Tiểu sử các nhà văn cần phải nhớ để chuẩn bị cho kỳ thi Đại học
Quan điểm nghệ thuật
Trong cuộc đời cầm bút, Nam Cao luôn suy nghĩ về vấn đề Sống và Viết, rất có ý thức về quan điểm nghệ thuật của mình. Có thể nói,nhắc đến Nam Cao là nhắc đến chủ nghĩa hiện thực trong Văn học Việt Nam từ 1930 đến 1945,đấy mới thực sự tự giác đầy đủ về những nguyên tắc sáng tác của ông.
Thời gian đầu lúc mới cầm bút, chịu ảnh hưởng của văn học lãng mạn đương thời. Dần dần, Ông nhận ra thứ văn chương đó xa lạ với đời sống lầm than của người lao động; chính vì vậy, Ông đã đoạn tuyệt với nó và tìm đến con đường nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa. Tác phẩm Giăng sáng (1942); phê phán thứ văn chương thi vị hóa cuộc sống đen tối, bất công - Đó là thứ "Ánh trăng lừa dối". Nam Cao nhận thức nghệ thuật phải gắn bó với đời sống, nhìn thẳng vào sự thật "tàn nhẫn", phải nói lên nỗi khốn khổ, cùng quẫn của nhân dân và vì họ mà lên tiếng.
Đời thừa (1943); khẳng định phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi; ca tụng tình yêu , bác ái, công bằng. Và "Văn chương không cần đến sự khéo tay, làm theo một cái khuôn mẫu. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra cái gì chưa có". Ông đòi hỏi nhà văn phải có lương tâm, có nhân cách xứng với nghề; và cho rằng sự cẩu thả trong văn chương chẳng những là bất lương mà còn là đê tiện.
Sau 1945, tham gia kháng chiến chống Pháp, sẵn sàng hy sinh thứ nghệ thuật cao siêu với ý nghĩ: lợi ích dân tộc là trên hết. Nhật ký Ở rừng (1948) - là tác phẩm có giá trị của văn xuôi thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, thể hiện quan niệm "sống đã rồi hãy viết" và "góp sức vào công việc không nghệ thuật lúc này là chính để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn".
[sửa] Các đề tài chính
Trước cách mạng tháng 8
Người Trí thức nghèo: Nam Cao miêu tả sâu sắc tấn bi kịch tinh thần của người trí thức nghèo trong xã hội đương thời trước 1945, những "giáo khổ trường tư", những nhà văn nghèo, viên chức nhỏ - Đó là những trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm, có hoài bão, tâm huyết và tài năng, muốn xây dựng một sự nghiệp tinh thần cao quý; nhưng lại bị gánh nặng áo cơm và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm cho "chết mòn", phải sống như "một kẻ vô ích, một người thừa". Phê phán sâu sắc xã hội ngột ngạt, phi nhân đạo bóp ngẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người, đồng thời nói lên khao khát một lẽ sống lớn, có ích, có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người.
Người nông dân nghèo: Nhà văn dựng lên một bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam trước 1945 nghèo đói, xơ xác trên con đường phá sản, bần cùng, hết sức thê thảm; càng hiền lành, càng nhẫn nhục thì càng bị chà đạp, hắt hủi, bất công, lăng nhục tàn nhẫn; người nông dân bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa. Nam Cao không hề bôi nhọ người nông dân, trái lại, đã đi sâu vào nội tâm nhân vật để khẳng định nhân phẩm và bản chất lương thiện ngay cả khi bị vùi dập, cướp mất cà nhân hình, nhân tính của người nông dân; Kết án đanh thép cái xã hội tàn bạo đó trước 1945.
Sau cách mạng tháng 8
"Đôi mắt", tác giả thể hiện một cái nhìn, một quan điểm, một sự thay đổi đói với thời cuộc, có đi nhiều tìm hiểu nhiều va quan sát nhiều mới có sự thay đổi cách nhìn cách nghĩ[cần dẫn nguồn]
sau cách mạng tháng 8 nhà văn tích cực tham gia vào kháng chiến có sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật và nhìn nhận hướng đi mới cho nhân vật[cần dẫn nguồn]
những tác phẩm văn chương của Nam Cao đã trở thành những tuyên ngôn nghệ thuật cho giới nghệ sĩ đương thời [cần dẫn nguồn]
"Trăng sáng" là một tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao " Chao ôi! Chao ôi! Nghệ thuật không cần là ánh là ánh trăng lừa dối,nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thế chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than.
[sửa] Phong cách nghệ thuật
Đề cao con người tư tưởng, đặc biệt chú ý tới hoạt động bên trong của con người, coi đó là nguyên nhân của những hoạt động bên ngoài - Đây là phong cách rất độc đáo của Nam Cao. Quan tâm tới đời sống tinh thần của con người, luôn hứng thú khám phá "con người trong con người".
Tâm lý nhân vật trở thành trung tâm của sự chú ý, là đối tượng trực tiếp của ngòi bút Nam Cao.
Thường viết về những cái nhỏ nhặt, xoàng xĩnh. Từ cái sự tầm thường quen thuộc trong đời sống hàng ngày của "Những truyện không muốn viết", tác phẩm của Nam Cao làm nổi bật vấn đề xã hội có ý nghĩa to lớn triết lý sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật.
Giọng điệu riêng, buồn thương, chua chát.Ông có phong cách nghệ thuật triết lí trữ tình sắc lạnh. Có nhà nghiên cứu đã ví ông với nhà văn Lỗ Tấn của Trung Quốc với phong cách Téc-mốt (Phiên âm tiếng việt có nghĩa là cái phích nước)
Và quan niệm nghệ thuật của ông là " Nghệ thuật vị nhân sinh ( nghệ thuật phải viết về con người và hướng đến những điều tốt đẹp của con người); ông phê phán quan niệm " nghệ thuật vị nghệ thuật"
[sửa] Tác phẩm
[sửa] Kịch
Đóng góp (1951)
[sửa] Tiểu thuyết
Truyện người hàng xóm (1944) - Báo Trung văn Chủ nhật.
Sống mòn (viết xong 1944, xuất bản 1956)[4], ban đầu có tên Chết mòn - Nhà xuất bản Văn Nghệ.
Và bốn tiểu thuyết bản thảo bị thất lạc: Cái bát, Một đời người, Cái miếu, Ngày lụt.
[sửa] Truyện ngắn
Ba người bạn
Bài học quét nhà
Bẩy bông lúa lép
Cái chết của con Mực
Cái mặt không chơi được
Chuyện buồn giữa đêm vui
Cười
Con mèo
Con mèo mắt ngọc
Chí Phèo (1941)
Đầu đường xó chợ
Điếu văn
Đôi mắt (1948)
Đôi móng giò
Đời thừa (1943)
Đòn chồng
Đón khách
Nhỏ nhen
Làm tổ
Lang Rận
Lão Hạc (1943)
Mong mưa
Một truyện xu-vơ-nia
Một đám cưới (1944)
Mua danh
Mua nhà
Người thợ rèn
Nhìn người ta sung sướng
Những chuyện không muốn viết
Những trẻ khốn nạn
Nụ cười
Nước mắt
Nửa đêm
Phiêu lưu
Quái dị
Quên điều độ
anh tẻ
Rửa hờn
Sao lại thế này?
Thôi về đi
Giăng sáng (1942)
Trẻ con không được ăn thịt chó
Truyện biên giới
Truyện tình
Tư cách mõ
Từ ngày mẹ chết
Xem bói
Ngoài ra ông còn làm thơ và biên soạn sách địa lý với Văn Tân Địa dư các nước Châu Âu (1948), Địa dư các nước châu Á, châu Phi (19669), Địa dư Việt Nam (1951).
[sửa] Danh hiệu Tôn vinh
Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 1996.[5]
Tên Nam Cao được đặt tên cho Đường phố tại Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội; Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh; Thành phố Đà Nẵng[6]; Thành phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai; Thành phố Rạch Giá, Tỉnh Rạch Giá và một số địa phương khác.
Tố Hữu
Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành (4 tháng 10 năm 1920 - 9 tháng 12 năm 2002) là một tác gia có vị trí đặc biệt quan trọng, một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng Việt Nam. Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị của Việt Nam như Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Quan điểm chính trị
Ông là người đã phê phán quyết liệt phong trào Nhân văn-Giai phẩm (1958) với tư cách là người thay mặt Đảng Cộng sản Việt Nam phụ trách văn nghệ. Nhiều ý kiến coi ông là tác giả chính của vụ án văn nghệ-chính trị này[2].
Ông cũng được đánh giá là con người khá bảo thủ, khi bị phê bình về các tác phẩm của mình thì thường có phản ứng rất quyết liệt (theo nhận định của Văn Cao thì chính lí do này khiến ông bị nghi hoặc là có liên quan đến việc đẩy mạnh dập tắt phong trào Nhân văn-Giai phẩm và không được nhiều cảm tình từ phía các nghệ sĩ khác) [cần dẫn nguồn].
Ngoài ra, ông còn là nhà thơ chính trị, có một số bài thơ ca ngợi các lãnh tụ cộng sản quốc tế như Stalin (Đời đời nhớ Ông) hay Mao Trạch Đông (Đường sang nước bạn).
[sửa] Đóng góp văn học
[sửa] Các tác phẩm
Từ ấy (1946)
Việt Bắc (1954)
Gió lộng (1961)
Ra trận (1962-1971)
Máu và Hoa (1977)
Một tiếng đờn (1992)
Ta với ta (1999)
Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, thời đại ta (tiểu luận, 1973)
Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật (tiểu luận, 1981)
[sửa] Bài thơ tiêu biểu
Bác ơi
Bài ca xuân 1961
Bài ca quê hương
Bầm ơi!
Có thể nào yên?
Đi đi em!
Đời đời nhớ Ông
Đợi anh về (tập thơ dịch, 1998)
Em ơi... Ba Lan
Gặp anh Hồ Giáo
Hai đứa trẻ
Hồ Chí Minh
Hãy nhớ lấy lời tôi
Hoa tím
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên
Kính gửi cụ Nguyễn Du
Khi con tu hú
Lạ chưa
Lượm
Mẹ Suốt
Mồ côi
Một tiếng đờn
Mưa rơi
Sáng tháng Năm
Ta đi tới
Từ ấy
Tâm tư trong tù
Tương tri
Theo chân Bác
Tiếng chổi tre
Tiếng hát sông Hương
Tiếng ru
Vườn nhà
Việt Bắc (thơ, 1954)
Việt Nam máu và hoa
Xuân đang ở đâu...
Xuân đấy
[sửa] Tác phẩm dịch ra tiếng nước ngoài
[sửa] Phong tặng và Giải thưởng văn học chính
Giải nhất giải thưởng văn học Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955 (tập thơ Việt Bắc)
Giải thưởng Văn học ASEAN của Thailand năm 1996 cho tập thơ "Một tiếng đờn".
Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (đợt 1, 1996)
Huân chương Sao Vàng (1994)
[sửa] Phong cách nghệ thuật
[sửa] Về nội dung
Thơ Tố Hữu mang đậm chất trữ tình chính trị sâu sắc:
Trong việc biểu hiện tâm hồn, thơ, Tố Hữu luôn hướng đến cái ta chung:
Hồn thơ Tố Hữu luôn hường đến cái ta chung, lẽ sống lớn, niềm vui lớn của dân tộc và của Cách mạng. Cái tôi nếu có là cái tôi của người chiến sĩ, cái tôi nhân danh Đảng và dân tộc. Vì thế có ý nghĩa khái quát, rộng lớn.[3]
Cảm hứng thơ Tố Hữu thường bắt đầu từ cảm hứng chính trị, từ những tình cảm lớn cao cả, tiêu biểu: tình yêu lý tưởng, lãnh tụ, đồng bào đồng chí,....[3]
Trong việc miêu tả đời sống, thơ Tố Hữu mang đậm chất sử thi:
Đối tượng thể hiện chủ yếu trong thơ Tố Hữu là những sự kiện lớn của dân tộc, những vấn đề có ý nghĩa lịch sử, có tình chất toàn dân, những biến cố quan trọng tác động đến vận mệnh dân tộc → cảm hứng chủ đạo trong thơ là cảm hứng lịch sử dân tộc, là vận mệnh của cộng đồng.[3]
Các nhân vật trữ tình thường mang phẩm chất tiêu biểu cho dân tộc: anh vệ quốc quân, anh giải phóng quân,....[3]
Tất cả những điều trên thể hiện qua giọng thơ mang tính chất tâm tình rất tự nhiên đằm thắm, chân thành:
Nhiều vấn đề chính trị kho khan được diễn tả bằng tình cảm của muôn đời: tình mẹ con, vợ chồng, tình yêu đôi lứa → giọng điệu của tình thương mến.[3]
Đặc biệt: tác giả rung động trước đời sống cách mạng trong kháng chiến → hướng về đồng chí, đồng bào mà trò chuyện tâm tình, nhắn nhủ. Những lời tâm tình đó có cội nguồn từ chất Huế trong hồn thơ Tố Hữu[3]
[sửa] Về nghệ thuật
Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Tố Hữu mang tính dân tộc rất đậm đà[3]
Về thể thơ: Tố Hữu có tiếp thu những tinh hoa của phong trào Thơ mới, nhưng ông đặc biệt thành công khi vận dụng những thể thơ truyền thống của dân tộc. Những bài thơ lục bát mang cả sắc thái lục bát ca dao và lục bát cổ điển, dạt dào những âm hưởng nghĩa tình của hồn thơ dân tộc. Những bài thơ theo thể thất ngôn trang trọng nhưng không khuôn sáo, trái lại, hơi thơ rất liền mạch, tự nhiên, điễn tả được hiện thực đa dạng và nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau[3]
Về ngôn ngữ: ông thường sử dụng những từ ngữ và cách nói quen thuộc với dân tộc. Đặc biệt, thơ Tố Hữu đã phát huy cao độ tính nhạc phong phú của Tiếng Việt, nhà thơ sử dụng rất tài tình các từ láy, các thanh điệu, các vần thơ[3]
[sửa] Sự kiện rắc rối sau khi ông mất
Bài phỏng vấn Tố Hữu với tựa đề: "Gặp Tố Hữu tại biệt thự 76 Phan Đình Phùng" của Nhật Hoa Khanh được công bố sau khi ông mất đã gặp phải sự phản kháng từ gia đình ông. Vào tháng 4 năm 2004, tài liệu này bắt đầu được phổ biến trong giới văn nghệ, báo chí tại Việt Nam. Vào tháng 5 năm 2004, báo Quân Đội Nhân Dân trích đăng 3 kì từ tài liệu này với nhan đề "Tố Hữu" và "Hoan hô chiến sĩ Điện Biên", (kì số 3 vào ngày 7 tháng 5 năm 2004). Ngoài ra bài này cũng được đăng thành nhiều phần nhỏ trong các báo khác như Nhân Dân, Tiền Phong Chủ Nhật, Người Hà Nội,... Nội dung bài phỏng vấn có nhắc tới các sự kiện văn hóa trước đây như Nhân văn-Giai phẩm và các nhà văn nạn nhân..., ông Tố Hữu có những lời ca ngợi các người này.
Bài phỏng vấn được thực hiện năm 1997, nhưng đến khi phổ biến thì bị bà Vũ Thị Thanh, vợ của Tố Hữu, phủ nhận và cho đó là những tài liệu giả mạo "pha chế nhiều ý kiến riêng, mượn danh Tố Hữu, biến Tố Hữu thành người phát ngôn cho ý mình". Bà yêu cầu cơ quan chức năng vào cuộc để điều tra làm rõ sự giả mạo của tài liệu này, nhưng ông Nhật Hoa Khanh nói có đầy đủ băng ghi âm ghi lại cuộc nói chuyện của ông với Tố Hữu.
Thực hay giả, đúng hay sai, nhưng thực tế nó đã được các tờ báo chính thống ở Việt Nam phổ biến. Sau đó sự kiện này không được các cơ quan báo chí, văn nghệ nhắc tới nữa[4].
[sửa] Đánh giá về Tố Hữu
Cuối cùng, như mọi kiếp người, ông đã giã từ đời sống về nơi cát bụi trong một ngày mùa đông giá rét. Ông không còn được lưu lại trên thế gian để đón thêm một mùa xuân nữa. Từ đây, những câu thơ viết về mùa xuân của ông mà có thời rất nhiều người đọc Việt Nam chờ đợi khi xuân tới sẽ chẳng bao giờ sinh ra. Một lần, tôi gặp ông trong một cuộc hội thảo, ông bảo tôi: "Hôm nào tới nhà mình chơi, mình kể cho ông mấy chuyện hay lắm. ông có khả năng viết tư liệu đấy." Nhưng cuộc trò chuyện ấy không bao giờ có được. Có thể sau này, khi tôi cũng thành người thiên cổ và gặp ông ở cõi vĩnh hằng thì có thể tôi sẽ được ông kể cho nghe. Nhưng tôi nghĩ trong cõi vĩnh hằng, những chuyện dở, chuyện hay chẳng còn quan trọng gì nữa. Vì nơi ấy, mọi đau khổ đều được chữa chạy, mọi tăm tối đều được chiếu sáng, mọi lầm lỗi đều được tha thứ, mọi sợ hãi đều được che chở, mọi tuyệt vọng đều được cứu vớt... Giờ đây, linh hồn ông đang mỉm cười hay đang suy ngẫm, thở phào nhẹ nhõm hay dằn vặt khổ đau - (Nguyễn Quang Thiều).[5]
XUÂN DIỆU
I/ Tác giả:
1. Cuộc đời:
- Tên thật là Ngô Xuân Diệu (1916-1985) Ông là gương mặt xuất sắc bậc nhất của nền văn học hiện đại Việt Nam.
- Xuân Diệu xuất thân trong một gia đình Nho học. Cha là ông đồ xứ nghệ - người huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Nhà thơ sinh ra ở quê mẹ: "Bình Định lúa xanh ôm bóng tháp tràm", "quê mẹ gió nồm thổi lên tươi mát".
- Tuôi thơ không ít bất hạnh: là con vợ lẽ, sớm phải sống xa mẹ, luôn thiếu vắng tình yêu thương.
- Trước cách mạng tháng 8 Xuân Diệu từng học ở Quy Nhơn, trường Bưởi - Hà Nội, trường Khải Định - Huế. Sau đó đỗ tham tá nha Thương chính vào làm ở ti Thương chính Mĩ Tho. Sau 4 năm làm công chức, ông thôi việc ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn.
- Ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công ông gia nhập đoàn quân cách mạng tham gia kháng chiến, dùng ngòi bút phục vụ đắc lực nhân dân đất nước. Ông từng làm Uỷ viên ban chấp hành hội nhà văn Việt Nam các khóa 1,2,3. Ông được Viện Hàn Lâm nghệ thuật nước Đức bầu làm viện sĩ thông tấn. Ông vịnh dự được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I.
Xuân Diệu là một nghệ sĩ lớn của dân tộc Việt Nam, một tài năng nhiều mặt có đóng góp to lớn cho văn học dân tộc.
2. Con người.
- Sinh ra và lớn lên ở vùng quê Bình Định - nơi quê mẹ có nhiều cảnh sắc tươi đẹp và thơ mộng. Con người và hồn thơ Xuân Diệu luôn trẻ trung nồng nàn sôi nổi và tươi mới với bao khát vọng mãnh liệt khi hướng tới cuộc đời thiên nhiên, tình yêu.
- Tuổi thơ Xuân Diệu không ít buồn thương. Chính hoàn cảnh của một đứa trẻ thiếu tình thương, thường sống trong sự hắt hủi ... đã tác động rất nhiều đến cuộc đời và tâm hồn nhà thơ. Ông luôn sợ hãi sự cô đơn, bóng tối; nhạy cảm trước cái mong manh ngắn ngủi của kiếp người, của cái đẹp trước dòng chảy thời gian.
- Xuân Diệu đã thừ hưởng ở cha là ông đồ Nghệ đức tính thông minh và hiếu học cũng như những văn hoá truyền thống. Tuy nhiên Xuân Diệu là một trí thức Tây học nên ý thức cá nhân rất mạnh mẽ, sâu sắc. Đồng thời chịu ảnh hưởng rất lớn của văn học phương Tây và nhất là thơ ca lãng mạn Pháp.
- Xuân Diệu trải qua một cuộc đời có nhiều biến động của đất nước (2 cuộc vệ quốc vĩ đại) nên con người cũng có những biến chuyển đi lên cùng đất nước.
Xuân Diệu là một tác giả lớn, một tài năng nhiều mặt trong nền văn học Việt Nam. Đây là một nghệ sĩ có sức sáng tạo dồi dào luôn sống hết mình với cuộc đời, vì nhân dân, vì tình yêu:
Trong hơi thở chót dâng trời đất
Cũng vẫn si tình đến ngất ngư.
II/ Sự nghiệp văn chương
Mảng Thơ ca
A- Trước cách mạng:
Xuân Diệu được đánh giá là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới (Hoài Thanh)
1. Xuân Diệu là nhà thơ của niềm khát khao giao cảm mãnh liệt với đời
2. Xuân Diệu là nhà thơ tình độc đáo nhất vào thế kỉ XX. Thơ tình Xuân Diệu rất nồng và tư đồng thời rất phong phú và lung linh.
3. Thơ Xuân Diệu có nhiều cách tân táo bạo trong việc phá vỡ hệ thống ước lệ mang tính phi ngã của thơ cũ.
- Cái nhìn mới mang quan điểm mới trong mĩ thuật của Xuân Diệu.
- Xuân Diệu sáng tạo nên một thế giới nghệ thuật mới đầy xuân sắc, xuân tình.
4. Thơ Xuân Diệu chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ tượng trưng Pháp cuối thế kỉ IXX.
- Trường thơ tượng trưng Pháp: Pođle, Vecle. Đặc điểm:
Quan niệm vũ trụ là bản thể vô hình và huyền bí mà mắt thường không thể nhìn đựơc. Những thứ ta nhìn nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy chỉ là biểu tượng của vũ trụ.
Quan niệm thơ ca: người nghệ sĩ là người có tâm hồn ưu tú và chỉ có họ mới có thể xuyên qua bản thể vô hình để nắm bắt những cái huyền hồ, long lanh của vũ trụ
Đề cao tính nhạc trong thơ.
- Trong thơ Xuân Diệu trước cách mạng có hai tâm trạng dường như đối lập mâu thuẫn nhưng lại có quan hệ nhân quả với nhau: yêu đời thiết tha với cuộc sống nhưng hoài nghi chán nản, cô đơn. Dù ở trạng thái cảm xúc nào Xuân Diệu cũng bộc lộ cái tôi cá nhân hết sức chói lọi và mãnh liệt.
- Với Xuân Diệu sự sống có ý nghĩa nhất của mỗi con người là được sống hết mình, yêu hết mình, sống đủ đầy và sâu sắc, chói lọi và huy hoàng trong từng phút giây cao độ của tuổi trẻ tình yêu và cá nhân. Điều đó làm nên triết lí cá nhân tích cực mới mẻ chưa từng có trong thơ ca truyền thống (Vội vàng, Giục giã)
- Xuân Diệu là nhà thơ của niềm khao khát giao cảm mãnh liệt với đời - cuộc đời hiểu theo nghĩa trần thế nhất. Cái tôi của thi sĩ bộc lộ ý thức sống thành thực nhất, mãnh liệt nhất và tiêu biểu nhất cho thơ mới nhưng không hoà tan vào biển đời vô danh, nhạt nhẽo, không trốn tránh cõi đời mà luôn khẳng định trong mối quan hệ hoà hợp giữa cuộc đời với con người. Điều đó được bộc lộ rõ nét và độc đáo qua những vần thơ tình nồng và trẻ, qua cặp mắt xanh non biếc rờn trước tự nhiên vũ trụ một lòng người (Vội vàng, thơ duyên, Đây Mùa thu tới)
- Với một tâm hồn nồng tình yêu cuộc sống và luôn khát khao giao cảm mãnh liệt, say mê ngoại giới và sự đồng điệu của tâm hồn như thế, thơ tình của Việt Nam là một vườn hoa bát ngát hương sắc, là một bản nhạc ngân rung bao giai điệu yêu thương. Thơ Xuân Diệu là một thứ "đặc sản" rất nồng và trẻ (Thơ Duyên, Vội Vàng, Yêu, Giục Giã)
- Đối diện với một hiện tại ngột ngạt, tăm tối, tiếng nói tâm hồn của Xuân Diệu cũng như các nhà thơ lãng mạn đương thời manh nặng nỗi đau đời và sự bế tắc những mảnh hồn thi sĩ nương náu vào thiên nhiên, tình yêu...
Chiếc đảo hồn tôi rộn 4 bề.
- Thơ Xuân Diệu vừa kế thừa tinh hoa nghệ thuật truyền thống phương Đông, vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc thưo ca lãng mạn phương Tây, nhất là thơ ca lãng mạn Pháp cuối thế kỉ 18. Xuân Diệu là một cây bút có nhiều cách tân táo bạo trong việc phá vỡ hệ thống ước lệ mang tính "phi ngã" của thơ cũ. Với Xuân Diệu, con người là đẹp nhất và đẹp nhất là ở giữa tuổi trẻ, tình yêu. Điều đó làm nên đặc điểm thi pháp rất Xuân Diệu, tạo nên thế giới nghệ thuật xuân sắc, xuân tình (Thơ Duyên, Vội Vàng). Qua các sáng tạo của "Thơ Thơ" người đọc nhận thấy Xuân Diệu có năng lực đặc biệt trong cảm nhận và mô tả những cái vô hình huyền diệu, tinh vi nhất của vũ trụ và lòng người "thạo dò la những điều tinh tế nhất". Mặt khác, những vần thơ của thi sĩ còn hấp dẫn bởi tính nhạc phong phú tràn đầy cảm xúc, cảm giác, nhiều từ ngữ, hình ảnh táo bạo, mới lạ (Nguyệt Cầm,...)
-
B- Sau cách mạng:
- Chân trời thơ Xuân Diệu rộng mở khi viết về đất nước, nhân dân, đảng, cách mạng:
Tôi đứng giữa muôn người chiến đấu
Giữa triệu người yêu dấu gian nan
- Ngọn quốc kì (1945), Hội nghị non sống (1946) là hai bản tráng ca viết về Đảng, về nhân dân trong niềm vui lớn của nghệ sĩ, ý thức của một cái tôi công dân của một trí thức, nghệ sĩ yêu nước đã tạo cho thơ ca Xuân Diệu một nguồn mạch mới trong cảm hứng sáng tạo nghệ thuật. Vẫn viết nhiều về tình yêu nhưng thơ tình Xuân Diệu sau cách mạng rất cuồng trong sục sôi, không cô đơn xa cách mà nói nhiều đến tình yêu nên vợ nên chồng, sự hoà hợp giữa tình cảm lứa đôi và tình yêu tổ quốc (Biển, Hôn...)
- Một số tập thơ tiêu biểu sau cách mạng: Riêng chung (1960), 2 đợt sóng, Hồn tôi đôi cánh...
Mảng Văn xuôi
- Văn xuôi ông rất phong phú, đa dạng và đặc sắc với truyện ngắn, bút kí (Phấn Thông Vàng, Trường Ca...)ở đó là những trang viết giàu chất thơ cùng với một tâm hồn nghệ sĩ khát khao giao cảm với đời, với người.
- Xuân Diệu viết với cả bút pháp hiện thực và lãng mạn nhưng nghiêng về lãng mạn
- Xuân Diệu có đóng góp rất lớn với loại truyện ngắn ý tưởng (Toả Nhị Kiều)
=> Xuân Diệu là nhà thơ đem nhiều cái mới nhất cho thơ ca Việt Nam hiện đại (Vũ Ngọc Phan)
Hai đóng góp quan trọng:
- Niềm khát khao giao cảm với đời
- Một quan điểm mĩ học mới mẻ
Nội dung:
1. Thơ Xuân Diệu chủ yếu là niềm khát khao giao cảm với đời. Cuộc đời hiểu theo nghĩa trần thế nhất. Đây là tư tưởng cơ bản xuyên súôt sự nghiệp văn học của Xuân Diệu, nó cắt nghĩa mọi hiện tượng. Xuân Diệu làm thơ, viết văn, dịch thuật, nói chuyện thơ trước công chúng, giới thiệu thơ Việt Nam ra nước ngoài,.. Dường như có bao nhiêu phương tiện giao cảm là có bấy nhiêu công việc cho ông làm. Nhà thơ nào cũng có niềm khát khao giao cảm nhưng ở Xuân Diệu khát khao này đạt đến mức mãnh liệt và cuồng nhiệt, nhiều khi vội vàng đến cuống quýt tạo ra hơi thở nồng nàn gấp gáp của thơ ông. Xuân Diệu tự nhận mình là kẻ "uống tình yêu dập cả môi". Sau này tuổi đã cao nhưng trái tim khát khao giao cảm của Xuân Diệu dành cho cuộc đời, con người, cây cỏ không hề giảm bớt , ông đón nhận một cái chết rất Xuân Diệu:
"Hãy để cho tôi được giã từ
Vẫy chào cõi thực để vào mơ
Trong hơi thở chót dâng trời đất
Cứ vẫn si tình đến ngất ngư"
Ngừơi khát khao giao cảm như thế ắt là thi sĩ của tình yêu. Xuân Diệu từng đựơc tuổi trẻ phong tặng là "ông hoàng của thơ tình". Trong cuộc đời văn học của mình, thơ tình chính là mảng có giá trị nhất trong thơ ông. Với Xuân Diệu, lần đầu tiên trong thơ ca Việt, tình yêu đựơc là một quan niệm rất mới mẻ: gắn tình yêu tinh thần với tình yêu thể xác.
Từ khát khao giao cảm với đời, Xuân Diệu cũng là thi sĩ của thiên nhiên. Ông viết về mọi biến thái tinh vi nhất của thiên nhiên và lòng người, ông lắng nghe những chuyển động âm thầm nhất, tinh tế nhất của vũ trụ. Cảm nhận của ông về thiên nhiên vũ trụ đạt đến mức huyền diệu.
2. Thơ ông mang đến cho thơ ca quan điểm mĩ học hiện đại
Người xưa thường lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho cái đẹp. Con người muốn được coi là đẹp phải đo bằng thước đo thiên nhiên: Phù dung như diện liễu như mi
Xuân Diệu làm một cuộc cách mạng trong thơ ca Việt về quan điểm mĩ học: thước đo cái ĐẸP từ thiên nhiên trao lại cho con người. Con người trở thành chuẩn mực mới của cái đẹp tạo hoá. Nhờ thế ông đã sáng tạo nên những câu thơ kiệt xuất "Lá liễu dài như một nét mi", "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần". Mĩ học của Xuân Diệu là mĩ học tôn xưng con người giàu màu sắc nhân bản.
-> Xuân Diệu không chỉ là một thi sĩ lớn mà còn là một nhà nghiên cứu thông tin bác cổ. Chế Lan Viên từng coi một mình Xuân Diệu là cả một thư viện lớn. Trước sau, đóng góp quan trọng nhất của Xuân Diệu vẫn là lĩnh vực thơ ca. Chỉ riêng những áng thơ trước cách mạng tháng 8, Xuân Diệu đã được coi là tài năng kiệt xuất của thơ ca Việt Nam, hay nói như Hoài Thanh, Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới."
Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân quê ở xã Nhân Mục (tên nôm là Mọc), thôn Thượng Đình, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn.
Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung (tương đương với cấp Trung học cơ sở hiện nay) thì bị đuổi vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt (1929). Sau đó ít lâu ông lại bị tù vì "xê dịch" qua biên giới không có giấy phép[1]. Ở tù ra, ông bắt đầu viết báo, viết văn.
Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1930, nhưng nổi tiếng từ năm 1938 với các tác phẩm tùy bút, bút ký có phong cách độc đáo như Vang bóng một thời, Một chuyến đi... Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì gặp gỡ, tiếp xúc với những người hoạt động chính trị.
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới. Từ 1948 đến 1958, ông giữ chức Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam.
Các tác phẩm chính sau cách mạng của Nguyễn Tuân là tập bút ký Sông Đà (1960), một số tập ký chống Mỹ (1965-1975) và nhiều bài tùy bút về cảnh sắc và hương vị đất nước.
Nguyễn Tuân mất tại Hà Nội vào năm 1987, để lại một sự nghiệp văn học phong phú với những trang viết độc đáo và tài hoa. Năm 1996 ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I). [2]
Quá trình sáng tác và các đề tài chính
Nguyễn Tuân không phải là nhà văn thành công ngay từ những tác phẩm đầu tay. Ông đã thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút kí, truyện ngắn hiện thực trào phúng. Nhưng mãi đến đầu năm 1938, ông mới nhận ra sở trường của mình và thành công xuất sắc với các tác phẩm: Một chuyến đi, Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Chiếc lư đồng mắt cua...
Tác phẩm Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám chủ yếu xoay quanh ba đề tài: "chủ nghĩa xê dịch", vẻ đẹp "vang bóng một thời", và "đời sống truỵ lạc".
Nguyễn Tuân đã tìm đến lí thuyết "chủ nghiã xê dịch" này trong tâm trạng bất mãn và bất lực trước thời cuộc. Nhưng viết về "chủ nghĩa xê dịch", Nguyễn Tuân lại có dịp bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và phong vị của đất nước mà ông đã ghi lại được bằng một ngòi bút đầy trìu mến và tài hoa (Một chuyến đi).
Không tin tưởng ở hiện tại và tương lai, Nguyễn Tuân đi tìm vẻ đẹp của quá khứ còn "vang bóng một thời". Ông mô tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã. Tất cả được thể hiện thông qua những con người thuộc lớp người nhà Nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thua cuộc nhưng không chịu làm lành với xã hội thực dân (như Huấn Cao Chữ người tử tù).
Nguyễn Tuân cũng hay viết về đề tài đời sống truỵ lạc. Ở những tác phẩm này, người ta thường thấy có một nhân vật "tôi" hoang mang bế tắc. Trong tình trạng khủng hoảng tinh thần ấy, người ta thấy đôi khi vút lên từ cuộc đời nhem nhuốc, phàm tục niềm khao khát một thế giới tinh khiết, thanh cao (Chiếc lư đồng mắt cua).
Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông chân thành đem ngòi bút phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc, nhưng Nguyễn Tuân luôn luôn có ý thức phục vụ trên cương vị của một nhà văn, đồng thời vẫn muốn phát huy cá tính và phong cách độc đáo của mình. Ông đã đóng góp cho nền văn học mới nhiều trang viết sắc sảo và đầy nghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu và sản xuất.
[sửa] Phong cách nghệ thuật
Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo và sâu sắc.
Trước Cách mạng tháng Tám, phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể thâu tóm trong một chữ "ngông"[cần dẫn nguồn].
Thể hiện phong cách này, mỗi trang viết của Nguyễn Tuân đều muốn chứng tỏ tài hoa uyên bác. Và mọi sự vật được miêu tả dù chỉ là cái ăn cái uống, cũng được quan sát chủ yếu ở phương diện văn hoá, mĩ thuật.
Trước Cách mạng tháng Tám, ông đi tìm cái đẹp của thời xưa còn vương sót lại và ông gọi là Vang bóng một thời. Sau Cách mạng, ông không đối lập giữa quá khứ, hiện tại và tương lai[cần dẫn nguồn]. Văn Nguyễn Tuân thì bao giờ cũng vậy, vừa đĩnh đạc cổ kính, vừa trẻ trung hiện đại[cần dẫn nguồn].
Nguyễn Tuân học theo "chủ nghĩa xê dịch". Vì thế ông là nhà văn của những tính cách phi thường, của những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, của những phong cảnh tuyệt mĩ, của gió, bão, núi cao rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội...
Nguyễn Tuân cũng là một con người yêu thiên nhiên tha thiết. Ông có nhiều phát hiện hết sức tinh tế và độc đáo về núi sông cây cỏ trên đất nước mình. Phong cách tự do phóng túng và ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân đã khiến Nguyễn Tuân tìm đến thể tuỳ bút như một điều tất yếu[cần dẫn nguồn].
Nguyễn Tuân còn có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam.
Sau Cách mạng tháng Tám, phong cách Nguyễn Tuân có những thay đổi quan trọng. Ông vẫn tiếp cận thế giới, con người thiên về phương diện văn hóa nghệ thuật, nghệ sĩ, nhưng giờ đây ông còn tìm thấy chất tài hoa nghệ sỹ ở cả nhân dân đại chúng. Còn giọng khinh bạc thì chủ yếu chỉ là để ném vào kẻ thù của dân tộc hay những mặt tiêu cực của xã hội.
[sửa] Những tác phẩm nổi tiếng
Ngọn đèn dầu lạc (1939)
Vang bóng một thời (1940)
Một chuyến đi (1941)
Chiếc lư đồng mắt cua (1941)
Tàn đèn dầu lạc (1941)
Một chuyến đi (1941)
Tùy bút (1941)
Thiếu quê hương (1943)
Tóc chị Hoài (1943)
Tùy bút II (1943)
Nguyễn (1945)
Chùa Đàn (1946)
Đường vui (1949)
Tình chiến dịch (1950)
Thắng càn (1953)
Chú Giao làng Seo (1953)
Đi thăm Trung Hoa (1955)
Tùy bút kháng chiến (1955)
Tùy bút kháng chiến và hòa bình (1956)
Truyện một cái thuyền đất (1958)
Tùy bút Sông Đà (1960)
Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972)
Ký (1976)
Tuyển tập Nguyễn Tuân (tập I: 1981)
Cảnh sắc và hương vị đất nước (1988)
Truyện Kiều (tiểu luận văn học)
Tú Xương
Yêu ngôn (2000, sau khi mất) [2]
[sửa] Nhận định
Có ý kiến cho rằng, Nguyễn Tuân là một cái định nghĩa về người sĩ.ai? Đối với ông, văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật trước hết phải là nghệ thuật, và đã là nghệ thuật thì phải có phong cách độc đáo. Nhưng Nguyễn Tuân, xét từ bản chất, không phải là người theo chủ nghĩa hình thức. Tài phải đi đôi với tâm. Ấy là "thiên lương"[5] trong sạch, là lòng yêu nước thiết tha, là nhân cách cứng cỏi trước uy quyền phi nghĩa và đồng tiền phàm tục.
Người đọc mến Nguyễn Tuân về tài, nhưng còn trọng ông về nhân cách ấy nữa. Văn Nguyễn Tuân, tuy thế, không phải ai cũng ưa thích. Vả lại một số bài viết của ông cũng có nhược điểm: mạch văn quá phóng túng theo lối tùy hứng, khó theo dõi; nhiều đoạn tham phô bày kiến thức và tư liệu khiến người đọc cảm thấy nặng nề.
v NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH(1890-1969)
•1. Con người:
NAQ-HCM là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, là người anh hùng giải phóng dân tộc VN, đồng thời người cũng là một nhà văn hoá lớn.
HCM tên gọi thời niên thiếu là Nguyễn Sinh Cung, trong thời kì đầu hđộng CM mang tên NAQ, sinh ngày 19.5.1890 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An.
Năm1911, HCM ra đi tìm đường cứu nước từ bến cảng Nhà Rồng. Tháng 1.1919, Người đưa bản Yêu sách của nhân dân An Nam về quyền bình đẳng, tự do đến Hội nghị Véc xai (Pháp). Năm 1920, Người dự Đại hội Tua và là một trong những thành viên đầu tiên tham gia sáng lập ĐCS Pháp. HCM đã tham gia thành lập nhiều tổ chức CM như: VNTNCMĐCH (1925), Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức á Đông (1925) và chủ toạ hội nghị thống nhất các tổ chức Cộng Sản ở trong nước tại Hương Cảng, thành lập ĐCS VN (3.2.1930). Tháng 2.1941, Người về nước hoạt động và thành lập Mặt trận Việt Minh, trực tiếp lãnh đạo phong trào CM ở trong nước giành thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám.1945. Sau hơn 30 năm, trải qua nhiều năm tháng hoạt động cách mạng, ngày 2/9/1945 HCM đã đọc bản "TNĐL" tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, khai sinh ra nước VNDCCH. Sau cuộc tổng tuyển cử đầu tiên 6.1.1946, Người được bầu làm Chủ tịch nước VNDCCH. Từ đó Người luôn đảm nhiệm những chức vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước, lãnh đạo toàn dân giành thắng lợi trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược. Người qua đời ngày 2.9.1969, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho dân tộc VN và nhân dân thế giới.
Năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của CTHCM, tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đã ghi nhận và suy tôn người là "Anh hùng giải phóng dân tộc VN, nhà văn hoá lớn". HCM là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Trong sự nghiệp CM to lớn đó, Người đã để lại 1 di sản đặc biệt cho dân tộc, đó là một sự nghiệp văn chương đồ sộ.
2. Những nét lớn về sự nghiệp văn học của HCM.
Trong sự nghiệp lớn lao của HCM có một di sản đbiệt để lại cho dtộc, đó là sự nghiệp vhọc. Người đã để lại cho nhdân ta một sự nghiệp văn chương lớn lao về tầm vóc, phong phú, đa dạng về thể loại và đặc sắc về phcách sáng tác. Do đkiện hđộng cmạng những năm ở nước ngoài nên các tphẩm của NAQ-HCM được viết bằng tiếng pháp, hán văn và tiếng Việt, có thể tìm hiểu sự nghiệp vhọc của Người chủ yếu trên 3 lĩnh vực.
a. Văn chính luận.
- Những tác phẩm văn chính luận của HCM được viết ra chủ yếu với mục đích đấu tranh chính trị nhằm tiến công trực diện kẻ thù hoặc thể hiện những nhiệm vụ CM qua những chặng đường lịch sử.
- Từ những năm 20 của thế kỷ XX, các bài văn chính luận với bút danh NAQ đăng trên các báo"Người cùng khổ" (leparia), nhân đạo(Lhumanité), "Đời sống thợ thuyền" (la vie ouvriere) đã tác động và ảnh hưởng lớn đến quần chúng Pháp và nhân dân những nước thuộc địa, kêu gọi thức tỉnh những người nô lệ bị áp bức liên hiệp lại trong mặt trận đấu tranh chung. Một trong những tác phẩm lớn đã kết tinh và hội tụ lại tinh thần trên là "Bản án chế độ thực dân Pháp".
- Năm 1945 "Tuyên ngôn độc lập" là một văn kiện chính trị có giá trị lịch sử lớn lao, phản ánh khát vọng độc lập, tự do và cuộc đấu tranh kiên cường bền bỉ của dân tộc đã giành được thắng lợi. Đây là áng văn chính luận hùng hồn tuyên bố quyền độc lập của dân tộc VN trước nhân dân trong nước và thế giới. "TNĐL" là tác phẩm chính luận có giá trị pháp lý, giá trị lịch sử, giá trị nhân bản và giá trị nghệ thuật cao.
- "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến"(1946) và " không có gì quí hơn độc lập tự do"(1966) là những áng văn chính luận hào hùng, tha thiết làm rung động hàng triệu trái tim yêu nước. Những tác phẩm ấy nói lên các vấn đề thời sự cấp bách của dân tộc, thể hiện sâu sắc tiếng gọi của non sông, đất nước trong những giờ phút thử thách đặc biệt.
- Trong những năm tháng cuối đời, Ngươì viết bản"Di chúc" thiêng liêng và chan chứa tình cảm. Bản "Di chúc" là lời căn dặn thiết tha, chân tình với đồng bào, đồng chí, vừa mang tính chiến lược trong hướng phát triển của đất nước, vừa thấm đượm tình yêu thương con người.
b.Truyện và ký.
Khoảng từ năm 1922-1925 NAQ có viết một số truyện ngắn và ký bằng tiếng Pháp đặc sắc, sáng tạo và hiện đại. Các truyện ngắn thường dựa trên một sự kiện, một câu truyện có thật , từ đó Người biết vận dụng, hư cấu để thực hiện dụng ý nghệ thuật của mình .
- Một số tphẩm tiêu biểu là: Pari(1922), Con người biết mùi hun khói (1922), Đồng tâm nhất trí(1922); "Vi hành"(1923); "Những trò lố hay là Va ren Phan Bội Châu "(1925)
- Truyện ngắn của NAQ cô động, cốt truyện sáng tạo, kết cấu độc đáo. Mỗi truyện đều có tư tưởng riêng hẫp dẫn, sáng tỏ, ý tưởng thâm thuý, kín đáo chất trí tuệ toả trong hình tượng và phong cách giàu tính hiện đại.
c. Thơ ca:
- Đây là lĩnh vực nổi bật trong giá trị sáng tạo văn chương của HCM.
Với gần 250 bài thơ có giá trị được tuyển chọn và in trong các tập"NKTT"(134 bài), "ThơHCM"(86 bài-1967) và"Thơ chữ Hán HCM" (86 bài,1990), HCM đã có những đóng góp quan trọng cho nền thơ ca VN hiện đại .
- Tiêu biểu nhất là "NKTT"được viết trong thgian Người bị giam cầm ở nhà tù Quốc dân Đảng tại Quảng Tây-Trung Quốc từ 29.8.1942 đến10.9.1943. Tập thơ "NKTT" trước hết là cuốn nhật ký bằng thơ phản ánh tâm hồn và nhân cách cao đẹp của những chiến sĩ cách mạng, đồng thời tố cáo bộ mặt đen tối và nhem nhuốc của chế độ nhà tù cũng như của XH Trung Quốc thời Tưởng giới Thạch tập thơ chan chứa tình cảm nhân đạo, luôn hướng về những người lao động, những bthơ trong "NKTT" biểu hiện lòng yêu nước thiết tha của những chsĩ csản, chứa đựng những bức hoạ nhân sinh, đạo lý, thể hiện ý chí vượt lên gian khổ để vươn tới tự do. Các bthơ trong "NKTT" vừa đậm đà mầu sắc cổ điển, vừa thể hiện được tinh thần thời đại.
- Ngoài tập "NKTT" HCM còn viết những bài thơ chữ tình độc đáo và những bài thơ mộc mạc, giản dị, để tuyên truyền đường lối CM (Pắc bó hùng vĩ, Tức cảnh Pắc bó, bài ca du kích, ca sợi chỉ...). Đi vào cuộc khchiến chống thdân Pháp, Người đã biểu lộ những nỗi lo lắng về vận mệnh của non sông, tcảm thiết tha, gắn bó với cảnh sắc thnhiên đất nước (cảnh khuya, đi thuyền trên sông đáy, cảnh rừng Việt Bắc) những ca ngợi sức mạnh của quân và dân ta trong cuộc khchiến và niềm vui thắng lợi (rằm tháng giêng, lên núi,tin thắng trận, đêm thu...)
- Tập "thơ chữ Hán HCM" tập hợp 36 bài thơ chữ Hán viết trong những thời điểm với những đề tài (thu dạ, Nguyên tiêu, Tặng bùi công, Nhị vật, thất cửu...)
3. Phong cách nghệ thuật HCM:
Phong cách nghệ thuật của NAQ-HCM là một phong cách vừa nhất quán, vừa đa dạng. Tính nhất quán thể hiện rõ nhất ở nguyên tắc sáng tác, ở lối viết giản dị ngắn gọn mà linh hoạt, biến hoá, ở khả năng kết hợp nhuần nhị yếu tố cổ điển với yếu tố hiện đại, ở khuynh hướng vận động luôn hướng về ánh sáng, sự sống và tương lai của tư tưởng và hình tượng nghệ thuật. Tính đa dạng phong phú được thể hiện ở bút pháp, nội dung, kết cấu, ngôn từ, thủ pháp nghệ thuật...Ngay trong cùng một đề tài, thậm chí cùng một tác phẩm, tính đa dạng và phong phú cũng được thể hiện rõ nét.
Những tác phẩm của NAQuốc-HCM có phong cách đa dạng và thống nhất kết hợp sâu sắc và nhuần nhị mối quan hệ giữa chính trị và văn chương, giữa tư tưởng và nghệ thuật, giữa truyền thống và hiện đại. Dù sáng tác bằng thể loại nào, tác phẩm của Người cũng đều có phong cách riêng, độc đáo, hấp dẫn và có giá trị bền vững.
- Văn chính luận của NAQ-HCM biểu lộ tư duy sắc sảo giầu trí thức văn hoá, gắn lý luận với thực tiễn, vận dụng hiệu quả những phương thức biểu hiện.
- Trong truyện và ký, ngòi bút NAQ rất chủ động và sáng tạo khi là lối kể chân thực tạo không khí gần gũi, có khi là giọng điệu châm biến sắc sảo thâm thuý và tinh tế. Chất trí tuệ và tính hiện đại là những nét đặc sắc trong truyện ngắn của NAQ.
- Thơ ca HCM cũng có phong cách đa dạng. Những bài cổ thi hàm súc uyên thâm, đạt chuẩn mực cao về nghệ thuật, những bài thơ hiện đại được Người vận dụng qua những thể loại, phục vụ có hiệu quả cho nhiệm vụ cách mạng.
à Nhìn chung, nội dung và hình thức nghệ thuật trong sáng tác của NAQ-HCM luôn vận động linh hoạt theo mục đích sáng tác, đối tượng tác động và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể...
4. Quan điểm sáng tác HCM:
- Sinh thời Chủ Tịch HCM không nhận mình là nhà văn nhà thơ và chỉ là người bạn của văn nghệ, người yêu văn nghệ, nhưng rồi chính hoàn cảnh thôi thúc, nhiệm vụ cách mạng yêu cầu, môi trường XH và thiên nhiên gợi cảnh, cùng với tài năng nghệ thuật và tâm hồn nhạy cảm, Người đã viết được rất nhiều áng văn chính luận hào hùng, những truyện ngắn đặc sắc và hàng trăm bài thơ rất hay. Người có ý thức và am hiểu sâu sắc qui luật và đặc trưng của hoạt động văn nghệ, từ phương diện tư tưởng chính trị đến nghệ thuật biểu hiện điều đó trước hết được biểu hiện trực tiếp trong quan điểm sáng tác văn chương của người.
+ Là nhà CM vĩ đại lại rất yêu văn nghệ, HCM xem văn nghệ là một hđộng tinh thần phphú và phvụ có hiệu quả cho sự nghiệp CM, nhà văn là chsĩ trên mặt trận vhoá tư tưởng tinh thần đó đã được Người nói lên trong bài thơ" cảm tưởng đọc"Thiên gia thi"
"Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp-Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi,sông-Nay ở trong thơ nên có thép-Nhà thơ cũng phải biết xung phong"
Chất" thép " ở đây chính là xu hướng cách mạng và tiến bộ về tư tưởng, là cảm hứng đấu tranh XH tích cực. Quan điểm của HCM là sự tiếp thu kế thừa quan điểm dùng văn chương làm vũ khí chiến đấu trong truyền thống dân tộc và được nâng cao trong thời đại cách mạng vô sản.
+ HCM đặc biệt chú ý đến đối tượng thưởng thức và tiếp nhận văn chương: trong thời đại cách mạng phải coi quảng đại quần chúng là đối tượng phục vụ Người nêu kinh nghiệm chung cho hoạt động báo trí và văn chương. Trước khi cầm bút người xắc định rõ. viết cho ai?( Đối tượng). Viết để làm gì (mục đích) viết cái gì ( nội dung) và viết như thế nào?( hình thức).
Người chú ý đến quan hệ giữa phổ cập và nâng cao trong văn nghệ các khía cạnh trên liên quan đên nhau trong ý thức và trách nhiệm của người cầm bút.
+ HCM luôn quan niệm tác phẩm văn chương phải có tính chân thực, phát biểu trong buổi khai mạc phòng triển lãm hội hoạ trong năm đầu sau cách mạng. Người uốn nắn một hướng đi" chất mơ mộng nhiều quá, và cái chất thật của sự sinh hoạt rất ít" người yêu cầu văn nghệ sĩ phải miêu tả cho hay, cho chân thật , hùng hồn" những đề tài phong phú của hiện thực cách mạng, phải chú ý nêu gương" người tốt việc tốt" uốn nắn và phê bình cái xấu bởi tính chân thực chính là cái gốc của văn chương xưa và nay.
- Nhà văn cũng phải chú ý đến hình thức biểu hiện, tránh lối viết cầu kỳ, xa lạ, nặng nề. Hình thức của tác phẩm trong sáng hấp dẫn, ngôn ngữ phải chọn lọc, bảo đảm sự trong sáng của tiếng Việt. Theo Người tác phẩm văn chương phải thể hiện được tinh thần của dân tọc của nhân dân và được nhân dân ưa thích.
Ví dụ một đề thi ĐH (câu 2 điểm): Nêu tóm tắt quan điểm sáng tác nghệ thuật của HCM. Chứng minh sự thể hiện trong các sáng tác VH của Người.
BÀI LÀM
* Giới thiệu
- Cùng với sư nghiệp CM vĩ đại, Bh đã để lại 1 sự nghiệp văn chương phong phú bao gồm nhiều thể loại ( thơ ca, văn xuôi, kịch ) được viết bằng nhiều bút pháp ( Tự sư, trữ tình, châm biếm, chính luận ) và bằng nhiều thứ tiếng .... Đáng chú ý là tất cả những sáng tác của 1 qđ2 NT rõ ràng, đúng đắn.
+ Trước hết, cần thấy BH là người có tài văn chương, am hiểu sâu sắc về NT, có những dung động tinh tế trước cái đẹp của cuộc sống. Tuy vậy đúng như Bác đã viết trong tác phẩm " đường cách mệnh " ( 1925 ) : " Hơn hai mươi triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử địa. Phải kêu to làm chóng để cứu lấy giống nòi, thì giờ đâu rảnh mà vẽ với chau chuốt " - Bác rất yêu văn chương nhưng không bao giờ coi đấy là sự nghiệp chủ yếu là " ham muốn tốt bậc của đời mình "Bác viết trong thư trả lời các nhà báo ( 1-1946) : "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tốt bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành". Chính vì thế Bác đã dồn hết sức lực, tâm trí cho hoạt động CM.
+ Nhưng con đường làm CM để cứu nước cứu dân Bác nhận thấy văn chương là vũ khí sắc bén để chiến đấu chống kẻ thù, là phương tiện hiệu nghiệm để tuyên truyền CM, động viên chiến sĩ đồng bào. Do đó Bác đã nắm chắc cái "công cụ tinh vi, kỳ diệu" ấy, đã mài sắc nó bằng ý chí CM, bằng tài năng NT và Bác đã tạo ra sự nghiệp văn chương có giá trị tg2 như ngoài ý định của người.
+ N2 điều đó đã dẫn tới quan điểm NT của B: coi việc viết văn làm thơ trước hết không phải là một hành vi văn chương mà là một hành vi chính trị, môt hvi CM. Hoạt động CM bao giờ cũng có đối tượng cụ thể, có mục tiêu thiết thực. Do đó khi đặt bút viết bao giờ bác Cũng tự hỏi về đối tượng và mục đích: "Viết cho ai ? Viết để làm gì ? " sau đó B mới quyết định về nội dung: "viết cái gì ? " và cuối cùng mới lựa chọn hình thức biểu hiện : " Viết ntn ?" ( Cách viết 1947)
- Chứng minh sự thể hiện qđiểm Nt trong stác: ( Phải nói tới nhận xét chung, cho dân hiểu, cho người có văn hoá cao, viết cho dtộc- cho thgiới và viết cho bản thân mình lại khác )
+ Quan điểm NT của BH là nhất quán nhưng lại biểu hiện trong stác rất đa dạng vì đối tượng mà Bác hướng đến hết sức phong phú. Tuỳ theo từng đối tượng cụ thể, các sáng tác văn thơ của B cũng luôn thay đổi từ nội dung đến hình thức, từ ý đồ tư tưởng đến cách viết.
+ Trước hết, để tuyên truyền CM và hướng tới đồng bào mình chủ yếu là những người dân thường có trình độ VH thấp, thích những gì dễ hiểu, dễ nhớ. B đã viết hàng lọat tác phẩm rất đơn sơ, mộc mạc " tưởng như không thể gọi là NT" (Hoài thanh - " Học tập B và làm theo gương B "). N lại dễ dàng đi vào đời sống, tâm hồn của các tầng lớp nhân dân, giúp họ hiểu tình cảnh đất nước và có hành động CM kịp thời. Đó là tr ngắn " Đồng tâm nhất trí " là các bài thơ " Ca sợi chỉ ", "Con cáo và tổ ong ".... B kêu gọi toàn dân đoàn kết để tạo thành sức mạnh cứu nước bằng cách nói dễ hiểu, hình ảnh giản dị đầy sức thuyết phục:
"Hòn đá to-Hòn đá nặng-chỉ một người-Nhấc không đặng" - "Hòn đá to-Hòn đá nặng-Nhiều người nhấc-Nhấc lên đặng" - "Biết đồng sức-Biết đồng lòng-Việc gì khó-Làm cũng xong" (Hòn đá to)
* Cũng có khi vẫn vì mđích tuyên truyền CM nhưng B lại hướng tới những người có vhoá cao. Khi đó Bác bắt buộc phải làm văn chương NT thực sự. Đó là những tp B viết bằng tiếng Pháp cho những người dân Pari, cho những người Châu âu để họ hiểu rõ bản chất, xấu xa của bọn thdân và bọn PK tay sai ("Vi hành"). ("Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu"...) Đó là những tp B viết cho các trí thức yêu nước, cho các vị nhân sĩ để họ hiểu bản chất của cuộc kháng chiến chống Pháp từ đó động viên họ tích cực thgia cùng đồng bào mình cứu nước. Có những bthơ vừa phảng phất sắc thái nghệ thuật cổ điển, vừa gợi tới chí khí hào hùng của cha ông thời trước.
" Non nước của ta, ta lấy lại-Nghìn thu sự nghiệp nổi từ đây" (Tặng cụ Đinh Chương Dương)
Trong ý thơ đó có bóng dáng ý thơ của Trần Quang Khải.
"Thái Bình nên gắng sức - Non nước ấy nghìn thu" và ý thơ của Trần Nhân Tông:
"Xã tắc hai phen chồn ngựa đá-Non sông nghìn thủa vững âu vàng"
* Với tư cách 1 lãnh tụ CM - Người đứng đầu một đất nước B còn viết những tác phẩm chính luận cho toàn dân tộc và có khi cho cả thế giới. Đó là những tp được viết vào những thời điểm lịch sử trọng đại ; "Tuyên ngôn độc lập" (2/9/1945), "Lời kêu gọi toàn quốc khchiến" (19/12/1946), "Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước" (7/7/1966)
.... Nhìn chung, những tp đó đều có giọng văn mạnh mẽ, hào hùng, có chứng cứ cụ thể, xác thực, có lập luận chặt chẽ, đanh thép. Chẳng hạn trong " TNĐlập " B đã mở đầu bằng kiểu lập luận "lấy gậy ông đập lưng ông" ( Nhắc lại tuyên ngôn của Mỹ và Pháp để ngầm vạch rõ sự sai trái trong mưu toán xâm lược của đế quốc Mỹ và thdân Pháp đvới nước ta lúc ấy), từ đó Bác khẳng định quan điểm tư tưởng của dân tộc VN: "Tất cả các dt trên TG đều sinh ra và bình đẳng, dt nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do"
* Ngoài ra vốn là người có tâm hồn nghệ sĩ khi có điều kiện, có cảm hứng Bác còn sáng tác văn thơ cho bản thân mình để thể hiện những ước mơ và khát vọng cs, những rung động trước cái đẹp ở đời, những suy nghĩ về hiện thực trước mắt . Đó là tập thơ "Nhật ký trong tù" là tr ngắn viễn tưởng "giấc ngủ 10 năm" , là những bài thơ B viết về Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp: "Cảnh tượng Việt Bắc", "Rầm tháng giêng", "tin thắng trận", "đi thuyền trên sống đáy"... B say mê trước vẻ đẹp thơ mộng của thnhiên nhưng B vẫn không quên vận mệnh của đất nước, cs của đồng bào.
"Tiếng suối trong như tiếng hát xa-Trăng *****g cổ thụ bóng *****g hoa-Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ-Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà" ( Cảnh khuya )
- Kết luận :
Quđiểm nghthuật cũng như các stác văn thơ của B là sự thể hiện chân thật toàn tâm hồn trong sáng, lẽ sống, cao đẹp của người "Người VN đẹp nhất, vĩ đại nhất" ( Lê Duẩn ). Đấy không chỉ là kinh nghiệm quý báu cho những ai yêu thích và say mê văn chương mà đấy còn là bài học sâu sắc cho nhiều người trên đường đời.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com