. Bà ta quả là một con mụ ranh mãnh, nhưng có bà ta thì cũng vui ra phết.
Lamar là người kế tiếp. Anh đã trễ cuộc họp với Nathan Locke nhưng vẫn muốn tạt qua để xem người bạn của anh như thế nào. Anh hài lòng với việc văn phòng của họ ở sát nhau và cáo lỗi một lần nữa về bữa tối hôm thứ Năm vừa qua. Vâng, anh và Kay sẽ cùng lũ nhỏ có mặt vào lúc bảy giờ để thăm ngôi nhà mới và đồ đạc mới.
Hunter Quin lên năm. Chị Holly của nó lên bảy. Cả hai ăn spaghetti và cư xử hoàn hảo bên chiếc bàn ăn mới coóng. Chúng ngoan ngoãn phớt lờ những câu chuyện của người lớn. Abby ngắm hai đứa và mơ đến những em bé. Mitch nghĩ chúng dễ thương nhưng lại không có cảm hứng gì cả. Anh đang mải thuật lại những sự kiện trong ngày. Cánh phụ nữ ăn nhanh rồi bỏ đi ngắm bàn tủ và trao đổi về công việc tân trang. Lũ nhỏ thì lôi Hearsay ra sân sau.
"Tôi hơi ngạc nhiên khi họ ghép anh với Tolar." Lamar nói sau khi chùi miệng.
"Sao vậy?"
"Tôi không nghĩ ông ta là người giám hộ tốt đối với một cộng sự."
"Có lý do đặc biệt nào không?"
"Không hẳn. Ông ta là một người tuyệt vời, nhưng để làm đồng đội thì khó đấy. Kiểu như một con sói đơn độc ấy mà. Ông ta thích làm việc một mình."
Mitch đẩy chiếc đĩa sang bên rồi nhấp trà đá. "Ông ta có phải là luật sư giỏi không?"
"Giỏi, giỏi chứ. Làm được đến đối tác thì hẳn là phải giỏi rồi. Nhiều thân chủ của ông ta là những người giàu có với hàng triệu đô bỏ vào các nơi núp thuế. Ông ta lập ra nhiều mối quan hệ đối tác hạn chế. Nhiều nơi núp thuế là rất rủi ro, và ông ta nổi tiếng với việc sẵn sàng chớp cơ hội rồi sau đó mới chiến với IRS. Hầu hết các thân chủ đều là những tay chơi lớn bạt mạng. Anh sẽ phải làm rất nhiều nghiên cứu để tìm cách bẻ cong các luật lệ về thuế. Sẽ vui lắm đấy."
"Ông ta đã dành cả nửa bữa trưa để thuyết giảng về việc ghi hóa đơn."
"Đó là một chuyện sống còn. Luôn luôn có những áp lực phải ghi hóa đơn càng nhiều càng tốt. Tất cả những gì chúng ta có thể bán là thời gian. Một khi vượt qua cuộc thi lấy chứng chỉ, anh sẽ bị giám sát hàng tuần bởi Tolar và Royce McKnight. Tất cả đều được nhập vào máy tính và họ có thể liệt kê ra từng đồng xu để đánh giá anh
hiệu quả như thế nào. Anh sẽ được kỳ vọng ghi hóa đơn từ ba mươi đến bốn mươi giờ mỗi tuần trong sáu tháng đầu tiên, rồi lên đến năm mươi giờ sau vài năm nữa. Trước khi họ phong anh làm đối tác, anh sẽ phải đạt đến sáu mươi giờ mỗi tuần một cách bền vững trong vài năm. Hiện không có hóa đơn nào của đối tác ít hơn sáu mươi giờ mỗi tuần cả - hầu hết đều ở mức tối đa."
"Thế là nhiều giờ lắm nhỉ?"
"Có vẻ vậy, nhưng đó chỉ là một trò lừa. Hầu hết luật sư giỏi làm việc tám hoặc chín giờ mỗi ngày nhưng lại ghi hóa đơn thành mười hai. Chiêu này gọi là 'đệm'. Nó không công bằng lắm cho thân chủ, nhưng nó là một chiêu mà mọi người ai cũng dùng. Các hãng lớn được xây lên từ việc đệm hồ sơ. Đó là mục đích tối thượng."
"Nghe có vẻ phi đạo đức nhỉ?"
"Các luật sư săn thân chủ thì cũng thế thôi. Khi một luật sư về ma túy thu phí bằng tiền mặt và có lý do để tin đó là tiền bẩn thì ấy là phi đạo đức. Có nhiều thứ phi đạo đức lắm. Một ông bác sĩ tiếp hàng trăm bệnh nhân Medicare mỗi ngày thì sao? Hay một ông bác sĩ thực hiện một ca phẫu thuật không cần thiết? Một số kẻ phi đạo đức nhất mà tôi từng gặp lại chính là những thân chủ của tôi. Rất dễ để anh xuôi theo khi thân chủ của anh là một trọc phú muốn qua mặt chính quyền và muốn anh làm chuyện đó một cách hợp pháp. Tất cả chúng ta đều làm thế cả."
"Họ có dạy điều đó không?"
"Không. Anh sẽ học được nó bằng cách nào đó. Anh sẽ bắt đầu
cuộc sống mới với những giờ lê thê và điên cuồng, nhưng anh không thể cứ làm như thế mãi. Anh sẽ bắt đầu đi tắt. Tin tôi đi, Mitch, sau khi ở với chúng tôi được một năm anh sẽ biết bằng cách nào anh làm việc mười giờ mà lại viết hóa đơn gấp đôi con số đó. Đó là một kiểu giác quan thứ sáu mà các luật sư sẽ học được."
"Họ còn học được điều gì khác nữa không?"
Lamar lắc các viên đá rồi nghĩ ngợi một lúc. "Ít nhiều là nỗi bất mãn. Công việc này sẽ tác động lên anh. Hồi học ở trường luật, anh có những ý nghĩ cao thượng về công việc luật sư. Người hùng của nhân quyền, người bảo vệ hiến pháp, người bảo vệ những kẻ bị áp bực, người bênh vực các nguyên tắc của thân chủ. Rồi sau khi hành nghề được sáu tháng, anh bắt đầu nhận ra chúng ta chẳng qua cũng chỉ là những tay giết mướn, những kẻ bán mình cho người nào trả giá cao nhất, những kẻ đại diện cho bất cứ ai, mọi tên lừa đảo, mọi kẻ xấu xa có thừa mứa tiền bạc để chi cho những khoản phí cao ngất của chúng ta. Không còn gì khiến anh cảm thấy sốc nữa. Đây được cho là một nghề đáng kính, nhưng anh sẽ gặp nhiều luật sư lừa đảo đến mức anh chỉ muốn rời bỏ và tìm một nghề nào khác lương thiện hơn. Mitch à, anh sẽ trở nên bất mãn. Và điều đó thật đáng buồn, thật đấy."
"Anh không nên nói với tôi điều đó vào giai đoạn sự nghiệp này của tôi."
"Tiền bạc sẽ bù đắp. Thật đáng kinh ngạc trước bấy nhiêu nô dịch mà người ta có thể chịu đựng để đạt đến mức hai trăm ngàn mỗi
năm."
"Nô dịch? Anh quá lời rồi."
"Tôi xin lỗi. Nó không tệ đến mức đó. Cách nhìn đời của tôi đã thay đổi tận gốc rễ từ thứ Năm vừa rồi."
"Anh có muốn đi xem nhà không? Nó tuyệt diệu thật đấy."
"Để lúc khác đi. Hôm nay ta sẽ chỉ chuyện trò thôi."
6
Lúc năm giờ sáng, đồng hồ báo thức rền vang trên chiếc bàn đầu giường, phía dưới chiếc đèn mới, và nó đã lập tức bị làm cho câm nín. Mitch dọ dẫm bước đi trong ngôi nhà tối và thấy Hearsay đang chờ sẵn ở cửa sau. Anh thả nó ra sân sau rồi đi tắm. Hai mươi phút sau, anh tìm đến cô vợ dưới tấm chăn và hôn tạm biệt cô. Cô không có phản ứng gì.
Không phải đánh vật với nạn kẹt xe, văn phòng chỉ ở cách chưa đầy mười phút. Anh quyết định ngày làm việc của anh sẽ bắt đầu vào lúc năm giờ ba mươi cho đến khi nào có ai đó vượt qua thành tích này. Đến lúc đó anh sẽ đến từ lúc năm giờ, hay bốn giờ ba mươi, hay bất cứ giờ nào để là người đến đầu. Ngủ là một sự phiền toái. Anh sẽ là luật sư đầu tiên đến tòa nhà Bendini trong ngày hôm đó và trong tất cả mọi ngày cho đến khi được trở thành đối tác. Nếu những người khác mất mười năm thì anh sẽ chỉ mất bảy. Anh sẽ trở thành đối tác trẻ nhất trong lịch sử của hãng, anh quyết định như thế.
Bãi đậu trống vắng cạnh tòa nhà Bendini được bao quanh bằng
một hàng rào lưới cao ba mét với một người bảo vệ gác ở cổng. Sẽ có một chỗ đậu trong bãi, nơi tên anh được xịt sơn giữa hai đường kẻ vàng. Anh dừng xe ở gần cổng và chờ. Ông bảo vệ mặc đồng phục xuất hiện từ bóng tối và tiến đến cửa xe trước. Mitch nhấn nút, hạ thấp cửa sổ rồi chìa ra tấm thẻ nhựa có ảnh của anh.
"Anh là người mới hả," ông bảo vệ hỏi khi trao lại tấm thẻ.
"Vâng. Mitch McDeere."
"Tôi đã đọc thấy trên thẻ. Lẽ ra tôi nhìn xe là phải biết rồi."
"Tên ông là gì?" Mitch hỏi.
"Dutch Hendrix. Làm việc ở Sở cảnh sát Memphis đã ba mươi ba năm."
"Rất vui được gặp ông, Dutch."
"Vâng, tôi cũng rất vui. Anh bắt đầu sớm nhỉ?"
Mitch mỉm cười rồi cầm lấy tấm thẻ ID. "Ủa, tôi tưởng mọi người đã đến rồi chứ."
Dutch gượng cười. "Anh là người đầu tiên. Một lát nữa sẽ đến phiên ông Locke."
Cánh cổng mở ra và Dutch ra hiệu cho anh vào. Anh tìm thấy tên mình được sơn trắng trên nhựa đường. Anh đậu chiếc BMW bóng lộn vào hàng thứ ba tính từ tòa nhà. Anh với ra băng sau để lấy chiếc cặp da lươn rỗng màu rượu vang rồi nhẹ nhàng sập cửa lại. Một người bảo vệ khác đứng chờ ở lối vào phía sau nhà. Mitch tự giới thiệu rồi nhìn ông ta mở khóa cửa. Anh nhìn đồng hồ. Đúng năm giờ ba mươi. Anh cảm thấy nhẹ nhõm vì giờ này là đủ sớm.
Những người còn lại của hãng vẫn còn đang say ngủ.
Anh bật đèn văn phòng của mình, đặt cặp da lên chiếc bàn tạm rồi đi thẳng đến phòng cà phê ở cuối hành lang, đi đến đâu thì bật đèn đến đó. Máy cà phê có quy chuẩn công nghiệp với nhiều chế độ khác nhau - đun nhiều lần, pha nhiều ấm - và hình như chẳng có hướng dẫn sử dụng nào cho tất cả các chế độ đó. Anh nghiên cứu cỗ máy một hồi lâu sau khi trút bịch cà phê vào bộ lọc. Anh rót nước qua một trong những lỗ ở đỉnh và mỉm cười khi nó bắt đầu nhỏ giọt đúng vị trí.
Ở một góc văn phòng của anh có ba thùng các tông chứa đầy sách, tài liệu và vở ghi bài giảng mà anh đã tích lũy từ ba năm trước. Anh bưng chiếc thùng đầu đặt lên bàn rồi bắt đầu dỡ đồ bên trong ra. Những tài liệu được anh phân loại và sắp xếp quanh bàn thành từng chồng ngay ngắn.
Sau hai tách cà phê, anh tìm ra các tài liệu về án luật trong chiếc thùng thứ ba. Anh bước đến cửa sổ và mở rèm. Trời vẫn còn tối. Anh không để ý đến cái hình hài vừa hiện ra ở ngưỡng cửa.
"Chào anh!"
Mitch quay phắt khỏi cửa sổ và gắt lên với người đàn ông. "Ông làm tôi hết hồn," anh nói rồi hít một hơi sâu.
"Tôi xin lỗi. Tôi là Nathan Locke. Hình như chúng ta chưa gặp nhau."
"Tôi là Mitch McDeere. Người mới."
Họ bắt tay nhau.
"Vâng, tôi biết. Tôi xin lỗi vì không gặp anh sớm hơn. Trong những lần viếng thăm trước của anh thì tôi lại mắc bận. Hình như tôi đã thấy anh tại các lễ tang hôm thứ Hai."
Mitch gật đầu, biết chắc mình chưa từng ở gần Nathan Locke trong phạm vi một trăm mét. Nếu đã từng thì hẳn anh đã nhớ. Đó là do cặp mắt, cặp mắt đen sắc lạnh với những vết nhăn đen bọc xung quanh. Một cặp mắt lớn. Một cặp mắt không thể quên. Tóc của ông bạc trắng, thưa lại ở đỉnh đầu và lùm xùm ở quanh tai, và màu trắng đó tương phản rõ rệt với những phần còn lại trên khuôn mặt ông. Khi nói, mắt ông nheo lại và những đồng tử đen rực lên dữ dội. Một cặp mắt nham hiểm. Một cặp mắt biết tất.
"Có lẽ vậy," Mitch nói, bị hớp hồn bởi khuôn mặt độc ác nhất mà anh từng đối diện.
"Tôi thấy anh là một người dậy sớm."
"Vâng, thưa ông."
"Thế nhé! Thật tốt khi có được anh."
Natham Locke lui khỏi ngưỡng cửa rồi biến mất. Mitch kiểm tra hành lang bên ngoài rồi khép cửa lại. Thảo nào họ tống ông ta lên tầng bốn, ở cách xa mọi người, anh nghĩ. Giờ thì anh đã hiểu vì sao anh chưa gặp Nathan Locke trước khi ký kết. Nếu gặp ông ta, anh có thể sẽ nghĩ lại. Có lẽ họ luôn giấu ông ta trước mọi ứng viên triển vọng. Không nghi ngờ gì nữa, ông ta là một sự hiện diện xúi quẩy nhất, ác hiểm nhất mà Mitch từng cảm nhận. Đó là do cặp mắt, một lần nữa anh tự nhủ khi gác chân lên bàn, nhấp cà phê. Do cặp mắt.
Như Mitch kỳ vọng, Nina đem thức ăn đến khi bà báo có mặt vào lúc tám giờ rưỡi. Bà mời Mitch một bánh rán và anh đã ăn hai cái. Bà dò hỏi liệu bà có nên mang theo thêm thức ăn vào buổi sáng hay không. Mitch nói nếu mà được như thế thì quá tốt.
"Cái gì đây?" bà trỏ tay vào chồng hồ sơ và sổ sách trên bàn làm việc.
"Đó là dự án trong ngày của chúng ta. Chúng ta phải sắp xếp lại ngăn nắp những thứ này."
"Không đọc ghi à?"
"Chưa. Trong vài phút nữa tôi sẽ gặp Avery. Tôi cần sắp sếp đống hồ sơ này theo một trình tự nào đó."
"Hứng thú ghê," bà nói rồi đi một mạch đến phòng cà phê.
Avery Tolar đang chờ với một tập hồ sơ dày cui - có thể sẽ còn được mở rộng – mà ông trao cho Mitch. "Đây là hồ sơ vụ Capps. Một phần của nó. Tên của thân chủ chúng ta là Sonny Capps. Ông ta hiện sống ở Houston, nhưng lớn lên ở Arkansas. Ông ra có một tài sản giá trị khoảng ba mươi triệu và ôm chặt từng đồng xu. Ông ta được cha để lại một tuyến sà lan ngay trước khi chết, và đã chuyển nó thành một dịch vụ lai dắt lớn nhất trên sông Mississippi. Giờ thì ông ta đã có những con tàu trên khắp thế giới. Chúng ta phụ trách tám mươi phần trăm các vụ việc pháp lý của ông ta, tất cả ngoại trừ việc tranh tụng. Ông ta muốn lập một đối tác hữu hạn để mua thêm một hạm đội tàu dầu nữa từ gia đình của một lão Chink đã chết nào đó ở Hồng Kông. Thường thì Capps sẽ là chủ tịch hội đồng quản trị,
và ông ta sẽ đưa vào càng nhiều càng tốt những đối tác hữu hạn hai mươi lăm phần để chia sẻ rủi ro và vận dụng các nguồn lực của họ. Giao kèo này có giá trị sáu mươi lăm triệu. Tôi đã tạo cho ông ta nhiều đối tác hữu hạn và tất cả bọn họ đều khác nhau, tất cả đều phức tạp. Thỏa thuận với ông ta là cực kỳ khó. Ông ta là một người cầu toàn, lúc nào cũng nghĩ mình biết nhiều hơn cả tôi. Anh không nói chuyện được với ông ta đâu. Thật ra, chẳng ai nói chuyện được với ông ta cả ngoại trừ tôi. Hồ sơ này là một phần của mối hợp tác gần đây mà tôi dựng lên cho ông ta. Bên cạnh những tài liệu khác, nó bao hàm một bản cáo bạch, một thỏa thuận hình thành đối tác, các thư nhiệm ý, các bản khai trình, và bản thân tờ thỏa thuận đối tác hữu hạn. Hãy đọc từng từ. Sau đó, tôi muốn anh chuẩn bị một bản sơ thảo thỏa thuận hợp tác cho vụ việc này."
Tập hồ sơ đột nhiên nặng hơn lên. Có lẽ năm giờ rưỡi vẫn là chưa đủ sớm.
Vị đối tác nói tiếp. "Theo lời Capps thì chúng ta có khoảng bốn mươi ngày, vì thế chúng ta đã bị chậm. Marty Kozinski đang trợ giúp vụ này. Khi nào xem xong hồ sơ của anh ta, tôi sẽ chuyển ngay cho anh. Có câu hỏi nào không?"
"Còn việc nghiên cứu thì sao?"
"Phần lớn nghiên cứu là gần đây, nhưng anh sẽ phải cập nhật lại. Capps kiếm được hơn chín triệu năm ngoái và chỉ trả những khoản thuế bèo bọt. Ông ta không tin việc phải trả thuế, và quy trách nhiệm cá nhân cho tôi trong từng đồng xu tiền thuế. Tất cả đều là
hợp pháp, dĩ nhiên, nhưng ý tôi nói công việc này có những áp lực rất lớn. Nó liên quan đến nhiều triệu đô la tiền đầu tư và tiết kiệm thuế. Vụ việc này sẽ bị soi mói bởi các chính quyền của ít nhất ba quốc gia. Cho nên hãy cẩn thận vào."
Mitch lật giở các tờ tài liệu. "Tôi phải làm việc với hồ sơ này bao nhiêu giờ mỗi tuần?"
"Nhiều giờ nhất có thể. Tôi biết cuộc thi lấy chứng chỉ là quan trọng, nhưng Sonny Capps cũng quan trọng đâu kém. Năm ngoái ông ta đã trả phí pháp lý cho chúng ta gần nửa triệu cơ đấy."
"Tôi sẽ hoàn thành."
"Tôi biết anh sẽ hoàn thành mà. Như tôi đã nói với anh, mức của anh là một trăm mỗi giờ. Hôm nay Nina sẽ cùng anh xúc tiến việc ghi nhận thời gian. Nhớ lại đi, đừng lơ là với việc ghi hóa đơn."
"Làm sao tôi quên được."
Oliver Lambert và Nathan Locke đứng trước cánh cửa kim loại ở tầng năm, ngước nhìn lên chiếc camera. Có một tiếng "cách" lớn và cánh cửa mở ra. Một người bảo vệ gật đầu.
"Chào Ollie," DeVasher từ tốn nói, phớt lờ vị đối tác kia.
"Tin mới nhất là gì?" Locke gắt gỏng hỏi về hướng DeVasher mà không nhìn ông ta.
"Tin từ đâu chứ?" DeVasher thản nhiên hỏi lại.
"Từ Chicago."
"Trên đó họ rất lo lắng đấy, Nat. Bất kể các anh nghĩ thế nào, họ không muốn tay họ bị nhúng chàm. Nói thẳng ra, họ không hiểu nổi
tại sao lại phải làm như thế."
"Ý anh là sao?"
"Họ đang đặt ra vài câu hỏi khó, ví như tại sao chúng ta không kiểm soát được người của mình?"
"Rồi anh nói gì với họ?"
"Nói mọi thứ đều ổn, đều tuyệt vời. Hãng Bendini vĩ đại vẫn vững mạnh. Rò rỉ đã bị bít. Việc làm ăn vẫn như thường lệ. Không có vấn đề gì cả."
"Chúng gây tổn thất đến cỡ nào?" Oliver Lambert hỏi.
"Chúng tôi không chắc. Chúng tôi sẽ không bao giờ biết chắc, nhưng tôi nghĩ chúng chưa nói gì cả. Chúng đã quyết định nói, điều đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rồi, nhưng tôi nghĩ chúng chưa nói gì cả. Chúng tôi biết từ một nguồn tin rất tốt rằng FBI đang trên đường đến đảo vào hôm diễn ra tai nạn, cho nên chúng tôi nghĩ chúng đã sắp đặt một cuộc hẹn để tiết lộ thông tin."
"Sao anh biết chuyện đó?" Locke hỏi.
"Coi nào, Nat. Chúng tôi có nguồn của chúng tôi chớ. Hơn nữa, chúng tôi có đầy người trên đảo. Chúng tôi làm việc tốt, anh biết mà."
"Tất nhiên."
"Nó có bầy hầy lắm không?"
"Không, không hề. Rất chuyên nghiệp nữa là khác."
"Đám bản địa có gây trở ngại gì không?"
"Chúng tôi đã phải làm cho nó trông ổn, Ollie ạ."
"Nhà chức trách dưới đó thì sao?"
"Nhà chức trách nào? Đó chỉ là những hòn đảo thanh bình bé như cái lỗ mũi thôi mà, Ollie. Năm ngoái ở đó có một vụ giết người và bốn tai nạn lặn biển. Với họ đó cũng chỉ là một tai nạn nữa mà thôi. Một tai nạn với ba người chết đuối."
"Còn FBI?" Locke hỏi.
"Không biết."
"Tôi tưởng anh có nguồn chứ."
"Có chứ sao không, nhưng chúng tôi không tìm được anh ta. Từ hôm qua chúng tôi không nghe thấy gì cả. Người của chúng tôi vẫn ở trên đảo và họ không thấy có gì là bất thường."
"Anh ở đây bao lâu?"
"Vài tuần nữa."
"Nếu FBI xuất hiện thì sao?" Locke hỏi.
"Chúng tôi theo dõi chúng rất sát sao. Chúng tôi sẽ thấy khi chúng ra khỏi máy bay. Chúng tôi sẽ đi theo chúng đến các phòng khách sạn. Chúng tôi thậm chí sẽ nghe lén điện thoại của chúng. Chúng tôi biết chúng ăn gì trong bữa điểm tâm, bàn bạc gì với nhau. Chúng tôi sẽ phân công ba người của mình để bám theo từng người của chúng, và ngay đến việc chúng đi vệ sinh chúng tôi cũng biết tuốt. Chúng sẽ chẳng tìm thấy gì đâu, Nat. Tôi đã nói với anh đó là một công việc sạch sẽ. Rất chuyên nghiệp, không có chứng cớ. Thoải mái đi."
"Anh làm tôi muốn phát ói, DeVasher," Lambert nói.
"Anh tưởng tôi thích cái việc đó sao, Ollie? Anh muốn chúng tôi phải làm gì? Ngồi xuống, nghe chúng nói ư? Coi nào, Ollie, chúng ta ai cũng là con người. Tôi đâu muốn làm việc đó, nhưng Lazarov bảo phải làm. Anh muốn cãi Larazov hả, cãi đi. Người ta sẽ tìm thấy anh nổi lều bều ở đâu đó. Mấy gã đó cư xử không tốt. Chúng lẽ ra phải giữ im lặng, lái mấy cái xe hơi xịn be bé của chúng và sắm vai đại luật sư. Không, chúng lại muốn phải cao đạo cơ."
Nathan Locke châm điếu xì gà rồi phả ra một đám mây khói dày đặc về một hướng chung chung chĩa về DeVasher. Ba người im lặng ngồi hồi lâu trong khi khói lan tỏa trên bàn làm việc của ông. Ông nhìn Mắt Đen, không nói năng gì. Oliver Lambert đứng dậy, nhìn bức tường trơ trụi cạnh cánh cửa.
"Anh muốn gặp chúng tôi để làm gì?" ông hỏi.
DeVasher hít một hơi sâu. "Chicago muốn cài thiết bị nghe lén vào điện thoại nhà của tất cả những ai không phải là đối tác."
"Tôi đã bảo anh rồi mà," Lambert nói với Locke.
"Đó không phải là ý tôi, nhưng họ vẫn khăng khăng. Trên đó họ rất sốt ruột, và họ muốn có thêm những biện pháp dự phòng. Các anh không thể trách họ được."
"Anh không nghĩ như vậy là đi hơi quá xa sao?" Lambert hỏi.
"Phải, điều đó hoàn toàn không cần thiết. Nhưng Chicago không nghĩ vậy."
"Khi nào?" Locke hỏi.
"Khoảng tuần sau. Việc đó sẽ phải mất vài ngày."
"Tất cả?"
"Ừ, họ nói vậy."
"Ngay cả McDeere?"
"Ừ, ngay cả McDeere. Tôi nghĩ Tarrance sẽ thử lần nữa, và lần này hắn có thể sẽ bắt đầu từ dưới đáy đi lên."
"Tôi đã gặp anh ta sáng nay," Locke nói. "Anh ta đến hãng còn sớm hơn cả tôi."
"Lúc năm giờ ba mươi hai phút," DeVasher xác nhận.
Những kỷ vật của trường luật được di dời xuống sàn còn hồ sơ Capps thì trải rộng khắp mặt bàn. Nina mang về một suất sandwich salad gà sau khi ra ngoài dùng bữa trưa. Anh ăn nó trong khi đọc, còn bà thì sắp xếp đâu ra đó cái đám linh tinh trên sàn nhà. Vài phút sau 1 giờ, Wally Hudson - hay J. Walter Hudson như được ghi ở phần tiêu đề thư – đến để bắt đầu việc luyện thi lấy chứng chỉ. Hợp đồng là lĩnh vực chuyên môn của ông. Ông là một thành viên năm năm của hãng và là người Virginia duy nhất ở đây, điều mà ông cho là kì lạ vì Virginia có trường luật tốt nhất nước, theo ý kiến của ông. Ông đã trải qua hai năm phát triển một khóa ôn tập mới dành cho đề mục hợp đồng của cuộc thi. Ông rất quan tâm đến việc thử nghiệm nó lên ai đó, và McDeere tình cờ lại chính là con chuột bạch. Ông trao cho Mitch một cuốn sổ nặng trịch có ba chiếc khoen. Nó dày ít nhất một tấc, nặng cũng cỡ tập hồ sơ Capps.
Cuộc thi sẽ diễn ra trong bốn ngày và bao gồm ba phần, Wally
giải thích. Ngày đầu sẽ là cuộc thi về đạo đức kéo dài bốn giờ với nhiều lựa chọn. Gill Vaughn, một trong các đối tác, chuyên gia tại chỗ về đạo đức, sẽ giám sát phần ôn tập này. Ngày thứ hai sẽ là cuộc thi trong tám giờ, gọi giản lược là thi đa bang. Nó bao gồm hầu hết các lĩnh vực luật pháp chung ở tất cả các bang. Cả cuộc thi này cũng có nhiều lựa chọn và các câu hỏi thì rất lắt léo. Rồi đến phần nặng ký. Các ngày thứ ba và thứ tư sẽ kéo dài tám giờ mỗi ngày và bao trùm mười lăm lĩnh vực pháp luật nội dung. Luật hợp đồng, luật thương mại thống nhất, luật bất động sản, luật bất cẩn, luật quan hệ gia đình, luật quy trình xét xử liên bang. Luật quy trình hình sự, luật công ty, luật đối tác, luật bảo hiểm và luật quan hệ người nợ và người cho vay. Tất cả các giải đáp đều sẽ ở dạng thi thử, và các câu hỏi sẽ xoáy sâu vào luật pháp ở Tennessee. Hãng có kế hoạch ôn tập cho toàn bộ mười lăm lĩnh vực này.
"Ý ông là có cả thảy mười lăm lĩnh vực?" Mitch hỏi khi cầm lên cuốn sổ ghi chép.
Wally mỉm cười. "Đúng vậy. Chúng tôi rất thấu đáo. Chưa ai trong hãng này thi trượt..."
"Tôi biết. Tôi biết rồi. Tôi không được là người đầu tiên."
"Anh và tôi sẽ gặp nhau ít nhất một lần trong tuần trong vòng sáu tuần tới để đả thông các tài liệu. Mỗi cuộc gặp sẽ kết thúc sau hai tiếng, cho nên anh có thể dựa theo đó mà lên kế hoạch. Tôi gợi ý là mỗi thứ Tư vào lúc ba giờ."
"Sáng hay chiều?"
"Chiều."
"Được thôi."
"Như anh đã biết, luật hợp đồng và luật thương mại thống nhất đi đôi với nhau, cho nên tôi sẽ gộp luật thương mại thống nhất vào tài liệu đó. Ta sẽ xem xét cả hai cùng một lúc, nhưng sẽ mất nhiều thời gian hơn. Một cuộc thi lấy chứng chỉ tiêu biểu thường rất nặng về giao dịch thương mại. Chủ đề này sẽ mang đến nhiều câu hỏi thi thử tuyệt vời, cho nên việc ghi sổ tay sẽ là rất quan trọng. Tôi đã đưa vào những câu hỏi thực tế từ các cuộc thi cũ cùng với các câu trả lời mẫu. Đó là một phần đọc rất hấp dẫn."
"Tôi rất nóng lòng."
"Hãy đọc tám mươi trang đầu cho tuần sau. Anh sẽ tìm thấy vài câu hỏi thi thử mà anh cần phải trả lời."
"Ý ông là bài tập về nhà?"
"Chính xác. Tôi sẽ chấm điểm nó vào tuần sau. Điều rất quan trọng là tập dợt các câu hỏi đó hàng tuần."
"Thế này thì có khi còn tệ hơn cả trường luật."
"Nó quan trọng hơn ở trường luật rất nhiều. Chúng tôi rất coi trọng nó. Chúng tôi có cả một ủy ban để giám sát những tiến bộ của anh từ nay cho đến khi anh ngồi thi. Chúng tôi sẽ theo dõi rất sát sao."
"Ai ở trong ủy ban vậy?"
"Bản thân tôi, Avery Tolar, Royce McKnight, Randall Dunbar và Kendall Mahan. Chúng tôi sẽ gặp nhau mỗi thứ Sáu để đánh giá tiến
bộ của anh."
Wally lôi ra một cuốn sổ tay khổ giấy viết thư, đặt nó lên bàn làm việc. "Đây là sổ theo dõi việc học tập của anh. Anh phải ghi lại những giờ anh bỏ ra để học thi và các chủ đề anh đã học. Tôi sẽ thu sổ mỗi sáng thứ Sáu, trước khi ủy ban nhóm họp. Có câu hỏi nào không?"
"Tôi chưa nghĩ ra câu nào cả," Mitch nói khi đặt cuốn sổ tay lên trên tập hồ sơ Capps.
"Tốt. Hẹn gặp anh thứ Tư tới vào lúc ba giờ."
Chưa đầy mười giây sau khi ông ta đi khỏi, Randall Dunbar bước vào, mang theo cuốn sổ tay dày cộp giống kỳ lạ cuốn sổ tay mà Wally vừa bỏ lại. Thật ra nó chỉ giống chứ không dày bằng. Dunbar là người đứng đầu về bất động sản và là người phụ trách việc tậu căn nhà của McDeere hồi tháng Năm. Ông ta trao cuốn sổ tay ghi nhãn "Luật bất động sản" cho Mitch rồi giải thích vì sao chuyên môn của ông là phần quan trọng nhất của cuộc thi. Mọi thứ đều về bất động sản, ông nói. Đích thân ông đã chuẩn bị kỹ các tài liệu trong suốt mười năm qua. Ông thú nhận mình thường xuyên nghĩ đến việc xuất bản chúng như một công trình tầm cỡ về quyền sở hữu tài sản và đầu tư đất đai. Ông cần ít nhất một giờ mỗi tuần, tốt nhất là vào chiều thứ Ba. Ông nói suốt một tiếng đồng hồ về việc kỳ thi này đã đổi khác như thế nào trong ba mươi năm qua, lúc ông trải nghiệm nó.
Kendall Mahan bổ sung thêm một cuộc hẹn. Ông muốn gặp mặt
vào các sáng thứ Bảy. Lúc nào sơm sớm ấy, bảy giờ ba mươi chẳng hạn.
"Không có vấn đề gì," Mitch nói trong khi cầm cuốn sổ tay và đặt xuống bên cạnh những cuốn sổ tay khác. Cuốn này là về luật hiến pháp, bộ luật yêu thích của Kendall mặc dù ông hiếm khi sử dụng nó, ông nói vậy. Đó từng là phần quan trọng nhất của kỳ thi, hay ít ra từng là như thế cách đây năm năm. Ông từng viết một bài báo về các quyền trong tu chính án thứ nhất đăng trên tờ tạp chí Columbia Law Review trong những năm tháng trẻ tuổi mà ông theo học ở đó. Một bản sao của bài báo này có kẹp trong cuốn sổ phòng khi Mitch muốn đọc nó. Hầu như ngay tức thì, anh hứa sẽ làm vậy.
Đám rước cứ thế tiếp tục suốt buổi chiều cho đến khi một nửa số người trong hãng tạt qua với những cuốn sổ tay. Họ cho bài tập về nhà và yêu cầu gặp mặt hàng tuần. Không ít hơn sáu người đã nhắc nhở anh rằng chưa từng có thành viên của hãng bị trượt cuộc thi lấy chứng chỉ luật sư. Khi bà thư ký của Mitch nói lời tạm biệt vào lúc năm giờ, chiếc bàn làm việc nhỏ đã chồng chất các tài liệu ôn tập, đủ để làm ngập một hãng nhỏ cỡ mười người. Ý nghĩ về ăn uống thoáng qua đầu anh một tiếng sau đó và, lần đầu tiên sau mười hai giờ, anh nghĩ đến Abby. Anh gọi cho cô.
"Một lúc nữa anh mới về," anh nói.
"Nhưng em đang nấu bữa tối."
"Cứ để nó trên lò đi," anh nói có phần cộc cằn. Một khoảnh khắc im lặng.
"Khi nào thì anh về?" cô hỏi, dằn từng tiếng.
"Vài giờ nữa."
"Vài giờ? Anh đã ở đó hết nửa ngày rồi còn gì."
"Đúng, nhưng anh còn rất nhiều việc phải làm."
"Nhưng đây mới chỉ là ngày đầu tiên của anh thôi mà."
"Nếu anh nói ra em sẽ không tin nổi đâu."
"Anh có ổn không đấy?"
"Anh ổn. Anh sẽ về sau nhé."
Tiếng động cơ khởi động đánh thức Dutch Hendrix và ông bật dậy. Cánh cổng mở ra và ông đứng chờ cạnh đó trong khi chiếc xe rời bãi đậu. Nó dừng lại gần ông.
"Chào ông, Dutch," Mitch nói.
"Giờ này anh mới về à?"
"Vâng, một ngày bận rộn."
Dutch rọi đèn vào cổ tay để xem giờ. Mười một giờ rưỡi.
"Ghê thật, bảo trọng nhé," Dutch nói.
"Vâng. Hẹn gặp lại ông trong vài giờ nữa."
Chiếc BMW rẽ sang đường Street rồi phóng đi trong đêm. Trong vài giờ nữa, Dutch nghĩ. Các cu cậu tân binh này gớm thật đấy. Mười tám, hai mươi giờ mỗi ngày, sáu ngày mỗi tuần, đôi khi cả bảy ngày. Tất cả bọn họ đều lên kế hoạch để trở thành những luật sư tài giỏi nhất thế giới, kiếm được hàng triệu đô la chỉ trong một sớm một chiều. Đôi khi họ làm việc thâu đêm, ngủ ngay trên bàn làm việc.
Ông đã thấy cả. Nhưng họ không thể trụ được lâu. Cơ thể con người không quen với sự lạm dụng kiểu đó. Sau khoảng sáu tháng họ sẽ xì hơi. Họ sẽ cắt giảm còn mười lăm giờ mỗi ngày, sáu ngày mỗi tuần. Rồi đến năm ngày rưỡi. Rồi đến mười hai giờ mỗi ngày. Không ai có thể làm việc một trăm giờ mỗi tuần trong liên tiếp sáu tháng.
7
Một thư ký đang sục sạo tủ hồ sơ để tìm kiếm thứ gì đó mà Avery đang cần ngay tức khắc. Một thư ký khác đứng trước bàn làm việc của ông với cuốn sổ tốc ký, thi thoảng viết vào đó những chỉ thị mà ông ban ra mỗi khi dừng la hét vào điện thoại và lắng nghe ai đó ở đầu dây bên kia. Ba chiếc đèn đỏ đang nhấp nháy trên điện thoại. Khi ông nói vào điện thoại thì các thư ký cũng gắt gỏng nói với nhau. Mitch chậm rãi bước vào văn phòng rồi ra đứng cạnh cửa. "Im lặng!" Avery quát các thư ký.
Bà thư ký bên tủ hồ sơ đóng sập ngăn kéo lại rồi đi đến một tủ hồ sơ khác, nơi bà khom xuống, rút chiếc ngăn kéo ở đáy. Avery búng ngón tay với bà kia rồi trỏ vào tấm lịch để bàn của ông. Ông cúp máy mà không nói lời tạm biệt.
"Lịch trình của tôi hôm nay là gì?" ông hỏi trong khi rút ra một hồ sơ từ chiếc tủ búp-phê.
"Mười giờ sáng gặp IRS ở khu thương mại. Một giờ chiều gặp Nathan Locke để bàn về hồ sơ Spinosa. Ba giờ rưỡi, họp đối tác. Ngày mai ông sẽ ở tòa thuế vụ suốt cả ngày, và ông sẽ phải chuẩn
bị suốt cả ngày hôm nay."
"Tuyệt lắm. Hủy toàn bộ. Kiểm tra các chuyến bay từ Houston chiều thứ Bảy và các chuyến bay trở về vào thứ Hai, sáng sớm thứ Hai."
"Vâng, thưa ông."
"Mitch! Hồ sơ Capps đâu?"
"Trên bàn của tôi."
"Anh làm đến đâu rồi?"
"Tôi đã đọc gần xong."
"Phải tăng tốc lên mới được. Cú điện thoại đó là của Sonny Capps đấy. Ông ta muốn họp sáng thứ Bảy tại Houston, và ông ta muốn có bản sơ thảo thỏa thuận đối tác hữu hạn."
Mitch cảm thấy một cú nhói từ cái bao tử rỗng của anh. Nếu anh nhớ không lầm thì bản thỏa thuận này dài đến khoảng bốn mươi trang.
"Chỉ là sơ thảo thôi," Avery nói trong khi trỏ vào một thư ký.
"Không có vấn đề gì." Mitch nói với tất cả vẻ tự tin mà anh có thể góp nhặt được.
"Tôi cần nó vào trưa thứ Bảy, hoàn thiện nhất có thể. Tôi sẽ cử một thư ký của tôi đến để chỉ cho Nina mẫu thỏa thuận nằm ở đâu trong ngân hàng ký ức. Việc đó sẽ tiết kiệm được công đọc và đánh máy. Tôi biết như vậy là không công bằng cho anh, nhưng với Sonny Capps thì chẳng có gì là công bằng cả. Ông ta rất đòi hỏi. Ông ta bảo thỏa thuận phải được gút trong vòng hai mươi ngày, nếu không
thì coi như nó đã chết. Mọi việc đều đang trông chờ vào chúng ta."
"Tôi sẽ làm xong."
"Tốt. Ta gặp nhau vào lúc tám giờ sáng để xem chúng ta đang ở đâu nhé."
Avery bấm vào các nút đèn sáng rồi bắt đầu tranh cãi trên điện thoại. Mitch bước về lại văn phòng của anh và nhìn tập hồ sơ Capps bên dưới mười lăm cuốn sổ tay. Nina thò đầu qua cửa.
"Oliver Lambert muốn gặp ông."
"Khi nào?" Mitch hỏi.
"Càng sớm càng tốt."
Mitch nhìn đồng hồ đeo tay. Mới ba giờ ở văn phòng mà anh đã cảm thấy như cả ngày.
"Có chờ được không?"
"Tôi không nghĩ vậy. Ông Lambert không quen chờ đợi ai."
"Tôi hiểu."
"Tốt hơn cả là ông nên đi gặp."
"Ông ta muốn gì?"
"Thư ký của ông ta không nói."
Anh khoác áo vest, chỉnh lại cà vạt rồi bước nhanh lên tầng bốn, nơi thư ký của ông Lambert đang chờ sẵn. Bà ta tự giới thiệu và cho anh biết bà ta đã làm việc ở hãng được ba mươi mốt năm. Thật ra bà là thư ký thứ hai của ông Anthony Bendini sau khi ông chuyển về Memphis. Ida Renfroe là tên của bà, nhưng mọi người đều gọi bà là
Cô Ida. Bà đưa anh vào văn phòng lớn rồi khép cửa lại.
Oliver Lambert đứng sau bàn làm việc của ông. Ông tháo cặp kính lão, cười ấm áp, rồi gác ống điếu lên chiếc gạt tàn bằng đồng thau. "Chào Mitch," ông nhẹ nhàng nói như thể thời gian chẳng là cái nghĩa lý gì cả. "Ta ra ngồi đằng kia đi," ông khoát tay về phía trường kỷ.
"Cà phê nhé?" ông hỏi.
"Không, cảm ơn ông."
Mitch ngồi ngập sâu vào trường kỷ trong khi vị đối tác ngồi trên chiếc ghế xoay ở cách anh sáu tấc và phía trên anh chín tấc. Mitch tháo nút áo vest và cố thư giãn. Anh bắt chéo chân, nhìn đôi giày Colehaans mới của ông. Hai trăm đô. Nó bằng một giờ làm việc của một cộng sự tại cái xưởng in tiền này. Anh cố thư giãn. Nhưng anh có thể cảm nhận sự hoảng hốt trong giọng nói của Avery và đã nhìn thấy nỗi tuyệt vọng của ông khi ông nhấc điện thoại và nghe cái lão Capps ấy nói ở đầu dây bên kia. Mới ngày làm việc bận rộn thứ hai mà đầu anh đã nhức nhối và bao tử anh đau quặn.
Ông Lambert nhìn xuống, nhoẻn cái nụ cười chân thành và từ bi bậc nhất của ông. Đã đến lúc lên lớp điều gì đó. Ông mặc chiếc áo trắng gài cổ sáng bóng bằng vải cotton nguyên chất, đeo chiếc nơ lụa nhỏ sẫm mầu tạo cho ông cái vẻ cực kỳ thông minh và khôn khéo. Như muôn thuở, làn da ông rám nắng trong cái nóng giữa hè của Memphis. Răng của ông lấp lánh như kim cương. Một người mẫu ở tuổi sáu mươi.
"Chỉ vài điều thôi, Mitch," ông nói. "Tôi hiểu anh đã trở nên rất bận rộn."
"Vâng, rất bận đấy ạ."
"Hoảng loạn là một lối sống tại các hãng luật lớn, và các thân chủ như Sonny Capps có thể gây ra những ung nhọt. Thân chủ của chúng ta là tài sản duy nhất của chúng ta, cho nên chúng ta cứ phải tự sát vì họ."
Mitch mỉm cười và đồng thời chau mày.
"Có hai điều, Mitch ạ. Thứ nhất, vợ chồng tôi muốn mời anh và Abby đến dùng bữa tối cùng chúng tôi vào thứ Bảy. Chúng tôi thường xuyên ăn ngoài, và chúng tôi thích có bạn bè theo cùng. Bản thân tôi cách chi đó cũng là một đầu bếp, và tôi thích đồ ăn thức uống ngon. Chúng tôi thường đặt trước một bàn lớn tại một trong các nhà hàng yêu thích trong thành phố, mời bạn bè đến để tiêu khiển buổi tối với những bữa ăn chín món và những chai rượu hiếm nhất. Anh và Abby có rảnh vào thứ Bảy không vậy?"
"Chắc chắn có."
"Kendall Mahan, Wally Hudson, Lamar Quin và vợ của họ cũng sẽ ở đó."
"Chúng tôi rất phấn khích."
"Tốt. Địa điểm yêu thích của vợ chồng tôi tại Memphis là nhà hàng Justine's. Đó là một nhà hàng xưa của Pháp với ẩm thực tuyệt vời và một danh mục rượu ấn tượng. Thứ Bảy lúc bảy giờ nhé?"
"Chúng tôi sẽ có mặt ở đó."
"Thứ đến, chúng ta có một chuyện cần bàn. Tôi tin chắc anh đã biết, nhưng cũng đáng để nhắc lại. Nó rất quan trọng đối với chúng ta. Tôi biết anh đã được dạy ở Harvard về mối quan hệ mật thiết giữa anh, với tư cách luật sư, và thân chủ của anh. Đó là một mối quan hệ ưu tiên, và anh không bao giờ bị ép buộc phải tiết lộ bất cứ điều gì mà thân chủ nói với anh. Nó là tuyệt mật. Sẽ là vi phạm đạo đức nếu chúng ta đi kể về công việc của thân chủ. Nay thì điều đó đã được áp dụng cho mọi luật sư, nhưng ở hãng này chúng ta rất xem trọng mối quan hệ nghề nghiệp đó. Chúng ta không thảo luận về công việc của thân chủ với bất cứ ai. Kể cả với các luật sư khác. Kể cả với vợ. Đôi khi cả với nhau nữa. Như một điều luật, chúng ta không nói gì tại nhà, và các bà vợ của chúng ta cũng phải học được cách không hỏi han. Anh càng nói ít thì càng tốt cho anh. Ông Bendini là người rất coi trọng việc giữ bí mật, và ông ta đã dạy dỗ chúng tôi rất tốt. Ở bên ngoài tòa nhà này, anh sẽ không bao giờ nghe thấy một thành viên nào của hãng nhắc đến điều gì đó nhiều hơn là cái tên của thân chủ. Chúng ta nghiêm túc như thế đấy."
Ông ta muốn dẫn câu chuyện này đi đâu? Mitch tự hỏi. Bất kỳ sinh viên luật năm thứ hai nào cũng nói được như thế. "Tôi hiểu điều đó, thưa ông Lambert, và ông không cần phải lo lắng về tôi đâu."
"Cái lưỡi mà thả rông thì xổng mất án. Đó là phương châm của ông Bendini, và ông ta áp dụng điều đó cho tất cả mọi việc. Chúng ta đơn giản không thảo luận công việc của thân chủ với bất kỳ ai, bao gồm cả các bà vợ của chúng ta. Chúng ta rất im ắng, rất bí mật,
và chúng ta thích như thế. Anh sẽ gặp các luật sư khác quanh thành phố, và sớm hay muộn họ cũng sẽ hỏi anh điều gì đó về hãng của chúng ta hay thân chủ của chúng ta. Chúng ta không nói năng gì cả, anh hiểu chưa?"
"Dĩ nhiên, ông Lambert."
"Tốt. Chúng tôi rất tự hào về anh, Mitch. Anh sẽ trở thành một luật sư lớn, một luật sư rất giàu có. Hẹn gặp anh vào thứ Bảy nhé!"
Cô Ida có một lời nhắn dành cho Mitch. Ông Tolar cần gặp anh ngay tức thì. Anh cảm ơn bà rồi phóng xuống cầu thang, đi vào hành lang, băng qua văn phòng của anh, ra đến cái văn phòng lớn ở góc. Lúc này đã có đến ba thư ký đang đào bới và thủ thỉ với nhau trong khi sếp của họ la hét vào điện thoại. Mitch tìm được chốn an toàn trên chiếc ghế gần cửa. Anh ngồi xuống xem gánh xiếc. Các thư ký rút những hồ sơ và sổ tay ra, làu bàu với nhau bằng một thứ ngôn ngữ lạ. Thi thoảng Avery lại búng ngón tay, chỉ chỗ này chỗ nọ, và họ lại nhảy xổ đến như những con thỏ hốt hoảng.
Sau vài phút, ông sập điện thoại, một lần nữa không nói lời từ biệt. Ông nhìn Mitch.
"Lại là Sonny Capps. Bọn Trung đòi bảy mươi lăm triệu, và ông ta đã đồng ý. Sẽ có bốn mươi mốt đối tác hữu hạn thay vì hai mươi lăm. Chúng ta có hai mươi ngày, không xong thì coi như dứt thỏa thuận."
Một trong các thư ký bước đến chỗ Mitch, trao cho anh những tập hồ sơ dày cộm.
"Anh xử lý được không đấy?" Avery hỏi, hầu như bằng một giọng nhạo báng.
Các thư ký nhìn anh. Mitch cầm lấy các hồ sơ rồi bước thẳng ra cửa.
"Dĩ nhiên tôi xử lý được. Chỉ có vậy thôi sao?"
"Vậy là đủ rồi. Từ đây đến thứ Bảy tôi không muốn anh làm bất cứ việc gì ngoài cái hồ sơ đó ra, hiểu chưa?"
"Vâng, thưa sếp."
Ở văn phòng của mình, anh di dời những tài liệu ôn tập về pháp luật, toàn bộ mười lăm cuốn sổ tay, rồi chất chúng thành đống tại một góc phòng. Hồ sơ Capps được dàn ra ngay ngắn trên bàn làm việc. Anh hít một hơi sâu rồi bắt đầu đọc. Có tiếng gõ cửa.
"Ai đó?"
Nina ló đầu vào. "Tôi ghét phải nói với ông điều này, nhưng bàn ghế mới đã được đưa đến rồi."
Anh chà xát thái dương và làu bàu không thành tiếng.
"Có lẽ bà phải làm việc ở thư viện trong vài giờ."
"Có lẽ vậy."
Họ thu gom hồ sơ Capps rồi bưng mười lăm cuốn sổ tay ra hành lang, nơi hai người đàn ông da đen to lớn đang chờ sẵn với một dãy thùng các tông cồng kềnh và một tấm thảm phương đông.
Nina đi theo anh đến thư viện ở tầng hai.
"Tôi dự kiến gặp Lamar Quin vào lúc hai giờ để ôn thi lấy chứng
chỉ. Bây giờ thì hãy gọi cho ông ta và hủy nó đi. Bảo ông ta tôi sẽ giải thích sau."
"Ông còn có cuộc hẹn cũng vào lúc hai giờ với Gill Vaughn," bà nói.
"Hủy luôn."
"Ông ta là đối tác đấy."
"Hủy nó đi. Tôi sẽ gặp ông ta sau."
"Vậy là không khôn ngoan lắm đâu."
"Cứ làm theo tôi nói."
"Vâng, ông là sếp mà."
"Cảm ơn bà."
Người dán giấy tường là một bà thấp bé và vạm vỡ. Với tay nghề tiến bộ qua năm tháng, bà đã quen với công việc nặng nhọc và đã được huấn luyện rất tốt. Bà trình bày với Abby rằng, trong gần bốn mươi năm qua, bà đã dán nhiều tấm giấy tường mắc tiền trong những ngôi nhà đẹp nhất ở Memphis. Bà nói không dứt lời, nhưng không hề lãng phí thao tác nào. Bà cắt giấy chuẩn xác như một nhà phẫu thuật, rồi trát keo như một nghệ sĩ. Trong khi chờ keo khô, bà rút chiếc thước dây từ chiếc đai da gắn đồ nghề và tính toán góc còn lại của phòng ăn. Bà lẩm nhẩm những con số mà Abby không tài nào giải mã được. Bà đo chiều dài và chiều cao ở bốn nơi khác nhau rồi nhét tất cả vào bộ nhớ. Bà leo lên thang xếp và nhờ Abby chuyền cho bà một cuộn giấy. Nó khớp một cách hoàn hảo. Bà áp chặt vào tường và bình luận dễ đến lần thứ một trăm về việc nó
trông đẹp như thế nào, mắc tiền đến cỡ nào, trông ổn trong bao lâu và bao lâu thì hết hạn. Bà cũng thích cả màu sắc nữa. Nó được phối rất tốt với các tấm rèm cửa và tấm mành thả. Abby từ lâu đã mệt mỏi với việc nói cảm ơn. Cô gật đầu rồi nhìn đồng hồ. Đã đến giờ để bắt đầu bữa tối.
Khi xong bức tường, Abby tuyên bố đã đến giờ bà ra về và dặn bà trở lại vào lúc chín giờ sáng hôm sau. Bà nói chắc chắn sẽ quay lại rồi bắt đầu thu dọn những thứ bầy hầy của mình. Bà được trả hai mươi đô la mỗi giờ, tiền mặt hẳn hoi, và cảm thấy mọi thứ đều dễ chịu. Abby ngắm các căn phòng. Chúng sẽ được hoàn chỉnh vào ngày mai, và việc dán giấy tường cũng sẽ hoàn tất, ngoại trừ trong hai phòng tắm và phòng kho. Việc sơn phết được lên lịch từ đầu tuần sau. Mùi keo của giấy dán cùng mùi sơn trên bề mặt lò sưởi và mùi bàn ghế mới hợp thành một mùi hương mát dịu tuyệt vời. Cứ như trong một ngôi nhà xây mới vậy.
Abby chào tạm biệt bà dán tường rồi đi vào phòng ngủ, nơi cô cởi đồ rồi nằm dài lên giường. Cô gọi điện cho chồng, nói vài lời với Nina và được cho biết anh đang bận họp và cuộc họp sẽ còn kéo dài một lúc nữa. Nina nói anh sẽ gọi lại. Abby duỗi cặp đùi dài đau nhức và xoa nắn đôi vai. Chiếc quạt trần chầm chậm quay phía trên cô. Mitch rồi cùng sẽ về. Anh ấy sẽ phải làm việc một trăm giờ mỗi tuần trong một khoảng thời gian, nhưng rồi sẽ cắt xuống còn tám mươi. Cô có thể chờ được.
Cô thức dậy một giờ sau đó và bật dậy khỏi giường. Đã gần sáu giờ. Veal piccata - Thịt bê sò điệp. Cô xỏ chiếc quần lửng đi bộ bằng
vải kaki rồi mặc chiếc áo polo trắng. Cô chạy vào bếp, nơi đã được hoàn thành xong ngoại trừ chút sơn phết và các tấm rèm dự tính sẽ mắc trong tuần sau. Cô tìm được công thức trong cuốn sách hướng dẫn nấu các món mì, rồi sắp xếp ngăn nắp các hũ gia vị lên một chiếc giá đựng. Ở trường luật cô rất ít ăn thịt đỏ, thi thoảng mới là một ổ hamburger. Khi cô nấu nướng thì chỉ toàn món gà này, gà nọ. Rất nhiều sandwich và hot dog.
Nhưng nay, với sự phong lưu đột ngột, đã đến lúc cô phải học làm bếp. Trong tuần lễ đầu tiên, mỗi bữa tối cô đều nấu một món mới, và họ ăn khi anh trở về nhà. Cô lên kế hoạch cho từng bữa ăn, học theo sách dạy làm bếp, thử các loại nước chấm. Chẳng rõ vì lý do nào Mitch lại thích các món ăn của Ý, và với các món mì spaghetti và cappellini đã được nấu thử và hoàn thiện, đã đến lúc để thử nghiệm món veal piccata. Cô giã sò điệp trộn thịt bê bằng chiếc về cho đến khi nó đủ mỏng. Rồi cô bỏ nó vào bột mì, nêm với muối và tiêu. Cô đặt một chảo nước lên bếp để nấu mì linguine. Cô rót ra một ly vang Chablis rồi bật radio lên. Cô đã hai lần gọi đến văn phòng vào bữa trưa, và anh đã không tìm được thời gian để gọi lại. Cô đã nghĩ đến việc gọi thêm một lần nữa, nhưng rồi thôi. Giờ là đến phiên anh. Bữa tối phải cố định, và hai vợ chồng sẽ ăn khi nào anh về nhà.
Thịt bê sò điệp được nấu áp chảo trong dầu nóng khoảng ba phút cho đến khi mềm hẳn thì lấy ra. Cô rót dầu vào chảo rồi thêm rượu và nước chanh, đợi cho nó sôi lên. Cô nạo và đảo chiếc chảo để món sốt cô đặc lại. Cô trả thịt bê vào chảo rồi bỏ thêm nấm, atiso và bơ.
Cô đậy chảo lại rồi vặn nhỏ lửa.
Cô nướng thịt xông khói, xắt lát cà chua, nấu mì lingune rồi rót một ly rượu nữa. Đến bảy giờ, bữa tối đã sẵn sàng: thịt xông khói và salad cà chua với mì ống tubettini, thịt bê sò điệp, và bánh mì tỏi trong lò. Anh vẫn không gọi về. Cô mang ly rượu ra hiên và nhìn quanh sân sau. Hearsay chạy ra từ các bụi cây. Cô và nó cùng dạo bước dọc chiều dài của sân, dòm chừng một chiếc Bermuda, và dừng lại dưới hai cây sồi lớn. Những tàn tích của ngôi nhà cây từ lâu bỏ hoang nằm tản mác giữa các cành cao của cây sồi. Nhiều cái tên người được khắc trên thân của nó. Một mẩu dây treo lơ lửng ở ngọn cây bên kia. Cô tìm thấy một trái banh cao su, vứt nó ra xa và nhìn con chó rượt theo. Cô ngóng chuông điện thoại vọng ra từ cửa sổ nhà bếp. Nó không reo.
Hearsay sững lại và gầm gừ với thứ gì đó ở nhà bên. Ông Rice xuất hiện từ hàng dậu hình hộp tỉa tót hoàn hảo ở quanh hiên nhà ông. Mồ hôi nhỏ xuống từ mũi ông và chiếc áo lót cotton của ông ướt sũng. Ông tháo đôi găng tay màu lục và nhận ra Abby ở bên kia hàng rào lưới, dưới ngọn cây phía bên nhà của cô. Ông mỉm cười. Ông nhìn cặp đùi bánh mật của cô rồi lại mỉm cười. Ông quệt trán bằng cánh tay đẫm mồ hôi rồi bước đến hàng rào.
"Cô khỏe không?" ông thở dốc khi hỏi. Mái tóc dày và bạc của ông nhỏ giọt và ép sát vào da đầu.
"Khỏe, thưa ông Rice. Ông thì sao ạ?"
"Nóng. Chắc phải đến ba mươi tám độ quá."
Abby bước chầm chậm đến hàng rào để trò chuyện. Từ một tuần nay cô đã bắt được cái nhìn của ông, nhưng chẳng để tâm. Ông ít nhất đã bảy mươi tuổi và có lẽ là vô hại. Cứ để ông ta nhìn. Hơn nữa, ông ta là một người đang sống, đang thở, đang vã mồ hôi, một người có thể trao đổi và duy trì cuộc trò chuyện ở một mức độ nhất định. Bà dán giấy là nguồn đối thoại duy nhất của cô kể từ lúc Mitch rời khỏi nhà trước bình minh.
"Thảm cỏ nhà ông trông tuyệt nhỉ," cô nói. Ông chùi trán lần nữa rồi nhổ nước bọt xuống đất.
"Tuyệt? Cô chỉ gọi nó là tuyệt thôi sao? Nó đáng để được lên tạp chí đấy. Tôi chưa từng thấy thảm cỏ sân golf nào đẹp đến thế. Tôi xứng đáng được là người làm vườn trong tháng, nhưng họ không trao cái giải ấy cho tôi. Chồng cô đâu rồi?"
"Ở văn phòng. Anh ấy làm việc muộn."
"Gần tám giờ rồi còn gì. Sáng nay, hình như anh ấy đi làm trước cả khi mặt trời mọc. Tôi đi bộ vào lúc sáu giờ rưỡi mà đã thấy anh ấy đi mất rồi. Anh ấy bị sao vậy?"
"Anh ấy thích làm việc."
"Tôi mà có người vợ như cô thì tôi sẽ ở nhà. Không ai bắt tôi đi được đâu."
Abby mỉm cười trước lời khen. "Bà Rice có khỏe không ạ?"
Ông chau mày rồi giật mạnh một cành cỏ dại trên hàng rào. "Không khỏe lắm, tôi e vậy. Không khỏe lắm." Ông cắn môi, nhìn lảng đi. Bà Rice sắp chết vì ung thư. Họ không có con cái. Bà ta chỉ
còn sống nhiều lắm một năm nữa. Họ đã cắt gần hết bao tử của bà ta và các khối u nay đã vào trong phổi. Bà cân nặng chỉ khoảng bốn mươi ký và hiếm khi nào rời khỏi giường. Trong chuyến viếng thăm đầu tiên của họ qua bên kia hàng rào, đôi mắt ông đã ngấn lệ khi kể về bà, về việc ông sẽ cô đơn như thế nào sau năm mươi mốt năm chung sống.
"Không đâu, họ sẽ không trao cho tôi giải thưởng người làm vườn trong tháng. Do ở không đúng chỗ trong thành phố ấy mà. Cái giải đó luôn rơi vào tay bọn nhà giàu vốn chỉ biết bỏ tiền ra thuê đám trai trẻ làm vườn rồi để phó mặc cho chúng lo hết cả mọi việc trong khi ngồi bên hồ bơi nhấp món daiquiri. Nó trông đẹp, đúng không?"
"Trông rất tuyệt. Mỗi tuần ông xén bao nhiêu lần vậy?"
"Ba hay bốn lần. Còn tùy theo mưa nữa. Cô có muốn tôi xén giùm bên cô không?"
"Không. Tôi muốn Mitch xén cơ."
"Anh ấy không có thời gian, hình như thế. Cứ để tôi theo dõi. Nếu nó cần chút tỉa tót thì tôi sẽ tạt qua."
Abby quay đầu lại, nhìn vào cửa sổ bếp.
"Ông có nghe thấy tiếng điện thoại reo không?" cô hỏi khi cất bước. Ông Rice trỏ vào chiếc máy trợ thính của ông. Cô nói lời tạm biệt rồi chạy nhanh vào nhà. Điện thoại ngừng reo đúng lúc cô nhấc máy. Lúc này đã là tám giờ rưỡi, bầu trời hầu như đã tối đen. Cô gọi lại văn phòng nhưng không ai trả lời. Có lẽ anh ấy đang lái xe về nhà.
Một giờ trước nửa đêm, điện thoại reo. Ngoại trừ tiếng reo đó và tiếng ngáy nhè nhẹ, văn phòng ở tầng hai im phăng phắc. Hai chân của anh gác lên bàn làm việc, bắt chéo ở cổ chân và tê dại do thiếu lưu thông máu. Phần còn lại của cơ thể thoải mái nằm rũ trên chiếc ghế dày bọc da. Anh đổ về một bên, cứ từng đợt lại phát ra những tiếng mớ trong khi say ngủ. Hồ sơ Capps nằm tản mác trên bàn và một tập tài liệu trông kinh khủng được anh ôm chặt trên bụng. Giày của anh ở dưới sàn nhà, gần bàn làm việc, gần chồng tài liệu từ hồ sơ Capps. Một bịch khoai tây chiên rỗng nằm giữa hai chiếc giày.
Sau một chục tiếng reo, anh chộp lấy điện thoại. Đó là vợ anh. "Sao anh không gọi về?" cô lạnh lùng hỏi, dù giọng nói vẫn phảng phất sự quan tâm.
"Xin lỗi. Anh ngủ quên. Mấy giờ rồi?" anh dụi mắt, tập trung nhìn đồng hồ.
"Mười một. Em chỉ mong anh gọi."
"Anh có gọi đấy chứ, nhưng không ai nhấc máy."
"Hồi nào?"
"Vào khoảng tám đến chín giờ. Em ở đâu lúc đó?"
Cô không trả lời. Cô chờ đợi. "Anh sắp về à?"
"Không. Anh phải làm việc thâu đêm."
"Thâu đêm? Anh không thể làm việc thâu đêm được, Mitch."
"Dĩ nhiên anh có thể làm việc thâu đêm. Ở đây đó là chuyện bình thường mà. Điều đó được kỳ vọng."
"Em thì kỳ vọng anh về, Mitch ạ. Và điều tối thiểu anh có thể làm
là gọi điện về nhà. Bữa tối vẫn đang nằm trên bếp đấy."
"Anh xin lỗi. Anh đang bị ngập đầu bởi các thời hạn chót và đã mất cảm giác về thời gian. Anh xin lỗi em nhé."
Một khoảnh khắc im lặng diễn ra khi cô cân nhắc lời xin lỗi.
"Điều đó có trở thành thông lệ không vậy, Mitch?"
"Có thể."
"Biết ngay mà. Anh nghĩ bao giờ thì anh mới về đến nhà?"
"Em sợ à?"
"Không, em không sợ. Em sắp sửa đi ngủ."
"Anh sẽ tạt về vào khoảng bảy giờ sáng để tắm rửa."
"Được thôi. Nếu em ngủ thì đừng có đánh thức em dậy đấy nhé."
Cô gác máy. Anh nhìn chiếc điện thoại rồi đặt nó về chỗ cũ. Ở tầng năm, một nhân viên an ninh cười khùng khục một mình. "Đừng đánh thức em dậy. Dễ thương ghê ta ơi," ông ta nói khi nhấn nút bộ ghi âm điều khiển bằng máy tính. Ông nhấn ba nút rồi nói vào một chiếc micro nhỏ. "Này, Dutch, dưới đó dậy đi chứ."
Dutch tỉnh dậy, khom xuống chiếc nội đàm. "Nghe đây, có chuyện gì vậy?"
"Marcus ở tầng trên đây, tôi nghĩ cu cậu của chúng ta sẽ ở lại thâu đêm."
"Cu ta có vấn đề gì vậy?"
"Hiện thời thì đó là cô vợ. Cu cậu quên gọi cho cô ta mà cô ta thì đã sửa một bữa tối ra trò."
"Ối trời, quá sức tệ. Chúng ta đã từng nghe chuyện này, đúng không?"
"Đúng vậy, đám tân bình vẫn thường hay làm vậy trong tuần đầu tiên. Nôm na là cu cậu bảo vợ sẽ không về cho đến tận sáng. Cho nên cứ ngủ lại đi nhé."
Marcus nhấn vài chiếc nút rồi trở lại với cuốn tạp chí của ông ta.
Khi mặt trời nhô lên giữa các ngọn sồi, Abby vẫn đang chờ đợi. Cô nhấp cà phê, dắt chó ra ngoài rồi lắng nghe những thanh âm yên ả của khu phố đang bừng bừng trỗi dậy. Giấc ngủ của cô chập chờn. Tắm nước nóng không xoa dịu được cơn mệt. Cô khoác vào chiếc áo choàng tắm bằng vải bông, một trong những chiếc áo choàng tắm của anh, và không mặc thêm gì khác. Tóc cô ướt và xõa ra sau gáy.
Cánh cửa xe sập lại và con chó đứng vểnh mõm, hướng vào nhà. Cô nghe tiếng anh mở khóa cửa bếp, và một lát sau cánh cửa lùa hướng ra hiện cũng được mở. Anh đặt áo khoác lên băng ghế cạnh cửa rồi bước đến chỗ cô ngồi.
"Chào em," anh nói rồi ngồi xuống phía bên kia chiếc bàn liễu gai. Cô trao cho anh một nụ cười giả tạo.
"Chào anh."
"Em dậy sớm nhỉ," anh nói, cố tỏ ra thân mật. Không có tác dụng. Cô lại mỉm cười và nhấp cà phê. Anh hít một hơi sâu rồi đảo mắt nhìn quanh sân. "Còn giận chuyện tối qua hả, anh biết mà."
"Không hẳn. Em không có thù dai."
"Đã nói anh xin lỗi rồi mà, thật đó. Anh đã gọi về một lần."
"Anh có thể gọi lần nữa."
"Làm ơn đừng ly dị anh, Abby. Anh thề chuyện đó sẽ không tái diễn nữa đâu. Xin em đừng bỏ anh."
Cô cố rặn một nụ cười đích thực. "Trông anh tệ quá," cô nói.
"Dưới áo choàng có gì?"
"Chẳng có gì cả."
"Để xem coi nhé."
"Sao anh không chợp mắt một chút đi. Trông anh phờ phạc quá."
"Cảm ơn, nhưng anh có cuộc họp vào lúc chín giờ với Avery. Rồi đến cuộc họp với Avery vào lúc mười giờ."
"Họ định giết anh trong tuần lễ đầu tiên hay sao vậy?"
"Phải, nhưng họ không thể giết anh được đâu. Anh là một người đàn ông quá kiên cường. Ta đi tắm nhé."
"Em tắm rồi."
"Tắm nude à?"
"Ừ."
"Kể nghe chuyện đó đi. Kể thật chi tiết vào."
"Nếu anh về nhà vào giờ giấc đàng hoàng thì anh sẽ không cảm thấy mình sa đọa như thế."
"Anh chắc chắn điều đó sẽ còn tái diễn, em yêu ạ. Sẽ có đầy rẫy vụ thâu đêm. Em đâu có nhằn anh hồi ở trường luật, lúc anh học suốt cả ngày lẫn đêm."
"Ở đây khác. Em chịu đựng được ở trường luật vì em biết nó sẽ
sớm kết thúc. Nhưng giờ thì anh đã là luật sư rồi, và anh sẽ là luật sư về lâu dài. Điều đó có phải là bình thường không? Có phải anh sẽ luôn làm việc hàng ngàn giờ mỗi tuần không?"
"Abby, đây là tuần đầu tiên của anh mà."
"Chính vì thế nên em mới lo. Mọi thứ chỉ có thể tồi tệ hơn mà thôi."
"Chắc chắn như thế rồi. Đó là chuyện bình thường mà, Abby. Đây là một ngành kinh doanh khốc liệt nơi kẻ yếu bị ăn thịt còn kẻ mạnh thì phất lên. Đây là một cuộc đua marathon, ai bền bỉ thì đoạt huy chương vàng."
"Rồi chết luôn ở vạch đến."
"Anh không tin vậy đâu. Chúng ta mới dời đến đây một tuần trước mà chưa gì em đã lo cho sức khỏe của anh rồi."
Cô nhấp cà phê và vuốt ve con chó. Cô thật đẹp. Với đôi mắt mệt mỏi, không trang điểm, và với mái tóc ướt, cô thật là xinh đẹp. Anh đứng dậy, bước ra sau cô và hôn lên má cô.
"Anh yêu em," anh thì thầm.
Cô nắm chặt tay anh trên bờ vai. "Anh đi tắm đi. Em sẽ làm điểm tâm."
Chiếc bàn được bày biện hoàn hảo. Các ấm tách bằng sứ của bà ngoại cô được lấy ra từ tủ chén đĩa và được sử dụng lần đầu tiên trong ngôi nhà mới. Nến được thắp trên những chiếc giá bằng bạc. Nước nho được rót vào các ly pha lê. Khăn ăn bằng vải lanh, tương hợp với khăn trải bàn, được gấp lại trên đĩa. Khi đã tắm xong và
thay vào chiếc áo choàng Burberry kẻ ô, anh bước vào phòng ăn và huýt sáo.
"Dịp gì vậy?"
"Đó là bữa điểm tâm đặc biệt dành cho một người chồng đặc biệt." Anh ngồi xuống, ngắm nghía các món đồ sứ. Thức ăn đang được hâm nóng trên một chiếc đĩa bạc đậy vung.
"Em nấu món gì đó?" anh hỏi sau khi liếm môi. Cô trỏ ngón tay và anh giở vung ra. Anh trố mắt nhìn.
"Là gì vậy?" anh hỏi mà không nhìn cô.
"Veal piccata."
"Veal gì cơ?"
"Veal piccata."
Anh liếc nhìn đồng hồ.
"Anh tưởng là điểm tâm mà?"
"Em đã nấu món đó cho bữa tối hôm qua và khuyến cáo anh nên ăn nó."
"Veal piccata cho bữa điểm tâm?"
Cô nhoẻn cười, quả quyết gật đầu. Anh nhìn món ăn, và chỉ trong một vài giây đã phân tích được tình thế.
Cuối cùng, anh nói, "Thơm đấy nhỉ."
8
Sáng thứ Bảy. Anh ngủ nướng và không đến văn phòng cho đến tận bảy giờ. Anh không cạo râu, mặc quần Jeans, khoác chiếc áo cũ cài khuy cổ, không mang vớ và xỏ giày Bass. Trang phục ở trường luật.
Thỏa thuận Capps đã được in đi in lại vào chiều muộn ngày thứ Sáu. Anh tiếp tục rà soát, và Nina in nó lại một lần nữa vào lúc tám giờ tối thứ Sáu. Anh cho rằng bà có rất ít hay không có sinh hoạt xã hội nào cho nên anh đã không ngần ngại yêu cầu bà làm việc muộn. Bà nói bà không ngại làm việc ngoài giờ cho nên anh yêu cầu bà làm thêm sáng thứ Bảy.
Bà đến vào lúc chín giờ, xỏ một chiếc quần Jeans luộm thuộm. Anh trao cho bà bản thỏa thuận - toàn bộ hai trăm lẻ sáu trang với những chỉnh sửa mới nhất - rồi yêu cầu bà in nó ra lần thứ tư. Anh phải gặp Avery vào lúc mười giờ.
Văn phòng chợt đổi khác vào ngày thứ Bảy. Tất cả các cộng sự đều ở đó cùng tất cả các đối tác và một vài thư ký. Không có thân chủ nào, không có quy định ăn mặc nào. Có quá đủ quần bò và áo bò để khai trương cả một cuộc diễu hành bò. Không cà vạt. Vài
Preppy xỏ những chiếc quần Duckhead đẹp nhất, mặc những chiếc sơ mi cài cổ được hồ bột cứng đến mức kêu răng rắc theo từng bước chân của họ.
Nhưng áp lực vẫn còn đó, ít ra là đối với Mitchell Y. McDeere, người cộng sự mới nhất. Anh đã hủy các cuộc hẹn ôn tập lấy chứng chỉ vào thứ Năm, thứ Sáu và thứ Bảy, và mười lăm cuốn sổ tay vẫn đang nằm gom bụi trên giá sách, nhắc nhở anh về khả năng trở thành thành viên đầu tiên bị trượt cuộc thi lấy chứng chỉ hành nghề.
Lúc mười giờ, lần rà soát thứ tư đã hoàn tất. Nina trịnh trọng đặt nó lên bàn làm việc của Mitch rồi đi thẳng vào phòng cà phê. Nó đã dày lên thành hai trăm lẻ chín trang. Anh đã đọc từng từ những bốn lần, anh đã nghiên cứu các điều khoản của luật thuế cho đến khi thuộc nằm lòng. Anh bước dọc hành lang, đến văn phòng của vị đối tác, rồi đặt nó lên bàn làm việc của ông ta. Một thư ký đang nhồi nhét giấy tờ vào chiếc cặp đồ sộ trong khi sếp của bà trao đổi qua điện thoại.
"Bao nhiêu trang?" Avery nói sau khi gác máy.
"Hơn hai trăm."
"Rất ấn tượng đấy. Có cực lắm không?"
"Cũng không cực lắm. Đây là bản rà soát lại lần thứ tư kể từ sáng hôm qua. Nó hầu như hoàn hảo."
"Để xem. Tôi sẽ đọc nó trên máy bay, rồi Capps sẽ đọc nó với chiếc kính lúp của ông ta. Ông ta mà tìm ra được một lỗi nào thì sẽ làm trời làm đất suốt cả tiếng đồng hồ rồi dọa không trả tiền. Có
bao nhiêu giờ trong đó vậy?"
"Năm mươi bốn giờ rưỡi kể từ thứ Tư."
"Tôi biết tôi xử ép. Cho tôi xin lỗi nhé. Anh đã có một tuần đầu nặng nhọc. Nhưng các thân chủ của chúng ta đôi khi còn ép tợn hơn nữa, và đây sẽ không phải là lần cuối chúng ta bị gãy cổ vì ai đó trả cho chúng ta hai trăm đô mỗi giờ. Đó là một phần của công việc."
"Tôi không bận tâm chuyện đó. Chỉ có điều tôi đã bị tụt lại phía sau trong việc ôn thi, nhưng tôi có thể bắt kịp."
"Cái gã lùn đê tiện Hudson đó có gây khó gì cho anh không?"
"Không."
"Nếu hắn mà làm vậy thì hãy báo cho tôi biết. Hắn chỉ là một người có năm năm thâm niên, và hắn rất thích chơi trò giáo sư. Cứ tưởng mình là học giả vậy. Tôi đặc biệt không ưa hắn."
"Ông ta không có vấn đề gì"
Avery bỏ bản thỏa thuận vào cặp.
"Bản cáo bạch và các tài liệu khác đâu?"
"Tôi mới chỉ soạn thảo rất sơ bộ các tài liệu đó. Ông nói chúng ta có hai mươi ngày lận mà."
"Đúng vậy, nhưng hãy làm cho xong đi nhé. Capps thường đòi hỏi từ rất lâu trước kỳ hạn. Anh có làm việc ngày mai không đấy?"
"Tôi đã có kế hoạch cho ngày mai. Vấn đề là vợ tôi cô ấy kiểu như cứ khăng khăng đòi chúng tôi phải đi lễ."
Avery lắc đầu. "Các bà vợ thật là phiền phức, đúng không?" Ông
hỏi mà không chờ đợi câu trả lời. Mitch không trả lời.
"Ta hoàn tất vụ Capps vào thứ Bảy tới nhé."
"Được. Không có vấn đề gì," Mitch nói.
"Chúng ta đã thảo luận vụ Koker-Hanks chưa nhỉ?" Avery hỏi trong lúc lục lọi một hồ sơ.
"Chưa."
"Nó đây rồi. Koker-Hanks là một tổng thầu lớn ở Kansas City. Ông ta nắm khoảng một trăm triệu giá trị hợp đồng trên khắp đất nước. Một công ty ở Denver có tên là Holloway Brothers đã chào mua Koker-Hanks. Họ muốn đổi chác một số chứng khoán, tài sản và hợp đồng rồi ném vào đó một số tiền mặt. Một giao dịch phức tạp ra phết. Anh làm quen với hồ sơ đó đi, chúng ta sẽ thảo luận vào sáng thứ Ba sau khi tôi về."
"Chúng ta có bao nhiêu thời gian?"
"Ba mươi ngày."
Nó không dày như hồ sơ Capps nhưng cũng bề thế chẳng kém. "Ba mươi ngày," Mitch lẩm bẩm.
"Giao dịch trị giá tám mươi triệu, và chúng ta sẽ hốt hai trăm ngàn tiền phí. Một giao dịch không tệ. Mỗi khi anh xem xét hồ sơ đó thì đừng quên tính phí theo giờ. Hãy bắt tay vào bất cứ khi nào anh có thể. Cứ mỗi khi cái tên Koker-Hanks thoáng qua đầu anh trong lúc anh lái xe đi làm thì hãy quy ngay nó thành một giờ. Vụ này thì chỉ có trời cao mới là giới hạn mà thôi."
Avery tỏ ra hào hứng với ý nghĩ bắt thân chủ phải trả bất cứ mức
phí nào, dù có cao cách mấy. Mitch từ biệt rồi trở về văn phòng của anh.
Vào khoảng thời gian các ly cocktail đã được uống cạn, trong lúc họ nghiên cứu bản danh mục rượu và lắng nghe Oliver Lambert so sánh các sắc thái, các tinh tế, các khác biệt của từng loại rượu Pháp, vào khoảng thời gian Mitch và Abby bắt đầu nhận ra họ nên ở nhà ăn pizza và xem TV, hai gã với chiếc chìa khóa đúng chui vào chiếc BMW đen bóng lộn ở bãi đậu của nhà hàng Justine's. Họ mặc áo vest, đeo cà vạt và trông có vẻ lén lút. Họ nhởn nhơ phóng xe đi, lái qua khu trung tâm rồi đi đến ngôi nhà mới của ông bà McDeere. Họ đậu chiếc BMW vào đúng chỗ của nó trong ga ra. Gã lái xe đút một chìa khóa khác vào ổ khóa cửa và cả hai bước vào nhà.
Hearsay bị nhốt vào phòng kho bên trong phòng vệ sinh. Trong bóng tối, một chiếc cặp da nhỏ được đặt lên bàn ăn. Những chiếc găng cao su mỏng loại dùng một lần được kéo dãn rồi xỏ vào các bàn tay. Mỗi người cầm một cây đèn pin nhỏ.
"Làm các điện thoại trước," một gã nói.
Họ làm việc rất nhanh trong bóng tối. Bộ thu của điện thoại bếp được rút dây và đặt lên bàn. Micro được tháo ốc và quan sát. Một bộ phát bé xíu cỡ trái nho được dán lên ổ khoang của bộ thu và giữ chặt ở đó trong mười giây. Khi keo rắn lại, chiếc micro được thay thế và bộ thu được cắm vào chiếc điện thoại treo trên tường bếp. Giọng nói, hay tín hiệu, sẽ được truyền dẫn đến một bộ thu nhỏ cài ở tầng áp mái. Một bộ phát lớn hơn bên cạnh bộ thu sẽ gửi tín hiệu băng
qua thành phố, đến một chiếc ăng ten trên đỉnh của tòa nhà Bendini. Sử dụng nguồn điện AC, những con bọ nhỏ trong điện thoại sẽ truyền dẫn đến bất tận.
"Lấy cái trong phòng làm việc."
Chiếc cặp da được đưa đến trường kỷ. Đứng trên chiếc ghế thư giãn, họ đóng một chiếc đinh nhỏ vào rìa của tấm ghép rồi rút nó ra. Một ống trụ đen chỉ nhỏ cỡ một milimét được cẩn thận nhét vào lỗ đinh. Nó được trám tại chỗ bằng những phát dặm nhẹ keo epoxi. Chiếc micro đã tàng hình. Một sợi dây dày cỡ sợi tóc người được khớp nhẹ nhàng vào kẽ nối của các tấm ghép rồi cho chạy lên trần. Nó sẽ được nối với bộ thu trên tầng áp mái.
Những micro tương tự được giấu trong các bức tường của từng phòng ngủ. Hai gã tìm thấy chiếc thang rút ở hành lang chính và họ leo lên tầng áp mái. Một gã lấy bộ thu và bộ phát từ cặp trong lúc gã kia tỉ mỉ rút những sợi dây nhỏ xíu ra khỏi các bức tường. Khi đã gom được chúng, hắn cuộn chúng lại với nhau, quấn lớp cách ly rồi cho chạy ra một góc, nơi đồng bọn của hắn đang đặt bộ phát vào một thùng các tông cũ. Một đường dây AC được bện và nối với thiết bị nguồn và truyền dẫn. Một ăng ten nhỏ được dựng lên, ló qua mái nhà chỉ vài phân.
Hơi thở của họ nặng nhọc hơn trong cái nóng hâm hấp của căn áp mái u tối. Vỏ nhựa nhỏ của một chiếc radio cũ được gắn quanh bộ phát và họ rải lớp cách ly và quần áo cũ xung quanh đó. Nó nằm ở một góc xa và ít có khả năng bị phát hiện trong nhiều tháng nữa,
có thể là nhiều năm nữa. Và nếu bị phát hiện thì nó cũng chỉ có vẻ là một món vật bỏ đi, vô giá trị. Nó có thể được thu nhặt và vứt đi mà chẳng ai nghi ngờ. Họ ngắm nghía công trình của họ trong vài giây rồi leo xuống thang.
Họ tỉ mỉ xóa các dấu vết và hoàn thành xong sau mười phút. Hearsey được thả khỏi phòng kho, và hai gã đàn ông lẩn vào ga ra. Họ nhanh chóng trở ra đường rồi tăng tốc lao vào màn đêm.
Khi món cá nục bỏ lò được phục vụ, chiếc BMW đã đậu cạnh nhà hàng. Gã lái xe lục túi quần và tìm ra chìa khóa của chiếc Jaguar màu nâu sẫm thuộc sở hữu của luật sư Kandall Mahan. Hai kỹ thuật viên khóa cửa chiếc BMW rồi leo vào chiếc Jag. Nhà Mahan sống gần đây hơn nhiều so với nhà McDeere, và căn cứ các bản đồ thì công việc cũng sẽ nhanh chóng hơn.
Tại tầng năm của tòa nhà Bendini, Marcus nhìn tấm pa nô với những ngọn đèn chớp tắt, chờ tín hiệu từ số nhà 1231 East Meadowbrook. Bữa tiệc tối đã rã đám từ ba mươi phút trước, và nay đã đến lúc để lắng nghe. Một ngọn đèn vàng be bé yếu ớt chớp. Ông vớ lấy tai nghe, gắn vào đầu rồi nhấn nút ghi âm và chờ đợi. Ánh sáng lục cạnh mã số McD6 bắt đầu chớp. Đó là ở bức tường phòng ngủ. Các tín hiệu rõ dần lên. Các giọng nói, thoạt đầu yếu ớt, trở nên rõ mồn một. Ông tăng âm lượng và lắng nghe.
"Jill Mahan là con điếm," giọng nữ, bà McDeere, đang nói. "Cô ta càng uống thì càng điếm hơn."
"Hình như cô ta thuộc dòng dõi quyền quý hay sao đó," ông
McDeere nói.
"Chồng của cô ta thì không sao, nhưng cô ta là một con khốn thứ thiệt," bà McDeere nói.
"Em có xỉn không đấy?"
"Sắp thôi. Em đã sẵn sàng cho một cuộc mây mưa đầy nhục dục."
Marcus tăng âm lượng rồi khom xuống ngọn đèn màu lam. "Cởi đồ của anh ra đi." Bà McDeere đòi hỏi.
"Lâu rồi ta chưa làm chuyện này," ông McDeere nói.
Marcus đứng dậy, lởn vởn bên trên các nút bấm và các ngọn đèn.
"Và đó là lỗi tại ai chứ?" bà McDeere hỏi.
"Anh chưa quên chuyện đó thế nào đâu. Em thật đẹp."
"Lên giường đi."
Marcus xoay chiếc nút có ghi chữ "volume" cho đến khi không хоау thêm được nữa. Ông mỉm cười với các ngọn đèn và thở gấp. Ông yêu các cộng sự này. Họ mới cứng cựa từ trường luật và tràn đầy năng lượng. Ông mỉm cười khi nghĩ về cuộc mây mưa. Ông nhắm mắt, dõi theo họ.
9
Cuộc khủng hoảng Capps qua đi đã hai tuần mà không có tai họa nào cả, chủ yếu nhờ vào chuỗi mười-tám-giờ-mỗi-ngày của thành viên mới nhất trong hãng, một thành viên chưa vượt qua cuộc thi lấy chứng chỉ mà lại quá bận rộn hành nghề luật đến mức không thể nào lo nghĩ về cuộc thi đó. Trong tháng Bảy anh ta đã ghi hóa đơn trung bình là năm mươi chín giờ mỗi tuần, một kỷ lục của hãng đối với một người chưa thành luật sư. Tại cuộc họp hàng tháng, Avery hãnh diện thông báo với các đối tác rằng lao động của McDeere là rất đáng nể so với một tân binh. Vụ việc Capps đã khép lại ba ngày trước lịch trình nhờ công của McDeere. Các tài liệu dày tổng cộng bốn trăm trang, tất cả đều hoàn hảo, tất cả đều được nghiên cứu chi li, được McDeere nháp đi nháp lại. Nhờ McDeere, vụ Koker-Hanks cũng sẽ được khép lại trong vòng một tháng, và hãng sẽ kiếm được gần hai trăm năm chục ngàn đô la. Anh ta quả là một cỗ máy.
Oliver Lambert bày tỏ sự quan ngại đối với việc ôn tập của anh ta. Kỳ thi lấy chứng chỉ chỉ còn chưa đầy ba tuần nữa, và ai ai cũng thấy rõ McDeere chưa sẵn sàng. Anh ta đã hủy một nửa các buổi ôn
thi trong tháng Bảy và mới chỉ học chưa đầy hai mươi giờ. Avery nói không có gì phải lo lắng cả vì lính của ông sẽ sẵn sàng.
Mười lăm ngày trước cuộc thi, Mitch cuối cùng cũng đã phàn nàn. Anh sắp trượt cuộc thi, anh giải thích như vậy với Avery khi dùng bữa trưa ở Câu lạc bộ Manhattan, và anh cần có thời gian để học, rất nhiều thời gian. Anh có thể học dồn trong hai tuần tới và sẽ vượt qua cuộc thi trong đường tơ kẽ tóc. Nhưng anh cần được buông thả. Không được có những kỳ hạn cuối. Không được có những việc khẩn. Không được có những màn thâu đêm. Anh bộc bạch. Avery chăm chú lắng nghe rồi xin lỗi. Ông hứa sẽ phớt lờ anh trong hai tuần tới. Mitch cảm ơn ông.
Vào thứ Hai đầu tiên của tháng Tám, cuộc họp của hãng được triệu tập trong thư viện chính ở tầng một. Đó là thư viện lớn nhất trong số bốn thư viện. Một nơi để phô diễn. Một nửa số luật sư ngồi trên hai mươi chiếc ghế xung quanh một bàn họp cổ bằng gỗ anh đào. Những người còn lại đứng bên những chiếc kệ chứa những cuốn sách luật bọc da dày cộm chưa từng bao giờ được ai mở ra xem suốt từ nhiều thập niên qua. Tất cả mọi thành viên đều hiện diện, kể cả Nathan Locke. Ông đến muộn và đứng một mình ở gần cửa. Ông không trò chuyện với ai và cũng chẳng ai ngó ngàng đến ông. Mitch liếc trộm Mắt Đen mỗi khi anh có dịp.
Tinh thần khá u ám. Không có nụ cười nào. Beth Kozinski và Laura Hodge được Oliver Lambert dẫn qua cửa. Họ ngồi ở phía trước căn phòng, đối mặt với bức tường nơi có treo hai bức chân dung phủ màn. Họ chìa tay ra bắt và cố gắng mỉm cười. Ông Lambert
đứng xoay lưng vào tường, đối mặt với nhóm cử tọa nhỏ này.
Ông nhỏ nhẹ nói, chất giọng nam trung giàu âm điệu làm khơi dậy cảm tình và cảm thông. Khởi đầu, ông hầu như chỉ thì thầm, nhưng uy lực trong giọng nói của ông khiến mọi âm thanh, thậm chí mọi âm điệu, phải dừng bặt khắp căn phòng. Ông nhìn hai bà quả phụ và nói về nỗi buồn đau sâu đậm mà hãng đang cảm nhận. Và họ sẽ luôn được chăm lo khi nào hãng vẫn còn tồn tại. Ông nói về Marty và Joe, về những năm đầu tiên của họ tại hãng, về tầm quan trọng của họ đối với hãng, về khoảng trống mênh mông mà cái chết của họ đã để lại. Ông nói về lòng yêu thương gia đình của họ, sự tận tụy của họ đối với vợ con.
Ông quả là nhà hùng biện. Ông phát biểu như đọc thơ, không mảy may suy tính câu kế tiếp sẽ là gì. Các bà quả phụ rấm rức khóc và lau nước mắt. Và rồi một vài người thân thiết hơn - Lamar Quin và Doug Turney - cũng bắt đầu sụt sịt.
Khi đã nói đủ, ông giựt tấm màn xuống khỏi bức chân dung của Martin Kozinski. Đó là một khoảnh khắc đầy xúc động. Đã có thêm những giọt nước mắt. Sẽ có một học bổng tại trường luật Chicago mang tên anh. Hãng sẽ lập một quỹ tài trợ cho việc học tập của các con anh. Gia đình cũng sẽ được chăm lo. Beth cắn môi, nhưng khóc to hơn. Những nhà thương lượng dày dạn, cứng cỏi, rắn như thép của hãng Bendini tuyệt vời cũng nuốt nhanh nước mắt và tránh nhìn lẫn nhau. Chỉ duy nhất Nathan Locke không biểu lộ cảm xúc. Ông nhìn bức tường bằng tia mắt laser xuyên thấu, không đếm xỉa đến
buổi lễ.
Rồi đến bức chân dung của Joe Hodge, cùng với bản tiểu sử tương tự, một học bổng tương tự, một quỹ hỗ trợ tương tự. Mitch nghe đồn Hodge đã mua hai triệu đô la tiền bảo hiểm sinh mạng bốn tháng trước khi anh ta chết.
Khi các bản điếu văn kết thúc, Nathan Locke biến mất qua cánh cửa. Các luật sư bu quanh các bà quả phụ, nói những lời ngọt dịu và ôm hôn họ. Mitch không quen biết họ và chẳng biết phải nói gì. Anh bước đến bức tường phía trước và ngắm các bức tranh. Cạnh các bức chân dung của Kozinski và Hodge còn có ba bức chân dung khác, tuy nhỏ hơn đôi chút nhưng cũng đường bệ chẳng kém.
Chân dung người phụ nữ thu hút sự chú ý của anh. Tấm biển đồng ghi là: "Alice Knauss 1948 – 1977."
"Cô ta là một sai lầm." Avery thì thào nói khi bước đến gần người cộng sự của ông.
"Ý ông là sao?" Mitch hỏi.
"Một luật sư nữ tiêu biểu. Đến đây từ Harvard, đứng đầu lớp và mang theo một nỗi thù hận chỉ bởi lẽ cô ta là nữ. Cô ta nghĩ toàn bộ những người nam hiện sống đều là đám phân biệt giới tính, và sứ mệnh của cô ta là phải loại bỏ sự phân biệt đó. Một ả khốn. Sau sáu tháng, tất cả chúng tôi đều ghét cô ta cay đắng nhưng không cách chi tống khứ được. Cô ta đã buộc hai đối tác phải nghỉ hưu sớm. Milligan đến nay vẫn quy kết cô ta là người đã gây ra cơn nhồi máu cơ tim của ông. Ông là đối tác phụ trách cô ta."
"Cô ta có phải là luật sư giỏi không?"
"Rất giỏi nữa là khác, nhưng tài năng của cô ta thì không thể nào đánh giá cao được. Cô ta quá hay gây gổ trong tất cả mọi chuyện."
"Chuyện gì đã xảy ra với cô ta?"
"Tông xe. Bị một gã say xỉn tông chết. Đó quả là một bi kịch."
"Cô ta là luật sư nữ đầu tiên của hãng?"
"Phải, và sẽ là người cuối cùng, trừ phi chúng ta bị kiện cáo." Mitch hất đầu về phía bức chân dung kế tiếp. "Còn người này là ai?"
"Robert Lamm. Ông ta là bạn thân của tôi. Tốt nghiệp trường luật Emory tại Atlanta. Ông ta hơn tôi cỡ ba tuổi."
"Chuyện gì đã xảy ra?"
"Chẳng ai biết cả. Ông ta là người mê săn bắn. Chúng tôi thường săn nai sừng tấm ở Wyoming vào mùa đông. Năm 1972, ông ta đi săn hưu ở Arkansas rồi mất tích. Một tháng sau người ta tìm thấy ông ta trong một khe núi với một lỗ thủng quyên qua đầu. Xét nghiệm tử thi cho thấy viên đạn đi vào từ sau ót rồi thổi tung phần lớn khuôn mặt của ông ta. Người ta kháo nhau rằng phát đạn được bắn từ tầm xa bởi một khẩu súng trường cực mạnh. Đó có lẽ là một tai nạn, nhưng chúng ta làm sao mà biết được. Tôi không tài nào hình dung có ai đó lại muốn giết Bobby Lamm."
Chân dung cuối cùng là của John Mickel, 1950 – 1984.
"Chuyện gì xảy ra với ông ta vậy?" Mitch thì thào.
"Có lẽ đây là trường hợp bi thảm nhất. Ông ta không phải là một người mạnh mẽ, và áp lực đã tác động lên ông ta. Ông ta uống rất
nhiều và bắt đầu dùng ma túy. Rồi vợ ông ta bỏ ông ta và họ đã có một cuộc ly hôn tồi tệ. Hãng đã rất lúng túng. Sau khi đã ở đây mười năm, ông ta bắt đầu e sợ mình không được trở thành đối tác. Chuyện rượu chè trở nên tồi tệ hơn. Ông ta đã bỏ ra cả một gia tài nhỏ để điều trị, cai nghiện, các thứ. Chẳng thứ nào có tác dụng cả. Ông ta bắt đầu bị trầm cảm rồi tự sát. Ông ta viết bảy trang thư tuyệt mệnh rồi tự bắn nát óc."
"Thật khủng khiếp."
"Đương nhiên rồi."
"Ông ta được tìm thấy ở đâu?"
Avery hắng giọng rồi liếc quanh căn phòng. "Trong văn phòng của anh đấy."
"Cái gì?"
"Đúng thế, nhưng chúng tôi đã lau dọn sạch sẽ cả rồi."
"Ông lại nói đùa nữa rồi!"
"Không, tôi nói nghiêm túc đấy. Chuyện này xảy ra từ nhiều năm nay, và văn phòng vẫn được sử dụng kể từ đó. Chẳng có vấn đề gì cả."
Mitch không thốt nên lời.
"Anh không mê tín đâu nhỉ?" Avery nhoẻn một nụ cười hiểm.
"Dĩ nhiên là không."
"Lẽ ra tôi nên nói cho anh biết, nhưng đó không phải là câu chuyện hay ho để mà kể."
"Tôi đổi văn phòng có được không?"
"Được chứ. Chỉ cần anh thi trượt chúng tôi sẽ cho anh một trong những phòng trợ lý luật sư dưới tầng hầm."
"Tôi mà trượt thì là lỗi tại ông đó."
"Đúng, nhưng anh sẽ không trượt đâu nhỉ?"
"Ông vượt qua được thì chẳng lẽ tôi lại không vượt qua."
Từ năm giờ đến bảy giờ sáng, tòa nhà Bendini trống rỗng và im ắng. Nathan Locke đến vào khoảng sáu giờ, nhưng luôn đi thẳng vào văn phòng của ông và khóa cửa lại. Đến bảy giờ, các cộng sự lục tục xuất hiện và có thể nghe thấy những giọng nói. Đến bảy giờ ba mươi, hãng đã có một lượng lớn người, và một tốp thư ký đã nhập mã để vào. Đến tám giờ, các hành lang đã chật kín và sự hỗn loạn diễn ra như thường lệ. Việc tập trung trở nên khó khăn. Gián đoạn trở nên chuyện thường tình. Điện thoại reo không ngừng nghỉ. Đến chín giờ, toàn bộ các luật sư, trợ lý luật sư, lục sự và thư ký đều đã hiện diện hoặc báo cáo vắng mặt.
Mitch rất trân quý sự cô quạnh của những giờ sớm. Anh chỉnh đồng hồ lên ba mươi phút và bắt đầu đánh thức Dutch vào lúc năm giờ, thay vì năm giờ ba mươi. Sau khi pha xong hai ấm cà phê, anh bước vẩn vơ trong hành lang tối đen, bật các nút đèn và thám sát tòa nhà. Thi thoảng, vào những sáng quang đãng, anh đứng trước cửa sổ trong văn phòng của Lamar, ngắm cảnh bình minh trên con sông Mississippi hùng vĩ. Anh đếm những chiếc sà lan ngay ngắn nối đuôi nhau trước khi các tàu kéo chầm chậm rẽ nước để đi lên
thượng nguồn. Anh ngắm các xe tải đang nhích qua cầu ở xa xa. Nhưng anh không lãng phí nhiều thời gian. Anh đọc các lá thư, các bản tóm tắt, các bản tổng kết, các bản ghi nhớ và hàng trăm tài liệu khác để Nina đánh máy và Avery đánh giá. Anh cố học nhồi nhét để vượt qua cuộc thi.
Buổi sáng sau buổi lễ dành cho các luật sư đã chết, khi đến thư viện ở tầng một để tìm một bản chuyên luận, một lần nữa các bức chân dung lại thu hút sự chú ý của anh. Anh bước đến bức tường và nhìn chúng, hồi nhớ lại bản cáo phó ngắn gọn mà Avery đã đưa ra. Năm luật sư từ trần trong hai mươi lăm năm. Đây là một nơi làm việc hiểm nghèo. Trong cuốn sổ tay, anh nguệch ngoạc ghi lại những cái tên và năm qua đời. Lúc này đã là năm giờ rưỡi.
Có gì đó đang động đậy ngoài hành lang, và anh quay phắt sang phải. Trong bóng tối, anh bắt gặp Mắt Đen đang đứng nhìn. Ông tiến đến cánh cửa và nhìn xoáy vào Mitch.
"Anh đang làm gì thế?" ông hỏi.
Mitch đối mặt ông và cố rặn một nụ cười. "Chào ông. Tôi đang ôn thi."
Locke liếc nhìn các bức chân dung rồi quay sang nhìn Mitch. "Tôi hiểu. Sao anh lại quan tâm đến họ nhiều như vậy?"
"Chỉ là tò mò thôi. Hãng ta có nhiều bi kịch nhỉ?"
"Họ đều chết cả rồi. Bi kịch thực sự sẽ đến nếu như anh không vượt qua được kỳ thi lấy chứng chỉ."
"Tôi dự định sẽ vượt qua nó."
"Tôi thì lại nghe khác. Chuyện học hành của anh đang gây lo lắng nơi các đối tác đấy."
"Các đối tác có lo lắng về chuyện ghi hóa đơn dồi dào của tôi không?"
"Đừng tự cao tự đại. Anh đã được dặn trước rằng cuộc thi lấy chứng chỉ phải là ưu tiên trên tất cả mọi việc. Đối với hãng này, một nhân viên không có chứng chỉ là một kẻ vô dụng."
Mitch đã nghĩ đến hàng chục cách thông minh để vặc lại, nhưng anh bỏ qua. Locke lui ra và biến mất. Trong văn phòng của mình, với cánh cửa đóng kín, anh cất những cái tên và năm tháng vào ngăn kéo rồi mở cuốn sách ôn tập về luật hiến pháp.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com