Chào các bạn! Truyen4U chính thức đã quay trở lại rồi đây!^^. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền Truyen4U.Com này nhé! Mãi yêu... ♥

Khóa Luận @2222222

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Với ưu thế về thị trường, điều kiện kinh tế xã hội và sinh thái tự nhiên, hơn một thập kĩ qua ngành nuôi trồng thủy sản nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt là sau khi Chính phủ ban hành nghị quyết 09/NQ-CP về việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản ven biển đã có  bước phát triển nhảy vọt. Năm 1999 cả nước có khoảng 290.000 ha diện tích nuôi trồng thủy sản nước lợ, đến năm 2001 diện tích nuôi trồng thủy sản đã tăng lên đến 478.000 ha. Trong quy hoạch phát triển ngành, diện tích nuôi trồng thủy sản ven biển sẽ tăng lên 700.000 ha vào năm 2010 (Trần Văn Nhường, 2002).

Năm 2007, trên địa bàn Thừa Thiên Huế tuy có sự chênh lệch lớn giữa diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt với diện tích nuôi trồng thủy sản nước lợ mặn (báo cáo tổng kết tình hình nuôi trồng thủy sản trong năm 2007, diện tích nuôi nước lợ mặn toàn tỉnh chiếm 3712,1 ha, trong khi diện tích nuôi nước ngọt chỉ đạt 1735,2 ha) nhưng nuôi trồng thủy sản nước ngọt vẫn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế tỉnh nhà. Các đối tượng thủy sản nước ngọt được người dân nuôi phổ biến như cá trắm cỏ, mè, trôi, rô phi…

Với các ưu điểm như: thời gian nuôi ngắn (từ giống đến thương phẩm (4 – 5 con/kg) chỉ mất khoảng 70 – 75 ngày), diện tích nuôi không cần lớn và vốn đầu tư không cao, có khả năng tự sản xuất giống, trong thời gian gần đây ếch Thái Lan (Rana rugulosa) cũng đang được người dân chú trọng đưa vào nuôi, bước đầu góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, góp phần đa dạng giống vật nuôi ở địa phương.

Tuy nhiên, vì đây là một đối tượng nuôi mới nên các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hoàn thiện quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm, chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề phòng và trị bệnh ở đối tượng này. Hơn nữa có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc điều trị không có hiệu quả đối với các bệnh trên động vật thủy sản đặc biệt là các bệnh nhiễm khuẩn như các loại kháng sinh trước đây được sử dụng không còn hiệu quả do các dòng vi khuẩn kháng thuốc ngày càng tăng, danh mục kháng sinh bị cấm sử dụng trong nuôi trồng thủy sản theo quy định ngày càng nhiều. Trong khi đó dịch bệnh lại là một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động nuôi trồng nói chung và nuôi ếch nói riêng.

Trước tình hình đó,việc tìm ra các giải pháp mới trong phòng - trị bệnh nhiễm khuẩn trên động vật thủy sản nói chung, ếch nói riêng nhằm thay thế các loại hoá chất, kháng sinh đang được sử dụng, xu hướng nghiên cứu các chất chiết xuất từ thảo dược không độc hại, không gây ô nhiễm môi trường đang được nhiều người quan tâm.

Trên cơ sở đó, được sự đồng ý của Khoa Thủy Sản, Bộ môn Ngư Y và giáo viên hướng dẫn chúng tôi thực hiện đề tài:“Nghiên cứu thử nghiệm khả năng kháng khuẩn của một số loại thảo dược trong phòng trị bệnh nhiễm khuẩn ở ếch Thái Lan (Rana rugulosa)”với các mục đích sau:

- Phân lập, xác định loài vi khuẩn gây bệnh đỏ chân trên ếch Thái Lan (Rana rugulosa)

- Thử nghiệm khả năng kháng khuẩn của một số loại thảo dược sẵn có ở địa phương có khả năng thay thế thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh nhiễm khuẩn ở trên ếch.

-  So sánh khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng nồng độ bằng các dung môi khác nhau.

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Giới thiệu chung về đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Đặc điểm sinh học

2.1.1.1  Hệ thống phân loại

Ngành: Chordata

Lớp: Vertebrata

Bộ: Anura

Họ: Ranidae

Giống: Rana

Loài: Rana rugulosa Wiegmann, 1835

2.1.1.2. Đặc điểm môi trường sống

Ếch là loài động vật lưỡng cư, chúng có khả năng sống dưới nước lẫn trên cạn. Do ếch có hai phương tiện để thở: thở bằng phổi và thở bằng da. Nhờ đó ếch chúi đầu xuống sình cả giờ liền vẫn không chết hoặc sống trên cạn cả ngày vẫn không sao. Da ếch mỏng, bên ngoài có nhớt lầy nhầy, cầm nắm dễ trơn tuột. Dưới da ếch có nhiều mao mạch chằng chịt, oxy trong không khí hòa tan vào chất nhầy trong da rồi thấm vào các mao mạch dưới da chằng chịt qua lại như mạng lưới, còn khí CO2 được thải ra ngoài qua đường oxy thấm vào. Nước có thể thấm thấu qua da ếch. Nếu nhốt trên cạn qua lâu, như di chuyển đường xa chẳng hạn, da ếch bị khô, ếch có thể chết [16].

Ếch sống ở khắp nơi như ao hồ, đồng ruộng, sông ngòi, mương máng, những nơi ẩm ướt và có nguồn nước ngọt. Ếch là loại động vật lưỡng cư, sống ở 2 môi trường trên cạn và dưới nước. Điều kiện môi trường thích hợp cho ếch: pH nước trong khoảng 6,5 - 8,5. Nhiệt độ nước thích hợp trong khoảng 25 – 320C , tốt nhất là 28 - 30oC.

Ếch thích sống ở những vùng nước giàu dinh dưỡng, có nhiều thức ăn tự nhiên như: giun, ốc, trai, hến, các loại ấu trùng côn trùng,... Da ếch có khả năng thay đổi màu sắc để phù hợp với môi trường sống. Ếch không ưa đất, nước chua mặn; sợ rắn, chuột, nhạy cảm với kim loại nặng, sợ tàn thuốc lá, thuốc lào và các chất độc khác.

2.1.1.3. Tập tính ăn   

Ếch có đầu to, miệng rộng, và đôi mắt lồi. Mắt ếch tuy lồi to, có mí mắt nhưng thị lực lại rất kém. Do thị lực kém, chỉ nhìn được tầm gần nên ếch chỉ bắt được những con mồi di động cách xa tầm nhìn của nó độ 10cm, thức ăn trong tự nhiên của ếch là: giun, ốc, trai, hến, các loại ấu trùng côn trùng,... Những mồi chết, mồi bất động dù nằm cận kề, ếch vẫn khó phát hiện, tuy nhiên trong nuôi nhân tạo do đã được thuần hóa nên ếch có thể ăn các loại cám gạo, bột ngô, bột ngũ cốc trộn với cá, tôm, tép,... hoặc thức ăn viên. Khi quá đói ếch có thể ăn thịt lẫn nhau, con lớn vồ con bé [16].

Ếch có tập tính rình mồi, thường ngồi một chỗ để quan sát những con mồi di động. Khi có con mồi đến gần, ếch ngóc đầu lên và phóng lưỡi ra dính lấy con mồi, cuốn ngay vào miệng rồi dồn sức nhắm mắt nuốt chửng con mồi [16].

2.1.1.4. Sinh trưởng

Ếch là loài sinh trưởng khá nhanh, sức sinh trưởng của ếch tùy thuộc vào từng loài. Riêng đối với ếch Thái Lan:nuôi ếch giống cỡ 5 g/con sau 1 tháng nuôi có thể đạt: 30 - 50g/con; sau 4 tháng nuôi có thể đạt 200-250g/con. Thể trạng của ếch luôn luôn thay đổi và tăng trưởng không ngừng đến suốt đời. Vì thế nói đến trọng lượng tối đa của ếch là nói đến trọng lượng của con già nhất chứ không phải tính từ tuổi trưởng thành. Càng sống lâu năm ếch càng nặng hơn, từ lúc nhỏ cho đến tuổi trưởng thành, mức tăng trưởng của cơ thể nhanh hơn so với giai đoạn ếch trở về già. Một số loài ếch có thể sống được 16 năm [16].

Chu kỳ sống gồm 3 giai đoạn:

Nòng nọc (nở từ trứng đến khi mọc đủ bốn chân): Sống hoàn toàn trong môi trường nước (21 - 28 ngày). Ăn các loài động vật phù du.

Ếch giống (2 - 50gr): Thích sống trên cạn gần nơi có nước. Thức ăn tự nhiên: côn trùng, giun, ốc. Giai đoạn này ếch sử dụng được thức ăn viên, khi thiếu thức ăn, ếch có thể ăn lẫn nhau.

Ếch trưởng thành (200 - 300gr): Sau 8 - 10 tháng ếch đã trưởng thành và có thể thành thục sinh sản.

2.1.1.5. Sinh sản

Ếch đẻ rộ vào mùa xuân, những đêm mưa rào. Khi sinh sản, ếch đực dùng chân trước vuốt vào ngực ếch cái. Ếch cái bị kích thích và đẻ trứng, con đực đồng thời phóng tinh lên trên, để thụ tinh cho trứng. Trứng gặp tinh trùng thụ tinh, rơi xuống nước và dính vào nhau tạo thành mảng trứng nổi trên mặt nước. Trứng phát triển sau 7 -10 ngày nở thành nòng nọc. Nòng nọc phát triển 30 – 40 ngày biến thái thành ếch con. Kích thước tham gia sinh sản của ếch Thái Lan là 200-300g/con. Mùa vụ sinh sản khoảng tháng 3- tháng 7 âm lịch.

2.1.2. Một số thông tin về tình hình nuôi và dịch bệnh trên ếch

2.1.2.1. Tình hình nuôi và sử dụng các sản phẩm từ ếch

Ếch là loài động vật lưỡng cư có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ rộng. Được xem là một loại thực phẩm thông dụng như thịt heo, thịt bò, thịt gà vịt… nhưng hiện nay thịt ếch cũng được xem là loại đặc sản quí hiếm do có tỷ lệ đạm cao và có hương vị thơm ngon, đặc biệt ăn nhiều không ngán [16].

Tuy nhiên việc nuôi ếch ở nước ta chỉ mới được người dân hưởng ứng khoảng 3-4 thập niên nay, cũng dễ hiểu khi mà chừng nữa thế kỷ trước đây, thời buổi nước ta còn chuyên về nông nghiệp, lượng tôm cá trong ruộng cũng như ngoài sông suối còn nhiều nên không ai nhọc sức nghĩ đến việc đào ao nuôi cá, nuôi tôm, và cả nuôi ếch như hiện nay. Trước đây hằng ngày ông cha ta khi buông cái cày, cán cuốc, chịu khó ra ruộng, ra sông để đặt lờ, cắm câu, thả lưới hoặc tát ao, vũng quanh nhà cũng đủ tôm, cá để ăn. Còn ếch thì chỉ cần đốt đuốc đi soi giáp vòng năm ba đám ruộng cũng đủ “mồi” nhâm nhi lạ miệng. Nhất là tại vùng Hậu Giang, cũng chừng năm mươi năm về trước, thời còn đất rộng người thưa, cá tôm lội lềnh dưới sông, dưới ruộng, khi bắt lên ăn chỉ lựa con to như lóc bông 4-5 kg, tôm càng bằng cổ tay, rô mè bằng bàn tay người lớn…còn loại cá lứa, cá con dứt khoát thả lại ao đìa cho chúng tiếp tục sinh sôi nảy nở. Thời đó, nếu có “nuôi” thì mỗi nhà cũng “rộng” lại trong ao, trong đìa để chờ đến ngày Lễ, ngày Tết tát lên biếu xén cho bà con, bạn bè ăn lấy thảo [16].

Nhưng khoảng nửa thế kỷ trở lại đây lượng thủy sản nói chung không còn dồi dào như trước nữa, do khắp đồng rộng nông dân quá lạm dụng việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để trừ sâu, rầy phá họa mùa màng, nhưng họ đã vô tình thẳng tay tiêu diệt cá đồng. Còn dưới sông, dưới biển, người ta không chỉ giăng lưới mà còn sử dụng lưới cào, rồi chích điện, thậm chí cả thuốc nổ nữa… Thế là chỉ vì mối lợi nhỏ nhoi trước mắt mà người đời đã cố tình để vuột khỏi tầm tay mối lợi lớn về lâu, về dài do thiên nhiên mang lại [16].

Cũng do lẽ đó mà mấy mươi năm trở lại đây, ngành nuôi trồng thủy sản nói chung mới được nông dân chú ý đến. Thời gian đầu do chỉ nhằm mục đích đáp ứng cho nhu cầu thị trường trong nước, nên số người vào cuộc chưa nhiều, và phương pháp nuôi cũng chỉ rập khuôn lối cũ. Thế nhưng càng về sau, nhờ tìm được thị trường xuất khẩu nên kỹ thuật nuôi có phần tiên tiến hơn. Cá, tôm ngoài việc nuôi trong ao, hồ còn đựoc nuôi bằng lồng, bè…Ếch cũng là một đối tượng được người dân bắt đầu đưa vào nuôi, đến những năm 1970, 1971 nghề nuôi ếch mới phát triển thành phong trào. Thời kỳ này tại Sài Gòn và các tỉnh lân cận nhiều người tỏ ra thích thú với nghề nuôi ếch. Tuy nhiên do phương pháp nuôi còn lạc hậu, khâu tìm nguồn thức ăn nuôi ếch lại quá khó khăn, thức ăn dành cho ếch chủ yếu gần như là phó mặc cho vật nuôi tự túc lấy. Lúc này, người nuôi ếch không ai có thể nghĩ được rằng ếch có thể ăn được cám dạng viên, hoặc ăn được mồi chết. Vì vậy, thức ăn nuôi ếch chủ yếu quanh đi quẩn lại cũng chỉ là trùn, giòi và tối lại chong bóng đèn neon thật sáng để dụ các côn trùng như cào cào, dế, mối, bướm đêm và những con thiêu thân…lao mình đến làm mồi cho ếch.. Do vậy trong thời gian này nghề nuôi ếch không thể phát triển được [16].

Trong khoảng mươi năm trở lại đây, nhờ tiếp cận được kỹ thuật nuôi ếch công nghiệp của nhiều nước trên thế giới, trong đó có nhiều quốc gia láng giềng nên nghề nuôi ếch nước ta lại có cơ hội tốt để phát triển mạnh trở lại [16].

Đối với nhiều quốc gia trên thế giới như Ấn Độ, Nhật Bản sau đó là Đài Loan, Thái Lan… họ cũng tiến hành nuôi ếch công nghiệp khoảng nữa thế kỹ nay và ngành nghề mới mẻ này đã đem lại một mối lợi lớn ngoài sức mong đợi của người nuôi [16].

Ngày nay thịt ếch là mặt hàng xuất khẩu rất mạnh không thua kém gì so với thịt cá sấu, đà điểu… Ớ Pháp: chỉ riêng năm 2000, nước này đã nhập khoảng 7.500 tấn đùi ếch đông lạnh và 1000 tấn ếch sống [16].  

Các nước châu Âu, châu Mỹ cũng đã và đang cần nhập một số lượng lớn thịt ếch, đa phần là đùi ếch đông lạnh. Được biết giá đùi ếch đông lạnh trung bình 10 USD/kg, ếch sống có giá 2,5 USD/kg [16].

Song song với việc nhập ếch thương phẩm và đùi ếch đông lạnh, các nước châu Âu hàng năm còn nhập thêm 10 tấn ếch còn sống nhằm cung cấp cho các phòng thí nghiệm để nghiên cứu phôi học và nội tiết học, hormon sinh dục. Và tất nhiên điều mà ai cũng biết là giá ếch còn sống cung cấp cho các phòng thí nghiệm có giá cao hơn loại ếch sống dùng làm thực phẩm [16].

Bên canh việc sử dụng ếch như là một loại thực phẩm hay dùng ếch như là một đối tượng nghiên cứu thì các sản phẩm từ ếch như da còn là một mặt hàng xuất khẩu đáng giá. Da ếch sau khi thuộc và nhuộm màu xong được dùng làm ví da, găng tay, giày dép và nhiều sản phẩm mỹ nghệ có giá trị cao không thua kém giá của da cá sấu hay da đà điểu. Với một tấm da khoảng 15cm có giá bán khoảng 4 USD, tấm da càng lớn càng được ưu chuộng [16].

Ngoài ra còn phải tính đến các phụ phế phẩm lấy ra từ lò giết mổ ếch có thể chế biến dùng làm thức ăn cho gia súc hoặc làm phân bón [16].

Hiện nay các nước xuất khẩu thịt ếch lớn, thuộc diện làm ăn lâu nhất phải kể đến Ai Cập, nhờ có khí hậu thuận lợi với việc nuôi ếch nên mỗi năm Ai Cập xuất khẩu hơn 300 tấn thịt ếch. Ngoài Ai Cập ra, phải kể đến Ấn Độ. Ấn Độ mỗi năm cũng xuất khẩu gần 4 ngàn tấn đùi ếch. Tại Ấn Độ có nhiều cơ sở nuôi ếch công nghiệp quy mô và rộng lớn, có trại nuôi ếch rộng đến cả ngàn hecta. Brazil hàng năm cũng xuất khẩu được 500 tấn thịt ếch. Còn Nhật Bản cũng xuất khẩu được đến 600 tấn thịt ếch đóng hộp hàng năm [16].

Ngoài ra phải kể đến những nước đã và đang không ngừng phát triển thêm nhiều trang trại nuôi ếch công nghiệp và quy mô lớn, đã có nhiều thị trường tiêu thụ ở vùng Bắc Mỹ và châu Âu như CuBa, Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan…[16].

2.1.2.2. Các mô hình nuôi ếch Thái Lan

- Nuôi trong bể xi măng: Thích hợp vùng ven đô thị có diện tích đất giới hạn (tận dụng chuồng trại cũ hay bể xi măng bỏ không)

- Nuôi trong ao đất: Thích hợp vùng ven đô thị hay nông thôn có diện tích đất khá lớn

- Nuôi trong giai (vèo), đăng quần: Thích hợp vùng có ao hồ lớn có thể vừa nuôi ếch kết hợp với nuôi cá.

* Nuôi ếch trong bể xi măng

Bể có diện tích trung bình 6 - 30m2 (2x3, 2x5, 3x5, 4x6, 5x6), độ cao 1,2 - 1,5m để tránh ếch nhảy ra. Đáy ao nên có độ nghiêng khoảng 50 để dễ thay nước. Nên che lưới nylon trên bể để tránh nắng trực tiếp làm tăng nhiệt độ nước trong bể (có thể sử dụng lưới lan), không nên che mát hoàn toàn bể nuôi, trường hợp giữ mực nước cao 10 - 20cm có thể không cần phải che bể.

Mực nước trong ao khống chế ngập 1/2 - 2/3 thân ếch. Nên thường xuyên phun nước tưới ếch nhất là vào lúc trưa nắng [22].   

Mật độ thả nuôi:

Tháng thứ nhất: 150 - 200 con/m2

Tháng thứ hai: 100 - 150 con/m2

Tháng thứ ba: 80 - 100 con/m2

Sau khi thả nuôi 7 - 10 ngày phải kiểm tra lựa nuôi riêng những con ếch lớn vượt đàn để tránh sự ăn lẫn nhau, khi ếch đạt trọng lượng 50 – 60g sự ăn nhau giảm. Phải thường xuyên thay nước, nước thay có thể là nước sông, nước giếng, nước ao nhưng phải đảm bảo sạch.

Cho ăn nhiều lần trong ngày:

Ếch giống (5 - 100g): 3 - 4 lần trong ngày, lượng thức ăn 7 - 10% trọng lượng thân.

Ếch lớn (100 - 250g): 2 - 3 lần/ngày. Lượng thức ăn 3 - 5% trọng lượng thân.

Ếch ăn mạnh vào chiều tối và ban đêm ăn nhiều hơn ban ngày (lượng thức ăn vào chiều tối và ban đêm gấp 2 - 3 lượng thức ăn ban ngày). Định kỳ bổ sung Vitamin C và men tiêu hóa để giúp ếch tăng cường sức khoẻ và tiêu hoá tốt thức ăn.

Có thể tận dụng các bể xi măng cũ để nuôi ếch Thái Lan. Phải sử dụng giá thể để ếch lên cạn cư trú, bố trí đủ giá thể để tất cả ếch có chỗ lên bờ (chiếm 1/3 - 1/2 diện tích bể), giá thể được làm bằng các vật liệu như gỗ, tấm nhựa nổi, bè tre…, [22].  

* Nuôi ếch trong ao đất

Ao có diện tích khoảng 30 -300 m2 (4x8, 5x10, 10x20). Không nên dùng ao quá lớn vì khó quản lý. Có thể trải bạc nylon nơi ao không giữ nước. Rào chung quanh ao để tránh ếch nhảy ra. Có thể dùng lưới, tôn fibro xi măng, phên tre rào 1-1,2 m. Mực nước ao khống chế 20 - 30cm, có ống thoát nhằm tránh nước chảy tràn [22].

Mật độ thả ếch giống nên thưa hơn nuôi trong bể ximăng, mật độ thả khoảng 60 – 80con/m2 là tối ưu trong tháng đầu. Tạo giá thể cho ếch lên cạn (bè tre, gỗ, tấm nylon…). có thể dùng lục bình làm nơi cư trú cho ếch, diện tích giá thể khoảng 50% so với diện tích ao nuôi (khi ao không có bờ để ếch lên ở). Thường xuyên thay nước để tránh nguồn nước bị ô nhiễm ếch dễ nhiễm bệnh (thay nước 2 - 3 ngày/lần). Chỉ thay 1/3 - ¼ lượng nước trong ao, tránh thay hết nước. Thức ăn viên nổi cho ăn 3 - 4 lần cho ếch giống và còn 2 - 3 lần cho ếch lớn (100g). Thức ăn thả trực tiếp trên giá thể hay trên cạn [22].

Nuôi ếch trong ao đất ít tốn công chăm sóc hơn nuôi trong bể ximăng và chi phí đầu tư thấp hơn nhưng có nhược điểm: tỉ lệ sống thấp hơn do khó kiểm soát dịch bệnh, địch hại [22].

* Nuôi ếch trong giai hay đăng quầng

Giai có kích thước 6 - 50m2, có đáy, treo trong ao (2x3, 4x5, 5x10). Chiều cao 1 - 1,2m. Vật liệu là lưới nylon. Giai có nắp để tránh ếch nhảy ra và chim ăn. Tạo giá thể cho ếch lên cạn cư trú (tấm nylon đục lỗ, bè tre). Tổng diện tích giá thể chiếm 2/3 - 3/4 diện tích giai. Mật độ nuôi trong giai tương đương nuôi trong bể ximăng (150 - 200 ếch con trong tháng đầu) [22].

Đăng quầng có kích thước lớn hơn giai (100 - 500m2 ). Dùng lưới nylon hay đăng tre bao quanh một diện tích trong ao. Mật độ nuôi trong đăng quầng (20 - 40 con/m2).  Thả lục bình, bè tre, nylon nổi để làm nơi ếch lên cạn cư trú. Diện tích giá thể  bằng 3/4 diện tích đăng quầng [22].

2.1.2.3.  Một số bệnh thường gặp ở ếch và biện pháp phòng trị

* Bệnh lở loét, đỏ chân

Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Aeromonas hydrophila.

Khi môi trường nước nuôi ếch bị ô nhiễm thì loài vi khuẩn này sẽ phát triển rất mạnh và gây bệnh cho ếch. Ếch bị bệnh sẽ xuất hiện những nốt chấm đỏ trên thân, gốc đùi có tụ huyết, chân bị sưng, ếch bỏ ăn, chậm di chuyển, lờ đờ, giải phẩu thấy có hiện tượng xuất huyết trong ổ bụng, trong xoang bụng thường thấy máu và dịch lỏng màu vàng. Khi dịch bệnh xảy ra, nếu không có biện pháp phòng trị kịp thời ếch sẽ chết hàng loạt [20].

Phòng bệnh: thường xuyên kiểm tra môi trường nước nuôi, nếu thấy nước bị ô nhiễm cần thay ngay bằng nước sạch, nuôi mật độ vừa phải, không gây ồn ào khiến ếch bị sốc. Bổ sung vitamin C vào thức ăn của ếch để tăng sức đề kháng [20].  

Trị bệnh: phát hiện bệnh sớm, điều trị sẽ rất hiệu quả. Dùng kháng sinh oxytetracycline (3-5 g/kg thức ăn) hoặc Doxery trộn vào thức ăn dùng liên tiếp 5 - 7 ngày. Ngâm ếch trong dung dịch Vime – Iodine 200: 1 lít cho 500 - 700 m3/ 30 phút [20].

* Bệnh chướng hơi

Thường xảy ra với ếch ở giai đoạn nhỏ, nguyên nhân là do ếch ăn quá nhiều không tiêu hóa được, hoặc do thức ăn bị ôi thiu, nguồn nước bị ô nhiễm cũng làm ếch bị trướng hơi sình bụng. Khi bị trướng hơi thấy bụng ếch phồng lên, ếch nằm yên một chổ, vận động khó khăn. Một số con có hậu môn lòi ra, ruột bị sưng lên, mỏng và có màu đỏ. Trong ruột có dịch lỏng có lẫn một ít thức ăn [20].  

Phòng bệnh: vệ sinh kỹ môi trường nuôi, cho ăn thức ăn đảm bảo vệ sinh, chất lượng. Nên cho ăn nhiều lần trong ngày, không nên cho ăn quá dư thừa. Nên sử dụng thức ăn chuyên dùng cho ếch có hàm lượng protein cao, dễ tiêu hóa hơn so với các chất tinh bột trong thức ăn cho cá. Thức ăn phải được bảo quản kỹ không bị ẩm mốc, hôi thối, không quá hạn sử dụng. Sau khi cho ăn 4 – 6 giờ phải dọn sạch thức ăn thừa, vệ sinh sàn ăn và phơi cho khô ráo. Định kỳ trộn các men tiêu hóa vào thức ăn của ếch (Lactobacillus: 2 – 3 g /1 kg thức ăn). Thay nước thường xuyên và giữ nguồn nước trong ao nuôi luôn sạch [20].  

Trị bệnh: Khi thấy ếch bị bệnh thì ngưng cho ăn 1 - 2 ngày, làm vệ sinh thật kỹ môi trường nuôi. Trộn vào thức ăn Anti - Red và Trimesul, V 200 cho ăn liên tục 5 ngày [20].

* Ếch ăn nhau

Thường xảy ra khi thiếu thức ăn, thức ăn không đủ chất lượng và nuôi với mật độ quá dày, kích cỡ nuôi không đồng đều. Khi đói những con ếch to có thể ăn thịt những con nhỏ hơn [20].  

Phòng chống hiện tượng này bằng cách nuôi với mật độ vừa phải, cho ăn đủ lượng và đủ chất, chia đều trong ngày không để ếch bị đói. Khi ếch có chênh lệch kích cỡ thì phân đàn, chọn những con cùng cỡ nuôi chung một bể [20].

* Bệnh trùng bánh xe

Bệnh này thường xuất hiện ở giai đoạn nòng nọc. Bệnh do ký sinh trùng Trichodina gây ra. Khi mắc bệnh, trên màng vây và đuôi của nòng nọc xuất hiện những điểm màu trắng bạc, bơi ngắc ngoải và cựa quậy liên tục. Chúng sẽ bỏ ăn và chết hàng loạt. Bệnh thường xảy ra khi nguồn nước nuôi bị ô nhiễm. Khi đó, phải thay nước ngay và đưa những con bị bệnh ra chậu riêng để điều trị. Cho nòng nọc bị bệnh tắm trong dung dịch CuSO4 với lượng 2 - 3g/m3 nước. Không nên ngâm nòng nọc trong dung dịch này quá 2 giờ, khi thấy chúng hoạt động bình thường trở lại thì vớt ra ngay. Cũng có thể điều trị bệnh này bằng nước muối nồng độ 2-3 ‰ (hoà 2-3g muối với 10 lít nước), cho nòng nọc bị bệnh vào nước muối trong vòng 5-10 phút. Gặp mặn, nòng nọc bơi nhảy tứ tung, trùng bánh xe sẽ bị tiêu diệt. Sau đó, vớt chúng ra và thả lại vào chỗ nuôi (Trung tâm khuyến nông Quốc Gia).

* Bệnh giun, sán

Ếch thường bị bệnh sán lá, sán sơ mít và giun ký sinh. Trộn các loại thuốc tẩy giun sán lẫn với thức ăn hoặc có thể dùng peperracin với tỷ lệ 0,1% so với thức ăn. Phải tẩy vài lần mới hết được giun sán, nếu để ếch bị bệnh sẽ lớn chậm. (Trung tâm khuyến nông Quốc Gia).

*  Bệnh mù mắt

Bệnh này thường xẩy ra khi nuôi ếch trong bể xi măng. Lúc đầu một mắt của ếch màu đục trắng. Nếu không chữa, nó sẽ lây sang mắt thứ 2 và ếch sẽ chết. Khi ếch bị bệnh có thể sử dụng các loại thuốc như Cipro, Anti.v.v.. có bán ở các quầy thuốc thú y và rải đều xuống nước. Tốt nhất, khử trùng bể nuôi bằng Iodine (PVP Iodine) với liều lượng 5 – 10 ml/m3 nước, bệnh sẽ giảm (Trung tâm khuyến nông Quốc Gia).

* Bệnh tê liệt thần kinh

Ếch bị bệnh thường nhảy loạng choạng, đi lại lệch lạc, chân co giật liên tục, dần dần bị bại liệt và chết. Chưa có loại thuốc đặc trị bệnh này. Có thể dùng các loại thuốc chữa thần kinh cho vịt như Frog 200 hoặc Enroflox để điều trị cho ếch với liều lượng như hướng dẫn ngoài bao bì (Trung tâm khuyến nông Quốc Gia).

* Bệnh nhiễm trùng ngoài da

Bệnh xuất hiện khi môi trường nuôi bị ô nhiễm hoặc ếch bị xây xát da, khi đó phải thay nước ngay, có thể xử lý nguồn nước bằng dung dịch thuốc tím hoặc nước muối bằng cách hoà thuốc tím với liều lượng 3 - 5g/1m3 nước và hắt vào lồng nuôi. Cũng có thể dùng muối hạt vãi vào lồng cũng cho kết quả tốt, ếch mau khỏi bệnh (Trung tâm khuyến nông Quốc Gia).

* Bệnh đốm trắng ở gan

Đây là bệnh phổ biến ở các loài cá da trơn. Bệnh do vi khuẩn Edwardseella gây ra. Ếch mắc bệnh này thường bỏ ăn, yếu, kém hoạt động và gầy nhanh. Khi mổ ra thấy gan có nhiều đốm trắng li ti. Dùng Entrofloxarin hoặc Ciprofloxarin để trị bệnh (Trung tâm khuyến nông Quốc Gia).

2.2. Tình hình nghiên cứu bệnh vi khuẩn trên động vật thủy sản

2.2.1. Thế giới

Vấn đề nghiên cứu bệnh trên các đối tượng thủy sản đã và đang được quan tâm, do dịch bệnh ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất. Việc phát hiện ra dịch bệnh sớm là một vấn đề khó khăn, và chỉ phát hiện dễ dàng khi bệnh đã phát triển đến mức chết hàng loạt.

Cuối thế kỷ XIX một số tác giả đã xuất bản cuốn sách hướng dẫn dịch bệnh cá nhưng cơ bản chỉ mô tả các triệu chứng lâm sàng là chủ yếu. Sang đầu thế kỷ XX các nhà khoa học thế giới đã bắt đầu nghiên cứu và viết cuốn sách hướng dẫn về bệnh cá. Bắt đầu từ thời gian này trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh thuỷ sản. Vào năm 1904, nhà nghiên cứu bệnh học người Đức Bruno Hoffer đã viết cuốn sách “Tác nhân gây bệnh ở cá” (Father of Fish Pathology) trong đó mô tả một số tác nhân gây bệnh chủ yếu trên cá nước ngọt mà chủ yếu là tác nhân vi khuẩn. Năm 1929, V.A.Dogiel viết cuốn sách “Nghiên cứu bệnh Kí sinh trùng cá” và “Bệnh Vi khuẩn khuẩn cá” (Bacterial Disease of Fish) vào năm 1939, đã đưa ra phương pháp cơ bản nghiên cứu ký sinh trùng và vi khuẩn trên cá nước ngọt. Từ đó, công tác nghiên cứu bệnh thuỷ sản ngày càng phát triển, nhiều nhà khoa học của các nước trên thế giới như: E.M.Lyaiman (Liên Xô, 1949); Mysselius, Gussev (Liên Xô); Schaperclaus (Đức); Yamaguti (Nhật); Hoffman (Mỹ)…đã có nhiều công trình nghiên cứu bệnh tôm cá trên các phương diện: tác nhân gây bệnh, dấu hiệu bệnh lý, cách phòng trị… được ứng dụng vào thực tế sản xuất [1].

Vào những năm của thập niên 80, phong trào nuôi tôm ở các nước châu Á - Thái Bình Dương phát triển mạnh mẽ, từ đó lịch sử bệnh tôm gắn liền với phong trào này. Kết quả nghiên cứu các tác nhân gây bệnh cho động vật thuỷ sản đến nay rất phong phú, hiện nay đã phân loại được hơn 60 loại virus trong đó có 14 loài gây bệnh ở tôm đặc biệt Baculovirus được gặp nhiều nhất. Người ta cũng đã phân lập được hàng trăm loài vi khuẩn thuộc 9 họ , trong đó có một số nhóm vi khuẩn điển hình như Aeromonas spp, Pseudomonas spp, Vibrio spp,.... Ngoài ra còn phát hiện được nhiều loại nấm và hàng trăm loài kí sinh trùng gây bệnh [1].

            Bệnh tôm chỉ mới được nghiên cứu vào thập niên 80, so với các lĩnh vực như Y học hay Thú y thì bệnh cá, bệnh tôm còn rất mới và non trẻ, tuy vậy đã và đang có những bước đi vững chắc rất khả quan. Công tác nghiên cứu về bệnh tôm được tập trung chủ yếu vào hầu hết các phương diện như chẩn đoán, bệnh lý học, xác định tác nhân gây bệnh, phương pháp phòng và trị bệnh cho tôm, chỉ trong một thời gian ngắn hàng loạt các thành tựu về nghiên cứu bệnh tôm đã được công bố và áp dụng rộng rãi vào thực tiển sản xuất.

Đến năm 1996 đã có trên 30 loại bệnh khác nhau trên tôm được nghiên cứu. Hàng trăm công trình nghiên cứu khoa học về bệnh tôm, môi trường nuôi tôm, cá và biện pháp phòng trị - bệnh đã được phổ biến rộng rãi trên thế giới. Sakata, (1990), Kusuda và cộng sự (1986)… đã nghiên cứu mội số tác nhân gây bệnh trên tôm và đã đưa ra kết quả có một số loài vi khuẩn thuộc họ Vibrionaceae là tác nhân gây bệnh trên tôn he và cá biển, các loài vi khuẩn này tồn tại phổ biến trong nước biển.

2.2.2. Việt Nam

Vấn đề nghiên cứu bệnh thuỷ sản ở nước ta chậm hơn so với các nước trên thế giới. Việc nghiên cứu bệnh thuỷ sản được bắt đầu từ năm 1960 trở lại đây và ngày càng được phát triển. Hà Ký là người đầu tiên phát hiện được 120 loài kí sinh trùng gây bệnh trong đó có 42 loài mới đối với khoa học và ông cũng đã hoàn thiện phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng của Dogiel trong điều kiện Việt Nam.

Đặc biệt từ năm 1980, đã có hàng loạt công trình nghiên cứu về các tác nhân gây bệnh là virus, vi khuẩn, nấm…được công bố, các công trình này đã góp phần thúc đẩy nghề nuôi cá ngày càng phát triển và đi vào ổn định.

Lĩnh vực bệnh tôm bắt đầu được nghiên cứu vào năm 1985, tuy còn non trẻ và rất mới nhưng do nhu cầu cấp thiết nên trong một khoảng thời gian ngắn hàng loạt các công trình nghiên cứu bệnh tôm được công bố và được áp dụng rộng rãi vào thực tiễn sản xuất.

Năm 1991, khi nghiên cứu một số bệnh phổ biến trên tôm sú nuôi tại tỉnh Khánh Hoà, Nguyễn Trọng Nho và cộng sự đã thông báo một số dấu hiệu bệnh lý thường gặp khi tôm bị bệnh do vi khuẩn gây ra. Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa đi sâu vào nghiên cứu về tác nhân gây bệnh và chưa đưa ra được các biện pháp phòng trị bệnh, nghiên cứu này chỉ mới đưa ra những thông tin cho việc phát hiện bệnh. Năm 1994, Đỗ Thị Hoà và cộng sự, công bố đề tài “Nghiên cứu một số bệnh do các tác nhân vi khuẩn, nấm, nguyên sinh động vật và giun tròn”, nhóm tác giả đã thông báo 8 loại bệnh khác nhau do các tác nhân là vi sinh vật gây bệnh cho tôm sú như: virus, vi khuẩn, nguyên sinh động vật và giun tròn. Ngoài ra, tác giả còn thông báo một số bệnh do yếu tố vô sinh gây ra như bệnh bọt khí, cong thân, dị hình…Tác giả đặc biệt nhấn mạnh nhóm vi khuẩn Vibrio là nhóm vi khuẩn gây ra một số bệnh có tác hại lớn cho tôm nuôi như: phát sáng, đỏ dọc thân, mềm vỏ, đen mang…[10].

Theo Nguyễn Việt Thắng (1997), khi nghiên cứu nguyên nhân gây chết tôm ở đồng bằng sông Cửu Long cho biết tôm bị chết do 2–3 loại virus khác nhau, tuy nhiên tác giả vẫn chưa đề cập đến loài virus nào gây ra dịch bệnh. Ngoài ra tác giả còn thông báo có vi khuẩn hiện diện ở hầu hết các mẫu thu xét nghiệm và còn xuất hiện với cường độ cao, nhiều loài Vibrio xuất hiện với tần suất lớn. Điều này cho thấy vi khuẩn chỉ là tác nhân cơ hội khi đã có tác nhân đầu tiên là virus cảm nhiễm và làm giảm sức đề kháng của tôm.

Hà Ký và cộng sự đã nghiên cứu được 13 bệnh vi khuẩn trên tôm với đầy đủ các khâu từ phân lập vi khuẩn, tác nhân gây bệnh, dấu hiệu bệnh lý, phân bố và lan truyền bệnh, biện pháp phòng trị bệnh. Một số bệnh đã được đi sâu vào nghiên cứu như bệnh phát sáng, đỏ dọc thân ở ấu trùng tôm sú, bệnh hoại tử đốm nâu tôm càng xanh, bệnh hoại tử do vi khuẩn ở cá trê, bệnh đốm đỏ ở cá trắm cỏ nuôi lồng…Tác giả cũng đã tổng hợp được thuốc KN-04-12 chiết xuất từ các loại thảo dược có tác dụng tốt trong điều trị bệnh nhiễm khuẩn ở động vật thuỷ sản.

2.3. Tình hình dịch bệnh do vi khuẩn Aeromonas gây ra ở động vật thủy sản

2.3.1. Thế giới

Những báo cáo sớm nhất về hội chứng lở loét là khu vực Đông Nam Á, đầu tiên xảy ra ở Singapo vào năm 1977, cá trê ở các máng tiêu và và suối xuất hiện nhiều vết loét trên thân và gây ra tỉ lệ chết nghiêm trọng cho cá tự nhiên. Sau đó dịch bệnh này cũng thấy xuất hiện trên cá ở hệ thống sông Bekok, Malaysia( trong những năm 1979-1980 và 1980-1981). Năm 1988, ở Indonesia, dịch bệnh đã lây từ Javs đến Sumatra và Sulaweisi, ban đầu nhiễm ở cá chép, sau đó là cá trê, cá lóc. Trong quá trình phân lập, người ta đã xác định được một số dạng virus, nấm và vi khuẩn Aeromonas [19].

Sự lan truyền dịch bệnh đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế - xã hội, môi trường và thương mại quốc tế. khó mà tính toán chính xác được những thiệt hại về kinh tế do dịch bệnh thủy sản gây ra, song cũng đã có một số thông báo về thiệt hại này. Lilley và cộng sự (1999), thống kê thiệt hại do bệnh xuất huyết ở cá tại một số nước châu Á trước năm 1990 đã vượt quá 10 triệu USD. Tại Thái Lan, nghề nuôi cá lồng năm 1989 đã thiệt hại 1,9 triệu USD và hơn 100 triệu USD trong khoảng thời gian từ năm 1983 – 1993 (Chinabut, 1994), Ấn Độ đã thiệt hại hơn 17,6 triệu USD do bệnh đốm đỏ gây nên trên động vật thủy sản trong năm 1994. Ở các nước Tây Âu, thiệt hại hàng năm do bệnh nhiễm trùng máu do vius gây nên là khoảng 60 triệu USD. Tác nhân gây bệnh chính là vi khuẩn Aeromonas đặt biệt là Aeromonas hydrophyla. Vi khuẩn này thường được phân lập từ các vết lở loét hay đốm đỏ và trong nội tạng của cá bệnh [19].

2.3.2. Việt Nam

Năm 1972 – 1973, người ta phát hiện thấy cá lóc ở An Giang và Đồng Tháp bị bệnh lở loét. Tại đồng bằng sông Cửu Long, bệnh đốm đỏ đã xuất hiện vào năm 1975 với mức độ nhẹ nhưng đến năm 1983 bệnh đã bùng nỗ thành dịch bệnh lở loét. Dịch bệnh đã lan rộng khắp các vùng sông Tiền, sông Hậu, khắp các kênh rạch, vùng sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây, sông Đồng Nai, sông Sài Gòn. Hầu hết cá chết ở đáy sông đều thấy bị nhiễm bệnh từ 60-70% và đều có sự cảm nhiễm Aeromonas hydrophyla [2].

Dịch bệnh đốm đỏ đã xuất hiện và phát triển rộng khắp Việt Nam, hàng năm có hàng nghìn hộ nuôi cá trắm cỏ lồng bị lỗ vốn do cá bị bệnh. Trong các năm 1975 - 1997, có khoảng 4000 trong số 5000 lồng nuôi cá trắm cỏ bị bệnh đốm đỏ gây thiệt hại khoảng 500.000 USD (Viện NCNTTS 1, 1998). Những thiệt hại này không những ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân và cộng đồng mà còn để lại những hậu quả không nhỏ về kinh tế xã hội trong khu vực [19]

Năm 1986 đến 1995, bệnh xuất huyết đốm đỏ đã xuất hiện nhiều, bùng nổ và trở thành dịch bệnh cho cá trắm cỏ nuôi lồng. Năm 1994 đến năm 1998, bệnh đã xuất hiện ở hầu hết các ao nuôi cá trắm cỏ bố mẹ và ao thương phẩm. Năm 1999 – 2001, các hệ thống nuôi cá trắm cỏ ở nhiều địa phương dịch bệnh đã xảy ra và gây thiệt hại lớn cho nghề nuôi cá nước ngọt nước ta.

2.4. Tình hình nghiên cứu bệnh vi khuẩn ở trên ếch

2.4.1. Thế giới

Một nghiên cứu của Gibb (1973) cho rằng Aeromonas hydrophyla được xem là nguyên nhân gây nên triệu chứng lở loét và gây nên tỉ lệ chết cao đối với ếch trong điều kiện phòng thí nghiệm [10].

Báo cáo của Viện nghiên cứu sức khỏe động vật thủy sản Thái Lan năm 1997 cho biết có 120 loài vi khuẩn phân lập được từ ếch bình thường và ếch bệnh từ các trại thuộc 8 tỉnh của Thái Lan. Những vi khuẩn xác định được chủ yếu là vi khuẩn Gram (-) như Aeromonas hydrophyla, A.sobria, Pseudomonas[15].

Một số nghiên cứu khác của Somsiri và cộng sự (1997), cũng tìm thấy Aeromonas hydrophyla trên ếch bị lở loét ở Thái Lan trong quá trình phân lập và định danh [15].

2.4.2. Việt Nam

Trong 2 năm 2006-2007, ThS. Lưu Thị Thanh Trúc (Khoa Thủy Sản, Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh) đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tình hình bệnh trên ếch Thái Lan (Rana tigerina) nuôi ở vùng ven đô Thành phố Hồ Chí Minh”.

Để khảo sát các bệnh thường gặp trên ếch Thái Lan, tác giả nghiên cứu tình hình nuôi ếch ở một số huyện ngoại thành (Hóc Môn, Củ Chi, Quận 9). Kết quả cho thấy, khó khăn người dân gặp phải nhiều nhất là dịch bệnh (43%). Trong đó bệnh quẹo cổ chiếm tỉ lệ lớn nhất, tiếp đến là mù mắt, lở loét và sình bụng. Bệnh xảy ra trên tất cả các loại ếch, phát sinh chủ yếu vào lúc giao mùa và mùa mưa. Để xác định nguyên nhân gây bệnh trên ếch Thái Lan, tác giả đã gây bệnh thực nghiệm bằng nhiều loại vi khuẩn khác nhau và khi gây bệnh bằng vi khuẩn Aeromonas hydrophyla  thì tỷ lệ sống của ếch ở nghiệm thức đối chứng cao nhất đạt 86,67%, ở nghiệm thức 9x106 CFU/ml đạt 43,33%, nghiệm thức 9x107 CFU /ml đạt 10% và 0% ở nghiệm thức 9x108 CFU/ml. Như vậy, vi khuẩn Aeromonas hydrophyla chính là tác nhân gây bệnh cho ếch ở nồng độ 9x106 CFU/ml với triệu chứng lở loét, nội tạng bị mủ và lồi ruột [6]. 

Trong 2 năm 2006 – 2007, Trần Hồng Thủy (Khoa Thủy sản, Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh) đã thực hiện đề tài: “Phân lập và định danh vi khuẩn Aeromonas hydrophyla trên ếch Thái Lan (Rana tigerina) nuôi tại khu vực ven đô thành phố Hồ Chí Minh”. 

Mục đích của nghiên cứu này là phân lập và định danh được vi khuẩn Aeromonas hydrophyla trên ếch nuôi bị bệnh đồng thời tiến hành gây cảm nhiễm ngược vi khuẩn Aeromonas hydrophyla trên ếch nuôi khỏe mạnh để xác định xem Aeromonas hydrophyla có đúng là vi khuẩn gây bệnh lở loét và đỏ chân trên ếch Thái Lan nuôi tại khu vực ven đô thành phố Hồ Chí Minh hay không? Từ đó có hướng nghiên cứu tiếp theo về vấn đề phòng và trị bệnh cho ếch, góp phần duy trì và phát triển nuôi ếch công công nghiệp tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới [15].   

Tác giả đã tiến hành thu mẫu ếch bệnh từ một số trại nuôi tại khu vực nghiên cứu. Thu mẫu tại các thời điểm xảy ra dịch bệnh và thu mẫu định kỳ mỗi tháng một lần, từ tháng 9/2006 đến tháng 9/2007. Kết quả nghiên cứu cho thấy Aeromonas hydrophyla là vi khuẩn chiếm ưu thế trong quá trình phân lập được từ ếch bệnh lở loét ngoài hiện trường. Sau khi gây bệnh thực nghiệm, vi khuẩn thu được từ ếch bị bệnh thực nghiệm cũng chính là vi khuẩn khi tiêm vào ếch khỏe. Ếch có các biểu hiện tương tự ếch bệnh ngoài hiện trường. Từ kết quả nghiên cứu tác giả kết luận Aeromonas hydrophyla chính là một trong số vi khuẩn gây bệnh lở loét trên ếch Thái Lan nuôi tại khu vực ven đô thành phố Hồ Chí Minh [15].

2.5. Tình hình nghiên cứu thảo dược trong phòng trị bệnh ở động vật thủy sản

2.5.1. Thế giới

Việc tăng năng suất và sản lượng bằng cách phát triển ồ ạt nghề nuôi đã khiến cho dịch bệnh ngày càng là một vấn đề nhức nhối cho người nuôi. Để giải quyết vấn đề này, các loại hóa chất và thuốc kháng sinh là biện pháp đầu tiên được người nuôi sử dụng để điều trị bệnh cho đối tượng nuôi. Tuy nhiên, việc sử dụng các loại hóa chất và thuốc kháng sinh không đúng quy cách và liều lượng đã và đang gây ảnh hưởng lớn tới môi trường và sinh thái nghề. Không chỉ có vậy, tồn dư kháng sinh trong đối tượng thủy sản cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người sử dụng. Trong những năm gần đây, xu hướng sử dụng thảo dược trong điều trị bệnh cho đối tượng thủy sản đang được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi. Ưu điểm của việc sử dụng thảo dược để điều trị bệnh là nó có biên độ an toàn lớn, ít ảnh hưởng đến môi trường sinh thái cũng như môi trường nuôi và không ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Các chiết suất từ thảo dược như Hinokiticol, Citral và Allylisocyanate được sử dụng rộng rãi trong bảo quản và điều trị bệnh do nấm và vi khuẩn [18].

Năm 1880, Davaine đã bắt đầu nghiên cứu tính kháng khuẩn của lá Hồ Đào đối với vi khuẩn Bacillus anthracis. R.Koch (1887) cũng đã nghiên cứu chứng minh tính kháng khuẩn của nhiều loại tinh dầu.

Một nghiên cứu khác của Tokin (1928) đã chứng minh nhiều chất bay hơi từ cây xanh có tác dụng với vi khuẩn được gọi là Phytocid, nhiều công trình nghiên cứu đã xác nhận rằng các chất kháng khuẩn có nguồn gốc từ thực vật rất phong phú và có phạm vi ứng dụng rộng rãi [7], [14].

Năm 1959, Horack và Santavi chiết suất từ Cannabit sativa – Cannabinnacea được chất Cannabiriolic, dung dịch 10-15µg/ml có tác dụng diệt khuẩn với vi khuẩn gây bệnh lao ở người và vi khuẩn Gram (+), đặc biệt là vi khuẩn kháng lại Penicilin. Chế phẩm này được sản xuất theo dây chuyền công nghiệp, tạo ra sản phẩm dạng mỡ, dạng bột dùng trong y học [14], [17].

Ở Trung Quốc, Khuê Lập Trung (1985) đã đưa ra 22 loại thảo dược, chủ yếu phòng trị các bệnh nhiễm khuẩn, ngoại ký sinh trùng và bệnh đường ruột cho tôm, cá và nhuyễn thể. Các loại thảo dược đó là: Xuyên Tâm Liên, Địa Niên Thảo, Lưu Xổ Tử, Quản Trọng, Ngũ Bội Tử, Tiền Thảo,…[4].

Tại Thái Lan, Sataporn Direkbusarakom và cộng sự (1997) đã thử nghiệm thành công khả năng kháng khuẩn của các thảo dược như: O.sanctum, C.alata, Tinospora cordifolia, Tinospora cripspa, Eclipa alba, Psidium guajava, Clinacanthus nutans, Andrograhic panniculata, Momordica charatina, Phyllanthus reticulates, P.pulcher, P. acidus, P. debelis, P. amarus, P. uriaria …đối với vi khuẩn Vibrio spp. Tuy nhiên chỉ có 2 cây Psidium guajavaMomordica charatina có hiệu quả ức chế đối với Vibrio spp. Nồng độ ức chế tối thiểu của Psidium guajava là 0.625mg/ml và Momordica charatina là 1.25mg/ml.

Gần đây Trung Quốc đã tách chiết được một loại Ankaloit từ cây xoan rừng tên là Yanatren hoặc sử dụng hạt với tên là Kosam, Enkosam có tác dụng điều trị lỵ Amip [21], [22].

Các kết quả trên chỉ mới bước đầu thử nghiệm sàng lọc các loại thảo dược chưa xác định xác định được thành phần nào trên thực vật có tác dụng với vi khuẩn và virus [17].

2.5.2. Việt Nam

            Ở Việt Nam, trong lĩnh vực NTTS, các nghiên cứu thực nghiệm xác định tính kháng khuẩn thực vật chỉ mới được chú ý  trong vài năm trở lại đây.

Ở Miền Bắc, Hà Ký (1995)  trong chương trình KN 04-12 đã nghiên cứu một số loài thảo dược dùng để phòng trị bệnh trên cá trắm. Bước đầu đã chọn được 9 loài cây thuốc gồm:raunghể(Polygonum hydropiper),rau sam(Portulaca cleracea), cây cỏ sữa lá to (Euphorbia hirta), cỏ sữa lá nhỏ (Euphorbia thymifolis), sài đất (Wedelia calendu lacae), nhọ nồi (Eclipta alba), bồ công anh(Lactuca indica),cây vòivoi (Heliotropium indicum), chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria) có thể sử dụng trong phòng trị bệnh đốm đỏ ở cá trắm [8].

Ở Miền Nam, các cây cỏ được dùng trong phòng trị bệnh cho vật nuôi thuỷ sản chủ yếu từ kinh nghiệm dân gian như khu vực nuôi bè ở Tân Châu- Châu Đốc (An Giang), Hồng Ngự (Đồng Tháp),...người dân đã biết dùng cây cỏ mực (Eclipta alba), cây trầu (Piper betel) để trị bệnh kí sinh trùng cho cá, lá ổi (Psidium guajava) chữa bệnh cho cá [8].

            Ngoài ra, một số địa phương khác theo kinh nghiệm người dân cũng biết dùng một số loài thực vật quen thuộc để chữa bệnh cho tôm cá đem lại hiệu quả như Nghệ An, Huế đã dùng cây tỏi (Allium sativum)  phòng trị bệnh cho tôm cá [8].

            Từ năm 2000, Nguyễn Ngọc Hạnh cùng với cộng sự đã nghiên cứu thử nghiệm thành công các hợp chất chiết xuất từ thảo dược, như Hepato, Alixin có tác dụng hỗ trợ tiêu hoá tốt, giúp tôm khoẻ mạnh, sinh trưởng bình thường, có khả năng chống nhiễm bệnh đặc biệt các bệnh về gan. Trong đó Hepato có công dụng phòng trị bệnh về gan như MBV, teo gan. Ngoài ra, Hepato còn có thể sử dụng phòng bệnh cho cá [8].

            Nghiên cứu khác của Phan Xuân Thanh (2002) đã xác định được chất: 2-hydroxy-6-pentandecatrienilbenzoat có nguồn gốc từ thảo dược, có tác dụng phòng trừ các bệnh do vi khuẩn, nấm gây ra với mục đích sử dụng các hoạt chất sinh học thay thế các hoá chất độc hại, kháng sinh trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản [8].

            Gần đây Nguyễn Ngọc Phước và cộng sự (2006) đã nghiên cứu thành công chế phẩm Bokashi trầu có tác dụng xử lí môi trường, tạo hệ vi sinh sinh vật có lợi trong đường ruột, nâng cao sức khỏe vật nuôi.

            Việc nghiên cứu các hợp chất chiết xuất từ thảo dược, thử nghiệm nhiều loại thảo dược mới nhằm phòng trị bệnh trên động vật thủy sản trong những năm gần đây  đang mang lại những tín hiệu khả quan trong việc thay thế các loại kháng sinh bị cấm sử dụng.

PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian:  01/2010 – 05/2010

- Địa điểm thu mẫu:  Huyện Hương Trà - Tỉnh Thừa Thiên Huế

- Địa điểm phân tích và xử lý mẫu:

+ Phòng thí nghiệm khoa Thủy sản - Trường Đại học Nông Lâm Huế.

+ Khoa vi sinh - Bệnh viện Trung Ương Huế.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

3.2.1. Ếch Thái Lan (Rana rugulosa)

Ngành: Chordata

                    Lớp: Vertebrata

                   Bộ: Anura

                             Họ: Ranidae

                                      Giống: Rana

                                                Loài: Rana rugulose Wiegmann, 1835

3.2.2. Các loại thảo dược

3.2.2.1. Tỏi (Allium sativum L.)

Tỏi có nguồn gốc từ Trung Á, hiện nay được trồng khắp thế giới để làm gia vị. Tỏi cũng là một dược liệu được biết từ lâu, hiện nay trong y học hiện đại đang khai thác để sử dụng.

Thành phần kháng thuốc chủ yếu là chất alicin (C6H10OS2) có khả năng diệt khuẩn mạnh, ở động vật thủy sản nó có tác dụng rất tốt với các vi khuẩn gam (-). Trong tỏi tươi không có chất alicin nó chỉ được hình thành khi tỏi đã được phơi khô. Trong tỏi tươi có chứa aliin dưới tác dụng của alinase có trong tỏi để tạo thành alixin.

3.2.2.2. Chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria)

Tên khác: Điệp hạ châu, điệp hòe thái, lão nha châu.

Chó đẻ răng cưa là loại cỏ mọc quanh năm, cao thường 30cm, thân gần như nhẵn, mọc thẳng đứng mang cành, thường có màu đỏ nâu. Lá mọc so le, lưỡng bộ trông như lá kép, phiến lá thuôn, dài 5-15mm, rộng 2-5mm, đầu nhọn hay hơi tù, mặt dưới màu xanh lơ, không cuống. Hoa mọc ở kẽ lá, nhỏ, màu đỏ nâu, đơn tính, hoa đực, hoa cái cùng gốc, đực ở đầu cành, cái ở dưới. Hoa không cuống hoặc có cuống rất ngắn. Cây chó đẻ răng cưa mọc hoang khắp nơi ở nước ta.

Thành phần hóa học trong chó đẻ răng cưa có các chất phyllanthin (C2H34O6), hypophyllanthin (C24H30O7), niranthin (C24H32O7),nirtetralin (C24H30O7), phylteralin (C24H34O6). Đây là những chất có tính kháng vi sinh vật rất cao.

3.2.2.3. Diếp cá( Houttuynia cordata)

Diếp cá có nguồn gốc ở Nhật Bản, miền nam Trung Quốc và Đông Nam Á. Diếp cá ưa chỗ ẩm ướt, có thân rễ mọc ngầm dưới đất. Rễ nhỏ mọc ở các đốt, thân mọc đứng cao 40 cm, có lông hoặc ít lông. Lá mọc cách, hình tim, đầu lá hơi nhọn hay nhọn hẳn. Hoa nhỏ, không có bao hoa, mọc thành bông, có 4 lá bắc màu trắng.

Theo Đỗ Tất Lợi, trong cây có chừng0,0049% tinh dầu, một ít chất ancaloit có tên cocdalin. Tinh dầu diếp cá chủ yếu chứa metylnonylxeton, chất myrcen, axit caprinic và laurinaldehyt. Hoa và quả chứa chất isoquexitrin, không chứa quexitrin. Độ tro trung bình 11,4%, tro không tan trong HCl 2,7%.

3.2.2.4. Cây rau má (Centell asiatica)

Rau má thuộc họ Hoa tán Umbelliferae. Loại thực vật nầy mọc lan trên mặt đất có lá trông giống như những đồng tiền tròn được xếp nối tiếp nhau. Rau má thường mọc ở những nơi ẩm ướt như thung lủng, bờ mương thuộc những vùng nhiệt đới như Việt nam, Lào, Cambuchia, Indonesia, Malasia, Srilanka, Ấn độ, Pakistan, Madagascar…Cây rau má có thân nhẳn , mọc lan trên mặt đất, có rể ở các mấu. Lá có cuống dài mọc ra từ gốc hoặc từ các mấu. Lá hơi tròn, có mép khía tai bèo. Phiến lá có gân dạng lưới hình chân vịt. Hoa mọc ở kẻ lá. Cánh hoa màu đỏ hoặc tía.

Tuỳ theo khu vực trồng hoặc mùa thu hoạch tỷ lệ các các hoạt chất có thể sai biệt. Thành phần của rau má bao gồm những chất sau: beta caroten, sterols, saponins, alkaloids, flavonols, saccharids, calcium, iron, magnesium, manganese, phosphorus, potassium, zinc, các loại vitamins B1, B2, B3, C và K.

3.3. Vật liệu nghiên cứu

3.3.1. Dụng cụ thí nghiệm

- Dụng cụ thu mẫu: xô, khăn ẩm.

- Dụng cụ phân tích vi khuẩn: Ống nghiệm vô trùng các loại, đĩa peptri, que cấy vô trùng, đèn cồn,  lamen, lam, pipet, kẹp gắp, dầu soi kính, tủ lạnh, kính hiển vi, nước muối sinh lý, nước cất,…

- Dụng cụ chiết xuất dịch chiết thảo dược: Máy xay, chai lọ, nước cất, ethanol, lưới lọc, giấy lọc.

3.3.2. Môi trường và hóa chất

- Môi trường:

+ Môi trường phân lập vi khuẩn từ mẫu bệnh phẩm, môi trường thử khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược: NA (Nutrient agar).

+ Môi trường nuôi cấy tăng sinh:  Pepton.

           + Môi trường dùng cho phản ứng sinh hóa: các loại đường: Saccharose, Glucose, Lactose, Mantose; môi trường KIA; môi trường MR; Manitol; Citrar; Dul; Tryptone lỏng.

- Hóa chất sử dụng trong test sinh hóa và nhuộm Gram

+ Thuốc thử Methyl Red dùng cho phản ứng MR.

+ Thuốc thử Kovac’s dùng cho phản ứng sinh Indol.

+ Dung dịch chỉ thị màu dùng để nhuộm Gram: Dung dịch Crystal Violet (màu tím), dung dịch Fusin, dung dịch Lugol, dung dịch cồn 96%.

3.4. Nội dung nghiên cứu

- Phân lập, xác định loài vi khuẩn gây bệnh đỏ chân trên ếch Thái Lan (Rana rugulosa) ở giai đoạn trưởng thành.

- Thử nghiệm tác dụng diệt khuẩn của dịch chiết các loại thảo dược với các loài vi khuẩn phân lập được.

- So sánh khả năng kháng khuẩn của thảo dược khi pha loãng nồng độ bằng các dung môi khác nhau. 

3.5. Phương pháp nghiên cứu

3.5.1. Phương pháp thu mẫu

- Thu mẫu ếch có các biểu hiện như: di chuyển chậm chạp, không ăn hay ít ăn, những con biểu hiện có những vết chấm đỏ trên chân, vùng da dưới bụng và mẩn đỏ khắp mình, chân bị sưng, gốc đùi có màu đỏ.

- Tiến hành giải phẩu ếch bệnh thu mẫu máu, gan, cơ và thận tiến hành nuôi cấy, phân lập.

-  Tiến hành thu mẫu định kỳ 2 tuần/lần.

3.5.2. Phương pháp nuôi cấy, phân lập vi khuẩn

Phương pháp phân lập xác định vi khuẩn gây bệnh dựa trên phương pháp nghiên cứu của Bergey (1957) và Nguyễn Lân Dũng (2006).

- Nuôi cấy phân lập

            Lấy mẫu bệnh phẩm: máu, gan, cơ và thận cấy lên môi trường NA (gan, cơ và thận được nghiền nát với nước cất vô trùng thành dung dịch huyền phù trước khi cấy) và giữ các đĩa cấy ở nhiệt độ phòng. Sau 24 giờ, quan sát ghi nhận, chọn khuẩn lạc ưu thế cấy chuyền làm thuần sang  môi trường NA.

- Nhuộm Gram và test sinh hóa

Lấy vi khuẩn dòng thuần từ môi trường thạch để nhuộm Gram theo phương pháp của Christian Gram (1884).

             Lấy vi khuẩn dòng thuần từ môi trường thạch để test sinh hóa, định danh vi khuẩn theo khóa phân loại của Bergey (1957) và Nguyễn Lân Dũng (2006).

- Cấy tăng sinh

             Cấy tăng sinh trên môi trường pepton lỏng ở nhiệt độ 300C để đạt mật độ cần thiết giúp cho quá trình giữ giống và bố trí thí nghiệm.

- Xác định mật độ tế bào vi khuẩn

Chuẩn bị một số ống nghiệm vô trùng, mỗi ống chứa 9ml nước muối sinh lý. Lấy 1ml mẫu dung dịch pepton chứa vi khuẩn cần nghiên cứu, đưa sang ống nghiệm thứ nhất làm đồng đều ta được độ pha loãng 10 (10-1).Lấy 1ml nước ở ống nghiệm 10-1 cho vào ống nghiệm thứ 2được độ pha loãng 100 lần (10-2), cứ làm như thế đến khi đạt được độ pha loãng tiếp theo:10-3, 10-4, 10-5,10-6­.

Lấy 0,1ml nước nghiên cứu ở 2 - 3 độ pha loãng khác nhau, nuôi cấy trên đĩa thạch chứa môi trường NA bằng que gạt. Mỗi nồng độ pha loãng nuôi cấy từ 2 - 3 đĩa lồng. Nuôi cấy ở nhiệt độ 30 - 370C, sau 24 giờ, đem ra đếm số khuẩn lạc mọc trên đĩa thạch, lấy giá trị trung bình của các đĩa lồng có cùng nồng độ pha loãng. Mật độ vi khuẩn tính theo công thức: X = A.K/V.

Trong đó:X: mật độ vi khuẩn.

                 A: Số lượng khuẩn lạc trung bình trong 1 độ pha loãng.

                 V: Thể nước đưa vào nuôi cấy.

                 K: Hệ số pha loãng.

Sơ đồ 3.1.  Xác định mật độ vi khuẩn

3.5.3. Phương pháp chiết xuất thảo dược

Thảo dược thí nghiệm được rửa sạch, để ráo nước tự nhiên ở nhiệt độ phòng, rồi cho vào máy xay  thật nhuyễn, có thể thêm một ít nước cất làm dung môi nhằm thuận tiện cho việc vắt lấy dịch chiết qua lưới lọc. Dịch chiết được bảo quản ở nơi khô thoáng với nhiệt độ luôn bảo đảm dưới 500­C­­­­­ tránh hiện tượng tác dụng dược lý của thảo dược bị mất đi bởi nhiệt độ.

3.5.4. Phương pháp thử khả năng kháng khuẩn của thảo dược

Tiến hành thử nghiệmdịch chiết thảo dược trên vi khuẩn phân lập được theo phương pháp thạch lỗ của Bộ môn Dược liệu - Trường Đại học Dược Hà Nội, 1998. Các thao tác được thực hiện trong điều kiện vô trùng bằng tủ cấy vô trùng.

Phương pháp tiến hành: Lấy 0,1ml dung dịch ở ống nghiệm chứa vi khuẩn có mật độ 106CFU/ml dàn đều trên mặt thạch bằng que gạt, để khô tự nhiên. Sau 1 phút, mỗi đĩa thạch đục 5 lỗ trên mặt thạch với đường kính 3mm/lỗ (mỗi nồng độ thảo dược thử nghiệm được lặp lại 5 lần). Nhỏ vào mỗi lỗ 0.1ml dịch chiết dược liệu rồi giữ ở nhiệt độ 300C - 370C.Sau 24 giờ lấy ra xác định đường kính vòng tròn kháng khuẩn. Mỗi loại thảo dược được thử nghiệm với nồng độ gốc và các nồng độ pha loãng lặp lại 3 lần.

I1

II1

III1

IV1

I2

II2

III2

IV2

I3

II3

III3

IV3

Sơ đồ 3.2. Mô hình bố trí thí nghiệm khả năng kháng khuẩn của mỗi loại thảo dược

               Trong đó: I1, I2… là các công thức thí nghiệm.

                                I, II. III:  loại thảo dược thử nghiệm.

                                1,2,3: số lần lặp lại.

Sơ đồ 3.3. Sơ đồ tổng quan nghiên cứu

3.5.5. Phương pháp xử lý số liệu

Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học trên phần mềm Excel 2007.

3.5.5.1.Giá trị trung bình

 = 

Trong đó:

                        : Giá trị trung bình

                                      Xi    : Giá trị của mỗi lần đo

                                      n     :  Số lần đo

3.5.5.2. Độ lệch chuẩn

Trong đó:

: Giá trị trung bình

      :Độ lệch chuẩn

   n     : Số lần đếm

  Xi    : Giá trị trung bình

PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả kiểm tra trọng lượng mẫu bệnh phẩm

            Kiểm tra trọng lượng, kích thước mẫu bệnh phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh trên động vật thủy sản, do mỗi loại tác nhân thường cảm nhiễm ở một giai đoạn nhất định của đối tượng nuôi. Ếch Thái Lan dễ mẫn cảm với nhiều loại tác nhân gây bệnh khác nhau nên việc xác định giai đoạn phát triển của ếch sẽ giúp khoanh vùng được tác nhân gây bệnh để đưa ra kết quả chính xác hơn trong quá trình phân lập.

Mẫu ếch thu được có trọng lượng trung bình từ 127g – 250g/con. Giai đoạn này ếch dễ dàng bị nhiều loại tác nhân gây bệnh tấn công do giai đoạn này vào cuối vụ, ao nuôi không sạch, nguồn nước bị ô nhiễm.  

4.2. Kết quả phân lập, định danh vi khuẩn

4.2.1. Dấu hiệu bệnh lý

Trong quá trình thu mẫu, ếchđược thu có những biểu hiện bệnh lý được ghi nhận như sau:

- Dấu hiệu bệnh lý bên ngoài: ếch di chuyển chậm chạp, chân bị sưng, trên thân có những nốt chấm đỏ, gốc đùi có tụ huyết. 

Hình 4.1. Dấu hiệu bên ngoài của ếch bị bệnh

- Giải phẩu quan sát nội tạng: thấy tình trạng xuất huyết bên trong ổ bụng.      

Hình 4.2. Nội tạng của ếch bị nhiễm khuẩn

4.2.2. Kết quả nuôi cấy và phân lập định danh vi khuẩn

            Qua các đợt thu mẫu ếch Thái Lanbị bệnh đỏ chân, chúng tôi đã tiến hành nuôi cấy, phân lập, thử phản ứng sinh hoá đối với chủng vi khuẩn thu được.

·        Nuôi cấy

Chúng tôi tiến hành mổ và thu mẫu ở các cơ quan: máu, gan, cơ và thận để tiến hành nuôi cấy. Sau 24h nuôi cấy ở nhiệt độ phòng cho khuẩn lạc phát triển trên môi trường NA. Tại 4 vị trí thu mẫu, khi nuôi cấy đều mọc khuẩn lạc, quan sát khuẩn lạc tại 4 vị trí có hình dạng và màu sắc giống nhau. Khuẩn lạc có dạng hình cầu, trơn bóng, mọc hơi sát vào bề mặt thạch. Điều này chứng tỏ có vi khuẩn gây bệnh cảm nhiễm tại 4 vị trí trên.

Dễ dàng nhận thấy khuẩn lạc tại 4 vị trí trên đều có màu sắc và hình dạng ngoài giống nhau, điều này chứng tỏ rằng tác nhân gây bệnh đỏ chân trên mẫu ếch thu được do một loại vi khuẩn gây ra.

Hình 4.3. Khuẩn lạc trên môi trường NA

·        Cấy chuyền

Tiến hành cấy chuyền vi khuẩn từ môi trường NA sang môi trường BHIA (Brain Heart Infusion Agar)  nhằm tạo ra dòng thuần vi khuẩn gây bệnh.

Sau 24h nuôi cấy, thu được khuẩn lạc sinh trưởng và phát triển tốt trên môi trường BHIA. Khuẩn lạc có màu sắc và hình dạng giống như khuẩn lạc mọc trên môi trường NA.

Kết quả phân lập không thấy sự có mặt của loại vi khuẩn khác, điều này cho thấy việc phân lập dòng thuần vi khuẩn gây bệnh đã tiến hành thành công.

Hình 4.4. Khuẩn lạc trên môi trường BHIA

·        Kết quả nhuộm gram

Vi khuẩn bắt màu thuốc nhuộm fucin, có màu hồng, đây là vi khuẩn gram (-). Quan sát hình ảnh vi khuẩn sau khi nhuộm gram dưới kính hiển vi cho thấy vi khuẩn có dạng que ngắn.

Hình 4.5. Nhuộm  Gram

·        Kết quả thử phản ứng sinh hóa của tác nhân gây bệnh

Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh hóa được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 4.1. Kết quả test sinh hoá phân lập vi khuẩn

Đặc điểm sinh hoá

Kết quả

Hình ảnh

Hình dạng khuẩn lạc

tròn, không đều

Khuẩn lạc trên môi trường NA

Test sinh hóa

Nhuộm Gram

Màu sắc khuẩn lạc

Trắng đục

Kích thước khuẩn lạc

2 - 5 mm

Hình dạng tế bào

Que, ngắn

Gram

( - )

Lên men Glucose

+

Lên men Lactose

+

Lên men Saccharose

+

Lên men Maltose

+

Lên men Manitol

+

Lên men Dultol

-

Khả năng sinh hơi

+

Sinh H2S trên Glucose

+

KIA

+/+

Khả năng di động

+

Phản ứng VP

+

Phản ứng MR

-

Khả năng sinh Indol

+

Phản ứng Citrat

+

Oxidaze

+

Phản ứng catalaze

+

Căn cứ vào đặc điểm sinh hóa cũng như đặc điểm về hình thái cấu tạo của vi khuẩn gây bệnh đỏ chân trên ếch Thái Lan, dựa trên khóa phân lập của Bergey (1957) và Nguyễn Lân Dũng (2006) có thể kết luận chủng vi khuẩn được phân lập trên mẫu bệnh phẩm thuộc chủng Aeromonas hydrophyla - đây là chủng vi khuẩn gây bệnh chủ yếu trên các đối tượng thủy sản nước ngọt.

Kết quả nghiên cứu này phù hợp kết quả nghiên cứu của Gibb (1973) khi ông cho rằng Aeromonas hydrophyla là nguyên nhân gây nên triệu chứng lở loét và gây nên tỉ lệ chết cao đối với ếch trong điều kiện phòng thí nghiệm. 

Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp kết quả nghiên cứu của Somsiri (1997),  Lưu Thị Thanh Trúc và Trần Hồng Thủy (2006 – 2007).

4.3. Kết quả kiểm tra khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược

Khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng nồng độ bằng dung môi  nước và cồn 700 được thể hiện ở bảng 4.2 và bảng  4.3.

Bảng 4.2: Khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng  nồng độ bằng dung môi nước

Nồng độ vi khuẩn thử nghiệm (CFU/ml)

Thảo dược

Nồng độ thảo dược (ppm)

1000000

100000

10000

1000

100

10

106

Tỏi

+

+

+

+

-

-

106

Chó đẻ răng cưa

+

+

+

-

-

-

106

Rau má

-

-

-

-

-

-

106

Diếp cá

+

+

-

-

-

-

Ghi chú: (+) có khả năng kháng khuẩn; (-) không có khả năng kháng khuẩn.

Bảng 4. 3: Khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng nồng độ bằng dung môi cồn 700

Nồng độ vi khuẩn thử nghiệm (CFU/ml)

Thảo dược

Nồng độ thảo dược (ppm)

1000000

100000

10000

1000

100

10

106

Tỏi

+

+

+

-

-

-

106

Chó đẻ răng cưa

+

+

-

-

-

-

106

Rau má

-

-

-

-

-

-

106

Diếp cá

+

+

-

-

-

-

Ghi chú: (+) có khả năng kháng khuẩn; (-) không có khả năng kháng khuẩn.

Trong số 4 hợp chất được chiết ra từ các loại thảo dược thử nghiệm thì hợp chất chiết xuất từ tỏi, chó đẻ răng cưa, diếp cá cho thấy khả năng kháng khuẩn đối với chủng vi khuẩn phân lập được. Riêng hợp chất chiết xuất từ rau má cho thấy vi khuẩn phát triển mạnh sau thời gian thử nghiệm. Theo Ngô Văn Thu, 1998 (Bộ môn Dược Liệu - Đại học Dược Hà Nội) điều này có thể giải thích dịch chiết từ thực vật bên cạnh các chất ức chế đôi khi còn có mặt chất dinh dưỡng nên có thể thấy hiện tượng vi khuẩn mọc nhiều hơn xung quanh lỗ chứa thảo dược.

Hình 4.6. Vi khuẩn phát triển mạnh hơn xung quanh lỗ chứa thảo dược

4.4. Kết quả kiểm tra khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng nồng độ bằng dung môi khác nhau

4.4.1.Kết quả kiểm tra khả năng kháng khuẩn của tỏi

4.4.1.1.Kết quả kiểm tra khả năng kháng khuẩn của tỏi khi pha loãng nồng độ bằng dung môi  nước

Khả năng kháng khuẩn của tỏi được thể hiện ở đồ thị 4.1

Đồ thị 4.1. Khả năng kháng khuẩn của tỏi khi pha loãng nồng độ bằng dung môi nước

(a, b, c, d: Thể hiện sự khác biệt thống kê với p < 0.05)

Từ kết quả đồ thị 4.1 cho thấy tỏi ở 4 nồng độ: 106 ppm, 105 ppm, 104 ppm, 103 ppm đều có khả năng kháng khuẩn. Tỏi ở nồng độ gốc (106 ppm) có khả năng kháng khuẩn mạnh nhất với đường kính vòng kháng khuẩn trung bình đạt 22.7 ± 0.44 mm, tỏi ở nồng độ 103 ppm kháng khuẩn yếu nhất với đường kính vòng kháng khuẩn trung bình 9.9 ± 0.29 mm. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <0.05).

Từ đồ thị ta thấy tỏi ở các nồng độ khác nhau cho khả năng kháng khuẩn khác nhau. Mức độ kháng khuẩn của thảo dược được quyết định bởi thành phần, tính chất của các hợp chất được chiết xuất. Theo Đỗ Tất Lợi, 2004, trong tỏi có một ít iốt và tinh dầu. Thành phần chính của tỏi có chứa một hợp chất kháng sinh có tên alixin C6H10OS2, một hợp chất sunfua có tác dụng diệt vi khuẩn rất mạnh.Trong tỏi không có chất alixin ngay mà có chất aliin, một loại axit amin, chất aliin chịu tác dụng của men alinaza có trong tỏi mới tạo thành alixin.

Chất alixin tinh khiết không màu, hòa tan trong cồn, benzen, ete, không ổn định trong nước, dễ thủy phân. Độ thủy phân chừng 2,5%. Điều này giải thích vì sao tỏi nồng độ 105 ppm, 104 ppm, 103 ppm có tác dụng kháng khuẩn kém hơn tỏi nguyên chất.

4.4.1.2. Kết quả kiểm tra khả năng kháng khuẩn của tỏi khi pha loãng nồng độ bằng dung môi cồn 700

Khả năng kháng khuẩn của tỏi được thể hiện ở đồ thị 4.2

Đồ thị 4.2. Khả năng kháng khuẩn của tỏi khi pha loãng nồng độ bằng dung môi cồn 700

(a, b, c, d: Thể hiện sự khác biệt thống kê với p < 0.05)

Từ kết quả đồ thị 4.2 cho thấy tỏi ở nồng độ 103 ppm không có khả năng kháng khuẩn, tỏi ở nồng độ gốc (106 ppm) có khả năng kháng khuẩn mạnh nhất với đường kính vòng kháng khuẩn trung bình đạt 22.7 ± 0.44 mm, tỏi ở nồng độ 104 ppm có khả năng kháng khuẩn yếu nhất với đường kính vòng kháng khuẩn trung bình 13.0 ± 0.79. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <0.05).

4.4.1.3. So sánh khả năng kháng khuẩn của tỏi khi pha loãng nồng độ bằng 2 dung môi khác nhau

Đường kính vòng kháng khuẩn của tỏi ở nồng độ 105 ppm được sử dụng để so sánh do trong quá trình chiết suất chúng tôi không sử dụng bất kỳ loại dung môi nào. Kết quả được thể hiện qua bảng 4.4.

Bảng 4.4. Khả năng kháng khuẩn của tỏi khi pha loãng nồng độ bằng các dung môi khác nhau

Dung môi

Đường kính vòng kháng khuẩn (mm)

MS±SD

Nước

19.0 ± 0.12a

Cồn 700

15.2 ± 0.15b

(a, b: Thể hiện sự khác biệt thống kê với p < 0.05)

Qua bảng 4.4, chúng tôi nhận thấy rằng khi pha loãng nồng độ bằng nước thì tỏi có khả năng kháng khuẩn mạnh hơn so với khi pha loãng nồng độ bằng cồn 700. Sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê (p<0,05).   

4.4.2.Kết quả kiểm tra khả năng kháng khuẩn của chó đẻ răng cưa

4.4.2.1.Kết quả kiểm tra khả năng kháng khuẩn của chó đẻ răng cưa khi pha loãng nồng độ bằng dung môi  nước

Khả năng kháng khuẩn của chó đẻ răng cưa được thể hiện ở đồ thị 4.3

Đồ thị 4.3.Khả năng kháng khuẩn của chó đẻ răng cưa khi pha loãng nồng độ bằng dung môi nước

(a, b, c: Thể hiện sự khác biệt thống kê với p < 0.05)

Từ kết quả đồ thị 4.3 cho thấy chó đẻ răng cưa ở nồng độ gốc (106 ppm) có khả năng kháng khuẩn mạnh nhất với đường kính vòng kháng khuẩn trung bình 15.1 ± 0.51 mm, chó đẻ răng cưa ở nồng độ 104 ppm có khả năng kháng khuẩn thấp nhất với đường kính vòng kháng khuẩn trung bình 9.7 ± 0.1 mm, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <0.05).

Theo Đỗ Tất Lợi (1968), chó đẻ răng cưa thuộc họ Thầu dầu, trong đó Ankaloit chiếm tỷ lệ lớn trong thành phần nên những hợp chất chiết xuất từ loại thảo dược này có khả năng kháng khuẩn mạnh. Kết quả nghiên cứu  phù hợp với kết quả nghiên cứu của Bộ môn bệnh cá viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I năm 1993 khi thử nghiệm tác dụng diệt khuẩn của dịch chiết rút từ họ Thầu Dầu với vi khuẩn Aeromonas hydrophyla, Edwardsiella gây bệnh hoại tử trên cá trê, kết quả vòng kháng khuẩn từ 11 – 20 mm.

4.4.2.2. Kết quả kiểm tra khả năng kháng khuẩn của chó đẻ răng cưa khi pha loãng nồng độ bằng dung môi cồn 700

Khả năng kháng khuẩn của chó đẻ răng cưa được thể hiện ở đồ thị 4.4

Đồ thị 4.4.Khả năng kháng khuẩn của chó đẻ răng cưa khi pha loãng nồng độ bằng dung môi cồn 700

(a, b, c: Thể hiện sự khác biệt thống kê với p < 0.05)

Từ kết quả đồ thị 4.4 cho thấy chó đẻ răng cưa ở nồng độ 104 ppm không có khả năng kháng khuẩn, chó đẻ răng cưa ở nồng độ gốc (106 ppm) có khả năng kháng khuẩn mạnh nhất với đường kính vòng kháng khuẩn trung bình 15.1 ± 0.51, chó đẻ răng cưa ở nồng độ 105 ppm có khả năng kháng khuẩn thấp nhất với đường kính vòng kháng khuẩn trung bình 11.1 ± 0.40, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <0.05).

4.4.2.3. So sánh khả năng kháng khuẩn của chó đẻ răng cưa khi pha loãng nồng độ bằng 2 dung môi khác nhau

Đường kính vòng kháng khuẩn của chó đẻ răng cưa ở nồng độ 105 ppm được sử dụng để so sánh. Kết quả so sánh được thể hiện qua bảng 4.5.

Bảng 4.5. Khả năng kháng khuẩn của chó đẻ răng cưa khi pha loãng nồng độ bằng các dung môi khác nhau

Dung môi

Đường kính vòng kháng khuẩn (mm)

MS±SD

Nước

12.1 ± 0.32a

Cồn 700

11.1 ± 0.40b

(a, b: Thể hiện sự khác biệt thống kê với p < 0.05)

Qua bảng 4.5, chúng tôi nhận thấy rằng khi pha loãng nồng độ bằng nước thì chó đẻ răng cưa có khả năng kháng khuẩn mạnh hơn so với khi pha loãng nồng độ bằng cồn 700. Sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê (p<0,05).

4.4.3.Kết quả kiểm tra khả năng kháng khuẩn của diếp cá

4.4.3.1.Kết quả kiểm tra khả năng kháng khuẩn của diếp cá khi pha loãng nồng độ bằng dung môi  nước

Khả năng kháng khuẩn của diếp cá  được thể hiện ở đồ thị 4.5

Đồ thị 4.5.Khả năng kháng khuẩn của diếp cá khi pha loãng nồng độ bằng dung môi nước

(a, b: Thể hiện sự khác biệt thống kê với p < 0.05)

Từ kết quả đồ thị 4.5 cho thấy diếp cá ở nồng độ gốc (106 ppm) có khả năng kháng khuẩn mạnh nhất với đường kính vòng kháng khuẩn trung bình 14.2 ± 0.20 mm, diếp cá ở nồng độ 105 ppm có khả năng kháng khuẩn thấp nhất với đường kính vòng kháng khuẩn trung bình 11.5 ± 0.26, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <0.05).

Theo Đỗ Tất Lợi (2004), trong cây có chừng 0,0049% tinh dầu, một ít chất ancaloit có tên cocdalin. Thành phần chủ yếu của tinh dầu có chứa mertylnonylxeton CH3CO(CH2)8CH3 (có mùi rất khó chịu), chất miêcxen C10H46, axit caprinic C9H19COOH và laurinaldehyt. Hoa và quả chứa chất isoquexitrin, hợp chất này có tính kháng khuẩn mạnh, đặc biệt đối với nhũng vi khuẩn gây bệnh trên người.

4.4.3.2. Kết quả kiểm tra khả năng kháng khuẩn của diếp cá khi pha loãng nồng độ bằng dung môi cồn 700 

Khả năng kháng khuẩn của diếp cá được thể hiện ở đồ thị 4.6

Đồ thị 4.6.Khả năng kháng khuẩn của diếp cá khi pha loãng nồng độ bằng dung môi cồn 700

(a, b: Thể hiện sự khác biệt thống kê với p < 0.05)

Từ kết quả đồ thị 4.6 cho thấy diếp cá ở nồng độ gốc (106 ppm) có khả năng kháng khuẩn mạnh nhất với đường kính vòng kháng khuẩn trung bình 14.2 ± 0.20 mm, diếp cá ở nồng độ 105 ppm có khả năng kháng khuẩn thấp nhất với đường kính vòng kháng khuẩn trung bình 10.6 ± 0.06, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <0.05).

4.4.3.3. So sánh khả năng kháng khuẩn của diếp cá khi pha loãng nồng độ bằng 2 dung môi khác nhau

Đường kính vòng kháng khuẩn của diếp cá ở nồng độ 105 ppm được sử dụng để so sánh. Kết quả được thể hiện qua bảng 4.6.

Bảng 4.6. Khả năng kháng khuẩn của diếp cá  khi pha loãng nồng độ bằng các dung môi khác nhau

Dung môi

Đường kính vòng kháng khuẩn (mm)

MS±SD

Nước

11.5 ± 0.06a

Cồn 700

10.6 ± 0.06b

(a, b: Thể hiện sự khác biệt thống kê với p < 0.05)

Qua bảng 4.6, chúng tôi nhận thấy rằng khi pha loãng nồng độ bằng nước thì diếp cá có khả năng kháng khuẩn mạnh hơn so với khi pha loãng nồng độ bằng cồn 700. Sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê (p<0,05).

4.5. Kết quả so sánh khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khác nhau

4.5.1. So sánh khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng nồng độ bằng nước

Đường kính vòng kháng khuẩn của các dược liệu ở các nồng độ khác nhau được sử dụng để so sánh. Kết quả được thể hiện ở đồ thị 4.7.

Đồ thị 4.7.Khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng nồng độ bằng dung môi nước

(a, b, c, d: Thể hiện sự khác biệt thống kê với p < 0.05)

Kết quả đồ thị 4.7 chỉ rõ trong các loại thảo dược thử nghiệm, tỏi nồng độ 105 ppm có khả năng kháng khuẩn mạnh nhất với đường kính vòng kháng khuẩn trung bình 19.0 ± 0.12 mm, sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (p<0.05). 

Hai loại thảo dược tỏi 103 ppm, chó đẻ răng cưa 104 ppm có đường kính vòng kháng khuẩn nhỏ nhất với kích thước lần lượt 9.9 ± 0.29 mm, 9.7 ± 0.10 mm, khả năng kháng khuẩn của 2 loại thảo dược này không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0.05). Các hợp chất còn lại như tỏi 104 ppm, chó đẻ răng cưa 105 ppm, diếp cá 105 ppm đều có khả năng kháng khuẩn với kích thước vòng kháng khuẩn từ 11.5 - 15.6 mm. Sự sai khác đường kính vòng kháng khuẩn của chó đẻ răng cưa 105 ppm và diếp cá 105 ppm không có ý nghĩa thống kê (p>0.05). 

Mức độ kháng khuẩn của  thảo dược được quyết định bởi thành phần, tính chất của các hợp chất được chiết xuất. Theo Đỗ Thị Hòa, 2004, tỏi với thành phần Alixin (C6H10OS2) có tính diệt khuẩn mạnh, khả năng diệt khuẩn của Alixin do oxi nguyên tử quyết định. Trên động vật thủy sản Alixin có tác dụng rất tốt với các vi khuẩn gam (-). Trong tỏi tươi có chứa Aliin dưới tác dụng alinase có trong tỏi để tạo thành Alixin.

Alixin rất dễ kết hợp với 1 acid amin Cystein gốc SH của tế bào vi khuẩn tạo thành hợp chất mới làm vi khuẩn mất hết khả năng sinh sản, sau đó bị tiêu diệt.

            Theo Đỗ Tất Lợi,1968 Chó đẻ răng cưa thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) trong đó Ankaloit chiếm tỷ lệ lớn trong thành phần nên những hợp chất chiết xuất từ loại thảo dược này có khả năng kháng khuẩn mạnh.  

4.5.2. So sánh khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng nồng độ bằng cồn 700

Đường kính vòng kháng khuẩn của các dược liệu ở các nồng độ khác nhau được sử dụng để so sánh. Kết quả được thể hiện ở đồ thị 4.8.

Đồ thị 4.8.Khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng nồng độ bằng cồn 700

(a, b, c: Thể hiện sự khác biệt thống kê với p < 0.05)

Kết quả đồ thị 4.8 chỉ rõ trong các loại thảo dược thử nghiệm, tỏi nồng độ 105 ppm có khả năng kháng khuẩn mạnh nhất với đường kính vòng kháng khuẩn trung bình 15.2 ± 0.15 mm, sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (p<0.05). 

Hai loại thảo dược chó đẻ răng cưa 105 ppm, diếp cá 105 ppm có đường kính vòng kháng khuẩn nhỏ nhất với kích thước lần lượt 11.1 ± 0.40 mm, 10.6 ± 0.06 mm, khả năng kháng khuẩn của 2 loại thảo dược này không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0.05).

Hình 4.7. Kết quả tạo vòng kháng khuẩn

PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Kết luận

- Kết quả phân lập cho thấy chủng vi khuẩnAeromonas hydrophyla đã được phát hiện trong mẫu ếch bị bệnh.

            - Trong các loại thảo dược được thử nghiệm thì tỏi, chó đẻ răng cưa và diếp cá có khả năng tiêu diệt chủng vi khuẩn phân lập được.

- So sánh khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng với 2 loại dung môi khác nhau thì khi pha loãng bằng nước cho khả năng kháng khuẩn cao hơn khi pha loãng thảo dược bằng cồn 700.

- So sánh khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng với dung môi là nước thì tỏi với nồng độ 105 ppm có khả năng kháng khuẩn mạnh nhất với đường kính vòng kháng khuẩn 19.0 ± 0.12 mm, tỏi ở nồng độ 103 ppm và chó đẻ răng cưa ở nồng độ 104 ppm có khả năng kháng khuẩn thấp nhất với đường kính vòng kháng khuẩn lần lượt là 9.9 ± 0.29 mm, 9.7 ± 0.10 mm.

- Khi so sánh khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng với dung môi là cồn 700 thì tỏi ở nồng độ 105 ppm có khả năng kháng khuẩn mạnh nhất với đường kính vòng kháng khuẩn 15.2 ± 0.15 mm, chó đẻ răng cưa ở nồng độ 105 ppm và diếp cá ở nồng độ 105 ppm có khả năng kháng khuẩn thấp nhất với đường kính vòng kháng khuẩn lần lượt là 11.1 ± 0.40 mm, 10.6 ± 0.06 mm.

5.2. Kiến nghị

            - Phân tích thành phần hóa học của các loại thảo dược để hiểu rõ hơn về cơ chế kháng khuẩn.

- Thí nghiệm chỉ mới tiến hành trong điều kiện invitro, nên thử nghiệm, áp dụng rộng rãi trong thực tế sản xuất để giảm nguy cơ dịch bệnh.

- Cần nghiên cứu thêm tác dụng của các loại thảo dược với các chủng vi khuẩn gây bệnh khác trên các đối tượng thủy sản nhằm có thể áp dụng rộng rãi trong nuôi trồng thủy sản.

PHẦN 6. TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bùi Quang Tề, Bệnh của động vật thủy sản, 1997.

[2] Bùi Quang Tề, Giáo trình bệnh của động vật thủy sản, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, 1999.

[3] Đỗ Thị Hòa, Bệnh học thủy sản, NXB Nông Nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, 2004.

[4] Khuê Lập Trung, Kỹ thuật phòng, trị bệnh tôm, cá và nhuyễn thể, NXB Nông Thôn Trung Quốc, 1985.

[5] Lê Thanh Hùng, Kỹ thuật nuôi công nghiệp ếch Thái Lan, Đại học nông lâm TP HCM.

 [6] Lưu Thị Thanh Trúc, Nghiên cứu tình hình bệnh trên ếch Thái Lan (Rana tigerina) nuôi ở vùng ven đô thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh.

[7] Mai Văn Tài, Điều tra đánh giá các loại thuốc và hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản nhằm đề xuất các biện pháp quản lý, 2004.

[8] Nguyễn Anh Tuấn, Nghiên cứu thử nghiêm một số loại thảo dược sẵn có tại địa phương trong phòng trị bệnh nhiễm khuẩn trên cá trắm cỏ Ctenopharyngodon idellus, Trường Đại Học Nông Lâm Huế.

[9] Nguyễn Ngọc Phước, Bệnh và phương pháp chẩn đoán bệnh, Trường Đại Học Nông Lâm Huế, 2007.

[10] Nguyễn Thị Huế Linh, Bài giảng Bệnh vi khuẩn trên động vật thủy sản, Trường Đại Học Nông Lâm Huế, 2006.

[11] Nguyễn Thị Xuyến, Thực tập vi sinh vật, Trường Đại Học Thủy Sản Nha Trang, 1997.

[12] Phan Văn Chinh, Bài giảng Dựoc liệu thú y, Trường Đại Học Nông Lâm Huế, 2007.

[13] Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam, Mondrian Canada, 1992.

[14] Phan Xuân Thanh và cộng sự, Tuyển tập nghề cá đồng bằng sông Cửu Long, 2002.

[15] Trần Hồng Thủy, Phân lập và định danh vi khuẩn Aeromonas hydrophyla trên ếch Thái Lan (Rana tigerina) nuôi tại khu vực ven đô thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh.

[16] Việt Chương, Nuôi ếch công nghiệp, NXB tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2008.

[17] Diekbusara Kom, Herunsalee, Yoshimizu and Ezura, Eficary of Thai traditional herb extracts against fish and shirmp pathogenic bacteria, Fish pathology Vol 33, 1988, 43-441.

[18] Kobori and Tanabe, Atimicrobial activity of Hinokitiol for methicillin resistant staphylococus aureus.2(in Japanese), Med. Examinat, 1993, 1639-1642.

[19]www.fistenet.gov.vn, Tác hại của bệnh thủy sản.

[20]www.nongnghiep.vn

[21]www.rial.mofi.gov.vn

[22]www.vietlinh.com.vn

DANH MỤC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ

Bảng 4.1. Kết quả test sinh hoá phân lập vi khuẩn.

Bảng 4.2. Khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng nồng độ bằng dung môi nước.

Bảng 4.3. Khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng nồng độ bằng dung môi cồn 700.

Sơ đồ 3.1. Xác định mật độ vi khuẩn

Sơ đồ 3.2. Mô hình bố trí thí nghiệm khả năng kháng khuẩn của mỗi loại thảo dược

Sơ đồ 3.3. Sơ đồ tổng quan nghiên cứu

.

DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ

Hình 2.1. Ếch Thái Lan (Rana rugulosa)

Hình 3.1. Tỏi (Allium sativum L.)

Hình 3.2. Chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria)

Hình 3.3. Diếp cá (Houttuynia cordata)

Hình 3.4. Cây rau má (Centell siatica)

Hình 4.1. Dấu hiệu bên ngoài của ếch bị bệnh

Hình 4.2. Nội tạng của ếch bị nhiễm khuẩn

Hình 4.3. Khuẩn lạc trên môi trường NA

Hình 4.4. Khuẩn lạc trên môi trường BHIA

Hình 4.5. Nhuộm  Gram

Hình 4.6. Vi khuẩn phát triển mạnh hơn xung quanh lỗ chứa thảo dược

Hình 4.7. Kết quả tạo vòng kháng khuẩn

Đồ thị 4.1. Khả năng kháng khuẩn của tỏi khi pha loãng nồng độ bằng dung môi nước.

Đồ thị 4.2. Khả năng kháng khuẩn của tỏi khi pha loãng nồng độ bằng dung môi cồn 700.

Đồ thị 4.3.Khả năng kháng khuẩn của chó đẻ răng cưa khi pha loãng nồng độ bằng dung môi nước.

Đồ thị 4.4.Khả năng kháng khuẩn của chó đẻ răng cưa khi pha loãng nồng độ bằng dung môi cồn 700. 

Đồ thị 4.5.Khả năng kháng khuẩn của diếp cá khi pha loãng nồng độ bằng dung môi nước.

Đồ thị 4.6.Khả năng kháng khuẩn của diếp cá khi pha loãng nồng độ bằng dung môi cồn 700. 

Đồ thị 4.7.Khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng nồng độ bằng dung môi nước.

Đồ thị 4.8.Khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng nồng độ bằng cồn 700.

MỤC LỤC

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ.. 1

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU.. 3

2.1. Giới thiệu chung về đối tượng nghiên cứu. 3

2.1.1. Đặc điểm sinh học. 3

2.1.2. Một số thông tin về tình hình nuôi và dịch bệnh trên ếch. 5

2.2. Tình hình nghiên cứu bệnh vi khuẩn trên động vật thủy sản. 12

2.2.1. Thế giới12

2.2.2. Việt Nam.. 14

2.3. Tình hình dịch bệnh do vi khuẩn Aeromonas gây ra ở động vật thủy sản  15

2.3.1. Thế giới15

2.3.2. Việt Nam.. 16

2.4. Tình hình nghiên cứu bệnh vi khuẩn ở trên ếch. 17

2.4.1. Thế giới17

2.4.2. Việt Nam.. 17

2.5. Tình hình nghiên cứu thảo dược trong phòng trị bệnh ở động vật thủy sản  18

2.5.1. Thế giới18

2.5.2. Việt Nam.. 20

PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU   22

3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu. 22

3.2. Đối tượng nghiên cứu. 22

3.2.1. Ếch Thái Lan (Rana rugulosa). 22

3.2.2. Các loại thảo dược. 22

3.3. Vật liệu nghiên cứu. 24

3.3.1. Dụng cụ thí nghiệm.. 24

3.3.2. Môi trường và hóa chất25

3.4. Nội dung nghiên cứu. 25

3.5. Phương pháp nghiên cứu. 25

3.5.1. Phương pháp thu mẫu. 25

3.5.2. Phương pháp nuôi cấy, phân lập vi khuẩn. 26

3.5.3. Phương pháp chiết xuất thảo dược. 27

3.5.4. Phương pháp thử khả năng kháng khuẩn của thảo dược. 27

3.5.5. Phương pháp xử lý số liệu. 29

PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.. 31

4.1. Kết quả kiểm tra trọng lượng mẫu bệnh phẩm.. 31

4.2. Kết quả phân lập, định danh vi khuẩn. 31

4.2.1. Dấu hiệu bệnh lý. 31

4.2.2. Kết quả nuôi cấy và phân lập định danh vi khuẩn. 32

4.3. Kết quả kiểm tra khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược  36

4.4. Kết quả kiểm tra khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng nồng độ bằng dung môi khác nhau. 38

4.4.1.Kết quả kiểm tra khả năng kháng khuẩn của tỏi38

4.4.2.Kết quả kiểm tra khả năng kháng khuẩn của chó đẻ răng cưa. 41

4.4.3.Kết quả kiểm tra khả năng kháng khuẩn của diếp cá. 44

4.5. Kết quả so sánh khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khác nhau  46

4.5.1. So sánh khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng nồng độ bằng nước  46

4.5.2. So sánh khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược khi pha loãng nồng độ bằng cồn 700  48

PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ50

5.1. Kết luận. 50

5.2. Kiến nghị50

PHẦN 6. TÀI LIỆU THAM KHẢO.. 51

Lời cám ơn

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này ngoài sự cố gắng của bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ của các tổ chức và cá nhân. Tôi xin chân thành cám ơn:

- Quý thầy cô giáo Khoa Thủy Sản đã giảng dạy, cung cấp cho tôi những kiến thức trong suốt 4 năm học vừa qua, tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu. Đặc biệt tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến cô giáo – Th.S Trần Quang Khánh Vân đã định hướng và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.

- Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến các cán bộ của Khoa Vi Sinh, bệnh viện TW Huế.

- Gia đình, bạn bè tôi đã động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để tôi hoàn thành tốt khóa luận này.

Tuy bản thân tôi đã hết sức cố gắng trong suốt quá trình thực tập nhưng do thời gian, kiến thức, kinh nghiệm còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những sai sót. Kính mong thầy cô giáo đóng góp ý kiến để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.

                                                                             Huế, tháng 5 năm 2010

                                                                             Sinh viên thực tập

                                                                            Nguyễn Đình Quang

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com

Tags: #ricky90