Liêu trai chí dị part 3/3
251. Bốn Mươi Ngàn Đồng (Tứ Thập Thiên)
Đại Tư mã họ Vương người huyện Tân Thành (thuộc tỉnh Sơn Đông) có người quản gia, gia tư cũng vào loại khá. Một đêm mơ thấy một người tới nói "Ngươi thiếu bốn mươi ngàn đồng, nay phải trả lại". Y hỏi, người ấy không đáp, cứ đi thẳng vào nhà trong. Lúc y tỉnh dậy, vợ đã sinh được một con trai, biết là oan nghiệt kiếp trước, bèn lấy ra bốn mươi ngàn đồng để riêng vào một phòng, mọi chi phí quần áo, thức ăn, thuốc men cho con đều lấy ở đó. Được ba bốn năm, tiền trong phòng chỉ còn bảy trăm đồng, nhìn thấy người vú ôm đứa con tới cho đùa giõn bên cạnh, y bèn nói với nó rằng "Bốn mươi ngàn đồng sắp hết, ngươi chuẩn bị đi đi thôi". Y vừa dứt lời, đứa con chợt biến sắc mặt, nghẹn cổ trợn mắt, bế lên vỗ về thì đã đứt hơi chết rồi. Bèn lấy số tiền còn lại để chôn cất thì vừa đủ, chuyện này quả đủ để răn kẻ mắc nợ vậy.
Trước đây có người đã già mà không có con, hỏi một nhà sư, nhà sư nói "Ngươi không mắc nợ người khác, người khác cũng không mắc nợ ngươi, làm sao mà có con được". Đại khái sinh con hiền, đó là báo đáp cái duyên của ta, sinh con không hiền, đó là đòi nợ ta, con sống cũng chớ mừng, con chết cũng chớ buồn thương vậy.
252. Cửu Sơn Vương (Cửu Sơn Vương)
Họ Lý ở huyện Tào Châu (tỉnh Sơn Đông) là Chư sinh ở huyện, gia cảnh khá giả nhưng nhà cửa không rộng rãi lắm, phía sau nhà có mấy mẫu vườn vẫn bỏ hoang. Một hôm có ông già tới thuê, đưa ra trăm đồng vàng, Lý vì chỉ có đất không nên từ chối. ông già nói "Xin cứ nhận cho, đừng nghĩ ngợi gì". Lý không nỡ phật ý, bèn nhận tiền, chờ xem chuyện lạ. Hôm sau, người trong thôn thấy xe ngựa rầm rộ chở người tới nhà Lý, đều cho rằng nhà Lý không lấy đâu đủ chỗ ở. Hỏi thăm thì Lý hoàn toàn không hay biết, vội về xem xét nhưng chẳng nghe thấy trong vườn có gì lạ. Mấy ngày sau ông già chợt tới thăm, lại nói "Được nương nhờ dưới mái đã mấy hôm, nhưng mọi việc đều phải bắt đầu, đào lò đắp bếp bận rộn nên chưa rảnh để trọn lễ làm khách. Hôm nay có sai đám trẻ làm cơm, mong được hạ cố qua chơi".
Lý đi theo, vào tới vườn sau thấy nhà cửa đẹp đẽ, rõ ràng vừa xây cất xong. Vào tới bên trong thì thấy bày biện sang trọng, vò rượu sôi bên tường, ấm trà reo dưới bếp. Kế đó cơm rượu dọn lên, đủ cả món ngon vật lạ, nhìn thấy trước sân có nhiều người trẻ tuổi qua lại, lại nghe sau rèm cửa có tiếng đàn bà con gái thì thào cười nói, hầu trai tớ gái như là có tới hàng ngàn người. Lý biết là hồ, hết tiệc ra về, ngầm muốn giết hại. Từ đó lần nào ra chợ cũng mua lưu hoàng diêm tiêu, dần dần tích lại được mấy trăm cân, bèn ngầm rắc khắp trong vườn rồi phóng hỏa. Lửa khói bốc lên tận trời cuồn cuộn như cái nấm đen, mùi vị khét lẹt, tro bụi mù mịt không sao tới gần, chỉ nghe tiếng kêu khóc vang dậy điếc tai. Đến khi lửa tắt vào xem, thấy hồ chết đầy vườn, cháy đầu sém trán không biết bao nhiêu mà kể.
Đang còn nhìn ngó, ông già chợt từ ngoài đi vào, vẻ mặt đau đớn nói "Vốn không có thù oán gì với nhau, thuê mảnh vườn bỏ hoang thì mỗi năm trả trăm đồng vàng cũng chẳng phải ít, sao lại nhẫn tâm giết sạch cả nhà nhau thế. Mối thù vô cùng thê thảm này thế nào cũng phải trả", rồi biến mất. Lý ngờ rằng sẽ bị ném đá liệng ngói phá phách, nhưng hơn một năm vẫn không thấy có chuyện gì khác lạ. Lúc ấy vào đầu đời Thuận Trị (1644-1661), bọn cướp ẩn náu trong núi, tụ họp hàng vạn người, quan quân không sao dẹp được. Lý vì gia đình có nhiều người, thường lo cảnh loạn lạc. Chợt có một người thầy bói tới thôn, tự xưng là Nam Sơn ông, nói chuyện họa phúc của người đều đúng như chính mắt nhìn thấy, rất nổi tiếng.
Lý gọi tới nhà nhờ bói vận mạng, ông ta kinh ngạc đứng dậy cung kính nói "Thật đúng là chân mệnh Thiên tử". Lý nghe thế hoảng sợ, cho là nói bậy, ông ta nghiêm sắc mặt thuyết phục. Lý nửa tin nửa ngờ, bèn hỏi "Lại có hạng người tay trắng mà nhận mệnh trời làm Thiên tử à?". Ông ta đáp "Không phải thế. Đế vương xưa nay có nhiều người vốn là thất phu, đâu phải sinh ra đã làm Thiên tử". Lý động tâm, dời ghế tới trước mặt hỏi, ông ta quả quyết xin gánh vác quân sư, xin cứ chuẩn bị trước vài ngàn bộ giáp trụ cung tên. Lý lo người ta không chịu theo, ông ta nói "Thần xin vì đại vương đi liên kết các núi, đính ước với họ, cứ nói rằng đại vương có chân mệnh Thiên tử, sĩ tốt trong núi chắc chắn sẽ hưởng ứng". Lý mừng rỡ sai ông ta đi, rồi đào tiền chôn lên, chế tạo binh giáp. Ông già đi mấy hôm mới về, nói "Nhờ uy phúc của đại vương, thêm ba tấc lưỡi của thần, các núi đều xin cầm roi theo dưới cờ", quả có mấy ngàn người theo về.
Lý bèn phong ông ta làm Quân sư, dựng cờ dấy quân, cờ xí san sát như rừng, chiếm cứ núi non xây dựng trại sách, thanh thế rất lớn. Quan huyện được tin dẫn quân tới đánh, bị ông ta chỉ huy đám giặc đánh bại. Quan huyện sợ, cấp báo cho phủ Duyện Châu (tỉnh Sơn Đông), quân Duyện Châu từ xa kéo tới, bị ông ta đem đám giặc mai phục đánh tan, tướng sĩ bị giết rất nhiều. Thanh thế của Lý càng lớn, có tới hàng vạn quân, bèn tự xưng là Cửu Sơn vương. ông ta sợ thiếu ngựa chiến, gặp lúc trong kinh đô đưa ngựa chiến xuống Giang Nam, bèn phái một cánh quân chặn đường cướp hết, từ đó danh tiếng Cửu Sơn vương càng lừng lẫy. Lý bèn gia phong ông ta là Hộ quốc đại tướng quân, mình thì nằm khểnh trên núi, nghênh ngang tự đắc, cho rằng chẳng bao lâu sẽ khoác long bào trị vì thiên hạ.
Quan tỉnh Sơn Đông vì chuyện ngựa bị cướp đang định đem quân đánh dẹp, lại được tin báo của phủ Duyện Châu, bèn phát vài ngàn tinh binh chia làm sáu đường tiến đánh, quân mã cờ xí đông đặc dưới núi. Cửu Sơn vương cả sợ, gọi ông ta tới bàn kế sách, thì không biết ông ta đã bỏ đi đâu rồi. Cửu Sơn vương túng thế không còn cách nào, lên núi nhìn xuống nói "Nay mới biết quân thế của triều đình lớn mạnh như vậy!". Kế đó quân thua bị bắt, vợ con đều bị giết, mới tỉnh ngộ rằng Nam Sơn ông là con hồ già ngày trước báo thù cho Lý bị diệt tộc.
Dị Sử thị nói: Phàm người ta lo cho vợ con, nhón chân cúi đầu thì lấy đâu ra tội mà giết, mà giả như có giết được cũng không sao giết cả họ được. Mưu của con hồ khéo thật. Nhưng muốn phá cái cây không sao trồng thì dẫu có tưới cũng không mọc được. Kẻ kia giết hồ tàn ác như thế thì trong lòng đã có mầm mống làm giặc cướp, nên hồ mới nuôi cho cái mầm ấy lớn lên mà báo thù. Ví như nay ra đường giữ người ta lại nói rằng "Ông là Thiên tử" thì không ai không hoảng sợ bỏ chạy. Đã biết rõ rằng đó là cái việc diệt tộc mà còn vui thích nghe theo, thì cả vợ con đều bị giết đã thấm vào đâu! Những kẻ nghe thấy lời quấy, vừa nghe thì nổi giận, kế lại nửa tin nửa ngờ, nghe nữa thì tin theo, đến khi thân danh rơi rụng mới biết là lầm, đại khái cũng đều như thế cả.
253. Con Hồ Ở Duy Thủy (Duy Thủy Hồ)
Họ Lý ở huyện Duy (tỉnh Sơn Đông) có tòa nhà không ở, chợt có một ông già tới thuê, xin trả năm mươi đồng vàng một năm. Lý ưng thuận, nhưng ông già đi luôn không thấy trở lại. Lý bảo người nhà cho người khác thuê, thì hôm sau ông già tới nói "Ta đã hỏi thuê rồi, sao lại định cho người khác thuê nữa?". Lý nói thật là ngờ ông không thuê, ông già nói "Ta định ở đây lâu, nên mới thong thả để chọn ngày tốt, sau mười ngày nữa mới dọn tới". Rồi trả trước tiền thuê một năm cho Lý, lại nói "Nếu trọn năm vẫn bỏ không, xin cũng chớ lạ". Lý đưa ra cửa, hỏi rõ ngày dọn tới, ông già chào ra về. Quá kỳ hẹn mấy hôm vẫn không thấy đâu, Lý tới xem thì thấy hai cánh cổng cài chặt nhưng bên trong có khói nấu cơm bốc lên và tiếng người ồn ào.
Lý ngạc nhiên gõ cửa vào thăm, ông già vội ra đón, cười nói rất thân mật. Lý ra về, sai người mang thức ăn qua biếu, ông già đáp lễ rất hậu. Vài hôm sau Lý mở tiệc mời, ông già qua trò chuyện rất vui vẻ. Lý hỏi quê quán, đáp là ở Tần Trung (vùng Thiểm Tây). Lý ngạc nhiên vì xa quá, ông già nói "Quý hương đây là đất phúc, chứ Tần Trung không thể ở lâu dài được, vì sắp có nạn lớn". Lúc ấy đang thời thanh bình, nên Lý nghe thế cũng bỏ qua không hỏi thêm. Mấy ngày sau ông già gởi thiếp mời Lý sang để đáp lễ với chủ nhân, căng màn ngồi trong trướng ăn uống, vật dùng đều sang trọng xa xỉ, Lý càng ngờ là bậc quý quan. Ông già thấy đã thân tình, tự xưng là hồ, Lý sợ hãi không dám qua lại nữa, đi trên đường trông thấy là tránh mặt.
Thân hào trong huyện nghe chuyện lạ, ngày nào cũng ruỗi xe giong ngựa tới cửa xin ra mắt làm quen, ông già cũng không từ chối một ai, dần dần quan lại có khi cũng ghé chơi. Riêng có quan huyện muốn tới chơi, ông già lại kiếm cớ từ chối. Quan huyện nhờ Lý tới nói để ông già nể mặt chủ nhà, ông cũng từ chối. Lý hỏi tại sao, ông dời ghế tới gần ghé tai nói nhỏ "Là ông không biết, chứ kiếp trước y là con lừa, nay tuy nghiễm nhiên cai trị dân, nhưng uống nước vo gạo cũng say*. Ta tuy vốn khác loài nhưng lấy làm thẹn bị xếp ngang hàng với y". Lý bèn tìm lời nói thác rằng hồ sợ quan huyện là bậc thần minh nên không dám gặp mặt, quan huyện tưởng thật bèn thôi. Lúc ấy là năm Khang Hy thứ 11 (1672). Không bao lâu đất Tần quả có nạn binh lửa, mới tin rằng hồ có tài tiên tri.
*Uống nước vo gạo cũng say: Ý nói chỉ cần được nhiều tiền thì không uống rượu cũng say, đây chỉ quan huyện tham lam, thích ăn hối lộ.
Dị Sử thị nói: Lừa là giống vật to lớn, tức giận thì đá mạnh hí vang, mắt lồi như cái chén, thở phì phì như trâu, không những tiếng hí khó nghe mà hình dáng cũng khó coi. Nhưng nếu cầm bó cỏ tới dụ, thì cụp tai nghểnh đầu, vui vẻ chịu đóng yên cương. Loại ấy mà cho cai trị dân thì đúng là uống nước vo gạo cũng say thật. Mong nhữug kẻ coi việc dân lấy con lừa làm răn mà biết thứ tự trên dưới như con hồ, thì đức sẽ tiến vậy.
254. Ông Mỗ Ở Thiểm Hữu (Thiểm Hữu Mỗ Công)
Mỗ công ở Thiểm Hữu (tức Thiểm Tây), thi đỗ Tiến sĩ năm Tân sửu, nhớ được chuyện kiếp trước. Thường kể rằng kiếp trước ông là học trò, đến tuổi trung niên thì chết, sau khi chết xuống nơi Diêm Vương xét xử, thì thấy đủ cả vạc dầu núi kiếm đúng như lời truyền ngôn ở nhân gian. Phía góc đông điện có đặt mấy cái giá treo da dê, chó, trâu. Viên lại gọi tên ai bị phạt làm ngựa làm heo thì đều bị lột hết quần áo ra, lấy bộ da trên giá chụp vào. Tới lượt ông, nghe Diêm Vương phán "Nên phạt làm dê", quỷ sứ bèn rút một bộ da dê trắng tới chụp vào người ông. Viên lại bẩm ông đã từng cứu một người thoát chết, Diêm Vương xem lại sổ, nói "Vậy thì tha cho y, tuy làm nhiều việc ác, nhưng việc thiện ấy đủ chuộc tội rồi". Quỷ sứ tới cởi bộ da dê ra, nhưng đã dính chặt vào người ông không gỡ ra được nữa. Hai con quỷ bèn tỳ tay xuống ngực ông lấy hết sức giật mạnh, đau đớn không bút nào tả xiết. Bộ da dê bị xé rách thành từng mảnh nhưng không lột sạch được, khi đã gỡ ra rồi trên vai vẫn còn một mảnh dính chặt, to bằng bàn tay. Khi ông sinh ra, trên lưng có một đám lông dê, cắt đi lại mọc.
255. Viên Lại Coi Văn Thư (Tư Trát Lại)
Du kích (một chức quan võ) Mỗ có nhiều thê thiếp, rất thích kiêng tên của họ. Như nói Niên là Tuế, Sinh là Ngạnh, Mã là Đại lư. Lại kiêng kỵ, bắt nói Bại là Thắng, An là Phóng. Thư từ công văn gởi đi các nơi vì vậy rất phiền nhiễu, nhưng người nhà nói tới là nổi giận. Một hôm viên lại coi văn thư bẩm việc, lỡ miệng phạm húy, Mỗ cả giận vớ cái nghiên đánh, viên lại chết ngay tại chỗ. Ba ngày sau Mỗ say rượu nằm nghỉ, thấy viên lại cầm tấm thiếp đi vào, hỏi có chuyện gì, viên lại đáp "Mã Tử An tới thăm" (Mã Tử An lai bái). Mỗ chợt biết là ma, vội vùng dậy tuốt đao vung lên, viên lại cười khẽ ném tấm thiếp xuống bàn rồi biến mất. Mỗ cầm tấm thiếp xem, thấy viết "Sui gia là con lừa lớn bướng bỉnh đánh rắm" (Tuế gia quyến ngạnh đại lư tử phóng thắng)*. Hung dữ giết người như thế, để tới nỗi bị ma quỷ mỉa mai, thật là đáng cười.
*Tuế gia quyến ngạnh đại lư tử phóng thắng: tức "Niên gia quyến sinh Mã Tử An bái" (Họ hàng bên vợ là Mã Tử An tới thăm). Tục lệ Trung Quốc xưa, người của hai nhà kết thông gia với nhau, ngang hàng thì gọi nhau là quyến đệ, với người bậc trên tự xưng là vãn sinh, với người bậc dưới tự xưng là quyến sinh. Theo văn cảnh thì Mã Tử An ở đây là hàng chú bác của vợ Mỗ tới thăm, nhưng viết danh thiếp theo lối kiêng húy của Mỗ nên thành ra một câu như vậy (chữ "bái" gần âm với chữ "bại", đổi thành chữ "thắng" gần âm với chữ "thí" "phóng thí" là đánh rắm).
Ở núi Ngưu Thủ có một nhà sư, lấy tên là Thiết Hán (Người đàn ông sắt), lại lấy tên là Thiết Thỉ (Cứt sắt), có bốn mươi bài thơ, ai đọc thấy cũng khâm phục. Tự khắc hai dấu ấn, một đề "Hỗn trướng hàng tử" (Vô lại khốn nạn), một đề "Lão thực phát bì" (Thành thật mặt dày). Tú tài Vương Tư Trực in thơ ấy, lấy tên là "Ngưu Sơn tứ thập thí" (Bốn mươi cái rắm Ngưu Sơn), hàng lạc khoản đề "Hỗn trướng hàng tử, Lão thực phát bì. Phóng bất tất độc kỳ thi, Tiêu danh dĩ túc giải ky" (Vô lại khốn nạn, Thành thật mặt dày. Thơ rắm không cần phải đọc, Nêu tên đã đủ để cười).
256. Học Quan (Tư Huấn)
Huấn đạo Mỗ điếc đặc, nhưng chơi thân với một con hồ, nhờ hồ ghé sát tai nói nên cũng nghe được. Mỗi lần yết kiến quan trên, đều có hồ ngầm theo giúp nên không ai biết Mỗ điếc. Được năm sáu năm, hồ từ biệt, dặn "Ông như con rối, không có người giật dây thì ngũ quan đều bỏ xó, để tới nỗi vì điếc mà chịu tội, chẳng bằng sớm từ chức cho có vẻ cao thượng. Mỗ tiếc bổng lộc không chịu nghe lời ấy, mấy lần cứ hỏi gà lại đáp vịt, quan Đốc học muốn cách chức, Mỗ lại xin quan huyện năn nỉ giùm. Một ngày nọ chấm thi, xướng danh xong Đốc học trở về, cùng các học quan ăn tiệc. Các học quan đều giắt sổ sách trong ống giày, đưa lên trình báo. Kế Đốc học cười hỏi sao riêng quý học quan không có gì trình báo vậy. Mỗ hoang mang không biết gì, người ngồi cạnh lấy khuỷu tay huých, lại lấy tay thò vào ống giày ra hiệu. Mỗ vì có người họ hàng gởi mua dương vật giả để dùng vào việc trong phòng, nên giấu trong ống giày, lúc ấy cũng mang theo. Thấy Đốc học tươi cười, tưởng là đòi vật ấy, bèn lấy ra đứng dậy kính cẩn thưa "Chỉ có tám tiền một cái là cùng, nên hạ quan không dám dâng lên". Cả tiệc cười ầm, Đốc học quát đuổi ra, kế cách chức Mỗ.
Dị Sử thị nói: Chốn đất bằng cũng cần có cột đá để ngăn sóng, quan Đốc học đòi trình báo nên mới dâng lên, vì thế mà bị cách chức, kể cũng oan thật.
Nhĩ lục của ông Chu Tử Thanh chép Cống sinh họ Trì ở huyện Đông Lai (tỉnh Sơn Đông) làm Huấn đạo ở huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông), tính tình ngây ngốc. Thường khi họp mặt với mọi người thì im lặng không nói gì nhưng ngồi được một lúc lại khua chân múa tay, vừa khóc vừa cười, coi như chung quanh không có ai, nếu nghe có tiếng người cười thì lại thôi. Ăn tiêu rất bỏn xẻn, tích cóp được hơn trăm lượng vàng, ngầm chôn trong phòng đọc sách, ngay cả vợ con cũng không cho biết. Một hôm ngồi một mình, nhịn không được múa may tay chân, lúc sau nói "Làm điều ác, gây thù oán, ăn đói mặc rét, dành dụm được bấy nhiêu đâu phải dễ, nay giấu ở phòng đọc sách, nếu có người biết được thì làm sao?". Cứ thế nói mấy lần, có một viên thư lại bên cạnh mà không biết. Hôm sau Trì đi vắng, viên thư lại lẻn vào đào lên lấy hết. Hai ba hôm sau, Trì không yên tâm, đào lên xem thì không còn gì, giẫm chân vỗ ngực, đau đớn tưởng chết. Người trong đám học quan cũng thật là nhiều màu nhiều vẻ vậy.
257. Họ Đoàn (Đoàn Thị)
Đoàn Thụy Hoàn là nhà giàu ở huyện Đại Danh (tỉnh Hà Bắc). Bốn mươi tuổi vẫn không có con, nhưng vợ là Liên thị cả ghen nên muốn mua thiếp mà không dám. Đoàn tư thông với một tỳ nữ, Liên thị biết được, đánh người ấy mấy trăm roi, đem bán cho nhà họ Loan ở Hà Gian. Đám cháu trong họ sớm tối xin ăn thừa tự, Đoàn không trả lời, chúng đều có vẻ tức giận, muốn cho một đứa ăn thừa tự thì cả bọn ngăn trở. Liên thị hung dữ cũng không làm được gì, mới hối hận uất ức nói "ông nay hơn sáu mươi tuổi, chẳng lẽ không sinh được con trai à?". Bèn mua cho chồng hai người thiếp, nghe Đoàn vào phòng họ ngủ cũng không hỏi tới. Được hơn năm, hai người thiếp đều có mang, cả nhà đều mừng rỡ. Từ đó Liên thị mới hơi yên lòng, phàm đám cháu có ai nài nỉ xin ăn thừa tự, lập tức lớn tiếng chửi mắng. Không bao lâu, một người thiếp sinh con gái, một người thiếp sinh con trai nhưng đứa nhỏ vừa lọt lòng đã chết ngay. Vợ chồng thất vọng, chỉ còn trông chờ vào tương lai mà thôi.
Hơn năm sau, Đoàn bị trúng phong nằm liệt giường, đám cháu càng mặc sức hoành hành, trâu ngựa vật dùng trong nhà cứ tự tiện tới tranh nhau mang đi. Liên thị ra chửi mắng thì chúng hỏi vặn lại, muốn tính toán thì không sao tính toán được, sớm chiều khóc lóc. Đoàn vì thế bệnh càng nặng, kế chết. Đám cháu tới họp ngay trước quan tài bàn việc chia gia sản. Liên thị tuy đau đớn nhưng không thể ngăn cấm được, muốn giữ lại một mảnh ruộng tốt để già trẻ sinh sống, mà họ cũng không chịu. Liên thị nói "Các ngươi không muốn để lại chút gì, định cho mụ già này và đứa nhỏ kia chết đói phải không?". Tranh cãi suốt ngày không xong, Liên thị chỉ phẩn uất đấm ngực kêu khóc. Chợt có người khách tới điếu tang, vào thẳng chỗ quan tài khóc lóc rất thảm thiết, rồi xé khăn tang buộc lên đầu, mọi người đều không biết là ai. Hỏi thì khách đáp "Người chết là cha ta đấy" mọi người càng hoảng sợ, khách mới thong thả nói rõ.
Trước đây người tỳ nữ mà Liên thị bán về làm thiếp họ Loan được năm sáu tháng thì sinh ra Hoài. Loan coi như con mình, đến năm mười tám tuổi cho vào học ở nhà phán. Sau Loan chết, các con trai chia gia tài, không chia đều cho Hoài. Hoài về hỏi mẹ mới biết nguyên do, nói "Đã là họ khác, thì ai có dòng giống kẻ ấy, cần gì ở đây nhận trăm mẫu ruộng của người?". Bèn trở về nhà Đoàn, lúc ấy Đoàn đã chết, kể lại mọi chuyện đều có chứng cứ rõ ràng. Liên thị vừa uất ngã bệnh, nghe thế mừng rỡ, đi thẳng ra nói với đám cháu bên chồng "Ta nay lại có con rồi những trâu ngựa vật dùng các ngươi đã lấy đi mau đem trả lại nếu không ta sẽ kiện đấy". Đám cháu Đoàn tái mặt nhìn nhau, im lặng giải tán. Hoài bèn đưa mẹ ruột về ở với Liên thị, cùng chịu tang cha. Đám cháu Đoàn bất bình, bàn nhau đuổi Hoài đi, Hoài biết được nói "Họ Loan không coi ta là họ Loan, họ Đoàn lại không coi ta là họ Đoàn, vậy ta là con ai?". Phẫn uất muốn kiện lên quan, họ hàng xúm lại can ngăn, đám cháu Đoàn mới thôi.
Nhưng Liên thị vì việc bọn kia bắt trâu ngựa không chịu thôi, Hoài can ngăn, Liên thị nói "Không phải ta tiếc trâu ngựa, mà là tức giận trong lòng. Cha người vì uất ức mà chết, sở dĩ ta nén khóc nuốt lệ là vì không có con trai. Nay đã có con, còn sợ gì nữa? Chuyện trước ngươi không biết đâu, chờ ta kiện sẽ biết". Hoài ra sức can ngăn, Liên thị không nghe, đưa đơn kiện lên huyện, quan huyện bắt đám cháu Đoàn lên hỏi cung, Liên thị căm tức đứng bên cạnh tố cáo rành rọt. Quan huyện tức giận, trừng trị đám cháu Đoàn, tịch thu trâu ngựa vật dùng trả lại. Liên thị về, gọi những đứa cháu chồng trước đó không đòi chia gia tài tới, đem những trâu ngựa vật dùng đòi lại được chia hết cho họ. Liên thị sống hơn bảy mươi tuổi, lúc sắp chết, gọi con gái con dâu và cháu gái tới dặn "Các ngươi nhớ lấy, nếu đã ba mươi tuổi mà chưa sinh nở thì nên cầm bán hết vòng vàng cưới thiếp cho chồng, chứ không có con trai khổ lắm"
Dị Sử thị nói: Liên thị tuy cả ghen nhưng về sau tự sửa ngay được, nên cuối đời mới có thể rửa hận thảnh thơi. Xem thái độ khảng khái khích liệt như thế, cũng là kẻ hào kiệt vậy.
Tưởng Giá người huyện Tế Nam (tỉnh Sơn Đông) có vợ là Mao thị không sinh đẻ được mà hay ghen, bà vú vẫn khuyên, Mao thị không nghe, nói "Chẳng thà tuyệt tự, chứ không để chồng liếc mắt đưa tình với ai cả, cho khỏi tức giận". Tưởng gần bốn mươi tuổi, muốn có người nối dõi, bèn hỏi xin đứa con của người anh, người anh ưng thuận, lại hỏi chị dâu chị dâu cũng ưng thuận, nhưng có ý cản trở. Thằng bé mỗi lần tới nhà chú, vợ chồng đều bồng ám vỗ về, mang kẹo bánh ra cho ăn, hỏi "Có chịu tới nhà chú ở không?" thằng bé cũng chịu. Người anh dặn riêng nó rằng "Nếu chú có hỏi nữa, con nói là không chịu, nếu chú hỏi tại sao không chịu, con nói rằng cứ chờ chú chết rồi thì lo gì ruộng vườn không về tay cháu. Một hôm, Giá đi buôn xa nhà, thằng bé qua chơi, Mao thị lại hỏi, thằng bé đáp như lời cha dặn, Mao thị nổi giận đuổi thằng bé về, nói "Vợ người ta còn sống sờ sờ đây, mà đã chăm chăm nhắm tới ruộng vườn của người ta rồi à? Tính lầm rồi đấy!". Bèn không đợi chồng về, sai ngay gia nhân đi tìm mua thiếp cho chồng. Lúc bấy giờ có bà mối bán tỳ thiếp giá rất cao, Mao thị dốc hết tiền mặt trong nhà ra mua vẫn không đủ. Người anh sợ để chậm thì nàng hối hận, lén đưa tiền cho bà mối, dặn nói với Mao thị là cho thiếu. Mao thị mừng đưa người thiếp về. Đến khi Giá về, Mao thị kể lại chuyện, Giá cũng tức giận, từ đó không qua lại gì với anh nữa. Hơn một năm sau, người thiếp sinh được con trai, vợ chồng cùng mừng rỡ, Mao thị nói "Không biết bà mối kia nghe ai mà cho thiếu tiền, cả năm nay không thấy tới hỏi. Cái ơn ấy không thể quên được, nay đã có con, chẳng lẽ còn để thiếu tiền sao?". Giá mang tiền tới đưa bà mối, bà ta cười nói "Phải tạ ơn ông bác bên nhà chứ đừng tạ ơn già này, ta nghèo xác xơ, ai dám cho thiếu tiền?", rồi kể hết sự thật. Lúc ấy Giá mới biết, về nói với vợ, nhìn nhau rơi nước mắt. Vội bày tiệc mời người anh sang, vợ chồng cùng quỳ lạy, mang tiền ra trả lại, người anh không nhận, bèn cùng nhau ăn uống rất vui vẻ. Sau Giá sinh được ba con trai.
258. Cô Gái Hồ (Hồ Nữ)
Y Duyện người huyện Cửu Giang (tỉnh Giang Tây) đang đêm thấy có cô gái tới, trong bụng biết là hồ nhưng thích vì cô ta đẹp, bèn chung chạ, giấu không cho ai biết, cả cha mẹ cũng không hay. Lâu sau thân xác gầy mòn, cha mẹ hỏi riết, Y mới thưa thật. Cha mẹ lo lắm, sai người vào ngủ cùng phòng nhưng vẫn không ngăn cản được. Người cha đích thân vào ngủ thì hồ không tới, mà người khác thì hồ lại tới. Y hỏi, hồ đáp "Thứ bùa chú của thế tục làm sao ngăn cản ta được? Nhưng phải có luân lý chứ, chẳng lẽ lại ngủ với nhau trước mặt cha chàng sao?". Người cha nghe thế đêm nào cũng vào ngủ cùng phòng với con, hồ bèn không tới nữa. Sau gặp lúc giặc giã tới cướp, người trong làng chạy hết, cả nhà lạc nhau. Y chạy vào núi Côn Lôn, bốn bề hoang vắng, lại lẻ loi một mình, trời thì đã chiều, lòng càng lo sợ. Chợt thấy một cô gái đi tới, nghĩ rằng cũng là người chạy loạn, khi tới gần té ra là cô gái hồ. Giữa khi loạn lạc, gặp được người quen Y rất mừng rỡ. Cô gái nói "Trời đã tối, không còn đi đâu được chàng nên nghỉ lại đây, ta sẽ chọn chỗ xây tạm một cái phòng để tránh cọp beo".
Rồi đi về phía bắc mấy chặng, ngồi thụp xuống trong bụi cỏ, không biết làm gì. Giây lát quay ra dắt Y đi về phía nam, khoảng hơn mười bước lại kéo quay lại. Chợt thấy hàng ngàn cây đại thụ vây quanh một ngôi nhà cao, tường đồng cột sắt, nóc trắng như bạc. Tới gần thì thấy tường cao ngang vai, bốn phía không có cửa nẻo gì, mà trên tường lởm chởm chông nhọn, cô gái đạp lên vượt qua, Y cũng đi theo. Khi vào tới nơi, ngờ rằng nhà vàng không phải do người xây nhân hỏi ngôi nhà ở đâu ra. Cô gái cười đáp "Chàng cứ ở lại đây, sáng mai xin tặng luôn cho chàng, bấy nhiêu vàng bạc ăn suốt nửa đời cũng không hết". Kế chào từ biệt, Y năn nỉ lưu giữ, cô gái bèn ở lại, nói "Bị người chán ghét ruồng bỏ, đã quyết là vĩnh biệt, nay lại không thể cầm lòng được". Khi Y tỉnh giấc, cô gái hồ không biết đã đi đâu rồi. Đến khi trời sáng Y vượt tường ra ngoài, ngoảnh lại chỗ ngủ thì không thấy đình đài nhà cửa gì cả, chỉ có bốn cái trâm cắm trong cái vòng tay, chỗ chụm lại phía trên lồng vào một cái nhẫn, những cây đại thụ thì là gai góc rậm rạp biến thành.
259. Vương Đại (Vương Đại)
Lý Tín là con bạc trong huyện. Ban ngày nằm ngủ, chợt thấy bạn cờ bạc trước kia là Vương Đại, Phùng Cửu tới rủ đi chơi. Lý cũng quên rằng họ đã chết, vui vẻ đi theo. Ra khỏi cửa, Vương Đại qua rủ Chu Tử Minh trong thôn, Phùng bèn dắt Lý đi trước, vào miếu ở xóm đông. Lát sau Chu cũng theo Vương tới. Phùng đem xúc xắc ra, chuẩn bị gầy sòng. Lý nói "Lúc nãy vội vàng không mang tiền theo, không chơi được, làm thế nào?", Chu cũng nói thế. Vương nói "Quan nhân họ Hoàng thứ tám ở Yến Tử cốc cho vay lãi, chúng ta cùng tới đó hỏi vay chắc được". Rồi đó bốn người cùng đi, lửng thửng một lúc tới một thôn ấp, trong thôn nhà cửa san sát. Vương chỉ vào một ngôi nhà nói "Đây là nhà công tử họ Hoàng". Có một người lão bộc trong nhà ra hỏi, Vương ngỏ ý, người lão bộc lập tức trở vào bẩm, lát sau quay ra nói vâng lệnh công tử mời Lý vào gặp.
Lý theo Vương vào thấy Công tử khoảng mười tám mười chín tuối, cười nói thân thiết, đem một chuỗi tiền lớn ra đưa cho Lý, nói "Biết ông vốn là người sòng phẳng nên cho vay không ngại, chứ Chu Tử Minh thì ta không tin". Vương năn nỉ giùm, công tử muốn Lý đứng ra bảo lãnh, Lý không chịu, Vương đứng cạnh nói mãi Lý mới chịu, rồi cũng vay một ngàn đồng ra đưa cho Chu, lại thuật rõ lời công tử để khích Chu phải trả. Ra khỏi cửa cốc, chợt gặp một người đàn bà đi tới, thì là vợ họ Triệu cùng thôn, tính hay gây gỗ chửi bới. Phùng nói "ở đây vắng người, đùa giỡn con mụ dữ dằn này một chút". Bèn cùng Vương đuổi theo vào trong cốc, người đàn bà la lớn, Phùng vốc đất nhét vào miệng. Chu khen ngợi nói "Loại đàn bà này thì phải nút cả cái kia lại". Phùng bèn tuột quần người đàn bà, lấy một hòn đá dài nhét vào chỗ kín, người đàn bà đau đớn lăn ra như sắp chết, cả bọn bèn bỏ chạy.
Rồi lại trở về miếu đánh bạc với nhau từ trưa đến tối, Lý thắng lớn, Phùng và Chu thua sạch tiền, Lý vì có nhiều tiền chia bớt cho Vương, lại nhờ Vương trả giùm cho công tử họ Hoàng. Vương lại chia tiền cho Chu và Phùng, lại gầy sòng mới. Không bao lâu chợt nghe tiếng người xôn xao, rồi có một người xông vào miếu nói "Thành hoàng gia đích thân đi bắt cờ bạc, hiện tới đây rồi". Cả bọn hoảng sợ, Lý bỏ tiền leo qua tường chạy, ba người kia tiếc tiền nên đều bị bắt. Ba người bị giải ra ngoài quả thấy một vị thần ngồi trên ngựa, sau ngựa có hơn hai mươi người bị trói. Trời chưa sáng thì về tới huyện thành, cổng thành cũng vừa mở bèn vào. Tới nha thự, Thành hoàng lên ngồi quay mặt về phía nam, gọi giải phạm nhân vào, cầm sổ gọi tên từng người. Điểm danh xong, sai lấy búa sắc chặt hết ngón tay cái, lấy mực đen mực đỏ bôi lên hai mắt cả bọn rồi sai giải ra dong ba vòng quanh chợ.
Bọn lính áp giải đòi tiền hối lộ mới chịu bôi hết mực trên mặt cho, mọi người ai cũng đưa tiền ra, chỉ có Chu không chịu, nói là hết sạch tiền rồi. Tên lính áp giải hẹn giải về tới nhà rồi đưa tiền cũng được, Chu cũng không chịu, y bèn chỉ vào mặt Chu nói "Ngươi thật là hạt đậu bằng sắt, có rang cũng không nở nổi", rồi chắp tay chào bỏ đi. Chu ra khỏi thành, nhổ nước bọt vào tay áo vừa đi vừa lau mặt, tới sông soi xuống thấy dấu mực vẫn còn nguyên, vốc nước lên rửa nhưng mực bám chặt không trôi, mới hối hận thất thểu về nhà. Trước đó vợ họ Triệu đi thăm mẹ ruột, đến tối vẫn chưa thấy về, người chồng vội đi đón. Tới chỗ cửa cốc, thấy vợ nằm bên đường, nhìn dáng vẻ biết là gặp ma, vội móc đất trong miệng ra cõng về. Người đàn bà tỉnh dậy nói được, Triệu mới biết là trong chỗ kín còn có hòn đá, bèn nhẹ nhàng lấy ra. Đến khi vợ kể lại mọi chuyện, Triệu tức giận lên huyện kiện Lý và Chu.
Quan huyện gởi trát đòi xuống thì Lý mới tỉnh dậy, Chu thì vẫn còn mê man như chết. Quan huyện cho là Triệu vu khống, phạt đánh roi và bắt giam luôn cả người vợ, vợ chồng không biết làm sao bẩm rõ được. Hôm sau Chu tỉnh dậy, chung quanh hai mắt chợt biến thành một vòng màu đen một vòng màu đỏ, lại la lớn rằng đau ngón tay cái, người nhà tới nhìn thấy gân xương đã đứt hết, chỉ da bên ngoài còn liền mà thôi, mấy hôm sau thì rụng ra. Vết mực đỏ mực đen quanh mắt thấm luôn vào thịt, ai nhìn thấy cũng phì cười. Mấy hôm sau thấy Vương tới đòi nợ, Chu lớn tiếng nói không có tiền, Vương tức giận bỏ đi. Người nhà hỏi biết, đều nói thần thánh ma quỷ vô tình, khuyên trả đi, Chu không nghe cứ gân cổ cãi, lại nói "Ngay cả quan huyện cũng bênh vực ta, âm phủ dương gian cũng chỉ có một phép tắc, huống chi là nợ cờ bạc?".
Hôm sau có hai tên quỷ tới, nói là công tử họ Hoàng cũng kiện, đang chờ bắt Chu lên hỏi cung, Lý Tín cũng bị người tới bắt đi để làm chứng, hai người lăn ra chết cùng một lúc. Ra tới ngoài thôn thì gặp nhau, Vương và Phùng cũng tới. Lý nói với Chu ráng "Anh còn mang bộ mặt bên đỏ bên đen, lại dám tới gặp quan à?" Chu vẫn nói như cũ, Lý biết là keo kiệt tiếc tiền bèn nói "Ngươi đã mê muội như thế thì ta sẽ xin gặp công tử họ Hoàng để trả nợ cho ngươi". Rồi cùng tới chỗ Công tử, Lý vào nói rõ mọi việc. Công tử không chịu, nói rằng "Người nào thiếu nợ mà lại đòi ông trả?". Lý ra nói lại với Chu, lại tính bỏ tiền ra giả là tiền của Chu để trả, Chu càng tức tối, chửi rủa công tử, quỷ bèn trói lại lôi đi. Lát sau tới huyện thành, vào gặp Thành hoàng, Thành hoàng quát "Thằng vô lại mắt còn vết mực kia, định quịt nợ à?".
Chu thưa "Công tử bỏ tiền cho vay lãi, dụ dỗ ta đánh bạc, nên mới bị trừng phạt thế này". Thành hoàng gọi người lão bộc nhà họ Hoàng lên, giận dữ nói "Chủ ngươi mở sòng dụ dỗ người ta đánh bạc, lại còn đòi nợ sao?". Người lão bộc thưa "Lúc họ vay tiền, công tử ta không biết là họ vay để đánh bạc. Nhà công tử ta ở Yến Tử cốc, họ đánh bạc bị bắt ở miếu Quan âm, cách nhau hơn chục dặm, mà xưa nay công tử ta không mở sòng bạc bao giờ". Thành hoàng quay lại quát Chu "Vay tiền mà cứng cổ không chịu trả, lại còn nói ngược, vô lương tới như ngươi là cùng". Toan phạt đánh trượng, Chu lại kêu là lãi nặng. Thành hoàng hỏi "Lãi mấy phân?", người lão bộc thưa "Tiền gốc còn chưa trả đồng nào". Thành hoàng tức giận nói "Gốc còn chưa trả mà đã dám kêu lãi nặng à?". Bèn phạt đánh ba chục trượng, sai áp giải về nhà để trả nợ.
Hai tên quỷ áp giải Chu về, đòi tiền hối lộ, không cho sống lại ngay, cứ trói nhốt trong nhà xí, sai báo mộng cho người nhà. Người nhà đốt hai mươi xấp tiền giấy, lửa vừa tắt thì biến thành hai lượng vàng và hai ngàn đồng. Chu đem vàng trả nợ, lấy tiền hối lộ hai tên quỷ áp giải, chúng mới chịu cởi trói cho hồn nhập vào xác. Chu sống lại, hai mông lở loét, máu mủ bê bết, mấy tháng mới lành. Vợ họ Triệu thì về sau không dám chữi bới gây gỗ với ai nữa, mà Chu thì chỉ còn bốn ngón tay và hai khoanh mắt một đỏ một đen như cũ, xem đó đủ biết bọn con bạc không phải là người.
Dị Sử thị nói: Chuyện không công bằng ở đời đều do quan lại gây ra, làm quá cả mực thước. Ngày trước những kẻ giàu có cho vay nặng lãi để bắt con gái nhà lành, người ta không ai dám nói, không thì đơn kiện có đưa lên quan cũng dùng pháp luật che chở cho chúng, nên ngày trước dân ghét quan đều nói là đầy tớ của bọn nhà giàu. Những bậc quan hiền về sau xét rõ mối tệ ấy thì lại làm trái hẳn lại. Có viên Cử nhân vay nhiều tiền buôn bán lớn, ăn tiêu xa xỉ, dựng đình đài mua ruộng tốt mà quên rằng tiền bạc ấy từ đâu mà có. Mỗi khi có người đòi nợ thì trợn mắt nhìn, báo lên quan thì quan nói "Ta không phải là đầy tớ cho người". Than ôi, như thế có khác gì Hòa thượng lười nhác không tu hành để giảm nỗi khổ cho người thế gian đâu! Ta vẫn nói quan xưa thì gian mà quan nay thì ác, kẻ gian vốn đáng chết song kẻ ác cũng đáng giận, cho vay tiền lấy lãi nhẹ thì đâu phải chỉ có lợi cho người giàu?
Trương Thạch Niên làm Tri huyện huyện Truy, rất ghét cờ bạc, cũng sai bôi mực lên mặt bọn cờ bạc dong đi trên phố như lối âm phủ, nhưng hình phạt thì không tới nỗi chặt ngón tay, mà trong huyện hết cả cờ bạc. Ông làm quan rất giỏi xét việc hiểu người, đang lúc giấy tờ sổ sách bận bịu, lại sắp đến trưa, mà có ai đánh bạc bị bắt giải vào, thì ông đều lắng nghe lời khai rồi hỏi thăm cả quê quán tuổi tác, gia đình có bao nhiêu người, làm ăn sinh sống thế nào, hỏi xong đều khuyên nên bỏ cờ bạc rồi tha. Có một người đưa tờ khai đóng thuế xong, tự cho rằng không có tội gì, đã định lui ra. Ông gọi lại hỏi thăm một lượt rồi nói "Tại sao người lại cờ bạc?". Người kia ra sức biện bạch rằng cả đời không biết cờ bạc là gì, ông cười nói "Trong lưng ngươi đang giắt xúc xắc". Khám ra thì đúng thế, mọi người đều cho là thần, nhưng không ai biết ông dùng cách gì.
260. Người Thiếp Đàn Ông (Nam Thiếp)
Có một viên quan ở Dương Châu (tỉnh Giang Tô) mua thiếp, đi khắp mấy nhà mà không chọn được người vừa ý. Chỉ có một bà già ở trọ bán con gái, đứa con gái khoảng mười bốn mười lăm tuổi, trông rất xinh xắn, lại giỏi múa hát. Ông ta mừng lắm bỏ ra một số tiền lớn mua về, hóa ra là đàn ông. Ông ta sợ quá, căn vặn tới cùng, thì ra là người kia mua bọn con trai xinh xắn về cho ăn mặc, trang sức giả làm con gái để lừa người ta mà thôi. Sáng ra, ông ta sai người nhà tới chỗ bà già, thì bà ta đã trốn mất rồi. Ông ta thẫn thờ, không biết tính sao. Vừa lúc ấy có người bạn đồng niên là Mỗ ở Chiết Trung tới thăm, bèn kể lại chuyện. Mỗ đòi xem mặt, vừa trông thấy đã rất ưa thích, mang đủ số tiền ra mua lại đứa con trai rồi mang đi.
Dị Sử thị nói: Nếu gặp được kẻ tri âm thì cho dù là bậc giai nhân tuyệt thế cũng không chịu đổi, tại sao bà già không biết việc đời kia còn mất công làm giả ra con gái làm gì?
261. Uông Khả Thụ (Uông Khả Thụ)
Uông Khả Thụ người huyện Hoàng Mai ở Hồ Quảng (tỉnh Hồ Bắc) nhớ được chuyện ba kiếp trước. Một kiếp ông ta làm học trò, đọc sách trong chùa, nhà sư trong chùa có con ngựa cái đẻ được ngựa đực con, ông ta thích bèn cướp lấy. Sau ông ta chết, Diêm Vương xem sổ giận về tội tham lam tàn bạo, phạt làm ngựa để trả nợ cho nhà sư. Nhà sư lại rất chăm chút thương yêu, ông ta muốn chết mà không được. Đến khi hơi lớn, định nhảy xuống khe núi tự tử, nhưng lại sợ phụ cái ơn thương yêu chăm sóc, càng bị Diêm đình trị tội nặng hơn, nên đành yên phận. Được vài năm, mãn hạn được tha, cho đầu thai làm con một nhà nông, vừa sinh ra đã biết nói, cha mẹ cho là điềm bất tường, bèn giết chết, lại được đầu thai vào nhà Tú tài họ Uông. Tú tài gần năm mươi tuổi mới sinh được con trai nên rất mừng rỡ. Uông khi sinh ra, vẫn nhớ kiếp trước vì biết nói sớm mà bị giết, nên không dám mở miệng. Được ba bốn tuổi, người nhà đều cho là bị câm.
Một hôm người cha đang làm văn thì có bạn tới thăm, gác bút trên bàn ra tiếp khách. Uông vào thấy bài văn cha làm dở dang, bất giác ngứa nghề, viết tiếp luôn tới hết bài. Khi người cha trở lại phòng thấy thế, hỏi là có ai tới, gia nhân đều bẩm là không có. Người cha ngờ vực, hôm sau viết một đề văn để trên bàn rồi bỏ ra ngoài. Lúc sau quay lại, rón rén đi vào, thì thấy con đang nằm phục trên bàn làm văn, đã viết được vài hàng. Uông thấy cha tới hoảng sợ kêu lên, quỳ xuống xin tha chết. Người cha mừng nắm tay kéo dậy nói "Nhà ta chỉ có một mình con, lại biết làm văn, đó là cái may của gia đình, sao lại sợ sệt?", từ đó lại dạy thêm cho con đọc sách. Uông trẻ tuổi đã đỗ Tiến sĩ, sau làm quan tới chức Tuần phủ Đại Đồng.
262. Vương Thập (Vương Thập)
Người dân ở huyện Cao Uyển (tỉnh Trực Lệ) là Vương Thập, đội muối từ huyện Bác Hưng (tỉnh Trực Lệ) về, nửa đêm bị hai người chặn bắt. Vương cho là lính tuần bắt muối lậu, bèn vứt muối định chạy, nhưng cuống chân chạy không được bị bắt, năn nỉ xin tha. Hai người kia nói "Bọn ta không phải là lính tuần bắt muối lậu, mà là quỷ". Thập sợ, nhưng xin được về nhà từ biệt vợ con, quỷ không cho, nói "Lần này đi chưa tới nỗi chết, chẳng qua chỉ tạm làm phu một thời gian thôi". Thập hỏi làm chuyện gì, quỷ đáp "Diêm Vương mới dưới âm phủ đáo nhiệm, thấy sông Nại Hà bị lấp tắc, hầm xí ở mười tám nhà ngục đều đầy nên bắt ba hạng người xuống vét sông Nại Hà là bọn ăn trộm, bọn làm tiền giả và bọn buôn muối lậu, lại có một hạng phải dọn hầm xí, là bọn chứa đĩ". Thập theo vào thành, tới một nha thự, thấy Diêm Vương ngồi trên, đang lập sổ sách. Quỷ lên bẩm "Bắt được một tên buôn muối lậu là Vương Thập". Diêm Vương nhìn xuống, giận dữ nói "Bọn buôn muối lậu, trên thì trốn thuế nước, dưới thì hại dân đen, tức như bọn tham quan gian thương mới gọi là bọn buôn lậu, chứ còn kẻ lương dân trong thiên hạ, nghèo quá thì phải kiếm chác chút đỉnh, cầu đủ cơm ăn mà thôi, thì sao gọi là buôn lậu được?". Bèn phạt hai tên quỷ, bắt đi mua bốn đấu muối, thêm cả vào số muối của Thập rồi vác về nhà cho Thập, giữ Thập lại trao cho gậy và bài gỗ, sai theo bọn quỷ đốc thúc việc vét sông.
Thập theo quỷ đi, tới cạnh sông Nại Hà, thấy dân phu dưới sông nối nhau đông đặc như kiến. Lại thấy nước sông đỏ ngầu, tới gần thì hôi thối không sao chịu nối. Nhưng người vét sông đều trần truồng ôm thúng lên xuống, xúc xương vụn thịt nát vào đầy thúng, chỗ sâu thì bẩn cả lên tới đỉnh đầu. Ai lười nhác thì lập tức bị gậy đập vào lưng vào đùi. Những người cùng đốc thúc đều lấy vải thơm quấn lại như cái nút, ngậm chặt vào miệng mới dám tới gần bờ sông. Thập thấy trong đám phu có người thầu buôn muối ở Cao Uyển bèn theo hành hạ, y xuống thì đánh vào lưng, lên thì đánh vào đùi. Người thầu sợ, cứ lặn hụp mãi dưới sông, Thập mới thôi. Qua ba ngày ba đêm, dân phu vét sông chết mất một nửa, công việc cũng hoàn thành, hai tên quỷ bắt Thập trước đây lại đưa Thập về nhà, tỉnh dậy thì biết mình đã sống lại. Trước đó Thập đội muối chưa về tới, trời sáng vợ ra mở cửa thì thấy hai bao muốì trước sân mà mãi không thấy Thập về, bèn nhờ người đi tìm. Thấy Thập chết trên đường, bèn cõng về, sờ vào mũi thấy còn thở nhẹ, lấy làm lạ nhưng không biết tại sao, khi Thập dã tỉnh dậy mới nói rõ.
Người thầu buôn muối cũng chết vào hôm trước, đến lúc ấy thì tỉnh dậy, những chỗ bị đánh đều sưng to, da thịt toàn thân lở loét, hôi thối không sao tới gần. Thập cố ý tới thăm, y nhìn thấy Thập vội rúc đầu vào chăn, giống như lúc còn ở Nại Hà. Hơn một năm y mới khỏi, không làm thầu buôn muối nữa.
Dị Sử thị nói: Một chuyện buôn muối, triều đình gọi là "lậu" là không làm theo phép công, quan lại và thương nhân gọi là "lậu" là không theo lệ riêng của họ. Gần đây ta tới vùng Tề Lỗ (tỉnh Sơn Đông) tận mắt nhìn thấy, thì những người thầu buôn muối đặt vựa đều vạch ra khu vực buôn bán, không những dân trong hạt không được qua hạt khác mua mà ngay cả dân chợ này cũng không được qua chợ khác mua. Mà trong chợ còn đặt mồi nhử dân nơi khác tới mua, bán ở huyện khác thì rẻ mà bán cho dân trong huyện thì đắt. Lại còn đặt lính tuần ngăn bắt trên đường để người trong hạt không sao lọt lưới, nếu có người trong hạt giả mạo dân nơi khác tới mua thì không bắt tội. Cứ người bán nơi này nhử người mua nơi khác như vậy nên dân đen giả mạo là người nơi khác vượt cõi buôn bán càng nhiều.
Nếu bị bắt thì trước hết là bị lính tuần đánh nát tay chân rồi giải lên quan, kế bị quan gông cùm giam nhốt, gọi là bọn buôn muối lậu. Than ôi oan thay! Trốn mấy vạn tiền thuế thì không phải là buôn lậu mà mang túi xách giỏ lại là buôn lậu, người nơi này mua ở nơi khác thì không phải là buôn lậu mà mua tại nơi mình ở lại là buôn lậu, oan lắm vậy? Luật buôn muối trong chợ rất nghiêm nhưng chỉ nghiêm với những lính khổ dân nghèo, lấy công làm lời mà thôi. Không cấm được nên nay không cấm gì nữa mà lại thành ra giết những lính khổ dân nghèo. Vả lại lính khổ dân nghèo vợ con nheo nhóc, người trên mà giữ phép không làm bậy thì kẻ dưới biết nhục không làm càn, chỉ bất đắc dĩ mới bỏ mười đồng vốn để mong được một đồng lời mà thôi.
Nếu dân đều như thế thì ban đêm có thể không cần đóng cửa, chẳng phải là dân lương thiện trên đời sao! Kẻ thầu buôn muối kia không chỉ phải đào vét sông Nại Hà mà thôi đâu, còn phải bắt dọn cả hầm xí mới đáng tội. Mà quan thì lễ tết hàng năm đều nhận quà biếu của họ, nên đem pháp luật giúp họ giết dân lành, nếu tính cho người nghèo khổ thì quả không còn cách nào là buôn hàng lậu làm tiền giả. Kẻ cướp ăn cướp giữa ban ngày thì quan như điếc, bọn đúc tiền giả đúc tiền khói lửa mù trời thì quan như mù. Thế nhưng như ngày khác đào sông, giả như chưa tới những kẻ như Vương Thập mà số phu còn thiếu, thì quan giở pháp luật ra ngay đấy. Than ôi. Kẻ trên không nhân từ để cầm cân nảy mực mà cứ theo phép của bọn gian thương, càng ngày pháp luật càng nguy, thì còn trách gì hạng dân gian trá điêu ngoa ngày càng nhiều thêm mà loại dân hiền lành lương thiện ngày cứ chết dần!
Trước đây trong huyện có người thầu buôn muối, hàng năm cứ đưa số tiền một ngàn thạch muối tới dâng cho quan huyện, gọi nhã là Tiền mua muối. Lại gặp những dịp lễ tết cũng biếu xén rất hậu, người thầu mà có việc vào gặp thì quan đối xử rất trân trọng, có khi trò chuyện, có khi mời trà. Nên người buôn lậu bị bắt giải tới thì quan trùng phạt rất nặng không hề nương tay. Năm ông Trương Thạch làm Tri huyện huyện Truy, người thầu tới gặp, cũng theo lệ cũ chỉ vái mà không lạy. Ông giận nói "Quan trước nhận tiền của ngươi nên không thể không kính trọng người, chứ ta mua muối chợ mà ăn, gã thầu buôn muối nhà ngươi là cái gì mà dám vào công đường không chịu làm lễ?". Bèn sai lột áo đánh cho một trận, người thầu dập đầu năn nỉ rối rít mới được tha.
Sau trong chợ bắt được hai người buôn muối lậu, một người chạy thoát, một người bị giải tới quan. Ông hỏi hai người cùng đi buôn, người kia đâu rồi? Người buôn lậu đáp chạy mất rồi. ông hỏi "Chân ngươi đau không chạy được à?" người kia đáp "Thưa được chứ!". Ông nói "Đã bị bắt là không chạy được, nếu đúng là được thì chạy thử xem có chạy được thật không?". Người kia chạy vài bước toan dừng, ông nói "Chạy mau đừng dừng xem nào!". Người kia cắm đầu cắm cổ lao ra khỏi huyện đường chạy luôn, ai thấy cũng cười. Việc ông thương dân như vậy rất nhiều, đây chỉ là chuyện vặt, nhưng đến nay người trong huyện vẫn còn ca ngợi kể lại.
263. Hai Người Họ Ban (Nhị Ban)
Ân Nguyên Lễ người Vân Nam, giỏi thuật châm cứu. Gặp lúc giặc cướp nổi lên, Ân chạy giặc trốn vào trong núi sâu, trời đã chiều mà xóm làng phía trước còn xa, sợ gặp hùm sói, nhìn ra phía trước thấy có hai người đang đi, vội đuổi theo. Hai người quay lại hỏi khách tên gì, Ân bèn nói rõ họ tên quê quán, hai người kính cẩn nói "Là lương y Ân tiên sinh đây sao? Bọn ta ngưỡng mộ Thái Sơn Bắc đẩu đã lâu rồi". Ân hỏi lại, hai người xưng là họ Ban, một người là Ban Trảo, một người là Ban Nha. Lại nói "Thưa tiên sinh, đường cũng còn xa may là nhà đá gần đây, xin tạm khuất gót ngọc, bọn ta cũng có chuyện muốn nhờ". Ân mừng rỡ đi theo họ. Giây lát tới một chỗ, nhà xây cạnh hang đá đốt củi thay đèn, ân mới thấy rõ hai người họ Ban thân hình to lớn lực lưỡng, trông không giống người lương thiện, nhưng không còn cách nào, đành phải nghe theo họ.
Lại nghe trên giường có tiếng rên rỉ, nhìn kỹ thì thấy một bà già đang nằm, có vẻ đau đớn. Ân hỏi bệnh gì, Nha đáp "Vì chuyện này nên kính mời tiên sinh". Bèn soi lửa lên giường, Ân tới gần xem thì thấy dưới mũi của bà già có hai lỗ thủng to bằng cái chén, lại nói đau không chịu được, không thể ăn uống. Ân nói "Bệnh này dễ chữa thôi". Bèn lấy ngải ra đốt vào mấy mươi chỗ, nói "Qua đêm sẽ khỏi". Hai người họ Ban mừng rỡ, nướng thịt nai mời khách, chẳng có cơm rượu gì khác, chỉ có thịt mà thôi. Trảo nói "Bất ngờ không biết là có khách, mong ông đừng trách". Ân ăn no rồi ngủ, lấy đá làm gối, hai người họ Ban tuy thành thật chất phác, nhưng thô mãng đáng sợ, Ân vì vậy trăn trở không dám ngủ say. Trời chưa sáng, bèn gọi bà già dậy hỏi bệnh tình. Bà già tỉnh dậy, sờ lên vết thương trên mặt thì đã hết đau, Ân bèn gọi hai người họ Ban dậy lấy lửa soi, nói "Khỏi rồi". Rồi chắp tay cáo biệt, họ Ban lại nướng một đùi nai tặng cho đi đường.
Ba năm sau, không có chuyện gì, Ân vì có việc phải vào núi, bị hai con sói cản đường không đi được. Trời đã chiều, cả bầy sói kéo tới vây quanh xông vào cắn xé, mấy lần suýt bị táp trúng, quần áo rách hết, tự nghĩ chắc chết. Chợt có hai con cọp phóng tới, bầy sói chạy tứ tán, hai con cọp giận dữ gầm thét, bầy sói sợ hãi nằm mọp cả xuống, hai con cọp vồ giết hết rồi bỏ đi. Ân run rẩy lên đường, sợ không có chỗ ngủ, chợt thấy một bà già đi tới, nhìn Ân nói "Ân tiên sinh bị một phen hoảng sợ". Ân ngạc nhiên hỏi tại sao bà già biết mình, bà già đáp "Ta là bà già bị đau trong thạch thất đây". Ân mới nhớ ra, bèn xin tá túc. Bà già dẫn Ân về, đưa vào một gian phòng, đèn đuốc sáng trưng, nói "Già này chờ tiên sinh lâu rồi". Bèn đưa quần áo ra cho Ân thay, rồi dọn đủ rượu thịt ra, mời mọc rất ân cần.
Bà già tự rót rượu vào chén lớn mà uống, chuyện trò rất hào sảng, không phải như bọn đàn bà tầm thường. Ân hỏi hai người kia là người thế nào với bà, sao hôm nay không thấy? Bà già đáp "Đó là hai thằng con ta, sai chúng đi đón tiên sinh mà giờ này chưa về, chắc lạc đường rồi". Ân cảm vì nghĩa, cũng uống say lúc nào không biết, lăn ra ngủ luôn. Tỉnh dậy thì trời đã sáng, nhìn quanh chẳng thấy nhà cửa gì cả, chỉ thấy mình đang ngồi trên một tảng đá lớn, nghe phía dưới hốc đá có tiếng thở phì phò như trâu, tới gần xem thì thấy một con cọp già đang ngủ chưa tỉnh, ở mõm có hai vết sẹo lớn bằng nắm tay, vô cùng hoảng sợ, rón rén trốn đi. Lúc ấy mới biết hai con cọp giết bầy sói chính là hai người họ Ban vậy.
264. Quyên Góp (Mộ Duyên)
Thần ếch vẫn mượn lời thầy đồng, thầy đồng vì thế biết được thần vui hay giận, nói với tín chủ là "Thần vui", thì có điều may, nếu nói là "Thần giận" thì cả nhà ngồi thở ngắn than dài, có người bỏ cả cơm nước, lưu tục cho là đúng, có lẽ thần thiêng thật, không phải chỉ là tin xằng.
Có nhà buôn giàu có là Chu Mỗ, tính tình keo kiệt, gặp lúc mọi người góp tiền sửa đền thờ Quan Đế, người giàu người nghèo đều đóng góp, riêng Chu thì không chịu mất chút gì. Ít lâu sau, xây dựng không đủ tiền, những người đứng ra coi sóc không biết làm sao. Gặp lúc mọi người cầu thần ếch, thầy đồng chợt nói lời của Tướng quân Chu Thương, sai mở sổ lạc quyên thu thêm ít nhiều, mọi người nghe theo. Thầy đồng nói "Người góp rồi thì không ép, người chưa thì tùy sức mà góp". Mọi người đều kính cẩn vâng dạ, ai cũng ghi tên vào sổ, thầy đồng lên tiếng hỏi "Chu Mỗ có ở đây không. Chu đang trà trộn núp tránh phía sau, chỉ sợ thần biết, nghe thế biến sắc, sợ sệt bước lên. Thầy đồng chỉ vào sổ nói "Ghi tên vào". Chu càng lính quýnh, thầy đồng nổi giận nói "Đi chơi gái còn dám trả hai trăm, chuyện hay lại tiếc à?". Đại khái Chu ăn nằm với một người đàn bà, bị người chồng bắt được, phải đưa ra hai trăm đồng để xin tha. Chu càng thẹn thùng sợ hãi, bất đắc dĩ phải ghi tên vào. Trở về kể với vợ, vợ nói "Đó là thầy đồng lừa bịp thôi". Thầy đồng mấy lần tới hỏi, rốt lại Chu cũng không đưa tiền ra.
Một hôm vừa ngủ dậy, chợt nghe ngoài cổng có tiếng khìn khịt như trâu thở, ra nhìn thì thấy một con ếch to lớn lấp cả hai cánh cổng, chỗm chỗm nhảy vào xoay mình gác đầu lên bậc thềm, cả nhà đều hoảng sợ. Chu nói "Chắc là tới đòi tiền quyên góp đây" Bèn thắp hương khấn vái, xin đưa trước ba chục, số còn lại sẽ đưa sau, con ếch không động đậy. Lại khấn xin đưa năm chục, con ếch chợt co lại, nhỏ hơn khoảng một thước. Lại khấn xin đưa thêm hai chục nữa, con ếch còn nhỏ bằng cái đấu, xin đưa cả, con ếch còn bằng nắm tay, thong thả nhảy ra, chui vào góc tường đi mất. Chu vội lấy ra năm chục đồng vàng đưa tới chỗ sửa đền, mọi người đều lạ lùng, Chu cũng không nói rõ lý do. Được vài ngày, thầy đồng lại nói "chu Mỗ còn thiếu năm chục, sao không tới đòi?". Chu nghe thế rất sợ, lại đưa tới mười đồng vàng, tự nghĩ là đã đủ rồi.
Một hôm, vợ chồng vừa bắt đầu ăn cơm, con ếch lại tới, hình thù to lớn giống hệt lần trước, trợn mắt lấy thế. Trong chớp mắt nhảy phóc lên giường, giường kêu răng rắc muốn sập, chúi đầu vào gối mà ngủ, bụng phình to như con trâu, đầy kín cả cái giường. Chu sợ hãi, vội mang bốn chục đồng vàng còn thiếu ra, con ếch không hề động đậy. Trong nửa ngày, lũ ếch kéo nhau tới tụ tập ở nhà Chu, đến hôm sau càng đông, phòng khách nhà kho không đâu không có, con nào cũng to như cái bát, bắt ruồi đớp muỗi nhảy cả vào nồi niêu, nhơ bẩn không nấu nướng ăn uống gì được. Được ba ngày thì lúc nhúc đầy sân không có chỗ nào hở, cả nhà khiếp sợ, không biết làm sao để đuổi đi, bất đắc dĩ phải tới hỏi thầy đồng. Thầy đồng nói "Đó là vì bốn chục vẫn còn thiếu. Chu bèn khấn khứa, xin góp thêm hai chục đồng vàng, con ếch lớn mới từ từ ngóc đầu dậy, xin góp thêm, mới động đậy một chân, tới một trăm mới nhấc cả bốn chân, nhảy xuống giường ra cửa, nghênh ngang bò mấy bước lại quay trở vào nằm giữa cổng. Chu sợ, hỏi thầy đồng, thầy đồng giải thích là nó đòi Chu phải lập tức giao tiền ra, Chu không biết làm sao, phải lấy đủ tiền đưa cho thầy đồng, con ếch mới đi. Nhảy được vài bước thì thân hình chợt co lại lẫn vào giữa bầy ếch, không thể nhận ra được, rồi cả bầy nhao nhao ồm ộp tan đi.
Khi đền sửa xong, ngày lạc thành cũng cần có tiền cúng tế, thầy đồng chợt chỉ vào những người đứng ra coi sóc nói "Người này người này phải bỏ ra đủ số, tất cả mười lăm người, còn sót hai người". Mọi người khấn "Bọn ta và hai người ấy đều đã góp tiền". Thầy đồng nói "Ta không nói chuyện giàu nghèo, mà chỉ nói tới chuyện tiền của các ngươi bị ăn bớt, loại tiền ấy không nuốt được đâu, sợ lại có tai bay vạ gió nghĩ tới bọn người coi sóc công việc vất vả, nên mới giúp các ngươi ngăn chặn tai họa. Ngoài những người liêm chính cẩn thận thì có người ngồi đồng của ta, ta không hề riêng tây, sẽ bảo y mang ra trước để làm gương cho mọi người". Nói xong chạy mau vào nhà, lục lọi rương hòm, vợ hỏi cũng không đáp. Mang hết tiền bạc ra nói với mọi người rằng "Người này bớt xén tám lượng bạc, nay xin xem lại". Rồi cùng mọi người cân lại, thì được hơn sáu lượng, sai người ghi số thiếu, mọi người ngạc nhiên không dám hỏi han, nhận lấy số bạc. Thầy đồng sau đó vẫn không biết gì, có người kể lại cho, rất thẹn thùng, đem cầm bán quần áo để bù, chỉ có hai người là còn thiếu. Khi việc xong, một người bệnh hơn một tháng, một người bị nổi mụn nhọt, tiền thuốc men vừa ăn khớp với số còn thiếu, người ta cho rằng đó là quả báo về tội bớt xén
Dị Sử thị nói: Con ếch già quyên tiền, không ai không thể không làm điều thiện, mà còn được nhiều hơn kẻ đòi đâm đòi đánh! Lại phát giác ra việc những người coi sóc bớt xén mà ngăn chặn tai họa cho họ, thì tỏ rõ sự oai mãnh chính là làm việc từ bi đấy.
265. Người Thợ Mộc Họ Phùng (Phùng Mộc Tượng)
Phủ quân Chu Hữu Đức sửa sang vương phủ cũ làm công thự. Lúc ấy vừa khởi công, có người thợ mộc là Phùng Minh Hoàn trực đêm ngủ lại. Tối vừa đi nằm, chợt thấy cửa sổ hé mở, trăng sáng vằng vặc, nhìn ra đầu tường thấy có một con trĩ đỏ đứng. Đang chăm chú nhìn con trĩ đã bay xuống đất. Giây lát có một cô gái cởi trần lộ nửa người tới nhìn vào, Phùng ngờ là bạn thợ có ai vụng trộm với nàng, yên lặng lắng nghe thì mọi người đều đã ngủ say, trong lòng rạo rực, thầm mong nàng tới lầm chỗ. Giây lát cô gái quả vượt cửa sổ vào tới nằm vào lòng Phùng, từ đó đêm nào cũng tới. Lúc đầu Phùng còn giấu, sau bèn nói rõ. Cô gái nói "Thiếp không tới lầm đâu, kính trọng chàng mà tới đấy". Hai người ngày càng khắng khít, đến khi công thự xây xong, Phùng định về nhà, cô gái đã chờ ngoài đồng. Thôn Phùng ở vốn không xa quận thành lắm, cô gái bèn theo về. Vào tới nhà, người nhà chẳng ai nhìn thấy nàng, Phùng mới biết đó không phải là người. Được vài tháng tinh thần suy giảm, Phùng lo sợ, mời thầy pháp tới trấn yểm, nhưng chẳng có kết quả gì. Một đêm cô gái ăn mặc đẹp đẽ tới gặp Phùng nói "Duyên nợ ở đời đều có định số, nên tới thì đuổi cũng không đi, nên đi thì giữ cũng không được, đêm nay xin vĩnh biệt chàng", rồi biến mất.
266. Cầu Tiên (Kê Tiên)
Mễ Bộ Vân ở huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đông) giỏi cầu tiên, mỗi lần họp mặt với bạn bè đều cầu tiên, cùng nhau xướng họa. Một hôm, có người bạn thấy đám mây nhỏ trên trời nghĩ được một câu là Dương chi bạch ngọc thiên (Trời ngọc trắng mỡ dê), xin tiên đối lại. Tiên viết "Hỏi lão Đổng ở nam thành". Mọi người ngờ là tiên không đối được, nên mới nói thác như thế. Sau Mễ có việc đi ngang cửa nam thành, tới một chỗ đất đỏ như đan sa, lấy làm lạ, thấy một ông già chăn lợn cạnh đó bèn hỏi. Ông ta đáp "Chỗ đó tục gọi là Trư huyết hồng nê địa (Đất bùn hồng máu lợn)". Mễ chợt nhớ lại lời tiên, hoảng sợ hỏi tên thì ông già tự xưng là lão Đổng. Câu đối không có gì lạ nhưng biết trước rằng qua cửa nam thành ắt gặp lão Đổng, mới thật là thần tiên vậy.
267. Thư Sinh Bùn (Nê Thư Sinh)
Thôn La có Trần Đại, lúc trẻ vụng về ngu xuẩn, lấy vợ là Mỗ thị rất đẹp. Nàng cho rằng lấy chồng không bằng người, uất ức bất đắc chí không chịu ngủ chung, mẹ chồng cũng để mặc. Một đêm Mỗ thị ngủ một mình, chợt nghe gió khua cửa rồi có một thư sinh bước vào phòng. Nàng rất sợ hãi, ra sức chống cự, nhưng gân cốt cứ nhũn ra, từ đó ít có đêm nào ngủ một mình. Hơn một tháng thì hình dung tiều tụy, mẹ lấy làm lạ hỏi, ban đầu nàng còn hổ thẹn không chịu nói, bà cứ hỏi mãi nàng mới nói thật. Mẹ hoảng sợ nói "Đó là yêu quái rồi". Dùng hàng trăm cách bùa chú trấn yểm cũng không ngăn chặn được, bèn sai Đại lén núp trong phòng, cầm gậy chờ sẵn. Đến khuya, thư sinh quả nhiên lại tới, đặt mũ lên bàn, lại cởi áo mắc lên giá, chợt hoảng sợ nói "Có mùi người lạ". Rồi vội vàng mặc áo vào. Đại trong chỗ tối nhảy xổ ra, đập trúng vào lưng, kêu thành tiếng bồm bộp, ngoảnh nhìn bốn phía thì thư sinh đã biến mất. Đốt đuốc lên soi, thì một mảnh áo bùn còn rơi trên mặt đất, cái mũ bằng bùn vẫn còn trên bàn.
268. Què Trả Nợ (Kiển Thường Trái)
Ông Lý Trứ Minh tính khẳng khái hay làm ơn. Có người làng là Mỗ thuê nhà ông ở, người này lúc trẻ lười biếng, không biết làm ăn, nhà càng ngày càng nghèo, nhưng cũng khéo nghề vặt, thường khi qua giúp việc nhà, ông cũng trả công rất hậu. Những lúc không còn gì ăn, tới ông năn nỉ, ông cũng lập tức chu cấp cho. Một hôm y nói với ông rằng "Tiểu nhân thường ngày vẫn được cho nhiều nên một nhà ba bốn miệng ăn may không đến nỗi chết đói, nhưng làm sao lâu dài được! Xin chủ nhân cho tiểu nhân mượn một thạch đậu làm vốn". Ông theo lời đưa cho, Mỗ đội về. Hơn một năm, không hề trả tí gì. Đến khi hỏi tới, thì số đậu làm vốn đã hết sạch cả, ông thương y nghèo cũng không đòi nữa. Ông đọc sách trong chùa, hơn ba năm sau, chợt nằm mơ thấy Mỗ tới nói "Tiểu nhân còn nợ đậu của chủ nhân, nay tới để trả". Ông an ủi rằng "Nếu bắt ngươi trả, thì số ngày thường vẫn thiếu làm sao tính hết?". Mỗ buồn rầu nói "Dĩ nhiên, nhưng nếu có làm việc gì giúp người, thì có nhận ngàn vàng cũng có thể không trả, còn nếu bỗng dưng nhận không của người, thì một đấu một thưng cũng phải tính, huống chi là nhiều hơn?". Nói xong biến mất.
Ông càng ngờ, kế đó người nhà bẩm là tối qua con ngựa cái đẻ được một con ngựa con rất to lớn ông chợt nghĩ ra nói "Hay đó là Mỗ chăng?". Mấy ngày sau ông về nhà, nhìn thấy con ngựa con, đùa gọi tên Mỗ, con ngựa con chạy tới như hiểu, từ đó thành tên. Ông cưỡi nó lên huyện Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông), người quản gia trong phủ Phò mã nhìn thấy rất thích, muốn bỏ nhiều tiền ra mua, còn đang mặc cả chưa xong, ông vì có việc nhà gấp không chờ được, bèn cưỡi về. Hơn một năm sau, nó bị con ngựa đực cùng chuồng cắn nát xương chân, không thể chữa được . Có người thầy thuốc chữa bệnh ngựa tới nhà ông trông thấy nói "Xin cứ giao con ngựa này cho tiểu nhân mang về, sớm tối chăm sóc cũng phải mất nhiều thời gian, nếu may mà chữa khỏi, bán được giá sẽ chia lại cho ông". Ông theo lời, mấy tháng sau người thầy thuốc bán con ngựa được một ngàn tám trăm đồng, đem một nửa dâng cho ông. Ông nhận tiền, mới sực nghĩ ra là vừa đúng với số tiền đậu Mỗ còn thiếu ngày trước. Ôi! Món nợ ở cõi dương gian mà âm phủ bắt phải trả, cũng đủ để răn người vậy.
269. Đuổi Quái (Khu Quái)
Từ Viễn Công ở huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông) là Chư sinh của nhà Minh cũ, bỏ Nho theo Đạo, dần dần học được bùa phép, xa gần đều nghe danh. Có một nhà giàu ở huyện nọ sai người mang ngọc lụa kính cẩn tới mời, đem ngựa để đón. Từ hỏi mời ta có chuyện gì? Người gia nhân từ chối là không biết, chủ chỉ dặn phải cố mời bằng được mà thôi. Từ bèn lên đường, tới nhà thì trong sân đã dọn sẵn yến tiệc, chủ nhân đón tiếp rất lễ phép nhưng vẫn không nói là mời tới để làm gì. Từ không nhịn được, hỏi rằng "Ông muốn ta làm gì, mà còn ngờ vực chưa nói ra". Chủ nhân vội nói không có gì, lại mời uống rượu, lời nói úp mở không sao đoán được. Trong lúc trò chuyện, không biết đã sắp tối. Chủ nhân bèn mời Từ ra vườn uống rượu, vườn xây dựng rất đẹp đẽ nhưng cây cối rậm rạp, cảnh vật âm u, hoa dại mọc đầy, cỏ mọc um tùm. Tới một căn gác thì tơ nhện giăng đầy cả trên dưới. Rượu được vài tuần thì trời tối hẳn, chủ nhân sai thắp đèn uống rượu tiếp, Từ lấy cớ không uống được nhiều rượu từ chối, chủ nhân bèn sai dẹp bàn tiệc mang trà ra. Bọn gia nhân vội vàng dọn dẹp bát dĩa, cất hết lên bàn trong gian phòng bên trái trên gác. Đang giữa tuần trà, chủ nhân lấy cớ có việc bỏ đi, người gia nhân cũng cầm đuốc đưa Từ vào nghỉ ở gian phòng bên trái, cắm đuốc lên chỗ đầu bàn rồi bước ra, có vẻ rất vội vã.
Từ cho rằng y đi lấy chăn màn tới ngủ cùng, chờ hồi lâu không thấy tiếng người nữa, bèn tự đứng dậy đóng cửa đi nghỉ. Ngoài song trăng sáng vằng vặc, Từ vào phòng lên giường nằm, nghe tiếng côn trùng mùa thu kêu rả rích kéo dài một lúc, trong lòng bồi hồi không sao ngủ được. Giây lát trên sàn có tiếng giày thình thịch đi tới, như là đạp mạnh vào sàn, tiếng vang rất to, thoáng cái đã tới cầu thang, rồi tới trước cửa phòng. Từ sợ nổi da gà, vội kéo chăn trùm lên mặt, thì cánh cửa đã tự nhiên mở ra. Từ hé góc chăn ra nhìn, thì thấy một con quái đầu thú mình người, lông lá xồm xoàm dài như bờm ngựa, đen kịt một màu, răng nhe chơm chởm, mắt sáng lập lòe. Tới trước cái bàn, nó cúi xuống hít hít những thức ăn thừa trong bát dĩa, lè lưỡi liếm qua một cái thì mấy cái dĩa sạch như chùi. Kế bước tới cạnh giường, hít hít lên chăn, Từ sợ quá vùng dậy chụp cái chăn lên đầu nó rồi la rầm lên. Con quái bị bất ngờ hoảng sợ vùng ra, tung cửa chạy mất.
Từ mặc áo định trốn đi, thì cửa ngoài vườn khóa chặt, không sao ra được. Đi men theo tường thấy có chỗ tường thấp bèn leo qua, thì là chuồng ngựa của chủ nhân. Người coi chuồng ngựa hoảng sợ, Từ kể lại chuyện rồi xin ngủ nhờ. Gần sáng, chủ nhân sai tìm Từ, thấy không còn trên lầu, hoảng sợ, tìm mãi thì ra ngủ chỗ chuồng ngựa. Từ gặp chủ nhân, rất căm hờn, giận dữ nói "Ta không biết phép thuật trừ yêu quái, ông lại bắt ta làm mà không nói trước một tiếng, trong bao của ta có một chiếc Như ý câu, lại không đưa tới chỗ ta ngủ, thì chết ta rồi". Chủ nhân xin lỗi nói "Vốn ta cho rằng nếu nói rõ thì ông sẽ từ chối, lúc đầu cũng không biết trong hành lý có võ khí, thật là đáng chết". Từ rốt lại vẫn hậm hực, đòi đưa ngựa về, từ đó yêu quái trong vườn cũng hết. Chủ nhân mời tiệc trong vườn, cười nói với khách khứa rằng "Ta không quên công lao của Từ sinh đâu".
Dị Sử thị nói: Mèo đen mèo vàng gì cũng được, cứ bắt được chuột là tốt, lời nói ấy không phải sai. Nếu sau khi chụp chăn lên đầu con quái rồi hoảng sợ kêu la mà Từ lại giấu diếm nỗi sợ sệt khoe khoang là đuổi được yêu quái, chắc thiên hạ sẽ cho rằng Từ sinh là bậc thần nhân.
270. Tần Sinh (Tần Sinh)
Tần sinh ở huyện Lai Châu (tỉnh Sơn Đông), pha rượu thuốc lỡ tay bỏ lầm thuốc độc vào, nhưng tiếc không nỡ đổ bỏ, bèn nút lại để đấy. Hơn một năm, đang đêm thèm rượn nhưng không mua đâu được, chợt nhớ tới hũ rượu còn cất, mở nút ngửi thấythơm phức, thèm chảy nước miếng, không nhịn được bèn lấy chén rót uống. Vợ năn nỉ can, sinh cười nói "Uống cho đã rồi chết, còn hơn là thèm rượu mà chết". Rồi uống cạn chén, lại rót nữa, vợ đứng dậy hất đổ cái hũ, rượu chảy tràn ra sàn, sinh bò xuống liếm như chó. Giây lát, sinh đau bụng cấm khẩu, đến nửa đêm thì chết. Vợ gào khóc, mua quan tài gọi người tẫn liệm. Đêm sau, chợt thấy một mỹ nhân bước vào, thân hình chỉ cao có ba thước, đi quanh quan tài, lấy nước rưới lên mặt sinh, giây lát sống lại. Sinh quỳ mọp hỏi, mỹ nhân đáp "Ta là hồ tiên, chồng ta vào trộm rượu nhà họ Trần uống bị say chết nên ta tới cứu về ngang đây thì thấy ông, thương kẻ đồng bệnh nên sai ta lấy thuốc thừa vào cứu. Nói xong thì biến mất.
Bạn ta là Cống sĩ Khâu Hành Tố, nghiện rượu, một đêm lên cơn thèm mà không biết mua ở đâu, trằn trọc mãi nhịn không được, tính lấy giấm uống đỡ. Bèn nói với vợ, vợ gạt ngang, Khâu cứ lấy ra làm bừa, cũng rót giấm vào bầu, đặt lên lò hâm, uống cạn rồi cũng say, phanh áo lăn ra ngủ. Hôm sau, vợ thấy bầu rượu khô queo bèn sai đầy tớ đi mua, trên đường gặp em ông ta là Tương Thần hỏi thăm, ngờ rằng chị dâu không chịu mua rượu cho anh uống. Người đầy tớ nói "Phu nhân nói nhà không có nhiều giấm, đêm qua đã hết một nửa, nếu ông uống lần nữa thì sạch cả con giấm", người ta nghe thấy đều cười. Không biết là đã lên con thèm thì rượu độc cũng ngon, huống chi là giấm? Chuyện này cũng nên chép lại vậy.
Trước đây ta ở kinh, cùng người bạn đồng niên tới ăn tiệc ở nhà ông Mỗ. Chủ nhân không biết uống rượu nên rượu đưa ra mời khách rất dở, người bạn ta lại uống liên tiếp mấy chén lớn. Khi về tới nhà, ta hỏi "Thứ rượu ấy chua như giấm, mà ông nuốt được à?" Bạn ta đáp "Lúc đó cổ ráo miệng khô, cho dù là giấm cũng uống, huống chi là thứ còn được gọi là rượu sao?". Ta nghe thế bật cười, không ngờ rằng có người uống giấm thay rượu thật.
271. Lường Gạt (Cục Trá)
I.
Gia nhân nhà quan Ngự sử nọ tình cờ đứng trong chợ, có một người áo mũ đẹp đẽ sang trọng tới cạnh bắt chuyện, dần dà hỏi tới họ tên và quan chức của chủ nhân, người gia nhân cứ sự thật trả lời. Người kia tự xưng mình họ Vương, làm Nội sử của một Công chúa. Chuyện trò dần dần thân mật, y nói "Đường làm quan nguy hiểm đáng sợ, người được vinh hiển đều phải nương dựa vào bậc quý thích, quý chủ nhân cậy nhờ ai?". Người gia nhân cười, đáp không nương dựa ai cả. Vương nói "Thế thì đúng như người ta vẫn nói là Tiếc phí tổn nhỏ mà quên tai họa lớn đấy?". Người gia nhân hỏi "Nhưng biết nương tựa vào ai cho được?". Vương đáp "Công chúa lấy lễ đãi người, lại có thể bảo bọc cho người. Quan Thị lang Mỗ cũng do ta tiến dẫn đấy. Nếu không tiếc ngàn vàng làm lễ ra mắt, thì muốn gặp công chúa cũng không khó lắm". Người gia nhân mừng lắm, hỏi chỗ ở của người ấy. Người ấy chỉ cửa nhà, lại nói "Hàng ngày qua lại cùng ngõ mà không biết sao?". Người gia nhân về bẩm lại, viên Ngự sử mừng rỡ, lập tức bày tiệc, sai người gia nhân sang mời Vương.
Vương vui vẻ tới, trong bữa tiệc nói rõ từ tính tình tới thói quen của công chúa rất rành rẽ, lại nói nếu chẳng phải chỗ cùng ngõ gần gũi thì phải thưởng y trăm đồng vàng chứ không có chuyện làm giùm không công, viên Ngự sử càng tỏ lòng biết ơn. Khi ra về y hẹn "Quan lớn cứ sắp sẵn lễ vật, ta sẽ cố tìm dịp bẩm với Công chúa, chỉ trong sớm chiều là có tin tới ông". Vài ngày sau y mới tới, cưỡi một con ngựa cực đẹp, nói với Ngự sử rằng "Xin mau sắp xếp vào hầu. Công chúa bận rộn lắm, người tới xin ra mắt nối nhau từ sớm đến tối không lúc nào ngớt. Hôm nay có một lúc rỗi, phải đi ngay, để lỡ thì không biết lúc nào mới có dịp nữa". Viên Ngự sử vội đem vàng ròng lụa tốt theo y, đi quanh co hơn mười dặm mới tới phủ đệ công chúa, bèn xuống ngựa đứng chờ. Vương đem lễ vật vào trước, hồi lâu trở ra lớn tiếng gọi Công chúa triệu quan Thị ngự Mỗ, kế có mấy người nối nhau xướng lời tuyên triệu. Viên Ngự sử khép nép đi vào, thấy một mỹ nhân ngồi trên thềm cao, phong thái dung mạo như tiên, ăn mặc lộng lẫy, thị nữ đều mặc áo gấm dàn hàng la liệt. Viên Ngự sử phủ phục làm lễ bái yết, rất mực cung kính. Công chúa truyền lệnh cho phép ngồi, ban trà bằng chén vàng, nói vài câu khen ngợi. Thị ngự kính cẩn lui ra, trong nội điện lại truyền ban cho mũ lông điêu và tất bằng đoạn. Về tới nhà, viên Ngự sử rất biết ơn Vương, đích thân qua nhà y đưa thiếp xin gặp để cảm tạ, nhưng cửa đóng im ỉm, nghĩ rằng y đi hầu Công chúa chưa về, nhưng qua ba ngày liền vẫn không gặp. Bèn sai người đến cổng phủ Công chúa hỏi thăm, thì cũng thấy cổng đóng then gài. Hỏi người chung quanh, họ đều nói "ở đây không có Công chúa nào cả, hôm trước có mấy người đến thuê ở tạm, đã đi ba ngày rồi". Người kia về báo lại, chủ tớ chỉ còn biết ngậm đắng nuốt cay mà thôi.
II.
Phó tướng quân Mỗ mang tiền lên kinh để cầu cạnh được thăng chức nhưng khổ nỗi không có ai tiến dẫn. Một hôm có một người sang trọng tới chơi, tự nói anh vợ mình là người hầu cận thiên tử. Trà nước xong, y xin vào chỗ kín trò chuyện, nói "Hiện nay ở xứ ấy còn khuyết một chức Tướng quân, nếu chịu tốn kém thì ta sẽ dặn anh ta ca ngợi ông trước mặt Thánh chúa, việc mà xong thì kẻ có thế lực bao nhiêu cũng không tranh được". Mỗ vì người ấy đột nhiên tới tìm, ngờ là lừa dối, người ấy nói "Chuyện này không nên chần chừ, ta chẳng qua chỉ muốn kiếm chác chút đỉnh ở ông anh vợ chứ với tướng quân thì một xu cũng không đòi hỏi. Giờ chỉ cần thỏa thuận rõ số tiền thù lao, làm giấy giao kèo, khi nào ông được thiên tử triệu kiến rồi mới phải chồng tiền. Nếu không có kết quả gì thì tiền của ông còn trong túi chứ đã ai móc mất?", Mỗ mới mừng rỡ bằng lòng.
Hôm sau y tới đưa Mỗ đi gặp người anh vợ, nói là họ Điền, hách dịch như bậc công hầu, Mỗ vào gặp thì tiếp đãi rất ngạo mạn vô lễ. Người kia đưa tờ giao kèo cho Mỗ, nói "Ta vừa bàn với ông anh, chuyện này không đủ bạc vạn không được, xin ông ký xuống dưới này". Mỗ theo lời, Điền nói "Lòng dạ người ta khó lường, chỉ ngại việc xong rồi, lại lật lọng". Người kia cười nói "Anh quá lo, đã có thể cho chẳng lẽ không đoạt lại được à? Vả lại các quan trong triều có người tình nguyện nộp tiền mà còn không được đường công danh sắp tới của tướng quân đây còn xa rộng lắm, chắc không tới nỗi như thế đâu. Mỗ cũng ra sức thề thốt rồi về, người kia tiễn chân, dặn "Ba ngày nữa, xin trả lời ông". Qua hai ngày, trời vừa sẩm tối, có mấy người chạy tới báo "Thánh thượng đang đợi". Mỗ cả kinh vội vàng vào chầu, thấy thiên tử ngồi trên điện, quân nanh vuốt dày đặc chung quanh. Mỗ phủ phục làm lễ bái kiến xong, Hoàng thượng cho ngồi, thăm hỏi ân cần rồi ngoảnh lại nói với tả hữu "Trẫm nghe danh Mỗ vũ dũng phi thường, nay thấy mặt, quả thật có tài Tướng quân". Nhân đó lại nói "Xứ ấy là đất hiểm yếu, nay ủy thác cho khanh, khanh chớ phụ lòng trẫm, nay mai sẽ có sắc phong chính thức". Mỗ bái tạ lui ra, lập tức có người kia theo về nơi trọ, theo đúng giao kèo nhận tiền.
Rồi đó Mỗ cứ nằm khểnh đợi sắc phong, hàng ngày đã khoe khoang với bè bạn. Qua mấy ngày, hỏi dò mới biết chức Tướng quân khuyết kia đã có người được bổ rồi. Mỗ cả giận, tới thẳng bộ Binh chất vấn "Mỗ đây đã nhận mệnh của Hoàng đế, sao người khác lại được bổ?". Quan Tư mã ngạc nhiên, Mỗ kể lại mọi việc, có tới một nửa như cảnh trong mộng. Tư mã nổi giận bắt đưa qua quan Đình úy xét xử, lúc ấy Mỗ mới cung khai tên họ người tiến dẫn, nhưng trong triều không có ai như thế, lại phải tốn kém bạc vạn nữa để chạy chọt mới chỉ bị cách chức đuổi về.
Lạ thay! Hạng võ biền tuy ngu ngơ nhưng chốn triều đường lại có thể đóng giả được sao? Ngờ rằng bên trong có trò ảo thuật gì đây, như lời người ta thường nói là Hạng trộm cướp lớn không cần phải vung đao múa gậy.
III.
Lý sinh người huyện Gia Tường (tỉnh Sơn Đông) giỏi đánh đàn cầm. Tình cờ đi chơi trên đồng phía đông huyện thành, thấy thợ thổ đào được được một chiếc đàn cầm cổ, bỏ ít tiền ra mua. Lau chùi thấy thân đàn có ánh sáng lạ, so dây gảy thử thì tiếng trong vang lạ thường. Sinh mừng như bắt được ngọc quý, cất vào túi gấm, giấu trong phòng kín, dẫu họ hàng rất thân thiết cũng không cho xem. Có quan huyện họ Trình mới về nhậm chức đưa danh thiếp tới chào Lý. Lý vốn ít giao du song vì ông ta tới chào trước nên đành qua đáp lễ. Vài ngày sau ông ta mời qua uống rượu, nài nỉ quá nên Lý phải tới. Trình là người phong nhã hơn đời, nghị luận sâu rộng nên Lý cũng thích. Hôm sau, Lý gửi thư mời lại, chuyện trò càng thấy hợp. Từ đó, sớm ngắm hoa, đêm thưởng nguyệt không mấy khi không có nhau.
Được hơn năm, một hôm Lý vào huyện đường, tình cờ nhìn thấy một cái túi gấm đựng đàn cầm đặt trên ghế, bèn mở ra xem. Quan huyện hỏi có am hiểu nghề này không? Lý đáp không rành lắm nhưng thường ngày cũng thích. Quan huyện ngạc nhiên nói "Biết nhau không phải mới một ngày, sao lại không cho nhau được nghe tiếng đàn tuyệt kỹ? Xin đốt lò trầm, mong ông dạo vài khúc nhỏ". Lý vâng lời đánh đàn, Trình khen "Thật là bậc thầy! Ta cũng xin múa rìu qua mắt thợ, mong ông chớ cười". Nói rồi gảy khúc Ngự phong, thanh âm lạnh lẽo, quả có cái ý xuất trần dứt tục. Lý vô cùng kính phục, xin tôn làm thầy, từ đó hai người giao du ngày càng thân thiết.
Được hơn một năm, Trình truyền lại cho Lý hết mọi ngón đàn, nhưng mỗi khi Trình tới nhà, Lý chỉ đem đàn thường ra chơi, chưa từng để lộ ra là có cây đàn quý. Một đêm uống rượu ngà ngà say, quan huyện nói "Ta mới soạn được một khúc đàn, ông nghe thử xem thế nào?". Rồi gảy một khúc Tương phi vô cùng ai oán, Lý hết lời ca ngợi. Quan huyện nhân nói "Chỉ tiếc không có đàn tốt, nếu có thì âm điệu còn hay hơn nhiều. Lý vui vẻ nói "Ta có một cây đàn khác hẳn loại thường. Nay đã gặp tri âm đâu dám giữ kín mãi". Bèn mở hòm, xách túi gấm đựng đàn ra. Quan huyện lấy đàn ra, kéo Vạt áo lau ghế, đặt đàn lên gảy lại khúc nhạc, lúc khoan lúc nhặt theo đúng âm luật, xảo diệu nhập thần, Lý nghe mà tay bất giác cũng đánh nhịp theo.
Đàn xong, Trình nói "Chút ít tài mọn làm phụ cả cây đàn quý. Nếu cho tiện nội tấu một khúc thì còn có một hai tiếng nghe lọt tai". Lý kinh ngạc hỏi "Quý phu nhân cũng giỏi đàn sao?". Quan huyện cười nói "Những ngón đàn ông thấy trước nay đều do tiện nội truyền cho". Lý nói "Tiếc rằng tiểu sinh không sao được nghe tiếng đàn nơi khuê các!". Quan huyện nói "Chúng ta giao du với nhau thân thiết, cần gì phải kiêng kỵ hình tích lặt vặt. Ngày mai xin mang đàn qua, tiện nội có thể cách rèm đàn cho ông nghe". Lý mừng rỡ, hôm sau ôm đàn qua, Trình lập tức sai bày tiệc, lúc sau mang cây đàn vào nhà trong rồi trở ra. Vừa ngồi vào bàn thì sau rèm đã thấp thoáng bóng giai nhân, kế đó mùi hương lan ngào ngạt tỏa ra tới của. Giây lát tiếng đàn khe khẽ trỗi lên, Lý lắng tai nghe không rõ là khúc gì, chỉ thấy tâm thần xao xuyến, thân xác chơi vơi hồn phách bay bổng.
Tiếng đàn ngưng, Lý liếc mắt qua rèm thấy một giai nhân khoảng ngoài hai chục xuân xanh, sắc đẹp tuyệt thế. Quan huyện lấy chén lớn chuốc rượu, tiếng đàn bên trong đổi sang khúc Nhàn tình. Lý cả thân xác tâm thần đều thấy rung động phiêu diêu, uống hơi quá chén thấy đã say, đứng dậy cáo biệt, lên tiếng xin lại cây đàn. Quan huyện nói "ông đang say, coi chừng ngã. Mời ngày mai lại qua chơi cho tiện nội được trổ hết tài nghệ", Lý bèn ra về. Hôm sau qua thì nhà cửa vắng tanh, chỉ có một người lính già gác cổng. Lý hỏi thăm, người lính nói "Lúc canh năm quan huyện đã đưa hết cả gia đình đi, không biết làm gì, chỉ hẹn ba ngày quay lại". Đến ngày hẹn, Lý lại qua chờ, đến tối mịt vẫn không thấy âm hao. Các lại dịch ở huyện đều nghi ngờ, lấy cớ có việc phải bẩm phá cửa vào tìm, thấy trong nhà trống không, chỉ còn có mấy món bàn ghế, bèn đem chuyện bẩm lên quan trên, quan trên cũng không rõ vì sao.
Lý mất cây đàn, mất ăn mất ngủ, lặn lội suốt mấy ngàn dặm, hỏi thăm khắp nơi mới biết Trình sinh vốn người đất Sở, ba năm trước đây nhờ quyên tiền được bổ làm Tri huyện Gia Tường. Lý theo tên họ, quê quán đi tìm thì đất Sở hoàn toàn không có người ấy. Có người nói có một đạo sĩ họ Trình, giỏi đàn cầm, nghe đồn biết thuật điểm kim, ba năm trước bỗng đi đâu mất không thấy trở về, có lẽ là người ấy. So lại tuổi tác, hình dáng thì quả đúng không sai, lúc ấy mới biết đạo sĩ quyên tiền mua chức quan đều vì cây đàn. Kết giao hơn một năm không nói gì tới âm luật rồi mới đưa đàn ra, dạy đánh đàn, kế dùng sắc đẹp để làm xiêu lòng, dần dà suốt ba năm, lừa lấy được cây đàn là đi ngay, cái bệnh mê đàn của đạo sĩ so ra lại còn hơn cả Lý sinh. Cách lường gạt trong thiên hạ thì nhiều vô kể, nhưng như đạo sĩ thì còn là một kẻ phong nhã trong bọn lường gạt.
272 Mộ Tào Tháo (Tào Thào Trủng)
Ngoài thành huyện Hứa (tỉnh Hà Nam) có sông chảy rất xiết bờ sông có một chỗ dựng đứng, nước rất sâu. Một hôm mùa hè có người xuống chỗ đó tắm, chợt như bị đao búa chém nát, thi thể nổi lên, sau có một người nữa cũng bị như vậy. Người ta sợ hãi đồn đãi, quan huyện nghe được, bèn sai người đóng cừ gỗ ngăn lấp thượng lưu. Khi nước chảy cạn, thấy chỗ dưới bờ sông có hang sâu, cửa hang đặt bánh xe xoay bằng sức nước, trên gắn đao bén. Nhổ bỏ bánh xe tiến vào hang, thấy có tấm bia nhỏ viết chữ triện đời Hán, đọc kỹ thì là mộ của Tào Mạnh Đức Bèn phá quan tài thu lấy hết vàng bạc chôn theo, vứt bỏ xuống đi.
Dị Sử thị nói: Hậu hiền có thơ rằng "Tận quật thất thập nhị nghi trủng, Tất hữu nhất trủng táng quân thi" (Đào hết bảy mươi hai mộ giả*, Ắt có một mộ chôn thây ông), ngờ đâu thật ra mộ Tào Tháo lại ngoài số mộ giả ấy? A Man gian giảo thật. Nhưng bộ xương nát sau hơn ngàn năm vẫn không giữ được, thì trí trá như vậy có ích gì? Than ôi, cái khôn của A Man chính là cái ngu của A Man vậy.
*Bảy mươi hai mộ giả: tương truyền Tào Tháo lúc sắp chết có dặn làm bảy mươi hai ngôi mộ giả để đề phòng có kẻ đào mộ mình.
273. Chửi Người Trộm Vịt (Mạ Áp)
Bạch gia trang ở phía tây huyện ta có người nọ bắt trộm vịt của hàng xóm ăn thịt. Đến đêm thấy ngứa, sáng ra nhìn thì thấy lông vịt mọc đầy người, nhổ thì đau, sợ quá nhưng không có cách nào chữa khỏi. Đến đêm nằm mơ thấy một người nói "Bệnh của ngươi là trời phạt, phải được người mất vịt chửi cho thì lông vịt mới rụng". Nhưng ông già hàng xóm lại là người cao nhã tự trọng, bình sinh bị mất trộm chưa từng động thanh sắc. Người nọ bèn đặt chuyện nói với ông già rằng "Con vịt bị mất ấy là do tên Mỗ trộm, y rất sợ bị chửi, nếu ông ra ngõ đứng chửi thì cũng có thể ngăn chặn y về sau". Ông già cười nói "Ai rảnh rỗi mà đi chửi bọn người xấu", rốt lại cũng không chửi. Người nọ bí quá, phải thú thật. Ông già bèn chửi, người ấy mới được khỏi bệnh.
Dị Sử thị nói: Hay thật! Người nhường nhịn thật đáng sợ, nhường nhịn một lần mà lông vịt mọc đầy người kẻ trộm. Hay thật? Người hay chửi nên lấy đó làm răn. Chửi một câu thì kẻ trộm hết tội, nên làm điều lành phải có thuật, ông già hàng xóm kia là người lấy việc chữi mắng làm điều nhân từ đấy.
274. Yêu Nhân Giả Gái (Nhân Yêu)
Mã sinh tên Vạn Bảo là người huyện Đông Xương (tỉnh Sơn Đông), tính ngông nghênh không chịu bị trói buộc. Vợ là Điền thị cũng phong lưu phóng khoáng, vợ chồng rất hòa hợp. Có người con gái tới ngụ nhà bà già góa chồng bên hàng xóm, nói là bị cha mẹ chồng ngược đãi nên bỏ trốn, lại may vá cực khéo, làm giúp cho bà già mấy thứ, bà già rất mừng bèn giữ lại ở cùng. Được vài hôm, tự nói rằng biết phép xoa bóp, có thể chữa các bệnh đàn bà. Bà già thường qua nhà sinh chơi, khen ngợi thuật của cô gái song Điền thị cũng không để ý. Một hôm sinh nhìn trộm cô gái qua khe vách, thấy trạc mười tám mười chín tuổi, dáng vẻ phong vận, trong lòng rất thích, bèn bàn với vợ bảo bị bệnh gọi qua chữa giúp. Bà già qua trước, tới bên giường Điền thị nằm hỏi thăm rồi nói "Được nương tử gọi tới, thì cô ta phải qua. Song cô ta rất sợ gặp mặt đàn ông, nên xin đừng để cho lang quân vào phòng". Vợ sinh nói "Nhà cửa chật hẹp, người này kẻ kia ra vào, làm sao mà tránh gặp mặt được". Kế lại nghĩ ngợi rồi nói "Ông cậu ở thôn Tây gọi chồng ta qua uống rượu tối nay, thôi cứ bảo ở luôn lại đó đừng về, thì cũng tiện". Bà già đồng ý ra về. Vợ chồng sinh bàn xong kế đánh tráo, cười chờ thi hành.
Lúc trời tối, bà già đưa cô gái qua, nói "Tối nay lang quân có về không?". Điền thị đáp "Không về đâu". Cô gái mừng nói "Như vậy mới tiện". Bà già chuyện trò vài câu rồi cáo từ ra về, Điền thị bèn thắp đèn trải giường, để cô gái lên giường trước rồi cởi áo tắt đèn. Chợt nói "Quên cài then cửa nhà bếp, không khéo chó vào ăn vụng" rồi ra mở cửa phòng, đánh tráo cho sinh vào. Sinh rón rén vào, lên giường, cô gái mơn trớn nói "Ta sẽ chưa cho nương tử khỏi bệnh". Sinh lặng ngất không đáp, cô gái bèn xoa bụng sinh, mò tới dưới rốn thì dừng tay lại, ú ở hoảng sợ như nắm phải rắn rết, vội nhảy choàng dậy muốn chạy trốn. Sinh hoảng sợ, gọi thắp đèn. Vợ sinh cho rằng việc vỡ lỡ, vội thắp đèn bước vào, đang định điều đình, nhìn thấy cô gái lạy phục dưới đất xin tha mạng thì xấu hổ hoảng sợ, vội bước ra. Sinh căn vặn, y nói "Ta là người huyện Cốc Thành (tỉnh Thiểm Tây) tên Vương Nhị Hỷ, có anh là Đại Hỷ là học trò của Tang Xung nên được dạy lại thuật giả làm đàn bà". Lại hỏi "Đã làm ô nhục bao nhiêu người rồi?", đáp "Vào đời hành đạo chưa lâu, mới lừa có mười sáu người thôi". Sinh nghĩ tội đáng giết, đã định đi báo quan, song lại thương vì dung mạo đẹp đẽ, bèn trói quặt hai tay ra sau lưng rồi thiến đi, máu chảy lênh láng, khoảng sau bữa cơm thì tỉnh lại. Sinh bèn đặt y nằm trên giường, đắp chăn lên cho, dặn rằng !Ta sẽ cắt thuốc chữa cho, khi nào lành rồi phải theo ta suốt đời, nếu không việc lộ ra không được tha chết đâu", họ Vương vâng dạ.
Hôm sau bà già qua, sinh tiếp nói "Nó là đứa cháu gái của ta tên Vương Nhị Thư, vì có tật kín lúc mới sinh ra nên bị nhà chồng đuổi, đêm qua gặp hỏi lai lịch mới nhận ra. Nhưng nó đang bị cảm nhẹ, ta đang định đi mua thuốc và xin phép bà cho nó được lại bên này làm bạn với vợ ta". Bà già vào phòng thăm thấy mặt xám như tro, bèn ngồi xuống bên giường hỏi han, Vương nói "Bệnh kín đã phát ra, sợ là bệnh nặng", bà già tin bèn ra về. Sinh cắt thuốc châm chước điều trị cho Vương, về sau bình phục, giúp đỡ Điền thị giặt giũ quét dọn, nấu cơm xách nước, chăm chỉ còn hơn cả tỳ nữ. Không bao lâu, yêu nhân Tang Xung bị giết, đồng bọn bảy người đều bị chém ở chợ. Duy có Nhị Hỷ lọt lưới, quan ra lệnh truy nã, khám xét rất nghiêm ngặt. Người trong thôn đều ngầm nghi ngờ Vương, bèn tập hợp các bà già tới khám, cho mặc quần sờ vào chỗ kín, từ đó mới hết nghi ngờ Vương cho rằng được nhờ ơn đức mà sống nên theo hầu Mã sinh đến trọn đời. Về sau chết được chôn cạnh mộ của Mã, đến nay vẫn còn nguyên vẹn.
Dị Sử thị nói: Mã Vạn Bảo có thể nói là kẻ khéo dùng người vậy. Trẻ em thích bắt cua để chơi, vì sợ nó có càng, đều bẻ càng rồi nuôi. Than ôi, nếu hiểu được ý ấy thì có thể trị cả thiên hạ vậy.
275. Công Tử Họ Vi (Vi Công Tử)
Công tử họ Vi là con nhà thế gia ở huyện Hàm Dương (tỉnh Thiểm Tây), tính dâm dật buông thả. Có lần mang theo mấy ngàn đồng vàng đi chơi, định thưởng thức hết các kỹ nữ nổi tiếng trong thiên hạ, phàm những chỗ ăn chơi không đâu không tớì, không thích thì chỉ ngủ một đêm là đi ngay, vừa ý thì ở lại cả vài tháng. Chú ruột công tử là một vị quan nổi tiếng mới về hưu, nghe thấy hành vi của cháu giận lắm, bèn mời thầy giỏi dựng nhà riêng, bắt công tử cùng các con đóng cửa đọc sách, tối thì ngủ cùng phòng với thầy. Công tử chờ thầy ngủ rồi là trèo tường trốn về, gần sáng mới trở lại, cứ thế làm mãi. Một hôm bị trượt chân ngã gãy tay, thầy mới biết, báo cho chú. Ông liền đánh thêm cho một trận rồi mới thuốc thang chữa chạy cho. Được hơn một tháng thì khỏi, ông giao hẹn với công tử rằng nếu học vượt hẳn các em, văn hay chữ tốt, thì ra ngoài tùy thích, còn nếu lén lút chơi bời thì sẽ đánh đòn như trước. Nhưng công tử rất thông minh, học thường vượt mức, sau vài năm thi đỗ khoa thi hương, muốn bỏ lời giao hẹn cũ, nhưng chú vẫn còn kiềm chế.
Khi công tử lên kinh thi, ông sai một người lão bộc đi theo, giao cho một quyển sổ nhật ký, dặn phải ghi chép lời nói việc làm hàng ngày, nhờ vậy mấy năm liền công tử không làm việc gì sai trái. Về sau công tử thi đỗ Tiến sĩ, ông mới hơi nới lệnh cấm, nhưng công tử vẫn sợ chú biết, nên những khi đi chơi bời vẫn mạo xưng là họ Ngụy. Một hôm công tử qua Tây An, gặp một người con hát tên La Huệ Khanh, tuổi chừng mười sáu mười bảy, xinh đẹp như con gái, thích lắm giữ lại mấy ngày, định đem theo về. Hỏi tới gia đình, Khanh đáp "Mẹ mất sớm, chỉ còn cha. Ta vốn không phải họ La. Mẹ ta lúc trẻ hầu hạ trong nhà họ Vi ở Hàm Dương, bị bán cho nhà họ La, được bốn tháng thì sinh ra ta. Nếu được theo công tử về, may ra có thể hỏi thăm được gốc gác". Công tử kinh ngạc, hỏi họ của người mẹ, đáp là họ Lã. Công tử vô cùng kinh hãi, toàn thân đẫm mồ hôi, vì mẹ Khanh chính là tỳ nữ trong nhà mình lúc trước. Bèn im lặng không nói, sáng ra cho Huệ Khanh rất nhiều tiền, khuyên nên bỏ nghề. Kế nói thác rằng có việc phải đi, hẹn lúc nào trở lại sẽ gọi, rồi giã từ bỏ đi .
Sau công tử được bổ làm quan huyện nọ thuộc Tô Châu, gặp một ca kỹ tên Thẩm Vi Nương, xinh đẹp phong nhã tuyệt trần, công tử rất ưa thích, hỏi đùa rằng "Tiểu tự của nàng có phải lấy từ câu 'Xuân phong nhất khúc Đỗ Vi nương' (Gió xuân một khúc Đỗ Vi nương) không?". Nàng đáp "Không phải. Mẹ thiếp mười bảy tuổi đã là kỹ nữ nổi tiếng, có vị công tử ở Hàm Dương, cùng họ với ông, ở lại với mẹ thiếp ba ngày, hẹn chuyện cưới xin. Công tử đi rồi, tám tháng sau thì sinh ra thiếp, nên mới đặt tên là Vi, chứ thật ra đó là họ của thiếp. Lúc chia tay công tử có tặng mẹ đôi chim uyên ương bằng vàng, đến nay hãy còn. Nhưng công tử ra đi một lần là bặt tin luôn, mẹ thiếp vì thế phẫn uất buồn rầu mà chết. Thiếp lên ba tuổi thì được bà Thẩm nuôi nấng, nên lấy họ Thẩm". Công tử nghe nói, hối hận nhục nhã không sao chịu được. Im lặng một lúc, chợt nghĩ ra một kế, ngồi phắt dậy khêu đèn, gọi Vi Nương ra uống rượu, rồi ngầm bỏ thuốc độc vẫn mang theo người vào chén. Vi Nương vừa nuốt khỏi cổ đã vật vã rên xiết, mọi người đổ tới thì đã tắt thở. Công tử gọi bọn con hát tới, nhờ họ chôn cất, lại lót tay rất nhiều tiền để bịt miệng. Nhưng đám khách thân quen với Vi Nương toàn là con nhà thần thế, nghe chuyện không rõ vì sao nàng chết, thảy đều bất bình, bèn góp tiền cho bọn con hát, xúi họ kiện lên quan trên. Công tử hoảng sợ phải dốc túi dập chuyện đi, cuối cùng bị cách chức vì tội bừa bãi khinh suất. Công tử về nhà thì đã ba mươi tám tuổi, rất hối hận về những hành vi trước kia, mà thê thiếp năm sáu người đều không có con trai, bèn xin đứa cháu nội của chú làm con nối dõi. Ông chú lại nghĩ chàng vô hạnh, sợ trẻ nhiễm thói xấu, nên tuy ưng thuận song lại đợi khi nào công tử già rồi mới cho qua. Công tử phẫn uất, muốn qua gọi, ông chú nghe thế than "Thế thì sắp chết thật rồi". Bèn cho đứa con của người con trai thứ sang nhà công tử để sớm tối chăm sóc. Hơn một tháng, quả nhiên công tử chết.
Dị Sử thị nói: Thông dâm với tỳ nữ, chơi bời nơi kỹ viện là thói xấu thường thấy của người đời, nhưng ăn nằm với cả con ruột của mình thì những người làm cha trong đời nghe thấy cũng đều xấu hổ. Mà quỷ thần lại hý lộng run rủi tới như thế, nhưng vẫn không tự móc tim thắt cổ, mà lại đổ mồ hôi, bỏ thuốc độc, chẳng phải là kẻ mặt người dạ thú sao?
276. Đỗ Tiểu Lôi (Đỗ Tiểu Lôi)
Đỗ Tiểu Lôi là người phía tây huyện Ích Đô (tỉnh Sơn Đông). Mẹ bị lòa cả hai mắt, Đỗ thờ mẹ rất có hiếu, nhà tuy nghèo nhưng ngày nào cũng tìm thức ăn ngon dâng mẹ. Một hôm Đỗ có việc đi vắng, ra chợ mua thịt đưa vợ bảo làm bánh bao cho mẹ. Vợ Đỗ rất ngỗ nghịch, lúc băm thịt làm nhân bánh, trộn cả bọ hung vào. Mẹ Đỗ ngửi thấy mùi hôi thối không sao ăn được, bèn cất đi đợi con về. Khi Đỗ về hỏi mẹ bánh bao có ngon không, mẹ lắc đầu đưa cho xem. Đỗ bẻ bánh ra nhìn, thấy có bọ hung giận lắm, vào phòng muốn đánh vợ, lại sợ mẹ nghe tiếng, nén giận lên giường nằm, vợ hỏi gì cũng không đáp. Vợ lấy làm lo sợ quanh quẩn mãi dưới giường, hồi lâu thở phì phì. Đỗ quát "Không đi ngủ đi, còn chờ phải giục à!", vẫn không nghe trả lời. Đỗ dậy soi đèn xem thì không thấy vợ đâu, chỉ thấy có một con heo, nhìn kỹ thấy hai chân sau vẫn còn là chân người, mới biết đó là vợ mình hóa ra. Quan huyện nghe chuyện, sai buộc con heo dong ra cửa tây huyện thành để răn chúng. Đàm Vi Thần từng chính mắt nhìn thấy.
277. Bình Cổ (Cổ Bình)
Thôn ở phía bắc huyện Truy (tỉnh Sơn Đông) có cái giếng cạn, người trong thôn là Giáp và Ất dòng dây leo xuống vét. Đào được hơn thước thì đụng một cái đầu lâu, vô tình cuốc vỡ, thấy trong miệng có ngậm vàng, mừng rỡ giắt vào lưng. Lại đào tiếp, gặp sáu bảy cái đầu lâu khác, muốn tìm vàng nên đập vỡ hết nhưng chẳng thấy gì. Bên cạnh lại có hai cái vò đất nung, một cái bình cổ bằng đồng. Cái bình lớn một ôm, nặng mấy mươi cân, hai bên có quai, không biết dùng làm gì, chỉ thấy hoa văn rất đẹp. Hai cái vò cũng rất cổ, không phải là vật thời gần đây. Đến khi lên khỏi giếng, Giáp và Ất cùng chết, lát sau Ất tỉnh dậy nói "Ta là người thời Hán, gặp loạn Vương Mãng cả nhà đều bị ném xuống giếng, có chút ít vàng nên ngậm trong miệng để giấu nào phải là vật tẫn liệm, ai cũng có đâu. Tại sao lại đập nát hết đầu lâu, thật đáng giận?".
Mọi người thắp hương khấn vái xin sẽ chôn cất lại chu tất, Ất mới sống được, còn Giáp thì chết luôn. Tôn sinh Nhan Trấn nghe chuyện lạ, mua cái bình đồng mang về, hai cái vò đất thì một về tay Hiếu liêm họ Tuyên, có thể nhìn vào mà nghiệm được mưa nắng. Cứ thấy có một đốm sáng trên thân vò, bắt đầu nhỏ như hạt gạo, dần dần loang rộng ra thì không bao lâu trời sẽ mưa, đốm sáng thu nhỏ lại thì trời sẽ tạnh. Một cái thì về tay Tú tài họ Trương, dùng để xem lịch, ngày mùng một thì có một đốm đen như hạt đậu, ngày càng lớn dần, đến ngày rằm thì choán hết cả thân vò, sau đó thì nhỏ dần lại, đến ngày ba mươi thì trở lại như ban đầu. Vì chôn lâu dưới đất nên trên miệng bình có một hòn đá nhỏ chèn vào không đựng được gì cả, muốn gõ lấy ra, hòn đá rơi xuống làm miệng vò bị mẻ một miếng nhỏ, cũng là một việc đáng tiếc. Cắm hoa vào, hoa rụng thì kết quả, không khác gì với quả trên cây.
278. Tần Cối (Tần Cối)
Nhà Tể tướng họ Phùng ở huyện Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông) giết một con heo, đổ nước sôi cạo lông thấy da có hàng chữ rằng "Thân sau bảy đời của Tần Cối". Mổ ra thì thịt rất hôi thối, bèn vứt bỏ cho chó. Ô hô, thịt của Cối mà chó cũng không thèm ăn. Nghe người ở huyện Ích Đô (tỉnh Sơn Đông) nói: Tổ tiên của Tể tướng bị Cối hại, nên lúc bình sinh rất kính trọng Vũ Mục vương*, lập một điện thờ Nhạc vương ở cạnh ngã tư đường phía bắc thành Thanh Châu, có tượng Tần Cối và Vạn Hầu Oa quỳ dưới đất để người tới cúng tế thì ném đá vào, hương lửa không dứt. Về sau lúc đại binh chinh phạt Vu Thất**, con cháu họ Phùng hủy tượng Nhạc vương, người quanh đó lại có tục thờ Tử Tôn Nương nương, nên đặt tượng của Cối và Oa lên giữa cho mọi người quỳ lạy. Sau trăm đời, chắc sẽ có chuyện lầm lẫn như Đỗ Thập di, Ngũ Tỳ Tu***, thật đáng cười.
* Vũ Mục vương: tức Nhạc Phi, tướng giỏi thời Nam Tống, cầm quân đánh Kim có công, bị gian thần là Tần Cối giả mệnh vua triệu về rồi vu khống giết chết trong ngục, được các triều đại sau truy phong là Vũ Mục vương.
**Vu Thất: thủ lãnh chống triều đình đời Thuận Trị nhà Thanh (1644-1661).
*** Đỗ Thập di, Ngũ Tỳ Tu: dân quê Trung Quốc thường ngoa truyền, tương đền thờ Ngũ Tử Tư (tức Ngũ Viên) thờ Ngũ Tỳ Tu, đền thờ Đỗ Thập di (tức Đỗ Phủ) thờ Đỗ Thập di (dì họ Đỗ thứ mười), vì đồng âm nên lầm ra như thế.
Lại ở trong thành Thanh Châu trước có đền thờ Tử Vũ, lúc Ngụy Đang nắm quyền, trong các nhà thế gia có kẻ xu nịnh, bôi xóa râu tóc áo mũ trên tượng Tử Vũ, đổi làm tượng Ngụy giám*, cũng là chuyện khiến người ta nghe thấy phải khiếp sợ vậy
*Ngụy giám: tức Ngụy Trung Hiền, hoạn quan thời Minh, có thế lực rất lớn, khuynh loát cả trong triều ngoài quận, sử sách xưa coi là kẻ gian thần
Quyển XIV
279. Yên Chi (Yên Chi)
Họ Biện ở huyện Đông Xương (tỉnh Sơn Đông) làm nghề chữa bệnh cho trâu, có cô con gái tên Yên Chi, tài sắc đủ bề. Người cha yêu dấu lắm, muốn gả cho con nhà cao quý, song những kẻ giàu sang lại khinh ông ta nghèo hèn không xứng làm thông gia, nên cô gái đến tuổi cập kê mà vẫn chưa hứa gả cho ai. Nhà đối diện có Vương thị vợ họ Cung, tính buông thả, thích đùa cợt, hay sang trò chuyện với cô gái. Một hôm cô gái đưa Vương thị ra cổng, thấy một thiếu niên đi qua, quần áo trắng tinh, phong thái hơn người, thấy lòng xao xuyến bèn liếc trộm. Thiếu niên cúi đầu rảo bước, đi xa rồi mà cô gái cứ nhìn theo mãi. Vương thi đoán được tình ý, đùa nói rằng "Tài Sắc như nương tử mà sánh đôi với người ấy thì không có gì phải hối tiếc". Cô gái đỏ bừng mặt nín lặng không nói gì. Vương thị hỏi có biết y không, cô gái đáp là không biết. Vương thị nói "Đó là Tú tài Ngạc Thu Chuẩn con ông Cử nhân đã chết ở ngõ Nam, ta vốn là người cùng làng nên có biết. Đàn ông trên đời không ai nhã nhặn bằng y đâu. Y mặc đồ trắng vì đang còn tang vợ, nếu nương tử vừa ý ta sẽ nhắn lời mai mối cho". Cô gái vẫn im lặng, Vương thị cười rồi về.
Mấy ngày sau vẫn không có tin tức gì, cô gái cho là Vương thị chưa rảnh đi ngay được, lại ngờ rằng họ là nhà dòng dõi không chịu hạ mình. Rồi cứ bồi hồi lo lắng, nghĩ ngợi quẩn quanh bỏ cả ăn uống, nằm liệt giường. Vương thị tới thăm, hỏi vì sao mà bị bệnh, cô gái đáp "Cũng chẳng biết nữa, từ hôm chị về rồi cứ thấy trong người khó chịu, hơi thở bây giờ chỉ còn thoi thóp, sống nay chết mai thôi?". Vương thị nói khẽ "Chồng ta đi buôn chưa về, nên chưa có người đánh tiếng cho chàng Ngạc. Ngọc thể không yên là vì thế chứ gì?". Cô gái thẹn thùng hồi lâu, Vương thị lại đùa nói "Nếu đúng vì thế mà bệnh nặng thế này thì còn e dè gì nữa? Trước hết cứ nhắn tới gặp nhau một tối, chẳng lẽ y lại không chịu à!". Cô gái thở dài nói " Sự tình tới mức này không thể làm khác được, nhưng nếu họ không hiềm nhà ta thấp hèn, nhờ người mai mối tới dạm hỏi ngay thì ắt là ta khỏi bệnh, chứ hò hẹn tư tình thì nhất định là không được". Vương thị gật đầu trở về.
Lúc trẻ Vương thị đã tư thông với người học trò láng giềng là Túc Giới, khi đã lấy chồng rồi Túc vẫn rình lúc chồng thị đi vắng tìm tới với người xưa. Đêm ấy gặp lúc Túc tới, Vương thị kể lại chuyện cô gái để cười với nhau, lại đùa nhờ Túc đánh tiếng với Ngạc. Túc vốn biết cô gái đẹp từ lâu, nghe thế mừng thầm, định thừa gió bẻ măng. Toan bàn mưu với Vương thị nhưng lại sợ thị ghen, bèn làm ra vẻ vô tình hỏi rõ đường đi lối lại trong nhà cô gái. Đêm sau y trèo tường vào, đến thẳng phòng cô gái gõ nhẹ cửa sổ. Bên trong hỏi ai, y đáp là Ngạc. Cô gái nói "Sở dĩ thiếp nghĩ tới chàng là vì chuyện trăm năm chứ không phải vì vui một tối. Nếu quả thực chàng yêu thương thiếp thì mau nhờ mai mối tới hỏi, chứ nói chuyện lén lút kia nọ thì không dám vâng lời". Túc vờ ưng thuận nhưng cố xin cho được cầm tay một cái làm tin. Cô gái không đành lòng cự tuyệt, gượng dậy mở cửa. Túc vào lại đòi giao hoan, cô gái nói "Sao mà ác thế, chắc không phải là chàng Ngạc. Nếu đúng là chàng Ngạc, thì người ôn hòa văn nhã biết vì sao thiếp bệnh hẳn phải xót thương chứ đâu lại cuồng bạo thế này! Nếu cứ như thế, thiếp phải kêu lên, phẩm hạnh tổn thương thì chẳng ai có lợi đâu".
Túc sợ lộ không dám cưỡng ép nữa, chỉ xin được gặp lại, cô gái hẹn ngày nghênh hôn. Túc cho rằng còn lâu quá, cứ nài nỉ, cô gái thấy y dằng dai đành hẹn đến khi khỏi bệnh. Túc xin vật làm tin, cô gái không cho. Túc nắm chân nàng tuột bừa lấy chiếc giày thêu rồi bỏ đi. Cô gái gọi lại, nói "Đã hẹn ước thân này là của chàng, có tiếc gì chiếc giày. Chỉ sợ vẽ hổ không nên lại ra con chó, để bị chê cười thôi. Nay vật mọn đã lọt vào tay chàng, chắc không thể lấy lại được nữa, nếu chàng phụ lòng, thiếp chỉ còn một chết thôi đấy?". Túc trở ra, lại về nhà Vương thị ngủ, đi nằm vẫn không quên chiếc giày, ngầm mò trong tay áo thì không thấy đâu nữa. Vội dậy che đèn xốc áo tìm thầm, Vương thị hỏi không đáp, ngờ là Vương thị giấu. Thị cười cợt ngờ vực, Túc không giấu được, đành kể thật mọi chuyện. Nói xong đốt đuốc ra tìm ngòai cửa nhưng vẫn không có đành ôm hận trở vào ngủ, thầm mong đêm khuya không có ai qua lại, chiếc giày rơi vẫn còn trên đường, nhưng sáng dậy sớm ra tìm cũng không thấy đâu.
Trước đó trong ngõ có Mao Đại là kẻ lông bông không nghề nghiệp vẫn ve vãn Vương thị nhưng không được, biết Túc tư thông với thị nên muốn rình bắt để ép buộc. Đêm ấy y qua nhà thị, đẩy cổng thấy chưa gài bèn lẻn luôn vào. Vừa tới ngoài cửa sổ thì giẫm phải một vật mềm như nầm lụa, nhặt lên xem thì là một chiếc giày con gái bọc trong khăn. Y bèn núp rình, nghe rõ hết lời Túc kể, vô cùng mừng rỡ, lập tức trở ra. Vài đêm sau, y leo tường vào nhà cô gái, nhưng không biết chỗ nên tới lầm phòng người cha. Ông Biện nhìn qua cửa sổ thấy đàn ông, xem dáng cách biết là tới đây tìm con gái mình, nổi giận cầm dao xông ra. Mao Đại sợ bỏ chạy, định leo tường trở ra nhưng ông Biện đã đuổi sát tới, y bí quá không biết làm sao bèn quay lại cướp dao. Bà Biện chạy ra la lên, Mao sợ không chạy được bèn đánh chết ông Biện. Cô gái đã hơi đỡ, nghe tiếng ồn ào mới vùng dậy cùng đốt đèn ra soi thì cha đã bể sọ không nói được nữa, giây lát thì chết. Tìm được dưới chân tường chiếc giày thêu, bà mẹ xem lại thì là của Yên Chi. Hỏi gặng thì cô gái khóc kể lại hết mọi chuyện, nhưng không nỡ để Vương thị bị liên lụy nên chỉ nói là Ngạc tự tìm tới mà thôi.
Sáng ra, nhà họ Biện kiện lên huyện, quan huyện sai bắt Ngạc. Ngạc vốn vụng dại nhút nhát, mười chín tuổi rồi mà gặp người lạ vẫn thẹn thùng như trẻ con. Cho nên bị bắt tra hỏi thì vô cùng sợ hăi, trước công đường chẳng biết đối đáp ra sao, chỉ run lẩy bẩy. Quan huyện thấy thế càng tin chắc là kẻ phạm tội, sai tra tấn tàn nhẫn, thân học trò yếu ớt không chịu đau nổi nên Ngạc đành nhắm mắt nhận tội bừa. Giải lên phủ cũng thế, Ngạc oan ức đầy ruột, xin được gặp mặt Yên Chi đốl chất. Nhưng vừa gặp, cô gái đã chửi mắng tàn tệ, Ngạc lại đớ lưỡi không sao phân trần được. Vì vậy Ngạc bị khép tội chết, thẩm vấn nhiều lần, qua mấy viên quan, vẫn không ai nói khác.
Sau đó án được ủy cho phủ Tế Nam phúc duyệt. Bấy giờ ông Ngô Nam Đại đang làm Tri phủ, vừa thấy Ngạc sinh đã ngờ không phải là kẻ giết người, bèn ngầm sai người nhẹ nhàng hỏi riêng, được lời khai cặn kẽ thì biết là Ngạc bị oan. Ông suy nghĩ mấy ngày mới hỏi cung lại. Đầu tiên hỏi Yên Chi rằng sau khi hẹn ước có ai biết chuyện không, cô gái trả lời là không. Lại hỏi lúc gặp Ngạc sinh có còn ai khác không, cô gái cũng trả lời là không. Ông bèn gọi Ngạc lên ôn tồn hỏi, Ngạc thưa lúc đi qua cổng nhà ông Biện thấy người hàng xóm cũ là Vương thị cùng một thiếu nữ đi ra thì vội rảo bước, đi qua không nói câu nào. Ông Ngô quát cô gái "Ngươi vừa nói khi gặp Ngạc không có ai khác, sao đây Ngạc nói có người đàn bà hàng xóm?". Rồi định tra tấn, cô gái sợ thưa "Tuy có Vương thị, nhưng không có dính líu gì tới chuyện này". Ông thôi hỏi cung, sai bắt Vương thị.
Mấy ngày sau Vương thị tới, ông không cho gặp cô gái, lập tức thẩm vấn. Hỏi Vương thị ai là kẻ giết người, Vương thị thưa không biết, ông giả vờ nói "Yên Chi đã khai là ngươi biết rõ người giết ông Biện, còn giấu nữa à?". Vương thị vội kêu "Oan cho ta quá! Con dâm nữ ấy tự phải lòng trai, tuy ta có nói sẽ làm mối cho nhưng chỉ để đùa cho vui thôi. Nó tự dẫn gian phu vào nhà, làm sao ta biết!". ông hỏi cặn kẽ, thị mới thuật lại những lời nói đùa trước sau. Ông gọi cô gái lên, tức giận nói "Ngươi nói thị không biết chuyện, sao bây giờ thị lại khai ra chuyện làm mai mối?". Cô gái sa lệ đáp "Tự ta đã không ra gì khiến cha phải chết thảm, mà kiện tụng không biết đến năm nào mới xong, nên thật lòng không nỡ làm liên lụy tới người khác thôi!". Ông hỏi đã đùa cợt rồi có nói lại với ai không, Vương thị khai là không. Ông giận nói !Vợ chồng đầu gối tay ấp thì chuyện gì lại không nói, tại sao còn chối?". Vương thị khai chồng vắng nhà đã lâu. Ông nói "Dù thế nhưng kẻ đã trêu cợt người khác đều cười người ta ngu, tự cho mình là khôn, mà lại không nói với người nào, thì định lừa dối ai?". Rồi sai kẹp mười đầu ngón tay, thị bất đắc dĩ phải khai thật là đã có nói với Túc, ông bèn cho thả Ngạc bắt Túc.
Túc tới khai là không biết gì, ông nói "Đi chơi gái thì không phải là kẻ tốt lành". Bèn sai tra khảo, Túc phải khai thật là có lừa cô gái, nhưng sau khi làm mất chiếc giày thì không dám tới nữa, còn quả thật không rõ về việc giết người. Ông giận dữ nói "Đã leo tường rồi thì có chuyện gì mà không làm?", rồi lại sai tra khảo, Túc không chịu nổi phải nhận bừa. Án đã thành, báo lên trên, ai cũng khen ông Ngô là thần minh. Bản án nghiêm khắc nặng nề, Túc chỉ còn có cách vươn cổ chờ chém. Nhưng Túc tuy là kẻ phóng đãng vô hạnh song vốn là một danh sĩ vùng Sơn Đông, nghe tiếng quan Học sứ họ Thi là bậc hiền năng lại yêu người tài, thương kẻ sĩ bèn làm một bài từ kêu oan rất thống thiết gởi tới. Ông Thi xem đi xem lại, ngẫm nghĩ rồi vỗ bàn nói "Gã học trò này bị oan rồi", bèn xin với quan trên cho được xét lại vụ án.
Hỏi Túc để rơi chiếc giày ở đâu, Túc khai là không rõ, chỉ nhớ rằng khi gõ cửa nhà Vương thị vẫn còn trong tay áo. Ông quay qua hỏi Vương thị rằng ngoài Túc Giới còn dan díu với ai khác không, Vương thị thưa là không. Ông hỏi "Đã là người không trinh tiết, lẽ nào chỉ tư thông với chỉ một người?". Khai rằng "Đã dan díu với Túc Giới từ lúc nhỏ nên chưa dứt tình, chứ về sau không phải không có kẻ ve vãn, song thực chưa từng dám đi lại với ai?". Ông bảo nói rõ tên những kẻ ve vãn làm bằng chứng, Vương thị khai "Mao Đại ở cùng làng đã mấy lần gạ gẫm, nhưng đều cự tuyệt". Ông nỏi "Sao lại chợt trở nên trinh tiết như thế?", bèn sai đánh trượng. Người đàn bà rủ đầu hộc máu, song vẫn ra sức biện bạch là quả thật không có đi lại với ai khác.
Ông bèn sai thôi đánh, lại hỏi "Chồng ngươi đi vắng, chẳng lẽ không có kẻ nào kiếm cớ tới gạ gẫm à?". Vương thị đáp "Có tên Giáp, tên Ất đều lấy cớ tới mượn gạo vay tiền, có một hai lần vào nhà tiểu nhân". Đại khái tên Giáp, tên Ất đều là đám du đãng trong ngõ, cũng có tình ý với thị nhưng chưa tỏ vẻ gì. Ông ghi tên cả bọn, sai giải hết ra miếu Thành hoàng, bắt quỳ phục trước án thờ rồi nói "Đêm trước ta được thần báo mộng rằng kẻ giết người chỉ trong bốn năm đứa các ngươi. Nay trước mặt thần, không được dối trá. Nếu tự thú thì còn được giảm tội, nếu chối thì không tha thứ được". Cả bọn đồng thanh kêu là không hề làm việc giết người.
Ông sai bày hình cụ ra, chuẩn bị tra khảo, buộc tóc lột trần cả bọn, thảy đều kêu khóc là oan. Ông sai ngừng tra khảo, nói "Các ngươi đã không chịu tự thú thì để quỷ thần chỉ ra". Rồi sai người lấy chăn che các cửa sổ thật kín, bắt cả bọn cởi trần vào trong phòng tối, đưa một chậu nước bắt phải rửa tay rồi đứng im quay mặt vào vách để thần viết vào lưng kẻ có tội. Lát sau gọi cả ra để khám, ông chỉ ngay vào Mao Đại nói "Đây mới đúng là thằng giặc giết người". Đại khái là ông đã sai người bôi than lên vách, lại lấy nước pha muội đèn bắt cả bọn rửa tay. Kẻ giết người sợ thần viết vào lưng nên lén dựa lưng vào vách, lúc trở ra lại lấy tay che nên trên lưng có vệt đen. Ông vốn đã nghi Mao, đến lúc ấy giờ càng tin chắc, bèn dùng cực hình tra khảo, Mao phải khai hết sự thật. Ông bèn viết án từ rằng:
"Túc Giới theo thánh hiền noi đường đạo nghĩa, mà dâm tà thành kẻ vô lương. Chỉ vì hai trẻ dại khờ, hóa tính chuyện lành thành chuyện rủi, bởi có một lời tiết lộ, nên đứng núi nọ trông núi kia. Đã học Trọng tử trèo tường, lại giả Lưu lang vào động. Tham dâm hiếu sắc, thẹn cùng loài chuột có da, tuốt lá bẻ hoa, nhục bấy học trò vô hạnh. May mà nghe én bệnh khò khè, cũng còn tiếc ngọc, xót liễu mềm tiều tụy, chưa phải cuồng oanh. Cứ kể tha phụng trong lồng, nói là ý văn nhân cũng đúng, nhưng lại cướp giày bắt hứa, chẳng phải kẻ vô lại là gì? Cánh bướm qua tường, ngoài song có người có ý, giày sen rơi đất, trên thềm không tiếng không tăm. Trong cái giả nảy cái giả vì vậy, ngoài nỗi oan có nỗi oan ai tin? Leo tường cạy vách, làm nhơ áo mũ nhà nho, mượn mận thay đào, khó tan oán hòn kẻ sĩ. Vậy nên tha cho tội roi gậy, trừ vào lúc ở tù, tạm lột chức sinh viên, mở cho đường sửa nết." .
Còn như Mao Đại là lưu manh ngoài chợ, du đãng không nhà. Bị đàn bà chửi cho lòng dâm tà chẳng dứt, thấy trẻ con lén lút, ý giặc cướp chợt sinh. Theo gió xoay chiều hân hoan chiếc dép, mong tương được rượu lú lẫn mùi hương. Chẳng noi đạo lý giữ gìn thiên đức, cứ theo ma quỷ táng tận lương tâm. Cưỡi phứa bè sao trộm vào cung Nguyệt, qua bừa rạch nhỏ lén tới nguồn Đào. Để cho lửa dậy núi tình, sóng dâng bể dục. Vung dao đâm thẳng, ném chuột không kiêng bể đồ, thế cùng chạy đâu, phỏng lửa chi nề giật củi. Khoét vách vào nhà, mũ Trương Lý đội, ném giày giá họa, lưới cá chim sa. Trường phong lưu lại nảy đám quỷ ma, làng ôn nhu há dung loài độc ác. Phải chém đầu một kẻ, để thỏa dạ bao người.
Về phần Yên Chi thì thân chưa hứa giá, tuổi mới cập kê. Xét phận tiên nơi Nguyệt điện, phải sánh với Ngọc lang, nhưng người cũ đội Nghê thường, chi buồn không kim ốc. Thế mà cám Quan thư lại ước hảo cầu, sớm tối mộng xuân vương vấn, oán mơ rụng luống mong cát sĩ, ý tình thiếu nữ mê man. Chỉ vì một mối si tình, tới nỗi lũ gian gây nghiệt. Kể sắc tài sợ mất Yên Chi, ngại duyên phận nghĩ thương Thu Chuẩn. Hài sen đã chẳng vẹn mùi hương, cửa sắt lại khôn bền giá ngọc. Lệ tương tư mòn vóc tương tư, tới cho gây họa, lòng tình nghĩa xót niệm tình nghĩa, khiến phải oán người. Cỏ thơm giữ tiết, ngọc trắng may còn lành, ngục tối chịu oan, áo xanh mừng vẫn sạch. Vui bấy trong phòng cự tuyệt, tấm băng trong vẫn giữ với tình quân, hay sao ném quả trao lòng, cuộc phong nhã còn truyền dài kỳ sự. Mong quan Tri huyện, làm kẻ mai dong".
Vụ án kết thúc, xa gần đều truyền tụng. Từ sau khi ông Ngô phúc án, Yên Chi mới biết Ngạc hàm oan. Ra khỏi công đường thấy nhau thường nhìn Ngạc nuốt lệ, như có ý đau đớn hối tiếc nhưng chưa nói ra được. Ngạc cảm động vì mối tình của cô gái, cũng rất yêu kính, nhưng lại nghĩ nàng xuất thân hèn kém, vả lại cứ ra vào nha môn, hàng ngàn người dòm ngó chỉ trỏ, nếu cưới làm vợ e thiên hạ chê cười, cứ ngày đêm băn khoăn không dút khoát được, khi bản án được đưa xuống mới quyết ý. Quan huyện an ủi Ngạc về việc bị bắt oan, đưa trống tới mừng đám cưới của hai người.
Dị Sử thị nói: Hay làm sao! Xử kiện không thể không thận trọng vậy! Cho dù biết người này oan song ai biết kẻ kia cũng bị sự việc tuy mờ ám nhưng ắt cũng có đầu mối để nhận biết, nếu không suy xét cẩn thận thì không thể nhận ra được vậy! Than ôi! Người ta đều phục các bậc hiền minh xử án sáng suốt nhưng không biết họ dụng tâm lao khổ tới mức nào. Những kẻ trị dân trên đời cứ cuộc cờ chén rượu qua ngày, mão cao áo rộng coi việc, dân tình oan khổ cũng không chịu suy nghĩ, đến buổi gióng trống ra công đường làm việc thì ngất ngưởng ngồi cao, dân bên dưới kêu ca thì dùng roi gậy gông cùm bịt miệng, lạ gì trong chốn tối tăm còn nhiều nỗi oan khiên!
Tiên sinh Ngu Thi Sơn là thầy ta, lúc ta còn nhỏ vẫn trộm thấy mỗi khi ông khích lệ học trò thì áy náy như chưa nói hết ý, có ai hơi bị oan ức thì ra sức che chở giúp đỡ cho, không bao giờ ra oai ở học đường để dua nịnh những kẻ cầm quyền, đúng là bậc Hộ pháp trong đạo Khổng chứ không phải chỉ là kẻ chủ trì văn giáo một thời mà thôi, chấm văn không hề nghe lệnh ai mà nâng cao hạ thấp cả. Lại yêu người tài như tiếc mạng sống, các quan Học sứ ngày sau chỉ biết làm theo lệ cũ không sao bằng được . Có người danh sĩ vào trường thi, làm đề bài "Bảo Tàng dữ yên?" (Cùng với núi Bảo Tàng chăng?) lại nhớ lầm núi Bảo Tàng là sông, viết xong bài thi mới biết là lầm, nghĩ rằng thế nào cũng bị đánh rót, bèn viết thêm một bài từ rằng "Bảo Tàng ở trong núi, lại lầm thành bên sông. Đầu non cũng mọc cung Thủy tinh, san hô dài trên đỉnh, ngọc trai sáng bên cây. Quay nhìn thì trong non quả có kẻ chèo thuyền, cáo với trời xanh, đánh rớt cho rồi, để bè bạn xem chơi". Tiên sinh đọc tới đó bèn họa rằng "Bảo Tàng trong đường núi, chợt trở thành bên sông, tiều phu cứ nói lời ông chài. Tuy bài làm sai đề, nhưng văn chương lại hay, đâu nỡ xếp dưới người? Vẫn nghe kẻ lên non sợ nguy hiểm, nào gặp người thấy sông rụng rời", rồi vẫn lấy đỗ. Đó cũng là một chuyện phong nhã, một việc yêu tài của ông vậy.
280. Tiền Mưa (Vũ Tiền)
Có một người học trò ở huyện Tân Châu (tỉnh Sơn Đông) đang đọc sách trong phòng học thì có tiếng gõ cửa, ra xem thì thấy một ông già tóc bạc phơ, dáng vẻ thoát tục, bèn mời vào, hỏi họ tên. Ông già tự xưng họ Hồ tên Dương Chân, vốn là hồ tiên, vì hâm mộ ông là người cao nhã nên tới xin được kết bạn hôm sớm. Người học trò vốn tính khoáng đạt nên cũng không ngờ sợ, bèn cùng nhau bàn luận cổ kim. Ông già học rộng biết nhiều, nghị luận văn hoa hùng hồn, phun châu nhả ngọc, nói về kinh nghĩa thì lý luận sâu sắc, ý tứ lạ lùng. Người học trò rất khâm phục, giữ ông già ở lại rất lâu. Một hôm, y khẩn cầu "Ông thương ta hiền lành phúc hậu, nhưng vẫn nghèo khổ thế này, mà ông chỉ trở tay một cái là có vàng bạc ngay, sao không chu cấp cho đôi chút?". Ông già "hừ" một tiếng như thấy không được, nhưng lát sau lại cười nói "Việc đó rất dễ, nhưng phải có mười đồng tiền làm vốn". Người học trò đưa ra đủ số, ông già bèn cùng y vào phòng kín, giẫm chân đọc chú. Giây lát hàng trăm vạn đồng tiền từ xà nhà loảng xoảng rơi xuống như mưa rào, trong chớp mắt ngập tới đầu gối, rút chân lên lại ngập tới đùi, cả một căn nhà rộng mà tiền ngập tới ba bốn thước. Ông già quay lại hỏi "Ông vừa ý chưa?", y đáp "Đủ rồi". Ông già vẫy tay một cái, mưa tiền ngừng lại, rồi cùng đóng cửa cài then đi ra. Người học trò mừng thầm, cho rằng đã trở nên giàu có, nhưng lát sau vào lấy ra dùng thì gian phòng đầy tiền đã rỗng không, chỉ còn mười đồng làm vốn nằm trơ ra ở đó. Người học trò thất vọng, tức tối chữi mắng ông già lừa dối. Ông già giận dữ nói "Ta vốn là bạn văn chương chữ nghĩa chứ không định làm giặc cùng với ông. Muốn được như ý học trò nhà ông thì cứ kết bạn với bọn trèo tường khoét vách, chứ lão phu không thể vâng mệnh", rồi phẩy áo bỏ đi.
281. Hai Ngọn Đèn Lồng (Song Đăng)
Ngụy Vận Vượng người Bàn Tuyền huyện Ích Đô (tỉnh Sơn Đông) vốn là con nhà đại gia thế tộc, về sau sa sút không thể học hành, năm hơn hai mươi tuổi phải bỏ học, theo cha vợ làm nghề bán rượu. Một đêm Ngụy ngủ một mình trên lầu trong quán rượu, chợt nghe có tiếng bước chân, giật mình vùng dậy lắng tai nghe ngóng, tiếng bước chân càng gần, kế lên cầu thang càng lúc càng mau. Không bao lâu thấy có hai tỳ nữ cầm đèn lồng tới ngay đầu giường, phía sau là một thư sinh trẻ tuổi dắt một cô gái tới cạnh giường cười khẽ. Ngụy vô cùng ngạc nhiên nhưng biết ngay là hồ, toàn thân nổi gai ốc, cúi đầu không dám liếc lên. Thư sinh cười nói "Ông đừng đoán bậy, em gái ta với ông có tiền duyên, đêm nay nên thành thân". Ngụy nhìn thấy thư sinh mặt áo lông điêu rực rỡ lóa mắt, tự thẹn mình rách rưới nhơ bẩn, cúi mặt không biết đối đáp thế nào, thư sinh dắt hai tỳ nữ cầm đèn bỏ đi.
Ngụy lén nhìn cô gái, thấy lộng lẫy như tiên, trong lòng rất thích nhưng thẹn mình xấu xí, không thể cất lời suồng sã. Cô gái cười nói "Chàng không phải là bọn học trò, cần gì phải làm như lối bọn có học", Ngụy mới vui vẻ. Trời chưa sáng, hai tỳ nữ lại tới đưa cô gái đi, hẹn tối lại tới. Tối hôm sau quả nhiên cô gái lại tới, cười nói "Anh chàng ngây này có phúc gì mà không tốn một đồng lại được người vợ đẹp như thế này, tối tối tự tìm tới". Ngụy bày rượu ra cùng uống, chơi trò giấu vật trong tay đánh đố, mười lần thì cô gái thắng tới chín, bèn cười nói "Chẳng bằng để thiếp giấu cho chàng đoán, trúng thì thắng, thua thì phạt, chứ để thiếp đoán thì chắc chắn là chàng thua". Nguy theo lời, suốt đêm lấy đó làm trò vui. Nửa năm sau Ngụy về nhà, đang đêm trăng nói chuyện với vợ cạnh cửa sổ, chợt thấy cô gái ăn mặc đẹp đẽ ngồi trên đầu tường vẫy. Ngụy ra gặp, cô gái đưa tay kéo cùng leo ra ngoài rồi cầm tay Ngụy nói "Hôm nay vĩnh biệt chàng, xin tiễn nhau vài bước, gọi là tình nghĩa quen nhau nửa năm". Ngụy hoảng sợ hỏi lý do, cô gái đáp "Nhân duyên vốn có định số, cần gì phải nói". Cùng nhau chuyện trò, ra tới ngoài thôn thì hai tỳ nữ cầm đèn ngày trước đã đứng chờ, cùng nhau lên núi Nam Sơn, tới chỗ cao lại từ biệt, Nguy giữ lại không được, ba người đi luôn. Ngụy đứng thẫn thờ bàng hoàng, nhìn theo hai ngọn đèn lập loè xa dần đến lúc không thấy gì nữa mới buồn rầu trở về. Đêm ấy trên đầu núi có ánh đèn lửa, người trong thôn đều nhìn thấy.
282. Vợ Lẽ Đánh Cướp (Thiếp Kích Tặc)
Anh Mỗ nhà thế gia ở phía tây huyện thành Ích Đô (tỉnh Sơn Đông) rất giàu có, có một người thiếp rất xinh đẹp. Nhưng người vợ cả đối xử rất tàn tệ, đánh đập chửi mắng cả ngày, người thiếp vẫn hầu hạ rất kính cẩn. Mỗ thương xót, thường lén an ủi, người thiếp cũng không bao giờ tỏ lời oán hờn. Một đêm có mấy mươi tên cướp trèo tường vào phá tan cửa vách, Mỗ và vợ kinh hồn táng đảm, run cầm cập không biết làm sao. Người thiếp vùng dậy, lặng lẽ không nói một tiếng, rón rén mò trong phòng tìm được một cái đòn gánh, tung cửa xông ra. Bọn cướp dạt cả ra, người thiếp múa đòn gánh vù vù đánh ngã năm sáu tên, chúng hoảng sợ chạy tan, quýnh quáng không kịp trèo qua tường, chỉ bò lê bò càng trợn mắt há miệng, hồn phi phách tán. Người thiếp chống đòn gánh xuống đất, nhìn khắp mặt chúng cười nói "Các ngươi không đáng cho ta đánh mà cũng học làm ăn cướp, ta không giết các ngươi đâu, giết thì mang tiếng ta", rồi tha cho cả bọn về.
Mỗ cả sợ, hỏi sao biết võ nghệ, người thiếp đáp "Cha thiếp là thầy dạy võ, thiếp học được hết tài nghệ của cha, cho dù trăm người cũng địch được". Vợ Mỗ rất sợ, lại hối hận ngày thường mê muội không biết người, từ đó lúc nào cũng hòa nhã với người thiếp, nhưng người thiếp vẫn kính cẩn như cũ. Đàn bà láng giềng có người hỏi "Bà chị đánh lũ cướp như đánh heo đánh chó, sao trước đây lại cam cúi đầu chịu roi vọt?", người thiếp đáp "Đó là số phận của ta, chuyện khác làm sao dám nói". Người nghe chuyện đều khen là hiền đức.
Dị Sử thị nói: Thân mang võ nghệ cao cường mà suốt mấy năm không ai biết, sau cùng lại đánh cướp ngăn họa, biến chim ưng thành chim cưu. Than ôi! Kẻ bắn trúng chim trĩ mới thấy vợ nhà cười, người đánh bạc thắng nên công chúa mới cùng về*, giỏi mà không thể cậy tài tự cho là mình giỏi cũng như thế chăng?
* Biến chim ưng... cùng về: biến chim ưng thành chim cưu là chữ trong Lễ ký, Nguyệt lệnh, nói chim cưu ưng có thể biến hóa, lúc giết mồi kiếm ăn bình thường thì hóa thành chim cưu, lúc phải giết đối phương để tự vệ mới hóa thành chim ưng, dùng ví với người nhân đức, đây chỉ việc người thiếp tha chết cho bọn cướp. Kẻ bắn trúng chim trĩ lấy tích Giả Đại phu nước Lỗ thời Xuân thu xấu trai mà cưới vợ đẹp, ba năm liền nàng không cười không nói, Giả Đại phu dong xe đưa nàng tới đất Như Cao, bắn được con chim trĩ, lúc ấy nàng mới tươi cười. Người đánh bạc thắng lấy tích Tiết Vạn Triệt cưới Đơn Dương công chúa con Đường Thái Tông, nhưng là người rất ngây ngốc nên công chúa hổ thẹn, mấy tháng liền không chịu ngủ chung. Thái Tông nghe biết phì cười, đặt tiệc gọi tất cả các con rể tới sai cùng đánh bạc, rồi giả thua rút thanh bội đao đeo ở lưng ra "gán" cho Vạn Triệt, lúc ấy công chúa mới vui mừng bảo Vạn Triệt lên ngồi cùng xe về nhà.
Phụ: Một Truyện Trong Trì Bắc Ngẫu Đàm(Trì Bắc Ngẫu Đàm Nhất Tắc)
Anh Mỗ ở phía tây huyện thành Ích Đô có người thiếp rất đẹp nhưng gặp vợ cả tàn ác, ngày nào cũng đánh đập chửi mắng, người thiếp chịu đựng không hề oán thán. Một đêm bọn cướp vào nhà, vợ chồng hoảng sợ không biết làm sao, người thiếp ngầm tìm được một cây gậy, mở cửa xông ra, múa gậy đánh ngã mấy tên, bọn còn lại bỏ chạy, hết. Người thiếp lớn tiếng quát "Bọn chuột không đáng làm bẩn gậy của ta, tha cho chúng bay đấy, lần sau đừng tới tìm cái chết". Bọn cướp chạy rồi, người chồng hỏi học võ ở đâu, mới biết rằng cha người thiếp học võ ở chùa Thiếu Lâm, dạy lại cho con gái, hàng trăm người cũng không địch nổi. Hỏi tại sao chịu im lặng để vợ cả đày đọa, đáp "Đó là số phận, đâu dám nói gì!". Từ đó vợ chồng đều yêu thương nàng, hàng xóm láng giềng càng thêm kính trọng. Nay vẫn còn sống.
283. Bắt Hồ Bắn Quỷ (Tróc Hồ Xạ Quỷ)
Ông Lý Trứ Minh là con tiên sinh Khâm Trác, Tri huyện Tuy Ninh (tỉnh Giang Tô), tính hào sảng can đảm, có anh rể là tiên sinh Vương Quý Lượng ở huyện Tân Thành (tỉnh Sơn Đông). Nhà Vương tiên sinh có nhiều lầu gác, vẫn thường thấy chuyện quái dị. Có lần mùa hè ông tới đó chơi, ưa thích trên gác mát mẻ. Chủ nhân kể cho nghe chuyện quái dị để can, ông cười không tin, cứ bắt dọn giường trên gác. Chủ nhân chiều ý, sai đầy tớ tới ngủ cùng, ông từ chối nói chỉ thích ngủ một mình, mà bình sinh chẳng sợ chuyện quái dị. Chủ nhân bèn sai đốt hương trong lò, sắp xếp đâu đấy mới tắt đèn đóng cửa đi.
Ông nằm hồi lâu dưới ánh trăng, chợt thấy ấm trà trên bàn cứ lắc lư xoay vòng, không rơi xuống đất mà cũng không dừng lại. Ông quát lớn thì nó lạch cạch dừng lại, nhưng lại như có người rút mớ hương trong lò ra khua lên, ánh lửa như hoa bay tán loạn. Ông vùng dậy quát "Đồ yêu quái nào hỗn láo thế?", rồi cởi trần nhảy xuống giường định ra đuổi bắt. Nhưng lấy chân khua dưới giường chỉ được có một chiếc giày, ông cũng không tìm nữa, chạy chân không ra chỗ mớ hương đang khua khoắng. Mớ hương lại cắm trở lại vào lò, yên ắng như cũ không có gì lạ. Ông khom người mò tìm chiếc giày trong gầm giường, chợt bị một vật ném trúng giữa trán, thấy như là chiếc giày song bò ra đất tìm mà không thấy đâu. Bèn mở cửa xuống lầu, gọi người hầu đốt củi làm đuốc lên tìm vẫn không thấy, lại lên nằm ngủ lại.
Đến sáng, sai mấy người đi tìm chiếc giày, giở nệm kéo giường ra cũng không thấy, chủ nhân phải đưa giày cho ông mang. Hôm sau tình cờ ngẩng đầu nhìn thì thấy có chiếc giày dính trên xà nhà, khều xuống thì là giày của ông. Ông là người huyện Ích Đô, tới ngụ ở nhà họ Tôn trong huyện Truy (tỉnh Sơn Đông). Nhà rất rộng nhưng đều bỏ không, ông chỉ ở có một phía. Phía kia là gác cao, chỉ cách một bức tường, thỉnh thoảng lại thấy cửa gác tự mở ra đóng lại, ông cũng không để tâm. Một hôm tình cờ đang nói chuyện với đám người nhà ở sân, cửa gác chợt mở ra, có một người bé nhỏ ngồi quay mặt nhìn ra ngoài, cao chưa đầy ba thước, áo xanh quần trắng, mọi người chỉ trỏ nhìn ngó cũng không động đậy. Ông nói "Đây là hồ rồi", vội lấy cung tên chĩa vào gác định bắn. Người bé nhỏ ấy nhìn thấy, cười khành khạch mấy tiếng rồi biến mất. Ông cầm đao leo lên gác, vừa mắng vừa tìm nhưng không thấy đâu bèn trở xuống. Từ đó trong gác không còn sự quái dị nữa, ông ở mấy năm yên ổn không có chuyện gì. Con trưởng của ông là Hữu Tam, là thông gia với ta chính mắt thấy chuyện này.
Dị Sử thị nói: Ta sinh sau đẻ muộn không được theo hầu ông, nhưng nghe các bậc phụ lão kể lại thì rõ ràng là bậc trượng phu khẳng khái cương nghị, xem hai chuyện trên đây có thể thấy được đại khái. Giữ được cái khí hạo nhiên thì hồ quỷ có làm gì được.
284. Ma Mời Tiệc (Quỷ Tác Diên)
Tú tài Đỗ Cửu Uyển có vợ bị bệnh, gặp ngày tiết Trùng dương bạn bè rủ cùng đi chơi. Đỗ dậy sớm rửa mặt, nói rõ với vợ sẽ đi tới đâu rồi mặc áo đội mũ định ra đi, chợt thấy vợ ngất đi, lẩm bẩm như nói chuyện với ai khác. Đỗ lấy làm lạ, tới cạnh giường hỏi, vợ gọi Đỗ là con, người nhà đều lạ lùng. Lúc ấy quan tài của mẹ Đỗ còn quàn chưa chôn, Đỗ ngờ rằng hồn mẹ không vừa ý bèn khấn "Có phải là mẹ không?". Vợ mắng "Đồ súc sinh, không nhận ra cha ngươi à?". Đỗ nói "Nếu là cha, sao lại ám vợ con?". Vợ gọi tên Đỗ lúc còn nhỏ, nói "Ta chỉ vì vợ ngươi mà tới đây, sao lại oán hờn hả? Lẽ ra vợ ngươi phải chết rồi, đã có bốn người tới bắt. Người đứng đầu bọn họ là Trương Hoài Ngọc, ta phải hết sức năn nỉ mới được họ bỏ qua. Ta hứa là biếu họ chút ít, ngươi phải lo đấy". Đỗ theo lời, ra cổng đốt giấy tiền vàng bạc, vợ lại nói "Bốn người đi rồi, họ không nỡ làm ta mất mặt, sau ba ngày phải mở tiệc mời mới được. Mẹ ngươi già nua chậm chạp, không thể lo việc bếp núc, đến hôm ấy lại phải làm phiền vợ ngươi đi cho một chuyến". Đỗ nói "Âm dương hai nẻo khác nhau, làm sao mà nấu nướng thay được, xin cha miễn cho". Vợ nói "Ngươi đừng sợ, đi rồi lại về thôi, đây là việc lớn, đừng ngại vất vả". Nói xong im bặt, hồi lâu mới tỉnh.
Đỗ hỏi thì vợ không nhớ vừa rồi nói gì, chỉ đáp "Vừa rồi có bốn người tới bắt ta, may có cha năn nỉ xin, lại dốc hết vàng bạc trong túi ra biếu, họ mới đi. Ta thấy trong túi cha còn sót hai nén vàng, định ăn cắp một nén để chi dùng, cha nhìn thấy quát 'Ngươi định làm gì đấy? Vàng này mà ngươi dùng được à?', ta rút tay lại không dám nhúc nhích". Đỗ vì vợ bệnh nặng nên nghe thế nửa tin nửa ngờ. Ba hôm sau đang chuyện trò với nhau, vợ Đỗ chợt trợn mắt hồi lâu rồi nói "Vợ ngươi tham lắm, hôm trước thấy vàng của ta lại định ăn cắp. Nhưng vì nghèo quá nên làm như thế, cũng không trách được. Bây giờ ta đưa vợ ngươi đi nấu nướng giúp, đừng lo gì cả". Nói xong thì nhắm mắt đứt hơi, được nửa ngày mới sống lại, nói với Đỗ rằng "Mới rồi cha gọi ta đi, nói 'Chẳng cần con đích thân làm lụng, ta đã có người nấu nướng rồi, chỉ cần con ngồi đó sai bảo là được. Cha ở dưới may mà cũng giàu có, mọi vật dùng đưa ra tiếp khách ngươi phải để ý giữ gìn'. Ta vâng dạ, xuống tới nhà bếp thấy hai người đàn bà cầm đao chặt thịt, ăn mặc đẹp đẽ gọi ta là chị dâu. Món nào sắp bưng lên đều mời ta tới xem qua trước. Bốn người hôm nọ đều ngồi trên tiệc, ăn uống xong rồi, chén bát rửa sạch cất hết, cha mới bảo ta về". Đỗ lấy làm lạ, thường kể cho bạn bè nghe.
285. Diêm Vương (Diêm La)
Tú tài Lý Trung Chi ở Lai Vu (thuộc tỉnh Sơn Đông) tính ngay thẳng thành thật, cứ vài ngày lại chết đi nằm cứng đơ như cái xác, ba bốn ngày mới tỉnh lại. Có người hỏi lúc chết đi gặp những gì, Lý đều giấu kín không nói ra. Lúc ấy có Trương sinh cũng vài ngày lại chết đi một lần, nói với người ta rằng "Lý Trung Chi là Diêm Vương đấy. Ta xuống âm ty cũng làm thuộc lại của ông ta", lại kể rõ cả biển ngạch câu đối trong cung điện dưới đó. Có người hỏi vừa rồi Lý xuống âm ty làm gì, Trương đáp "Không nói rõ được, nhưng có việc là ông đi khám ngục Tào Tháo, lại phạt đánh hai mươi trượng".
Dị Sử thị nói: Một cái án của A Man* nghĩ chắc trải qua vài mươi đời Diêm Vương rồi. ở dưới đó thì lại đầu thai làm súc vật hay quăng vào vạc dầu núi kiếm cũng đâu thiếu cách, tội nào lại chẳng trị được, cần gì phải giam lâu, mà mấy ngàn năm vẫn chưa xử được, vì sao thế nhỉ? Hay là kẻ tù nhân chịu hình phạt rồi thì án đã quyết, nên làm thế để y có muốn chết cũng không được chăng? Lạ thật?
*A Man: tên tự của Tào Tháo, Thừa tướng cuối thời Đông Hán, sử sách xưa coi là kẻ gian hùng lấn hiếp Thiên tử.
286. Hoa Sen Mùa Lạnh (Hàn Nguyệt Phù Dung)
Ở Tế Nam (tỉnh thành Sơn Đông) có một đạo nhân, không biết quê quán ở đâu, cũng không rõ tên họ là gì. Mùa đông mùa hè đều chỉ mặc một chiếc áo đơn, thắt dây lưng màu vàng, chẳng có áo quần gì khác, vẫn dùng nửa cái lược chải tóc, chải xong thì giắt luôn vào búi tóc như đội mũ. Ban ngày đi chân không ra chợ, tối thì ngủ ở đầu đường, băng tuyết cách người mấy thước đều chảy tan thành nước. Buối đầu mới tới vẫn làm phép thuật cho ngườí ta xem, người trong chợ tranh nhau cho tiền.
Trong chợ có tên vô lại đem rượu tới xin truyền phép cho, nhưng đạo nhân không chịu. Gặp lúc đạo nhân tắm ở bến sông, y tới vơ hết quần áo để bắt ép. Đạo nhân chắp tay vái, nói "Xin trả lại áo quần, ta không tiếc gì mà không truyền phép thuật". Tên vô lại sợ ông nói dối, không chịu đưa trả. Đạo nhân hỏi "Thật không chịu trả phải không?", y đáp "Đúng thế!". Đạo nhân im lặng không nói gì nữa, chợt thấy chiếc dây lưng màu vàng biến thành con rắn to vài gang tay, quấn quanh sáu bảy vòng, trừng mắt cất đầu thè lưỡi nhìn y. Y hoảng sợ ngã khuỵu xuống đất, tái mặt đứt hơi xin tha mạng. Đạo nhân cầm lấy thì chiếc thắt lưng vẫn là thắt lưng, không phải là rắn, chỉ có một con rắn khác ngoằn ngoèo bò vào thành. Vì thế đạo nhân càng nổi tiếng, các nhà quyền quý nghe chuyện lạ đều mời mọc giao du.
Từ đó đạo nhân thường qua lại nhà các bậc tai mắt, quan lại trong hạt nghe danh, mỗi khi hội họp yến tiệc cũng mời đi cùng. Một hôm, đạo nhân mời các quan ăn tiệc ở thủy đình để đáp lễ. Đến ngày hẹn, người nào cũng nhận được thư mời đặt trên bàn, nhưng không biết từ đâu tới. Khách khứa tới nơi hẹn, đạo nhân cung kính ra đón, nhưng vào trong, thấy thủy đình trống không vắng vẻ, bàn ghế cũng chưa kê, có người ngờ là dối trá. Đạo nhân nói với các quan rằng "Bần đạo không có người hầu, xin các ông cho mượn vài vị tùy tùng giúp đỡ chút việc", các quan đều ưng thuận. Đạo nhân vẽ hai cánh cửa lên vách rồi lấy tay gõ bên trong có tiếng người đáp, bèn mở then nâng cửa lên. Mọi người chen lên nhìn ngó, thấy bên trong nườm nượp người đi lại ghế bàn màn trướng đều đầy đủ, kế có người chuyển tất cả ra ngoài cửa. Đạo nhân sai bọn người hầu của các quan đón lấy bày ra trong đình, lại dặn đừng nói chuyện với những người bên trong, bên trao bên nhận, chỉ nhìn nhau cười mà thôi. Giây lát mọi thứ bày ra khắp đình, vô cùng xa hoa lộng lẫy.
Kế đó là rượu ngon thơm phức, chả nướng nóng bỏng đều từ trong vách đưa ra, khách không ai không ngạc nhiên hoảng sợ. Ngôi thủy đình vốn kề bên hồ, cứ đến tháng sáu hàng năm thì hoa sen trải khắp vài mươi khoảnh, nhìn không thấy bờ. Nhưng bấy giờ đang giữa mùa đông, ngoài cửa sổ chỉ có khói xanh mịt mờ. Một viên quan chợt thở dài nói "Hôm nay vui vẻ thế này, mà tiếc là không có hoa sen Tô điểm?", mọi người cùng ồ lên tán đồng. Giây lát một người hầu chạy vào bẩm lá sen đã mọc đầy hồ rồi. Cả tiệc đều kinh ngạc, đẩy cửa sổ nhìn, quả thấy màu xanh ngút mắt, trong có những nụ sen chen lẫn. Trong chớp mắt, muôn cành ngàn đóa nhất tề nở rộ, gió bấc thổi tới, hương sen thấm vào tới tận tim óc, mọi người đều lấy làm lạ lùng. Sai một người lại dịch chèo thuyền ra hái sen, xa xa nhìn thấy thuyền vào sâu trong đám hoa, giây lát lại thấy chèo thuyền trở ra, tay không lên đình. Quan hỏi, người lại dịch thưa rằng "Tiểu nhân cưỡi thuyền tới, thấy hoa sen ở xa, gần tới bờ bắc ngoảnh lại lại thấy hoa sen xa xa phía nam". Đạo nhân cười nói "Đó chỉ là hoa giả trong ảo mộng thôi!". Không bao lâu tiệc tàn, gió bấc nổi mạnh thổi gảy hết cọng sen không còn sót cây nào.
Quan Quan sát sứ Tế Đông thích lắm, đưa đạo sĩ về dinh, hàng ngày trò chuyện vui chơi với nhau. Một hôm, quan cùng khách uống rượu. Quan vốn có thứ rượu ngon gia truyền, mỗi lần chỉ lấy ra một đấu. Hôm ấy khách uống thấy ngon, nài nỉ dốc vò uống cho hết, quan nhất định không nghe, chối từ là hết rồi. Đạo nhân cười nói với khách "Các ông muốn uống cho đã thèm, cứ hỏi bần đạo là được". Khách xin đưa ra. Đạo nhân cầm cái bầu bỏ vào tay áo, giây lát lấy ra rót cho tất cả khách khứa, so với rượu của quan thì không có gì khác. Quan ngờ vực, vào xem lại vò rượn, thì dấu niêm phong vẫn như cũ mà bên trong không còn gì. Trong lòng vừa thẹn vừa giận, bắt đạo sĩ cho là yêu quái, sai đánh đòn. Trượng vừa đập xuống, quan cảm thấy đùi chợt đau buốt, lại đánh trượng nữa, mông như rách toác ra. Tuy đạo nhân kêu la dưới thềm, mà Quan sát tóe máu trên ghế. Bèn thôi đánh trượng, đuổi đạo nhân đi. Đạo nhân bèn rời khỏi đất Tế, không biết là đi đâu. Sau có người gặp ở Kim Lăng, vẫn ăn mặc như xưa, hỏi thăm chỉ cười mà không đáp.
287. Dương Vũ Hầu (Dương Vũ Hầu)
Dương Vũ hầu Tiết Lộc là người ở đảo họ Tiết. Cha là ông Tiết, rất nghèo, chăn trâu cho nhà giàu trong làng. Chủ có đám ruộng bỏ hoang, ông chăn trâu ở đó cứ thấy rắn và thỏ đánh nhau trong bãi cỏ rậm nên lấy làm lạ, xin chủ cho khoảnh đất ấy để chôn cất cha mẹ, nhân lợp một gian nhà tranh ở luôn tại đó. Vài năm sau vợ ông lâm bồn, gặp lúc mưa lớn, có hai viên Chỉ huy sứ vâng mệnh ra thanh tra hải đạo đi ngang, ghé vào tránh mưa dưới chái nhà. Thấy trên nóc nhà có đàn quạ tụ họp, tranh nhau xòe cánh che những chỗ mái bị dột, họ lấy làm lạ lùng. Kế đó ông bước ra, họ hỏi vừa rồi làm gì trong nhà, ông thưa về việc vợ sinh nở. Họ lại hỏi sinh con trai hay con gái, ông đáp "Con trai". Hai viên Chỉ huy rất hoảng sợ, nói "Thế thì đứa nhỏ này ắt rất quý hiển, nếu không làm sao mà được hai viên Chỉ huy sứ bọn ta giữ gìn cho ngoài cửa?", tấm tắc khen ngợi rồi đi.
Khi hầu lớn lên, mặt mày dơ dáy mũi dãi lòng thòng, chẳng có gì là thông minh đĩnh ngộ. Họ Tiết trong đảo vốn thuộc sổ quân, một năm tới lượt nhà ông Tiết cắt ra một đinh đi đóng thú ở huyện Liêu Dương (tỉnh Liêu Ninh), con trai lớn của ông rất lo lắng. Năm ấy hầu mười tám tuổi, ai cũng cho là ngốc nghếch không chịu gả con gái cho, chợt nói với anh rằng "Anh hai cứ thở dài sườn sượt, có phải vì việc đi lính không?" người anh đáp "Đúng thế". Hầu cười nói !Nếu anh chịu gả đứa tớ gái cho em, em sẽ đi thay anh". Người anh mừng rỡ, lập tức đem người tớ gái gả cho, hầu đưa cả vợ lên đường tới nơi đóng thú. Vừa đi được vài mươi dặm chợt gặp cơn mưa rào, bên đường có sườn núi cao, hai vợ chồng chạy mau tới đó tránh mưa. Giây lát mưa tạnh lại tiếp tục lên đường, đi được một đoạn thì đá núi lở ra rơi xuống, người ở đó nhìn thấy có hai con cọp nhảy ra đuổi sát tới hai người thì biến mất. Hầu từ đó khỏe mạnh phi thường, phong thái khác hẳn trước, sau nhờ quân công được phong tước Dương Vũ hầu, con cháu được thế tập.
Đến niên hiệu Thiên Khải, Sùng Trinh (1621-1627 và 1628-1643) thời Minh, hậu duệ là ông Mỗ tập tước, chết không có con trai, vợ đang có mang nên tạm lấy người ngành thứ thay. Phàm những nhà thế gia như vậy nếu vợ có mang phải báo lên triều đình, nên quan sai bà đỡ tới chăm sóc vợ ông, đến khi sinh nở xong mới thôi. Hơn một năm, phu nhân sinh được một gái, nhưng sinh rồi mà bụng vẫn đau quặn, mãi mười lăm năm sau, thay tới mấy bà đỡ nữa mới sinh ra một trai, lại được tập tước hầu của ngành trưởng. Ngành thứ đồn ầm lên rằng đó không phải là con ông Mỗ, quan bèn bắt tất cả các bà đỡ, gông cùm gạn hỏi trăm cách vẫn không ai nói gì khác, việc tập tước mới xong.
Phụ: Một Truyện Trong Trì Bắc Ngẫu Đàm (Trì Bắc Ngẫu Đàm Nhất Tắc)
Cẩn quốc Trung Vũ công Tiết Lộc thời Minh là người huyện Giao Châu (tỉnh Sơn Đông). Cha sống trên đảo, chăn dê cho người ta, thường nghe ở chỗ thả dê có tiếng chuông trống dưới lòng đất vọng lên, biết đó là đất quý, dặn anh em Trung Vũ rằng "Ta chết rồi phải đem chôn ở đó", về sau các con làm như lời cha dặn. Lâu sau triều đình tuyển quân đi đóng thú ở Bắc Bình (thành Liêu Dương), người anh không chịu đi, Trung Vũ còn trẻ xin đi thay. Về sau theo quân dẹp loạn làm tới chức Đại Tướng quân, phong Dương Vũ hầu, lúc chết được truy phong Cẩn quốc công. Đất ông ở nay có tên là đảo họ Tiết (Tiết gia đảo)
288. Nát Rượu (Tửu Cuồng)
Mục Vĩnh Định là Cống sinh ở Giang Tây, hay say sưa bét nhè, họ hàng làng xóm đều không ưa. Có lần tình cờ tới nhà chú họ chơi, Mục là người ưa đùa giỡn, giỏi khôi hài nên khách khứa chuyện trò với y thích lắm, mới cùng nhau uống say khướt. Mục say rồi, chửi ráo tất cả khách khứa, mọi người nổi giận, cả bàn chửi mắng ầm ĩ, người chú đích thân ra khuyên giải đôi bên, Mục cho rằng ông có ý thiên lệch, khách khứa càng giận dữ. Người chú không biết làm sao, phải chạy tới nhà Mục báo tin. Người nhà tới dìu về, khi đỡ lên giường thì tay chân Mục đều rũ ra, vỗ gọi thì đã tắt hơi chết rồi.
Mục chết, thấy có hai người mũ đen trói giải đi, giây lát tới một nơi công thự lợp ngói trắng, tráng lệ hơn hẳn thế gian. Vào dưới thềm, thấy như còn chờ quan ra, tự nghĩ mình có tội gì đâu, có lẽ là đám khách kia kiện việc say rượu cãi nhau, quay nhìn hai người mũ đen thì thấy họ giận dữ mắt long sòng sọc nên không dám hỏi. Nhưng lại nghĩ mình là Cống sinh, cãi vả với người ta chắc cũng chẳng bị kết tội nặng. Chợt trên thềm có một viên lại ra nói lớn là những người kiện tụng sáng mai phải tới sớm. Lúc ấy những người dưới thềm nhốn nháo kéo ra như chim thú tan hàng, Mục cũng theo hai người mũ đen đi ra, nhưng không biết về đâu, cứ rụt cổ đứng dưới chái nhà bên chợ.
Hai người mũ đen giận dữ nói "Thằng vô lại nát rượu này, trời chiều rồi, ai cũng đi tìm chỗ ăn chỗ ngủ, ngươi định về đâu?". Mục run rẩy đáp "Ta không biết có chuyện gì, chưa hề nói với người nhà nên chẳng có đồng nào trong túi, còn biết về đâu được?". Hai người mũ đen nói "Thằng giặc uống rượu làm càn kia, ngươi uống rượu thì phải có tiền chứ, còn lôi thôi thì ta đập nát xương bây giờ". Mục cúi đầu không dám đáp, chợt một người trong cửa bước ra, thấy Mục kinh ngạc hỏi "Sao người lại tới đây?", Mục nhìn ra thì là cậu ruột mình. Cậu Mục họ Giả, đã chết mấy năm rồi, Mục nhìn thấy mới chợt hiểu ra là mình đã chết, càng thêm buồn sợ, chỉ sa nước mắt nói "Cậu cứu cháu với!". Giả nhìn qua hai người mũ đen nói "Đông Linh không phải ai lạ, xin mời vào tệ xá chơi", hai người bèn vào.
Giả đối xử với hai người rất cung kính, tiếp đón nồng hậu. Giây lát cơm rượu dọn ra, tất cả cùng ngồi vào bàn. Giả hỏi "Thằng cháu ta có việc gì mà lại phiền tới hai vị phải đi bắt?". Hai người mũ đen đáp "Đại vương tới chỗ Thái thượng lão quân, trên đường trông thấy lệnh điệt say rượu chửi bới bậy bạ, nên sai bọn ta bắt về đây". Giả hỏi đã gặp đại vương chưa, họ đáp "Thái thượng Lão quân xử án Hoa Tử* nên đại vương chưa về". Giả lại hỏi thằng cháu ta sẽ bị khép tội gì, họ đáp "Chưa biết chắc, nhưng đại vương rất ghét hạng người như thế này". Mục ngồi bên cạnh nghe hai người nói sợ toát mồ hôi, không ăn uống gì nổi. Không bao lâu, hai người mũ đen đứng dậy cám ơn nói "ăn uống no say rồi, xin gởi lệnh điệt lại đây, khi nào đại vương về sẽ tới thăm ông lần nữa", rồi chào đi.
* án Hoa Tử: nguyên văn là "hội Hoa Tử án", chưa rõ ý nghĩa, đây tạm dịch như trên.
Giả nói với Mục "Cháu không có anh em gì nên cha mẹ cưng chiều quá, không nỡ mắng một tiếng. Năm mười sáu mười bảy tuổi cứ uống vài chén rượu rồi là lằm bằm đi tìm người nói chuyện dông dài, hơi trái ý thì đập cửa xoay trần ra chửi mắng, nhưng lúc ấy còn có thể nói là trẻ con, tha thứ được. Không ngờ xa nhau hơn chục năm, cháu vẫn chứng nào tật nấy, bây giờ biết làm sao được!". Mục lạy phục xuống đất khóc lóc, chỉ nói là hối hận không kịp. Giả kéo dậy nói "Cậu bán rượu ở đây cũng có chút ít tiếng tăm, dĩ nhiên phải hết sức giúp đỡ. Hai người uống rượu vừa rồi là Đông Linh sứ giả, cậu thường mời họ uống rượu, họ cũng thân thiết với cậu. Đại vương mỗi ngày có hàng ngàn việc cũng chưa chắc đã nhớ tới chuyện này. Ta dịu ngọt năn nỉ xin họ nể mặt tha cháu, có khi họ nghe".
Rồi lại ngẫm nghĩ, nói "Chuyện này khá lớn, phải tốn mười vạn mới xong được". Mục cám ơn, nói rằng tốn kém bao nhiêu xin chịu hết, Giả ưng thuận. Rồi đó Mục ngủ lại nhà cậu. Sáng hôm sau hai người mũ đen tới, Giả mời vào phòng kín nói chuyện một lúc rồi trở ra nói với Mục rằng "Xong rồi. Chỉ lát nữa cháu sẽ được trở về, ta đã hứa đặt tiền cọc trước, số còn lại khi nào cháu về tới nhà cứ thong thả gởi xuống". Mục mừng rỡ hỏi "Cả thảy là bao nhiêu?", Giả đáp "Mười vạn đồng". Mục nói "Cháu lấy đâu ra bấy nhiêu tiền được". Giả nói "Chỉ cần một trăm xấp giấy tiền vàng bạc là đủ mà". Mục mừng rỡ nói "Nếu thế thì dễ thôi". Chờ đến trưa, hai người mũ đen vẫn không quay lại, Mục muốn ra chợ chơi. Giả dặn là đừng đi xa, Mục vâng dạ rồi đi. Nhìn thấy phố xá buôn bán chẳng khác gì ở nhân gian, tới một chỗ nọ có tường vây bọc bốn phía giống như nhà tù, đối diện có một quán rượu, người ra vào tấp nập.
Ngoài quán rượu có một dòng suối dài, nước đen ngòm chảy cuồn cuộn không biết sâu cạn thế nào. Mục còn đang thơ thẩn nhìn ngó, chợt nghe một người trong quán rượu gọi "Ông Mục sao lại tới đây?". Mục vội ngoảnh nhìn, thì là một người láng giềng, mười năm trước còn sống vẫn làm bạn văn chương với nhau. Người ấy rảo bước ra nắm tay Mục, vui vẻ như lúc còn sống, rồi kéo vào quán rượu thăm hỏi lẫn nhau. Mục đang lúc có chuyện vui mừng, lại gặp người quen cũ nên cứ cạn chén liên tiếp, lát sau say rồi quên mình đã chết, lại giở thói cũ ra, dần dần lè nhè. Người bạn nói "Mấy năm không gặp, ngươi vẫn thế à?". Mục rất ghét người ta khuyên răn về việc cư xử lúc uống rượu nghe người bạn nói càng tức đập bàn chửi bới. Người bạn trợn mắt nhìn rồi phẩy tay áo bỏ ra, Mục đuổi theo tới đầu dòng suối, giật mũ người bạn. Người bạn tức giận nói "Đúng là đồ tồi!", rồi xô Mục xuống suối, suối không sâu mấy nhưng dưới đáy đầy đao bén cắm lởm chởm như chông đâm vào chân, Mục đứng chết cứng không cựa quậy gì được, thấy đau buốt tới tận óc. Làn nước đen trộn lẫn cả cứt đái nhơ bẩn, há miệng thở thì phải nuốt, không sao tránh được.
Người trên bờ đứng xem chen chúc như bức tùững chỉ trỏ cười nói nhưng chẳng một ai xuống kéo lên. Đang lúc nguy cấp, Giả chợt tới, nhìn thấy cả sợ, vội kéo lên dắt về nói "Ngươi thật chẳng ra sao, chết rồi mà chưa tỉnh ngộ, không đáng sống lại làm người nữa, xin cứ theo Đông Linh mà chịu tội". Mục cả sợ, khóc nói đã biết tội rồi. Giả mới nói "Mới rồi Đông Linh tới đây, chờ ngươi để làm giao kèo, người lại say sưa không về, ta sợ họ không chờ được, đã lập giao kèo đưa cho họ một ngàn quan tiền rồi, số còn lại hẹn trong một tuần, người về rồi phải trả gấp. Cứ buổi tối ra bãi cỏ ngoài thôn, gọi tên cậu mà đốt giấy tiền vàng bạc, thì chuyện này kể như xong". Mục hứa sẽ theo đúng lời, Giả bèn giục lên đường, đưa ra tới ngoài thành, lại dặn "Đừng nuốt lời làm lụy tới ta!", rồi chỉ đường cho về.
Lúc ấy Mục đã chết cứng ba ngày, người nhà cho là say chết, nhưng hơi thở vẫn mong manh như sợi tơ. Ngày hôm ấy sống lại, nôn một trận ra mấy đấu nước đen, hôi thối không sao chịu nổi. Nôn mửa xong thì toát mồ hôi ướt đẫm cả chăn nệm, mới thấy tỉnh táo. Kể lại chuyện lạ với người nhà, lại thấy chỗ bị đao đâm đau buốt, qua hôm sau thành mụn lở, còn may là không thối thịt, được mười ngày đã có thể chống gậy đi lại. Người nhà cùng xin trả nợ âm phủ, Mục tính lại thấy tốn tới mấy đồng vàng, lại đâm tiếc rẻ, nói "Vừa rồi có lẽ là say nên mơ thấy chuyện hư ảo, mà nếu không phải thế thì họ vì lợi riêng mà tha cho ta, làm sao dám nói cho Diêm Vương biết?". Người nhà khuyên can vẫn không nghe, nhưng trong lòng cũng sợ sệt, không dám uống rượu nữa.
Làng xóm cũng có người mừng là đã sữa đức, thỉnh thoảng mời uống rượu. Được hơn năm Mục dần dần quên món nợ ở âm phủ, bắt đầu buông thả nên thói cũ lại nay sinh. Một hôm uống rượu ở nhà vợ con trai lại chửi mắng khách khứa, chủ nhân đánh cho một trận rồi tống cổ ra ngoài, đóng chặt cửa lại. Lúc Mục bò lê bò càng con trai mới biết, dìu cha về nhà. vào tới phòng Mục lại quay mặt vào vách lạy rạp xuống như giã gạo nói "Xin trả nợ ông.". Nói xong lăn ra đất, nhìn tới thì đã đứt hơi chết rồi.
289. Nghề Võ (Vũ Kỹ)
Lý Siêu tự Khôi Ngô, người ở phía tây huyện Truy (tỉnh Sơn Đông), tính rộng rãi hay bố thí cho sư. Có nhà sư tới khất thực, Lý cho ăn no. Nhà sư rất cảm ơn, lại nói "Ta xuất thân từ chùa Thiếu Lâm, có chút nghề mọn xin truyền lại". Lý mừng rỡ, mời ở lại nhà khách, đãi đằng trọng hậu, sớm tối theo học, ba tháng đã khá giỏi, rất đắc ý. Nhà sư hỏi ngươi thấy có ích không, Lý đáp "Được thêm nhiều lắm. Sư phụ có bao nhiêu tài nghệ ta đã học được cả". Nhà sư cười, bảo Lý ra múa thử. Lý cởi áo xoa tay, rồi như vượn chuyền chim đáp, múa may một hồi, lại nghênh ngang dừng lại. Nhà sư lại cười nói "Được rồi, người đã học được hết tài nghệ của ta, vậy hãy thử đấu một trận để phân cao thấp". Lý vui vẻ, lập tức ra đấu, đôi bên giao quyền, Lý cứ nhân chỗ sơ hở tấn công tới tấp. Nhà sư chợt xoay chân phóng ra một cước, Lý trúng đòn văng ra hơn một trượng. Nhà sư vỗ tay nói "Ngươi còn chưa học được hết tài nghệ của ta mà". Lý chống tay gượng bò dậy, thẹn thùng xin dạy cho.
Được vài hôm, nhà sư từ biệt ra đi. Sau Lý tình cờ tới huyện Lịch Hạ (tỉnh Sơn Đông), gặp một người cô trẻ tuổi múa võ trong bãi đất, người xem đông nghẹt. Ni cô nói với mọi người rằng "Múa may một mình rất là loạc choạc, nếu ai thích xin cứ ra đấu thử cho vui". Nói thế mấy lần mà người xem cứ nhìn nhau, khộng một ai lên tiếng. Lý đứng bên cạnh ngứa nghề không nhịn được, hăng hái xông vào. Ni cô cười tiến lên đón đỡ, vừa giao quyền người cô đã gọi nơừng tay, nói "Đây là quyền pháp Thiếu Lâm rồi". Lại hỏi Tôn sư là ai, Lý lúc đầu không chịu nói, người cô hỏi mãi mới nói tên nhà sư. Ni cô chắp tay nói "Hám hòa thượng là thầy ngươi sao? Nếu đúng thế thì không cần giao thủ nữa, xin chịu thua trước". Lý nài nỉ mấy lần, người cô cũng không chịu đấu mọi người khuyên mãi mới nói "Đã là đệ tử của Hám sư phụ thì cũng là người nhà, đùa vui một lúc cũng không sao, chỉ cần đánh tới thì ngừng tay là được rồi", Lý ưng thuận.
Nhưng lại cho rằng người cô ẻo lã, dễ đánh đổ, lại tuổi trẻ hiếu thắng, chỉ muốn đánh bại người cô để một sớm dương danh. Còn chưa phân thắng bại, người cô đã ngừng tay, Lý hỏi tại sao, chỉ cười không đáp Lý cho rằng đối phương đã sợ sệt, nài nỉ xin đấu nữa, người cô mới bước ra. Giây lát Lý phóng ra một cước, người cô xòe bàn tay chém luôn vào chân, Lý thấy dưới gối như bị đao chém trúng, ngã quỵ xuống không đứng lên nổi. Ni cô cười tạ rằng "Ta lỗ mãng xúc phạm, may mà chưa đến nỗi đắc tội!". Lý được vực về hơn một tháng mới khỏi. Hơn năm sau nhà sư lại tới, Lý kể lại mọi việc. Nhà sư hoảng sợ nói "Ngươi lỗ mãng quá, nếu gặp người khác thì sao? May mà đã nói tên ta ra trước, nếu không thì cái chân ấy bị chém gãy luôn rồi".
290. Chim Cưỡng (Cù Dục)
Vương Phần Tân nói ở quê ông có người nuôi chim cưỡng, dạy cho nói tiếng người, rất thành thục, đi đâu cũng mang theo, như thế được vài năm. Một hôm tới huyện Giáng Châu (tỉnh Sơn Tây), cách nhà còn xa mà tiền lưng đã cạn, y buồn lo nhưng không biết làm sao. Chim nói "Sao không bán ta đi? Đưa ta tới vương phủ chắc chắn được giá cao, lo gì không có tiền về nhà?". Y nói "Ta đâu nỡ làm thế ". Chim nói "Không sao, chủ nhân được tiền rồi cứ đi thật nhanh, chờ ta ở dưới gốc cây lớn phía tây cách thành hai mươi dặm". Y theo lời, đem chim vào thành, trò chuyện với nó, người xem kéo tới đông nghẹt. Có người quyền quý nhìn thấy, kể cho Tấn vương nghe, vương gọi y vào, tỏ ý muốn mua chim. Y nói "Tiểu nhân dựa vào con chim này sinh sống nên không muốn bán". Vương hỏi chim "Ngươi có muốn ở lại đây không?", chim đáp muốn. Vương mừng rỡ, chim lại nói "Chỉ cần mười đồng vàng thôi, đừng đưa nhiều hơn". Vương càng vui vẻ, lập tức sai đưa ra mười đồng vàng. Người kia làm ra vẻ căm hờn buồn bã bỏ ra.
Vương trò chuyện với chim, thấy đối đáp nhanh nhẩu, gọi lấy thịt cho ăn. Ăn xong, chim nói "Thần muốn tắm". Vương sai lấy chậu vàng múc nước, mở lồng cho nó ra tắm. Tắm xong, chim bay qua bay lại trước thềm, vỗ cánh rỉa lông, vẫn liến láu trò chuyện với vương không ngớt. Giây lát cánh khô hẳn, giương cánh bay lên, nói giọng Tấn (vùng Sơn Tây) rằng "Thần đi đây!", trong chớp mắt đã mất hút. Vương cùng các nội thị ngửa mặt than tiếc, vội tìm người kia thì đã đi xa rồi. Về sau có người tới Tần Trung (vùng Thiểm Tây), thấy y mang chim đi trong thành Tây An (tỉnh thành Thiểm Tây). Tiên sinh Tất Tải Tích* chép lại chuyện này.
*Tất Tải Tích: xem chú thích truyện Chúc ông, quyển II.
291. Thương Tam Quan (Thương Tam Quan)
Thành Gia Cát cũ có Thương Sĩ Võ là kẻ sĩ nhân. Vì say rượu nói năng xúc phạm người thế hào, bị người ấy sai gia nhân xúm lại đánh tơi bời, cõng về tới nhà thì chết. Thương có hai trai, lớn là Thần, thứ là Lễ và một gái là Tam Quan, mười sáu tuổi, đã hẹn ngày cưới nhưng gặp việc cha chết phải đình lại. Hai anh Tam Quan đưa đơn kiện nhưng cả năm sau cũng chưa được xử nhà thông gia sai người đến gặp mẹ nàng xin cho tòng quyền làm đám cưới. Người mẹ định ưng thuận nhưng cô gái bước lên nói "Xác cha mất còn chưa lạnh mà đòi cưới xin, họ không có cha mẹ à?". Nhà thông gia nghe thế xấu hổ đành thôi. Không bao lâu hai anh đi kiện không được, chịu lép trở về, cả nhà bi phẫn. Hai anh định quàn xác cha để tiếp tục thưa kiện, Tam Quan nói "Người bị giết mà quan không xét, việc đời thế nào đủ biết rồi, chẳng lẽ trời sinh riêng cho hai anh em anh một Bao Công à? Để thi hài cha phơi ra như thế thì nỡ lòng nào!". Hai anh phục lời ấy, bèn lo mai táng cha.
Việc chôn cất vừa xong, Tam Quan ban đêm trốn đi, không biết đi đâu. Người mẹ lấy làm xấu hổ, sợ nhà thông gia biết, không dám nói cho họ hàng hay, chỉ dặn hai con trai ngấm ngầm tìm kiếm, nhưng suốt nửa năm vẫn không thấy tăm hơi. Gặp dịp người thế hào mở lễ mừng thọ, gọi phường trò tới giúp vui. Người phường trò tên Tôn Thuần dẫn theo hai đứa học việc để sai vặt, một người tên Vương Thành, mặt mũi bình thường nhưng tiếng hát trong vắt mọi người đều khen ngợi, một người tên Lý Ngọc, mặt mày xinh đẹp thanh tú như con gái, gọi ra bảo hát thì từ chối là ít luyện tập, ép thì những bài hát ra có một nửa chen cả các điệu hò vè của đàn bà con gái, cả tiệc vỗ tay ầm lên. Tôn thẹn quá, thưa với chủ nhà rằng thằng nhỏ này theo học chưa bao lâu, chỉ mới biết mời rượu, xin đừng trách, rồi sai ra chuốc rượu.
Ngọc lui tới dâng rượu, rất khéo đón ý chủ nhân, người thế hào rất vừa ý. Đến khi tan tiệc, khách khứa ra về, người thế hào giữ Ngọc lại ngủ cùng. Ngọc dọn giường cởi áo cho chủ, hầu hạ rất chu đáo, người thế hào càng thích, cho người hầu ra hết chỉ giữ có Ngọc lại trong phòng. Ngọc đợi đám người hầu ra hết liền đóng của cài then. Đám người hầu sang phòng khác ăn uống, lát sau nghe thấy trong phòng chủ ngủ có tiếng cành cạch, một người bước qua xem, chỉ thấy trong phòng tối đen yên lặng, đang định quay đi chợt nghe tiếng động lớn như vật nặng treo trên cao đứt dây rơi xuống, vội lớn tiếng hỏi nhưng không thấy ai trả lời. Y gọi mọi người phá cửa vào, thấy chủ nhân đã đầu lìa khỏi xác. Ngọc thì treo cổ tự tử, dây đứt xác rơi xuống đất, đầu dây vẫn còn lủng lẳng trên xà nhà. Mọi người hoảng sợ, gọi nhau vào tụ họp trong phòng bàn bạc nhưng không hiểu vì sao.
Đem xác Ngọc ra sân thì thấy trong giày tất trống không như không có bàn chân, cởi ra xem thấy bàn chân bó nhỏ, té ra là con gái. Họ càng hoảng sợ, gọi Tôn Thuần tới căn vặn. Thuần sợ lắm, không biết vì sao, chỉ nói "Tháng trước Ngọc tới xin học nghề, hôm nay xin đi theo tới đám mừng thọ, thật không rõ là từ đâu tới" Thấy Ngọc mặc tang phục bên trong, nhà thế hào ngờ là thích khách của họ Thương, bèn cắt ra hai người canh giữ xác chết. Cô gái mặt đẹp như ngọc, vỗ về thì thấy thân thể tay chân ấm áp mềm mại, hai người bèn bàn nhau lén hành dâm. Một người ôm xác cô gái nắn bóp vần vò, đang định cởi dây lưng thì chợt như bị đập mạnh vào đầu, hộc máu mồm chết ngay tại chỗ. Người kia sợ hãi kể lại, mọi người đều kính cẩn coi cô gái như thần minh. Sáng ra lên báo quan, quan gọi Thần và Lễ lên hỏi, họ đều nói không biết gì, chỉ nói em gái là Tam Quan đã bỏ nhà đi nửa năm rồi, sai tới xem xác chết thì đúng là Tam Quan. Quan cho là vịệc lạ lùng, cho hai người mang xác em gái về chôn cất, lại khuyên gia đình người thế hào không nên thù hằn.
Dị Sử thị nói: Trong nhà có nữ Dự Nhượng* mà không hay, thì hai người anh làm đàn ông ra sao cũng có thể biết rồi. Nhưng làm người như Tam Quan thì ngay cả kẻ qua sông Dịch** cũng còn thẹn là chưa bằng, huống hồ những kẻ tầm thường chìm nổi theo đời sao? Mong sao những đàn bà con gái trong thiên hạ mua chỉ về thêu tranh nàng để thờ, thì phúc đức chẳng kém gì so với việc thờ phụng Quan Đế đâu.
*Dự Nhượng: người thời Xuân thu, hủy hoại thân thể để cải trang báo thù cho chủ, người sau coi là bậc hiệp nghĩa.
** Kẻ qua sông Dịch: tức Kinh Kha, người thời Chiến quốc, kiếm khách của Thái tử Đan nước Yên sai đi hành thích Tần vương (tức Tần Thủy hoàng). Tương truyền khi sang sông Dịch để tiến vào địa giới nước Tần, Kinh Kha ngẩng mặt hát, lời ca rất khảng khái thê thiết.
292. Sư Tây Vực (Tây Tăng)
Sư Tây Vực từ Tây Vực tới, một người lên núi Ngũ Đài, một người tới núi Thái Sơn, trang phục tướng mạo đều khác hẳn người Trung nguyên. Tự nói rằng đường đi qua Hỏa Diệm Sơn, núi non trơ trọi, hơi nóng xông lên như lò lửa. Phàm đi phải chọn lúc sau cơn mưa, mà phải hết sức cẩn thận, nếu sơ sót đặt chân lên đá núi, đá sụt xuống thì khói lửa sẽ tuôn ra. Lại qua sông Lưu Sa, trong sông có hòn núi pha lê, vách núi cao chạm trời, bốn bề trong veo như không có cách bức gì cả. Lại có ải đủ cho một chiếc xe đi lọt, có hai con rồng nằm đối diện nhau giữ chặt cửa ải, người đi qua phải lạy rồng trước, nếu rồng cho qua thì há miệng ra. Rồng màu trắng, vảy đều sáng lấp loáng như pha lê. Họ nói rằng đi đường trải qua mười tám mùa nóng lạnh, lúc rời Tây Vực có mười hai người, mà tới được Trung Nguyên chỉ còn có hai. Ở Tây Vực đồn rằng Trung nguyên có bốn ngọn danh sơn là Thái Sơn, Hoa Sơn, Ngũ Đài, Lạc Già* mặt đất trên núi đầy vàng ròng, các vị Phật như Quan âm, Văn Thù đều còn sống ở đó, nếu tới được thì mình cũng sẽ được trường sinh bất tử như Phật. Theo như lời họ nói thì vẫn còn có người hâm mộ Tây Vực. Giả như có kẻ Tây du người Đông độ gặp nhau giữa đường, ai cũng kể chuyện xứ mình, thì chắc là sẽ nhìn nhau cười ngất, đôi bên khỏi phải lặn lội khổ cực vậy.
*Thái Sơn, Hoa Sơn, Ngũ Đài, Lạc Già: tức các núi Thái Sơn ở Sơn Đông, Hoa Sơn ở Thiểm Tây, Ngũ Đài ở Sơn Tây, Phổ Đà ở Chiết Giang, ngày trước đều có chùa chiền rất nổi tiếng trong đạo Phật ở Trung Hoa.
293. Tượng Quỷ Bằng Đất (Nê Quỷ)
Thái sử Đường Tế Vũ người hương ta, lúc lên vài tuổi có người anh họ dắt đi chơi chùa. Thái sử lúc còn nhỏ đã lỗi lạc, rất gan dạ, thấy pho tượng quỷ bằng đất ở hành lang trợn mắt sáng quắc, rất thích thú bèn lén lấy ngón tay móc lấy bỏ túi mang về. Về tới nhà thì người anh họ Thái sử chợt mắc bệnh nặng không nói được, giây lát lại vùng dậy lớn tiếng quát "Tại sao lại móc mắt ta?", rồi cứ la thét không thôi. Mọi người không biết chuyện gì, Thái sử mới nói việc mình đã làm. Người nhà bèn khấn "Trẻ con không biết gì nên nghịch ngợm làm tổn thương mắt quý, xin sẽ đem trả lại". Người anh họ Thái sử lớn tiếng nói "Nếu thế thì ta đi đây!" rồi ngã vật ra đất tắt hơi hồi lâu mới tỉnh. Hỏi lại những lời đã nói thì không nhớ gì, người nhà Thái sử bèn đưa mắt tới lắp trả vào tròng pho tượng.
Dị Sử thị nói: Lên thềm đòi mắt, tượng đất sao mà thiêng thế. Thấy Thái sử móc mắt, mà sao lại báo oán nơi người đi cùng, có lẽ vì Thái sử là người Tôn quý mà tính tình ngay thẳng chăng. Xem việc ông dâng thư lên cửa khuyết, phủi áo về non xưa, thì thần cũng phải sợ, huống chi là quỷ sao?
294. Biệt Ly Trong Mộng (Mộng Biệt)
Ông nội của tiên sinh Vương Xuân Lý chơi rất thân với em ông nội ta là ông Ngọc Điền. Một đêm ông nằm mơ thấy ông Ngọc Điền tới nhà, buồn bã trò chuyện. Hỏi có việc gì thì ông Ngọc Điền đáp "Ta sắp đi xa, nên tới chia tay với ông thôi". Hỏi đi đâu, ông Ngọc Điền đáp "Xa lắm", rồi đi ra. Ông tiễn tới sơn cốc, thấy vách đá có chỗ mở toang ra, ông Ngọc Điền chắp tay cáo biệt rồi đi giật lùi vào trong, dần dần mất hút, gọi không thấy trả lời, kế giật mình tỉnh dậy. Sáng ra, ông kể cho con lớn là Thái công Kính Nhất, sai chuẩn bị các vật dùng đưa đám, nói "Chuẩn bị để giúp đỡ cho đám tang ông Ngọc Điền". Thái công xin cứ qua hỏi thăm trước, nếu đúng sẽ qua phúng điếu. Ông không nghe, cứ mặc quần áo trắng sang, tới cổng thì phướn báo tang đã treo lên rồi. Than ôi! Người xưa với việc sống chết của bè bạn thành tín tới như thế đấy, việc xe tang của Nguyên Bá đợi Cự Khanh* há có phải là chuyện bịa đặt đâu!
*Cự Khanh: Hậu Hán thư, Độc hạnh truyện chép Phạm Thức tự Cự Khanh, chơi thân với Trương Thiệu ở Nhữ Nam. Thiệu tự Nguyên Bá, khi Nguyên Bá chết, Thức nằm mơ nghe Nguyên Bá gọi "Cự Khanh? Ta đã chết hôm ấy, sẽ chôn vào giờ ấy, huynh chưa quên ta nhưng làm sao tới kịp". Thức giật mình tỉnh dậy, vội vàng lên đường tới phó tang, còn chưa tới thì xe tang đã ra khỏi nhà Nguyên Bá. Nhưng tới gần miệng huyệt thì xe chở quan tài dừng lại không đi nữa. Giây lát thấy có người cưỡi xe mui trắng thắng ngựa bạch kêu khóc chạy tới, mẹ Nguyên Bá nói "Đó ắt là Phạm Cự Khanh". Cự Khanh tới, lạy phục trước quan tài khóc nói "Đi thôi anh Nguyên Bá! Sinh tử đôi đường, từ nay xin vĩnh biệt!", rồi cầm lá phướn đi trước dẫn đường, xe tang mới tiến lên được.
295. Tiên Ông Họ Tô (Tô Tiên)
Lúc ông Cao Minh Đồ làm Tri huyện Sâm Châu (tỉnh Hồ Nam) có một người con gái họ Tô giặt áo trên sông. Bờ sông có tảng đá lớn, cô gái ngồi trên đó, có một dải rêu xanh tươi rất đáng yêu nổi dập dềnh theo nước trôi quanh tảng đá ba vòng. Cô gái nhìn thấy chợt thấy cảm động, trở về nhà thì có thai, bụng cứ lớn dần. Người mẹ ngầm căn vặn, cô gái kể lại sự thật, mẹ không sao hiểu được. Vài tháng sau thì cô gái sinh được một con trai, người mẹ muốn vứt ra ngõ hẻm nhưng cô gái không nỡ. Bèn giấu đứa con vào trong tủ nuôi nấng, lại thề không lấy chồng để tỏ rõ rằng mình không có hai chồng. Nhưng không chồng mà chửa nên vẫn lấy làm nhục nhã, vì vậy đứa con đã lên bảy tuổi mà cũng ít người được nhìn thấy. Một hôm đứa con chợt nói "Con nay lớn dần, mà cứ giấu ở nơi tối tăm thế này thì làm sao lớn được? Con xin đi để khỏi làm lụy cho mẹ". Hỏi đi đâu, đứa con đáp "Con không phải là người, thì phải ra khỏi nhân gian lên trời thôi". Cô gái khóc hỏi khi nào về, đứa con đáp "Khi nào mẹ chết con mới về. Con đi rồi nếu mẹ có thiếu thốn cứ tìm trong cái tủ giấu con, sẽ được như ý". Nói xong lạy mẹ bước ra, cô gái đuổi theo nhìn thì đã mất dạng.
Cô gái kể lại cho mẹ, người mẹ rất lấy làm lạ lùng. Cô gái vẫn giữ chí cũ, mẹ con nương tựa nhau mà sống, nhưng gia cảnh ngày càng nghèo. Có hôm hết gạo, không biết làm sao, chợt nhớ lời con trai bèn vào mở tủ, quả nhiên có gạo, nhà mới nổi lửa. Từ đó cứ mong cầu là được như ý. Được ba năm, người mẹ bệnh chết, mọi chi phí vật dùng chôn cất đều lấy trong tủ ra. Chôn cất mẹ xong, cô gái ở một mình ba mươi năm, ít khi mở cửa. Có hôm người đàn bà láng giềng qua xin lửa, thấy nàng ngồi cao một mình trong phòng vắng, nói chuyện vài câu rồi về. Không bao lâu chợt thấy có đám mây ngũ sắc vấn vít quanh nhà nàng, tròn tròn như cái lọng, trong có một người ăn mặc đẹp đẽ đứng, nhìn kỹ thì là cô gáỉ họ Tô. Đám mây bay lượn hồi lâu rồi dần dần bay lên cao không thấy đâu nữa. Láng giềng đều ngờ vực hé cửa nhìn vào, thấy cô gái trang điểm ngồi yên, nhưng đã tắt hơi rồi. Mọi người cho rằng nàng không có chồng con, bàn việc chôn cất. Chợt có một thiếu niên bước vào, phong tư anh tuấn, hướng về mọi người nói lời cảm ơn. Láng giềng trước kia cũng ngầm biết rằng cô gái có con trai nên không nghi ngờ gì. Thiếu niên bỏ tiền ra chôn cất mẹ, trồng hai cây đào bên mộ rồi từ biệt đi. Đi được vài bước thì dưới chân có mây mù bốc lên không thấy đâu nữa. Hai cây đào về sau nảy bông kết trái rất thơm ngon, người ở đó gọi là Cây đào của tiên ông họ Tô, càng lâu năm càng xanh mượt không bị héo úa mục nát. Các quan ở đất ấy vẫn hái trái để tiếp bạn bè.
296. Đạo Sĩ Họ Đơn (Đơn Đạo Sĩ )
Công tử họ Hàn là nhà thế gia trong huyện. Có đạo sĩ họ Đơn giỏi làm trò, công tử thích phép thuật của ông ta, nên đãi làm thượng khách. Đơn hàng ngày ngồi cùng khách khứa, cứ thoắt lại biến mất không thấy đâu. Công tử muốn học phép ấy, Đơn không chịu. Công tử nài nỉ mãi, Đơn nói "Ta không phải tiếc thuật mọn, mà là sợ hỏng đạo lớn. Phép này truyền cho người quân tử thì được, nếu không thì ắt sẽ có người mượn nó mà đi ăn trộm. Công tử thì ta không ngại chuyện đó, nhưng có thể ra ngoài thấy con gái đẹp nảy lòng yêu thích, tàng hình vào chốn phòng khuê của họ, thì đó là làm điều ác thả lòng dâm, nên ta không dám vâng lệnh". Công tử không ép buộc được nhưng trong lòng tức giận lắm, ngầm cùng đầy tớ tính cách đánh cho một trận để hạ nhục. Nhưng lại sợ ông ta trốn mất, nên lấy tro mịn rải lên sân phơi thóc, nghĩ rằng tả đạo có thể tàng hình song thế nào cũng để lại vết chân trên tro, có thể theo vết mà đuổi đánh. Rồi đó dụ Đơn tới, sai người cầm roi da trâu đổ ra đánh, Đơn chợt biến mất, trên tro quả có vết giày, người hai bên xúm lại đập bừa phứa, nhưng trong phút chốc không còn nhận ra Đơn đứng ở đâu nữa.
Công tử trở về, Đơn cũng tới nói với đám đầy tớ rằng "Ta không thể ở đây được nữa, xưa nay vẫn làm phiền các ngươi hầu hạ, hôm nay chia tay phải có cái gì để báo đáp". Rồi rút trong tay áo ra một bình rượu ngon, lại mò tìm đưa ra một đĩa thức ăn, đặt cả lên bàn. Đặt xong lại mò tìm trong tay áo, hơn mười lần như thế, rượu thịt đầy cả một bàn, rồi gọi mọi người cùng vào ăn uống, các thứ vật dùng đều là lấy trong tay áo ra. Công tử họ Hàn nghe chuyện lạ, sai bảo diễn trò. Đơn vẽ lên vách một ngôi thành, lấy tay đập mạnh, cổng thành mở ra. Nhân đó đem hành lý vật dùng quăng vào cổng thành trước, chắp tay chào nói "Ta đi đây!", rồi nhún người nhảy vào thành. Cổng thành đóng lại, đạo sĩ biến mất. Sau nghe nói đạo sĩ tới ở huyện thành Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông), dạy trẻ con vẽ vòng đen trong lòng bàn tay, đùa ném vào người ta, hoặc lên áo hoặc lên mặt, cái vòng lập tức bay ra in vết vào họ.
Lại nghe nói rất giỏi thuật trong phòng, có thể dùng hạ bộ hút hết một bình rượu nóng, công tử từng có lần thử bảo làm trước mặt.
297. Đại Phu Năm Bộ Da Dê (Ngũ Cổ Đại Phu)
Sướng Thể nguyên người huyện Hà Tân (tỉnh Sơn Đông) tự Nhữ Ngọc. Lúc còn là Chư sinh, nằm mơ thấy có người gọi mình là Quan Đại phu năm bộ da dê* mừng rỡ cho là điềm tốt. Sau gặp lúc giặc giã, bị chúng bắt lột hết áo quần, nhốt trong phòng vắng. Lúc ấy là mùa đông rất lạnh, Sướng mò mẫm trong bóng tối được mấy tấm da khoác lên người nên không tới nỗi chết rét. Trời sáng nhìn lại, thì đúng là năm tấm da dê, bật cười việc thần đùa giỡn với mình. Sau từ chân Cống sinh được bổ làm Tri huyện Lạc Nam (tỉnh Thiểm Tây).
* Quan Đại phu năm bộ da dê: nguyên ván là "Ngũ cổ Đại phu" lấy tích Bách Lý Hề thời Xuân thu có tài chính trị nhưng xuất thân nghèo hèn phải làm nô lệ cho người ta, Tần Mục công biết là kẻ có tài bèn sai người đem năm bộ da dê chuộc về, cất nhắc lên chức Đại phu, người đương thời nhân đó gọi Hề là Ngũ cổ đại phu. Hán ngữ gọi dê là dương, dê cái đen là cổ.
Phụ: Một Truyện Trong Trì Bắc Ngẫu Đàm(Trì Bắc Ngẫu Đàm Nhất Tắc)
Sướng Thể Nguyên người huyện Hà Tân, lúc trẻ nằm mơ thấy thần gọi mình là Quan Đại phu năm bộ da dê, lấy làm tự đắc. Sau gặp lúc giặc giã, Thể Nguyên bị giặc bắt nhốt vào một gian phòng. Mùa đông lạnh quá, Thể Nguyên tìm trong góc vách được năm tấm da dê đắp lên người, mới sực hiểu ra là thần đùa giỡn với mình. Sau thi đỗ khoa Minh kinh được bổ làm Tri huyện Lạc Nam.
298. Con Thú Đen (Hắc Thú)
Nghe Thái công Lý Kính Nhất kể rằng ông Mỗ ở Thẩm Dương (tỉnh thành Liêu Ninh) họp bạn ăn tiệc trên núi, nhìn dưới núi có con cọp tha con vật tới, lấy chân đào hố chôn rồi bỏ đi. Ông Mỗ sai người đào lên xem, thấy có con hươu chết, bèn lấy đi rồi lấp đất lại như cũ. Giây lát cọp dẫn con thú đen lông dài hơn một tấc tới. Cọp đi trước, dáng như kính cẩn đón khách. Tới chỗ huyệt, con thú ngồi xuống nhìn chằm chằm chờ, cọp đào hố lên thì hươu đã mất, sợ sệt nằm mọp xuống không dám động đậy. Con thú tức giận vì bị lừa dối, lấy chân tát vào trán cọp, cọp chết ngay lập tức, con thú cũng bỏ đi.
Dị Sử thị nói: Chẳng biết con thú kia tên gọi là gì, nhưng hỏi lại hình dáng thì không hề to hơn cọp. Thế mà cọp giơ đầu chịu chết, sợ sệt tới mức ấy hay sao? Phàm loài vật đều có giống khắc chế nhau, về lý thì không thể hiểu nổi. Như khỉ rất sợ đười ươi, từ xa nhìn thấy là xếp hàng lạy rạp xuống, không con nào dám bỏ trốn, trố mắt nín thở chờ. Đười ươi tới, lấy tay nắn bóp xem gầy hay béo, con nào béo thì đặt một viên đá lên đầu đánh dấu. Khỉ cứ đội viên đá nằm im thin thít, cứng đờ như con gà gỗ, chỉ sợ làm rơi viên đá. Đười ươi đánh dấu xong cứ theo thứ tự các viên đá mà bắt khỉ ăn thịt, no rồi mới đuổi đám còn lại đi. Ta thường nói quan lại tham lam giống như đười ươi, cũng nắn bóp thăm dò xem dân gầy hay béo mà đánh dấu rồi lần lượt bắt lấy ăn thịt, mà dân thì cứ nghiêng tai chờ ăn tới mình, không dám hó hé, nín bặt giống như khỉ vậy, đáng thương xót thay!
299. Ngự Sử Ở Phong Đô (Phong Đô Ngự Sử)
Ngoài huyện thành Phong Đô (tỉnh Tứ Xuyên) có cái hang rất sâu, người ta đồn là công thự của Diêm Vương. Những đồ dùng trong ngục đều nhờ thợ trên nhân gian làm, các thứ gông cùm hư nát cứ ném ra chỗ cửa hang, quan huyện sai lấy cái mới thay vào, qua đêm thì biến mất. Ở huyện có quy chế về chi phí cho việc đó, trải qua nhiều năm vẫn thế. Thời Minh có quan Ngự sử hành đài họ Hoa đi xét án tới Phong Đô không tin chuyện ấy, muốn vào hang xem để dứt mối ngờ vực. Mọi người đều nói không nên, ông không nghe, cầm đuốc vào hang, lấy hai người nha lại đi theo. Đi được hơn một dặm đuốc chợt tắt, nhìn thấy một đường bậc thềm rộng rãi, có ngôi điện lớn rộng hơn mười gian, bên trên có các vị quan mặc áo cầm hốt ngồi la liệt, chỉ có gian phía đông còn trống một chỗ. Một vị thấy ông tới, xuống thềm ra đón, cười hỏi "Tới rồi đấy à? Từ lúc chia tay đến nay vẫn khỏe chứ?". Ông hỏi đây là nơi đâu, vị quan đáp "Đây là âm phủ". Ông ngạc nhiên cáo từ, vị quan chỉ chỗ ngồi còn trống nói "Đó là chỗ của ông, làm sao còn về được nữa?". Ông càng sợ, nài nỉ xin tha cho. Vị quan nói "Số phận đã định, làm sao trốn tránh được!". Rồi lấy một quyển sổ đưa ông xem, trên chú rằng "Ngày ấy tháng ấy đem xác phàm về âm phủ". Ông nhìn thấy, run cầm cập như bị dội nước lạnh, lại nghĩ tới mẹ già con dại, nước mắt hai hàng.
Chợt có vị thần mặc giáp vàng bưng tờ sắc thư bằng lụa vàng tới, mọi người lạy đón rồi mở ra đọc, mừng ông rằng "Ông có cơ được trở lại dương gian rồi". Ông mừng rỡ hỏi, họ đáp "Vừa rồi là chiếu chỉ của Thượng đế đại xá cho cõi U minh", rồi chỉ đường cho ông đi trở ra. Đi được vài chặng thì thấy tối đen như mực, không nhận được đường đi, ông rất sợ hãi. Chợt có một thần tướng từ bên ngoài cưỡi xe vào, mặt đỏ râu dài, ánh sáng quanh người chiếu ra mấy thước, ông bước tới đón lạy khẩn cầu. Thần nói "Niệm kinh Phật có thể ra được", nói xong đi thẳng. Ông nghĩ lại kinh kệ, phần lớn đều không nhớ, chỉ có kinh Kim cương là từng học nhiều, bèn chắp tay đọc. Chợt thấy như có một tia sáng chiếu ở phía trước, lại quên mất một câu, ánh sáng trước mặt lại tắt ngấm. Ông định trí tĩnh tâm một lúc, càng đọc đường đi càng sáng bùng mới ra được ngoài hang, còn hai người nha lại cùng đi thì không rõ ra sao.
300. Người To Lớn (Đại Nhân)
Hiếu liêm Lý Chất Quân ở huyện Trường Sơn tỉnh Sơn Đông) đi tới phủ Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông), trên đường gặp sáu bảy người nói năng líu nhíu, nhìn kỹ thì hai bên gò má người nào cũng có vết sẹo to như đồng tiền, lấy làm lạ hỏi vì sao mà mang bệnh giống nhau. Họ kể rằng năm trước tới Vân Nam, trời tối lạc đường vào trong núi lớn, non sâu khe thẳm không sao ra được. Trong sơn cốc có một cây đại thụ cành to vài thước, tàn cây rủ xuống che rợp hơn mẫu đất. Họ không biết ngủ ở đâu, bèn cùng xuống ngựa cởi áo nghỉ ngơi dưới gốc cây. Đến khuya tiếng cọp gầm sói hú cú rúc dơi khua nối nhau rộ lên, họ cứ ngồi bó gối nhìn nhau không ai ngủ được. Chợt thấy một người to lớn đi tới, cao hơn một trượng, họ đều co quắp bò rạp xuống không dám thở mạnh. Người to lớn tới nơi, bắt ngựa xé ăn, trong khoảnh khắc ăn sạch sáu bảy con ngựa. Kế bẻ một cành cây dài, bắt họ xỏ qua mang tai như xâu cá mang đi. Được vài bước thì cành cây kêu răng rắc, người to lớn ấy như sợ họ rơi mất, bèn chập hai đầu cành cây lại, lấy một tảng đá lớn dằn lên rồi đi. Họ chờ y đi khuất, rút dao lưng chặt đứt cành cây rồi gượng đau bỏ chạy.
Chưa được bao xa thì người kia lại dắt một người to lớn nữa tới, họ hoảng sợ chui vào núp trong bãi cỏ rậm. Thấy người tới sau còn to lớn hơn, tới dưới gốc cây thì qua lại tìm kiếm như mong mỏi lắm mà không được, cất tiếng gào thét như chim lớn kêu, rồi như giận người kia lừa dối mình, tát luôn vào mặt. Người to lớn cúi đầu nhẫn nhục cam chịu không dám tỏ vẻ gì, kế cùng bỏ đi. Lúc ấy họ mới run sợ chui ra, ba chân bốn cẳng chạy một hồi, nhìn thấy đầu núi có ánh đèn lửa vội kéo nhau chạy tới, gặp một người đàn ông trong thạch thất, bèn cùng vào vái lạy kể lể nỗi khổ. Người đàn ông kéo lên bảo ngồi, nói "Giống vật ấy thật rất đáng căm hận, nhưng ta cũng không kiềm chế nổi, phải chờ xá muội về mới tính được". Không bao lâu, có một cô gái vác hai con cọp từ ngoài vào, hỏ họ làm sao tới được đây. Họ cúi lạy rồi kể lại mọi việc. Cô gái nói "Ta đã biết hai đứa ấy làm ác lâu rồi, nhưng không ngờ lại hung dữ đến thế, phải trừ khử ngay mới xong". Rồi vào phòng lấy ra một chiếc chùy đổng nặng ba bốn mươi cân, ra cửa đi mau.
Người đàn ông nướng thịt cọp đãi khách, thịt chưa chín cô gái đã trở về, nói "Chúng thấy ta thì chạy trốn, ta đuổi theo vài mươi dặm, chặt được một ngón tay đem về đây. Rồi ném ngón tay xuống đất, to như bắp chân người thường. Họ vô cùng hoảng sợ, hỏi họ tên nhưng hai anh em im lặng không đáp. Giây lát thịt chín, họ đau đớn ăn không được, cô gái lấy thuốc đắp cho, đều lập tức thấy hết đau. Kế cô gái đưa họ tới dưới gốc cây, thấy hành lý vẫn còn ở đó, ai nấy bèn đeo lên. Đi được hơn mười dặm, qua chỗ đánh nhau lúc tối, cô gái chỉ cho nhìn, họ thấy dưới hốc đá vẫn còn đọng lại hơn một chậu máu. Ra tới ngoài núi, cô gái mới chia tay quay về.
301. Tú Tài Họ Liễu (Liễu Tú Tài)
Cuối thời Minh ở hai phủ Thanh, Duyện có nạn cào cào phá lúa, dần dần tụ họp tới huyện Nghi Thủy (đều thuộc tỉnh Sơn Đông). Quan huyện Nghi Thủy lo lắng, hết ngày làm việc về nằm nghĩ ngợi, chợp mắt mơ thấy một người Tú tài tới yết kiến, đội mũ cao mặc áo xanh, vóc dáng cao lớn hiên ngang, nói là có cách ngăn được nạn cào cào. Quan huyện hỏi, ông ta đáp "Sáng mai trên đường phía tây nam có một người đàn bà cưỡi con lừa cái bụng to, đó là Thần Cào cào đấy, năn nỉ bà ta thì có thể thoát nạn". Quan huyện tỉnh dậy lấy làm lạ, sáng sớm mang đủ lễ vật ra cửa nam huyện thành chờ đợi hồi lâu, quả thấy có người đàn bà búi tóc cao đội khăn xám cưỡi con lừa già khập khiễng đi lên phía bắc. Quan huyện lập tức thắp hương rót rượu đón lạy bên đường, giữ lừa lại không cho đi.
Người đàn bà hỏi quan Đại phu định làm gì, quan huyện năn nỉ cầu khẩn xin tha cho huyện nho khỏi nạn cào cào ăn lúa. Người đàn bà nói "Đáng hận gã Tú tài họ Liễu múa mép làm lộ chuyện bí mật của ta. Thế thì để cho y phải đem thân chịu tội, không làm hại tới lúa má cũng được", kế uống cạn ba chén rượu rồi biến mất. Sau cào cào tới huyện, bay rợp cả mặt trời nhưng không đáp xuống ruộng lúa, chỉ tụ họp trên cây dương liễu, qua khỏi nơi nào thì dương liễu ở đó trụi cả lá. Lúc ấy mới sực hiểu ra Tú tài họ Liễu là thần cây liễu. Có người nói đó là vì quan huyện thương dân nên làm cảm động tới thần, thật đúng vậy.
302. Công Tử Họ Đổng (Đổng Công Tử)
Nhà Thượng thư Đổng Khả Úy ở phủ Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông) gia pháp rất nghiêm, đàn ông đàn bà trong ngoài không dám nói chuyện với nhau một câu. Một hôm có người tớ gái và người tớ trai đùa giỡn với nhau ngoài cửa giữa, bị công tử nhìn thấy. Công tử giận quát, hai người bỏ chạy. Đến đêm, công tử và đứa hầu nhỏ ngụ trong phòng sách, lúc ấy mùa hè trời nóng, cửa phòng chỉ khép hờ. Đến khuya đứa hầu nhỏ nghe trên giường có tiếng động rất lớn, tỉnh dậy nhìn ra chỗ trăng sáng thì thấy người tớ trai ban ngày cầm một vật đi ra cửa. Nó cho rằng là việc trong nhà nên cũng không lạ lắm, lại ngủ tiếp. Chợt nghe tiếng giày vang lên, một người đàn ông cao lớn mặt đỏ râu dài như Quan Vũ cầm một cái đầu người bước vào. Đứa hầu nhỏ sợ hãi bò vào gầm giường, nghe trên giường có tiếng lách ca lách cách, rồi tiếng giữ áo, tiếng xoa bụng, lát sau thì im, tiếng giày lại vang lên, người kia đi ra. Nó rụt cổ chui ra, thấy ngoài cửa sổ đã rạng sáng, sờ soạng lên giường thì tay áo bị dính ướt, ngửi thấy có mùi máu tanh, vội kêu lớn gọi công tử, công tử mới tỉnh dậy. Nó kể lại rồi thắp đèn lên, thấy máu đầy nệm gối, cả sợ nhưng không hiểu vì sao.
Chợt có người sai dịch của quan gõ cửa. Công tử ra gặp, họ ngạc nhiên, chỉ nói là chuyện lạ! Hỏi thì họ đáp "Vừa rồi trên phố có một người dáng vẻ mê man, la lớn rằng: Ta giết chủ nhân rồi. Mọi người thấy áo y dính máu, bắt đưa lên quan, hỏi ra thì là gia nhân của công tử. Y nói là đã giết công tử, chôn đầu ở cạnh miếu Quan Đế. Tới đó khám xét, thì hố đào còn mới, mà đầu thì không thấy đâu". Công tử kinh ngạc hoảng sợ, tới chỗ công đường, thì người ấy chính là tên tớ trai đùa giỡn với người tớ gái. Quan cũng rất bàng hoàng ngạc nhiên, trách phạt nặng nề rồi thả y. Công tử không muốn kết oán với kẻ tiểu nhân, đem người tớ gái gả cho y rồi bảo đi nơi khác.
Được vài hôm, đám tuần canh đêm nghe trong nhà y có một tiếng ầm vang dội, vội chạy mau tới gọi cửa không thấy đáp, vạch cửa sổ leo vào xem, thì thấy vợ chồng cùng giường nệm đều bị chặt đứt làm đôi, trên xác và gỗ giường đều còn vết như bị một thanh đao chém vậy. Quan Công hiển linh vốn rất nhiều, nên chuyện này chẳng có gì là lạ.
303. Lãnh Sinh (Lãnh Sinh)
Lãnh sinh ở huyện Bình Thành (tỉnh Sơn Đông) lúc nhỏ ngu độn, năm hơn hai mươi tuổi cũng chưa thông hiểu được một kinh*. Sau chợt có hồ tới ở chung, thường nghe trò chuyện với nhau suốt đêm. Anh em ruột hỏi thăm, sinh cũng không chịu nói lộ ra một tiếng. Như thế ít lâu, chợt sinh mắc bệnh điên khùng thay đổi cả tính nết. Cứ những khi làm văn, có đề rồi thì đóng cửa ngồi một mình, giây lát cười rộ, người nhà tới nhìn trộm thì thấy sinh cầm bút viết mau không ngừng, thế là được một bài văn, xem tới bản thảo thì văn chương tinh diệu. Năm ấy được vào học ở trường tỉnh, năm sau được ăn lương. Mỗi khi làm bài trong trường thì cười vang cả lớp, vì vậy nổi tiếng là Tiếu sinh (Thư sinh cười), may mà toàn gặp lúc quan Học sứ đã về nghỉ nên không nghe thấy. Sau gặp quan Học sứ nọ dạy học rất nghiêm, suốt ngày ngồi trên lớp, chợt nghe tiếng sinh cười, tức giận bắt lên toan trách phạt thật nặng. Các quan giúp việc bẩm giúp là sinh mắc bệnh điên khùng, Học sứ mới thôi giận tha cho, nhưng truất tên không cho học ở trường nữa. Từ đó sinh gởi gắm ý tình điên khùng nơi thơ rượu, có làm bốn quyển Thơ Điên, văn chương siêu bạt rất đáng đọc.
*Một kinh: tức một trong ngũ kinh Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân thu của Nho gia, người học ngày xưa coi như các giáo trình cơ bản phải biết.
Dị Sử thị nói: Đóng cửa cười một tiếng, có khác gì nhà Phật đốn ngộ* đâu? Cười rộ mà làm văn, cũng là một việc hay, sao lại vì thế mà bị truất, quan Học sứ làm thế là lầm lắm! Học sư Tiên sinh Tôn Cảnh Hạ ngày trước đi thăm bạn, tới ngoài cửa sổ không nghe tiếng chuyện trò mà chỉ nghe tiếng cười trong giây lát vang lên mấy lần, cho rằng bạn đang đùa giỡn với người khác. Bước vào nhìn thì trong phòng chỉ có một mình người bạn, lấy làm lạ. Người bạn lại cười rộ nói "Gặp lúc rảnh rỗi, trò chuyện một mình cho vui thôi".
* Đốn ngô: phái Nam Tông trong Phật giáo đại thừa chủ trương người tu hành có thể tiệm ngộ (dần dần ngộ đạo) nhưng cũng có thể đốn ngộ (bất ngờ ngộ đạo), nghĩa là có những bước nhảy vọt trong nhận thức.
Cung sinh trong huyện có nuôi con lừa tính nết rất ương bướng. Cứ đi đường gặp người quen mà sinh chắp tay xin lỗi rằng "Đang có việc gấp không xuống lừa chào được, xin bỏ qua" thì nó lập tức khuỵu chân nằm xuống, nhiều lần như thế. Cung vừa thẹn vừa tức, bèn bàn với vợ, bảo vợ giả làm người đi đường, còn mình cưỡi lừa đi quanh sân, chắp tay xin lỗi vợ như nói với mọi người, con lừa quả nhiên lại nằm xuống, bèn lấy dùi nhọn đâm bắt nó đứng lên. Vừa có người bạn tới thăm, đang định gõ cửa thì nghe Cung nói với vợ "Không xuống lừa chào được, xin bỏ qua", giây lát lại nói nữa. Người bạn lấy làm lạ, gõ cửa vào hỏi nguyên do. Vợ chồng Cung kể rõ mọi việc, cùng nhau ôm bụng bò ra cười. Hai truyện trên đây có thể chép phụ vào chuyện Lãnh sinh cười để lưu truyền vậy.
304. Hồ Trị Tội Dâm Tà (Hồ Trừng Dâm)
Mỗ sinh mua nhà mới ở, thường bị hồ quấy phá, mọi thứ thức ăn vật dụng đều bị hủy hoại, lại có lúc bỏ cả đất cát vào cơm canh. Một hôm có người bạn tới thăm, gặp lúc sinh đi vắng đến tối chưa về, vợ sinh nấu cơm mời khách, kế cùng người tớ gái dọn xuống ăn sau. Sinh vốn không tự kiềm thúc, thích chứa thuốc kích dâm, không biết hồ đem bỏ vào Tô cháo lúc nào. Vợ sinh ăn, thấy có mùi thơm như xạ, hỏi người tớ gái, người tớ gái đáp là không thấy gì. Ăn xong thì thấy lửa dục bốc lên không sao kìm được, càng gắng đè nén càng thấy thèm khát, nghĩ trong nhà không thể tư thông với ai, chỉ có bạn chồng ở đó, bèn tới gõ cửa phòng. Khách hỏi ai, vợ sinh nói thật, khách hỏi có chuyện gì, vợ sinh không đáp, khách từ tạ nói "Ta cùng chồng ngươi lấy đạo nghĩa kết bạn, không dám làm chuyện cầm thú". Người đàn bà còn nấn ná, khách quát "Văn chương phẩm hạnh của ông anh ta bị ngươi vùi chôn cả rồi?", rồi đứng trong cửa nhổ toẹt.
Người đàn bà hổ thẹn, lui về tự nghĩ "Tại sao mình lại làm như thế?". Chợt nhớ mùi lạ trong cháo giống như mùi thuốc kích dâm, vội kiểm lại thuốc trong bao, thấy xáo trộn rơi rớt, trong Tô cháo vừa ăn cũng thế. Biết nước lạnh có thể giải trừ, bèn lấy uống vào, giây lát thấy tỉnh táo lại, song thẹn thùng không biết ăn nói với khách thế nào. Trăn trở hồi lâu thì gần sáng, càng sợ sáng ra không mặt mũi nào nhìn người ta, bèn cởi dây lưng tự treo cổ. Người tớ gái hay được cứu xuống thì đã gần tắt thở, cả giờ sau mới khẽ thở lại được. Khách thì đã bỏ đi trong đêm. Sáng ra sinh mới về, vào thấy vợ nằm, hỏi gì cũng không đáp, chỉ ứa nước mắt. Người tớ gái kể lại việc tự tử, sinh cả sợ cứ hỏi riết, vợ sinh bảo người tớ gái ra ngoài rồi thuật lại hết mọi việc. Sinh than rằng "Đó là ta bị báo ứng về tội dâm tà, chứ nàng có tội gì đâu? May mà có được người bạn tốt, nếu không thì còn mặt mũi nào nữa?". Từ đó bỏ hết thói xưa, hồ cũng thôi không quấy phá nữa.
Dị Sử thị nói: Người ta vẫn răn nhau là đừng chứa thuốc độc trong nhà, chứ không ai răn là đừng chứa thuốc kích dâm, đó cũng là vì sợ đao gươm mà coi thường giường nệm vậy. Nào biết rằng thuốc ấy có khi còn độc hại hơn cả thuốc độc đâu, nên chứa để dùng với vợ nhà thôi. Thế mà còn khiến quỷ thần phát ghét tới như thế, huống chi những kẻ thả lòng dâm đãng lắm khi chẳng phải chỉ dùng có thuốc kích dâm mà thôi.
Mỗ sinh đi thi, từ trên quận về thì trời đã tối, có gói hạt sen củ ấu, vào nhà để cả lên ghế. Lại có một cái đằng tân ngụy khí* đem ngâm trong chậu. Mấy người láng giềng thấy sinh vừa về mang rượu qua chơi, sinh vội đẩy cái chậu vào gầm giường ra chào, rồi bảo vợ làm thức ăn để uống rượu với khách. Uống rượu xong khách về, vội trở vào soi đèn xuống gầm giường thì cái chậu đã trống không. Hỏi vợ, vợ nói "Mới rồi đã đem nấu với củ ấu đãi khách, còn tìm cái gì". Sinh nhớ lại trong thức ăn có những cọng màu đen trộn lẫn vào, mọi người đều không biết là gì, bèn cười phá lên nói "Bà vợ ngây này, đó là cái gì mà đem đãi khách chứ", vợ cũng ngờ vực nói "Lúc nãy ta còn trách chàng không nói cách nấu, vật ấy hình thù xấu xí, cũng không biết gọi là gì, chỉ đành thái bừa ra vậy". Sinh bèn nói cho biết, vợ chồng cùng cười ầm lên. Nay Mỗ sinh đã thi đỗ, người ta vẫn kể lại chuyện ấy để trêu chọc.
*Đằng tân ngụy khí: chưa rõ là gì, nhưng theo văn cảnh có lẽ là một đồ vật bằng mây.
305. Chợ Núi (Sơn Thị)
Chợ núi ở Hoán Sơn là một trong tám cảnh đẹp ở huyện, nhưng thường vài năm chưa gặp một lần. Công tử Tôn Võ Niên cùng bạn bè uống rượu trên lầu, chợt thấy có ngọn tháp vọt lên cao tới tận trời, cùng nhìn nhau kinh ngạc, nghĩ rằng quanh đây không có Thiền viện nào như vậy. Không bao lâu nhìn thấy cung điện xuất hiện vài mươi chỗ, ngói biếc cột bay, lơ lửng giữa không trung, mới sực hiểu ra đó là chợ núi. Giây lát thấy tường cao ngút mắt, nhà cửa san sát kéo dài sáu bảy dặm giống hệt thành quách. Bên trong có lầu gác, thềm sảnh, phố xá rõ ràng, tính ra có tới hàng ngàn hàng vạn. Chợt có trận gió lớn nổi lên, cát bụi bay mù mịt, thánh quách vẫn thế. Đến khi gió lặng trời trong, tất cả đều biến mất, chỉ còn có một ngôi lầu cao tới tận trời. Lầu có năm lớp mái, cửa đều hé mở, có năm đốm sáng kéo thành một hàng, phía ngoài là trời. Cứ từng tầng từng tầng mọc lên, càng lên cao đốm sáng càng mờ đi, đến tám tầng thì chỉ còn như ánh sao, lên nữa thì tối đen, không biết là còn bao nhiêu tầng nữa. Trên lầu thấp thoáng có người, kẻ ngồi kẻ đứng không như nhau. Lát sau lầu thấp dần xuống, có thể nhìn thấy nóc, lúc sau chỉ còn như lầu thường, rồi còn như ngôi nhà cao, kế còn bằng nắm tay rồi bằng hạt đậu, sau cùng không thấy đâu nữa. Nghe có người đi sáng sớm nói thấy trên núi cũng có khói bếp chợ búa không khác gì nhân gian, nên còn có tên là chợ ma.
306. Tôn Sinh (Tôn Sinh)
Tôn sinh người hương ta lấy con gái nhà thế gia cũ họ Tân về nhà chồng thì mặc mấy lớp quần áo, dây lưng ràng rịt, toàn thân quấn vải kín mít, không chịu ngủ chung với chồng. Thường đặt trâm nhọn ở đầu giường để tự vệ, Tôn bị đâm mấy lần nên kê giường ngủ riêng, nhưng ban ngày gặp nhau, cô gái cũng chẳng mấy khi nói cười với chồng. Bè bạn đều biết chuyện, hỏi riêng Tôn rằng "Phu nhân có uống rượu được không?", Tôn đáp cũng uống được đôi chút. Người bạn đùa nói "Ta có cách thu xếp rất hay có thể làm được". Tôn hỏi, người bạn đáp "Cứ lấy thuốc mê bỏ vào rượu lừa cho uống, xong rồi thì tùy ý ông muốn gì cũng được thôi". Tôn cười nhưng trong lòng thầm phục là kế hay, liền tới thầy thuốc mua vị ô đầu pha vào rượu, đem về đặt lên bàn. Tối đến, Tôn lấy rượu khác ra độc ẩm vài chén rồi đi ngủ. Cứ thế ba đêm liền, người vợ vẫn không uống.
Một đêm Tôn vừa đi nằm, thấy vợ còn ngồi trên giường bèn giả ngáy khò khò. Người vợ bèn xuống giường, lấy rượu đặt lên lò hâm. Tôn mừng thầm, kế thấy vợ uống cạn một chén, lại rót chén nữa uống hết một nửa, còn lại đổ trở lại vào bầu rồi dọn giường đi ngủ. Hồi lâu không thấy có tiếng động mà đèn thì mờ mờ chưa tắt, Tôn ngờ là còn thức, bèn gọi lớn là khêu bấc đèn lên. Vợ không đáp, Tôn gọi nữa cũng vẫn không đáp, tới xem thì thấy đã say mềm. Tôn mở chăn cắt dây lưng cởi quần áo ra, người vợ mới tỉnh dậy nhưng không cử động được, cũng không kêu lên được. Đến khi tỉnh hẳn rất căm hờn, treo cổ tự tử. Tôn đang ngủ nghe tiếng thở khò khè, vùng dậy tới cứu, thì lưỡi đã thè ra hai tấc rồi. Tôn hoảng sợ vội cắt dây đỡ xuống giường, hồi lâu mới tỉnh lại.
Tôn từ đó rất căm ghét vợ, vợ chồng cứ tránh mặt nhau, nhìn thấy nhau thì cúi đầu bỏ đi, bốn năm năm liền không nói chuyện với nhau một câu. Có khi người vợ cười nói với người khác trong phòng mà thấy chồng vào lập tức đổi sắc mặt, lạnh lùng như băng tuyết. Tôn thường ngủ ở phòng sách, cả năm không vào ngủ chung phòng với vợ, nếu bị ép thì vào phòng ngoảnh mặt vào vách im lặng rồi ngủ mà thôi, cha mẹ rất lấy làm lo lắng. Một hôm có người người cô tới nhà, nhìn thấy vợ Tôn không ngớt lời khen ngợi, mẹ Tôn cũng không nói gì, chỉ thở dài sườn sượt. Người cô hỏi, mẹ Tôn đem chuyện kể lại, người cô nói "Chuyện đó dễ mà". Mẹ Tôn mừng rỡ nói "Nếu làm cho con dâu ta đổi ý được, xin báo ơn hậu.
Người cô nhìn trong phòng không có ai, bèn rỉ tai mẹ Tôn nói "Xin mua một bức tranh nam nữ hành lạc, ba ngày nữa ta sẽ làm phép cho". Người cô ra về, mẹ Tôn theo lời mua tranh chờ sẵn. Ba ngày sau người cô tới, dặn "Chuyện này phải giữ kín, đừng để vợ chồng họ biết". Rồi cắt lấy hình người trong tranh, lấy ba chiếc tăm cắm vào, bỏ thêm một nhúm ngải, lấy giấy trắng gói lại, vẽ vài dòng loằng ngoằng như giun bên ngoài. Rồi bảo mẹ Tôn lừa con dâu ra khỏi phòng, lấy trộm chiếc gối tháo đường may ra bỏ gói giấy vào, khâu lại đặt vào chỗ cũ, kế chào đi. Đến đêm, mẹ Tôn ép con trai vào ngủ trong phòng vợ, bà vú biết chuyện tới rình nghe trộm. Sắp hết canh hai, nghe vợ Tôn gọi tên Tôn lúc còn nhỏ, Tôn không đáp. Người vợ lại gọi, Tôn căm tức hạ giọng quát nạt. Đến sáng mẹ Tôn tới phòng xem, thấy vợ chồng quay lưng vào nhau, biết rằng phép thuật của người cô không công hiệu, bèn gọi con ra chỗ vắng khuyên nhủ.
Tôn nghe nhắc tới tên vợ càng giận dữ nghiến răng nghiến lợi, mẹ giận dữ chửi mắng, Tôn cũng bất chấp, cứ thế bỏ đi. Hôm sau người cô tới, mẹ Tôn kể lại việc phép thuật không công hiệu. Người cô ngờ vực lắm, bà vú vào kể lại những gì nghe thấy, người cô cười nói "Trước nghe nói là vợ ghét chồng, nên chỉ làm phép với vợ. Nay vợ đã chuyển ý nhưng ý chồng chưa chuyển, xin làm phép với cả hai người, ắt sẽ hiệu nghiệm". Mẹ Tôn nghe theo, lấy gối con trai ra, người cô lại làm phép như lần trước rồi bảo đem đặt lại trong phòng. Đêm ấy hết canh một còn nghe trên hai chiếc giường trong phòng vợ chồng Tôn có tiếng trở mình, tiếng ho hắng, như đều không ngủ được. Hồi lâu nghe hai người thì thào nói chuyện với nhau trên một giường, nhưng không rõ là nói gì. Gần sáng còn nghe tiếng cười đùa, khanh khách mãi không thôi.
Bà vú kể lại, mẹ Tôn mừng rỡ tạ ơn người cô rất hậu. Từ đó vợ chồng Tôn hòa thuận đằm thắm, đến nay người nào cũng trên ba mươi tuổi, sinh được một trai hai gái, hơn mười năm trời không cãi nhau một câu. Bạn bè hỏi riêng, Tôn cười đáp "Trước đó thấy bóng là nổi giận, sau đó lại nghe tiếng thì vui vẻ, thật cũng chẳng biết tâm ý mình ra sao".
Dị Sử thị nói: Đổi ghét làm thương, phép thuật ấy chẳng cũng thần kỳ sao! Nhưng có thể khiến cho người vui mừng thì cũng có thể khiến cho người tức giận, phép thuật thần kỳ cũng là phép thuật đáng sợ đấy. Bậc tiên triết nói "Có sáu hạng đàn bà* không nên cho vào cửa", lời ấy thật là có kiến thức thay.
* Sáu hạng đàn bà: nguyên văn là "lục bà", tức "tam cô lục bà", gồm ni cô (bà vãi), đạo cô (nữ đạo sĩ), quái cô (bà thầy bói), nha bà (đàn bà nhổ răng), môi bà (bà mối), sư bà (bà phù thủy), kiền bà (đàn bà già không chồng), dược bà (đàn bà bán thuốc), ổn bà (bà đỡ). Nhìn chung đây là những người vì địa vị và nghề nghiệp nên có quan hệ xã hội rộng, biết nhiều chuyện riêng của người ta, dễ sinh chuyện rắc rối, ngày xưa lại hay trọng nam khinh nữ nên nói như vậy.
307. Tú Tài Huyện Nghi Thủy (Nghi Thủy Tú Tài)
Tú tài Mỗ ở huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông) học trong núi, đêm có hai mỹ nhân tới, cười nụ không nói gì, cùng lấy tay áo phủi giường nối nhau ngồi xuống, im lặng không nói tiếng nào. Lát sau một người đứng lên trải chiếc khăn lụa ra bàn, trên có ba bốn hàng chữ thảo, Tú tài cũng chưa nhìn xem là viết những gì. Một người đặt một nén bạc khoảng ba bốn lượng xuống, Tú tài cầm lấy bỏ vào tay áo, người kia cầm chiếc khăn lên nắm tay kéo nhau đi cười nói "Trần tục không sao chịu được" Tú tài mò lại nén bạc thì không còn nữa. Người đẹp ngồi đó trao cho ý tình thì không nhìn ngó tới, mà tiền bạc thì lấy, đúng là tướng ăn mày, làm sao chịu nổi! Hồ kia có thể biết kẻ sang người hèn, phong thái cao nhã ra sao có thể biết vậy.
308. Nhà Sư Chết (Tử Tăng)
Đạo sĩ nọ đi vân du, chiều tối ghé vào một ngôi chùa vắng. Thấy tăng phòng đóng chặt, bèn trải tấm bồ đoàn ra ngồi dưới hành lang. Đêm khuya chợt nghe tiếng mở cửa, thấy một nhà sư bước ra, toàn thân đẫm máu, nhưng như không nhìn thấy đạo sĩ, đạo sĩ cũng làm như không nhìn thấy. Nhà sư đi thẳng tới Phật điện, lên chỗ tòa sen, ôm đầu tượng Phật mà cười, hồi lâu mới đi. Đến sáng đạo sĩ thấy cửa phòng vẫn đóng chặt như cũ lấy làm lạ, vào trong thôn kể lại việc mình trông thấy. Mọi người tới chùa phá cửa vào xem, thì thấy nhà sư bị giết nằm trên mặt đất, nệm chiếu trong phòng xáo trộn vương vãi, biết là bị kẻ cướp vào giết. Lại ngờ chuyện hồn nhà sư cười là có lý do, bèn cùng nhau tới xem xét đầu tượng Phật, thấy phía sau đầu tượng có vết, cạy ra thấy bên trong giấu hơn ba chục lượng vàng, bèn lấy để chôn nhà sư.
Dị Sử thị nói: Lời ngạn có câu Đồng tiền liền khúc ruột thật không phải sai! Phàm người ta nhịn ăn nhịn mặc mà không biết để lại của cải cho ai, cũng đã là ngây ngốc rồi, huống chi nhà sư còn không có cả kẻ thừa kế của cải sao! Sống không chịu ban phát làm ơn, chết còn nhìn lại mà cười, bọn đầy tớ của tiền bạc đáng than thở tới như thế đấy? Phật nói "Một đồng không chịu bỏ, Chỉ có nghiệp theo mình", chắc là nói nhà sư ấy chăng!
309. Trâu Bay (Ngưu Phi)
Anh Mỗ người trong huyện mua được một con trâu rất khỏe. Đêm nằm mơ thấy trâu mọc cánh bay mất, cho là điềm không hay, sợ là sẽ bị mất, bèn dắt ra chợ bán lỗ, lấy khăn bọc tiền lại quàng lên vai. Về được nửa đường thấy có con chim ưng đang ăn con thỏ, tới gần cũng rất dạn không bay. Y vồ con ưng, lấy hai đầu khăn buộc chân buộc cánh nó. Con ưng giẫy giụa một lúc mối khăn buộc cánh lỏng ra, nó mang cả khăn vùng bay mất, mang cả tiền đi. Mỗ cứ nói rằng số trời đã định thì không sao tránh khỏi, nhưng nếu không bị giấc mơ làm cho ngờ vực, không tham của rơi trên đường, thì con thú chỉ biết đi làm sao mà bỗng chốc bay được!
310. Bói Gương (Kính Thính)
Anh em họ Trịnh ở huyện Ích Đô (tỉnh Sơn Đông) đều là kẻ sĩ có tài văn chương. Người anh sớm nổi tiếng, cha mẹ thương yêu quá đáng, vì vậy yêu thương cả con dâu. Người em rủi ro nên cha mẹ không những không thích mà còn ghét bỏ cả con dâu thứ, đối xử tàn tệ, thành ra tình trạng bên thương bên ghét rất rõ ràng trong nhà. Vợ người em cứ nói chồng cũng là đàn ông, sao lại không thể tranh giành cho vợ con, rồi bỏ không chịu ngủ chung nữa. Người em vì thế phẫn chí ra sức học tập, cũng được nổi tiếng, cha mẹ mới dần dần nhìn ngó tới, nhưng rốt lại cũng không được thương yêu như người anh. Người con dâu thứ rất mong mỏi ở chồng, năm ấy gặp kỳ thi hương, đêm trừ tịch lén đi bói gương*. Thấy có hai người đùa giỡn xô đẩy nhau, nói "Ngươi cũng ra cho mát".
*Bói gương: nguyên văn là "kính thính", một hình thức bói toán dân gian ở Trung Quốc, người bói bưng gương đứng trước bàn thờ Táo thần cầu khấn rồi bước ra nghe lời người ta nói để xem điềm may rủi.
Người con dâu thứ về nghĩ mãi không rõ là điều may hay rủi nên cũng để đó. Thi xong hai anh em cùng về, lúc ấy đang là mùa hè rất nóng bức, hai người con dâu lúi húi trong bếp nấu cơm cho thợ cày, nóng nực rất khổ. Chợt có người báo danh tới nhà báo tin người anh thi đỗ. Người mẹ xuống bếp, nói với con dâu lớn "Con trai lớn thi đỗ rồi, con ra ngoài cho mát". Người con dâu thứ vừa giận vừa tủi, chảy nước mắt thổi lửa. Giây lát lại nghe báo người em cũng thi đỗ, người con dâu thứ ném luôn cái que chọc lò xuống đứng lên nói "Ta cũng ra ngoài cho mát.". Lúc ấy trong lòng chất chứa hờn oán nên bất giác buột miệng nói thế, đến khi nghĩ lại mới biết chuyện bói gương đã nghiệm.
Dị Sử thị nói: Nghèo hèn thì cha mẹ không cho là con, việc ấy cũng có. Chốn trường thi thì không phải chỗ phẫn khích là thành công được, nhưng vợ người em phẫn khích khuyên chồng, cũng vì oán vọng không biết dựa vào đâu. Nhưng nếu người em không thi đỗ khoa ấy mà vợ cũng ném cái que chọc lò xuống đứng lên, thì mới thật là chuyện hay ngàn thuở vậy.
311. Dịch Trâu (Ngưu Hoàng)
Trần Hoa Phong người huyện Mông Sơn (tỉnh Sơn Đông) ngày hè nóng nực ra ngủ dưới gốc cây ngoài đồng. Chợt có một người vội vã đi tới, quấn một cái khăn quanh đầu, đi mau tới dưới bóng cây, ngồi xuống một tảng đá quạt lấy quạt để, mồ hôi chảy ròng ròng. Trần ngồi dậy cười nói "Bỏ cái khăn ra thì không quạt cũng mát". Khách nói "Bỏ ra thì dễ, nhưng đội lên thì khó". Trần cùng khách trò chuyện, thấy học hành rất uẩn súc. Kế khách nói "Bây giờ chẳng mong ước điều gì, chỉ cần có rượu ngon ngâm lạnh, uống vào một hơi vừa thơm vừa mát, vào tới ruột gan rồi thì có thể đỡ nóng được một nửa". Trần cười nói "Chuyện đó dễ lắm, ta xin lo cho ông", rồi nắm tay khách nói "Tệ xá cũng gần đây, xin mời ghé qua chơi", khách cười đi theo.
Vào tới nhà, Trần lấy rượu cất dưới hầm đá ra, lạnh tê cả răng. Khách cả mừng, uống liên tiếp một hơi hơn chục chén. Trời vừa xế chiều chợt mưa xuống, Trần bèn thắp đèn trong phòng lên. Khách cởi khăn ra cùng ngồi, trò chuyện một hồi, Trần thấy phía sau gáy khách lúc lúc lại lóe sáng, lấy làm ngờ vực. Không bao lâu khách say, lăn ra ngủ ở giường, Trần đẩy ngọn đèn tới gần nhìn trộm, thấy sau vành tai khách có một cái lổ sâu hoắm to bằng cái chén, miệng lỗ có mấy mảnh da che khuất như cánh cửa, bên ngoài có lớp da mềm rủ xuống che khuất, trong thì trống rỗng. Trần sợ lắm, lén nhấc búi tóc khách lên, lấy trâm vạch lớp da xem, thấy có một vật như con trâu nhỏ theo chỗ tay khều bay ra, phá tung cửa sổ mà đi. Trần hoảng sợ không dám vạch nữa. Vừa định quay đi, khách đã tỉnh dậy, hoảng sợ nói "Ngươi lén xem chuyện trộm kín của ta, thả con trâu dịch ra, làm sao bây giờ". Trần lạy hỏi nguyên do, khách đáp "Đã tới nước này thì còn ngại ngùng gì nữa. Nói thật với ngươi, ta là ôn thần lục súc đây, vừa rồi anh thả con trâu dịch ra, chỉ sợ là trong vòng trăm dặm trở lại đây sẽ không còn giống trâu nữa".
Trần vốn làm nghề nuôi trâu, nghe thế cả sợ, lạy xin chỉ cách giải trừ. Khách nói "Ta chắc không tránh được tội rồi, còn cách để giải trừ thì có sâm đắng giã ra là hiệu nghiệm nhất, nhưng phải truyền ra cho nhiều người, không nên giữ riêng thì được rồi". Nói xong chào ra cửa, lại vốc đất vun lên ở chân vách, nói "Mỗi lần dùng một viên cũng công hiệu", rồi chắp tay chào, chớp mắt không thấy đâu nữa. Không bao lâu sau, trâu bò trong vùng quả nhiên mắc bệnh, bệnh dịch lan ra. Trần muốn thủ lợi, giữ kín bài thuốc không chịu truyền rộng ra, chỉ nói với em. Người em làm thử thì công hiệu như thần, nhưng Trần làm thuốc đổ cho trâu mình uống thì vô hiệu, nuôi hai trăm con đều chết sạch, chỉ còn bốn năm con trâu cái già, cũng nối nhau lăn ra sắp chết. Trần buồn rầu không biết làm sao, chợt nhớ tới vốc đất ở chân vách, cũng nghĩ chưa chắc đã có công hiệu, nhưng cũng lấy cho trâu uống. Qua đêm thì trâu đều đứng dậy cả, mới sực hiểu rằng sở dĩ thuốc không công hiệu là vì thần phạt mình có ý riêng tư. Vài năm sau, trâu cái sinh đẻ, đàn trâu của Trần mới dần dần được như cũ.
312. Chu Tam (Chu Tam)
Trương Thái Hoa ở châu Thái An (tỉnh Sơn Đông) là một viên lại giàu có. Nhà bị hồ quấy phá không sao chịu nổi, tìm mọi cách giải trừ đều vô hiệu, trình với quan Châu doãn, quan cũng không biết làm sao. Lúc bấy giờ ở phía đông châu cũng có hồ tới ở nhà dân, mọi người đều nhìn thấy, là một ông già tóc bạc, nghe nói trò chuyện cư xử với người trong nhà đều theo lễ của loài người. Ông ta tự xưng là thứ hai, mọi người đều gọi là Hồ Nhị gia. Gặp lúc có người Chư sinh tới yết kiến quan Châu doãn, kể lại chuyện ấy, quan bày kế cho viên lại, bảo tới hỏi ông ta. Lúc ấy trong thôn Đông có người làm lính lệ ở châu, viên lại tới hỏi thăm, quả có chuyện ấy thật, bèn cùng nhau về nhà người lính lệ, bày tiệc mời Hồ. Hồ tới, chào hỏi ăn uống không khác gì người thường, viên lại nhân đó nói điều mình mong muốn.
Hồ nói "Ta vốn biết rõ, nhưng không thể giúp ông được. Người bạn ta là Chu Tam đang ngụ cư ở Nhạc miếu, có thể giúp được, ta xin đi mời giùm ông". Viên lại mừng rỡ cảm tạ. Lúc chia tay Hồ hẹn với viên lại là sáng mai cứ bày tiệc ở phía đông Nhạc miếu chờ. Viên lại theo lời, quả nhiên Hồ dắt Chu tới. Chu râu xoăn mặt đen, mặc quần áo đi ngựa, uống được mấy chén, hỏi viên lại rằng "Vừa rồi Hồ nhị đệ đã nói rõ ý ông, nhưng bọn kia rất đông, không thể dỗ dành được, thể nào cũng phải dụng võ. Xin cho ta được tới ở nhờ nhà ông, thì khó nhọc bao nhiêu cũng không dám từ chối". Viên lại nghe thế, nghĩ thầm bớt được một con hồ thì lại thêm một con hồ, chỉ là lấy tai họa này thay tai họa khác. Còn đang ngần ngừ không dám ưng thuận, Chu đã biết ý, nói "Ông sợ nhau ư? Ta không phải như chúng, mà còn có túc duyên với ông, xin đừng ngờ vực", viên lại bèn ưng thuận.
Chu lại dặn sáng mai bảo người nhà đóng cửa ngồi trong phòng, đừng lên tiếng. Viên lại về nhà làm như lời dặn, quả nghe trong sân có tiếng đâm chém ác đấu kịch liệt, hơn một giờ mới yên. Mở cửa ra nhìn, thấy máu lốm đốm đầy cả bậc thềm, trong sân có mấy cái đầu hồ to bằng cái bát. Lại nhìn qua nhà dưới, thì Chu đã ngất ngưởng ngồi ở trong, chắp tay cười nói "Nhờ ông tin tưởng gởi gắm, nên đã quét sạch bọn yêu nghiệt rồi". Từ đó Chu ở lại trong nhà, gặp nhau thân mật như chủ khách vậy.
313. Lưu Tính (Họ Lưu)
Họ Lưu người trong huyện là kẻ hung dữ. Sau rời huyện Truy tới ở huyện Nghi (đều thuộc tỉnh Sơn Đông), tính cũ vẫn không bỏ, người làng vừa sợ vừa ghét. Lưu có mấy mẫu ruộng liền bờ với ruộng Miêu mỗ, Miêu vốn chăm chỉ, ven ruộng trồng rất nhiều đào. Đào vừa có trái, con Miêu ra vin hái, Lưu tức giận xua đuổi, nói là đào của mình. Đứa con kêu khóc chạy về kể với Miêu, Miêu còn đang kinh ngạc sợ hãi thì Lưu đã tới trước cổng mắng chửi, lại đòi đi kiện. Miêu cười ra dàn hòa, Lưu không biết trút giận vào đâu, tức tối bỏ đi. Lúc ấy trong huyện có Lý Thúy Thạch đi buôn bán ở huyện Nghi, Lưu mang đơn kiện lên huyện thì gặp nhau trong thành. Lý thấy là người cùng huyện vốn quen biết, hỏi là đi đâu. Lưu kể lại, Lý cười nói "Tiếng tăm của anh mọi người đều biết rồi, ta vốn biết Miêu mỗ rất hòa hoãn hiền lành, đâu dám chiếm đoạt của ai, có phải là anh nói ngược không vậy?", rồi xé nát đon kiện của Lưu, kéo Lưu vào quán rồi khuyên giải. Lưu tức tối không chịu, lấy trộm bút mực trong quán rượu viết lại đơn kiện nhét vào bọc, định sẽ đi kiện nữa.
Không bao lâu Miêu cũng tới, kể lại hết mọi việc rồi năn nỉ Lý cứu giúp, nói "Ta là người nhà quê, nửa đời không gặp bậc quan trưởng, nếu có thể khỏi phải kiện tụng, thì đâu dám giữ mấy gốc đào?". Lý gọi Lưu ra, nói việc Miêu tình nguyện nhường nhịn, Lưu còn chỉ trời vạch đất chửi mắng không thôi, Miêu chỉ lễ phép thưa gởi, không dám cãi lại câu nào. Chuyện xong cùng về, qua bốn năm ngày, thấy người trong thôn đồn rằng Lưu đã chết, Lý ngạc nhiên than thở. Hôm sau Lý có việc ra ngoài, thấy Lưu nghiễm nhiên chống gậy đi tới. Tới nơi, ân cần hỏi thăm, lại mời Lý tới nhà chơi. Lý đi theo, hỏi "Hôm trước nghe tin dữ, té ra là sai". Lưu không đáp, chỉ kéo Lý vào thôn, tới nhà, bày rượu ra khoản đãi, mói nói "Tin đồn hôm trước không sai đâu. Hôm trước vừa ra khỏi nhà, thấy có hai người tới bắt lên gặp quan, hỏi có chuyện gì chỉ nói không rõ. Ta tự nghĩ mình ra vào nha môn mấy mươi năm nay, chẳng sợ gì gặp quan, cũng chẳng sợ hãi gì nên cứ đi theo. Tới công thự thấy người ngồi trên vẻ mặt giận dữ nói "Ngươi là Lưu Mỗ phải không? Tội ác ngập đầy mà không tự hối, lại còn cướp đoạt của người về làm của mình, loại ngang ngược này thì phải bỏ vào vạc dầu. Một người tra sổ nói "Người này có làm một điều lành, có thể tha tội". Người ngồi trên giở sổ xem, dịu nét mặt nói "Tạm đưa y về". Mấy mươi người đồng thanh quát đuổi ra, ta hỏi "Vì việc gì mà bắt ta tới, vì việc gì mà tha ta ra, xin được hỏi rõ". Viên lại cầm sổ bước xuống chỉ cho xem một hàng, trên ghi năm Sùng Trinh thứ 13 (1640) thời Minh bỏ ra ba trăm đồng cứu một người, giúp cho vợ chồng họ được đoàn tụ. Viên lại nói "Nếu không như thế thì hôm nay đã phải chết, đầu thai làm súc vật rồi". Ta sợ quá bèn theo hai người kia đi ra. Hai người đòi tiền hối lộ, ta tức giận nói "Không biết rằng Lưu Mỗ ta ra vào nha môn hai chục năm nay, chỉ chuyên cướp đoạt của cải của người khác à? Tại sao lại dám đòi thịt từ miệng cọp già hả?". Hai người không đáp, đưa ta tới thôn rồi chắp tay nói "Chuyến này bọn ta chưa uống của ngươi hớp nước nào đấy nhé". Hai người đi rồi, ta vào nhà thì sống lại, té ra đã chết một ngày rồi".
Lý nghe xong lấy làm lạ, nhân hỏi rõ đầu đuôi chuyện Lưu làm điều lành. Trước là vào năm Sùng Trinh thứ 13 mất mùa lớn người ta phải ăn thịt nhau. Lúc ấy Lưu làm chức Chủ Bổ lệ ở huyện Truy, gặp hai người đàn ông đàn bà khóc lóc rất thảm thiết, hỏi thăm thì họ đáp "Vợ chồng mới lấy nhau được hơn một năm, năm nay mất mùa, không thể cả hai cùng sống nên thương tâm". Lát sau Lưu lại thấy họ trước quán bán dầu, như đang cãi cọ gì đó. Tới gần hỏi han, chủ quán họ Mã nói "Hai vợ chồng này đói sắp chết, hàng ngày vẫn xin ta bã dầu ăn qua ngày, nay lại muốn bán vợ cho ta, nhưng ta đã mua cả chục người trong nhà rồi. Cũng có gì quan trọng đâu, rẻ thì ta mua, không thì thôi. Kể cũng buồn cười, cứ đem tới ép người ta mua". Người đàn ông nói "Năm nay gạo thóc đắt như ngọc, tính ra nếu không có đủ ba trăm đồng thì không đủ phí tổn đi tránh nạn đói. Vốn là muốn cả hai người cùng được sống, chứ nếu bán vợ mà cũng không thoát chết thì cần gì. Thật không dám nói giá cả chỉ mong ông làm việc để đức lại cho con cháu thôi". Lưu thương xót, hỏi Mã trả bao nhiêu, Mã đáp "Hôm nay giá đàn bà chỉ có một trăm". Lưu xin đừng nói bớt, lại xin giúp thêm một nửa cho đủ số ba trăm, Mã nhất định không chịu. Lưu nổi nóng nói với người đàn ông rằng "Y keo kiệt như thế chẳng đáng nói nữa, ta xin tặng đủ số anh cần, nếu có thể tránh nạn đói mà còn được vợ chồng thì càng hay!". Bèn dốc túi đưa tiền cho, hai vợ chồng khóc lạy rồi đi. Lưu kể xong, Lý cực lực ca ngợi.
Từ đó Lưu bỏ hẳn nết cũ, đến nay đã bảy mươi tuổi vẫn còn khỏe mạnh. Năm rồi Lý tới thôn, thấy Lưu đang cãi cọ với người ta, mọi người xúm quanh can ngăn mà không được. Lý cười gọi "Ngươi lại muốn kiện giành cây đào phải không?". Lưu vội vàng thay đổi sắc mặt, khép nép thu tay lại bỏ đi.
Dị Sử thị nói: Anh em Lý Thúy Thạch đều có tiếng là giàu có nhưng Thúy Thạch tính thuần hậu, ưa làm điều lành, chưa từng kiêu ngạo rằng mình giàu có, cũng là bậc quân tử thành thật cẩn thận vậy. Xem việc ông can chuyện tranh cãi, khuyên làm điều lành thì con người bình sinh thế nào có thể biết được. Lời xưa nói "Kẻ giàu có không nhân đức", ta không biết Thúy Thạch là kẻ trước nhân đức rồi sau giàu có hay là trước giàu có rồi sau nhân đức?
Phụ: Một Truyện Trong Truy Xuyên Chí, Nghĩa Hậu Truyện (Truy Xuyên Chí Nghĩa Hậu Truyện Nhất Tắc)
Lý Vĩnh Khang tự Thúy Thạch, tính thuần hậu, hay cứu kẻ nạn, ưa giúp kẻ nghèo. Cách huyện thành Truy Xuyên ba mươi dặm về phía tây có đường hang núi, dân ở đó bắc cầu để tiện qua lại. Cầu bắc ngang hai bờ vực, tính ra phí tổn tới hàng ngàn đồng vàng, Khang phá gia tài tới giúp đỡ mới làm được. Lại quyên tiền sửa cầu ở thôn Tiêu, chưa xong thì qua đời, em là Vĩnh Dự hết sức giúp đỡ làm cho xong để noi chí anh. Trong làng có nhà thế hào độc ác họ Mỗ ở cạnh nhà họ Miêu, Miêu trồng mấy gốc đào, con Miêu ra hái trái, Mỗ giận dữ nói là đào của mình, định kiện lên quan. Khang gặp biết chuyện, xé nát đơn kiện, ra sức can ngăn, Mỗ còn tức giận không chịu thôi, kế bị âm phủ trừng phạt nên hối hận tỉnh ngộ, rất cảm ơn Khang. Bài Long Tuyền ký của quan Thái sử họ Đường, bộ Liêu Trai chí dị của viên Minh kinh họ Bồ* đều có chép. Quan Tri huyện là ông Dương My viết tặng bốn chữ "Danh cao nguyệt đán" (Nổi tiếng như vầng trăng rằm) để biểu dương, người trong huyện đều cho là vinh dự.
* Bộ Liêu Trai chí dị của viên Minh kinh họ Bồ: tức Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh.
314. Quan Giữ Kho (Khố Quan)
Ông Trương Hoa Đông ở huyện Trâu Bình (tỉnh Sơn Đông) phụng chỉ ra tế Nam Nhạc, đi theo đường Giang Hoài. Định nghỉ lại ở dịch trạm, đội tiền khu mở đường bẩm rằng trong trạm có chuyện quái dị, ngủ lại thế nào cũng có chuyện rắc rối. Trương không nghe cứ nghỉ lại, nửa đêm đang đội mũ đeo kiếm ngồi, chợt nghe có tiếng giày bước vào. Nhìn ra thì là một ông già tóc bạc, mũ đen đai đen, lấy làm lạ hỏi. Ông già dập đầu nói "Ta là quan giữ kho, giám thủ kho tàng của đại nhân đã lâu rồi, may gặp ấn kiếm quang lâm, hạ quan xin được thôi giữ trách nhiệm nặng nề này". Trương hỏi trong kho còn bao nhiêu, ông già nói còn hai mươi ba ngàn năm trăm lượng vàng. Trương nghĩ vàng nhiều dễ thiếu, hẹn lúc trở về sẽ kiểm lại, ông già vâng dạ lui ra.
Trương tới Nam Trung, được biếu xén rất hậu, đến khi trở về nghỉ lại ở dịch trạm. Ông già lại tới yết kiến, Trương hỏi về tiền bạc trong kho, ông ta đáp "Đã điều hết qua Liêu Đông lo việc binh lương rồi". Trương thấy lời nói trước sau trái ngược rất ngạc nhiên, ông già nói "Lộc mệnh của đời người đều đã có số nhất định, thêm bớt một chút cũng không được. Đại nhân đi chuyến này muốn có bao nhiêu đã được bấy nhiêu, còn muốn gì nữa?", nói xong ra đi. Trương kiểm lại số tiền được biếu xén, so với số trong kho ông già nói lần trước thì vừa đúng khớp mới than thở miếng cơm hớp nước cũng là tiền định, không thể mong cầu quá phận được.
315. Chàng Rể Họ Kim (Kim Cô Phu)
Ở Cối Kê (huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang) có đền thờ Mai Cô. Thần vốn họ Mã, gia đình cư ngụ ở Đông Uyển, chưa làm đám cưới thì chồng đã chết, bèn thề ở vậy không lấy chồng, đến ba mươi tuổi thì chết. Người trong họ lập đền thờ, gọi là Mai Cô. Năm Bính thân có Kim sinh ở huyện Thượng Ngu (tỉnh Chiết Giang) đi thi ghé lại, vào miếu rồi ngẩn ngơ, ra về cứ tơ tưởng. Đến đêm, nằm mơ thấy một người tỳ nữ tới, truyền lệnh Mai Cô gọi. Sinh đi theo, vào tới miếu thấy Mai Cô đứng chờ dưới thềm cười nói "Được chàng có lòng đoái tưởng, tình rất quyến luyến nên không hiềm thô vụng, xin được nâng khăn sửa túi, Sinh líu ríu vâng dạ, Mai Cô đưa ra cửa, nói "Chàng cứ về, khi nào sắp đặt nhà cửa xong, sẽ xin tới đón", sinh tỉnh dậy sợ lắm.
Đêm ấy người trong vùng nằm mơ thấy Mai Cô nói "Kim sinh ở Thượng Ngu nay là chồng ta, phải đắp tượng chàng". Đến sáng, người trong thôn kể lại thì đều nằm mơ thấy thế, người tộc trưởng sợ nhơ bẩn danh tiếng trinh tiết, nên không chịu nghe theo. Không bao lâu thì cả nhà mắc bệnh, sợ hãi vội đắp tượng Kim sinh đặt bên trái tượng Mai Cô. Khi đã làm xong, Kim sinh nói với vợ con rằng "Mai Cô đón ta rồi!". Rồi mặc áo đội mũ mà chết. Vợ sinh đau xót căm hận, tới miếu chỉ vào tượng Mai Cô chửi mắng, lại lên điện thờ vả vào mặt tường bốn cái rồi bỏ đi. Đến nay họ Mã gọi sinh là chàng rể họ Kim.
Dị Sử thị nói: Không lấy chồng mà thủ tiết, không thể nói là bất trinh được. Nhưng làm ma mấy trăm năm rồi, lại thay đổi tiết tháo, sao mà vô sỉ thế. Đại khái là những hồn trinh phách liệt chưa chắc đã cần phải dựa vào tượng đất, cho nên miếu mạo kia có linh thiêng làm người ta sợ hãi cũng chỉ như loại hồ quỷ mà thôi.
316. Sâu Rượu (Tửu Trùng)
Họ Lưu ở huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông), thân thể to béo, tính hay rượu, thường một mình uống sạch một vò. Có ba trăm mẫu ruộng ở cạnh huyện thành, cứ một nửa là trồng lúa nếp, nhưng nhà vẫn giàu có, không vì uống rượu mà sa sút. Có nhà sư Tây Vực gặp Lưu, nói là trong người có tật lạ, Lưu đáp là không. Nhà sư nói "Có phải ông uống rượu thường không say phải không?", Lưu đáp "Đúng thế". Nhà sư nói "Đó là vì có con sâu rượu", Lưu ngạc nhiên xin nhà sư chữa cho. Nhà sư đáp "Dễ thôi". Hỏi phải dùng thuốc gì, nhà sư đáp không cần, chỉ bảo Lưu nằm sấp trên giường, trói cả chân tay lại. Rồi đặt một chậu rượu cách đầu Lưu một thước, giây lát Lưu thấy thèm rượu lắm, mùi rượu thơm ngát lại xông lên mũi, cổ khô như lửa đốt nhưng không làm sao uống được. Chợt thấy trong cổ họng ngứa ngáy, ọe ra một con vật rơi đúng vào chậu rượu. Nhà sư cởi dây trói cho Lưu tới xem, thấy con vật như cục thịt đỏ dài ba tấc, ngo ngoe như cá, có đủ cả mắt miệng. Lư hoảng sợ đem tiền ra tạ ơn, nhà sư không nhận,chỉ xin con sâu ấy mà thôi. Lưu hỏi dùng làm gì, nhà sư đáp "Đây là tinh hoa của rượu, đổ nước vào vò cho con sâu vào thì sẽ lập tức trở thành rượu ngon". Lưu bảo làm thử thì đúng như thế. Từ đó Lưu rất ghét uống rượu, thân thể dần dần gầy bớt, nhà cũng sa sút dần, về sau không đủ cơm áo.
Dị sử thị nói: Một ngày uống một thạch mà vẫn giàu có, không uống một hớp lại thành nghèo khổ, có phải là một miếng cơm một hớp nước đều có số không? Có người nói con sâu rượu ấy là phúc của Lưu, nhà sư lừa lấy để làm trọn vẹn y thuật của mình, không biết đúng hay sai.
317. Con Chó Có Nghĩa (Nghĩa Khuyển)
Mỗ Giáp ở huyện Lộ An (tỉnh Sơn Tây) có cha bị giam giữ trong ngục sắp chết, bèn vét hết rương hòm được trăm đồng vàng lên huyện chạy chọt cứu cha. Lên ngựa ra đi có con chó đen trong nhà cứ chạy theo, đánh cũng không chịu về. Cứ thế được vài mươi dặm, Giáp xuống ngựa ghé vào bên đường đi tiểu, nhân đó nhặt đá ném, con chó mới bỏ chạy. Y lên đường đi tiếp thì con chó lại đuổi theo cắn vào đuôi vào chân ngựa, y tức giận lấy roi đánh, con chó tru lên thảm thiết chạy vượt lên trước cản đầu ngựa, như không cho đi. Y cho là điều không hay, tức giận quay ngựa lại đuổi. Nhìn thấy con chó đã đi xa, mới ra roi phóng ngựa thật nhanh. Tới huyện thì trời đã tối, sờ lại thắt lưng thì tiền đã rơi mất một nửa, sợ toát mồ hôi, hồn bay phách lạc. Thao thức cả đêm, chợt nghĩ tới việc con chó cản mình là có nguyên nhân. Trời sáng vội ra thành tìm kỹ trên đường, nhưng cũng biết đường cái lớn chạy suốt nam bắc, người đi như kiến, tiền đánh rơi làm sao còn được. Lần hồi tìm đến nơi xuống ngựa, thấy con chó nằm chết gục trong đám cỏ, mồ hôi ướt đẫm cả lông như tắm, nắm tai kéo lên thì bọc tiền rơi còn nguyên dưới ngực nó. Y cảm vì con chó có nghĩa bèn mua quan tài chôn, người ta nhân gọi chỗ đó là Mộ con chó có nghĩa (Nghĩa khuyển trủng).
318. Thần Núi Thái Sơn (Nhạc Thần)
Quan Đồng Tri phủ Dương Châu (tỉnh Giang Tô) đêm nằm mơ thấy Nhạc thần triệu tới, sắc mặt lời lẽ rất giận dữ. Ngẩng đầu thấy có một người đứng hầu cạnh thần, thái độ rất ôn hòa, tỉnh dậy sợ lắm. Sáng ra tới làm lễ ở Nhạc miếu, lạy phục xuống khấn khứa. Khi trở về ngang tiệm thuốc thấy một người giống hệt như người đứng cạnh thần trong giấc mơ, hỏi thăm thì là thầy thuốc. Về tới dinh chợt mắc bệnh nặng, bèn sai người đi mời người thầy thuốc ấy tới cắt thuốc, buổi tối uống thì nửa đêm chết.
Có người nói Diêm Vương và vua Đông Nhạc* thường sai mười vạn tám ngàn sứ giả nam nữ đi khắp thiên hạ giả làm thầy bói thầy thuốc, gọi là Sứ giả bát hồn (Câu hồn Sứ giả), cho nên những người uống thuốc không thể không cẩn thận vậy.
* Đông Nhạc: tức Thái Sơn. Nhạc thần trong tên truyện này tức thần núi Thái Sơn theo tín ngưỡng Trung Hoa.
319. Thần Ưng Hổ (Ưng Hổ Thần)
Miếu Đông Nhạc ở quận nằm ngoài cửa nam thành, hai bên có tượng thần cao hơn một trượng, tục gọi là thần Ưng hổ, dáng vẻ dữ tọn rất đáng sợ. Đạo sĩ trong miếu họ Nhiệm, cứ gà gáy là dậy thắp hương niệm kinh. Có tên trộm núp dưới hành lang, chờ đạo sĩ lên điện đọc kinh, lẻn vào trong phòng lục lọi tìm tiền bạc. Nhưng trong phòng không có gì đáng giá, chỉ có ba trăm đồng dưới đệm giường, y bèn giắt vào lưng, mở cổng bỏ đi. Chạy qua núi Thiên Phật trốn về phía nam, vừa xuống tới dưới núi thì thấy một người đàn ông cao hơn một trượng trên núi đi xuống, vai trái có một con chim ưng đậu, vừa khéo gặp nhau. Tới gần nhìn thì thấy người ấy mặt xanh như đồng sắt, rõ ràng là tượng thần vẫn thấy ở cổng miếu. Y hoảng sợ, lạy phục xuống đất run rẩy. Thần quát "Tiền ăn trộm được để đâu?", tên trộm càng sợ, lạy lục không thôi. Thần bắt y trở về miếu, dốc hết tiền ăn trộm ra trả lại rồi quỳ xuống đó. Đạo sĩ đọc kinh xong, trở về phòng nhìn thấy vô cùng ngạc nhiên, tên trộm thuật lại mọi việc, đạo sĩ lấy lại tiền rồi tha cho y đi.
320. Ăn Đá (Hột Thạch)
Nhà Thái công Vương Khâm Văn ở huyện Tân Thành (tỉnh Sơn Đông) có người mã phu họ Vương lúc nhỏ vào học đạo ở núi Lao Sơn, lâu sau thì không ăn cơm, chỉ ăn quả tùng và đá trắng, lông mọc khắp người. Được mấy năm nghĩ tới mẹ đã già nên trở về làng, dần dần lại ăn những thức nấu nướng, nhưngvẫn ăn đá như cũ. Cứ cầm đá soi lên mặt trời là biết mùi vị ngọt đắng chua mặn thế nào, như là khoai vậy. Khi mẹ chết lại trở vào núi, đến nay đã mười tám năm rồi.
Phụ: Một Truyện Trong Trì Bắc Ngẫu Đàm (Trì Bắc Ngẫu Đàm Nhất Tắc)
Việc người tiên nấu đá ăn, người đời vẫn truyền. Người đầy tớ Vương Gia Lộc nhà ta lúc trẻ ở trong núi Lao Sơn, ngồi tĩnh tọa mấy năm, không ăn những thức nấu nướng, chỉ lấy đá làm cơm, khát thì uống nước suối, khắp người mọc lông dài hơn tấc. Sau vì có mẹ già nên trở về nhà, dần dần ăn những thức nấu nướng, lông trên người rụng hết. Nhưng vẫn thmh thoảng ăn đá thay cơm, cứ cầm viên đá soi lên mặt trời thì biết mùi vị ngọt mặn cay đắng thế nào. Sau mẹ chết, không biết đi đâu.
321. Quỷ Trong Miếu (Miếu Quỷ)
Chư sinh Vương Khải Hậu ở huyện Tân Thành (tỉnh Sơn Đông) là cháu cố của quan Cha chánh Trung Vũ công Vương Tượng Khôn. Một hôm thấy có người đàn bà bước vào phòng, to béo đen đủi chẳng có gì đẹp, cười bước tới gần giường, thái độ rất lả lơi. Vương cự tuyệt cũng không đi. Từ đó cứ nằm ngồi trong phòng đều thấy, nhưng vẫn cương quyết như trước, không hề động tâm. Người đàn bà tức giận tát vào mặt Vương thành tiếng nhưng không đau lắm. Kế lấy dây lưng quàng lên xà nhà, thắt lại thành cái vòng treo cổ, Vương bất giác tự treo mình dưới xà nhà, đưa cổ ra như tự ải. Người nhà nhìn thấy đôi giày dưới chân Vương tự nhiên lơ lửng trên không, tuy không chết nhưng từ đó bị điên, chợt nói "Ngươi nhảy xuống sông với ta nào!" rồi chạy thẳng ra sông. Người nhà níu kéo giữ lại mới thôi, cứ hàng trăm chuyện như thế, mỗi ngày vài lần, thuốc men bùa chú đều vô hiệu.
Một hôm, chợt thấy có võ sĩ mang xiềng khóa bước vào nhà giận dữ quát "Kẻ thành thật chất phác như vậy mà ngươi dám quấy nhiễu à?", rồi trói người đàn bà lại dẫn đi. Từ cửa trong ra tới ngoài cửa sổ thì ngườỉ đàn bà biến ra hình dáng khác, mắt sáng như điện chớp, miệng đỏ như chậu máu. Mọi người nhớ lại bốn pho tượng đất ngoài cổng miếu Thành hoàng, thấy giống hệt một trong bốn pho tượng ấy. Từ đó Vương khỏi bệnh.
322. Động Đất (Địa Chấn)
Ngày mười bảy tháng sáu năm Khang Hy thứ 7 (1668) vào giờ Tuất có động đất lớn. Lúc ấy ta đang ở huyện Tắc Hạ (tỉnh Sơn Đông) vừa mới cùng người anh họ là Lý Đốc Chi thắp đèn uống rượu, chợt nghe có tiếng ầm ầm như sấm sét, từ phía đông nam vang về phía tây bắc. Mọi người cả sợ, không biết việc gì. Giây lát bàn ghế đổ lỏng chỏng, chén bát rơi vỡ, cột kèo mái nhà kêu răng rắc, mọi người thất sắc nhìn nhau. Hồi lâu mới biết là động đất, ai nấy đều vội vàng chạy mau ra ngoài. Thấy lầu gác nhà cửa sụt xuống rồi lại nhô lên, tiếng tường sập ngói đổ cùng tiếng đàn bà trẻ con kêu khóc vang lên ầm ầm huyên náo. Người thì chóng mặt không đứng được, ngồi bệt cả xuống đất, lăn lóc theo mặt đất rung lên. Nước sông dâng lên hơn một trượng, tiếng gà kêu chó sủa ầm ĩ khắp thành. Hơn một giờ sau mới yên ắng trở lại, nhìn ra đường phố thì đàn ông đàn bà trần truồng tụm ba tụm bảy tranh nhau kể lể hỏi han, quên cả là chưa mặc quần áo. Về sau nghe nói chỗ nọ giếng sập không múc nước được, nhà kia bị dời phía trước thành phía sau, núi Thê Hà bị xé toác, đáy sông Nghi Thủy sụt xuống một chỗ rộng mấy mẫu, thật là tai biến phi thường.
323. Tướng Công Họ Trương (Trương Lão Tướng Công)
Tướng công họ Trương người đất Tấn (vùng Sơn Tây) sắp gả con gái, đưa gia quyến về Giang Nam để mua sắm. Thuyền tới núi Kim Sơn (huyện Trấn Giang tỉnh Giang Tô) thì ông lên bờ, dặn người nhà chờ dưới thuyền, đừng nấu nướng gì. Đại khái dưới sông có con thuồng luồng ăn thịt người, cứ nghe mùi thơm là tới phá thuyền nuốt ngườỉ, làm hại đã lâu. Ông đi khỏi, người nhà lại quên lời dặn, nướng thịt trong thuyền, chợt có làn sóng lớn lật úp thuyền, vợ con đều chết hết. Trương quay về đau đớn căm hận vô cùng, nhân lên Kim Sơn gặp sư trong chùa trên núi hỏi về con thuồng luồng, định bụng báo thù.
Nhà sư nghe chuyện, hoảng sợ nói "Ta ở gần đây đã lâu, vẫn sợ nó gây họa nên thờ phụng như thần minh, cầu khấn xin đừng tức giận hại người, thường vẫn giết trâu bò ném xuống sông, vừa chìm được một nửa thì thuồng luồng đã nhảy lên nuốt gọn rồi bỏ đi, ai mà trả thù được nó?". Trương nghe thế chợt nghĩ ra kế, bèn gọi thợ rèn đắp lò ở lưng núi, nung đỏ một khối sắt nặng hơn trăm cân rồi dò xét xem thuồng luồng thường ở đâu, sai hai ba người khỏe mạnh lấy kìm lớn kẹp khối sắt ném xuống sông. Thuồng luồng nhảy lên đớp nuốt mau rồi lặn xuống, trong chớp mắt thấy sóng dậy lên như núi, chờ khi sóng lặng thì thấy thuồng luồng chết nổi trên mặt nước. Người qua lại trên sông và sư trên chùa đều mừng rỡ, xây đền thờ tướng công họ Trương, vẽ tượng để thờ, Tôn làm thủy thần, ai vào cầu khấn cũng thấy linh nghiệm.
324. Biến Người Thành Súc Vật (Tạo Súc)
Việc dùng yêu thuật để làm người ta mê man có nhiều lối, có khi dùng thuốc bỏ vào thức ăn cho người ta mê man đi theo, tục danh là đánh thuốc mê (đả dự ba), Giang Nam gọi là bỏ thuốc (xả dự). Trẻ con không biết gì, nhiều đứa bị hại. Lại có kẻ biến người thành súc vật, gọi là "tạo súc", thuật ấy ở Giang Bắc ít có, từ Hoàng Hà về nam mới có nhiều. Nhà trọ nọ ở Dương Châu, có người dắt năm con lừa tới, buộc tạm sau chuồng, nói ta đi một lúc nữa sẽ về ngay, lại dặn đừng cho ăn uống gì cả, rồi đi. Lừa bị phơi nắng, giẫm chân hí ran, chủ nhà trọ bèn dắt vào chỗ mát. Lừa thấy nước, chạy ào tới, chủ nhà trọ bèn cho chúng uống, lập tức đều lăn ra đất, hóa thành đàn bà. Lấy làm lạ, hỏi họ vì sao mà biến ra như vậy, đều lưỡi cứng đơ không nói được, bèn đem giấu họ vào trong phòng. Đến khi chủ lừa về, xua năm con dê vào sân, hoảng hốt hỏi lừa ở đâu. Chủ nhà trọ mời ngồi, mang cơm rượu lên, nói khách cứ ăn uống, lừa sẽ có ngay. Rổi ra ngoài, cho năm con dê uống nước, đều nhào lăn ra hóa thành trẻ con. Bèn ngầm báo quan, quan sai lính tới vây bắt người kia, đóng gông đem giết.
325. Tay Đao Mau Lẹ (Khoái Đao)
Cuối đời Minh, đất Tề (vùng Sơn Đông) có nhiều trộm cướp, các làng đều đặt hương binh giữ gìn, bắt được cướp là giết ngay. Huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đông) vốn nhiều trộm cướp, có một người hương binh mang lưỡi đao rất bén, giết gần hết sạch. Một hôm bắt được hơn mười tên, áp giải ra chợ, trong bọn có một tên biết người hương binh, lân la nói "Nghe nói tay đao của ông rất mau lẹ, chặt đầu người không bao giờ cần tới nhát thứ hai, xin ông giết ta". Người hương binh nói "Được, cứ đi sát vào ta, đừng rời xa". Tới nơi xử chém rút đao vung tay, cái đầu tên cướp rơi xuống liền, lăn ra ngoài mấy bước còn quay lại khen ngợi "Tay đao mau lẹ thật".
326. Con Hồ Ở Phần Châu (Phần Châu Hồ)
Quan huyện Phần Châu (tỉnh Sơn Đông) họ Chu, ở một căn nhà có nhiều hồ. Có đêm ông đang ngồi một mình, chợt có cô gái qua lại trước đèn, lúc đầu cho là người trong nhà nên không để ý, tới khi nhìn ra thì là người lạ, nhưng dung mạo rất xinh đẹp. Trong lòng biết là hồ, nhưng thấy đẹp đẽ nên ưa thích, lớn tiếng gọi lại. Cô gái dừng chân cười nói "Lớn tiếng ra lệnh, ai là tỳ nữ của chàng đấy?". Chu cười đứng lên, mời ngồi tạ lỗi, rồi ngủ với nhau, lâu ngày thương yêu nhau như vợ chồng. Một hôm chợt nói với Chu "Chàng sắp được thăng chức, sắp phải xa nhau rồi". Hỏi còn bao lâu, đáp "Sắp rồi, nhưng người tới mừng ở cửa thì người điếu tang tới cổng, không nhậm chức được" Ba ngày sau, quả nhiên Chu nhận được lệnh thăng chức, ngay hôm sau lại được tin mẹ mất, bèn xin nghỉ về*. Muốn hồ cùng đi, hồ nói là không được, chỉ đưa tới bến sông. Chu lại ép lên thuyền, hồ nói "Chàng vốn không biết, hồ thì không thể qua sông". Chu không nỡ chia tay, bịn rịn mãi ở bên sông, cô gái chợt bỏ đi, nói là sẽ tìm một người quen, lát sau quay về, lập tức có người khách tới chào hỏi. Cô gái cùng khách cách mặt chuyện trò, khách về bèn ra, nói "Mời lên thuyền, thiếp cùng chàng qua sông". Chu hỏi "Vừa nói không qua sông được, sao giờ lại nói thế", hồ đáp "Người vừa gặp không phải ai khác, chính là Hà bá sông này. Thiếp vì chàng thương mến nên cố xin, ông ta hẹn trong mười ngày phải về, nên có thể đi cùng nhau ít hôm". Bèn cùng qua sông, đến ngày thứ mười, quả nhiên từ biệt mà đi.
* Xin nghĩ về: nguyên văn là "giải nhiệm" (thôi giữ chức). Lệ ngày xưa quan lại có tang cha mẹ phải tạm nghỉ chức về cư tang.
327. Ba Chuyện Về Rồng (Long Tam Tắc)
I.
Ở địa giới Bắc Trực có con rồng rơi vào làng. Vất vả nặng nề bò lê vào nhà người thân hào nọ, lọt được vào cửa, nằm chắn ở đó người trong nhà chạy hết lên lầu kêu la, bắn súng vang trời. Rồng bèn ra ngoài cổng, dừng lại ở cái rãnh nước sâu không quá một thước, xuống đó quẫy lộn, toàn thân dính bùn bê bết, hết sức bay lên, nhưng được một thước lại rơi xuống. Sâu bọ lúc nhúc ba ngày, ruồi nhặng bám đầy trên vẩy, chợt trời mưa lớn, ầm ầm bay thẳng lên không đi mất.
II.
Phòng sinh cùng bạn lên Ngưu Sơn (thuộc tỉnh Sơn Đông), vào chùa viếng cảnh, chợt thấy trên giá gác chuông có một viên ngói vàng rơi xuống, trên có con rắn nhỏ, bé tí như con giun đất bò quanh một vòng đã to bằng chiếc dây lưng. Mọi người đều hoảng sợ, biết đó là rồng, vội chạy xuống núi. Vừa tới lưng núi, nghe trong chùa vang lên một tiếng sét nổ chấn động cả sơn cốc trên trời xuất hiện một đám mây đen như cái lọng, trong có một con rồng lớn đang uốn lượn, giây lát thì mất hút.
III.
Trang trại Tiểu tướng công ở huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đông) có người đàn bà đi ngoài đồng, gặp cơn gió lớn tạt bụi đầy mặt, thấy một con mắt tối sầm lại, như bị cái vỏ trấu lọt vào, hết dụi tới thổi cũng không hết. Lật mi mắt lên nhìn kỹ, thì tròng mắt không bị gì, nhưng có một sợi chỉ đỏ chạy ngoằn ngoèo trong thịt. Có người nói "Đó là trập long", người đàn bà lo sợ chờ chết. Hơn ba tháng sau trời đổ mưa lớn, chợt một tiếng sấm lớn vang lên, rồng vạch mi mắt bay ra, người đàn bà không bị gì.
328. Trên Sông (Giang Trung)
Vương Thánh Du đi chơi ở Giang Nam, neo thuyền giữa sông. Chặp tối đi nằm, thấy trăng sáng vằng vặc không ngủ được, sai đứa tiểu đồng đấm bóp. Chợt nghe thấy nóc thuyền như có tiếng chân trẻ con bước, đạp lên mui thành tiếng, từ cuối thuyền dần dần đi tới của khoang thuyền, ngờ là kẻ trộm, vội nhỏm dậy hỏi đứa tiểu đồng thì nó cũng nghe thấy như vậy. Còn đang thì thào hỏi nhau, chợt thấy một người nằm trên nóc thò đầu nhìn vào khoang thuyền. Vương cả kinh tuốt kiếm gọi đám người hầu, cả thuyền đều tỉnh dậy. Vương kể chuyện mình vừa thấy, có người ngờ là hoa mắt nhìn lầm. Chợt có tiếng thanh la nổi vang, mọi người đổ ra nhìn khắp bốn phía đều chẳng thấy một ai, chỉ có trăng sáng sao thưa, sóng sông gờn gợn mà thôi. Mọi người xúm xít ngồi sát nhau trên thuyền, chợt thấy ánh lửa xanh như ngọn đèn lồng xuất hiện trên mặt nước, trôi tới cạnh thuyền thì tắt, lập tức có một người đen thui bật dậy, đứng thẳng trên mặt nước, lấy tay vịn thuyền mà đi. Mọi người vội nói "Đúng là vật ấy đấy" toan bắn ra nhưng vừa giương cung lên thì người ấy vội hụp luôn xuống nước, không sao thấy được nữa. Hỏi những người chèo thuyền, họ nói "Đây là nơi chiến trường ngày xưa, thường có ma quỷ xuất hiện, chẳng có gì lạ".
329. Hai Chuyện Làm Trò (Hý Thuật Nhị Tắc)
I.
Có người làm trò bằng cái thùng, cái thùng ấy có thể chứa được một thăng, rỗng không không có đáy, cũng như các vật dùng làm xiếc thông thường. Người làm trò trải hai cái chiếu trên mặt đường, đặt cái thùng lên, cầm một cái thăng đặt vào trong thùng, nhấc ra thì đầy một thăng gạo trắng, dốc lên trên chiếu. Lại đặt vào, lại dốc ra, giây lát thì chiếu đầy cả gạo. Kế đó lại lường từng thăng từng thăng gạo đổ vào thùng, hết rồi thì nhấc lên, cái thùng lại rỗng không, thật là lạ lùng.
II.
Lý Kiến Điền người huyện Lợi Tân (tỉnh Sơn Đông) rảnh rỗi dạo chơi trong chợ bán đồ gốm tại Nhan Trấn, muốn mua một cái vò lớn, trả giá mãi với người chủ hàng không được bèn bỏ về. Đến đêm trong lò còn hơn sáu mươi cái vò nung xong chưa lấy ra, nhưng mở cửa lò thì chẳng còn gì, người chủ cả kinh, ngờ là do Lý, tới nhà van nài, Lý nói là không biết, người ấy cố nài nỉ. Bèn nói "Ta mang ra khỏi lò giùm ông, không mất cái nào, đang để ở dưới lầu Khôi Tinh, không phải sao?". Người ấy tới xem, quả đủ số. Lầu ở núi phía nam trấn, cách chợ hơn ba dặm, thuê người chở về, ba ngày mới xong.
330. Mỗ Giáp (Mỗ Giáp)
Có Mỗ Giáp tư thông với vợ người đầy tớ, sau giết người đầy tớ lấy người vợ, sinh được hai trai một gái. Trải mười chín năm, có đám giặc lớn phá thành, cướp bóc sạch cả. Một tên giặc trẻ tuổi cầm đao vào nhà Giáp. Giáp nhìn ra thấy giống hệt người đầy tớ đã chết, than rằng "Ta phải chết rồi". Bèn dốc rương chuộc mạng nhưng tên giặc không thèm, cũng không nói một câu, chỉ tìm người mà giết, chém hết một nhà hai mươi bảy người cả đàn ông đàn bà rồi bỏ đi. Giáp bị chém vào cổ chưa đứt, giặc đi rồi thì tỉnh lại, vẫn còn nói được, ba ngày sau mới chết. Than ôi, quả báo vốn chẳng sai, đáng sợ làm sao!
331. Ba Con Quái Ở Cù Châu (Cù Châu Tam Quái)
Trương Ác Trọng đi lính đóng ở huyện Cù Châu (tỉnh Chiết Giang) nói ở Cù Châu lúc ban đêm yên tỉnh, không ai dám đi ra ngoài một mình, vì trên lầu chuông có quỷ, trên đầu có một cái sừng, dáng vẻ hung dữ, nghe tiếng người đi thì xuống, người ta sợ chạy thì đuổi theo, những người gặp phải về nhà mà bệnh thì phần nhiều đều chết. Lại trong thành có một cái ao, đêm có một tấm vải trắng như tấm rèm trải trên mặt đất, người nào đi qua mà nhặt, lập tức bị cuốn dìm xuống nước. Lại có con ma vịt khi đêm tới bên ao hoàn toàn yên ắng, ai nghe tiếng vịt kêu, lập tức bị bệnh.
332. Người Phá Lầu (Chiết Lâu Nhân)
Hà Quýnh Khanh là người huyện Bình âm (tỉnh Hà Nam). Lúc đầu làm Huyện lệnh ở đất Tần (vùng Thiểm Tây), có một người bán dầu mắc tội nhẹ nhưng ăn nói bướng bỉnh, Hà giận bèn ra lệnh đánh chết. Sau làm quan ở bộ Lại, nhà thêm giàu có, cho xây một ngôi lầu. Ngày khởi công khách khứa tới nâng cốc chúc mừng, chợt thấy trong đám có người bán dầu. Hà đang thầm hoảng sợ ngờ vực, chợt nghe báo người thiếp sinh được con trai, bèn buồn bã nói "Thợ dựng lầu chưa xong, người phá lầu đã tới rồi". Mọi người đều cho rằng Hà nói đùa, không biết rằng thật ra Hà có nhìn thấy người bán dầu thật. Về sau đứa con trai lớn lên, rất ương bướng, phá tán của cải, chỉ làm tôi mọi cho người, cứ được đồng nào là mua dầu thơm để ăn.
Dị Sử thị nói: Thường thấy các nhà phú quý có phủ đệ lầu gác san sát, khi chết rồi, qua ngang thì nhà cũ đã thành đất hoang, đủ biết nhà ấy có Người phá lầu giáng sinh vậy. Người ở địa vị cao, lại có thể không cẩn thận sao!
333. Rết Lớn (Đại Yết)
Tướng quân Bành Hoằng thời Minh đánh giặc vào đất Thục, vào chỗ núi sâu, có một ngôi chùa lớn bỏ không hàng trăm năm không có sư tu hành. Hỏi dân ở đó thì họ nói trong chùa có yêu quái, ai vào là chết ngay. Bành sợ là có giặc ẩn núp ở trong, sai quân chặt cỏ tiến vào, tới điện trước thì có hai con chim điêu bay vù ra cửa. Vào điện giữa cũng không thấy có gì lạ, đi tiếp thì tới gác chuông, nhìn khắp chung quanh cũng không thấy có gì, nhưng những người bước vào đều thấy đầu đau buốt không chịu nổi. Bành đích thân tiến vào, cũng thấy như vậy. Giây lát có một con rết lớn như chiếc đàn tỳ bà từ trên vách ngọ nguậy bò xuống, cả toán quân hoảng hốt bỏ chạy, Bành bèn sai đốt luôn chùa.
334. Nô Lệ Da Đen (Hắc Quỷ)
Tổng trấn họ Lý ở huyện Giao Châu (tỉnh Sơn Đông) mua được hai tên nô da đen, đen bóng như sơn, da chân chai cộm lên, cắm ngược đao đưa mũi nhọn lên cho họ đạp lên đi lại cũng không hề hấn gì. Tổng trấn cưới kỹ nữ cho làm vợ, sinh được con trai da lại trắng, bọn đầy tớ trong nhà đùa giỡn, nói là không phải con y. Tên nô da đen nghi ngờ, giết chết đứa con thì xương đều đen, mới hối hận. Tổng trấn thường sai hai người đối diện với nhau múa hát, thần thái điệu bộ cũng rất dễ nhìn.
335. Phu Xe (Xa Phu)
Có người phu xe đẩy chiếc xe chở nặng lên đèo, đang lúc cố hết sức thì bị một con sói tới táp vào mông. Muốn bỏ tay ra thì sợ hàng đổ đè lên người, nhịn đau đẩy tiếp, lên tới đỉnh đèo thì con sói đã rút được một miếng thịt bỏ đi rồi. Lựa đúng lúc người ta không có cách nào chống cự mà trộm nếm một miếng thịt, cũng là sự ranh mãnh buồn cười vậy.
336. Con Ma Mê Cờ (Kỳ Quỷ)
Tướng quân Đốc đồng huyện Dương Châu (tỉnh Giang Tô) là Lương công nghỉ quan về làng, hàng ngày thường mang bầu rượu túi cờ đi chơi khắp rừng núi. Gặp ngày tiết Trùng dương lên núi chơi, cùng khách đánh cờ, chợt có một người tới, lân la bên cạnh, say sưa nhìn vào bàn cờ mãi không đi. Nhìn lên thấy mặt mũi vàng vọt, quần áo rách rưới, nhưng thần thái nhàn nhã, có dáng dấp văn nhân. Ông vái chào mời ngồi, cũng nhún nhường từ tạ. Ông chỉ lên bàn cờ nói "Chắc tiên sinh cũng giỏi nghề này, sao không thử với người khách đây". Người ấy khiêm tốn từ chối một lúc mới bày cờ đánh. Ván đầu thì thua, có vẻ nổi nóng như không kìm được. Lại chơi ván nữa, lại thua, ông rót rượu mời cũng không uống, nài khách chơi nữa. Từ sáng đến chiều không có vẻ gì là mệt nhọc, rồi giành nhau về một quân cờ hai bên cãi vã ầm lên. Bỗng người ấy rời chiếu sợ hãi đứng dậy, thần sắc buồn thảm. Giây lát quỳ gối hướng về phía ông, dập đầu xin cứu. ông hoảng hốt ngờ vực, đỡ dậy nói "Trò chơi thôi mà, sao lại làm thế". Người ấy nói "Xin dặn người đi bắt đừng buộc cổ tiểu nhân". Ông càng lạ lùng, hỏi người đi bắt là ai? Thưa "Là Mã Thành".
Vốn là ông có người gia nhân tên Mã Thành làm sai nhân dưới cõi âm, thường mười mấy ngày lại xuống âm ty một lần cầm công văn đi bắt người. Ông lạ lùng về lời nói của người ấy, bèn sai người tới xem Thành ra sao, thì đã nằm cứng đơ hai ngày rồi. Ông quát Thành không được vô lễ, trong chớp mắt, người ấy lăn ra đất rồi biến mất, ông hoảng sợ hồi lâu mới biết đó là ma. Hôm sau Mã Thành tỉnh dậy, ông gọi tới hỏi chuyện, Thành thưa "Người ấy quê ở huyện Hồ Tương tỉnh Hồ Nam, rất mê cờ, phá tán cả sản nghiệp. Cha lo buồn, nhốt lại trong phòng học, lại leo tường ra, tìm tới chỗ vắng chơi bời với bọn đánh cờ. Cha nghe chuyện chửi mắng, rốt lại cũng không cấm đoán được, tức giận mà chết. Diêm Vương cho rằng y không có đức, phạt giam vào ngục quỷ đói, đến nay đã bảy năm rồi. Gặp lúc Phượng lâu ở Đông Nhạc làm xong, Đế quân phát công văn đi các nơi tìm văn nhân soạn bài văn bia, Diêm Vương bèn thả y ra khỏi ngục, sai đi ứng mệnh để chuộc tội, không ngờ trên đường lại lần lữa trễ hạn. Nhạc đế sai người bảo Diêm Vương hỏi tội, vương giận sai tiểu nhân theo bắt, nhưng được lệnh chủ nhân trước, nên chưa dám đem dây ra trăng trói". Ông hỏi "Vậy đến giờ y ra sao rồi?". Mã Thành thưa "Vẫn giao cho ngục lại giam giữ, mãi mãi không được đầu thai nữa". Ông than "Mê thú vui làm hại cả đời, là như thế chăng?".
Dị Sử thị nói: Thấy cờ mà quên sự chết, đến khi đã chết, thấy cờ lại quên sự sống, không phải là ham muốn quá đáng so với người thường sao! Nhưng nghiện cờ tới như thế, mà vẫn chưa thành tay giỏi, đến nỗi làm một con ma mê cờ chết mãi không được sống lại dưới cửu tuyền, thật đáng thương vậy!
337. Cái Đầu Lăn Lộn (Đầu Cổn)
Hiếu liêm Tô Trinh Hạ một hôm làm việc quan về, nằm nghỉ trưa thấy một cái đầu người từ dưới đất chui lên, to bằng cái chén, lăn lộn ở dưới giường mãi không thôi, hoảng sợ mắc bệnh nằm liệt giường không dậy được. Sau ông ngủ ở nhà người đàn bà phóng đãng, gặp cái họa sát thân, hay đó là điềm báo trước chăng?
338. Hai Chuyện Quả Báo (Quả Báo Nhị Tắc)
I.
Mỗ sinh ở An Khâu thông hiểu việc bói toán nhưng tính tình tham lam dâm đãng, cứ sắp đi trộm cắp gian dâm là bói trước. Một hôm chợt mắc bệnh, người nhà sắc thuốc, sinh không uống, nói "Thật ra ta biết rồi, âm ty giận ta khinh nhờn số trời, sắp trừng phạt nặng nề, uống thuốc mà làm được gì". Không bao lâu hai mắt chợt lòa, hai tay vô cớ tự nhiên gãy ra.
II.
Mỗ Giáp có người bác không con. Giáp tham gia tài của bác nên tình nguyện làm người nối dõi để thờ cúng. Người bác chết, ruộng vườn tài sản về cả tay Giáp nhưng Giáp lại nuốt lời không hề cúng giỗ. Lại có một người chú giàu có mà cũng không con, Giáp lại xin làm con để ăn thừa tự. Người chú chết, Giáp lại nuốt lời, từ đó gộp cả tài sản ba nhà làm một, nổi tiếng giàu có một vùng. Chợt bị bạo bệnh phát điên, tự nói "Ngươi muốn được sống mà hưởng giàu có ư?" rồi lấy dao bén tự cắt từng miếng từng miếng thịt trên người ném xuống đất. Lại nói "Ngươi làm tuyệt dòng dõi người khác mà còn muốn có người nối dõi ư?", rồi mổ bụng kéo ruột ra mà chết. Không bao lâu đứa con của Giáp cũng chết, gia sản về tay người khác. Quả báo như thế thật đáng sợ vậy.
339. Thịt Rồng (Long Nhục)
Quan Thái sử Khương Ngọc Toàn nói ở dưới Long Đôi (địa danh ngoài quan ải), cứ đào xuống đất vài thước là có đầy thịt rồng, mặc ý muốn cắt xẻo bao nhiêu cũng được nhưng đừng nói tới chữ "Rồng". Có người nói đây là thịt rồng, lập tức bị trời nổi sấm sét đánh chết. Thái sử từng ăn thịt ấy, quả không phải là lời bịa đặt.
Quyển XV
340. Bịp Bợm (Niệm Ương)
Dị Sử thị nói: Lòng người mà hiểm độc thì ở một chỗ cũng đã đáng sợ, huống chi còn đi khắp nam bắc thì cái hại càng ghê gớm. Như những kẻ giương cung phi ngựa ăn cướp ngay ngoài kinh đô thì mọi người đã rõ, hay những kẻ rọc túi xách giỏ ăn cắp trong chợ, người ta vừa ngoảnh đi ngoảnh lại đã mất sạch tiền bạc hàng hóa, thì còn hiểm độc hơn. Lại có những kẻ chỉ là tình cờ gặp gỡ mà lời lẽ ngon ngọt, mới quen mà rất được lòng người, khiến người ta lầm coi như bạn tốt nên bị lừa mất cả tiền của, chúng tùy hoàn cảnh mà bày kế lừa, không phải chỉ theo một kiểu. Cho nên lời tục gọi kẻ ăn nói ngon ngọt là Định bịp. Nay ở mạn bắc có rất nhiều kẻ như thế, nên càng nhiều người bị hại.
Vương Tử Tốn người hương ta là Chư sinh ở huyện, nhân Hữu Toàn tiên sinh làm Hàn lâm trong kinh nên định tới thăm viếng. Bèn mang hành trang lên bắc, ra khỏi Tế Nam (tỉnh thành Sơn Đông) được vài dặm, có một người cưỡi ngựa đen đi cùng đường, hỏi thăm vài câu qua loa, Vương cũng trả lời. Người ấy tự xưng là họ Trương, làm công sai ở huyện Thê Hà (tỉnh Sơn Đông) được cử đi công cán ở kinh đô, lời lẽ nhún nhường, thái độ ân cần, đi cùng nhau vài mươi dặm thì hẹn cùng trọ chung một chỗ. Vương đi trước thì y thúc ngựa bám theo, Vương đi sau thì y dừng lại chờ. Người đầy tớ của Vương sinh nghi, lớn tiếng xua đuổi không cho đi cùng, Trương thẹn giục ngựa đi. Xế chiều Vương nghỉ lại ở nhà trọ, tình cờ ra cửa thấy Trương đang uống rượu ở phòng ngoài. Đang ngạc nhiên thì Trương đã trông thấy Vương, vội đứng dậy chắp tay chào, khép nép như kẻ tôi tớ, dần dà hỏi hết chuyện nọ tới chuyện kia, Vương cũng trả lời qua loa chứ không ngờ vực gì, song người đầy tớ của Vương vẫn đề phòng suốt đêm. Mờ sáng Trương tới gọi Vương dậy cùng đi, người đầy tớ dằn giọng cự tuyệt, Trương bèn bỏ đi.
Ăn sáng đâu đấy xong Vương mới lên đường, đi được nửa ngày thấy trước mặt có một người cưỡi ngựa trắng tuổi chừng bốn mươi trở lại, áo mũ tươm tất, ngủ gà ngủ gật suýt ngã ngựa, lúc đi trước, lúc đi sau Vương suốt mười dặm. Vương lấy làm lạ hỏi "Đêm qua làm gì mà buồn ngủ dữ vậy?". Người ấy nghe hỏi càng tỏ vẻ mỏi mệt đáp "Ta họ Hứa, người huyện Thanh Uyển (tỉnh Hà Bắc), có người anh họ bên ngoại là Cao Phồn làm Tri huyện Lâm Tri (tỉnh Sơn Đông). Anh ruột ta theo mở trường dạy học trong công thự, ta tới thăm cũng được cho chút ít tiền bạc. Đêm qua vào nhà trọ, lại lầm ngủ cùng phòng với bọn bịp bợm, sợ hãi không dám chợp mắt mới mỏi mệt tới như thế này". Vương hỏi thế nào là Bịp bợm, Hứa đáp "Ông ít ra ngoài, chưa biết chuyện nguy hiểm, chứ hiện nay có đám lưu manh lấy lời lẽ ngon ngọt dụ dỗ người đi đường, nương tựa nhau cùng đi cùng nghỉ rồi nhân lúc sơ hở lừa lấy tiền bạc. Trước người họ hàng của ta là họ Đoàn đã bị mất sạch cả tiền ăn đường, chúng ta đều phải cẩn thận". Vương tỏ ý tán đồng. Quan huyện Lâm Tri với Vương vẫn là chỗ quen biết, Vương từng tới công thự thăm, biết cả các môn khách, quả có người họ Hứa nên không ngờ vực gì nhân đó cùng chuyện trò, hỏi thăm cả anh ruột của Hứa. Hứa hẹn tối cùng trọ một chỗ, Vương theo lời.
Người đầy tớ của Vương vẫn nghi là giả dối, ngầm bàn với chủ cứ đi tụt lại sau nên lạc mất luôn. Quá giờ Ngọ hôm sau, lại gặp một thiếu niên chừng mười sáu mười bảy tuổi, cưỡi con ngựa khỏe mạnh, áo mũ trang nhã, rất đẹp trai, đi cùng đường hồi lâu không trò chuyện với nhau câu nào. Xế chiều, thiếu niên chợt nói "Sắp tới Khuất Luật (phía nam huyện Đức Châu tỉnh Sơn Đông) rồi". Vương khẽ ờ, thiếu niên lại thở dài sườn sượt như không kìm được. Vương nói chuyện qua loa rồi hỏi thăm, thiếu niên than "Ta họ Kim, người Giang Nam, học hành suốt ba năm tốn không biết bao nhiêu tiền, đi thi một chuyến không ngờ lại trượt! Anh ruột ta làm chức Chủ chính trong kinh, nên ta đem cả vợ con lên để chờ sai phái. Bình sinh chưa từng đi xa thế này, mặt mũi lấm bụi, nghĩ thấy buồn quá". Rồi rút khăn lau mặt, thở than không thôi. Nghe giọng thì đúng là người Giang Nam, nhỏ nhẹ như con gái, Vương thấy mến nên tìm lời an ủi. Thiếu niên nói "Ta cưỡi ngựa đi trước, chờ mãi không thấy vợ con đâu, sao bọn đầy tớ cũng không ai tới kìa? Trời đã tối rồi, làm thế nào?". Rồi nấn ná chờ đợi, đi rất chậm. Vương bèn đi trước, cách nhau khá xa mới vào quán trọ.
Vào phòng trọ thì thấy một chiếc giường sát vách đã có khách để hành lý, Vương hỏi chủ nhân thì người khách trở vào cầm hành lý bước ra nói "Xin cứ nghỉ ở đây, ta qua phòng khác cũng được". Vương nhìn thì ra là Hứa, bèn giữ lại, Hứa mới thôi. Hai người trò chuyện một lúc, lại có người mang hành lý bước vào, thấy Vương và Hứa trong phòng, quay ngay ra nói "Phòng có khách rồi". Vương nhìn kỹ thì ra là thiếu niên trên đường, còn chưa kịp nói gì thì Hứa đã vội đứng lên giữ lại, thiếu niên mới ngồi xuống. Hứa hỏi tên họ quê quán, thiếu niên cũng đáp như nói với Vương trên đường. Lát sau thiếu niên mở hành lý lấy tiền, toàn là vàng nén nặng trịch, tính toán đưa cho chủ trọ dặn làm mâm rượu để tối uống nói chuyện. Vương và Hứa tranh nhau ngăn lại, thiếu niên cũng không nghe. Kế đó cơm rượu dọn lên, lúc ăn uống thiếu niên nói chuyện văn chương rất phong nhã. Vương hỏi đề thi ở trường Giang Nam, thiếu niên nói rõ, lại đọc đoạn mở đầu và những câu đắc ý trong bài thi của mình. Nói xong lại tỏ vẻ rất tức tối về việc bị đánh trượt. Thiếu niên vì lạc mất vợ con, tối không có đầy tớ hầu hạ, sợ không biết chăm sóc cho ngựa, Vương thấy thế sai người đầy tớ cho ngựa thiếu niên ăn uống giùm, thiếu niên cảm tạ mãi.
Lát sau, thiếu niên lại bực dọc nói "Đã gặp chuyện rủi ro, ra khỏi nhà cũng chẳng có gì hay, đêm qua ở quán trọ gặp phải lũ người xấu, đổ xí ngầu hò hét inh ỏi, điếc tai nhức óc không sao ngủ được. Tiếng Giang Nam gọi xúc xắc là xí ngầu, Hứa không hiểu bèn hỏi, thiếu niên lấy tay làm động tác như gieo xúc xắc, Hứa cười lấy trong túi ra một con xúc xắc hỏi "Phải cái này không?". Thiếu niên ừ, Hứa bèn đổ xúc xắc làm tửu lệnh để uống rượu cho vui. Rượu ngà ngà, Hứa xin cùng gieo xúc xắc xem ai làm cái. Vương chối từ nói không biết đánh bạc, Hứa bèn chơi với thiếu niên, lại nói riêng với Vương rằng "Ông đừng nói lộ ra, thằng công tử bột này giàu lắm, lại còn trẻ, chưa chắc đã thuộc hết nước bài, để ta kiếm chút ít, sáng mai sẽ tạ ơn ông". Hai người bèn qua phòng khác chơi, lát sau nghe tiếng hò hét rất ồn ào, Vương lén qua nhìn thì thấy người công sai huyện Thê Hà cũng có ở đó, nảy dạ nghi ngờ, bèn trải chăn nằm ngủ.
Lại một lát sau, cả bọn vào kéo Vương dậy đánh bạc, Vương nhất định chối từ rằng không biết, Hứa tình nguyện đánh thay, Vương cũng không chịu, nhưng Hứa cứ gieo xúc xắc thay Vương. Lát sau vào giường nói với Vương "Ông thắng được mấy ván rồi đấy". Vương mơ ngủ ậm ừ, chợt có mấy người xô cửa vào quát tháo ầm ĩ. Người đứng đầu tự xưng họ Đồng, là công sai đi bắt cờ bạc. Lúc bấy giờ lệnh cấm cờ bạc rất nghiêm, mọi người đều hoảng sợ. Đồng lớn tiếng quát Vương, Vương cũng lấy tên người họ hàng làm Hàn lâm ra năn nỉ, Đồng hết giận, trò chuyện cùng Vương rất thân mật, cười bảo cứ đánh bạc cho vui mọi người lại tiếp tục chơi, Đồng cũng ngồi vào đánh. Vương nói với Hứa "Ta không biết chuyện ông thắng hay thua gì cả, chỉ muốn ngủ yên, xin đừng quấy rầy nữa". Hứa không nghe, cứ lui tới báo thắng thua này nọ. Đến khi kết thúc, tính lại thì Vương thua khá nhiều, Đồng bèn tới lục hành lý của Vương lấy tiền. Vương uất ức nhỏm dậy giành lại, Kim kéo tay Vương nói nhỏ "Chúng là bọn lưu manh, rất là khó lường, chúng ta là bạn văn chương, không thể không chiếu cố cho nhau. Lúc nãy ta thắng cũng được bấy nhiêu, đủ để trả cho ông. Bây giờ xin đổi, cứ bảo Hứa trả cho Đồng, ông trả cho ta, chẳng qua chỉ là che giấu tai mắt của họ, xong chuyện rồi ta sẽ đưa lại cho ông thôi. Không thế thì chẳng lẽ là bạn bè văn chương đạo nghĩa mà lại lấy tiền của ông sao?".
Vương vốn trung hậu nên tin lời. Thiếu niên bèn bước ra, đem chuyện đánh đổi nói với Đồng, rồi mở hành lý của Vương trước mặt mọi người lấy số tiền thiếu, Đồng thì lấy tiền của Hứa và Trương rồi đi. Thiếu niên lại mang hành lý của mình tới ngủ chung với Vương, chăn đệm đều đẹp đẽ tinh khiết. Vương cũng gọi người đầy tớ tới ngủ ở đầu giường, ai cũng yên lặng. Hồi lâu, thiếu niên cố ý trở mình, nhích phần dưới tới sát người đầy tớ. Người đầy tớ dịch người tránh ra, thiếu niên lại nhích người sát tới, da dẻ mịn màng mềm mại như mỡ. Người đầy tớ động tình bèn thử mơn trớn vuốt ve, song thiếu niên rất nhu thuận. Chăn gối lào xào, Vương nghe thấy rất kinh sợ lạ lùng nhưng cũng không nghi là có chuyện gì khác.
Trời vừa sáng, thiếu niên đã trở dậy, giục Vương dậy đi sớm, lại nói "ông mệt mỏi lắm rồi, những tiền bạc đồ vật gởi khi đêm, trên đường sẽ xin đưa lại". Vương vẫn không nói gì, thiếu niên đã xách hành lý lên ngựa, Vương bất đắc dĩ phải theo. Thiếu niên giục ngựa phi nhanh, càng lúc càng xa, Vương cho rằng sẽ chờ mình phía trước nên lúc đầu cũng không để ý. Lại nghĩ thiếu niên ăn nói phong nhã, bọn bịp bợm không thể được như vậy. Đến khi đuổi mau theo vài mươi dặm thì đã mất hút, mới sực hiểu ra rằng Trương Hứa Đồng với thiếu niên là cùng một bọn, bày kế này không được thì chuyển sang kế khác, quyết đưa vào tròng cho bằng được. Việc trả nợ đổi hành lý đã gài sẵn một cái bẩy rồi, giả như kế xách hành lý bỏ chạy không xong, cũng sẽ dựa vào lời giao ước đổi nợ khi đêm mà cướp lấy mang đi. Vì mấy mươi đồng vàng mà theo suốt vài trăm dặm, lại sợ người đầy tớ của Vương phát hiện, đem thân xác để lấy lòng, cái thuật ấy kể cũng khổ thật.
Vài năm sau, lại có chuyện của Ngô sinh. Huyện ta có Ngô sinh, tự là An Nhân, góa vợ năm ba mươi tuổi, vẫn ở một mình. Có người Tú tài tới chơi trò chuyện, dần dần thân thiết, có một thằng hầu nhỏ tên Quỷ Đầu, cũng chơi thân với tiểu đồng của Ngô là Báo Nhi, lâu ngày biết họ là hồ. Ngô đi chơi xa, họ cũng đi cùng, nhưng ở cùng phòng mà người khác không nhìn thấy. Ngô ở kinh đô, sắp về làng, nghe chuyện Vương sinh bị bọn bịp bợm lừa, dặn tiểu đồng phải cẩn thận, hồ cười nói đừng lo, chuyến đi này chẳng có gì đáng ngại. Tới huyện Trác (tỉnh Hà Bắc), có một người buộc ngựa ngồi hút thuốc trong quán, quần áo tươm tất, thấy Ngô đi qua, cũng đứng dậy lên xe theo sau, dần dần bắt chuyện với Ngô. Tự xưng là họ Hoàng ở Sơn Đông, làm quan Đề đường ở bộ Hộ đang về nam, muốn có người đi cùng đường cho khỏi vắng vẻ. Từ đó Ngô dừng y cũng dừng, cứ vào ăn uống là trả tiền cho cả Ngô. Ngô ngoài mặt tỏ vẻ biết ơn song trong lòng ngờ vực, ngầm hỏi hồ, hồ chỉ nói không hề gì, Ngô mới hết ngờ.
Đến tối cùng vào chỗ trọ, có một thiếu niên đẹp trai đã vào trước ngồi đó. Hoàng vào thấy chắp tay làm lễ, mừng rỡ hỏi thiếu niên rời kinh lúc nào, đáp là hôm qua. Hoàng bèn kéo vào cùng phòng, nói với Ngô rằng "Đây là Sử lang, em họ ngoại của ta, cũng là văn sĩ, có thể nói chuyện văn chương với bậc quân tử, đêm nay trò chuyện cũng không hiu quạnh". Bèn đưa tiền bảo chủ trọ làm mâm rượu, thiếu niên nho nhã học rộng, cùng Ngô trò chuyện rất tương đắc. Lúc uống rượu lại đưa mắt làm hiệu cho Ngô, làm trò đánh đố, phạt Hoàng uống mấy chén liên tiếp rồi vỗ tay cười Ngô càng vui thích. Kế Sử và Hoàng bàn đánh bạc, rủ Ngô cùng chơi, người nào cũng đặt tiền ra bàn. Hồ dặn Báo Nhi ngầm ra cài cửa, lại dặn Ngô rằng "Nếu có tiếng người ồn ào, cứ làm như đang ngủ, đừng lên tiếng", Ngô theo lời. Ngô gieo xúc xắc đặt nhỏ thì thua, đặt lớn thì thắng. Hơn một canh thắng được hai trăm đồng vàng, Sử và Hoàng cạn tiền, xin bán ngựa. Chợt nghe tiếng gọi cửa rất gấp, Ngô vội đứng dậy ném xúc xắc vào lửa, trùm chăn giả như đang ngủ. Hồi lâu thấy chủ trọ tìm chìa khóa không được, bọn kia phá cửa hung hăng xông vào, có tới mấy người đi bắt cờ bạc. Sử và Hoàng đều nói là không có.
Một người lật chăn chỉ mặt Ngô nói là con bạc, Ngô quát cãi lại, mấy người kia cứ đòi khám hành lý của Ngô. Đang lúc không biết làm sao chống cự, chợt nghe ngoài cổng có tiếng xe ngựa tiền hô hậu ủng, Ngô vội chạy ra la lớn, bọn kia mới sợ kéo trở vào phòng, xin đừng la nữa. Ngô bèn ung dung đem hành lý gởi chủ trọ, tiếng xe ngựa đi xa rồi, bọn kia ra cửa đi mất. Hoàng và Sử đều tỏ vẻ vừa sợ vừa mừng, bắt đầu đi ngủ. Hoàng bảo Sử ngủ cùng giường với Ngô, Ngô lấy túi tiền trong lưng để xuống dưới gối mới bảo Sử trải chăn ra ngủ. Không bao lâu, Sử mở chăn Ngô ra nói nhỏ "Thích anh là người lỗi lạc, xin được vui vầy thương yêu. Ngô biết là giả trá, nhưng tính ra vẫn lời nhiều, bèn ưng thuận. Sử hết sức chiều chuộng, không ngờ Ngô vốn to lớn mạnh mẽ, Sử đau đớn không kham nổi, lúc lúc lại nài nỉ xin thôi. Ngô thì cứ làm tới cùng, lúc đưa tay sờ xuống thấy máu chảy lênh láng mới thôi cho về chỗ ngủ. Đến sáng, Sử mệt mỏi không dậy nổi, nói thác là bị ốm bất ngờ, xin Ngô và Hoàng cứ đi trước. Lúc chia tay Ngô tặng tiền cho Sử để thuốc men, trên đường trò chuyện với hồ, mới biết tiếng xe ngựa nghi trượng lúc đêm đều do hồ làm ra.
Hoàng trên đường càng nịnh nọt Ngô, tối đến cùng vào nhà trọ, gặp gian phòng nhỏ chỉ có một chiếc giường, lại sạch sẽ tinh khiết nhưng Ngô chê chật. Hoàng nói "Hai người nằm thì chật, nhưng một mình ông nằm thì rộng, có việc gì đâu?". Ăn cơm xong bèn qua phòng khác, Ngô cũng mừng được ngủ một phòng thì có thể tiếp bạn hồ, nhưng ngồi chờ rất lâu mà hồ không tới. Chợt nghe ngoài cửa sổ có tiếng đàn, Ngô mở cửa nhìn thì có một cô gái trẻ ăn mặc đẹp đẽ bước vào, tự đóng hết cửa lại rồi nhìn Ngô cười, xinh đẹp như tiên. Ngô mừng rỡ bước tới hỏi, thì là con dâu của chủ nhà trọ, bèn cùng giao hoan, vô cùng mặn nồng. Cô gái chợt sa nước mắt, Ngô kinh ngạc hỏi, nàng đáp "Thật không dám giấu, chủ nhà trọ sai thiếp tới đây để làm mồi nhử ông. Trước đây bước vào phòng của khách là sẽ bị gài cửa để bắt ngay, không biết vì sao tối nay lâu quá họ không tới?". Lại nức nở nói "Thiếp là con gái nhà lương thiện, thật không chịu nổi cảnh sống này, nay đã dốc lòng theo ông, xin ông rủ lòng thương xót cứu cho". Ngô cả sợ không biết làm sao, cứ bảo nàng ra mau, cô gái chỉ cúi đầu khóc lóc.
Chợt nghe Hoàng và chủ trọ đập cửa ầm ầm, rồi Hoàng nói lớn "Suốt đường ta rất kính trọng, tại sao hạng người như ngươi lại dụ dỗ vợ em ta?". Ngô sợ, thúc cô gái ra mau, nghe ngoài cửa sổ có tiếng quát tháo đập phá. Ngô run rẫy toát mồ hôi, cô gái cũng nằm phục xuống đất khóc. Lại nghe có người can ngăn chủ trọ, chủ trọ không nghe, xô cửa càng gấp. Người can ngăn nói "Xin hỏi ông chủ muốn làm gì vậy? Muốn giết người à? Thì mấy người khách bọn ta ở đây không ngồi yên để mặc cho ngươi làm chuyện hung dữ đâu, nếu một trong hai người chạy mất thì tội ấy để ai chịu? Muốn kiện lên quan à? Thì đàn bà trong nhà không dạy dỗ phải chịu nhục, mà lại cho ra ở quán trọ thì rõ ràng là giả trá, làm sao dám chắc là cô ta không khai lời khác?". Chủ nhà trọ trợn mắt không nói gì được, Ngô nghe trong lòng thầm cám ơn nhưng không biết là ai.
Lúc đầu khi nhà trọ sắp đóng cửa thì có một Tú tài cùng đầy tớ vào ngủ trọ, mang theo rượu ngon, rót mời tất cả mọi người, thấy Hoàng và chủ trọ lại càng ân cần mời mọc. Hai người chối từ muốn đi, Tú tài kéo áo năn nỉ ngồi lại, hồi lâu mới tìm cách đi được , vác gậy chạy tới phòng Ngô. Tú tài nghe tiếng ồn ào mới bước vào can ngăn, Ngô nép bên cửa sổ nhìn ra thì là ông bạn hồ, mừng thầm. Lại thấy chủ trọ có vẻ hơi sợ, bèn lớn tiếng dọa, lại bảo cô gái cứ nói thử một câu xem sao? Cô gái khóc nói "Hận không được bằng người, bị bắt làm những việc hèn hạ!". Chủ trọ nghe thấy mặt xám như tro. Tú tài quát mắng "Bọn ngươi thật là cầm thú, nay đã lộ mạt rồi, những khách trọ ở đây đều lấy làm tức giận". Hoàng và chủ trọ đều vứt bỏ dao gậy, quỳ xuống khẩn cầu. Ngô cũng mở cửa bước ra, giận dữ chửi mắng. Tú tài lại can Ngô, hòa giải đôi bên. Cô gái lại khóc lóc nói thà chết không về lại. Trong nhà có mấy người tỳ nữ chạy ra kéo đi, nàng cứ nằm lăn ra đất kêu khóc thảm thiết.
Tú tài khuyên chủ trọ bán nàng cho Ngô, chủ trọ dập đầu nói "Làm kẻ cắp ba mươi năm, nay gặp phải bà già, còn nói gì nữa?", bèn theo lời Tú tài. Ngô không chịu mất nhiều tiền, Tú tài đứng ra điều đình cho hai bên, ngã giá năm mươi lượng vàng xong, giao tiền nhận người. Sáng ra cùng nhau thu dọn hành lý lên đường, chở cô gái đi. Cô gái chưa từng cưỡi ngựa nên đi rất chậm, đến trưa thì dừng lại nghỉ. Lúc sắp đi tiếp, gọi Báo Nhi thì không thấy đâu, chờ đến lúc trời xế cũng không thấy tăm hơi, Ngô ngờ vực lo lắng hỏi hồ. Hồ đáp "Đừng lo, nó sắp tới rồi". Chờ đến lúc trăng mọc Báo Nhi mới tới. Ngô hỏi đi đâu, Báo Nhi cười nói "Công tử cúng cho bọn gian ác mất năm mươi lượng, ta trộm lấy làm bất bình nên theo kế của Quỷ Đầu quay lại đòi", rồi lấy vàng đưa ra.
Ngô kinh ngạc hỏi, thì ra Quỷ Đầu biết cô gái chỉ có một người anh đi xa mười năm không về, bèn biến thành hình dáng người ấy, bảo Báo Nhi giả làm anh em họ vào đòi gặp em gặp chị. Chủ trọ hoảng sợ, bịa đặt là đã bị bệnh chết, hai đứa tiểu đồng dọa kiện lên quan. Chủ trọ càng sợ, đưa tiền ra năn nỉ, cò kè mãi tới bốn mươi hai lượng vàng hai đứa mới chịu đi. Báo Nhi kể rõ mọi chuyện rồi, Ngô lập tức cho nó luôn số tiền ấy. Ngô đưa cô gái về, gia đình hòa thuận, lại thêm giàu có. Hỏi kỹ cô gái, thì người trẻ tuổi đẹp trai là chồng nàng, đại khái Sử tức là Kim vậy. Nàng lấy ra một chiếc khăn, nói "Đây là họ lấy được của người họ Vương ở Sơn Đông". Thì ra bọn kia là một đảng rất đông, chủ trọ cũng là một trong số đó. Không ngờ người Ngô sinh gặp là kẻ đã làm Vương Tử Tốn khổ cực kêu trời, chẳng cũng hay sao! Lời xưa có câu Chơi dao có ngày đứt tay, thật là đúng lắm!
341. Vũ Hiếu Liêm (Cử Nhân Võ)
Cử nhân võ họ Thạch khăn gói lên kinh xin bổ dụng. Tới huyện Đức Châu (tỉnh Sơn Đông) bị bạo bệnh, thổ huyết không dậy nổi, nằm bẹp trong thuyền, tên đầy tớ bèn ăn cắp hết tiền bỏ trốn. Thạch tức giận, bệnh càng nặng thêm, lại không còn tiền lo cơm cháo thuốc men, chủ thuyền năn nỉ xin Thạch lên bờ. Lúc ấy có một người đàn bà đi chơi ngắm trăng, tới bên bờ nghe biết chuyện bèn tình nguyện đem thuyền chở Thạch. Chủ thuyền mừng rỡ, đỡ Thạch qua thuyền người đàn bà. Thạch nhìn thấy người đàn bà khoảng hơn bốn mươi tuổi, ăn mặc đẹp đẽ, dáng vẻ sang trọng, rên rỉ cảm tạ. Người đàn bà đích thân xem bệnh cho Thạch rồi nói "Chàng vốn bị lao lực, nay thì hồn phách đã về cõi âm rồi". Thạch nghe thế kêu gào khóc lóc, người đàn bà nói "Ta có thuốc hay có thể cải tử hồi sinh, nhưng nếu chàng khỏi bệnh thì đừng quên nhau". Thạch khóc lóc thề thốt, người đàn bà bèn lấy một viên thuốc cho uống, được nửa ngày thì hơi đỡ. Người đàn bà cứ ngồi cạnh giường săn sóc, chu đáo còn hơn cả vợ đối với chồng, Thạch càng cảm động. Hơn tháng thì khỏi hẳn, Thạch đi bằng đầu gối tới trước mặt nàng tạ ơn, kính trọng như đối với mẹ ruột. Người đàn bà nói "Thiếp lẻ loi không nơi nương tựa, nếu chàng không chê là già xấu, xin được theo nâng khăn sửa túí". Năm ấy Thạch hơn ba mươi tuổi, vợ chết đã mấy năm, nghe thế vô càng mừng rỡ, bèn cùng nàng kết làm vợ chồng. Người đàn bà đưa tiền cho Thạch lên kinh lo công việc, hẹn khi nào trở lại sẽ cùng về.
Thạch lên kinh được lục dụng, được bổ làm quan võ ở tỉnh, đem tiền còn thừa mua ngựa nghẽo dù lọng rất oai vệ. Vì nghĩ người đàn bà đã luống tuổi không xứng đôi, nên lấy trăm đồng vàng tới hỏi con gái họ Vương làm thiếp. Nhưng vẫn ngại ngùng, sợ người đàn bà biết được nên tránh Đức Châu, theo đường vòng tới nơi làm quan, hơn một năm cũng không báo tin. Có người em họ của Thạch tình cờ tới Đức Châu, ở cạnh nhà người đàn bà, nàng biết bèn hỏi thăm tin Thạch, người ấy cứ sự thật nói rõ. Người đàn bà tức giận mắng lớn rồi kể lại mọi việc, người ấy cũng lấy làm bất bình thay, bèn an ủi rằng "Có lẽ vì anh bận bịu việc công chưa rảnh để đi đón được, xin chị cứ gởi thư, ta sẽ chuyển cho". Người đàn bà theo lời, người kia cầm thư về đưa cho Thạch, Thạch cứ làm ngơ. Lại hơn một năm nữa, người đàn bà tự tới, Thạch tìm cớ để nàng ở ngoài quán trọ. Người đàn bà tới công thự nhờ người tiếp khách nói lại tên họ, Thạch ra lệnh ngăn không cho vào. Một hôm Thạch đang ăn tiệc thì có tiếng mắng chửi ầm lên, vừa đặt chén rượu xuống lắng nghe thì người đàn bà đã vén rèm bước vào. Thạch hoảng sợ, mặt xám như tro, người đàn bà chỉ Thạch mắng "Đồ bạc tình vui vẻ quá nhỉ? Thử nghĩ xem phú quý này ở đâu mà có vậy? Ta đối xử với ngươi không tệ, muốn cưới hầu thiếp mà bàn với ta thì đã làm sao?". Thạch nhũn chân mất vía không trả lời được, hồi lâu quỳ xuống tự thú, tìm lời ngon ngọt xin bỏ qua, nàng mới hơi nguôi.
Thạch bảo Vương thị lấy lễ làm em tới ra mắt, Vương thị không chịu, Thạch năn nỉ mãi mới đi. Vương thị vào lạy, người đàn bà cũng lạy trả, nói "Em đừng sợ, ta không phải là kẻ ghen tuông độc ác, nhưng đối xử như thế này thật không ai chịu nổi, nếu là em cũng không muốn có người chồng như y", rồi kể lại hết đầu đuôi mọi việc. Vương thị cũng tức giận, bênh vực người đàn bà mắng Thạch, Thạch không biết làm sao phân trần, chỉ xin được chuộc lỗi, mãi mới được yên. Lúc đầu khi người đàn bà chưa vào, Thạch đã dặn người canh cửa không được để nàng vào trong. Khi nàng vào trong nhà rồi, Thạch giận lắm, lén căn vặn người canh cửa, người ấy cứ quả quyết rằng cửa nẽo vẫn khóa chặt không ai vào được cả, hậm hực mãi. Thạch lấy làm ngờ nhưng không dám hỏi người đàn bà, hai người tuy vẫn cười nói với nhau bình thường nhưng vẫn không gần gũi nhau. May là người đàn bà tính ưa yên tĩnh, tối không giành chồng, cơm chiều xong là đóng cửa phòng ngủ sớm, cũng chẳng quan tâm tới việc ban đêm chồng ngủ ở đâu. Vương thị buổi đầu còn lo sợ, sau thấy thế càng thêm kính trọng, cứ sáng sớm là qua hầu như đối xử với mẹ chồng.
Người đàn bà đối đãi với kẻ dưới khoan hòa có lễ phép nhưng xét việc sáng suốt như thần. Một hôm Thạch bị mất ấn thụ cả nha môn nháo nhác đi tìm nhưng không sao tìm thấy, nàng cười nói "Đừng sợ, cứ xuống giếng tìm". Thạch theo lời, quả nhiên tìm thấy ấn thụ, hỏi tại sao biết thì nàng chỉ cười mà không nói, xem vẻ như biết rõ kẻ trộm nhưng rốt lại vẫn không chịu nói ra. Được một năm, thấy hành động cử chỉ có nhiều điều lạ, Thạch ngờ không phải là người, thường chờ lúc nàng đã ngủ sai người rình nghe ngóng, chỉ nghe tiếng giũ áo trên giường suốt đêm, không biết là làm gì. Người đàn bà và Vương thị rất thân thiết thương yêu nhau, có một đêm Thạch qua dinh quan án sát chưa về, nàng uống rượu với Vương thị quá chén say lăn ra giường biến thành con chồn. Vương thị thương xót, lấy chăn đắp cho. Không bao lâu Thạch về, Vương thị kể lại chuyện lạ, Thạch muốn giết đi. Vương thị nói "Cho dù là hồ thì cũng có phụ gì chàng nào?". Thạch không nghe, vội vàng đi tìm đao thì người đàn bà đã tỉnh dậy, mắng Thạch "Ngươi hành động như rắn rết mà lòng dạ như sài lang, nhất định không sống lâu được đâu. Viên thuốc đã uống ngày trước mau trả lại cho ta". Rồi nhổ toẹt vào mặt Thạch, Thạch chợt thấy lạnh buốt như bị dội nước đá lên đầu, cổ họng ngứa ngáy, khạc ra thì viên thuốc vẫn còn nguyên như trước. Người đàn bà nhặt lấy căm tức bỏ đi, đuổi theo thì đã biến mất. Ngay đêm ấy bệnh cũ của Thạch lại phát, thổ huyết mãi không cầm được, nửa năm thì chết.
Dị Sử thị nói: Cử nhân họ Thạch mềm mỏng như học trò, có người nói là nhờ quy lụy nên được làm quan, trò chuyện với ai cũng dè dặt e ngại, đang tuổi tráng niên đã chết, sĩ phu thương xót lắm. Đến khi nghe chuyện phụ bạc người vợ hồ, thì thấy đâu khác gì chàng họ Lý?
Phụ: Truyện Hoắc Tiểu Ngọc (Hoắc Tiểu Ngọc Truyện)
Trong niên hiệu Đại Lịch thời Đường (766-779) có Lý Ích thi đỗ Tiến sĩ, vẫn muốn tìm người xứng đôi vừa lứa. Có bà Bão thứ mười một ở Trường An làm mối, dẫn Lý tới nhà Hoắc Tiểu Ngọc. Ngọc vốn là con gái Hoắc vương gia, vương chết nên đổi sang họ Trịnh. Ngọc gặp Lý rất mừng rỡ yêu thương, thề không bỏ nhau. Lý về nhà thì mẹ đã dạm hỏi cho cô em bên ngoại họ Lư rồi, Tiểu Ngọc vì vậy uất ức thành bệnh. Lý làm đám hỏi xong, tìm nơi vắng để ở, không cho ai biết. Một hôm cùng bạn bè đi chơi chùa Sùng Kính, chợt gặp một người dáng vẻ ngang tàng vái chào nói "Ông có phải là chàng họ Lý thứ mười không? Tệ xá cách đây không xa, mời ông quá bộ ghé chơi một lần". Lý đi theo, tới chỗ nhà họ Trịnh muốn quay về, người kia xô cửa bước vào nhà nói "Lý Thập lang tới.". Ngọc nghe nói Lý tới, ngồi dậy nói "Chàng Lý ơi chàng Lý ơi, hôm nay vĩnh biệt nhau rồi, sau khi ta chết thế nào cũng làm quỷ dữ phá phách cho vợ con người không được ở yên", rồi tắt thở. Hơn tháng sau Lý cưới Lư thị, chợt nghe ngoài cửa có tiếng chắc lưỡi rất to, nhìn ra thì thấy một người đàn ông núp sau tấm rèm vẫy Lư thị rối rít. Hơn mười ngày sau, Lý đi chơi vừa về tới nhà, Lư thị đang đánh đàn, chợt ngoài cửa có một cái kẹp tóc bằng vàng buộc giải đồng tâm kết ném vào rơi đúng vào lòng Lư thị. Lý tức tối căn vặn, Lư thị không sao thanh minh được, Lý giận dữ đánh cho một trận, kiện ra quan bỏ vợ luôn.
342. Diêm Vương (Diêm Vương)
Lý Cửu Thường người huyện Lâm Câu (tỉnh Sơn Đông) mang bầu rượu đi ngoài đồng, thấy một cơn lốc ào ào cuốn tới, bèn kính cẩn rót rượu xuống đất mời. Sau có việc đi xa, thấy ven đường có một tòa phủ đệ rộng lớn, điện gác nguy nga tráng lệ, trong có một người hầu bước ra mời Lý vào. Lý từ chối, người hầu lại càng mời mọc ân cần, Lý nói "Chúng ta chưa gặp nhau lần nào, chắc anh lầm rồi". Người hầu nói không phải lầm, lại nói đúng cả tên họ Lý. Lý hỏi đây là nhà ai, người hầu đáp cứ vào thì sẽ biết. Vào trong đi ngang một cổng vòm, thấy một người đàn bà bị đóng đinh vào tay chân căng ra trên cánh cửa, Lý tới gần nhìn thì ra là chị dâu mình, vô cùng hoảng sợ. Lý có người chị dâu bị cái mụn nhọt lớn lở ra trên cánh tay, nằm bệnh hơn một năm chưa khỏi, vẫn nghĩ thầm không biết vì sao lại tới nỗi thế. Đến lúc ấy lại ngờ chị dâu làm điều ác, run sợ đi chậm lại, người hầu giục đi mau vào trong.
Tới trước điện, thấy trên có một người đội mão mặc áo như bậc vương giả, thần thái oai nghi mạnh mẽ. Lý quỳ rạp xuống không dám ngẩng đầu. Vương sai người đỡ dậy ôn tồn nói "Đừng sợ. Vì trước đây ta có quấy quả ông chén rượu nên muốn gặp một lần để cám ơn thôi không có chuyện gì đâu. Lý mới bắt đầu yên tâm, nhưng vẫn không biết lý do, Vương lại nói "Ngươi không nhớ chén rượu rót trên đồng sao?". Lý sực nghĩ ra, biết là thần, dập đầu nói "Vừa thấy người chị dâu chịu hình phạt nặng nề như vậy, vì tình cốt nhục nghĩ thấy đau lòng, xin đại vương thương xót tha cho!". Vương nói "Người này rất ghen tuông độc ác, chịu hình phạt như vậy là phải. Ba năm trước người thiếp của anh ngươi sinh nở, thị ngầm lấy kim đâm vào dạ con, người thiếp đến nay vẫn thường đau đớn, thử hỏi còn tính người không?". Lý cố khẩn cầu Vương nói "Thôi vì nể mặt ông nên ta tha cho, khi ông trở về nên khuyên thị bỏ thói ác cũ đi". Lý tạ ơn lui ra, đi ngang cổng vòm thì thấy trên cánh cửa không còn có người nữa.
Lý về nhà, tới thăm chị dâu, thấy đang nằm trên giường, máu mủ đầy chiếu, lúc ấy người thiếp vừa làm chuyện trái ý nên chị ta đang mắng chửi. Lý khuyên "Chị đừng nên thế nữa, hôm nay bị đau đớn bệnh tật đều là vì ngày thường tàn nhẫn đố kỵ mà ra đấy". Người chị dâu tức giận nói "Chú mà muốn làm đàn ông giỏi thì đã có thím nó ở nhà rất hiền lành, chồng muốn ngủ nhà nào ăn nhà nào cũng được không dám nói một tiếng, đủ cho chú nắm quyền làm chồng rồi, đừng thay cả anh chú mà trị gái già này?". Lý khẽ cười nói "Chị đừng nóng, ta mà nói thẳng ra thì sợ là có khóc lóc ăn năn cũng không kịp kia". Người chị dâu nói "Ta không ăn cắp một sợi chỉ nào của Tây Vương mẫu, cũng chưa từng chớp mắt trước bàn thờ Ngọc Hoàng, lòng dạ thanh thản, việc gì phải khóc lóc ăn năn chứ? ". Lý nói khẽ 'Mũi kim đâm vào dạ con kia đáng tội gì?". Người chị dâu chợt biến sắc, hỏi tại sao nói thế. Lý kể lại mọi việc, người chị dâu run lẩy bẩy, nước mắt vòng quanh sợ sệt rên rỉ "Ta không dám thế nữa!". Còn đang kêu khóc thì chợt thấy hết đau. Từ đó trở đi chị ta bỏ nết cũ, sau được khen là hiền thực. Người thiếp về sau lại sinh nở, lúc dạ con lộ ra, vết kim hãy còn.
Dị Sử thị nói: Có kẻ nói trên đời không ít kẻ ghen tuông độc ác như người đàn bà nọ, chỉ hận là âm phủ để lọt lưới nhiều quá. Ta cho rằng không phải thế, vì cõi âm chưa chắc đã không có hình phạt nào nặng hơn việc đóng đinh lên cánh cửa, chẳng qua vì không có ai biết kể lại mà thôi.
343. Người Buôn Vải (Bố Khách)
Mỗ ở huyện Trường Thanh (tỉnh Sơn Đông) làm nghề buôn vải, tới huyện Thái An (tỉnh Sơn Đông) nghe nói có người thầy bói xem số Tử vi rất giỏi, bèn tìm tới hỏi chuyện hay dở. Người thầy xem số nói "Vận hạn rất xấu, ông nên về nhà mau đi". Mỗ sợ, thu xếp hàng hóa tiền bạc vội vàng về nhà. Trên đường gặp một người mặc áo ngắn dáng như công sai, cùng nhau trò chuyện rất hợp ý. Mấy lần vào hàng quán Mỗ đều mời cùng ăn uống, người áo ngắn rất cảm ơn. Mỗ hỏi đi công cán tới đâu, người ấy đáp là tới huyện Trường Thanh để bắt người. Mỗ hỏi bắt ai, người áo ngắn rút tờ công văn đưa ra bảo xem. Mỗ thấy tên mình đầu tiên, hoảng sợ nói "Ta làm gì mà bị bắt?". Người áo ngắn đáp "Ta không phải là người sống mà là công sai trong bốn ty âm phủ tỉnh Sơn Đông, đóng trong núi Tung Lý (ở huyện Thái An). Chắc là tuổi thọ của ông hết rồi đấy". Mỗ rơi nước mắt xin cứu, quỷ nói "Không được đâu, có điều số người có tên trong công văn thì nhiều, muốn bắt đủ hết cũng phải có thời giờ, ông cứ về nhà mau sắp xếp hậu sự cho xong đi rồi ta sẽ tới gọi, như thế là để đền đáp lòng ông tử tế với ta vậy".
Không bao lâu cùng tới bờ sông, thấy cầu gãy nát, người qua lại rất vất vả, quỷ nói "Ông sắp chết rồi, không mang được đồng nào theo đâu, xin lập tức dựng lại cầu giúp đỡ người đi đường, tuy là tốn kém nhiều nhưng cũng có thể có lợi chút ít cho ông". Mỗ cho là phải, khi về tới nhà nói với vợ con sắp đặt đầy đủ vật liệu nhân công, ngày đêm dựng lại cầu, nhưng khá lâu vẫn không thấy quỷ tới, lấy làm ngờ vực. Một hôm chợt quỷ tới, nói "Ta đã đem việc ông dựng cầu trình lên với Thành hoàng, chuyển đạt xuống âm ty rồi. Âm ty nói chỉ một việc lành như thế thôi cũng đáng được thêm tuổi thọ, nay tên ông trong tờ công văn kia đã được xóa rồi, xin kính báo ông rõ". Mỗ mừng rỡ cảm tạ. Sau lại đi buôn qua Thái Sơn, nhớ tới ơn quỷ, bèn sắm sửa lễ vật, đốt vàng, cúng tế rót rượu khấn khứa. Trở ra khỏi núi thì thấy người áo ngắn vội vã đi tới, nói "Suýt nữa ông hại ta rồi, đang lúc họp bàn việc với quan trên, may mà y không nghe, nếu không thì làm sao?". Rồi tiễn Mỗ đi một đoạn đường, nói "Từ nay về sau đừng tới đây nữa, nếu có chuyện gì gấp cần cho biết thì ta sẽ tới thăm", rồi chia tay.
344. Người Làm Ruộng (Nông Nhân)
Có người làm ruộng bừa cỏ ở dưới núi, vợ lấy vò đất nung mang cơm cho, ăn xong đặt vò trên bờ ruộng, đến chiều tối nhìn lại thì cơm còn thừa trong vò đã hết sạch. Cứ thế mấy ngày liền, y ngờ vực bèn rình xem. Thấy có con chồn tới thò đầu vào vò ăn vụng, y rón rén vác bừa tới ra sức đập mạnh, con hồ sợ chạy. Nhưng cái vò dính chặt vào đầu, nó quýnh quá không rút ra được, lăn luôn xuống đất, cái vò vỡ nát, nó rút đầu ra nhìn thấy người làm ruộng càng hoảng sợ, băng qua núi chạy mất. Mấy năm sau, phía nam núi có người con gái nhà giàu bị hồ ám, cầu đảo trấn yểm mãi không hết. Hồ nói với cô gái rằng "Thứ bùa chú vẽ trên giấy thì làm gì được ta?". Cô gái hỏi "Ngươi giỏi phép thuật thì may ra được gần gũi nhau lâu dài, nhưng không biết bình sinh có sợ cái gì không?". Hồ đáp "Ta chẳng sợ gì cả nhưng mấy năm trước ăn vụng cơm ở phía bắc núi, bị một người đội nón rộng cầm một món binh khí cong cong đánh cho suýt chết, đến nay còn sợ".
Cô gái nói lại với cha, người cha muốn tìm người ấy, nhưng không biết tên họ quê quán nên không sao tìm được. Gặp lúc người đầy tớ có việc tới thôn núi, tình cờ kể lại, cạnh đường có một người nói "Chuyện này rất khớp với việc ta gặp năm trước, không ngờ con hồ ấy đến nay lại biết phép thuật tác quái à?" Người đầy tớ lấy làm lạ về báo, cha cô gái mừng rỡ, lập tức sai mang ngựa qua đón người làm ruộng về, kính cẩn cầu khẩn. Người làm ruộng cười nói "Chuyện năm trước ta gặp thì đúng như thế, nhưng chưa chắc đúng là con hồ này, vả lại nó đã biết biến hóa để tác quái thì có sợ gì một người làm ruộng?". Người cha cô gái cứ ép, y bèn ăn mặc như trước, bước vào phòng cô gái chống bừa quát !Ta tìm ngươi lâu nay mà không được, ngươi lại trốn ở đây à? Hôm nay thì phải giết không tha!". Nói xong thì nghe trong phòng có tiếng hồ kêu lên, người làm ruộng lại càng làm ra vẻ dữ tợn, hồ bèn năn nỉ xin tha mạng. Người làm ruộng quát "Vậy thì cút mau, tha cho ngươi đấy" Cô gái thấy hồ ôm đầu chạy mau, từ đó không bị nó quấy nhiễu nữa.
345. Cô Gái Ở Trường Trị (Trường Trị Nữ Tử)
Trần Hoan Lạc người đất Trường Trị huyện Lộ (tỉnh Sơn Đông) có đứa con gái rất thông minh xinh đẹp. Có người đạo sĩ khất thực liếc nhìn rồi bỏ đi, từ đó hàng ngày cứ cầm bát xin ăn ở chợ gần đó. Chợt thấy một người mù từ nhà Trần bước ra, đạo sĩ rảo chân theo hỏi đi đâu, người mù đáp vào bói cho nhà họ Trần. Đạo sĩ nói "Nghe nói nhà ấy có một con gái, người anh em họ ngoại của ta muốn nhờ mai mối dạm hỏi, nhưng chưa biết tuổi cô ta". Người mù nói cho biết, đạo sĩ bèn chào rồi đi. Vài hôm sau, cô gái đang ngồi thêu trong phòng, chợt thấy hai chân tê rần, dần dần tê lên tới đùi, rồi tới lưng, trong chớp mắt ngã gục xuống ngất đi. Hơn một khắc thì tỉnh lại, vội vàng đứng lên, định tìm mẹ để kể, nhưng ra tới cửa thì thấy chung quanh mênh mông sóng nước đen ngòm, chỉ có một con đường thẳng như sợi dây, hoảng sợ quay lại thì thấy nhà cửa phòng ốc đã chìm vào trong sóng nước. Lại nhìn lại trên đường thì vắng ngắt không người, chỉ có một mình đạo sĩ đang thong thả bước phía trước, nàng vội đuổi theo, thấy là người cùng xứ bèn kể lại mọi việc. Đi được vài dặm thì thấy nhà cửa làng xóm, nhìn lại thì là nhà mình, nàng hoảng sợ nói "Lặn lội vất vả như thế mà vẫn ở trong làng mình, sao lại mê man tới thế này chứ?".
Rồi mừng rỡ vào nhà, cha mẹ vẫn chưa về, lại trở về phòng mình, thì đôi giày thêu dở còn trên giường, thấy mệt mỏi bèn lên giường ngồi nghỉ. Đạo sĩ chụp lấy cô gái đè xuống, nàng muốn kêu nhưng không thành tiếng, đạo sĩ rút dao sắc mổ bụng móc lấy quả tim cô gái. Cô gái thấy hồn phách phiêu diêu đứng ra ngoài xác nhìn quanh thì nhà cửa đều đổi khác, chỉ có gò núi trùng điệp. Nhìn lại đạo sĩ thì y đang cầm quả tim của mình chấm lên một pho tượng gỗ, lại chỉ vào pho tượng đọc thần chú mấy lần, nàng biết rằng pho tượng ấy chính là mình. Đạo sĩ dặn "Từ nay trở đi phải nghe lệnh ta, không được sai trái", rồi mang pho tượng đi. Họ Trần mất con gái, cả nhà hoảng hốt đi tìm, tới núi Ngưu Đầu mới nghe người ở đó đồn rằng dưới núi có xác một cô gái bị móc mất quả tim. Trần vội chạy mau tới xem thì đúng là con gái mình, khóc lóc lên kêu với quan huyện. Quan huyện bắt bớ tra xét dân quanh núi mấy lần cũng không được chút manh mối nào, bèn tập trung những người bị nghi ngờ để tra hỏi lại.
Đạo sĩ đi được vài dặm, ngồi nghỉ dưới một gốc dương liễu cạnh đường, chợt nói với cô gái "Bây giờ sai ngươi đi làm việc lần đầu, là tới huyện đường dò xét việc hỏi cung lại những người bị nghi ngờ. Tới đó thì phải núp trên gác, nếu thấy quan huyện dùng ấn thì phải chạy ngay, nhớ không được quên. Hẹn cho ngươi giờ Thìn đi giờ Ngọ về, chậm một khắc thì ta đâm một mũi kim vào tim ngươi cho biết mùi đau đớn, chậm hai khắc thì đâm hai mũi, tới mũi thứ ba thì hồn phách ngươi cũng tan mất luôn đấy". Cô gái nghe thế run cầm cập, kế phấp phới theo gió bay đi. Trong chớp mắt đã tới hành lang huyện đường, theo đúng lời dặn lên núp trên gác. Lúc ấy những người quanh núi Ngưu Đầu đang quỳ la liệt dưới thềm, chưa tra hỏi gì thì có công văn đưa lên đóng ấn, cô gái chưa kịp chạy thì ấn đã rút ra khỏi hộp. Cô gái lập tức thấy thân hình nặng nề yếu ớt, không kìm được rùng mình một tiếng soạt như tờ giấy. Mọi người đều ngạc nhiên ngẩng nhìn. Quan huyện ra lệnh nhấc chiếc ấn lên lần nữa, lại có tiếng kêu như trước, nhấc tới lần thứ ba thì cô gái rơi xuống đất vang lên thành tiếng, mọi người đều nghe rõ. Quan huyện đứng dậy khấn "Oan hồn cứ bẩm rõ việc oan khuất ta sẽ làm sáng tỏ cho". Cô gái cất tiếng ho bước lên, thuật rõ việc đạo sĩ giết mình bắt hồn sai khiến ra sao, sai mình tới đây dò xét thế nào.
Quan huyện sai người đuổi mau theo, tới chỗ cây dương liễu quả thấy đạo sĩ đang ở đó, bèn bắt giải về, hỏi cung một lần y đã cúi đầu nhận tội, những người bị nghi ngờ đều được thả về. Quan huyện hỏi cô gái đã được làm sáng tỏ cái chết oan khuất rồi, định sẽ đi đâu, cô gái đáp "Xin theo đại nhân". Quan huyện nói "Công thự chỗ ta đây không có nơi nào ngươi ở được, thôi cứ tạm thời về lại nhà ngươi đi". Hồi lâu cô gái nói "Công thự là nhà ta, thôi ta vào đây". Quan huyện lại hỏi thì không nghe gì nữa, vào nhà trong thì phu nhân vừa sinh con gái.
346. Tượng Đất (Thổ Ngẫu)
Họ Mã ở huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông) lấy vợ họ Vương, vợ chồng rất đầm ấm. Mã chết sớm, mẹ Vương thị muốn con lấy chồng khác, Vương thị thề không tái giá, mẹ chồng thương còn trẻ cũng khuyên lấy chồng khác, Vương thị không nghe. Người mẹ nói "Ý con rất hay, nhưng tuổi còn quá trẻ, lại chưa có con, mẹ thấy ban đầu thủ tiết rồi ngày sau có chuyện không hay thì rất xấu hổ, chi bằng cứ lấy chồng khác như người ta". Vương thị nghiêm sắc mặt thề thủ tiết đến chết, mẹ bèn để cho tùy ý. Vương thị nắn đất làm thành pho tượng chồng, mỗi bữa đều dọn cơm đưa lên như lúc còn sống. Một đêm Vương thị sắp đi ngủ, chợt thấy pho tượng đất từ trên bàn thờ bước xuống, còn đang hoảng hốt thì pho tượng vươn ra cao như người thật, đúng là chồng mình. Vương thị sợ hãi kêu mẹ, hồn Mã ngăn lại nói "Đừng kêu, ta cảm vì tình nàng tha thiết, gia đình có được người trung trinh nên ông cha mấy đời đều được vinh dự. Cha ta lúc bình sinh có làm chuyện thất đức, không được có con nối dõi nên ta phải chết sớm. Âm phủ thương nàng thủ tiết vất vả nên cho ta về để cùng nàng sinh một đứa con nối dõi". Vương thị cũng khóc ròng, lại ăn ở với nhau như lúc Mã còn sống, trời sáng thì Mã xuống giường đi. Cứ thế hơn một tháng, thấy trong bụng máy động, hồn Mã khóc nói "Kỳ hạn đã hết, từ nay xin vĩnh biệt", từ đó đi biệt luôn. Vương thị ban đầu không nói cho ai biết, đến khi bụng to dần không giấu được nữa mới lén nói với mẹ, mẹ nghi là dối trá nhưng rình xem không thấy nàng đi lại với ai, rất ngờ vực nhưng không rõ vì sao.
Được mười tháng quả nhiên Vương thị sinh được một đứa con trai, kể cho mọi người nghe, ai cũng cười không tin, nàng cũng không buồn thanh minh. Có kẻ hào lý trong làng vốn có hiềm khích với nhà Mã, bèn lên báo huyện, quan huyện bắt Vương thị lên hỏi, hàng xóm cũng không ai khai gì khác. Quan huyện nói "Nghe nói con của ma thì không có bóng, nếu có bóng thì là chuyện bịa đặt". Bèn sai bế đứa nhỏ ra dưới mặt trời, thấy bóng mờ mờ như làn khói nhẹ, lại cắt ngón tay nó lấy máu bôi lên pho tượng thì lập tức thấm vào không thấy dấu vết gì nữa. Lấy máu người khác bôi lên thì chùi đi được, vì thế tin lời Vương thị. Đứa nhỏ lớn lên được vài tuổi thì mặt mũi cử chỉ đều giống hệt Mã, nên không ai nghi ngờ gì nữa.
347. Họ Lê (Lê Thị)
Tạ Trung Điều ở huyện Long Môn (tỉnh Hà Nam), tính tình không đứng đắn. Hơn ba mươi tuổi thì vợ chết, để lại một trai một gái, sớm tối kêu khóc, chăm sóc rất vất vả. Tạ định cưới vợ kế, nhưng ngẩng lên cúi xuống chưa chọn được ai, nên tạm thuê một bà vú chăm sóc cho hai con. Một hôm Tạ đang đi qua núi chợt thấy một người đàn bà đi phía sau, đứng lại chờ nhìn, thì ra là một cô gái đẹp tuổi chừng hơn hai mươi, trong bụng thích lắm. Bèn đùa hỏi "Nương tử đi một mình mà không sợ à?". Cô gái không đáp, Tạ lại nói "Chân nương tử nhỏ, đi đường núi vất vả quá", cô gái cũng không đếm xỉa. Tạ nhìn quanh không có ai, bèn đi sát lại gần sờ mó, cô gái giận dữ nói "Ngươi là cường bạo ở đâu mà chặn đường xúc phạm ta?". Tạ nắm tay kéo đi xềnh xệch không cho dừng lại nghỉ, đôi hài của cô gái nhỏ nên cứ vấp ngã dúi dụi, cùng cực quá không biết làm sao bèn nói "Nếu muốn ta dịu ngọt ưng thuận sao lại làm thế? Chậm chậm lại đi, ta sẽ theo mà". Tạ theo lời, rồi vui thú với cô gái.
Cô gái hỏi tên họ quê quán, Tạ nói thật cả, rồi hỏi lại, cô gái đáp "Thiếp họ Lê, không may góa chồng sớm, mẹ chồng lại chết, lẻ loi một mình, nên thường về bên nhà mẹ". Tạ nói "Ta cũng không có vợ, có theo nhau được không?". Cô gái hỏi "Chàng có con cái gì không?". Tạ đáp "Không giấu gì nàng, nếu nói chuyện bạn chăn gối thì ta đây không thiếu, chỉ vì trai kêu gái khóc nên họ ngần ngại". Cô gái do dự nói "Đó quả là chuyện khó lắm, mà xem quần áo giày nón của chàng thì gia tư cũng chỉ loàng xoàng, nếu thiếp lo lắng thì cũng được nhưng làm mẹ kế khó trăm chiều, e không khỏi bị lời ra tiếng vào". Tạ nói "Xin đừng ngại chuyện đó, ta không nói ra thì người khác có lý do gì mà dây vào?". Cô gái có vẻ ưng thuận, nhưng lại nghĩ ngợi nói "Đã gần gũi thế này thì còn gì mà không theo? Nhưng còn có ông bác dữ, vẫn thường muốn gả bán thiếp lấy nhiều tiền, sợ không ở được với nhau lâu dài, thì sẽ ra sao?". Tạ cũng e ngại, bảo nàng trốn đi. Cô gái nói "Thiếp đã nghĩ kỹ rồi, chỉ sợ người nhà chàng để lộ ra thì bất tiện lắm". Tạ nói "Đó là chuyện vặt, trong nhà chỉ có một bà già, cho bà ta nghỉ là được". Cô gái mừng, bèn cùng về nhà Tạ. Tạ để cô gái đợi ở ngoài, vào nhà trước cho bà già nghỉ về rồi quét dọn nhà cửa ra đón. Cô gái cũng tháo vát, chăm sóc hai đứa con Tạ không nề vất vả.
Tạ được cô gái, yêu mến lạ thường, cả ngày cứ đóng cửa nhìn nàng, không tiếp khách khứa nào cả. Được hơn tháng có việc công phải đi vắng, trở về thì thấy cổng ngõ mở toang. Tìm cô gái, vào tới cửa trong thì cửa đóng chặt, gọi không thấy ai lên tiếng, bèn trổ mái nhà mà vào, chẳng thấy bóng người nào. Vào tới phòng ngủ thì chợt có một con sói lớn tung cửa vọt ra, sợ hãi suýt ngất. Lúc hoàn hồn vào tìm không thấy hai con đâu, mà máu me đầy đất, chỉ còn có cái đầu, quay ra đuổi theo con sói thì không biết đã chạy đâu rồi.
Dị Sử thị nói: Kẻ sĩ mà vô hạnh thì báo ứng lạ lắm. Kẻ lấy vợ lần sau còn đều là dắt sói vào nhà, huống chi lại muốn tìm vợ hiền nơi người đàn bà đi trốn chung đụng ngoài đồng sao?
348. Đứa Con Họ Liễu (Liễu Thị Tử)
Liễu Tây Xuyên người huyện Mục Châu (tỉnh Sơn Đông) làm quản gia cho Nội sử họ Pháp. Năm hơn bốn mươi tuổi mới sinh được một đứa con trai, yêu thương rất mực, mặc cho muốn làm gì thì làm, chỉ sợ nó phật ý. Lúc đứa con lớn lên thì rong chơi đàng điếm, ăn tiêu hết sạch cả tiền bạc Liễu dành dụm được. Không bao lâu đứa con mắc bệnh, Liễu vốn có một con ngựa hay, đứa con nói "Ngựa béo ăn ngon lắm, giết cho ta ăn thì có thể khỏi bệnh". Liễu bàn định giết một con ngựa thường để thay, đứa con nghe được, lập tức giận dữ chửi ầm lên, bệnh lại càng nặng. Liễu sợ, giết con ngựa hay làm thịt đưa tới, đứa con mới vui vẻ. Nhưng cũng chỉ ăn có một miếng rồi bỏ, bệnh vẫn không hết, kế chết. Liễu vô cùng đau đớn, khóc lóc rất thê thảm. Ba bốn năm sau, có mấy người làng đi dâng hương ở núi Thái Sơn, lên lưng chừng núi thấy một người cưỡi con ngựa như của Liễu phóng nhanh tới, lấy làm lạ vì rất giống con Liễu, khi tới gần nhìn ra quả đúng.
Y xuống ngựa vái chào, thăm hỏi trò chuyện. Người làng đều sợ, cũng không dám nói việc y đã chết, chỉ hỏi làm gì ở đây. Y đáp cũng chẳng có việc gì, dạo chơi đây đó thôi, kế lại hỏi tên chủ nhà họ trọ, mọi người đều nói rõ. Y chắp tay nói "Gặp lúc có chút việc, không rảnh nói chuyện, ngày mai sẽ xin tới thăm", rồi lên ngựa đi. Mọi người về tới nơi trọ, cũng cho rằng chưa chắc y đã tới nhưng sáng hôm sau chờ thì quả nhiên y tới thật, buộc ngựa ở cột chuồng ngựa, rảo bước vào trò chuyện rất vui vẻ. Mọi người nói "Tôn đại nhân rất nhớ mong, sao không về thăm hỏi một chuyến?". Y ngạc nhiên hỏi mọi người muốn nói tới ai, mọi người đáp là Liễu. Y sa sầm mặt, hồi lâu mới nói "Nếu ông ta nhớ mong, thì xin về nói giùm là ngày bảy tháng tư ta chờ ở đây", nói xong từ biệt.
Mọi người về kể lại cho Liễu, Liễu khóc lớn, đúng hẹn tìm tới, đem mọi việc nói với chủ trọ. Chủ trọ nói "Hôm trước ta thấy công tử thần thái rất lạnh nhạt, chắc không có ý tốt, theo ta thấy thì không nên gặp". Liễu rơi lệ không nghe, chủ trọ nói "Ta không cản ông đâu, nhưng thần quỷ không thường, chỉ sợ gặp chuyện không hay. Nếu ông quyết muốn gặp, thì xin cứ núp trong tủ chờ công tử tới xem thái độ ra sao đã, có thể gặp hãy ra gặp". Liễu theo lời kế quả nhiên đứa con Liễu tới, hỏi họ Liễu tới chưa, chủ trọ đáp không có, y nổi giận chửi "Đồ súc sinh già, sao lại không tới?" Chủ trọ ngạc nhiên hỏi "Sao lại chửi cha như thế?". Y đáp "Y mà là cha gì của ta? Buổi đầu kết bạn với nhau nơi đất khách, không ngờ y ôm lòng gian ác, mang hết tiền bạc của ta trốn mất, nay ta chỉ mong bắt được y mới cam tâm, chứ cha con gì?". Nói xong bước ra nói "Tha cho y đấy". Liễu núp trong tủ nghe thấy rõ ràng, sợ toát mồ hôi không dám thở mạnh, đến khi chủ trọ gọi mới dám bước ra, len lét trở về.
Dị Sử thị nói: Lấy được nhiều vàng như thế có sung sướng gì? Khó mà trả cho được vậy. Tiêu pha phung phí bằng hết mà chết rồi vẫn không quên mối thù, oán hận người ta tới như thế cũng quá lắm?
349. Bậc Thượng Tiên (Thượng Tiên)
Tháng ba năm Quý hợi, ta cùng Cao Quý Văn tới huyện Tắc Hạ (tỉnh Sơn Đông), cùng ở nhà trọ. Quý Văn chợt bị bệnh, gặp lúc Cao Chấn Mỹ cũng theo tiên sinh Niệm Đông tới quận, bàn việc chữa trị. Nghe ông Ai Lân nói nhà Lương thị ở phía nam huyện thành có hồ tiên giỏi chữa bệnh, bèn cùng nhau tới đó. Lương thị là đàn bà, tuổi khoảng bốn mươi, phong thái tự nhiên phảng phất như hồ. Vào nhà, tới phòng trong treo rèm gấm đỏ, vén rèm xem thấy trên vách có treo tranh Quan âm, lại có hai ba bức tranh vẽ người giục ngựa vung mâu, quân lính chạy theo. Phía dưới vách phía bắc có bàn, đầu bàn đặt cái đôn nhỏ cao không quá một thước lót nệm gấm. Lương thị nói "Tiên tới thì ngồi ở đó". Mọi người thắp hương vái lạy, Lương thị gõ ba tiếng khánh, miệng lẩm nhẩm như nói gì đó.
Khấn xong đưa khách vào chỗ ngồi, đứng ngoài rèm chải tóc tô môi, trò chuyện với khách toàn nói những phép thiêng của tiên. Hồi lâu mặt trời xế bóng, mọi người lo đường xa về không kịp, lại nhờ khấn mời lần nữa. Lương thị lại gõ khánh khấn khứa, rồi quay người đứng lên nói "Thượng tiên rất thích trò chuyện ban đêm, chứ lúc khác khó gặp lắm. Đêm trước có người học trò chờ thi mang rượu thịt tới uống với thượng tiên, thượng tiên cũng đưa rượu ngon ra mời khách, đọc thơ bàn văn cười nói vui vẻ, lúc chia tay thì trời đã gần sáng". Chưa dứt lời thì trong phòng có tiếng rì rào khẽ vang lên như tiếng dơi bay. Còn đang nghe ngóng thì trên bàn ầm một tiếng như có tảng đá lớn rơi xuống. Lương thị quay người nói "Làm người ta sợ chết được!", thì nghe trên bàn có tiếng cười rộ vui vẻ, như là một ông già khỏe mạnh.
Lương thị đặt chiếc quạt gần cái đôn, trên cái đôn lại có tiếng nói lớn "Có duyên làm sao?", rồi lớn tiếng mời ngồi, lại như chắp tay làm lễ. Kế hỏi khách có chuyện gì muốn dạy bảo, Cao Chấn Mỹ nói ý của tiên sinh Niệm Đông, hỏi có gặp Bồ Tát không? Tiên đáp "Nam Hải ta quá quen đường, làm sao không gặp?". Lại hỏi Diêm Vương có thay đổi người không, đáp "Cũng như ở cõi trần thôi". Hỏi Diêm Vương họ gì, đáp "Họ Tào". Kế xin thuốc chữa bệnh cho Quý Văn, tiên nói "Trở về cứ đêm mang trà nước ra cúng, ta sẽ tới chỗ Quan âm hái thuốc tặng tho, bệnh gì mà không khỏi". Mọi người ai cũng hỏi chuyện này chuyện nọ, đều được trả lời rành mạch dứt khoát, bèn chào ra về. Qua đêm thì Quý Văn hơi đỡ, ta lại cùng Chấn Mỹ sắp xếp về trước, nên không rảnh ghé viếng thượng tiên được nữa.
350. Hầu Tĩnh Sơn (Hầu Tĩnh Sơn)
Thiếu tễ họ Cao tức tiên sinh Niệm Đông nói trong niên hiệu Sùng Trinh nhà Minh (1628-1643) có con khỉ thành tiên, hiệu là Tĩnh Sơn, tới ở nhà một ông già ở huyện Hà Gian (tỉnh Hà Bắc). Mỗi khi cùng người ta bàn văn chương, luận số mệnh thì hào hứng không biết mỏi, đặt bánh trái trên bàn thì ăn uống vung vãi, nhưng không ai trông thấy hình dáng ra sao. Lúc ấy ông nội của tiên sinh bệnh nặng, có người gởi thư nói ông Tĩnh Sơn là kẻ hàng trăm năm mới có một người, không thể không gặp gỡ ông nội tiên sinh bèn sai đầy tớ mang ngựa đón ông già tới. Ông già tới đã mấy ngày mà tiên chưa tới, bèn thắp hương khấn vái. Chợt nghe trên nóc nhà có tiếng khen lớn "Thì ra là nhà người tốt?". Mọi người ngạc nhiên ngoảnh nhìn, kế chỗ chái nhà lại có tiếng nói, ông già đứng dậy nói "Đại tiên tới rồi?" Mọi người theo ông già để đầu trần ra cửa đón, lại nghe có tiếng chắp tay chào hỏi. Khi đã vào phòng thì cười to nói lớn, trò chuyện hào sảng. Lúc ấy anh em Thiếu tễ còn là Chư sinh, vừa đi thi về. Tiên nói "Bài làm của hai ông cũng hay, nhưng chưa hiểu hết kinh sách, phải cố gắng hơn nữa, bước đường công danh không còn xa đâu. Hai ông kính cẩn hỏi về bệnh của ông nội, tiên đáp "Sống chết là chuyện lớn, khó biết rõ lắm", vì thế đều biết là không hay. Không bao lâu sau, quả nhiên ông nội của tiên sinh qua đời.
Trước có người nuôi khỉ làm trò, tới diễn trong thôn, con khỉ bứt đứt dây xích chạy, không đuổi bắt được. Con khỉ vào trong núi, mấy mươi năm sau người ta còn nhìn thấy, đi lại rất nhanh, thấy người là chạy. Sau lại dần dần vào thôn ăn vụng bánh trái, không ai bắt được. Một hôm nó bị người trong thôn rình được, đuổi theo ra tới ngoài đồng bắn chết. Nhưng hồn con khỉ vẫn không biết là mình đã chết, chỉ thấy thân thể nhẹ nhàng như chiếc lá, trong chớp mắt đi được hàng trăm dặm, bèn tới nương tựa ông già ở Hà Gian, nói "Nếu ngươi phụng thờ ta, ta sẽ giúp cho ngươi giàu có", rồi lấy tên hiệu là Tĩnh Sơn.
Ở Trường Sa (tỉnh thành Hồ Nam) có con khỉ, cổ đeo xích vàng, thường lui tới nhà các bậc sĩ đại phu, ai nhìn thấy nó ắt có chuyện may mắn vui vẻ. Cho trái cây nó cũng ăn, mà không rõ từ đâu tới cũng không rõ đi đâu. Có ông già hơn chín mươi tuổi nói lúc nhỏ còn thấy trên chiếc xích có tấm bài ghi chữ là của phiên vương nhà Minh cũ, nghĩ chắc cũng là tiên vậy.
351. Quách Sinh (Quách Sinh)
Quách sinh là người Đông Sơn trong huyện. Lúc nhỏ ham học, nhưng trong thôn núi không có thầy giỏi, đến năm hơn hai mươi tuổi mà viết chữ còn sai. Trước đó trong nhà bị hồ quấy phá, thức ăn vật dùng thường bị mất, rất là cực khổ. Một đêm đọc sách để sách trên bàn, bị hồ đổ mực vào đen ngòm cả không sao đọc được nữa, vì là chọn những bài văn hay chép lại để học nên mất tới sáu bảy chục bài, vô cùng căm tức nhưng không biết làm sao. Lại có hơn hai mươi bài văn làm được cất để đợi hỏi thêm bậc danh sĩ, sáng ra thấy vứt tung tóe trên bàn, mực bôi lem luốc hết cả, giận lắm. Gặp lúc Vương sinh có chuyện đi ngang, vốn chơi thân với Quách, tới nhà thăm, thấy sách vở bị bôi mực bèn hỏi. Quách kể lễ nỗi khổ, lại đem nhĩmg đoạn còn sót ra đưa cho Vương xem. Vương nói đùa là so những chỗ bị bôi xóa với những chỗ còn sót thì như có ý phẩm bình hay dở. Lại xem lại những đoạn bị bôi đen thì đều là tạp nhạp nên bỏ, ngạc nhiên nói "Dường như hồ có ý, là không những đừng lo sợ, mà nên lập tức nhận nó làm thầy đấy".
Được vài tháng, Quách xem lại bài làm cũ thấy những đoạn bị bôi xóa đúng là dở. Bèn làm hai bài khác đặt ở bàn để chờ xem sao, sáng ra thấy đều bị bôi xóa. Hơn một năm sau thì bài làm không bị bôi xóa gì nữa, mà thấy có vết mực đậm khuyên điểm rất to tỏ ý khen ngợi. Quách lấy làm lạ, mang tới cho Vương xem. Vương mừng rỡ nói "Hồ đúng là thầy của ông, có thể đi thi rồi đấy". Năm ấy quả nhiên Quách được vào trường huyện, vì thế rất cảm ơn hồ, thường đặt xôi gà ở bàn cho hồ ăn. Mỗi khi tìm mua được bài làm của những người thi đỗ mà không chọn lựa được đều nhờ hồ quyết định, nhờ thế thi hương thi hội đều đỗ cao, thi đình đỗ Phó bảng. Lúc bấy giờ có bản thảo của các ông Diệp, Mục văn chương phong nhã đẹp đẽ, người ta đua nhau truyền tụng, Quách cũng có một bản sao, rất là trân trọng, chợt bị trút cả nghiên mực vào, đen ngòm gần như không còn chữ nào. Lại nghĩ đầu đề làm một bài văn, lấy làm đắc ý, cũng bị bôi xóa cả nên từ đó dần dần không tin hồ nữa. Không bao lâu triều đình sửa định văn thể, ông Diệp bị hạ ngục, mới lại hơi phục hồ có tài biết trước. Nhưng vì mỗi lần làm được một bài văn thì nghĩ ngợi vất vả, mà cứ bị bôi xóa, lại thấy mình mấy lần đỗ cao, ý khí kiêu căng, vì vậy càng ngờ hồ làm càn. Bèn đem những bài văn được khuyên điểm trước kia ra thử, hồ lại bôi xóa sạch. Quách cười nói "Đúng là làm càn, chứ chẳng lẽ trước thì hay mà nay lại dở à?", rồi không đặt xôi gà cho hồ ăn nữa.
Quách cất sách đọc trong hòm, thấy khóa vẫn như cũ nhưng mở ra xem thì thấy trên bìa bị bôi bốn vết mực to bằng ngón tay, chương một bị bôi năm vết, chương hai bị bôi năm vết, sau nữa thì không có gì. Từ đó không thấy hồ tới nữa. Về sau Quách thi một lần được hạng tư, hai lần được hạng năm mới biết đó là điềm báo trước, là hồ ngụ ý qua vết mực vậy.
Dị Sử thị nói: Tự mãn thì chuốc lấy tổn thất, khiêm cung thì được ích lợi thêm, đó là đạo trời. Vừa hơi có danh đã tự cho rằng mình đúng, học theo lối văn của họ Diệp, đã sai mà không chịu sửa đổi, thì không thể không thất bại được. Tự mãn thì có hại là như thế chăng!
352. Thiệu Sĩ Mai (Thiệu Sĩ Mai)
Tiến sĩ họ Thiệu tên Sĩ Mai là người huyện Tế Ninh (tỉnh Sơn Đông), lúc đầu làm Giáo thụ phủ Đăng Châu (tỉnh Sơn Đông). Có hai người Tú tài già sai người hầu đưa danh thiếp xin gặp, Thiệu thấy tên họ rất quen, nghĩ ngợi hồi lâu sực nhớ ra kiếp trước của mình, bèn hỏi người hầu có phải hai viên Tú tài ở thôn nọ thôn nọ không, lại hỏi tới phong thái thường ngày của họ, nhất nhất đều đúng. Đến lúc hai người vào gặp, cầm tay trò chuyện thân mật như quen nhau từ lâu. Thiệu hỏi Cao Đông Hải gần đây ra sao, hai người đáp đã chết đói trong ngục hơn hai mươi năm rồì, nay còn một con trai làm dân đen ở làng, nhưng sao Thiệu biết? Thiệu cười nói "Đó là người họ hàng của ta".
Trước kia Cao Đông Hải là kẻ du thủ du thực nhưng tính tình hào sảng, trọng nghĩa khinh tài. Có người thiếu thuế phải bán con gái, Cao dốc túi ra đóng thay. Tới chơi bời ở một kỹ viện, trong kỹ viện che giấu một tên cướp, quan lùng bắt rất gấp, tên cười bèn chạy tới ẩn núp ở nhà Cao. Quan biết được bắt Cao, tra tấn nặng nề, Cao vẫn không khai, kế chết trong ngục. Ngày Cao chết là ngày Thiệu chào đời. Sau Thiệu tới thôn ấy, chu cấp cho vợ con của Cao, xa gần nghe thấy đều cho là chuyện lạ. Chuyện này là quan Thiếu tễ họ Cao kể lại, Thiệu là bạn đồng niên với Công tử Cao Dục Lương.
Phụ: Một Truyện Trong Trì Bắc Ngẫu Đàm (Trì Bắc Ngẫu Đàm Nhất Tắc)
Bạn đồng niên với ta* là Thiệu Sĩ Mai ở huyện Tế Ninh, tự Dịch Huy, đỗ Cử nhân năm Tân mão đời Thuận Trị (1651), đỗ Tiến sĩ năm Kỷ hợi (1659), nhớ được kiếp trước mình là Cao Đông Hải người huyện Thê Hà (tỉnh Sơn Đông). Vợ ông là Mỗ thị, lúc chết nói rằng "Phải làm vợ chồng với nhau ba kiếp, kiếp sau thiếp sẽ thác sinh vào nhà họ Đổng huyện Quán Đào (tỉnh Sơn Đông), ở ngôi nhà thứ ba chỗ ngoặt cạnh bờ sông Lâm Hà. Sau khi ông bãi quan về, lúc tới ở chùa Tiêu Tự đọc kinh Phật nên tìm thiếp ở đó". Sau Thiệu làm Giáo thụ phủ Đăng Châu, có lần được lệnh kiêm giữ chức Huấn đạo huyện Thê Hà bị khuyết, lúc rảnh rỗi tới hỏi chỗ ở cũ của Cao Đông Hải, tìm được một người cháu nội, bèn mua nhà của ruộng đất cho. Kế được thăng làm Tri huyện Ngô Giang (tỉnh Giang Tô), cáo bệnh về nghỉ, khách khứa đầy nhà.
* Ta: tức Vương Sĩ Trinh, tác giả Trì bắc ngẫu đàm.
Có người bạn đồng niên làm Tri huyện Quán Đào, Thiệu tìm tới thăm hỏi, ra ở chùa Tiêu Tự, trong chùa có một bộ kinh Phật, lúc rảnh rỗi giở ra xem. Chợt nhớ lời vợ, bèn theo bờ sông tìm, quả có họ Đổng ở nhà thứ ba chỗ ngoặt cạnh bờ sông. Trong nhà có người con gái chưa gả chồng, Thiệu kể chuyện cũ rồi xin cưới cô ta. Hơn mười năm sau, Đổng thị lại mắc bệnh, trước khi chết lại dặn Thiệu rằng "Lần này thiếp sẽ thác sinh vào nhà họ Vương ở huyện Tương Dương (tỉnh Hồ Bắc), trước cổng nhà có hai cây liễu. Vài năm nữa chàng tới tìm thiếp ở đó thì sẽ được tái hợp, sinh được hai con trai", Thiệu theo lời quả đúng. Năm Kỷ mùi đời Khang Hy (1679) Thiệu ở kinh thường nhiều lần kể cho ta và bạn đồng niên là Thị ngư họ Phó, Đồng Thần Y, Phan Lại bộ, Trần Phục Dương nghe.
Phụ: Truyện Thiệu Sĩ Mai Của Tiên Sinh Lục Thú Sơn (Lục Thú Sơn Tiên Sinh Thiệu Sĩ Mai truyện)
Thiệu Sĩ Mai tự Dịch Huy là người châu Tế Ninh tỉnh Sơn Đông. Kiếp trước tên Cao Tiểu Hòe, vốn là người Cao gia trang ở huyện Thê Hà, được sung chức Lý chính trong làng, lo việc chung giữ phép công, không lấy của dân một đồng. Lúc bệnh chết, thấy hai người áo xanh dáng như công sai tới bảo nhắm chặt mắt lại rồi cắp lấy mang đi rất mau, chỉ nghe bên tai gió thổi vù vù. Giây lát tới một gian phòng, hai người áo xanh bỏ đi mất, mở mắt nhìn thấy hai bà mụ đang đỡ đẻ trong màn, thì đã thác sinh vào nhà họ Thiệu rồi. Miệng không nói được nhưng trong bụng nghĩ thầm "Theo như trước mắt nhìn thấy thì nhà cửa vật dùng đều khác hẳn, nhưng chẳng lẽ cả chân tay da tóc cũng chẳng phải là ta như cũ sao?". Đến năm hai ba tuổi biết nói rồi, cứ nói muốn tới Cao gia trang Cao gia trang thôi. Cha mẹ lấy làm lạ quát "Con nói bậy! Cao gia trang ở đâu?".
Đến khi lớn đi học xa nhà, đem chuyện nói với thầy, thầy nói "Chuyện tiền thân ấy nên giữ kín là hơn", từ đó không nói với ai nữa. Năm Kỷ hợi đời Thuận Trị Thiệu đỗ Tiến sĩ, nhận chức Giáo thụ phủ Đăng Châu, gặp lúc vâng lệnh kiêm giữ chức Huấn đạo huyện Thê Hà, trên đường đi ghé ngang Cao gia trang thì nhà cửa xóm làng vẫn còn như cũ, nhân họp người ở đó lại, hỏi rằng "ở đây từng có một người là Cao Tiểu Hòe phải không?". Mọi người đáp "Có, nhưng chết đã lâu rồi". Lại hỏi tới ngày tháng chết thì hoàn toàn khớp với ngày Thiệu sinh, bèn thuật lại mọi chuyện. Tìm tới con trai Cao, thì một đã chết, một đi vắng, chỉ có một con gái đã lấy chồng ở cách đó hơn một dặm. Gọi tới hỏi chuyện, nói những việc lúc con gái còn nhỏ đều đúng cả. Lại hỏi thăm các bậc cố lão trong làng, chỉ có một người còn sống, tóc bạc phơ phơ, đã hơn chín mươi tuổi rồi. Gặp nhau nói chuyện cũ, thân mật như quen biết đã lâu.
Sĩ Mai nhân đó sực hiểu cả mọi việc, mối ngờ vực suốt nửa đời từ đó tiêu tan, nhân vịnh thơ rằng "Hai kiếp mở toang đường sống chết, Một thân biết hết việc xưa nay". Bèn bỏ tiền mua ruộng vườn cho con cái họ Cao. Về sau Thiệu được thăng làm Tri huyện Ngô Giang, nhân sĩ trong huyện rất truyền tụng chuyện của ông, buổi đầu ta* cũng chưa tin. Gặp lúc Cống sinh Đăng Châu Lý Viết Bạch, em ruột bạn đồng niên của ta là Viết Quế đi ngang ghé thăm, ta ngẫu nhiên nhắc tới. Viết Bạch nói "Chẳng lẽ là quan Giáo thụ phủ Đăng Châu ta là Tiên sinh Thiệu Dịch Huy sao? Chuyện đó có thật đấy, ta còn nhớ rõ mà". Nhân kể chuyện lúc Thiệu ở Đăng Châu, thường kể chuyện cho người đồng liêu là Lý Phủ, Phủ kể lại cho Viết Bạch, nhiều lần đều như vậy. Ta bèn sắp xếp lại lời ấy, viết thành tiểu truyện. Cao Tiểu Hòe chỉ là một người Lý chính mà thôi, nhưng làm điều lành nên vẫn chết được yên lành, tái sinh nổi tiếng, huống là người khác sao? Ngày cuối tháng 5 năm Khang Hy thứ 7 (1668), Vân Gian Dã Sử Lục Minh Kha soạn.
* Ta: tức Lục Thứ Sơn tự xưng.
353. Ông Thiệu ở Lâm Tri (Thiệu Lâm Tri)
Con gái ông Mỗ ở huyện Lâm Tri (tỉnh Sơn Đông) là vợ Thái học Lý sinh. Lúc chưa lấy chồng, có người thuật sĩ xem số, nói chắc chắn phải gặp chuyện hình ngục. Ông Mỗ nổi giận, kế lại cười nói "Nói bậy tới như thế là cùng, đừng nói con gái nhà thế gia ắt không bao giờ phải tới công đình, chẳng lẽ nó chẳng lấy được một anh Giám sinh à?". Đến khi lấy chồng rồi, chị ta rất hung dữ, xỉa xói chửi bới chồng là chuyện thường. Lý chịu không nổi, uất ức kêu lên quan. Tri huyện là ông Thiệu theo lời xin, phát lệnh sai bắt chị ta. Ông Mỗ nghe chuyện cả sợ, dắt con em tới huyện đường năn nỉ xin bỏ qua nhưng không được. Lý cũng hối, xin thôi không kêu ca gì nữa. Ông Thiệu giận nói "Chỗ công đường này đâu phải là nhà của ngươi mà muốn sao thì muốn?", rồi lập tức sai bắt vợ Lý lên, hỏi qua một hai câu rồi nói "Đúng là đàn bà dữ dằn, phạt đánh ba mươi trượng", dập nát cả mông.
Dị Sử thị nói: Ông Thiệu có thương xót đàn bà yếu ớt không? Sao mà giận dữ tới như thế? Nhưng huyện có quan hiền thì làng không có đàn bà dữ, nên ghi lại chuyện này để bổ khuyết vào những chuyện quan lại còn chưa làm được.
354. Quan Huyện Không Con (Đơn Phụ Tễ)
Người dân ở huyện Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông) là Mỗ, hơn năm mươi tuổi lại lấy người thiếp còn trẻ. Hai đứa con trai sợ ông ta lại sinh con, bèn nhân lúc cha say rượu, ngầm thiến đi rồi băng bó lại. Ông ta biết, thác bệnh không nói gì, lâu sau vết thương đã gần lành. Chợt một hôm gần vợ, vết dao cũ toác ra, máu chảy không cầm được, kế chết. Người thiếp biết, kiện lên quan. Quan bắt hai người con, quả nhiên đều nhận tội. Quan hoảng sợ nói "Nay ta lại làm quan huyện không con* rồi!". Bèn đem giết hai người.
*Quan huyện không con: nguyên văn là "Đơn phụ tễ" (Quan huyện là người cha cô đơn). Ngày xưa quan lại thường được gọi là "dân chi phụ mẫu" (cha mẹ của dân), quan huyện này gặp phải việc hai người con thiến cha nên nói như vậy. Chữ Đơn (Đan) còn có một âm là Thiện, "Thiện Phụ", lại là một huyện cũng trong tỉnh Sơn Đông, nên ba chữ trên còn có nghĩa là "Quan huyện Thiện Phụ", ở đây có chỗ chơi chữ không dịch được.
Huyện ta có Vương sinh, cưới vợ được hơn tháng thì bỏ vợ, người cha vợ kiện lên quan. Lúc ấy ông Tân làm Tri huyện huyện Truy, hỏi Vương vì sao bỏ vợ, Vương đáp là không thể nói được. Hỏi mãi mới đáp rằng "Cô ta không thể sinh nở". Ông Tân nói "Nói bậy! Mới cưới hơn một tháng, làm sao đã biết là không thể sinh nở". Vương ngượng nghịu hồi lâu mới đáp "Vì chỗ kín của cô ta méo". Ông Tân phì cười nói "Té ra là vì méo mó nên trong gia đình không êm thắm"*. Đây cũng là một chuyện nên chép lại cùng chuyện Quan huyện không con để cười vậy?
* Té ra... êm thắm: nguyên văn là "Thị tắc thiên chi vi hại, nhi gia chi sở dĩ bất tề dã". Tề gia (sắp xếp việc nhà cho êm đẹp) là một trong những nhiệm vụ của người quân tử theo quan niệm Nho giáo, đây quan huyện chơi chữ, đem chữ tề đối với chữ thiên.
355. Diêm Vương Chết (Diêm La Hoăng)
Cha Tuần phủ Mỗ trước là Tổng đốc một tỉnh phía nam, đã chết từ lâu. Một đêm ông nằm mơ thấy cha về, vẻ mặt buồn bã nói "Ta lúc còn sống không làm nhiều tội nghiệt, chỉ có một lần cầm quân ở trấn, không nên điều động mà lại điều động, trên đường đi gặp phải cướp biển, toàn quân chết sạch. Nay họ kiện ta tới Diêm Vương, hình phạt tàn nhẫn rất là đáng sợ. Diêm Vương không phải ai khác, ngày mai có viên Kinh lịch họ Ngụy áp tải lương tới, chính là y đấy. Con nên kêu xin cho ta, nhớ đừng có quên?". Ông tỉnh dậy lấy làm lạ, cũng không tin lắm. Nằm ngủ lại lại mơ thấy cha trách "Cha đã gặp nạn mà con chưa chịu ghi nhớ lời dặn, lại còn cho là mộng mị hão huyền à?". Ông càng lấy làm lạ. Hôm sau ghi nhớ ra xem văn án, quả có viên Kinh lịch họ Ngụy vừa áp tải lương tới, lập tức cho gọi vào, sai hai người giữ cho ngồi yên rồi bước ra quỳ lạy như triều kiến thiên tử. Lạy xong quỳ khóc, kể lại mọi việc.
Ngụy lúc đầu không chịu nhận, ông cứ quỳ mãi không chịu đứng lên, Ngụy mới nói "Đúng là có chuyện ấy, nhưng âm ty có phép tắc, không phải lôi thôi như ở trần gian, cho dù có thể nương tay, sợ cũng không làm được". Ông càng tha thiết năn nỉ, Ngụy bất đắc dĩ phải nhận lời. Ông lại xin Ngụy xử đoán mau cho, Ngụy ngẫm nghĩ rồi ngại là không có chỗ yên tĩnh, ông xin quét dọn khách sảnh, Ngụy bèn ưng thuận. Ông mới đứng dậy, lại xin cho theo nghe trộm, Ngụy nói là không được, ông năn nỉ mãi, Ngụy mới dặn "Tới đó thì phải im lặng không được lên tiếng, vả lại hình phạt ở âm ty tuy thảm khốc không giống như ở trần gian song chỉ là tạm thời bị giết chứ không phải chết thật, nếu thấy điều gì cũng đừng run sợ".
Đến đêm, ông ngầm vào núp bên hành lang khách sảnh, thấy dưới thềm la liệt tù nhân, kẻ đứt đầu người cụt tay đông đặc nhốn nháo. Dưới thềm đặt bếp lửa vạc dầu, có mấy người đang cho củi nhen lửa. Chợt thấy Ngụy đội mão thắt đai ra bước lên ngồi, khí tượng uy nghiêm dữ tợn, khác hẳn lúc ban ngày. Đám quỷ cùng nhất tề lạy rạp xuống, đều kêu khóc là oan khổ. Ngụy nói "Các ngươi bị giặc giết, oan có đầu nợ có chủ, sao lại quy tội cho quan trưởng". Bọn quỷ ồn ào nói "Lẽ ra không đáng điều động, lại bị công văn không hợp lệ gởi tới nên chúng tôi mới gặp nạn, vậy ai đền nỗi oan khổ này". Ngụy lại giải thích quanh co, đám quỷ gào khóc, ồn ào náo động. Ngụy bèn sai quỷ tốt đem bỏ cha viên quan Mỗ vào vạc dầu luộc qua một lượt, xét về lý thì đúng, nhưng xem ý tứ thì chỉ làm thế để đám quỷ hả dạ mà thôi. Lệnh vừa ban ra, lập tức có bọn quỷ đầu trâu giải cha ông tới rồi lấy đinh ba xóc lên bỏ vào vạc dầu. Ông nhìn thấy trong lòng đau đớn, không kìm được bất giác kêu lên một tiếng thất thanh, thì trong sảnh chợt vắng ngắt không còn gì nữa. Ông than khóc quay về, đến sáng tới tìm Ngụy, thì Ngụy đã chết trong phòng. Chuyện này là Trương Võ Định ở huyện Tùng Giang (tỉnh Giang Tô) kể lại, vì không phải là chuyện hay nên không nói rõ tên người.
356. Đạo Sĩ Điên (Điên Đạo Nhân)
Có đạo sĩ điên không rõ tên họ ngụ trong chùa trên núi, lúc ca lúc khóc bất thường, người ta không hiểu được, có người thấy đạo sĩ nấu đá làm cơm ăn. Gặp tiết Trùng dương có người hào quý trong huyện mang rượu lên núi chơi, ngồi kiệu che lọng rần rộ kéo đi, yến ẩm xong về ngang chùa. Vừa tới cổng thì thấy đạo sĩ đi chân không mặc áo rách, tự cầm lọng vàng, miệng kêu beng beng làm như tiếng thanh la dẹp đường từ trong đi ra, như có ý nhạo báng. Người hào quý vừa thẹn vừa giận, sai đầy tớ đuổi theo chửi mắng, đạo sĩ cười bỏ chạy. Bọn kia đuổi gấp, đạo sĩ vứt bỏ cái lọng, lại xé tan vải lọng ra, từng mảnh từng mảnh biến thành chim ưng chim cắt bay tứ tán, mọi người mới bắt đầu run sợ. Cái cán lọng biến thành con mãng xà lớn, vẩy đỏ mắt sáng, bọn kia kêu la định bỏ chạy. Có người khách cùng đi ngăn lại nói "Đó chẳng qua chỉ là ảo thuật mà mắt thôi, làm sao nuốt được người?". Bèn rút đao xông lên, con mãng xà tức giận lướt tới há miệng táp người ấy nuốt chửng. Bọn kia càng hoảng sợ, đỡ người hào quý chạy mau, được ba dặm mới dừng, sai mấy người trở lại dò xét. Vào tới chùa thì chẳng thấy người khách và con mãng xà đâu, đang định về báo thì nghe trong cây hòe lớn có tiếng thở phì phò như con lừa. Họ sợ hãi, lúc đầu không dám bước tới, dần dần mới rón rén tới gần xem, thấy trong gốc cây có cái hốc bằng cái mâm, trèo lên nhìn vào thì người đánh nhau với con mãng xà bị nhét chúc đầu xuống bên trong, nhưng cái lỗ chỉ đủ thò hai bàn tay vào, không có cách nào ra được. Họ vội lấy đao phá gốc cây, cái hốc vỡ ra thì người đã ngất đi. Hồi lâu tỉnh lại, họ bèn vực về, còn đạo sĩ không biết đã đi đâu.
Dị Sử thị nói: Giương lọng đi chơi núi, thật là hợm hĩnh đáng ghét, người tiên đem phép thuật đùa cợt, nghĩ cũng buồn cười. Ân sinh Văn Bình người làng ta là em rể quan Tư nông họ Tất, tính hay nhạo báng không khiêm cung. Huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đông) có Chu sinh, vốn nhà nghèo hèn mới phất lên, cứ ra khỏi nhà là đi kiệu, cũng là họ hàng với quan Tư nông. Gặp ngày mừng thọ Thái phu nhân mẹ Tư nông, Ân đoán là Chu sẽ tới bèn mang giày da lợn, mặc áo nhà quan, cầm danh thiếp ra đón trên đường. Chờ kiệu Chu tới, khom lưng bên đường nói lớn "Chư sinh huyện Truy Xuyên đón Chư sinh huyện Chương Khâu". Chu thẹn bước xuống kiệu, nói vài câu rồi từ biệt. Lúc sau cùng họp mặt ở nhà quan Tư nông, áo mão đầy tiệc, nhìn thấy lối ăn mặc của Ân, ai cũng cười thầm. Ân ngạo nghễ chẳng buồn để ý, tiệc xong ra cổng, mọi người đều gọi xe gọi kiệu, Ân cũng lớn tiếng gọi "Xe độc long của Ân lão gia đâu?". Có hai tên đầy tớ vác một cái gậy bước tới, Ân nhảy lên ngồi, cất tiếng chào lớn, rồi hai tên đầy tớ khiêng Ân chạy mau. Ân sinh cũng là bậc sau người tiên vậy.
357. Tửu Lệnh Của Ma (Quỷ Lệnh)
Giáo thụ Triển tiên sinh tiêu sái phóng khoáng có phong độ danh sĩ, nhưng uống rượu say là bất chấp lễ nghi. Cứ mỗi lần uống rượu về lại phi ngựa vào sân miếu thờ Khổng Tử. Trong sân có nhiều cây bách cổ, một hôm Triển phi ngựa húc vào cây vỡ đầu tự nói "Tử Lộ* giận ta vô lễ, đánh vỡ đầu ta rồi", nửa đêm thì chết. Trong huyện có Mỗ Ất buôn bán ở làng ấy, đêm ngủ ở một ngôi chùa cổ, đêm vắng không người, chợt thấy bốn năm người mang rượu vào uống, Triển cũng có trong số đó. Rượu được vài tuần, có người lấy chữ làm tửu lệnh, đọc:
*Tử Lộ: tên Trọng Do, học trò giỏi của Khổng tử, tính cương trực quả cảm, được Nho gia thờ chung trong Văn miếu với Khổng tử.
Chữ Điền không đủ cùng
Chữ Thập ở bên trong
Chữ Thập đưa lên ngọn
Chữ Cổ được đầy chung
Một người đọc:
Chữ Hồi không đủ cùng
Chữ Khẩu ở bên trong
Chữ Khẩu đưa lên ngọn
Chữ Lữ được đầy chung
Một người đọc:
Chữ Linh không đủ cùng
Chữ Lệnh ở bên trong
Chữ Lệnh đưa lên ngọn
Chữ Hàm được đầy chung
Lại một người đọc:
Chữ Khốn không đủ cùng
Chữ Mộc ở bên trong
Chữ Mộc đưa lên ngọn
Chữ Hạnh được đầy chung
Sau cùng tới Triển, Triển nghĩ không ra, mọi người cười nói "Không đọc được thì phải chịu phạt, uống một chén lớn đi".
Triển nói "Ta nghĩ được rồi", rồi đọc:
Chữ Viết không đủ cùng
Chữ Nhất ở bên trong
Mọi người cười hỏi "Suy ra là chữ gì?", Triển uống cạn chén rồi đọc tiếp:
Chữ Nhất đưa lên ngọn
Một hớp đầy một chung*
*Tất cả các bài thơ trước đều dùng một lối chiết tự như nhau, như chữ điền gồm chữ khẩu ở ngoài và chữ thập ở trong, đưa chữ thập lên trên chữ khẩu thành chữ cổ. Riêng bài của nhân vật họ Triển thì chiết tự chữ viết lại không ra chữ gì mà lại thành hai chữ nhất khẩu (một hớp).
Mọi người cười ran, không bao lâu thì ra về. Ất không biết là Triển chết, nghĩ thầm rằng chắc bị bãi chức về. Đến khi về tới làng hỏi thăm, thì Triển chết đã lâu, mới biết rằng mình đã gặp ma.
358. Diêm Vương Đãi Tiệc (Diêm La Yến)
Thiệu sinh ở huyện Tĩnh Hải (tỉnh Hà Bắc) nhà nghèo, gặp ngày sinh nhật của mẹ, sắm sửa rượu thịt ra cúng ở sân. Lạy xong đứng dậy thì thức ăn bày trên bàn đã hết sạch. Vô cùng hoảng sợ, đem chuyện kể với mẹ, mẹ ngờ vì túng thiếu không thể làm lễ chúc thọ nên bịa đặt ra như vậy, Thiệu im lặng không biết làm sao phân trần. Không bao lâu sau, quan Học sứ đích thân đi khảo thí học trò các phủ huyện, Thiệu khổ sở không có tiền ăn đường nhưng chạy mượn được món tiền nhỏ ra đi. Trên đường gặp một người chờ bên vệ đường mời mọc rất ân cần. Thiệu đi theo, thấy điện gác lâu đài xếp lớp trên đường. Vào tới nơi, thấy một bậc vương giả ngồi trên điện, Thiệu lạy phục xuống. Vương hòa nhã bảo ngồi, rồi mời ăn tiệc, nhân nói "Lần trước đi ngang quý thự, vì bọn người hầu đi đường đói khát quá nên có ăn vụng bàn tiệc của ông". Thiệu ngạc nhiên không hiểu, Vương nói "Ta là Diêm Vương đây, ông không nhớ hôm mừng thọ lệnh đường à?". Ăn tiệc xong, đưa cho Thiệu một đồng tiền, nói "Có chút ít, gọi là cám ơn lần trước". Thiệu nhận lấy trở ra, thì cung điện nhân vật trong phút chốc biến mất cả, chỉ có vài cây đại thụ sừng sững bên đường. Nhìn lại đồng tiền thì là vàng ròng, đem cân được năm lượng. Khảo thí xong, Thiệu chỉ tiêu hết có một nửa, còn bao nhiêu đem về nuôi mẹ.
359. Ngựa Trong Tranh (Họa Mã)
Thôi sinh ở huyện Lâm Thanh (tỉnh Sơn Đông) nhà rất nghèo, tường quanh sân sụp lở không sửa được. Cứ sáng dậy lại thấy một con ngựa vào nằm trên bãi cỏ đẫm sương, lông đen vằn trắng, chỉ có lông đuôi không đều, như là bị lửa cháy sém vậy. Đuổi đi thì đêm lại vào nằm, không biết từ đâu tới. Thôi có người bạn thân làm quan ở đất Tấn (vùng Sơn Tây), vẫn thường muốn tới thăm nhưng không đi bộ nổi. Bèn bắt con ngựa thắng yên cương cưỡi đi, dặn người nhà rằng "Nếu có ai tìm ngựa, thì nói là ta mượn qua đất Tấn". Ra tới đường, con ngựa phóng như bay, trong chớp mắt đã được trăm dặm. Đêm vào nhà trọ, nó không chịu ăn rơm cỏ, Thôi cho là bị bệnh. Hôm sau buộc lại không cưỡi, nhưng con ngựa giẫm chân phì bọt mép, dáng mạnh mẽ hung hăng như hôm qua, Thôi lại cưỡi lên, trưa đã tới đất Tấn. Lúc ấy Thôi đi trên đường phố, ai nhìn thấy cũng khen ngợi con ngựa. Tấn vương nghe đồn, hỏi mua với giá cao, Thôi sợ người mất ngựa tìm tới nên lấy cớ từ chối. Được nửa năm chẳng thấy ở nhà nhắn gì, Thôi bèn bán con ngựa cho Tấn vương được tám trăm đồng vàng, rồi mua một con ngựa khỏe cưỡi về.
Về sau Tấn vương có chuyện gấp sai viên Hiệu úy cưỡi con ngựa tới Lâm Thanh, con ngựa giật dây chạy, viên Hiệu úy đuổi vào tới nhà láng giềng của Thôi thì không thấy đâu nữa. Hỏi chủ nhà họ Tăng, thì ông ta không thấy. Đến lúc vào trong phòng, thấy trên vách treo một bức tranh vẽ ngựa của Tử Ngang* chỉ có một con, màu lông giống hệt, chỗ đuôi bị khói hương cháy sém, mới chợt hiểu ra rằng con ngựa là yêu quái trong bức tranh. Viên Hiệu úy không biết làm sao về phục mệnh với Tấn vương, bèn kiện Tăng. Lúc bấy giờ Thôi được số tiền bán ngựa đem về làm ăn đã trở nên giàu có, bèn tình nguyện bỏ tiền ra đền thay Tăng cho viên Hiệu úy trở về. Tăng vô cùng biết ơn, nhưng không biết Thôi là người bán con ngựa cho Tấn vương năm trước.
* Tử Ngang: tức Trần Tử Ngang, nhà thơ và họa sĩ nổi tiếng thời Đường.
360. Thả Bướm (Phóng Điệp)
Tiến sĩ Vương Đẩu Sinh người huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông) làm Tri huyện, cứ xử kiện thì định tội nặng nhẹ theo pháp luật rồi bắt nộp bướm để chuộc tội. Hàng vạn con bướm đem tới sân công đường thả ra cùng lúc, như gấm vụn bị gió cuốn bay đầy trời, Vương thì vỗ bàn cười lớn. Một đêm mơ thấy một cô gái xiêm y lộng lẫy thong thả bước vào nói "Gặp phải chính sự bạo ngược của ông nên chị em ta đã chịu khổ nhiều, cũng phải cho ông nếm mùi trừng phạt nhẹ trước về cái tội phong lưu!". Nói xong biến thành con bướm chập chờn bay đi. Hôm sau Vương đang uống rượu một mình trong công thự, chợt nghe báo có quan Trực chỉ sứ tới, vội vã ra đón. Trước đó thê thiếp đùa lấy hoa giắt lên mão, Vương vội vàng nên quên bỏ ra. Trực chỉ sứ thấy thế, cho là khinh nhờn, chữi mắng một trận mới cho về. Từ đó Vương bỏ luôn lệ chuộc tội bằng bướm.
Vu Trọng Dần ở Thanh Thành, tính phóng túng ngông cuồng. Lúc làm Tư lý, ngày tết Nguyên đán lấy pháo tre buộc khắp từ đầu tới đuôi con lừa rồi dắt tới dinh quan Thái thú, gõ cổng xin vào gặp, nói "Xin dâng con lừa pháo, mời quan ra xem một lúc". Lúc ấy Thái thú có đứa con trai cưng đang bị lên đậu, thấy khó chịu nên từ chối. Vu cứ nằng nặc xin gặp, Thái thú bất đắc dĩ sai mở cổng. Cánh cổng vừa mở, Vu châm ngòi pháo rồi đẩy con lừa vào. Pháo nổ, con lừa phát hoảng lồng lên phóng bừa, lại thêm lửa bắn tứ tung, không ai dám tới gần bắt lại. Con lừa băng qua phòng khách chạy tuông vào phòng ngủ, đạp vỡ hết lọ hoa bình trà, lửa bén vào cửa sổ, người nhà hoảng sợ la thét, đứa nhỏ bị đậu thất kinh, qua đêm thì chết. Thái thú đau xót căm hờn, toan hặc tội cách chức. Vu nhờ các ty đạo cùng đi năn nỉ giùm, tới công đường xin chịu tội mới được tha.
361. Người Vợ Ma (Quỷ Thê)
Nhiếp Bằng Vân ở huyện Thái An (tỉnh Sơn Đông) có vợ là Mỗ, vợ chồng rất đầm ấm. Người vợ bị dịch chết, Nhiếp bỏ ăn bỏ ngủ, ngơ ngẩn như mất hồn. Một đêm đang ngồi một mình, chợt người vợ đẩy cửa bước vào, Nhiếp sợ hãi hỏi sao lại tới đây? Vợ đáp "Thiếp là ma rồi, cảm vì lòng chàng nhớ thương nên năn nỉ xin Diêm Vương cho về gặp gỡ". Nhiếp mừng rỡ đỡ lên giường, nhất thiết đều như lúc trước không có chi khác. Từ đó khi đi khi tới hơn một năm Nhiếp cũng chẳng nói gì tới chuyện lấy vợ. Chú bác anh em sợ không có người nối dõi, đều ngầm khuyên Nhiếp nên tục huyền. Nhiếp nghe theo, đưa sính lễ tới hỏi con gái một nhà lương thiện, nhưng sợ vợ không vui nên giấu. Không bao lâu sắp đến ngày cưới, ma biết chuyện trách "Ta vì tình chàng mà cam chịu tội chốn u minh, nay chàng lại nuốt lời thề ước, người trong nòi tình lại như thế à?". Nhiếp nói rõ ý tứ của họ hàng, ma vẫn không vui, cương quyết vĩnh biệt.
Nhiếp tuy thương xót nhưng nghĩ lại thấy thế vẫn hơn. Đêm cưới, vợ chồng đang nằm với nhau, ma chợt tới, leo lên giường đánh người vợ mới, chữi "Sao dám nằm vào giường của ta". Người vợ mới cũng vùng dậy níu kéo cấu xé nhau, Nhiếp không dám bênh vực bên nào. Không bao lâu gà gáy, ma mới đi. Người vợ mới ngờ là vợ Nhiếp vốn chưa chết, cho rằng mình bị lừa, định treo cổ tự tử, Nhiếp kể lại mọi chuyện, người vợ mới mới biết đó là ma. Trời tối ma lại tới, người vợ mới sợ hãi tránh mặt. Ma cũng không ngủ chung với Nhiếp, chỉ lấy tay cào cấu, chán rồi thì ngồi bên đèn nhìn Nhiếp trừng trừng, im lặng không nói một tiếng. Cứ thế mấy đêm liền, Nhiếp sợ quá, nhờ người thầy pháp giỏi ở thôn bên cạnh lấy gỗ đào vẽ bùa làm hàng rào đóng chặt xuống bốn góc ngôi mộ người vợ trước, từ đó ma mới không tới nữa.
362. Nghề Y (Y Thuật)
Họ Trương là dân nghèo ở huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông), đi đường gặp một đạo sĩ giỏi thuật xem tướng xem cho, nói "Ông có thể nhờ nghề nghiệp mà làm giàu. Trương hỏi "Nên làm nghề gì?", đạo sĩ xem kỹ rồi đáp "Nghề thuốc thì được". Trương nói "Ta không biết chữ, làm sao làm nổi?", đạo sĩ cười nói "Ông ngây thơ quá, các bậc danh y nào phải có nhiều kẻ nhờ biết chữ đâu? Chỉ cần làm thôi!". Trương về nhà, nghèo quá không có nghề nghiệp gì để sống, bèn hái các bài thuốc lá linh tinh đem ra chợ bày bán, làm một quầy thuốc nhỏ kiếm sống lần hồi, người ta cũng chưa thấy có gì hay. Gặp lúc Thái thú phủ Thanh Châu mắc bệnh ho, gởi công văn sai tìm thầy thuốc. Huyện Nghi Thủy vốn quê mùa nhỏ hẹp, ít có thầy thuốc, nhưng quan huyện không dám tắc trách, sai các làng tìm thầy thuốc, người ta đều đề cử Trương, quan huyện lập tức gọi tới. Trương vừa bị bệnh ho có đờm không tự chữa được, nghe lệnh sợ quá từ chối, quan huyện không nghe, sai đem ngựa trạm đưa lên phủ.
Đường đi ngang qua núi sâu, Trương khát nước ho càng dữ, bèn vào thôn xin nước uống. Nhưng thôn trong núi nước quý như vàng, xin khắp vẫn không ai cho. Chợt thấy một người đàn bà rửa rau, rau nhiều nước ít, nước trong chậu đục như bùn. Trương khát quá chịu không nổi, xin nước ấy uống bừa. Trong khoảnh khắc thấy hết khát, cũng hết cả ho, thầm nghĩ đây là phương thuốc hay. Tới phủ thì thầy thuốc các huyện đã xúm vào chữa nhưng Thái thú vẫn không đỡ. Trương vào, xin ở chỗ kín đáo rồi ra đơn thuốc, xin truyền thị khắp trong ngoài, sai người vào dân tìm đủ thứ rau cỏ, đem rửa rồi lấy nước bùn đất dâng lên, Thái thú chỉ uống một lần là hết bệnh. Thái thú mừng rỡ, thưởng cho rất hậu, ban cho biển ngạch chữ vàng để biểu dương. Từ đó Trương rất nổi tiếng, người tới chữa bệnh đông như họp chợ trước cửa, mà cứ theo tay bốc thuốc là khỏi. Có người bị thương hàn kể bệnh xin thuốc, gặp lúc Trương đang say đưa lầm cho thuốc sốt rét, tỉnh rượu mới nhớ ra nhưng không dám nói cho ai biết. Ba ngày sau lại có người đem lễ rất hậu tới cảm tạ, hỏi ra thì người bị thương hàn uống thuốc sốt rét nôn mửa một trận rồi hết bệnh, những chuyện như thế rất nhiều: Trương vì vậy cũng sợ nên chữa bệnh ít đi, lại càng có tiếng là tự trọng, nếu người ta không đem vàng ròng kiệu lớn tới mời thì không đi thăm bệnh.
Họ Hàn ở huyện Ích Đô (tỉnh Sơn Đông) là bậc danh y. Lúc chưa nổi tiếng, bán lá thuốc dạo khắp nơi, gặp hôm trời tối không có nơi trọ, xin vào ngủ nhờ nhà nọ. Con trai nhà ấy bị thương hàn gần chết, chủ nhà xin Hàn chữa cho. Hàn nghĩ nếu không chữa thì khó mà ngủ nhờ, nhưng chữa thì không biết cho thuốc thế nào. Đi tới đi lui nghĩ ngợi, lấy tay gãi lưng, cáu ghét và mồ hôi kết thành một mảng bèn vo viên lại, nghĩ rằng cho người bệnh uống cũng vô hại, sáng ra mà không bớt thì đêm nay mình cũng được ăn no ngủ yên rồi, bèn đưa ra. Nửa đêm, chủ nhà đập cửa phòng rất gấp, Hàn nghĩ người bệnh đã chết, cho là sẽ bị đánh đập chửi mắng, hoảng sợ vùng dậy leo qua tường chạy. Chủ nhà đuổi theo mấy dặm, Hàn không sao chạy thoát bèn dừng lại, mới được biết rằng người bệnh đã ra mồ hôi khỏi hẳn rồi. Chủ nhà kéo Hàn về, mời tiệc rất long trọng, lúc Hàn đi lại tặng cho rất hậu.
363. Hai Chuyện Tuyết Mùa Hè (Hạ Tuyết Nhị Tắc)
I.
Ngày sáu tháng bảy năm Đinh hợi, ở Tô Châu có tuyết lớn, trăm họ hoảng sợ cùng tới cầu đảo ở miếu thờ thần. Thần chợt mượn lời người nói "Những kẻ xưng là Lão gia hiện nay đều thêm một chữ Đại ở trước, hạng thần nhỏ nhoi như ta không đáng được chữ Đại ấy". Mọi người run sợ, cùng gọi thần là Đại Lão gia, tuyết lập tức ngừng rơi. Từ đó mà xem thì thần cũng thích nịnh, huống gì kẻ sang cả ăn trên ngồi trốc.
Dị Sử thị nói: Phong tục đổi thay, người dưới thì nịnh mà người trên thì kiêu, như trong khoảng bốn mươi mấy năm đầu niên hiệu Khang Hy (1662-1722) gọi là xưng hô không nệ cổ, rất đáng buồn cười. Cử nhân xưng là Gia, thì bắt đầu từ năm thứ 20 (1681), Tiến sĩ xưng là Lão gia, thì bắt đầu từ năm thứ 30 (1691), các quan ở Ty Viện xưng là Đại Lão gia, thì bắt đầu từ năm thứ 25 (1686). Trước đây quan tỉnh ra mắt đại thần, bất quá cũng chỉ xưng là Lão đại nhân mà thôi, nay thì cách xưng hô ấy đã bỏ lâu rồi. Cho dù là người quân tử thì gặp cảnh ngộ nịnh hót cũng phải làm theo lối nịnh hót, đâu dám xưng hô khác đi. Như vợ những người làm quan được gọi là Thái thái thì cũng chỉ mới vài năm nay thôi, chứ trước kia chỉ có mẹ của các quan mới được. Bắt đầu có lối xưng hô này, cứ vợ là được gọi như thế, chỉ có trong bọn lại rông càn là gọi bừa thôi, chứ ngoài ra chưa thấy. Thời Đường vua muốn gia phong cho Trương Duyệt làm Đại Học sĩ, Duyệt từ chối tâu rằng "Xưa nay chức Học sĩ không có chữ Đại, thần không dám nhận", chữ Đại ngày nay ai cho là lớn? Buổi đầu là do bọn tiểu nhân nịnh hót, rồi vì kẻ sang cả vui thích cứ nghiễm nhiên nhận lấy, nên thiên hạ cứ đua nhau mà gọi thôi. Trộm nghĩ vài năm nữa, kẻ xưng Gia sẽ trở thành Lão gia, kẻ xưng Lão gia sẽ trở thành Đại Lão gia, thì không biết bậc Đại Lão gia sẽ được tôn xưng thế nào cho cao hơn, thật là không biết ra sao nữa!
II.
Ngày ba tháng sáu năm Đinh hợi, ở phủ Quy Đức tỉnh Hà Nam có tuyết lớn ngập hơn một thước, lúa má chết sạch. Tiếc cho dân ở đó còn chưa biết cách nịnh hót thần, xót xa thay!
364. Hà Tiên (Hà Tiên)
Công tử Vương Thụy Đình ở huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông) biết cầu tiên, thường được một vị tự xưng là Hà tiên, đệ tử của tiên ông Lữ Động Tân, có người nói là con hạc của Lữ tổ cưỡi. Mỗi lần giáng lâm, đều cùng mọi người luận văn làm thơ. Thái sử Lý Chất Quân thờ làm thầy, được chỉ vẽ cho về văn bài rõ ràng cặn kẽ. Thái sử cầu khẩn được Hà tiên nhiều khi tới ở cùng, nên văn sĩ nhiều người tới nương dựa. Nhưng tiên đoán việc cho người phần nhiều đều bàn lý lẽ chứ ít khi nói rủi may. Năm Tân mùi, Chu Văn Tông ra khảo thí ở Tế Nam, thi xong mọi người tới xin đoán về chuyện đỗ hay trượt, cao hay thấp. Hà tiên đòi xem bài làm của từng người, phẩm bình cả tháng. Trong bọn có người chơi thân với Lý Biện ở huyện Lan Lăng (tỉnh Sơn Đông), Lý vốn là kẻ sĩ ham học nghĩ xa, mọi người đều mong mỏi nên đưa văn bài của Lý ra nhờ tiên xem giúp.
Tiên chú rằng "Hạng nhất", lát sau lại viết "Mới rồi là bình văn của Lý, song cứ theo văn chương thì thấy vận số rất xấu, phải bị roi vọt. Lạ thật, văn chương với số mệnh lại không phù hợp, chẳng lẽ Văn Tông không bàn văn chương à? Các ông chờ ở đây để ta đi xem thử một lúc". Giây lát lại viết "Ta vừa tới dinh quan Đốc học, thấy Văn Tông công việc bề bộn, đang lo nghĩ chuyện khác chứ không phải về văn chương, mọi việc đều giao phó cho đám mạc khách. Khách có sáu bảy người, toàn là hạng bỏ tiền gạo ra mua chức Giám sinh, kiếp trước đều không có khí cốt, quá nửa là kẻ chết đói giữa đường, hồn ma vất vưởng xin ăn khắp nơi thôi. Ở trong ngục tối tám trăm năm thì sức mắt suy giảm, cũng như người ở lâu trong hang chợt bước ra ngoài thì trời đất đều như đổi màu, không thấy rõ gì cả. Trong bọn có một hai người như thế đấy, duyệt quyển chấm văn e không hiểu đúng được đâu". Mọi người hỏi cách cứu vãn, tiên viết "Cách ấy rất rõ, ai cũng hiểu rồi còn hỏi làm gì?".
Mọi người hiểu ý đem chuyện kể cho Lý. Lý sợ đem văn bài tới dâng Thái sử Tôn Tử Vị, lại nói lời tiên. Thái sử khen văn, lại khuyên đừng tin nhảm. Lý thấy Thái sử là người chủ trì văn giáo trong nước, lấy làm phấn chấn không nghĩ tới lời tiên đoán nữa. Đến ngày ra bảng, Lý được xếp hạng tư. Thái sử hoảng sợ, đòi văn bài của Lý xem lại, cũng không hề phạm quy, bèn nói "Đốc học là quan tỉnh, vốn có văn danh, chắc không tới nỗi mù mờ như thế, đây chắc là do bọn mạc khách mê muội không biết chữ nghĩa mà thôi". Lúc ấy mọi người càng phục Hà tiên, cùng thắp hương vái tạ. Tiên giáng viết rằng "Lý sinh đừng chịu khuất phục một lúc để chịu xấu hổ, cứ chép quyển thi truyền rộng ra, sang năm thế nào cũng đỗ cao". Lý theo lời dạy, lâu sau trong dinh Đốc học cũng biết, bèn treo bảng đặc biệt an ủi. Năm sau quả nhiên Lý đỗ đầu.
365. Quan Huyện Lộ Thành (Lộ Lệnh)
Tống Quốc Anh người huyện Đông Bình (tỉnh Sơn Đông) từ chức Giáo thụ được thăng làm Tri huyện Lộ Thành (tỉnh Sơn Tây), tham bạo bất nhân, thúc thuế càng dữ tợn. Những kẻ thiếu thuế bị đánh chết ngổn ngang dưới sân công đường. Từ Bạch Sơn ở làng ta ghé qua đó thấy tàn nhẫn quá, nói mỉa rằng "Làm cha mẹ của dân mà oai vệ tới thế kia à?". Tống nghênh ngang tỏ vẻ đắc ý đáp "Vâng ạ, không dám, quan chức tuy nhỏ, làm việc mới trăm ngày nhưng cũng đánh chết được năm mươi tám tên rồi". Nửa năm sau, vừa ngồi vào án xem việc, chợt trợn mắt đứng dậy, tay chân khua khoắng rối rít như chống cự người khác, kêu lên "Tội ta đáng chết! Tội ta đáng chết!". Mọi người đỡ vào nhà trong, được một giờ thì chết. Than ôi! May mà còn có âm ty kiêm nhiếp cả chính sự trên dương thế, thứ nếu không thì càng cướp đoạt của dân được nhiều càng nổi tiếng là làm quan mẫn cán, còn hại biết bao nhiêu nữa!
Dị Sử thị nói: Nơi ở cũ của Lộ tử* người sống cứng cỏi nên chết cũng làm quỷ hùng. Nay có một viên quan cầm triện ngồi trên ắt có một hai bọn hèn hạ dua nịnh ở dưới. Lúc quan còn thế lực thì ra sức hầu hạ, lấy đó làm tấm bình phong, lúc quan đã thất thế thì cố gắng chạy chọt, xin cho vẫn được giữ chức. Quan không kể là tham hay liêm, cứ tới nhiệm sở nào cũng gặp hai việc ấy. Kẻ cầm quyền còn oai vệ ngồi đó, người chê bai đâu lại dám không theo, cứ thế theo nhau, lâu ngày thành lệ, thật cũng đã bị quỷ thần ở Lộ Thành cười cho lâu rồi.
* Lộ tử: hậu duệ của Hoàng Đế thời cổ, được phong tước tử ở đất Lộ nên gọi là Lộ tử.
366. Mỗ Sinh ở Hà Gian (Hà Gian Sinh)
Mỗ sinh ở huyện Hà Gian (tỉnh Hà Bắc), trong ruộng chất rơm rạ thành đống như cái gò, người nhà hàng ngày rút để đun nấu, dần dần thành một cái lổ lớn. Có con hồ tới ở trong đó, thường hiện hình là một ông già tới gặp chủ nhân. Một hôm mời chủ nhân tới uống rượu, mời sinh chui vào trong đống rơm, sinh lấy làm khó khăn, mãi mới chịu chui vào. Vào trong thì thấy nhà cửa hoa lệ, vừa ngồi xuống thì trà rượu thơm ngát dâng lên, chỉ có ánh sáng mờ mờ không biết là ngày hay đêm. Uống rượu xong trở ra thì nhà cửa đều biến mất. Ông già cứ tối đi sáng về, không thể theo vết được. Sinh hỏi, ông ta đáp là bạn bè mời đi uống rượu, sinh xin theo cùng, ông ta không cho, nài nỉ mãi mới ưng thuận. Bèn nắm tay sinh kéo lướt đi như gió, khoảng nấu chín nồi cơm thì tới một nơi thành thị. Vào quán rượu thì thấy khách khứa rất đông, ăn uống cười nói ồn ào.
Ông già dắt sinh lên lầu nhìn xuống, muốn ăn uống món nào trong các bàn bên dưới cứ nói, ông già tự xuống bưng lên bày đầy trên bàn mời sinh, mà những người bên dưới không ai biết gì cả. Lát sau sinh thấy chỗ bàn của một người áo đỏ có quít vàng, bảo ông già xuống lấy, ông già nói "Đó là bậc chính nhân, ta không tới gần được". Sinh nghĩ thầm vậy mà hồ chơi với mình, ắt mình là kẻ gian tà, từ nay về sau phải thay đổi tính nết. Vừa nghĩ tới đó thì thấy không tự chủ được nữa, hoa mắt rơi xuống dưới, khách khứa bên dưới cả sợ, kêu ầm lên là yêu quái. Sinh ngẩng lên nhìn thì bên trên không phải là lầu, mà là xà nhà. Bèn kể hết sự thật, mọi người căn vặn thấy đúng, cho tiền trở về. Sinh hỏi thì ra đó là ở huyện Ngư Đài (tỉnh Sơn Đông), cách Hà Gian cả ngàn dặm.
367. Ông Họ Đỗ (Đỗ Ông)
Ông họ Đỗ người huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông), ngẫu nhiên đi chơi chợ ra, ngồi xuống dưới bức tường chờ bạn. Thấy người hơi mỏi mệt, chợt như thiu thiu ngủ, thấy một người cầm công văn bắt đi, tới một dinh thự xưa nay chưa từng biết. Có một người đội mão lóng lánh từ trong đi ra, thì là Trương Mỗ ở Thanh Châu, vốn là bạn cũ. Trương thấy Đỗ hoảng sợ nói "Sao Đỗ đại ca lại tới đây?". Đỗ đáp không biết chuyện gì mà bị bắt. Trương ngờ là lầm, trở vào tra xét, lại dặn "Ông đứng yên đây đừng đi đâu, sợ là lạc đường một phen thì khó cứu đấy". Rồi đi vào trong hồi lâu không ra, chỉ có người cầm công văn trở ra, tự nhận là bắt lầm, thả Đỗ ra bảo về. Đỗ chào đi ra, trên đường thấy có sáu bảy cô gái dung mạo xinh đẹp, thích quá bèn theo sau.
Xuống khỏi đường lớn rẽ vào hẻm nhỏ, đi được mười mấy bước thì nghe Trương gọi lớn phía sau "Đỗ đại ca, ngươi đi đâu đấy?", nhưng vẫn luyến tiếc không dừng lại. Chợt thấy các cô gái bước xuống một cái hang nhỏ, biết đây là nhà họ Vương bán rượu, bất giác thò người vào nhìn quanh, thì thấy mình đang trong chuồng, nằm cùng với một bầy heo con, chợt hiểu là mình đã biến thành heo rồi. Nhưng tai còn nghe tiếng Vương gọi, hoảng sợ, vội lấy đầu húc vào vách, nghe tiếng người nói "Con heo con này điên rồi". Quay ra thấy đã lại là người, vội chạy mau trở lại, thì Trương đang chờ trên đường, trách rằng "Đã dặn là đừng đi đâu, sao anh không nghe? Suýt nữa thì có chuyện không hay rồi?". Rồi nắm tay Đỗ dắt tới cửa chợ mới chào đi. Đỗ chợt tỉnh dậy, thấy mình vẫn còn ngồi dựa vào tường. Tới nhà họ Vương hỏi, quả có một con heo con húc đầu vào tường mà chết.
368. Lâm Thị (Lâm Thị)
Thích An Kỳ ở huyện Tế Nam (tỉnh Sơn Đông) vốn là người phóng túng dông dài, thích lui tới chơi bời ở kỹ viện, vợ năn nỉ khuyên can nhiều lần vẫn không nghe. Vợ là Lâm thị, xinh đẹp mà hiền thục, gặp lúc quân Bắc vào cướp bị bắt đi, đêm ngủ lại trên đường, tên lính muốn cưỡng hiếp, Lâm thị giả ưng thuận. Tên lính tháo đao để lên đầu giường, nàng chụp dao cắt cổ tự tử, tên lính vác xác ném ra đồng, hôm sau nhổ trại rút đi. Có người nói là Lâm thị đã chết, Thích đau xót tìm tới, thấy nàng còn khẽ thở, bèn vác về. Qua ngày sau thì cựa mình, dần dần rên rỉ. Thích đỡ lấy cổ, đút ống tre nhỏ nước cho uống, vẫn nuốt xuống được. Thích vỗ về nói "Nếu nàng sống được, ta mà phụ sẽ bị chết chém".
Nửa năm Lâm thị bình phục như cũ, nhưng đầu bị niễng vì cổ có vết sẹo. Thích vẫn không cho là xấu, yêu mến còn hơn xưa, từ đó không bao giờ chơi bời đi ngang về tắt nữa. Lâm thị tự cho là mình xấu, định mua thiếp cho chồng nhưng Thích nhất định không chịu. Được mấy năm, Lâm thị không sinh nở, lại khuyên chồng cưới thêm tỳ thiếp. Thích đáp "Đã thề không phụ nhau, chẳng lẽ quỷ thần không nghe thấy sao? Cho dù không có con nối dõi thì đó cũng là số phận của ta, còn nếu chưa tới nỗi thế, thì chẳng lẽ từ nay đến già nàng không sinh con được à?". Lâm thị bèn thác cớ có bệnh, để Thích ngủ một mình, sai tỳ nữ là Hải Đường tới ngủ dưới giường, lâu sau ngầm hỏi, ngườì tỳ nữ đáp không có chuyện gì. Lâm không tin, đến đêm bảo người tỳ nữ đừng đi, rồi tới nằm vào chỗ ấy.
Giây lát, nghe trên giường có tiếng ngáy, rón rén trở dậy, leo lên giường mò mẫm. Thích tỉnh giấc hỏi ai, Lâm thị nói khẽ "Ta là Hải Đường mà". Thích đẩy ra nói "Ta đã có lời thề rồi nên không dám thay đổi, chứ như năm trước thì cần gì cô phải tự tới đây?". Lâm thị bèn xuống giường đi ra. Thích từ đó cứ ngủ một mình, Lâm thị sai người tỳ nữ giả làm mình mò vào, Thích nghe vợ xưa nay không bao giờ tự tìm tới với chồng, ngờ vực sờ lên cổ không thấy vết sẹo, biết là người tỳ nữ, lại đuổi đi, người tỳ nữ thẹn lui ra. Đến sáng, Thích đem chuyện kể lại, bảo Lâm thị mau gả chồng cho người tỳ nữ, Lâm thị cười nói "Chàng không cần cố chấp như vậy, nếu nó lấy được một người chồng như chàng thì cũng may lắm". Thích nói "Nếu phụ lời thề thì quỷ thần phạt ngay, lại còn mong có con nối dõi được à?".
Hôm sau Lâm thị cười nói với Thích rằng "Phàm nhà nông thì có gặt được gì hay không không biết, chỉ biết là đến mùa thì phải cày cấy gieo trồng, đêm nay là tới kỳ cày cuốc rồi đấy?". Thích hiểu ý cười. Đêm tới, Lâm thị tắt đèn, bảo người tỳ nữ vào nằm ở giường mình. Thích vào còn đùa nói "Người cày tới rồi đây!". Xong rồi, người tỳ nữ giả trở dậy đi rửa ráy, để Lâm thị vào nằm. Từ đó cứ thế làm mà Thích vẫn không biết. Không bao lâu người tỳ nữ có mang, Lâm thị cứ sai nghỉ ngơi, không cho qua lại làm việc trước mặt Thích. Rồi giả hỏi rằng "Thiếp khuyên lấy tỳ thiếp, mà chàng không nghe, nếu mai đây cho giả mạo thiếp lừa chàng, đến khi có mang thì làm sao?". Thích đáp "Giữ con bán mẹ", Lâm thị im lặng.
Không bao lâu, người tỳ nữ sinh được một con trai, Lâm thị ngầm thuê vú nuôi, bế về nuôi ở nhà mẹ. Được bốn năm năm, lại sinh thêm một trai một gái. Con trai lớn tên Trường Sinh, được bảy tuổi, theo học ở nhà ông ngoại*. Lâm thị cứ nửa tháng một lần nói thác về thăm cha mẹ để chăm sóc. Người tỳ nữ càng lớn tuổi, Thích vẫn giục gả chồng đi, Lâm thị cứ ậm ừ. Người tỳ nữ hàng ngày nhớ thương con, Lâm thị theo ý, làm như gả bán, đưa về nhà mẹ, nói với Thích rằng "Chàng cứ nói thiếp không chịu gả Hải Đường, nay mẹ thiếp có con trai nuôi, nên cho cưới nó".
* ông ngoại: tức cha Lâm thị, vì ngày xưa con vợ lẽ cũng phải coi vợ lớn của cha hơn mẹ ruột.
Lại vài năm sau, con trai con gái đều lớn. Sắp tới ngày sinh nhật của Thích, Lâm thị chuẩn bị yến tiệc để mời bạn bè khách khứa, Thích than rằng "Năm tháng qua mau, chợt đã nửa đời rồi, may mà còn khỏe mạnh, trong nhà cũng không tới nỗi đói rét, chỉ thiếu một đứa con trai dưới gối mà thôi". Lâm thị nói "Chàng cứ cố chấp không nghe lời thiếp, bây giờ còn oán hờn ai? Có điều muốn có con trai thì hai đứa cũng chẳng khó, huống chi là một?". Thích cười nói "Nếu nói không khó, thì ngày mai xin mừng cho hai đứa con trai". Lâm thị nói dễ mà. Sáng dậy sớm, sai đem kiệu về nhà cha mẹ, cho các con ăn mặc chỉnh tề đưa hết cả về. Vào nhà, sai đứng xếp hàng gọi cha, cúi đầu chúc thọ, lạy xong đứng dậy, nhìn nhau cười hì hì.
Thích kinh ngạc chẳng hiểu gì, Lâm thị nói "Chàng đòi mừng hai con trai, thiếp còn thêm một con gái đấy", rồi mới kể hết đầu đuôi. Thích mừng rỡ hỏi "Sao không nói sớm?", Lâm thị đáp "Nói sớm thì sợ chàng bỏ mẹ chúng. Nay con trai đã lớn, có bỏ mẹ chúng mà được à?". Thích xúc động rơi nước mắt, bèn đón người tỳ nữ về, cùng sống với nhau đến già. Ngày xưa mà có người vợ hiền như Lâm thị, thì đã gọi là thánh rồi.
369. Chuột Lớn (Đại Thử)
Trong niên hiệu Vạn Lịch thờỉ Minh (1573-1619) trong cung có con chuột to bằng con mèo, cắn phá rất dữ. Sai tìm những mèo giỏi trong dân gian về để trị, đều bị nó ăn thịt. Gặp lúc nước ngoài tới cống con mèo sư tư, lông trắng như tuyết, bèn thả vào gian phòng có chuột, đóng cửa lại núp bên ngoài xem. Mèo ngồi hồi lâu thì chuột từ trong hang lắc lư bò ra, thấy mèo bèn giận dữ xông tới. Mèo nhảy tránh lên ghế, chuột cũng đuổi theo lên, mèo lại nhảy xuống đất, cứ như thế mãi không biết mấy trăm lần. Mọi người bên ngoài có kẻ nói mèo nhát sợ, cho rằng không sao trừ được chuột. Kế đó chuột đuổi chậm dần, phệ bụng ra thở dốc, ngồi xuống đất tạm nghỉ. Mèo lập tức phóng nhanh xuống, vả vào cổ, cắn vào đầu chuột. Vật lộn một lúc, nghe tiếng mèo vang vang, tiếng chuột khò khè, mọi người mở cửa vào xem, thì đầu chuột rách nát ra rồi. Mới biết trước đó mèo né tránh không phải là nhát sợ, mà là chờ cho chuột mệt mỏi vậy. Nó ra thì vào, nó vào thì ra, khôn ngoan như thế mà thôi. Ôi, kẻ thất phu cậy sức mạnh có khác gì con chuột kia đâu!
370. Cô Hai Hồ (Hồ Đại Cô)
Nhà Nhạc U Cửu ở huyện Ích Đô (tỉnh Tứ Xuyên) bị hồ quấy phá, quần áo vật dùng cứ bị ném qua nhà hàng xóm. Nhà có cuộn vải mịn lấy ra định may quần áo, thấy dây buộc vẫn như cũ mà mở ra thì bên ngoài còn nguyên nhưng ở trong nát bét, bị xé vụn ra từng mảnh từng mảnh, đại khái cứ phá phách như thế. Người nhà chịu không nổi chửi rủa ầm lên, Nhạc ngăn lại, nói coi chừng hồ nghe. Hồ ở trên xà nhà lên tiếng "Ta đã nghe thấy rồi", từ đó lại phá phách tệ hại hơn. Một hôm hai vợ chồng Nhạc ngủ chưa dậy, hồ vào vơ ráo cả quần áo đi. Hai người cứ trần truồng ngồi co ro trên giường nhìn lên trời khấn khứa thảm thiết. Chợt có cô gái từ cửa sổ chui vào ném trả quần áo lên giường, nhìn thấy không cao lớn lắm, mặc quần áo đỏ. Nhạc mặc xong quần áo chắp tay nói "Thượng tiên có lòng giáng lâm, xin đừng quấy phá, hãy làm con nuôi của ta được không?". Hồ đáp "Tuổi ta còn lớn hơn ngươi, sao dám láo lếu tự Tôn như vậy hả?". Nhạc lại xin làm chị em gái, hồ ưng thuận, từ đó sai gia nhân gọi là cô Hai hồ.
Lúc ấy công tử họ Trương thứ tám ở Nhan Trấn có hồ ở trên lầu, thường chuyện trò với người. Nhạc hỏi có quen biết không, hồ đáp "Đó là chị dâu của ta, sao lại không quen biết?". Nhạc nói "Chị dâu ngươi không quấy phá người, sao ngươi không học theo như thế?". Hồ không nghe, vẫn phá phách như cũ, nhưng không phá ai khác mà chỉ phá con dâu của Nhạc. Giày tất trâm vòng cứ đem vứt ra đường, tới bữa ăn thì cứ thấy trong chén có chuột hoặc cứt đái, người con dâu của Nhạc cứ ném bát chửi con đĩ hồ chứ không khấn khứa cầu xin gì cả. Nhạc khấn "Các cháu trong nhà đều gọi là cô sao ngươi lại cư xử không ra bậc Tôn trưởng như vậy?", hồ nói "Ngươi bảo con trai ngươi bỏ vợ, để ta làm dâu ngươi thì mới ở yên được". Người con dâu chửi "Con đĩ hồ không biết xấu hổ, định giành chồng của người ta à?". Lúc ấy người con dâu đang ngồi trên cái rương quần áo, chợt thấy khói dày đặc từ dưới bốc lên nóng bỏng như lửa, mở ra xem thì quần áo trong rương đều đã cháy hết, còn sót lại một hai cái đều là quần áo của mẹ chồng. Nhạc bảo con bỏ vợ, đứa con không chịu, qua mấy hôm lại thúc giục, đứa con cũng vẫn không chịu. Hồ tức giận lấy đá ném vỡ trán đứa con, máu chảy đầm đìa suýt ngất, Nhạc càng lo sợ.
Thời bấy giờ ở Tây Sơn có Lý Thành Hào giỏi bùa chú, Nhạc đem lễ vật tới mời về. Lý lấy bột vàng vẽ lên vải đỏ làm bùa, ba ngày mới xong. Lại lấy kính buộc lên đầu lá bùa, ghép cán vào đem soi khắp nhà, sai đồng nam nhìn theo, bảo thấy gì thì nói ngay. Tới một chỗ, đứa nhỏ nói trên tường như có con chó nằm, Lý chỉ tay vào chỗ ấy vẽ bùa, kế bước ra sân niệm thần chú một lúc, lập tức chó heo trong nhà kéo tới cụp tai vẫy đuôi như chờ nghe lệnh. Lý xua tay bảo đi, chúng lại nhao nhao xếp hàng trở ra. Lý lại niệm thần chú, bầy vịt lập tức kéo tới, Lý lại xua ra. Kế tới bầy gà, Lý chỉ vào một con quát lớn, cả bầy tan đi chỉ riêng con gà ấy nằm lại, xếp cánh kêu lớn "Ta không dám thế nữa!". Lý nói "Có con vật này là vì trong nhà bện hình Tử Cô* đây". Người nhà đều nói là không có làm. Lý nói "Tử Cô đang còn trong nhà mà". Mọi người cùng nhớ lại, sực nghĩ ra ba năm trước có chơi đùa bện hình Tử Cô, mọi việc quái dị bắt đầu xảy ra từ hôm ấy.
*Tử Cô: Nữ thần trong truyền thuyết nhân gian Trung Hoa, ngày xưa đêm rằm tháng giêng người ta thường chơi đùa lấy vải vụn hay rơm cỏ bện hình Tử Cô đưa lên cúng với bánh trái, trà rượu.
Tìm kiếm khắp nhà thì thấy hình nộm bằng cỏ vẫn còn trên rường. Lý đem đốt đi rồi lấy một cái vò khấn khứa ba lần, quát lớn ba tiếng, con gà đứng dậy chui vào. Mọi người nghe trong vò có tiếng nói "Họ Nhạc ác lắm, vài năm nữa sẽ gặp lại nhau". Nhạc xin đốt cái vò, Lý không cho, mang đi. Có người thấy trong nhà Lý có treo mấy mươi cái vò nút miệng trên tường, đều là nhốt hồ bên trong, nói rằng Lý cứ lần lượt thả ra cho chúng quấy phá thiên hạ rồi bắt lấy tiền, như là món hàng lạ vậy.
371. Ba Chuyện Sói (Lang Tam Tắc)
I.
Có người đồ tể bán thịt về, trời đã xế chiều, một con sói theo sát, hít hít giỏ thịt chảy cả nước dãi. Cứ từng bước từng bước lẽo đẽo theo suốt mấy dặm, y sợ rút dao ra thì nó sẽ làm dữ, nhưng đã rảo chân chạy mà nó vẫn đuổi theo. Y không biết làm sao, nhưng nghĩ thầm con sói muốn ăn thịt, chẳng bằng cứ treo giỏ thịt lên cây rồi mai ra lấy. Bèn lấy móc sắt móc giỏ thịt nhón chân máng lên cành cây. Thấy y không còn mang giỏ thịt, sói bèn dừng lại, y vội đi tắt về nhà. Sáng sớm ra lấy thịt, thấy trên cây có một vật lớn lơ lửng giống hệt người chết treo, y cả sợ rón rén tới gần nhìn thì ra là con sói đã chết. Ngẩng lên nhìn kỹ, thấy trong miệng nó còn ngậm thịt mà bị cái móc sắt móc vào hàm trên như cá mắc câu. Lúc ấy da sói đang có giá, y bán được hơn mười đồng vàng, gia cảnh trở nên dư dật. Đúng là chuyện bắt cá trên cây, câu được con sói kể cũng buồn cười.
II.
Một người đồ tể buổi chiều bán thịt về, trong giỏ không còn thịt mà chỉ có mớ xương thừa, trên đường gặp hai con sói cứ theo sát. Y sợ, ném lại một cục xương, một con dừng lại ăn còn con kia cứ bám theo. Lại ném thêm cục xương, con này dừng lại ăn thì con kia đã ăn xong, lại tới sát, cứ thế một hồi, mớ xương trong giỏ đã hết sạch mà hai con sói vẫn đuổi theo. Y sợ quá, lại lo hai con từ hai phía tấn công, thấy trên đồng có sân phơi lúa, trong sân có rơm cỏ chất thành đống, bèn chạy mau tới dựa lưng vào đó, rút dao ra, hai con sói không dám xông vào, cứ đứng gầm ghè nhìn. Giây lát một con sói bỏ đi, một con vẫn ngồi trước mặt y, hồi lâu thì nhắm mắt thiu thiu ngủ như là vô sự. Y vọt mau ra chém đầu nó, bồi thêm mấy nhát giết chết luôn. Đang định đi tiếp, vòng ra phía sau đống rơm cỏ thì con sói kia đang đào một cái hang định tấn công phía sau, đã lọt hết vào hang chỉ còn ló khúc đuôi. Y chém đứt chân nó, giết chết luôn. Lúc ấy mới hiểu rằng con sói phía trước vờ ngủ là để dụ địch, loài sói cũng giảo quyệt thật. Nhưng trong chớp mắt cả hai con đều bị giết, cầm thú gian giảo thì được bao lăm, chỉ làm trò cười mà thôi!
III.
Một người đồ tể đi đường lúc sẩm tối, bị sói đuổi, thấy bên đường có cái chòi của người cày ruộng dùng để nghỉ trưa, bèn chạy vào núp. Con sói thò chân qua vách lá quờ quờ, y vội chụp lấy giữ chặt song nhìn quanh không có vật gì để giết chết nó. Mò được con dao ngắn không đầy một tấc, bèn cắt hết lớp da dưới bàn chân con sói, rồi ra sức thổi theo như lối thổi heo quay. Lát sau thấy con sói không vùng vẫy cử động gì nữa, y mới cởi thắt lưng buộc chân nó vào vách rồi ra nhìn, thì con sói đã phình to như con bò, chân thẳng đuột ra không co lại được, miệng cứ há hốc, bèn vác nó về. Thật nếu không phải là người làm nghề đồ tể thì không sao nghĩ ra cách ấy được.
Ba chuyện trên đều là chuyện của đồ tể thì sự tàn nhẫn của kẻ đồ tể cũng đắc dụng trong việc giết sói vậy.
372. Nhà Sư Bán Thuốc (Dược Tăng)
Mỗ người huyện Tế Ninh (tỉnh Sơn Đông) ngẫu nhiên đi chơi tới một ngôi chùa ngoài đồng, gặp một nhà sư vân du đang ngồi ngoài nắng bắt rận, trên đầu thiển trượng treo cái hồ lô như người bán thuốc. Mỗ đùa hỏi "Hòa thượng có bán thuốc dùng vào việc trong phòng không?". Nhà sư đáp "Có loại thuốc làm yếu hóa mạnh, nhỏ hóa to, công hiệu lập tức khỏi chờ qua đêm". Mỗ mừng rỡ nài mua, nhà sư tháo vạt áo lấy ra một viên thuốc to bằng hạt ngô bảo nuốt. Chờ khoảng nấu sôi nồi cơm thì Mỗ thấy vật kín đột nhiên to hẳn lên, mò xem thấy đã to gấp ba lúc trước. Lòng vẫn chưa thỏa, bèn rình lúc nhà sư đi tiểu lén mở vạt chiếc áo lấy hai ba viên nữa nuốt hết. Trong khoảnh khắc thấy trong bụng đau như xé, gân thịt co cả lại, cổ rút lưng khòm, mà vật kín cứ dài to ra mãi không thôi, kinh hoàng nhung không biết làm sao. Nhà sư quay lại trông thấy bộ dạng Mỗ phát hoảng nói "Chắc ông đã uống trộm thuốc của ta rồi?" Vội đưa một viên thuốc cho uống, Mỗ mới thấy vật kín không dài ra thêm nữa. Cởi áo ra xem thì thấy đã to suýt soát bằng hai đùi, như ba cái chân vạc vậy. Bèn rụt cổ khệ nệ lặc lè trở về, cha mẹ đều không nhận ra, từ đó trở thành kẻ vứt đi, lê la ăn xin ngoài đường, rất nhiều người trông thấy.
373. Quan Ngự Y (Thái Y)
Trong niên hiệu Vạn Lịch thời Minh (1573-1619) có Bình sự họ Tôn mồ côi cha từ nhỏ, mẹ mới mười chín tuổi ở vậy nuôi con. Lúc Tôn đỗ Tiến sĩ thì mẹ đã mất, thường nói với mọi người rằng "Thế nào ta cũng phải xin được cáo mệnh* để làm rạng rỡ cho người dưới suối vàng, mới có thể đền đáp được công lao vất vả của mẫu thân". Chợt Tôn mắc bạo bệnh ngày càng nặng. Tôn vốn chơi thân với quan Ngự y nên sai người qua mời, người đi mời vừa ra khỏi cửa thì bệnh Tôn đã nguy kịch, trợn mắt nói "Sống mà không nêu cao được thanh danh để làm rỡ ràng cha mẹ, còn mặt mũi nào nhìn thấy mẹ già ở suối vàng?", rồi tắt thở, mắt vẫn mở to. Không bao lâu quan Ngự y tới, nghe tiếng khóc lóc vội vào thăm hỏi, thấy tình trạng Tôn như thế lấy làm lạ. Người nhà kể lại, Ngự y nói "Muốn cha mẹ được phong tặng cũng không phải là khó. Hiện nay Hoàng hậu sắp lâm bồn, chỉ cần sống thêm mười ngày nữa thì có thể được ban cáo mệnh"**. Rồi lập tức lấy ngải đốt vào mười tám huyệt trên cái xác, lửa vừa tàn thì Tôn rên lên, vội đổ thuốc cho uống, Tôn liền sống lại. Ngự y dặn "Phải nhớ kỹ là không được ăn thịt cọp thịt gấu, người nhà cũng đừng quên". Nhưng Tôn lại cho rằng những thức ấy hiếm khi có, nên cũng không để ý lắm. Ba ngày sau thì bình phục, lại vào triều làm việc. Qua sáu bảy ngày nữa, quả nhiên Hoàng hậu sinh được Thái tử, vua triệu các quan vào cho ăn tiệc mừng. Nhà bếp nấu món ăn lạ đưa lên, vua sai ban cho các quan văn võ theo thứ tự trên dưới, món ăn trắng tươi như khối mỡ có chỉ đỏ chạy bên trong, thơm ngon không gì sánh bằng, Tôn ăn mà không biết là thứ gì. Hôm sau hỏi bạn đồng liêu, họ đáp "Đó là tay gấu" Tôn cả kinh thất sắc, bệnh cũ lại phát, về tới nhà thì chết.
* Cáo mệnh: ngày xưa quan lại có công hay giữ chức lớn thường được triều đình phong tặng chức hàm cho cha mẹ, văn bản phong tặng ấy gọi là cáo mệnh.
** Hiện nay... cáo mệnh: cả câu ý nói có thể hoàng hậu sẽ sinh con trai, nhân dịp vui mừng này của hoàng gia có thể triều đình sẽ phong tặng cho cha mẹ các quan.
374. Người Đàn Bà Nhà Quê (Nông Phụ)
Làng Từ Diêu phía tây huyện có người đàn bà nhà quê khỏe mạnh như đàn ông, thường cứu giúp kẻ hoạn nạn, can ngăn chuyện xích mích trong làng, ở khác huyện với chồng. Chồng là người huyện Cao Uyển (tỉnh Sơn Đông), thỉnh thoảng mới ghé, ngủ một đêm rồi đi. Người đàn bà tự làm lụng kiếm ăn, làm nghề thồ đồ gốm đi bán, nếu có hôm dư dật thì cho đám ăn xin. Một đêm đang ngồi chơi nói chuyện với hàng xóm, chợt đứng dậy nói "Thấy bụng hơi đau, chắc sắp sinh rồi", rồi chào về. Trời sáng, người đàn bà hàng xóm qua thăm, thấy nàng vác hai cái khạp đụng rượu lớn đang bước vào cửa, theo vào tới phòng trong thì có đứa bé mới sinh nằm trên giường, hoảng sợ hỏi thì nàng vừa sinh xong đã mang vật nặng đi hàng trăm dặm. Người đàn bà vốn thân thiết với người cô ở am bắc, kết nghĩa làm chị em với nhau. Sau nghe người cô làm điều xấu xa, giận dữ vác gậy qua định đánh cho một trận, mọi người xúm vào năn nỉ hết lời mới thôi. Một hôm gặp người cô trên đường, người cô dè bỉu hỏi ta có tội gì? Nàng cũng không đáp, cứ đánh đá như mưa, đến khi người cô không kêu được nữa mới tha cho bỏ đi.
Dị Sử thị nói: Những người mà đời gọi là nữ trượng phu còn tự biết là không phải trượng phu, song người đàn bà này đã quên mình là kẻ khăn yếm vậy. Hào sảng tự vui, có khác gì bậc kiếm tiên thời cổ đâu. Hay chồng nàng cũng là loại người mài gươm chăng?
Phụ: Truyện Nữ Hiệp Khách Ẩn Nương (Kiếm Hiệp Nữ Ẩn Nương Truyện)
Nhiếp Ẩn nương là con gái Đại tướng Ngụy Bác Nhiếp Phong trong niên hiệu Trinh Nguyên thời Đường (785-804). Năm nàng mười tuổi có người người cô khất thực ở nhà Phong, nhìn thấy Ẩn nương rất thích, hỏi xin Phong. Phong tức giận, người cô nói "Cho dù có cất kín trong hòm sắt ta cũng bắt trộm được". Đến đêm thì Ẩn nương mất tích. Năm năm sau người cô đưa Ẩn nương về gia đình hỏi được dạy gì, nàng đáp "Đầu tiên sư phụ cho con uống một viên thuốc, sai cầm kiếm đuổi chém khỉ vượn cọp beo, đều chặt đứt đầu. Được ba năm thì đâm chim cắt, chim ưng, nhát nào cũng trúng. Được bốn năm thì có đâm người trong chợ giữa ban ngày cũng không ai trông thấy ánh kiếm. Được năm năm thì sư phụ mở cho một cái hốc sau đầu, giấu lưỡi chủy thủ vào đó, lúc nào dùng thì tuốt ra. Nhân đó lại nói với con rằng: "Kiếm thuật của ngươi đã thành tựu rồi, nên trở về nhà, rồi đưa con về. Lại dặn rằng về tới nhà, gặp chàng trẻ tuổi làm nghề mài gươm thì lấy làm chồng". Trong niên hiệu Nguyên Hòa (806- 828), Thống súy Ngụy Bác có hiềm khích với Tiết độ sứ Trần Hứa là Lưu Xương Duệ, sai Ẩn nương tới giết Lưu. Lưu biết trước là Ẩn nương sẽ tới bèn ra đón, Ẩn nương nói "Quan Bộc xạ ở đây tả hữu không có người, ta xin bỏ bên kia theo ông", đại khái nàng biết Thống súy Ngụy Bác không bằng Lưu vậy. Kế Lưu từ đất Hứa về kinh bái kiến Thiên tử, Ẩn nương không chịu theo, về sau không biết là đi đâu.
375. Quách An (Quách An)
Tôn Ngũ Lạp có đứa tiểu đồng đêm ngủ một mình, chập chờn thấy có người tới bắt đi. Tới một cung điện, thấy Diêm Vương ở trên nhìn nó nói "Lầm rồi, không phải người này", bèn sai đưa về. Nó tỉnh dậy sợ quá, dời sang ngủ chỗ khác. Lại có người đầy tớ là Quách An thấy giường trống bèn lên nằm ngủ. Có một người đầy tớ khác là Lý Lộc vốn ghét đứa tiểu đồng bèn chém chết. Cha Quách An lên kêu khóc với quan huyện, lúc ấy Trần Kỳ Thiện làm Tri huyện lại cứ thản nhiên như không, cha Quách kêu gào thảm thiết nói "Nửa đời mới có được một thằng con trai, bây giờ ta biết làm sao để sống?". Trần bèn phán vậy thì nhận Lý làm con để nó nuôi, cha Quách đành ngậm đắng nuốt cay trở về. Chuyện đứa tiểu đồng thấy ma thật không lạ, lối họ Trần xử án mới thật là lạ.
Vương Ngư Dương nói Tri huyện Tân Thành Trần Đoan Am Ngưng tính nhân từ nhu nhược không quyết đoán. Có Vương sinh tên Dự Triết cho người ta thuê nhà, lâu ngày không được trả tiền, bèn kiện lên quan. Trần không xử được, chỉ nói "Kinh Thi có câu Chim thước có tổ, chim cưu vào ở, ngươi cứ làm chim thước là được".
Huyện Tây đất Tế (tỉnh Sơn Đông) có kẻ giết người, vợ người chết kiện lên quan. Huyện lệnh tức giận, lập tức bắt hung phạm tới, đập bàn mắng "Người ta vợ chồng yên vui, ngươi lại làm chị ta góa chồng à? Phải lập tức cưới chị ta, cho vợ ngươi góa chồng", rồi bắt hai người lấy nhau. Lối xử án sáng suốt ấy đều là việc các bậc Tiến sĩ đầu bảng làm, chứ kẻ xuất thân đường khác thì không sao làm được. Trần cũng lè nhè như thế, ai không có tài năng chứ?
376. Hang Núi Tra Nha (Tra Nha Sơn Động)
Núi Tra Nha ở huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đông) có cái hang núi như miệng giếng, sâu xuống mấy thước, phía bắc của hang chạy ngầm theo dãy núi. Gặp lúc có mấy người trong thôn bên cạnh nhân tiết Trùng dương (ngày chín tháng chín âm lịch) đi chơi, uống rượu ở đó rồi bàn nhau xuống xem thử. Ba người đốt đuốc dong dây leo xuống, thấy hang to như cái nhà, đi được vài chặng thì hẹp dần lại, cuối vách hang lại có một cái huyệt sâu ngoằn ngoèo phải bò mới vào được. Soi đuốc vào thấy tối om om mà sâu không biết tới đâu, hai người lo sợ bỏ ra, một người giật lấy đuốc cười hai người kia là nhát rồi chui vào. Qua khỏi chỗ hẹp lại tới một đoạn rộng rãi có thể đứng thẳng, lại đi tiếp. Trên nóc hang thì đá rủ xuống như sắp rơi mà không rơi, hai bên vách dụng thẳng, đá lô nhô như hình chùa miếu, có cả hình chim thú người quỷ. Chim như đang bay, thú như đang chạy, người thì kẻ đứng kẻ ngồi, quỷ thì đủ dạng như đang tức giận, trông rất kỳ quái xấu xí, y rùng mình sợ hãi.
Qua khỏi một đoạn bằng phẳng, đi thêm vài trăm bước, thấy vách phía tây mở ra một cái thạch thất. Bên trái có một khối đá mặt quỷ hình người đứng trợn mắt ngoác miệng, răng nanh lởm chởm trông rất dữ tợn, tay trái nắm thành quyền đặt ở hông, tay phải vươn năm ngón ra như bắt người. Y vô cùng hoảng sợ, lông tóc dựng đứng cả lên. Nhìn thấy trong cửa có đống tro, như có người từng tới đây, thấy yên tâm trở lại. Bèn bước thẳng vào trong, lại nhìn thấy trên mặt đất có chén bát, trong đầy bụi bặm nhưng đều là những thứ gốm sứ gần đây chứ không phải là đồ cổ. Cạnh đó có bốn cái bầu rượu bằng thiếc, y nảy lòng tham, bèn cởi dây lưng ra buộc đeo lên hông. Kế lại thấy có một cái xác nằm ở góc phía tây, tay chân giang rộng, sợ lắm, nhưng dần dần tới gần nhìn kỹ, thấy chân mang hài nhỏ, vẫn còn vết chỉ thêu hoa mai, biết đó là một thiếu phụ. Không rõ là người ở đâu, chết năm nào, quần áo đã mủn ra không nhận ra màu gì, mớ tóc xỏa tung như tơ rối đắp lên đầu lâu. Chỗ mắt và mũi chỉ còn bốn cái hốc, hai hàm răng vẫn còn, trắng phau phau, y biết đó là miệng. Lại nghĩ có thể trên đầu còn vật trang sức bằng vàng ngọc, bèn soi ngọn đuốc tới gần đầu lâu, thì như có hơi trong miệng thổi vào ngọn đuốc, ánh lửa cứ như chập chờn lay động, manh vải áo cũng lay lay. Y cả kinh run tay, ngọn đuốc tắt phụt, nhưng còn nhớ đường vội chạy mau trở ra. Không dám sờ lên vách, sợ đụng vào khối đá hình con quỷ nên húc đầu vào đá ngã lăn ra, vội chồm ngay dậy, thấy trên đầu ươn ướt lành lạnh, biết là máu nhưng không thấy đau, cũng không dám kêu. Ra tới chỗ đáy huyệt, vừa nằm xuống để bò ra thì chợt thấy như có người nắm chặt lấy tóc, y sợ quá ngất đi luôn.
Mọi người bên ngoài chờ lâu quá, lấy làm ngờ vực, lại dòng dây thả hai người xuống. Họ khom người chui vào, thấy y nằm sấp trên mặt đá, máu me bê bết, thân thể cứng đờ. Hai người mất vía không dám tới gần, ngồi đó run rẫy. Lát sau bên trên lại dòng dây thả thêm hai người nữa xuống, trong đó có kẻ gan dạ, mới dám chui hẳn vào kéo y ra đưa lên, nửa ngày mới tỉnh lại, kể rõ mọi việc. Đáng tiếc là y chưa đi tới chỗ tận cùng, nếu đi tới ắt là thấy được nhiều cảnh đẹp chuyện lạ. Sau quan huyện Chương Khâu nghe được chuyện, sai lấy đất đá lấp kín chỗ miệng huyệt, không ai vào được nữa.
Khoảng năm Khang Hy thứ 26, 27 (1677-1678) phía nam động Dương Mẫu bị lở sụt xuống, để lộ ra một cửa hang, nhìn vào thì thấy thạch nhũ san sát như rừng tre, không ai dám vào xem. Chợt có người đạo sĩ tới tự xưng là đệ tử của Chung Ly Quyền* nói rằng thầy sai tới trước để dọn dẹp động phủ. Người ở đó đưa cho đèn đuốc, đạo sĩ nhận lấy leo xuống, rơi lên đám thạch nhũ lởm chởm, bị đá đâm xuyên qua bụng mà chết. Báo lên quan, qua cho lấp kín cửa hang. Bên trong ắt có cảnh lạ, tiếc là đạo sĩ đã siêu thăng, không ai biết mà kể lại.
*Chung Ly Quyền: người thời Đường, là một trong Bát tiên (tám vị tiên) theo truyền thuyết Trung Quốc, được giới đạo sĩ tu tiên luyện đạo trước kia thờ phụng như sư tổ.
377. Con Chó Có Nghĩa (Nghĩa Khuyển)
Thôn Chu có người lái buôn đi buôn bán tới huyện Vu Hồ (tỉnh An Huy), được món lãi lớn, thuê thuyền trở về. Ngang trên đê thấy có người đồ tể trói con chó toan giết, y trả tiền gấp đôi mua lấy, nuôi ở trong thuyền. Chủ thuyền vốn là dân trộm cướp, thấy khách có nhiều tiền, bèn ghé vào bãi lau sậy vắng vẻ, rút đao định giết chết. Y khẩn cầu xin được chết toàn thây, tên cướp bèn lấy chăn bó y lại ném xuống sông. Con chó nhìn thấy, tru lên thảm thiết rồi nhảy theo xuống cắn chặt lấy bó chăn, theo dòng nước trôi mãi không biết bao xa mới dạt lên bờ. Con chó ướt lướt thướt ngoi lên, chạy tới chỗ có người sủa oăng oẳng đau đớn có người lấy làm lạ đi theo nó, thấy bó chăn nổi dập dềnh giữa nước bèn kéo lên, cắt dây buộc. Người khách buôn vốn chưa chết mới kể lại mọi chuyện. Lại năn nỉ một người chủ thuyền ở đó đưa trở lại Vu Hồ, định chờ thuyền tên cướp trở lại. Nhưng thuyền đi thì con chó lạc đâu mất, y rất thương tiếc. Tới chỗ của sông Vu Hồ chờ ba bốn ngày, thấy thuyền bè san sát như rừng mà không thấy thuyền tên cướp đâu.
Vừa gặp người lái buôn cùng quê, đang định theo về, chợt con chó lần tới, nhìn y thở khìn khịt như gọi cùng đi, y bèn theo nó. Con chó chạy mau lên một chiếc thuyền, nhảy chồm cắn vào đùi người chủ, dánh bao nhiêu nó cũng không nhả ra. Người lái buôn tới gần quát nó nhả ra, thì ra đó là tên cướp trước đây, vì y đã thay đổi cả quần áo, sơn sửa lại thuyền nên không tìm ra được. Mọi người trói y lại rồi khám thuyền, thì tiền bạc của y vẫn còn nguyên. Than ôi, một con chó mà còn báo ơn tới như thế, những kẻ không có tâm can trên đời cũng nên xấu hổ với nó mới phải!
378. Dương Đại Hồng (Dương Đại Hồng)
Tiên sinh Dương Liên tự Đại Hồng* lúc còn hàn vi là bậc danh nho ở đất Sở (vùng Hồ Nam), tự cho rằng mình không phải là hạng tầm thường. Sau kỳ thi hương, nghe có người báo danh sách thi đỗ, lúc ấy ông đang ăn cơm, vội ngậm miếng cơm hỏi có tên Dương mỗ không? Người kia đáp không có, ông bất giác thất chí nghẹn cổ ho sặc lên, miếng cơm trong miệng rơi xuống dính luôn ở ức, dần vón cục thành bệnh, vướng víu rất khó chịu. Những người quen biết an ủi khuyên ông dự thi khoa Di tài** ông lo không có tiền đi đường, họ góp được mười đồng vàng tặng tiễn, ông bèn miễn cưỡng lên đường.
* Dương Liên tự Đại Hồng: bản Hương Cảng chú nhân vật này có tên tự là Văn Nhụ, lại tự Đại Hồng, người ứng Sơn Hồ Bắc, thi đỗ Tiến sĩ năm Đinh mùi niên hiệu Vạn Lịch thời Minh, trong niên hiệu Thiên Khải làm quan tới chức Ngự sử, dâng sớ tham hặc hai mươi bốn tội của quyền thần Ngụy Trung Hiền, bị bè đảng của Ngụy giả chiếu chỉ bắt giam, bị hại chết trong ngục.
**Khoa Di tài: khoa thi chọn người có tài bị bỏ sót, là hình thức khoa cử đặc biệt tổ chức sau kỳ thi hương thông thường để chiếu cố cho những người có tài mà không may thi rớt. Ở Việt Nam trước đây không thấy có các khoa thi loại này.
Đêm ở nhà trọ nằm mơ thấy một người nói "Đường phía trước có người chữa được bệnh của ông, nên cố khẩn cầu", rồi ra đi, lúc chia tay tặng một bài thơ trong có câu "Ba phen giỡn sáo bên bờ liễu, Tiền ném vào sông chớ oán hờn". Hôm sau ông lên đường đi tiếp, quả gặp một đạo sĩ ngồi dưới gốc liễu, liền tới lạy xin cứu giúp Đạo sĩ cười nói "Anh lầm to rồi! Ta làm sao chữa bệnh được? Xin ta đùa ba lần thì còn được". Rồi rút sáo ra thổi, ông nhớ lại giấc mơ, càng ra sức năn nỉ, lại dốc hết tiền trong túi dâng lên. Đạo sĩ cầm tiền ném luôn xuống sông. Ông vẫn cho rằng không dễ có được số tiền ấy, nín bặt vừa sợ vừa tiếc, đạo sĩ nói "Ông còn chưa dứt ra được à? Tiển ở bờ sông kia, xin cứ ra mà nhặt". Ông quay lại nhìn quả đúng, càng lấy làm lạ, gọi đạo sĩ là thần tiên. Đạo sĩ chỉ ra xa nói !Ta không phải là thần tiên, chỗ kia mới là thần tiên tới kìa!", rồi nhân lúc ông quay nhìn, đập cho một cái rất mạnh vào gáy rồi nói "Trần tục quá!". ông bị đập mạnh, ho sặc lên một tiếng, ọe ra một vật, rơi xuống đất như một cục gì đó, cúi xuống vạch ra nhìn, thì thấy giữa mớ chỉ máu là miếng cơm ngày trước vẫn còn nguyên, hết luôn cả bệnh. Quay lên nhìn thì đạo sĩ đã biến mất.
Dị Sử thị nói: Ông sống làm sông núi, chết làm trăng sao, cần gì phải trường sinh mới là bất tử! Có người cho rằng ông vẫn là người trần, không phải là thần tiên, nên tiếc rẻ cho ông. Ta thì nói rằng trên trời có thêm một bậc thần tiên chẳng bằng dưới đời thêm được một bậc thánh hiền, người hiểu điều ấy ắt sẽ không cho là ta thiên lệch vậy.
379. Trương Cống Sĩ (Cống Sĩ Họ Trương)
Cống sĩ họ Trương người huyện An Khâu (tỉnh Sơn Đông) bị bệnh, nằm ở giường chợt thấy có một người nhỏ bé từ ngực chui ra, cao khoảng nửa thước, đội mũ mặc áo nhà nho, dáng vẻ như con hát. Hát khúc Côn Sơn, âm thanh trong trẻo, lại nói rõ tên họ quê quán, đều giống hệt với mình. Những khúc người ấy hát đều là bình sinh Trương đã nghe, hát xong ngâm thơ rồi biến mất. Trương còn nhớ được đại khái, kể lại cho người ta nghe. Các ông Cao Tây Viên, Trương Tự Viên đều từng hỏi rõ, Trương kể lại rất rõ ràng, tiếc là không nhớ hết lời ca.
Phụ: Một Truyện Trong Trì Bắc Ngẫu Đàm (Trì Bắc Ngẫu Đàm Nhất Tắc)
Minh kinh Trương Mỗ người huyện An Khâu đang ngủ trưa, chợt thấy một người nhỏ bé từ ngục chui ra, cao khoảng nửa thước, đội mũ mặc áo nhà nho, dáng như con hát. Hát khúc Côn Sơn khúc điệu rất dễ nghe, lại tự nói tên họ quê quán, đều giống hệt với Trương. Những khúc người ấy hát đều là bình sinh Trương đã nghe qua, hát xong ngâm thơ rồi biến mất. Trương còn nhớ được đại khái, kể lại cho người ta nghe.
380. Tiên Ăn Mày (Cái Tiên)
Cao Ngọc Thành là con nhà thế gia cũ, ở một làng lớn trong huyện Kim Thành (tỉnh Cam Túc), giỏi châm cứu, chữa bệnh không phân biệt kẻ giàu người nghèo. Trong làng có một người ăn mày từ nơi khác tới, ống chân lở loét nằm ngoài đường, máu mủ bê bết, hôi tanh không thể tới gần. Dân làng sợ y chết, mỗi ngày cho ăn một bữa cầm hơi. Cao thấy thế thương xót, sai người dìu về, cho ở chái bếp. Gia nhân chê hôi tanh chỉ bịt mũi đứng xa xa, Cao đem ngải ra, đích thân chữa cho, hàng ngày cho ăn cơm rau. Được vài hôm y đòi ăn canh, tên đầy tớ tức giận quát mắng, Cao nghe thế lập tức sai cho y ăn canh. Chẳng bao lâu, y lại xin rượu thịt. Tên đầy tớ chạy lên báo "Thằng ăn xin kia thật buồn cười, mới đây còn nằm ngoài đường, chỉ mong mỗi ngày một bữa còn không được, nay thì ngày ba bữa còn chê khó nuốt, cho ăn canh lại đòi rượu thịt. Thứ người tham ăn này chỉ đem bỏ ra ngoài đường là phải!". Cao hỏi chân y ra sao, đáp "Đã tróc vảy dần dần, xem ra đi đứng được rồi, nhưng vẫn giả rên rỉ làm như đau đón lắm". Cao nói "Thì có tốn kém bao nhiêu đâu? Cứ cho y rượu thịt đến ngày lành hẳn đi, có khi y không oán giận ta". Tên đầy tớ giả vâng dạ nhưng rốt lại vẫn không đem rượu thịt cho người ăn mày, mà cứ có dịp kháo chuyện với đám tôi tớ lại cùng nhau cười ông chủ khờ dại.
Hôm sau Cao đích thân xuống thăm người ăn mày. Y khập khiễng đứng lên cảm ơn, nói "Đội ơn nghĩa cao dày của ông, cứu sống người đã chết, đắp thịt lên xương khô, công ơn như trời che đất chở. Nhưng chỗ lở mới lành, chưa lại sức hẳn nên thèm ăn mặn thôi". Cao nghe biết tên đầy tớ không tuân lệnh hôm trước, gọi ra đánh cho một trận nên thân rồi lập tức sai dọn rượu thịt cho người ăn mày. Tên đầy tớ căm hận, nửa đêm phóng lửa đốt chái bếp rồi la ầm lên. Cao thức dậy xem, thì chái bếp đã cháy rừng rục, than rằng "Thôi rồi anh ăn mày!", rồi đốc thúc mọi người mau mau dập lửa, vào nhìn thì người ăn mày vẫn ngủ say giữa đám lửa, ngáy vang như sấm. Gọi dậy thì y làm ra vẻ kinh ngạc hỏi "Nhà cửa đâu rồi?", mọi người mới bắt đầu hoảng sợ. Cao càng kính trọng, cho y lên ngủ trong phòng khách, may cho quần áo mới, hàng ngày trò chuyện. Hỏi họ tên, y nói là Trần Cửu.
Được vài hôm, mặt mày y càng thêm sáng sủa, ăn nói rất phong nhã, lại giỏi đánh cờ, lần nào đánh Cao cũng thua, bèn ngày ngày xin theo học, lĩnh hội được nhiều chỗ hay lạ sâu kín. Như thế nửa năm, người ăn mày không nói xin đi, mà Cao thì vắng y một giờ cũng mất vui, dẫu có khách quý cũng phải có y cùng ngồi uống rượu. Có khi gieo xúc xắc làm tửu lệnh, cứ Trần đánh giùm Cao thì lần nào cũng thắng. Cao lấy làm lạ, nhưng mỗi lần bảo làm phép cho vui thì y đều chối từ, nói là không biết. Một hôm nói với Cao "Ta định cáo biệt, lâu nay chịu ơn ông đã nhiều, có bữa tiệc mọn muốn mời, xin ông đừng gọi thêm ai khác". Cao nói "Quen biết nhau rất vui, sao lại chia tay? Vả lại ông làm sao có tiền mua rượu, nên cũng không dám phiền ông mời tiệc". Trần cố mời, nói "Một chén rượn thì có gì là tốn kém". Cao hỏi "Uống ở đâu?", đáp trong vườn. Bấy giờ đang giữa mùa đông, Cao ngại ngoài vườn lạnh lẽo, Trần quả quyết là không sao.
Cao bèn theo vào vườn, chợt thấy không khí ấm áp như vào đầu tháng ba, vào tới trong đình lại càng ấm. Trong vườn chim lạ hàng đàn, líu lo ríu rít, mường tượng như vào lúc cuối xuân. Trong đình thì bàn ghế đều khảm ngọc lưu ly, có một cái bình pha lê trong suốt có thể soi gương, trong có khóm hoa đong đưa, hoa thì đóa nở đóa rụng không đều. Lại có con chim trắng như tuyết nhảy nhót qua lại bên trên, đưa tay vỗ nhẹ thì chợt biến mất hết. Cao ngạc nhiên hồi lâu, ngồi xuống thấy con két đậu trên giá gọi "Dọn trà ra!", trong chớp mắt thấy con phượng đỏ từ phía đông ngậm một cái khay ngọc đỏ đặt hai cái chén pha lê đựng trà thơm bay tới đáp xuống, ngẩng cổ đứng thẳng. Uống xong, đặt chén vào khay, chim phượng liền ngậm lấy, cất cánh bay đi. Con két lại gọi "Dọn rượu ra!", lập tức có loan xanh hạc vàng từ trong mặt trời chấp chới bay xuống, con ngậm bầu con ngậm chén bày ra khắp bàn. Giây lát có bầy chim vỗ cánh lui tới không ngớt, tấp nập dâng thức ăn lên, món ngon vật lạ trong chớp mắt đầy cả bàn, đồ ăn thức uống đều là những vật phẩm phi thường.
Trần thấy Cao uống rất hào bèn nói "Tửu lượng của ông rất cao, phải lấy chén lớn mới được". Con két lại gọi "Đem chén lớn ra đây!", chợt thấy vành mặt trời chớp chớp, có con bướm lớn bấu một cái cốc anh vũ to bằng cái đấu nhẹ nhàng đáp xuống. Cao nhìn thấy bướm to hơn con nhạn, hai cánh sặc sỡ, dáng vẻ rực rỡ, khen ngợi hết lời. Trần gọi "Bướm mời rượu đi?", con bướm xòe cánh bay một vòng biến thành một giai nhân áo thêu phơ phất, bước tới dâng rượu. Trần nói "Không được mời rượu suông thôi đâu!", cô gái bèn thướt tha múa lượn. Múa đến lúc say sưa thì chân cách mặt đất hơn thước, ngửa người ra phía sau, uốn đầu xuống chạm gót chân rồi lật người đứng thẳng lên mà toàn thân không hề vương một hạt bụi. Rồi hát rằng:
Liên phiên tiếu ngũ đạp phương tùng,
Đê á hoa chi phất diện hồng.
Khúc chiết bất tri kim điền lạc,
Cánh tùy hồ điệp quá ly đông.
(Nói cười múa hát đạp hoa xuân
Cành dịu hoa tươi quét má hồng
Khúc đứt trâm vàng rơi chẳng biết
Lại theo cánh bướm vượt rào đông)
Dư âm lả lướt ngân dài như không dứt. Cao rất thích thú, kéo lại cùng uống. Trần sai ngồi, rót rượu cho nàng uống. Cao ngà ngà thấy lòng rạo rục, vụt đứng lên ôm chầm lấy nàng, nhưng nhìn lại thì đã biến thành quỷ Dạ Xoa, mắt lồi khỏi mí, răng nhe ngoài miệng, da đen sần sùi, vô cùng xấu xí ghê tởm. Cao mất vía buông tay, núp xuống dưới ghế run lẩy bẩy. Trần cầm đũa đánh vào miệng nó quát "Đi mau!", nó lập tức biến lại thành bướm, phấp phới bay đi. Cao hoàn hồn cáo biệt, thấy ánh trăng trong vắt, nói đùa với Trần "Rượu ngon nhắm tốt của ông từ trên không đưa xuống, chắc nhà ông trên trời, có thể dắt bạn bè lên chơi một chuyến được không?". Trần đáp "Được". Liền kéo tay Cao nhảy vọt lên, Cao thấy mình đang giữa không trung mênh mông, dần dần tới gần trời, ngẩng nhìn thấy cổng cao, tròn như miệng giếng. Bước vào thì sáng vằng vặc như ban ngày, lối đi bậc thềm đều lát đá xanh sạch bóng không một mảy bụi.
Có một gốc cây lớn cao mấy trượng, nở đầy hoa đỏ to bằng hoa sen, dưới có một cô gái đang giặt chiếc áo đỏ trên phiến đá, diễm lệ vô song. Cao đứng ngẩn ra nhìn quên cả bước đi. Cô gái thấy thế tức giận nói "Chàng cuồng ở đâu lại dám tới đây", rồi lấy chiếc chày đập áo ném trúng lưng Cao. Trần vội kéo nàng ra chỗ vắng trách móc. Cao bị chiếc chày ném trúng, chợt thấy tỉnh rượu hẳn, thẹn toát mồ hôi, bèn theo Trần trở ra, thấy có đám mây trắng cuộn lên dưới chân. Trần nói "Từ nay xin giã biệt, duy có một điều muốn dặn, xin ông đừng quên. Tuổi thọ của ông không dài, ngày mai phải đi mau vào núi tây mới có thể tránh được". Cao định giữ lại, y đã quay đi. Cao thấy đám mây dần dần hạ xuống, mình rơi lại vào vườn thì quang cảnh đã khác hẳn.
Về kể chuyện cho vợ con, thảy cùng lạ lùng hoảng sợ, nhìn lại chỗ áo bị chiếc chày ném trúng thấy có sắc đỏ như gấm, lại nghe có mùi hương lạ. Sáng sớm theo lời Trần dặn, mang lương khô đi vào núi, thấy sương mù dày đặc che khuất cả trời, mịt mờ không nhận ra đường sá gì cả, cứ rảo chân đi bừa, thình lình hụt chân rơi xuống một cái hang mờ mịt mây mù, sâu không biết bao nhiêu, nhưng may không bị gì cả. Hồi lâu định thần, ngẩng nhìn thấy hơi mây như lưới bủa bốn bề, bèn than rằng "Người tiên bảo ta trốn tránh, nhưng rốt lại vẫn không tránh khỏi kiếp số, biết khi nào mới thoát ra khỏi cái hang này được?". Lại ngồi một lúc, thấy xa xa thấp thoáng có ánh sáng, bèn đứng lên đi sâu vào, thì tới một cõi trời đất khác hẳn. Có hai ông già đang đánh cờ, thấy Cao tới cũng không ngó ngàng hỏi han gì cả, cứ tiếp tục đánh, Cao ngồi xổm xuống bên cạnh xem. Xong ván cờ, họ nhặt quân cờ cất vào hộp xong mới hỏi khách làm sao tới được nơi này? Cao đáp vì lạc đường rơi xuống, ông già nói "Chốn này chẳng phải nhân gian, không nên ở lâu Để ta đưa ông về". Rồi dắt Cao ra chỗ đáy hang, Cao thấy mình được mây mù vây bọc nâng lên rồi dừng lại trên đất bằng. Thấy sắc cây trong núi úa vàng, lá rơi cành rụng giống như cuối thu, ngạc nhiên nói "Ta ra đi giữa mùa đông, sao bây giờ lại biến ra lúc cuối thu?".
Vội vàng về nhà, vợ con đều kinh sợ họp nhau lại cùng khóc. Cao ngạc nhiên hỏi, vợ đáp "Chàng đi ba năm không về, ai cũng cho rằng đã chết rồi". Cao nói "Lạ thật! Ta vừa ra khỏi nhà một lúc thôi mà". Giở lương khô trong lưng ra xem thì đã mục nát thành tro bụi, mọi người đều cho là chuyện lạ lùng. Vợ nói "Chàng đi rồi, ta nằm mơ thấy có hai người áo đen đai sáng, dáng như công sai đi đòi thuế, hung hăng xông vào trợn mắt hỏi "Y đi đâu rồi?", ta quát lại "Chồng ta đi vắng rồi, cho dù các người là quan sai cũng đâu được vào thẳng phòng đàn bà nhà người ta thế này?". Hai người bèn quay ra, vừa đi vừa nói lạ thật lạ thật rồi đi mất!. Lúc ấy Cao mới sực hiểu ra rằng người mình đã gặp là tiên, hai người vợ mơ thấy là quỷ. Lần nào tiếp khách Cao cũng mặc chiếc áo có vết cái chày của tiên nữ ném trúng bên trong, mọi người đều nghe mùi thơm, không phải mùi xạ cũng không phải mùi lan, mà có mồ hôi lại càng thơm ngát.
381. Người Trong Lỗ Tai (Nhĩ Trung Nhân)
Đàm Tấn Nguyên là Chư sinh ở huyện, rất tin thuật đạo dẫn, mùa đông mùa hè đều hít thở luyện tập. Được vài tháng, thấy như có kết quả. Một hôm đang ngồi xếp bằng luyện tập, nghe trong lỗ tai có giọng nói nhỏ như tiếng nhặng kêu "Có thể thấy rồi!", mở mắt ra thì không nghe thấy gì nữa. Nhắm mắt điều hòa hơi thở, lại nghe như cũ, cho rằng đã thành tựu, mừng thầm. Từ đó cứ lần nào ngồi tập cũng nghe, nhân muốn chờ lúc giọng nói cất lên, sẽ lên tiếng đáp xem ra sao. Một hôm nghe thấy, ứng tiếng khẽ nói "Có thể thấy rồi!", liền nghe trong lỗ tai có tiếng rột rẹt như có con gì chui ra, hé mắt nhìn thì thấy một người nhỏ bé dài chừng ba tấc, mặt mày hung dữ như quỷ Dạ Xoa chạy loăng quăng dưới đất, trong lòng lấy làm lạ, bèn ngưng thần chờ xem sao. Chợt có người hàng xóm hỏi mượn vật dùng, đập cửa kêu lớn, người nhỏ bé nghe thấy có vẻ hoảng hốt, chạy vòng trong phòng như con chuột mất hang. Đàm thấy thần hồn đều tan tác, cũng không biết người nhỏ bé ấy chạy đi đâu, rồi bị bệnh điên, kêu gào không ngớt, thuốc men chạy chữa nửa năm mới hơi đỡ.
382. Cắn Quỷ (Giảo Quỷ)
Thẩm Lân Sinh nói có người bạn là ông Mỗ mùa hè ngủ trưa, đang lúc thiu thiu thấy một người đàn bà vén rèm bước vào nhà, mặt che vải trắng, áo tang quần gai đi thẳng vào nhà trong, nghĩ là đàn bà hàng xóm qua chơi với vợ. Nhưng lại nghĩ chẳng lẽ lại mặc đồ tang vào nhà người ta à? Còn đang ngờ vực lo sợ, người đàn bà đã trở ra, nhìn kỹ thì khoảng hơn ba mươi tuổi, sắc mặt bủng beo vàng vọt, mắt mũi nhăn nhíu, dáng vẻ rất đáng sợ, cứ quanh quẩn không đi, dần dần tới sát giường. Ông bèn giả như ngủ say để chờ xem ra sao. Không bao lâu, người đàn bà vén áo leo lên giường, nằm đè lên bụng ông ta, thấy nặng hàng trăm cân. Đầu óc ông vẫn sáng suốt, nhưng nhấc tay thì tay mềm nhũn, nhấc chân thì chân rã rời, vội la lớn kêu cứn, nhưng không cất thành tiếng được. Người đàn bà lấy miệng hôn hít lên mặt ông, nhìn thấy trán mũi mắt môi đều vẹo vọ, mà môi lạnh như băng, hơi lạnh thấu xương. Ông đang lúc nguy cấp lại nghĩ được kế, định là chờ thị hôn tới cằm sẽ cắn cho một cái. Lát sau quả thị hôn tới cằm, ông thừa cơ lấy hết sức táp luôn vào gò má, cắn ngập cả răng. Người đàn bà đau quá nhảy xuống, vừa giật vừa gào. Ông ra sức cắn, chỉ biết là máu me đầy mặt, ướt đẫm cả gối, đang còn giằng nhau thì nghe tiếng vợ ngoài sân, vội la là có ma, vừa nới răng ra thì người đàn bà đã biến mất. Vợ ông chạy vào không thấy gì, cười là ông nằm mơ la hoảng. Ông kể lại chuyện quái dị, lại nói có vết máu làm chứng đây. Vợ chồng cùng xem lại, thì thấy như là nước mưa dột ướt đẫm cả gối nệm, cúi ngửi thì tanh hôi vô cùng, ông mới nôn mửa một trận. Mấy hôm sau còn thấy lợm giọng.
383. Bắt Hồ (Tróc Hồ)
Ông họ Hồ anh con bác người thông gia của ta là Thanh Phục, tính vốn gan dạ. Một hôm đang ngủ trưa thì nghe có con vật leo lên giường, kế thấy người đong đưa lâng lâng như bay lên mây, nghĩ thầm chẳng lẽ là hồ quỷ gì sao? Hé mắt nhìn thì thấy con vật to bằng con mèo, đuôi vàng mũi biếc từ cạnh chân rón rẻn bò lên, như sợ ông tỉnh giấc. Nó cứ bò sát vào người ông, tới chân thì thấy chân nhũn ra, tới đùi thì thấy đùi rã rời, vừa bò lên tới bụng thì ông vùng dậy chụp, đè cổ nó xuống. Con vật kêu gào giẫy giụa nhưng không sao thoát được. Ông vội gọi vợ ra, lấy thắt lưng thắt ngang bụng nó, rồi giữ chặt hai đầu dây, cười nói "Nghe nói ngươi giỏi biến hóa lắm, nay ta chống mắt ra xem ngươi biến hóa cách nào?" Vừa nói xong, con vật chợt thót bụng lại chỉ còn nhỏ như cái quản bút, suýt nữa thoát được. Ông ngạc nhiên vội ra sức kéo dây siết lại, nó lại phình bụng ra như cái tô không sao siết được, lúc mệt lại thót lại. Ông sợ nó thoát, kêu vợ giết mau, vợ tìm quanh quất không biết dao để đâu, ông ngoảnh sang chỉ chỗ. Quay nhìn lại thì chiếc thắt lưng vẫn siết như cũ, mà con vật đã mất tăm rồi.
384. Chém Trăn (Trảm Mãng)
Thôn Hồ Điền có hai anh em nọ Hồ đi hái củi, vào trong núi sâu, gặp con trăn lớn. Người anh đi trước bị nó nuốt, người em đi sau lúc đầu hoảng sợ định chạy, nhưng thấy anh bị nuốt lại nổi giận, rút búa chặt củi ra chém vào đầu trăn, con trăn bị thương không nuốt được nữa. Nhưng đầu người anh đã bị nuốt, còn từ vai trở xuống vẫn còn ở ngoài. Người em lúc gấp rút không còn cách nào, bèn nắm chặt hai chân anh, hết sức giành giật với con trăn mới kéo được anh ra, con trăn cũng mang vết thương bỏ đi. Nhìn lại thì người anh đã mất cả tai và mũi, không còn thở nữa, bèn ghé vai cõng về, dọc đường phải dừng lại nghỉ hơn chục lần mới về được tới nhà, chữa chạy nửa năm mới khỏi. Đến nay trên mặt toàn là sẹo, chỗ tai và mũi chỉ còn có lổ không mà thôi. Ôi, trong những người làm ruộng lại có người em yêu thương anh tới như thế sao! Có người nói sở dĩ con trăn không làm hại bởi bị cảm hóa vì đại nghĩa, kể ra cũng đúng.
385. Chó Ma (Dã Cẩu)
Trong loạn Vu Thất, người chết như rạ. Có người dân là Lý Hóa Long từ trong núi trốn về, vừa gặp đại binh kéo tới. Lý sợ bị vạ lây nhưng gấp quá không có nơi ẩn núp, bèn nằm lăn vào giữa đám xác người giả chết. Đại binh đã kéo qua hết Lý vẫn chưa dám chui ra, chợt thấy đám xác chết mất đầu cụt tay nhao nhao đứng thẳng cả lên, một cái xác bị chém đầu nhưng đầu còn dính trên vai cất tiếng nói "Chó ma tới rồi, làm sao bây giờ". Đám xác chết cũng rầm rộ ứng tiếng "Làm sao bây giờ", giây lát chợt đổ vật cả xuống, tất cả lại yên ắng. Lý run bần bật định đứng lên, chợt có con vật quái lạ tới, đầu thú mình người, bò xuống cắn đầu xác chết, nhưng chỉ hút óc mà thôi. Lý sợ nằm rúc vào đám xác chết, con vật tới nắm vai Lý muốn cắn vào đầu Lý nằm sấp ép sát xuống đất nên không cắn được, nó bèn lật đống xác chết lại, đầu Lý lộ ra. Lý cả sợ, quờ tay xuống lưng vớ được hòn đá to bằng cái chén bèn nắm lấy. Con vật bò xuống toan cắn, Lý vụt chồm dậy la lớn quăng luôn hòn đá vào đầu nó, trúng giữa mõm, con vật gào lên như tiếng cú kêu, ôm mệng bỏ chạy, khạc máu ra đường, Lý tới nhìn thấy trong bãi máu có hai cái răng, giữa thì cong mà trên thì nhọn sắc, dài hơn bốn tấc. Bèn nhặt lấy mang về, đưa cho người ta xem, nhưng chẳng ai biết đó là con gì.
386. Hồ Vào Vò (Hồ Nhập Bình)
Vợ người họ Thạch ở thôn Vạn bị hồ ám, lo sợ mà không biết làm sao. Phía sau cánh cổng có cái vò đất, mỗi khi nghe người cha chồng tới, hồ lập tức chui tọt vào đó núp, người đàn bà thấy nó đã quen như vậy, bèn ngầm tính kế mà không nói ra. Một hôm hồ vừa chui vào vò, người đàn bà vội lấy chăn bông nút miệng vò lại, đem đặt lên bếp, quạt lửa rang. Cái vò nóng lên, hồ kêu rằng "Nóng quá. Đừng đùa ác như thế" Người đàn bà không nói gì, hồ lại càng kêu to hơn, lát sau thì im bặt. Gỡ cái chăn nút miệng vò ra xem, chỉ thấy còn một nhúm lông, vài giọt máu mà thôi.
387. Vu Giang (Vu Giang)
Người làng nọ là Vu Giang, cha ngủ ngoài ruộng bị sói ăn thịt. Lúc ấy Giang mười sáu tuổi, nhặt được chiếc giày của cha rơi lại, vô cùng đau xót căm hờn. Đêm tới chờ mẹ ngủ rồi, lén cắp chùy sắt đi, ra nằm ở chỗ cha ngủ đợi trả thù. Không bao lâu, một con sói mò tới quanh quẩn đánh hơi, Giang nằm yên không động đậy. Giây lát con sói lại lấy đuôi quét lên mặt, lại cúi xuống liếm vào chân, Giang vẫn không động đậy. Kế con sói mừng rỡ nhảy lên định cắn vào cổ, Giang vùng dậy vung chùy đập nó vỡ sọ chết ngay tại chỗ, rồi giấu xác vào bãi cỏ rậm cạnh đó. Không bao lâu lại có một con sói mò tới, cũng làm như con trước, lại bị Giang đánh chết. Giang nằm đến nửa đêm không có con nào tới nữa, chợt chợp mắt ngủ đi, mơ thấy cha nói "Giết hai con sói ấy đủ rửa hận cho ta rồi, nhưng con kéo bầy giết ta thì mõm trắng chứ không phải là hai con này". Giang tỉnh dậy nằm chờ mãi đến sáng nhưng không đánh thêm được con nào, muốn kéo hai con sói về nhưng sợ mẹ lo lắng, bèn vứt xuống cái giếng cạn rồi về. Đêm sau lại ra nằm chỗ đó, nhưng không có con sói nào tới. Ba bốn đêm liền như thế mới chợt có một con sói tới cắn vào chân Giang lôi đi mấy chặng, Giang bị gai góc đá sỏi đâm cào trầy xước cả người vẫn nằm yên như chết. Con sói bèn dừng lại toan móc ruột Giang, Giang vùng dậy đập một chùy, con sói lăn ra, lại đập thêm mấy chùy cho chết hẳn, nhìn kỹ lại thì đúng là mõm trắng, cả mừng vác về, lúc ấy mới nói cho mẹ biết. Mẹ khóc lóc đi theo, tới chỗ giếng cạn thì xác hai con sói kia vẫn còn.
Dị Sử thị nói: Trong những người làm ruộng lại có kẻ anh tuấn như thế sao? Nghĩa khí sinh ra từ lòng thành, không những là can đảm mà mưu trí cũng lạ lùng nữa.
388. Đứa Con Gái ở Chân Định (Chân Định Nữ)
Ở vùng huyện Chân Định (tỉnh Sơn Đông) có một đứa con gái mồ côi cha, được nhà chồng đưa về nuôi nấng. Ở được một hai năm thì có thai, bụng to ra, nghĩ là có bệnh, về nói với mẹ. Mẹ hỏi "Có động đậy không?" đáp "Có". Người mẹ rất lạ lùng, nhưng thấy con còn quá nhỏ tuổi, không dám quyết định. Ít lâu sau sinh được con trai. Người mẹ khen ngợi nói "Không ngờ mẹ bằng nắm tay lại sinh được thằng cu con".
389. Tiêu Minh (Tiêu Minh)
Thị độc Đổng Mặc Am trong nhà bị hồ quấy phá, ném đá liệng ngói, cứ bất chợt lại ào ào như mưa đá. Gia nhân kéo nhau chạy núp, chờ đến lúc yên ắng mới dám trở ra làm việc. Ông lo lắng, mượn nhà quan Tư mã Tôn Tộ Đình, dời gia đình sang ở để tránh, mà hồ vẫn theo quấy phá như trước. Một hôm đang lúc ngồi chờ vào chầu, kể lại chuyện lạ cho các quan nghe. Đại thần có người nói đạo sĩ Tiêu Minh ở huyện Quan Đông (tỉnh Liêu Ninh) đang ngụ trong kinh thành, biết hết các loại bùa chú, rất cao tay. Ông tìm tới xin giúp, đạo sĩ vẽ bùa bằng mực son, bảo đem về dán trên vách. Nhưng hồ vẫn không sợ, ném đá liệng ngói còn quá trước. Ông lại tới kể với đạo sĩ, đạo sĩ tức giận, đích thân tới nhà ông lập đàn làm phép. Lát sau thấy một con hồ lớn nằm phục trước đàn. Đám gia nhân bị khổ cực đã nhiều, tức giận đầy ruột đổ ra, một người tỳ nữ vừa tới gần đánh vào nó thì ngã lăn ra đất, tắt hơi chết luôn. Đạo sĩ nói "Con vật này hung hãn lắm, ta đây còn chưa hàng phục được lập tức, đàn bà con gái sao lại coi thường mà đụng vào nó?". Kế lại nói "Thôi mượn xác lấy lời khai của nó cũng được". Rồi chĩa hai ngón tay đọc thần chú một lúc, người tỳ nữ chợt sống dậy, bò lạy. Đạo sĩ hỏi hồ vốn ở đâu, người tỳ nữ nói lời hồ rằng "Bọn ta vốn ở Tây Vực, tới kinh đô cả thảy có mười tám đứa". Đạo sĩ nói "Chốn kinh sư này làm sao cho các ngươi ở lâu được? Phải đi ngay đi", hồ không đáp. Đạo sĩ đập bàn giận dữ quát "Ngươi muốn cưỡng lệnh ta à? Nếu còn chần chừ, ta sẽ làm phép không tha cho đâu!". Hồ mới tỏ vẻ sợ sệt, xin vâng lời, đạo sĩ lại thúc đi cho mau. Người tỳ nữ lại ngã vật ra đất tắt hơi, hồi lâu mới dần dần tỉnh lại. Giây lát thấy có một đám những khối màu trắng xoay tròn như quả cầu men theo thềm mà đi, lần lượt theo nhau, trong chớp mắt đã đi hết. Từ đó mới được ở yên.
390. Yêu Quái Trong Nhà (Trạch Yêu)
Ông Lý ở huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông) là cháu quan Đại Tư khấu, trong nhà có nhiều sự quái dị. Có lần thấy dưới chái nhà có cái giường màu đỏ như thịt, rất tươi nhuận. Lý vì trong nhà không có vật ấy, tới gần lấy tay vỗ vào thử, nó lập tức cong lại, mềm như thịt, Lý hoảng hốt bỏ chạy. Lúc sau trở lại nhìn, thì thấy bốn chân nó di động, rúc dần vào trong vách. Lại thấy có cây gậy trắng dựng dựa vào vách, bóng láng dài dài, tới gần nhấc lên thì thấy mềm mại rơi xuống ngoằn ngoèo bò vào vách, trong chớp mắt đã mất hút.
Năm Khang Hy thứ 17 (1678), Vương Tuấn Thăng dạy học trong nhà ấy, chặp tối vừa lên đèn, Vương cởi giày lên giường nằm. Chợt thấy một người bé nhỏ cao khoảng ba tấc từ ngoài đi vào, dạo một vòng rồi trở ra. Giây lát vác hai cái giường nhỏ vào bày trong nhà, mềm mại như lưng trẻ con, kết bằng cành đay. Giây lát lại có hai người bé nhỏ vác một cái quan tài vào, chỉ dài khoảng bốn tấc, đặt ở trên giường. Sắp đặt chưa xong, một người đàn bà dắt mấy tỳ nữ vào, cũng đều bé nhỏ như mấy người trước. Người đàn bà mặc áo tang, thắt dây gai ở lưng, đeo mạng vải che mặt, lấy tay áo bịt mỉệng nức nở khóc, tiếng như nhặng kêu. Sinh hé mắt nhìn trộm hồi lâu, lông tóc dựng cả lên, khắp người lạnh toát. Bèn la lớn định chạy, nhưng nhảy xuống giường rồi run sợ quá không đứng lên nổi. Người trong nhà nghe tiếng la đổ cả tới, thì đám người nhỏ bé kia đã không thấy đâu nữa.
391. Thần Tướng (Linh Quan)
Đạo sĩ Mỗ ở quán Triều Thiên thích thuật luyện khí. Có ông già tới ngụ ở quán cũng có cùng sở thích, bèn kết làm đạo hữu. Được vài năm, cứ đến ngày tế Giao thì ông già đã ra đi từ tuần trước, tế xong lại trỡ về. Đạo sĩ ngờ hỏi, ông già đáp "Chúng ta không thù ghét gì nhau, nên xin nói thật, ta là hồ đây. Sắp tới ngày tế Giao thì phải trừ tà uế, ta không ở được nên phải đi trốn thôi" Một năm kia đến kỳ lại ra đi, nhưng lâu quá không thấy trở lại. Đạo sĩ đang còn ngờ thì một hôm ông ta chợt về, bèn hỏi vì sao lần này đi lâu thế. ông ta đáp "Suýt nữa ta không được gặp lại ông rồi! Hôm trước muốn trốn xa mà lười nên ngại đi, thấy nhà tắm rất kín đáo bèn tới núp dưới khạp nước. Không ngờ thần tướng tới đó dọn dẹp, giở ra trông thấy, giận dữ định đánh, ta sợ bỏ chạy. Thần tướng đuổi theo rất gấp, tới sông Hoàng Hà thì dần dần đuổi kịp, ta túng thế không biết làm sao núp luôn vào dưới hầm xí, thần thấy ở đó nhơ bẩn quá mới bỏ đi. Ta trở ra thì bị nhiễm mùi hôi thối, không thể đi đâu cả, mới xuống sông tắm rửa, náu mình trong hang, mấy trăm ngày mới hết hôi thối. Hôm nay tới đây để từ biệt và có lời dặn ông. ông cũng nên đi chỗ khác, kiếp nạn sắp tới rồi, đây không phải là chỗ yên ổn đâu. Nói xong từ biệt ra đi. Đạo sĩ theo lời đi nơi khác, không bao lâu thì có biến cố năm Giáp thân*.
*Biến cố năm Gíáp thân: tức năm Giáp thân 1644, năm quân Thanh vào chiếm Bắc Kinh, bắt đầu thay nhà Minh cai trị Trung Quốc.
QUYỂN XVI
392. Tế Hầu (Tế Hầu)
Mãn sinh người huyện Xương Hóa dạy học ở huyện Dư Hàng (đều thuộc tỉnh Chiết Giang), ngẫu nhiên dạo phố, đi qua dưới một dãy gác. Chợt bị cái vỏ trái vải rơi trúng vai, ngẩng nhìn thì thấy một nàng ca kỹ trẻ tuổi dựa lan can cúi xuống cười rồi bước vào trong. Sinh hỏi thăm, thì nàng ấy là Tế Hầu con bà Giả chủ nhà chứa. Nghe nói nàng nêu giá rất cao, nghĩ lại thấy mình không sao gặp được, về nhà tơ tưởng cả đêm không ngủ. Hôm sau tới đưa danh thiếp xin gặp, thấy nàng cười nói vui vẻ thân mật, lòng càng say mê. Bèn tìm cớ hỏi mượn bạn bè đủ số tiền mang tới đưa Tế Hầu, nàng tiếp đãi rất chu đáo. Lúc trên giường sinh khẩu chiếm một bài thơ tứ tuyệt tặng nàng rằng:
Cao nhị đồng bàn dạ vị ương,
Sàng đầu tế ngữ xạ lan hương,
Tân hoàn minh nhật trùng trang phượng,
Vô phục hành vân mộng Sở vương.
(Đêm thẳm êm đềm bóng giá sương .
Đầu giường nói khẽ ngát mùi hương
Sáng mai tóc mới cài trâm phượng .
Vắng mãi mây mưa mộng Sở vương) .
Tế Hầu buồn bã nói "Thiếp tuy nhơ nhuốc hèn hạ nhưng vẫn ước mong tìm được kẻ đồng tâm để thờ, chàng còn chưa có vợ, thấy thiếp có đáng chăm sóc việc nhà không?". Sinh mừng rỡ, lập tức hẹn hò thề thốt với nàng. Tế Hầu cũng vui mừng nói "Chuyện ngâm vịnh thiếp tự thấy là không khó, lúc nào không có ai cũng muốn đua đòi làm một bài, nhưng sợ chưa hay lại bị người ta xem thấy chê cười. Nếu được theo nhau, xin chàng dạy thêm cho thiếp". Nhân hỏi gia sản của sinh có bao nhiêu, sinh đáp "chỉ có năm mươi mẫu ruộng xấu, vài gian nhà nát thôi". Tế Hầu nói "Thiếp về với chàng rồi, thì nên ở nhà đừng đi dạy học nữa. Bốn chục mẫu ruộng trồng lúa cũng tạm đủ ăn, để mười mẫu trồng dâu, dệt năm cuộn vải là thừa nộp thuế rồi. Cứ đóng cửa nhìn nhau, chàng đọc sách thiếp dệt vải thì thơ rượu đủ vui, chức Thiên hộ hầu có gì là quý?". Sinh hỏi "Muốn chuộc nàng ra khỏi đây thì phải mất bao nhiêu tiền?", nàng đáp "Nếu theo lòng tham của mẹ thì bao nhiêu cho đủ được? Nhiều lắm cũng chỉ hai trăm đồng vàng là đủ. Nhưng đáng hận là thiếp lúc còn nhỏ tuổi không biết quý tiền bạc, có được bao nhiêu là đưa hết cho mẹ, số để riêng chỉ có chút ít không đáng kể, chàng cố lo đủ một trăm, số còn lại thì đừng lo". Sinh nói "Tiểu sinh vốn nghèo, nàng cũng biết rồi, lấy đâu ra trăm đồng vàng được? Nhưng có người bạn thân làm Tri huyện ở tỉnh Hồ Nam, mấy lần gọi mời mà ta thấy xa ngại đi. Nay có việc nàng thì phải tới đó tính, khoảng ba bốn tháng sẽ trở về, xin cố chờ nhau", Tế Hầu ưng thuận.
Sinh lập tức nghỉ dạy đi Hồ Nam, tới nơi thì người bạn mắc lỗi vừa bị cách chức, ở trọ nhà dân, trong túi rỗng không không có gì tặng tiễn. Sinh bơ vơ không thể trở về, phải ở lại huyện dạy học, ba năm vẫn chưa về được. Một lần đánh học trò, học trò tự tử chết, người cha xót con kiện thầy, nên sinh bị bắt giam. May có cha mẹ học trò khác thương thầy vô tội thường đem cơm cho, nhờ thế cũng không khổ lắm. Từ khi chia tay sinh, Tế Hầu đóng cửa không tiếp một người khách nào, mẹ hỏi biết nguyên do nhưng không cưỡng ép được, cũng đành để mặc ý. Có nhà buôn giàu là Mỗ hâm mộ danh tiếng Tế Hầu, nhờ mẹ nàng làm mối, quyết cưới bằng được, không nề phí tổn nhưng Tế Hầu không chịu. Người nhà buôn đi buôn xuống Hồ Nam, hỏi dò tin tức của sinh, lúc ấy việc kiện tụng đã sắp xong, người nhà buôn lại đem tiền hối lộ cho quan lại đương chức, bảo cứ giam sinh thật lâu, rồi về nói với mẹ Tế Hầu rằng sinh vì đói rét đã chết trong ngục rồi. Tế Hầu ngờ là tin tức không đúng, người mẹ nói "Đừng nói là Mãn sinh đã chết, cho dù chưa chết thì làm vợ một anh học trò nghèo kiết, chỉ mặc áo vải cài thoa gai suốt đời làm sao bằng kẻ mặc áo gấm chán thịt ngon được?". Tế Hầu nói "Mãn sinh tuy nghèo nhưng khí cốt thanh cao, chứ lấy anh nhà buôn giàu có thô bỉ thì con không muốn. Vả lại lời nói trên đường thì làm sao tin được?".
Người nhà buôn bèn nhờ người bạn buôn khác giả làm thư tuyệt mệnh của Mãn sinh gởi Tế Hầu để nàng hết mong đợi. Tế Hầu được thư, khóc lóc cả ngày, người mẹ nói "Từ khi ta có con, nuôi nấng vất vả, con thành nhân được ba năm, chưa báo đáp được gì nhiều, đã không muốn làm kỹ nữ thì nếu không lấy chồng làm sao mà sống?". Tế Hầu bất đắc dĩ phải lấy người nhà buôn. Người nhà buôn cho nàng đủ thứ áo quần nữ trang, tiền bạc thừa thải. Hơn một năm thì nàng sinh được một con trai. Không bao lâu sau Mãn sinh nhờ có học trò ra sức giúp đỡ nên được rửa oan thả ra, mới biết chuyện người nhà buôn xúi quan giam giữ mình thêm. Nhưng lại nghĩ hai bên không có thù oán gì, suy nghĩ mãi không rõ vì sao. Học trò giúp đỡ tiền ăn đường để trở về. Tới Dư Hàng nghe tin Tế Hầu đã lấy chồng, sinh vô cùng đau đớn, bèn kể những chuyện khổ cực của mình nhờ người bán rượu cho nhà chứa kể lại cho Tế Hầu biết. Tế Hầu rất buồn bã, mới biết việc rắc rối sinh gặp trước kia đều là mưu mô hiểm ác của người nhà buôn. Bèn nhân lúc người nhà buôn đi vắng, giết chết đứa con còn bế, mang tiền bạc của mình trốn theo Mãn. Người nhà buôn về, căm giận kiện lên quan, quan thương tình hai người nên không hỏi tới. Than ôi, Quan Vũ về Hán* có gì khác thế đâu? Nhưng xem việc giết con rồi đi, thì cũng là người đàn bà nhẫn tâm trên đời vậy.
*Quan Vũ về Hán. Quan Vũ là em kết nghĩa và tướng của Lưu Bị, Tiên chủ nhà Thục Hán thời Tam quốc. Có lần Lưu Bị bị Tào Tháo đánh bại, Quan Vũ bảo vệ hai người vợ của Lưu Bị, bất đắc dĩ phải hàng Tào Tháo, nhưng lại ra điều kiện nếu được tin Lưu Bị ở đâu sẽ về theo Lưu Bị. Tào Tháo ưng thuận, sau Quan Vũ được tin Lưu Bị còn sống ở chỗ Viên Thiệu, bèn đưa hai chị tới tìm. Tương truyền Tào Tháo muốn giữ Quan Vũ nên không cấp văn thư đi đường, vì thế Quan Vũ bị các tướng giữ ải của Tào Tháo ngăn trở, phải chém sáu người vượt qua năm cửa ải mới đi thoát được.
393. Chân Sinh (Chân Sinh)
Giả Tử Long là sĩ nhân ở Trường An (tỉnh Thiểm Tây) tình cờ qua nhà hàng xóm gặp một người khách phong thái tiêu sái thoát tục, hỏi thăm thì biết là Chân sinh. Giả rất hâm mộ, hôm sau tới đưa danh thiếp ra mắt, lại gặp lúc Chân sinh đi vắng. Ba lần tới đều không gặp, bèn sai người rình chờ lúc có nhà về báo, lại tới xin gặp. Chân sinh lánh mặt không ra, Giả vào tìm mới chịu ra gặp, ngồi gần nhau trò chuyện, cùng mừng rỡ là gặp kẻ tương tri. Giả bèn về nhà trọ sai tiểu đồng đi mua rượu. Chân lại mạnh rượu, khéo đùa giỡn, hai người rất vui vẻ. Rượu gần hết, Chân mò trong tráp lấy ra đồ dùng uống rượu, thì là một cái bình ngọc không đáy, đặt chén không vào, cái chén chợt đầy ắp rượu, rồi múc ra đổ vào bầu rượu, mãi vẫn không hết. Giả lấy làm lạ, năn nỉ xin học phép lạ ấy. Chân nói "Ta không muốn cho người khác thấy, ông không có chỗ nào kém cỏi, chỉ là lòng tham chưa hết mà thôi. Đây là phép thuật của nhà tiên, làm sao dạy được?". Giả nói "Oan cho ta quá! Ta có tham lam gì đâu, chỉ tình cờ nảy lòng mong muốn thôi, thôi từ nay trở đi xin cam phận nghèo", hai người cười rộ rồi chia tay.
Từ đó thường qua lại với nhau, kết bạn quên cả hình hài. Mỗi khi thiếu thốn, Chân lại lấy một viên đá đen ra, thổi vào rồi niệm thần chú, chà xát lên gạch ngói, gạch ngói lập tức hóa thành bạc trắng xóa, đưa tặng cho Giả, nhưng cũng chỉ vừa đủ chi dùng, không mấy khi thừa. Giả cứ xin thêm, Chân nói "Ta đã nói ông tham, bây giờ thì sao, bây giờ thì sao?". Giả nghĩ hỏi thẳng quyết không được, phải nhân lúc Chân say ngủ, đánh cắp viên đá mới xong. Một hôm, hai người say rượu đã đi nằm, Giả lén dậy lục lọi túi Chân, Chân biết được nói "Anh thật là không còn lương tâm, không thể ở chung được". Rồi từ biệt, dọn đi ở chỗ khác. Hơn năm sau Giả dạo chơi bên bờ sông, nhìn thấy một viên đá trong suốt giống hệt viên đá của Chân, bèn nhặt lấy giữ gìn như của báu. Qua vài hôm Chân chợt tới, buồn rầụ như đánh mất vật gì Giả hỏi han, Chân đáp "Viên đá ông thấy trước đây là đá điểm kim của tiên. Trước ta kết giao với Bão Chân tử, ông ta thương ta biết giữ phận nên tặng cho, vừa rồi say rượu làm rơi mất, bấm độn thì biết đang ở chỗ ông, nếu có thể trả lại cho nhau, thật không dám quên ơn", Giả cười nói "Ta bình sinh không dám lừa dối bạn bè, đúng như ông bói đấy. Nhưng biết Quản Trọng nghèo mà không làm được như Bão Thúc Nha* bây giờ ông định làm gì?". Chân xin tặng trăm đồng vàng, Giả nói "Trăm đồng vàng không phải ít, nhưng truyền cho ta câu thần chú đã, tự ta điểm kim một lần thử xem, thì không tiếc gì nữa".
*Biết Quản Trọng... Bão Thúc Nha: Quản Trọng và Bão Thúc Nha là người thời Xuân thu, chơi thân với nhau. Quản Trọng có tài nhưng nhà nghèo, đi buôn chung với Bão Thúc Nha, khi chia lời thường lấy phần nhiều hơn. Có người cho Quản Trọng là tham, Bão Thúc Nha nói đó là vì Quản Trọng nghèo, cần tiền nuôi gia đình chứ không phải là tham.
Chân sợ Giả nuốt lời, Giả nói "Ông là tiên mà không biết xưa nay Giả Mỗ không bao giờ thất tín với bạn bè à?". Chân bèn truyền cho câu thần chú, Giả ngoái lại định mài lên một hòn đá to, Chân nắm khuỷu tay kéo lại không cho thử. Giả bèn cúi xuống nhặt một mảnh ngói đặt lên phiến đá giặt áo nói "Bấy nhiêu thì không nhiều chứ?", Chân ưng thuận. Nhưng Giả không mài viên đá điểm kim lên mảnh ngói mà lên phiến đá giặt áo, Chân biến sắc, định giật lấy viên đá thì phiến đá giặt áo đã biến thành khối bạc ròng. Giả trả lại viên đá, Chân than "Số kiếp đã như thế, còn nói gì nữa? Đem phúc lộc sai trái tới cho người ắt bị trời phạt, nếu ông muốn cho ta được thoát thì xin phân phát số tiền này cho nhiều người, có được không?". Giả đáp "Sở dĩ ta muốn có tiền là không phải để hưởng riêng một mình, ông vẫn coi ta như hạng bo bo giữ của à?", Chân mừng rỡ chào đi. Giả được tiền vừa đem cho vừa đi buôn, không đầy ba năm đã cho hết số tiền có được. Một hôm Chân chợt tới, nắm tay Giả nói "Ông thật là người tín nghĩa, sau khi chia tay lần ấy Phúc thần tâu với Thượng đế nên ta bị xóa tên khỏi sổ tiên. May là được ông rộng rãi bố thí, đến nay cũng đủ công đức để chuộc lỗi rồi. Xin ông gắng thêm, đừng bỏ phế".
Giả hỏi Chân giữ chức ở ty tào nào trên trời, Chân đáp "Ta là hồ tu tiên đắc đạo, xuất thân hèn mọn, không kham được chuyện phiền nhiễu, nên bình sinh chỉ giữ phận, không dám nhận chức tước gì". Giả mời rượu, hai người lại cùng nhau ăn uống vui vẻ như trước. Đến năm Giả hơn chín mươi tuổi, thỉnh thoảng hồ vẫn ghé chơi. Mỗ ở huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông) làm nghề bán thuốc giải độc, cho dù nguy cấp tới mức nào cứ uống thuốc của y cũng sống. Nhưng y giữ kín bài thuốc, họ hàng thân thích cũng không truyền cho. Một hôm gặp tai bay vạ gió bị bắt, người em vợ mang cơm vào trại giam, lén trộn thuốc độc vào, ngồi chờ y ăn xong mới nói. Y không tin, nhưng giây lát thấy bụng đau quặn lên, mới hoảng sợ chửi lớn "Thằng súc sinh đi mau, trong nhà tuy có thuốc giải độc, nhưng chỉ sợ đường xa không trở lại kịp, mau mau vào thành tìm lấy một bó dây tơ hồng và một chén nước trong, đi mau lên!". Người em vợ nghe lời, tìm được các thứ tới thì y đã nôn mửa gần chết. Vội đổ thuốc cho, lập tức đỡ ngay, bài thuốc ấy từ đó mới được truyền ra. Chuyện này cũng giống như việc hồ giữ kín viên đá vậy.
394. Ông Thang (Thang Công)
Ông Thang tên Sính, đỗ Tiến sĩ năm Tân sửu. Mắc bệnh gần chết, chợt thấy hơi nóng dưới chân cứ lan dần lên trên, lên tới đùi thì chân chết, lên tới bụng thì đùi chết. Nhưng lên tới ngực thì tim chưa chết ngay, phàm những chuyện lúc còn là trẻ con tới những chuyện nhỏ nhặt đã quên từ lâu đều theo máu trong tim kéo về, dâng lên từng đợt từng đợt như thủy triều. Nếu là chuyện hay thì thấy bình tĩnh yên ổn, nếu là chuyện dở thì thấy áy náy hối hận, như dầu sôi trong vạc, khó chịu không sao nói ra thành lời được. Như còn nhớ lúc bảy tám tuổi có bắt một con sẻ nhỏ rồi giết, chỉ một việc ấy thôi mà thấy máu trong tim dâng lên ào ào khoảng ăn xong bữa cơm mới hết. Cứ thế tất cả mọi chuyện đã làm trong đời lần lượt hiện về xong, mới thấy làn hơi nóng lan qua cổ họng dâng lên óc, thoát ra khỏi đỉnh đầu bốc ra ngoài như hơi nước sôi trên nồi cơm. Qua vài mươi khắc thì hồn lìa thất khiếu, rời xác mà đi. Nhưng lại bơ vơ không biết đi đâu, cứ lang thang trên đường. Chợt có một người to lớn đi tới, cao hơn tám thước, bắt ông cho vào tay áo. Vào bên trong thấy da thịt gồ ghề, có rất nhiều người đều tỏ vẻ buồn bã, không sao thoát được. ông sực nghĩ chỉ có Phật mới có thể giải nạn được, bèn niệm Phật hiệu, được ba bốn tiếng thì rơi ra khỏi tay áo, người to lớn lại bắt lấy cho trở vào, ba lần bỏ vào ba lần rơi ra, người to lớn bèn bỏ đi. Ông đứng một mình ngẩn ngơ, còn chưa biết nên đi đâu. Lại nghĩ Phật ở phương tây, bèn đi về phía tây.
Không bao lâu thấy bên đường có một nhà sư ngồi xếp bằng, bèn tới vái lạy hỏi đường. Nhà sư nói "Phàm sổ sinh tử của kẻ sĩ nhân thì do Văn Xương Đế quân và đức Khổng thánh giữ, phải do hai nơi ấy gạch tên mới có thể đầu thai được" ông hỏi hai nơi ấy ở đâu, nhà sư chỉ đường, ông vội đi mau. Không bao lâu thì tới miếu Khổng tử, thấy đức Tuyên thánh đang ngồi quay mặt về phía nam, bèn vái lạy cầu khẩn. Đúc Tuyên thánh nói tên ông bị sót nhưng vẫn có ở chỗ Đế quân, lại chỉ đường cho. Ông lại đi tiếp, thấy một nơi điện gác như phủ đệ của bậc vương giả, khom người bước vào quả có một người dáng mạo giống hệt như Văn Xương Đế quân mà người đời vẫn truyền tụng, bèn quỳ xuống khẩn cầu. Đế quân xem lại sổ sách rồi nói "Ngươi thành thật ngay thẳng, lẽ ra có thể sống lại, nhưng thân xác đã nát rồi, không phải Bồ Tát không ai giúp được". Rồi chỉ đường bảo đi mau, ông vâng lời lên đường. Trong giây lát thấy một nơi rừng trúc san sát, điện gác rục rỡ bèn bước vào. Thấy Bồ Tát tóc búi cao trang nghiêm, mặt như vầng trăng rằm, cầm cành dương tẩm nước phép xanh biếc khói vờn. Ông kính cẩn cúi đầu vái lạy, thuật lại lời Đế quân. Bồ Tát nói là khó, ông năn nĩ mãi không thôi. Bên cạnh có vị Tôn giả bẩm xin Bồ Tát dùng đại pháp lực, nhúm đất làm thịt, lấy cành dương liễu làm xương. Bồ Tát theo lời, bẻ cành dương trong tay nhúng vào bình ngọc đựng nước phép, nhào đất sạch lấy bùn làm xác ông, rồi sai Đồng tử đưa về nhà, xô cả vào quan tài. Người nhà nghe trong quan tài có tiếng rên rỉ cựa quậy hoảng sợ kéo nhau tới đỡ ông ra, thì đã khỏi bệnh. Tính lại thì ông chết đã bảy ngày rồi.
395. Nhà Buôn Họ Vương (Vương Hóa Lang)
Ông Mỗ bán rượu ở Tế Nam (tỉnh thành Sơn Đông) sai con thứ là Tiểu Nhị qua Tế Hà đòi nợ. Nhị ra cửa tây thành, gặp anh là A Đại. Lúc ấy Đại chết đã lâu, Nhị kinh ngạc hỏi "Anh làm sao lại tới được đây?". Đại đáp "Dưới âm phủ có một cái án còn nghi ngờ, phải có em đi làm chứng một chuyến". Nhị tỏ vẻ bực dọc cười khẩy, Đại chỉ một người mũ đen phía sau nói "Sai dịch đang ở đây, chúng ta được tự do sao?". Rồi lấy tay vẫy, Nhị bất giác đi theo, suốt đêm đi gấp tới dưới núi Thái Sơn. Chợt thấy một nơi công thự, vừa định kéo nhau vào, thấy mọi người ồn ào đổ ra. Người áo đen chắp tay hỏi thế nào rồi, một người đáp "Không cần vào nữa đâu, đã xét xử được rồi". Người áo đen bèn thả Nhị bảo về. Đại lo cho em không có tiền đi đường, người áo đen nghĩ ngợi một lúc lâu, rồi dẫn Nhị đi. Được hai ba mươi dặm vào thôn, tới dưới chái một nhà nọ, dặn rằng "Nếu có người ra, cứ bảo đưa về, nếu họ không chịu, ngươi cứ nói là Nhà buôn họ Vương dặn thế", rồi đi.
Nhị nhắm mắt chết cứng ở đó, đến sáng chủ nhà ra thấy người chết ngoài cổng hoảng sợ, hồi lâu thì Nhị sống lại. Chủ nhà vực vào đổ cháo cho, Nhị mới nói làng xóm quê quán, xin cho tiền về. Chủ nhà ngần ngừ, đến khi Nhị nói như lời người mũ đen dặn thì vô cùng hoảng sợ, vội lấy ngựa đưa Nhị về. Tới nhà, Nhị trả lại tiền phí tổn thì không chịu lấy, hỏi nguyên do cũng không chịu nói, rồi chào mà về.
396. Địa Lý (Kham Dư)
Tư lang Tống Quân Sở ở huyện Nghi (tỉnh Sơn Đông) trong nhà vốn chuộng thuật phong thủy, dù là đàn bà con gái cũng thông hiểu sách địa lý. Ông Tống chết, hai vị công tử mỗi người dựng ra một phái, tìm đất chôn cha. Nghe ở đâu có thầy địa lý giỏi thì đường xa ngàn dặm cũng tìm tới, tranh nhau mời mọc nên thuật sĩ trong mỗi nhà có tới trăm người. Hàng ngày ruổi ngựa khắp đồng, chia nhau hai bên ra vào như hai đội quân. Được hơn một tháng, mỗi bên tìm được một ngôi đất tốt, bên này nói sẽ được phong hầu, bên kia nói sẽ được bái tướng, anh em không ai chịu nhịn ai, vì thế tức giận không bàn tính với nhau, cùng chuẩn bị việc chôn cất cha, màn gấm phướn màu đều sắp xếp đầy đủ. Ngày chôn cất, xe chở quan tài tới ngã ba, hai anh em đều dựa vào lời trăn trối của cha để tranh nhau, từ buổi sáng đến xế chiều cũng không ngã ngũ được là chôn ở đâu. Khách khứa dần dần ra về hết, đám đạo tỳ khiêng quan tài đứng chờ đã đổi vai mấy mươi lần, mệt quá không chịu nổi nữa, bèn đặt quan tài xuống cạnh đường. Vì thế cũng không chôn nữa, thuê thợ dựng nhà rạp cạnh đường để che mưa che nắng cho quan tài.
Người anh dựng chỗ ở bên cạnh, cho người ở lại canh giữ, người em cũng dựng chỗ ở như anh. Người anh dựng lại thì người em cũng dựng lại, sau ba năm thành một thôn nhỏ. Qua nhiều năm, hai anh em nối nhau chết. Hai chị em bạn dâu mới bàn với nhau, cố gắng xóa hết những lời bàn bạc trái ngược của người trước về nơi chôn cha chồng. Bèn cùng ruổi xe ra đồng, tới nơi hai ngôi đất anh em đã chọn, đều chê là chưa tốt lắm, rồi cùng sắm sửa lễ vật mời thầy địa lý tới vẽ họa đồ đầy đủ mang về trình nhưng hai chị em cứ nói là không được. Mỗi ngày trình lên mấy tấm họa đồ, đều bị bỏ hết, hơn chục ngày mới chọn được nơi tốt. Người chị xem họa đồ mừng rỡ nói "Được rồi!", rồi đưa người em xem, người em nói "Ngôi đất này sẽ phát được một Cử nhân võ trước tiên". Chôn được ba năm, cháu đích Tôn của ông Tống quả nhiên đậu Cử nhân võ.
Dị Sử thị nói: Thuật phong thủy có thể cũng có lý, nhưng say mê tin tưởng quá thì thành ngốc nghếch. Huống chi lại tức giận cãi nhau, quàn quan tài lại bên đường, không kể gì đến đạo hiếu, thì làm sao dựa vào mạch đất để mong con cháu phát phúc được? Như việc làm của hai người chị em bạn dâu kia quả là điều hay đáng truyền lại vậy.
397. Đậu Thị (Đậu Thị)
Nam Tam Phục là con nhà thế gia ở huyện Tấn Dương (tỉnh Sơn Tây), có một tòa nhà riêng cách nơi ở hơn mười dặm, cứ hàng ngày cưỡi ngựa qua. Một hôm gặp mưa, trên đường có một xóm nhỏ, thấy một nhà nông dân cổng nẻo rộng rãi bèn ghé vào tránh mưa. Người trong vùng vốn đều kính sợ Nam, nên chỉ giây lát đã thấy chủ nhà ra mời vào, thái độ rất khép nép cung kính. Nam vào nhà thấy rất nhỏ hẹp, khách đã ngồi xuống chủ nhà mới kịp lấy chổi quét dọn qua loa. Kế pha mật làm trà bưng ra mời, Nam bảo ngồi mới dám ngồi xuống. Hỏi tên họ, xưng là Đình Chương họ Đậu, giây lát lại dọn rượu làm gà tiếp đãi rất chu đáo. Thấy có cô gái tuổi cập kê bưng mâm dọn chén ngoài cửa, chỉ thấp thoáng nửa người, khoảng mười lăm mười sáu tuổi, xinh đẹp không ai bằng. Nam thấy rung động, ngớt mưa chào về, bồi hồi nhớ nhung mãi. Hôm sau Nam mang gạo lụa qua tặng để cám ơn, mượn cớ làm thân. Từ đó trở đi thường mang rượu thịt ghé chơi nhà Đậu, cùng nhau ăn uống trò chuyện. Cô gái cũng quen dần, không tránh mặt quá nữa, cứ qua lại trước mặt khách. Cứ Nam nhìn tới thì cúi đầu mỉm cười, Nam càng say mê, cứ ba ngày phải ghé lại một lần.
Một hôm gặp lúc Đậu vắng nhà, Nam ngồi chờ hồi lâu, cô gái ra tiếp khách, Nam nắm tay cưỡng ép, cô gái thẹn thùng giãy giụa chống cự nói "Nhà tuy nghèo nhưng ta cũng phải lấy chồng, sao lại cậy giàu sang khinh người thế!". Lúc bấy giờ Nam vừa chết vợ, bèn chắp tay nói "Nếu được nàng thương yêu, thề không lấy ai khác". Cô gái đòi phải thề, Nam chỉ tay lên trời thề sẽ chung sống với nhau mãi mãi, cô gái mới ưng thuận. Bắt đầu từ hôm đó cứ chờ lúc Đậu đi vắng thì qua gần gũi với cô gái. Cô gái giục "Hẹn hò riêng tư thế này không thể lâu dài được. Được đoái thương che chở cho, nếu chịu ra ơn cưới hỏi, cha mẹ ắt lấy làm vinh dự, chẳng có gì khó khăn cả, nên lo cho mau". Nam cũng hứa. Nhưng lại nghĩ cô gái là con nhà nông dân không xứng làm vợ mình, nên cứ bịa đặt chuyện nọ kia để khất lần. Gặp lúc có người mối tới bàn chuyện hôn nhân với một nhà giàu có, Nam lúc đầu còn ngần ngừ, kế nghe con gái nhà ấy xinh đẹp nhiều tiền, bèn quyết ý. Cô gái có mang, thúc giục càng gấp, Nam bèn cắt đứt không tới nữa.
Không bao lâu, cô gái sinh được một con trai. Đậu tức giận đánh, cô gái kể thật mọi chuyện, lại nói "Chàng Nam có hẹn ước với con mà!". Đậu tha cho, sai người qua nói chuyện với Nam, Nam lập tức chối phắt. Đậu bèn vứt bỏ đứa bé, đánh đập con gái. Cô gái lén nhờ người đàn bà láng giềng kể lại nỗi khổ, Nam cũng bỏ mặc. Cô gái đang đêm trốn đi, nhìn thấy đứa bé bị vứt bỏ vẫn còn sống, bèn bế lên chạy tới nhà Nam, gõ cửa nói với người giữ cổng rằng "Chỉ cần chủ nhân nói một câu thôi thì ta không tới nỗi chết. Ông ta không nghĩ tới ta đã đành, nhưng không nghĩ tới đứa bé sao?". Người giữ cổng bẩm lại, Nam cấm không được cho vào. Cô gái dựa vào cửa khóc lóc thảm thiết, đến gần sáng thì không nghe thấy gì nữa. Sáng ngày ra xem, thì cô gái đã ôm con ngồi dựa vào cửa chết cứng rồi. Đậu căm hờn kiện lên quan, quan cũng cho rằng Nam bất nghĩa, định buộc tội. Nam sợ, đem nhiều tiền bạc hối lộ nên được tha.
Nhà giàu kia nằm mơ thấy cô gái xõa tóc bế con tới nói "Không được gả con cho gã bạc tình kia, nếu gả thì ta sẽ giết chết đấy". Nhà giàu lại tham rể giàu sang, rốt lại vẫn gả con gái cho Nam. Đến ngày cưới thì của hồi môn rất nhiều, cô dâu cũng xinh đẹp nhưng hay buồn rầu, cả ngày không thấy cười, lúc ngủ chung thỉnh thoảng lại rơi lệ, Nam hỏi gì cũng không đáp. Được vài hôm người nhà giàu qua nhà Nam, vừa vào tới cửa đã rơi nước mắt. Nam cũng chưa kịp hỏi, vội đi theo vào phòng trong, người nhà giàu nhìn thấy con gái hoảng sợ nói "Vừa thấy con gái ta treo cổ tự tử trên cây đào ở vườn sau, người trong phòng kia là ai thế?". Người con gái nghe thấy biến sắc, ngã vật ra đất chết luôn, nhìn lại thì ra là cô gái họ Đậu. Vội ra vườn sau xem, thì quả nhiên thấy người vợ mới đã treo cổ tự tử ở đó. Nam hoảng sợ vội tới báo cho Đậu. Đậu cho đào mồ con gái lên, thì quan tài còn mà xác đã mất, nỗi căm tức trước vẫn chưa tan, gặp việc này càng thêm đau xót căm hận, lại kiện lên quan. Quan thấy việc kỳ lạ nên chưa kết tội, Nam lại đem lễ vật rất hậu tới xin Đậu bỏ qua, quan cũng nhận tiền hối lộ của Nam, bèn thôi không xử nữa.
Từ đó nhà Nam sa sút, lại vì chuyện quái dị đồn rộng ra nên mấy năm liền không ai dám gả con gái cho. Nam bất đắc dĩ phải đưa lễ vật tới hỏi cưới con gái Tiến sĩ họ Tào cách nhà trăm dặm. Chưa kịp làm đám cưới, lại gặp lúc dân gian đồn đãi là triều đình chọn con gái nhà lương dân để tiến cung, nên những người có con gái đều cho cưới gả ngay. Một hôm có bà già đưa một chiếc xe tới, tự xưng là người nhà họ Tào đưa cô dâu về nhà chồng, đỡ cô gái vào phòng, nói với Nam ràng "Việc triều đình tuyển cung nữ đã sắp tới, vội vàng không được trọn lễ, xin cứ đưa nương tử tới đây". Nam hỏi sao không có khách khứa nào cả, bà già đáp "Cũng có vài món nữ trang chở phía sau", nói qua loa vài câu rồi đi. Nam nhìn cô gái thấy cũng xinh đẹp, bèn trò chuyện cười đùa.
Cô gái cúi đầu cởi dây lưng, cử chỉ giống hệt cô gái họ Đậu, Nam phát sợ không dám nói gì nữa. Cô gái lên giường kéo chăn trùm kín đầu ngủ, Nam cũng cho rằng đó là chuyện thường thấy ở các cô dâu mới nên cũng không để ý. Đến lúc mặt trời lặn, chiểu tối rồi mà người nhà họ Tào vẫn không tới, Nam mới ngờ vực vào giở chăn hỏi, thì người cô gái đã lạnh như băng, tắt hơi từ lâu rồi. Nam ngạc nhiên hoảng sợ, không rõ vì sao bèn sai người tới gấp nhà họ Tào hỏi, thì họ Tào hoàn toàn không có đưa con gái tới, ai nghe chuyện cũng lấy làm lạ lùng. Lúc ấy có con gái viên Cử nhân họ Diêu chết vừa chôn, qua đêm thì mồ bị kẻ trộm đào, phá quan tài lấy mất xác Diêu nghe chuyện là liền tới nhà Nam thử thì đúng là con gái mình, giở chăn nhìn kỹ thì thân thể bị lột trần truồng. Diêu tức giận kiện lên quan, quan thấy Nam mấy lần làm điều vô hạnh nên phát ghét, kết án phá mộ trộm xác, khép vào tội chết.
Dị Sử thị nói: Buổi đầu tư thông rồi về sau mới cưới hỏi cũng đã không phải là kẻ có đức rồi, huống chi lúc trước thề nguyền mà ngày sau dứt tình sao? Nghe bị đánh đập ở nhà cũng làm ngơ, nghe tiếng khóc than ở cổng cũng làm ngơ, sao mà nhẫn tâm như thế! Nhưng báo oán nhu thế thì so ra còn thảm khốc hơn chuyện chàng họ Lý thứ mười* nhiều.
* Chuyện chàng họ Lý thứ mười: xem phần Phụ lục truyện Vũ Hiếu liêm, quyển XV.
398. Lưu Lượng Thái (Lưu Lượng Thái)
Hoài Lợi Nhân ở Tế Nam (tỉnh thành Sơn Đông) kể rằng ông Lưu Lượng Thái là hậu thân của hồ. Cha ông ở núi Nam Sơn, thấy có ông già tới nhà, tự xưng là họ Hồ. Ông Lưu hỏi nhà cửa, ông ta đáp "ở trong núi này thôi, nhưng ở đây vắng vẻ chỉ có hai chúng ta, cũng nên sớm tối qua lại thăm hỏi nhau, nên ta tới làm quen". Ông Lưu trò chuyện thấy lanh lợi sắc sảo thích lắm, bèn đem rượu uống với nhau, say khướt ông ta mới ra về. Hôm sau ông ta tới, ông Lưu tiếp đãi còn nồng hậu hơn, nhân nói "Từ khi đội ơn ông tới chơi, chia tay thấy nhớ lắm, nhưng không biết nhà ông ở làng nào, xin hỏi ông ở đâu vậy?". Hồ đáp "Không giấu gì ông, thật ra ta là con hồ già trong núi này, có túc duyên với ông nên mới dám tới xin làm môn hạ, chứ vốn không thể gây họa cho ông được, xin tin nhau đừng sợ hãi".
Ông Lưu cũng không ngờ sợ gì, lại càng thân thiết, lập tức so tuổi tác thì Hồ lớn hơn, bèn nhận làm anh. Từ đó qua lại với nhau như anh em ruột, có chuyện hay dở gì Hồ đều báo cho biết trước. Lúc ấy ông Lưu chưa có người nối dõi, chợt ông già nói "Ông đừng lo, ta sẽ làm con ông", ông Lưu lấy làm kỳ quái vì lời nói lạ lùng, Hồ nói "Ta tính số mình thấy đã hết rồi, sắp đến lúc đầu thai, nhưng đi nơi khác đâu bằng sinh vào nhà cố nhân?". Ông Lưu hỏi "Thần tiên vốn thọ vạn năm, đâu lại tới nỗi thế?". Ông già lắc đầu đáp "Đó không phải là chuyện ông biết được", rồi đi. Đêm ấy quả nhiên ông Lưu nằm mơ thấy ông già tới nói "Ta tới rồi đây", tỉnh dậy thì phu nhân vừa sinh được một con trai, đó là ông Lưu Lượng Thái. ông Lưu lớn lên, ngôn từ lanh lợi hài hước giống hệt như Hồ. Lúc trẻ đã nổi tiếng văn chương, năm Nhâm thìn đỗ Tiến sĩ, tính lại hào hiệp hay giúp đỡ người hoạn nạn, nên tân khách Tần Sở Yên Triệu* đều tới ở cùng, mở quán bán hàng, trước cổng thành cái chợ.
*Tần Sở Yên Triệu: tức vùng Thiểm Tây, Hồ Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, gọi theo tên thời Tiên Tần.
399. Ma Đói (Ngã Quỷ)
Mã Vĩnh người đất Tề (vùng Sơn Đông) tính tham lam vô lại, không có chút của cải gì, người làng gọi đùa là Ma đói. Năm hơn ba mươi tuổi càng bần cùng, quần áo vá chằng vá đụp, ngày ngày mang một con chim ra chợ làm trò quanh quẩn xin ăn, người ta đều khinh rẻ, coi như súc vật. Trong huyện có ông già họ Chu lúc nhỏ dời lên sống ở kinh đô làm những nghề không tốt đẹp. Khi già về làng ở, bị sĩ phu đàm tiếu chê bai. Nhưng Chu ăn ở hiền lành lương thiện, nên ngươi ta dần dần mới tỏ ra tôn trọng. Một hôm Chu thấy Mã làm trò không được đồng nào lấy làm thương xót bèn cho tiền, lại dắt về nhà cho mấy trăm đồng làm vốn buôn bán nhỏ. Mã về lại không chịu làm ăn, cứ ngồi không ăn sẵn, không bao lâu hết tiền lại làm theo lối cũ, nhưng thường tránh mặt Chu. Sau bỏ làng lên huyện, tối đến vào ngủ ở trường huyện. Gặp đêm đông lạnh quá, cứ lấy lọng trên đầu tượng Khổng tử đắp, lại chẻ cả bàn ghế đốt sưởi.
Học quan biết được, tức giận trừng phạt, Mã năn nỉ xin tha, lại hứa sẽ giúp tiên sinh làm giàu. Học quan mừng rỡ tha cho đi. Mã dò xét biết được nhà viên Chư sinh Mỗ giàu có, liền tới cửa bắt đưa tiền, cố ý chọc giận rồi lấy dao tự đâm vào mình, vu cáo để ăn vạ. Học quan đòi viên Chư sinh phải hối lộ nhiều tiền mới bỏ qua, các viên Chư sinh đều căm phẫn, cùng kiện lên huyện. Quan huyện điều tra được sự thật, sai đánh Mã bốn chục trượng, đóng gông giam lại, ba ngày thì Mã chết. Đêm ấy ông già họ Chu nằm mơ thấy Mã đội mũ đeo đai bước vào nói "Chịu ơn lớn của ông, nay tới để báo đáp", tỉnh dậy thì vợ đã sinh con trai. Ông biết đó là Mã, đặt tên là Mã Nhi. Mã Nhi lúc nhỏ không thông minh nhưng cũng học hành được, năm hơn hai mươi tuổi thi cử mấy lần cũng được vào học ở trường huyện. Sau khi khảo khí, đêm ngủ ở nhà trọ, nhìn thấy trên vách có dán bài văn sách cũ, tới xem thì làm theo đề bài trong thiên Cáo tử sách Mạnh Tử, trong lòng thấy khó khăn nên cố học thuộc. Vào thi thì đề bài ra lại đúng như thế. Mã bèn chép lại nên đỗ hạng ưu, được hưởng lương.
Năm hơn sáu mươi tuổi được bổ làm Huấn đạo huyện Lâm Xuyên, tại chức mấy năm không hề lấy đạo nghĩa giao du với ai, cứ thấy ai rút tiền trong tay áo đưa ra thì hón hở như chim cốc bắt được cá, ai không đưa tiền thì nhướng chân mày dài ra cả tấc, nhìn chằm chặp như không quen. Gặp lúc quan trên gặp người Chư sinh mắc lỗi nhỏ, ra lệnh các Học quan phải nghiêm khắc, Mã càng tàn ác như trị giặc cướp, có ai kiện tụng học trò là lập tức gõ cửa Huấn đạo, đủ chuyện như thế nên các Chư sinh không sao chịu nổi. Nhưng Mã gần bảy mươi tuổi thì tai điếc mắt mờ, cứ ra gặp người là sắc thuốc nhuộm tóc nhuộm râu cho đen lại. Có cuồng sinh Mỗ lấy rễ cây nhuộm màu đỏ sắc thuốc cho Mã, sáng ra mọi người cùng nhìn thì thấy râu tóc đỏ rực như tượng Linh quan trong miếu. Mã cả giận sai bắt nhưng người kia đã trốn đi từ đêm, vì thế căm tức thành bệnh, vài tháng thì chết.
400. Khảo Tệ Ty (Ty Khảo Tệ)
Văn Nhân Sinh người tỉnh Hà Nam mắc bệnh nằm liệt giường mấy hôm, thấy một viên Tú tài vào quỳ trước giường ra mắt, thái độ cực kỳ cung kính. Kế mời sinh dạo vài bước nói chuyện, đỡ vai sinh ra cửa vừa đi vừa trò chuyện không ngớt, đã mấy dặm vẫn chưa chịu chia tay. Sinh dừng lại chắp tay chào, Tú tài nói " Xin phiền ông đi thêm vài bước, ta có việc muốn nhờ". Sinh hỏi, Tú tài đáp "Bọn ta đều thuộc Ty khảo tệ cai quản, Chủ ty có tên là Quỷ vương bụng rỗng (Hư đỗ Quỷ vương), theo lệ cứ ra mắt là phải cắt một miếng thịt vế, nhờ ông nói giúp cho một tiếng thôi". Sinh ngạc nhiên hỏi mắc tội gì mà tới nỗi như thế, Tú tài đáp "Không cần có tội, lệ cũ vốn thế. Nếu có nhiều tiền thì cũng có thể chuộc được, nhưng ta nghèo". Sinh nói "Ta vốn chẳng quen biết gì với Quỷ vương, làm sao giúp ông được?". Tú tài đáp "Kiếp trước ông là hàng ông nội của y, có thể y nghe lời". Trò chuyện một lúc thì vào một nơi thành quách, tới một nha thự.
Vào trong thấy hành lang không rộng rãi to lớn lắm, chỉ có một sảnh đường cao rộng, dưới tường có hai tấm bia đá dựng hai bên, viết chữ màu xanh to như cái tô lớn, một tấm viết "Hiếu đễ trung tín", một tấm viết "Lễ nghĩa liêm sỉ". Bước lên thềm tiến vào thấy trên sảnh có một tấm biển viết ba chữ lớn "Khảo tệ ty". Cột chính khắc một đôi liễn chữ lõm vào rằng "Gọi hiệu gọi tự gọi tường* giáo hóa cõi âm duy đức hạnh hai chữ, Trò giỏi trò vừa trò kém, môn đồ cửa quỷ chỉ lễ nhạc một thềm". Còn dạo quanh nhìn ngó chưa hết thì quan đã ra, tóc xoăn lưng còng như người sống mấy trăm tuổi, nhưng lỗ mũi to huếch, môi vẩu răng chìa cả ra ngoài. Theo sau là một viên Chủ bạ mình người đầu cọp, lại có mấy mươi người lính lệ đứng hầu, quá nửa trông dữ tợn hung ác như quỷ núi, Tú tài nói "Đó là Quỷ vương đấy". Sinh sợ quá định lủi ra nhưng Quỷ vương đã nhìn thấy, bước xuống vái chào mời sinh lên. Kế hỏi thăm sức khỏe, sinh chỉ dạ dạ. Lại hỏi có việc gì quá bộ tới đây, sinh nói rõ lại ý của Tú tài. Quỷ vương đổi sắc mặt nói "Chuyện này đã có lệ thường, cho dù cha ta ra lệnh cũng không dám vâng lời", dáng vẻ nghiêm nghị dữ tợn như không cho ai nói thêm câu nào nữa. Sinh im lặng rồi đứng dậy cáo biệt. Quỷ vương đi nép một bên tiễn ra tới ngoài cổng mới quay vào. Sinh không về mà lẻn trở vào để xem tình hình.
*Hiệu, tự, tường: tên gọi các loại trường học ở Trung Hoa thời trước.
Vào tới dưới thềm thì thấy Tú tài và mấy người bạn đã bị trói thúc ké, một người mặt mũi hung dữ cầm đao tới vén quần lên cắt một miếng thịt to bằng ba ngón tay, Tú tài há miệng kêu không ra tiếng. Sinh tuổi trẻ có nghĩa khí, căm tức không kìm được kêu lớn "Thảm khốc như thế thì ra thế giới gì?". Quỷ vương hoảng hốt đứng lên, ra lệnh tạm ngừng cắt thịt, lật đật xỏ giày ra đón sinh. Sinh cảm tức bỏ ra, nói với người ở chợ là sẽ tố cáo lên Thượng đế. Có người cười nói "Xa quá đấy. Trời xanh mịt mù, biết tìm Thượng đế nơi nào để tố cáo nỗi oan khiên kia? Bọn ấy chỉ gần với Diêm Vương, gọi tới thì may ra còn có người đáp". Rồi chỉ đường cho sinh đi. Sinh đi mau, quả tới một nơi điện lớn thềm cao. Thấy Diêm Vương đang ngồi, bèn nằm rạp dưới bậc thềm kêu lớn. Diêm Vương triệu sinh lên hỏi xong, lập tức sai quỷ tốt mang gông xiềng đi. Giây lát, Quỷ vương cùng Tú tài đều tới Diêm Vương hỏi biết sự thật, cả giận nói "Ta thương ngươi kiếp trước chịu khổ, tạm giao cho chức ấy để chờ thác sinh vào nhà giàu sang. Nay lại dám như thế thì rút gân lành, thêm xương ác của ngươi, phạt cho chết đi sống lại cũng không sao ngóc đầu mở mặt được".
Quỷ vương đang cầm roi ngựa chợt ngã lăn xuống đất, rụng một chiếc răng. Quỷ tốt cầm đao cắt đầu ngón tay rút gân ra, sáng trắng như tơ. Quỷ vương kêu đau, tiếng như heo rống, tay chân đều co rút lại, bị hai tên quỷ tốt giải đi. Sinh dập đầu lạy tạ lui ra, Tú tài theo sau cảm ơn rối rít dắt đưa qua chợ. Thấy một nhà buông rèm đỏ, trong có một cô gái lộ nửa mặt nhìn ra, dung mạo tuyệt đẹp. Sinh hỏi đó là nhà ai, Tú tài đáp "Đó là nhà chứa". Đi qua rồi mà sinh vẫn bồi hồi không cất được bước, bèn giữ Tú tài đứng lại, Tú tài nói "Ông vì ta mà tới đây, bây giờ ta lại về một mình, coi sao được?". Sinh cố từ chối, Tú tài mới đi. Sinh chờ cho Tú tài đi thật xa, vội vàng đi mau vào căn nhà buông rèm đỏ. Cô gái đón tiếp, mừng rỡ ra mặt, đưa sinh vào phòng cùng ngồi, hỏi thăm tên họ. Kế một bà già mang rượu thịt ra, sinh uống say, cứ hẹn hò đính ước chuyện hôn nhân. Sáng ra bà già vào phòng nói "Củi nước đã cạn kiệt, định xin lang quân cho ít tiền được không?". Sinh sực nhớ trong túi rỗng không hoảng hốt thẹn thùng im lặng hồi lâu mới nói "Thật ta không đem theo đồng nào, xin làm giấy nợ, về tới nhà xin lập tức trả ngay". Bà già đổi sắc mặt nói "Lại có chuyện chơi đĩ đòi thiếu tiền à?", hậm hực cùng cô gái đi vào trong. Sinh ngượng ngùng hồi lâu, còn định chờ cô gái trở ra để từ biệt và nhắc lại lời đính ước, nhưng lâu quá không thấy động tĩnh gì. Bèn lén vào nhìn trộm, thấy bà già và Thu Hoa từ vai trở lên đều biến thành quỷ đầu trâu hằm hằm nhìn nhau, phát hoảng trốn ra.
Muốn trở về thì thấy đường xá hàng trăm ngã rẽ, không biết đi lối nào, hỏi người trong chợ thì chẳng một ai biết tên làng mình cả. Sinh cứ quanh quẩn trên phố suốt hai ngày, lòng dạ ảo não chua xót, bụng đói sôi òng ọc. Chợt Tú tài đi qua nhìn thấy kinh ngạc hỏi "Sao ông còn chưa về, mà lại phờ phạc thế này?", sinh cúi gằm mặt không biết trả lời thế nào. Tú tài nói "Thôi đúng rồi, có phải bị Dạ xoa mê hoặc không?", rồi nổi nóng bước đi nói "Mẹ con Thu Hoa sao lại không nể mặt khách thế?". Giây lát quay lại, đưa áo cho sinh, nói "Con đĩ hỗn láo, ta đã chửi cho một trận rồi", đưa sinh về tới nhà rồi chào đi. Sinh đột ngột chết ba ngày mới sống lại, vẫn kể lại rất rõ ràng.
401. Lý Sinh (Lý Sinh)
Lý sinh ở huyện Thương Hà (tỉnh Sơn Đông) là người mộ đạo Phật. Cách làng hơn một dặm có ngôi chùa, Lý dựng ba căn tịnh xá, ngồi xếp bằng trong đó. Các nhà sư khất thực qua lại ghé vào ăn ngủ, thường cùng họ bàn kinh kệ, chu cấp đầy đủ. Một hôm tuyết lớn rất lạnh, có nhà sư già mang bọc ghé vào nghỉ, bàn kinh kệ rất sâu sắc. Sáng ra định đi, Lý cố giữ lại. Được vài ngày, Lý có chuyện phải về nhà, nhà sư dặn trở lại sớm, như có ý muốn chào Lý trước khi đi. Gà gáy Lý đã trở lại, gõ cửa không thấy đáp, bèn leo tường vào. Thấy trong phòng đèn lửa leo lét, không biết nhà sư làm gì nên nghi ngờ, lén tới nhìn trộm. Nhà sư sắp xếp hành lý, có một con lừa gầy ốm buộc ngoài lan can, Lý nhìn kỹ thì không phải là lừa thật, mà giống vật chôn theo người chết, có điều vẫn vẫy tai khua đuôi thở phì phì. Giây lát nhà sư sắp xếp hành lý xong, mở cửa dắt nó ra, Lý đi theo sau. Ngoài cổng chùa vốn có cái ao lớn, nhà sư buộc lừa vào gốc cây cạnh ao, cởi áo lội xuống vốc nước lên rửa ráy xong, mặc áo vào, kéo lừu xuống tắm cho nó. Kế đó đeo hành lý nhảy lên lưng lừa, thúc nó đi mau. Lý mới cất tiếng gọi, nhà sư chỉ từ xa chắp tay cáo biệt, chưa kịp nghe nói gì thì đã đi xa rồi.
Trên đây là lời của Vương Mai Ốc. Vương là bạn của Lý, từng tới chơi nhà, thấy trên sảnh đường treo một tấm biển viết "Sảnh đợi chết" (Đãi tử đường), cũng là một bậc đạt sĩ.
402. Thái Sử Họ Tưởng (Tưởng Thái Sử)
Thái sử Tưởng Siêu nhớ được kiếp trước là sư trên núi Nga Mi, mấy lần mơ thấy tới bên bờ đầm cạnh nơi ở cũ rửa chân. Tính rất thích kinh Phật, luôn nghĩ tới kinh kệ, tuy sớm vào Hàn lâm nhưng thường có ý xuất gia. Có lần rảnh rỗi xuống Giang Nam chơi, tới Tần Bưu không muốn về nữa, người con trai khóc lóc lôi kéo, ông không nghe. Kế vào đất Thục, tới ở chùa Kim Sa tại Thành Đô (tỉnh thành Tứ Xuyên). Lâu sau lại tới núi Nga Mi, lên ở chùa Bạch Hổ, nói bệnh rồi hóa, tự viết bài kệ rằng:
Tu nhiên viên hạc tự lai thân,
Lão nạp vô đoan trụy nghiệp trần.
Ninh hướng hoạch thang cầu ty nhiệt,
Na tùng đại hải khứ phiên thân.
Công danh khổi lỗi trường trung vật,
Thê tử khô lâu đội lý nhân.
Chỉ hữu quân thân vô báo đáp,
Sinh sinh thường tự chúc năng nhân.
(Thảnh thơi vượn hạc tới cùng thân
Lão nạp không dưng xuống cõi trần
Cứ hướng vạc sôi mong tránh nóng
Sao theo bể lớn thỏa xoay vần
Công danh ngao ngán tuồng con rối
Thê tử mong manh kiếp thế nhân
Chỉ có hiếu trung chưa hết phận
Hóa sinh vẫn nghĩ phải làm nhân)
Phụ : Một Truyện Trong Trì Bắc Ngẫu Đàm (Trì Bắc Ngẫu Đàm Nhất Tắc)
Hàn lâm Tu soạn, tiên sinh Hổ Thần Tưởng Siêu người Kim Đàn, tự hiệu là Hoa Dương sơn nhân. Lúc nhỏ ham mê Phật học, không uống rượu ăn thịt, bà nội ông nằm mơ thấy là nhà sư già ở núi Nga Mi tới đầu thai. Khi ông được vài tuổi thường nằm mơ thấy mình là sư già ở trong một gian nhà tranh, sau nhà có dòng suối chảy tới, có lúc nhúng một chân vào suối để rửa rồi xuống suối tắm, phía trên là núi cao chọc trời, lại có mấy lần nằm mơ thấy Phật Nhiên Đăng vào phòng mình cùng luận bàn kinh kệ. Năm mười lăm tuổi, có hai đạo nhân tới ngồi ở cửa nói "Sơn nhân có thầy ở núi Nga Mi, đã hơn hai trăm tuổi, sợ đã rơi rụng rồi" vân vân, hồi lâu mới đi. Năm Đinh hợi niên hiệu Thuận Trị (1647) tiên sinh hai mươi ba tuổi, thi đỗ Tiến sĩ đệ nhất giáp đệ tam danh, được bổ vào Hàn lâm viện, hơn hai mươi năm thì về ở ẩn, kế được thăng từ hàm Biên tu lên hàm Tu soạn, chết ở chức Sử quan.
Tính ông thích ngao du sơn thủy, đi chơi khắp từ Ngũ nhạc tới các núi Hoàng Sơn, Cửu Hoa, Khuông Lư, Thiên Đài, Võ Đương, không hề sợ cọp beo rắn rết. Lúc về già làm việc ở Sử quán lấy cớ có bệnh cáo về, nhưng không về Giang Nam mà từ đất Sở (vùng Hồ Nam) đi thuyền lên Vu Giáp vào Nga Mi, tháng giêng năm Quý sửu chết ở chùa Phục Hổ núi Nga Mi. Lúc tịch có làm bài thơ rằng "Lại hướng vạc sôi mong mát mẻ" vân vân. Thường nói mình là dòng dõi của Thừa tướng Tưởng Uyển nhà Thục Hán, lúc ở đất Thục (vùng Tứ Xuyên) có làm bộ Tứ Xuyên thông chí, vì việc Uyển cứ tới đập của các dinh Tuần phủ, Cha chánh, án sát ở tỉnh, ngông nghênh không chịu bị câu thúc tới như thế đấy.
403. Người Trong Huyện (Ấp Nhân)
Trong huyện có người làng nọ vốn là kẻ vô lại. Một buổi sáng ngủ dậy, thấy có hai người tới bắt đi, tới đầu chợ, gặp người đồ tể treo nửa con heo lên giá, hai người lấy hết sức xô vào, y chợt thấy mình dính liền vào với thịt heo. Lát sau người đồ tể chặt thịt bán, vung dao cắt xẻo, cắt tới đâu y thấy đau tới đó, buốt tới tận xương tủy. Sau lại có người hàng xóm của y tới mua thịt, cứ cò kè trả giá, hết thêm mỡ lại bớt nạc, cắt vụn cả ra, lại càng đau đớn. Đến khi thịt heo đã bán hết, y mới tìm đường về được. Về tới nhà thì mặt trời đã lên cao, người nhà nói rằng y dậy muộn, bèn kể lại những việc mình đã gặp. Gọi người hàng xóm để hỏi, thì quả là đi chợ mua thịt mới về tới nói là có bao nhiêu miếng thịt bao nhiêu miếng mỡ đều đúng vanh vách. Trong vòng buổi sáng mà đã qua một phen bị tùng xẻo chẳng cũng lạ sao!
404. Trung Thừa Họ Vu (Vu Trung Thừa)
Trung thừa Vu Thành Long đi tuần sát tới huyện Cao Khâu (tỉnh Giang Tô). Gặp lúc có người thân hào sắp gả con gái, quần áo nữ trang rất nhiều, đêm bị kẻ trộm đào ngạch vào lấy hết sạch, quan phủ huyện không biết làm sao truy tìm. Ông Vu sai đóng hết các cổng thành, chỉ mở một cổng cho dân ra vào, sai người canh giữ khám xét rất ngặt để tìm tang vật. Lại ra lời hiểu thị rằng "Tất cả người trong thành đều phải về ở nhà, chờ hôm sau khám xét xem có giấu diếm của cải ăn trộm không". Rồi ngầm dặn những người canh giữ cửa thành lưu ý xem ai ra vào cổng thành nhiều lần thì bắt. Quá trưa thì bắt được hai người, nhưng chỉ đi tay không không có hành lý gì. Ông nói "Đây đúng là kẻ trộm rồi", hai người phân trần không thôi. ông sai cởi áo ra để khám, thấy phía trong áo còn mặc thêm hai chiếc áo đàn bà, đều là vật ăn trộm được. Đại khái chúng sợ hôm sau lục soát khám xét nên vội mang đi giấu, nhưng quần áo nhiều quá khó mang xách nên cứ ngầm mặc trong người ra vào nhiều lần.
Lại lúc ông làm Tri huyện, có lần qua huyện bên cạnh, sáng sớm đi gần tới thành thấy hai người cáng một người bệnh. Người bệnh trùm một cái chăn lớn, trên gối để lộ ra mái tóc, có cài một chiếc trâm hình con phượng, nằm nghiêng trên cáng. Có ba bốn người đàn ông khỏe mạnh đi theo bên cạnh, thay nhau lấy tay đè mép chăn xuống sát người bệnh như sợ gió lọt vào. Cứ giây lát lại ghé vào bên đường cho hai người khác thay phiên khiêng cáng. ông Vu đi qua rồi, sai người quay lại hỏi, họ đáp là em gái bị bệnh nặng phải đưa về bên nhà chồng. Ông đi được hai ba dặm, lại sai người quay lại xem họ vào thôn nào. Sai nhân đi theo, tới một thôn nọ thấy có hai người đàn ông ra đón họ vào nhà, trở lại bẩm với ông. Ông hỏi quan huyện ấy rằng trong thành có giặc cướp gì không, quan huyện đáp rằng không. Lúc ấy triều đình quy trách nhiệm về quan lại rất nghiêm khắc, trên dưới đều sợ nên cho dù trong hạt bị trộm cướp cũng ẩn nhẫn không dám nói ra.
Ông tới quán xá rồi, sai người nhà hỏi kỹ, quả nhiên có người nhà giàu bị cướp vào nhà phóng hỏa giết chết. Ông gọi con người nhà giàu tới hỏi, người ấy không nhận là nhà vừa bị cướp. Ông nói "Ta đã tra xét thay, biết được bọn cướp ở đây rồi, chẳng xa xôi gì đâu". Con người nhà giàu bèn dập đầu năn nỉ, xin ông rửa hờn cho người chết. Ông tới gõ cửa gặp quan huyện, cắt đặt lính khỏe rầm rộ ra thành, tới thẳng thôn nọ, bắt được tám người, vừa hỏi cung đã nhận tội. Hỏi người đàn bà bị bệnh là ai, chúng khai "Đêm ấy cùng về kỹ viện nên bàn với kỹ nữ, đặt vàng trong cáng cho cô ta nằm ôm lấy để che giấu, vừa mới chia chác xong", mọi người đều phục ông Vu sáng suốt như thần.
Có người hỏi vì đâu mà ông biết chúng là bọn cướp, ông đáp "Chuyện này rất dễ, chỉ vì người ta không để ý thôi. Đời nào có chuyện đàn bà nằm trên cáng mà lại để đàn ông thò tay vào trong giữ chăn bao giờ? Vả lại chốc chốc lại đổi vai khiêng cáng, có vẻ rất nặng nhọc, đủ biết trên cáng còn có đồ vật khác nữa. Mà nếu đàn bà có bệnh phải đưa về thì phải là đàn bà ra cổng đón chứ. Đây lại là hai người đàn ông, mà chẳng hề ngạc nhiên hỏi han một lời, nên biết chắc đó là bọn cướp".
405. Vương Tử An (Vương Tử An)
Vương Tử An là danh sĩ huyện Đông Xương (tỉnh Sơn Đông) nhưng lận đận mãi ở chốn trường ốc. Khoa ấy vào thi xong, Vương rất mong mỏi, gần đến ngày ra bảng thì uống rượu say mèm, về nằm trong phòng. Chợt có người bẩm ngựa báo tin thi đỗ tới Vương choàng dậy nói "Thưởng người báo tin mười ngàn". Người nhà thấy say, nói dối cho qua chuyện "Xin cứ ngủ yên, đã thưởng rồi", Vương lại ngủ tiếp. Giây lát lại có người bẩm "Ông đỗ Tiến sĩ". Vương nói một mình "Còn chưa lên kinh, làm sao đã đỗ Tiến sĩ". Người ấy nói "Ông quên rồi à? Đã qua tam trường rồi". Vương cả mừng lại vùng dậy gọi "Thưởng người báo tin mười ngàn". Người nhà lại nói dối "Xin cứ ngủ yên! Đã thưởng rồi". Lát sau, một người bước mau vào bẩm "Ông thi điện đỗ Hàn lâm, Trưởng ban đang có mặt". Nhìn ra quả có hai người đang lạy trước giường, áo mũ tề chỉnh. Vương gọi dọn rượu mời, người nhà lại ậm ừ, cười thầm là say tới như thế.
Hồi lâu, Vương lại nghĩ không thể không ra ngoài cho vẻ vang với làng xóm, cất tiếng gọi Trưởng ban, nhưng gọi cả chục lần vẫn không thấy thưa. Người nhà cười nói "Xin tạm nằm thêm một lúc, ông ta vừa ra ngoàí". Hồi lâu quả nhiên Trưởng ban lại tới, Vương đập giường giậm chân mắng thằng đầy tớ chậm chạp đi đâu mất mặt, Trưởng ban nổi giận nói "Đồ học trò khố rách vô lại, nãy giờ ta đùa với ngươi, mà ngươi mắng thật à?". Vương giận lắm vùng dậy tát cho rơi cả mũ, Vương cũng ngã theo. Vợ vào đỡ dậy nói "Sao mà say tới mức này?". Vương đáp "Thằng Trưởng ban đáng ghét, ta phải trị nó chứ say cái gì?". Vợ cười nói "Trong nhà chỉ có một mụ già ban ngày nấu cơm, ban đêm ấp chân cho ông, lấy đâu ra Trưởng ban? Chờ đến khi ông rạc xương ra ấy à?". Con cái đều phì cười, Vương cũng hơi tỉnh rượu, chợt như tỉnh mộng mới biết những việc trước đó đều là nhảm nhí. Nhưng vẫn nhớ việc Trưởng ban rơi mũ, tìm tới sau cửa thấy có một cái núm giải mũ to bằng cái chén, mọi người đều lạ lùng. Vương cười nói "Người xưa bị quỷ trêu chọc, ta nay thì bị hồ lấy làm trò cười"
Dị Sử thị nói: Học trò vào trường thi có bảy cái giống. Lúc mới đầu, đi chân mang tráp giống ăn mày. Lúc gọi tên, quan thét lính mắng giống thằng tù. Lúc về chỗ ngồi, nhô đầu lố nhố, thò cẳng quều quào giống ong lạnh cuối thu. Lúc ra khỏi trường thi, tâm thần thảng thốt, trời đất đổi màu giống chim bệnh rời lồng. Lúc chờ ra bảng thấy cây cỏ đều sợ sệt, mơ mộng cũng chập chờn, nghĩ tới chuyện thi đỗ thì khoảnh khắc lầu gác tựa mọc lên, nghĩ tới chuyện thi rớt thì chớp mắt xương cốt như mục nát, đứng ngồi không yên giống con khỉ bị trói. Chợt tới lúc ngựa ruổi báo danh, không có tên mình thì tinh thần suy sụp chết điếng giống con nhặng say thuốc, ai chọc ghẹo cũng không biết. Đầu tiên thì lòng dạ tan nát, chửi quan trường không mắt, bút mực không thiêng, mọi đồ dùng học hành đều đem đốt, đốt không cháy thì giẫm đạp, giẫm đạp không vỡ thì ném xuống cống, rồi xõa tóc vào núi, quay mặt vào vách, nếu lại có kẻ lấy văn chương "thả phù"* khen hay dâng cho mình, nhất định sẽ vác dao rượt. Không bao lâu, ngày tháng trôi đi, lòng dạ nguôi dần, lại đâm ra ngứa nghề, thì giống chim cưu vỡ trứng, đành tha rác làm tổ, ấp ủ trứng mới vậy. Tình cảnh như thế, người trong cuộc khóc lóc tưởng chết song người ngoài cuộc nhìn vào chỉ thấy buồn cười. Vương Tử An nháy mắt trong lòng sinh muôn mối, chắc hồ quỷ cười trộm đã lâu mới nhân lúc bị say mà đùa cợt, nên lúc đầu giường tỉnh rượu, há không bật cười tự nhạo mình sao? Nghĩ lại cái ý vị của sự đắc chí chỉ trong chớp mắt, các ông trong rừng văn thì chỉ được trong đôi ba chớp mắt, thế mà Vương Tử An chỉ nếm hết trong một buổi, cái ơn của hồ đáng sánh với của bậc phòng sư** vậy.
* Văn chương thả phù: tức văn chương bát cổ dùng trong khoa cử ngày trước, gồm có tám đoạn, chuyển ý từ đoạn trước sang đoạn sau thường dùng hai chữ "thả phù" (vả lại) để đưa đẩy.
** Phòng sư nguyên văn là "tiến sư", chỉ các quan chấm thi, ngày trước học trò đi thi được lấy đỗ phải làm lễ tạ ơn, Tôn trọng như bậc thầy.
406. Trẻ Chăn Trâu (Mục Nhụ)
Có hai đứa trẻ chăn trâu vào núi gặp hang sói, thấy trong có hai con sói con, bèn bàn tính rồi mỗi đứa bắt một con, chia nhau leo lên hai cái cây cách nhau vài mươi bước. Giây lát sói mẹ về, vào hang thấy mất con, có vẻ lo lắng hoảng sợ. Một đứa trẻ bèn kéo tai kéo chân sói con cho nó kêu lên, sói mẹ nghe tiếng ngẩng nhìn, giận dữ lao tới dưới gốc cây, gầm thét cắn xé. Đứa trên cây kia lại chọc cho sói con kêu ầm lên, sói mẹ nghe tiếng, ngoảnh nhìn bốn phía, vừa trông thấy thì bỏ gốc cây này phóng qua, đứng dưới gầm thét. Tiếng sói con lại kêu lên trên cây bên này, sói mẹ lại phóng qua, cứ thế miệng không ngừng gầm, chân không ngừng chạy, qua lại vài mươi lần thì chạy chậm dần, gầm nhỏ dần, sau cùng nằm phục xuống hồi lâu không động đậy. Hai đứa trẻ leo xuống nhìn, thì đã đứt hơi chết rồi.
Nay có kẻ cường hào trợn mắt vỗ kiếm như định nuốt sống người ta, kẻ làm cho y nổi giận bèn đóng chặt cửa. Y chữi mắng kiệt sức khan tiếng thấy không ai chống lại, há chẳng đắc ý tự cho là oai hùng? Không biết đó chỉ là cái oai của thú vật, người ta cố ý chọc ghẹo để làm trò vui mà thôi.
407. Anh Ất Ở Kim Lăng (Kim Lăng Ất)
Người bán rượu ở Kim Lăng (tỉnh thành Giang Tô) là Ất, mỗi khi cất rượu xong lại ngâm vào nước cho nồng thêm, người mạnh rượu bao nhiêu cũng chỉ uống vài chén là say mềm, nhờ vậy nổi tiếng là có rượu ngon, trở nên giàu có. Một buổi sáng thức dậy, thấy có con hồ say nằm cạnh hầm rượu, bèn trói chặt bốn chân, đang tìm dao để giết thì hồ tỉnh dậy cầu khẩn rằng "Xin tha cho, ông muốn gì cũng được". Ất bèn thả ra, nó lăn lộn vài cái biến thành người. Lúc ấy có họ Tôn ở cùng ngõ, vợ bị hồ ám, Ất nhân đó hỏi. Hồ đáp "Đó là ta đấy". Ất thấy người em dâu họ Tôn rất đẹp, xin hồ dắt theo, hồ lấy làm khó. Ất nài nỉ mãi, hồ bèn đưa đi, tới một cái hang, hồ lấy một tấm áo đưa cho, nói "Đây là của tiên huynh để lại, mặc vào thì có thể tới đó được". Ất mặc vào đi về nhà, người nhà đều không ai nhìn thấy, tới khi mặc áo thường trở ra, họ mới nhìn thấy. Ất cả mừng, cùng hồ tới nhà họ Tôn, thấy trên tường dán lá bùa lớn vẽ mấy nét ngoằn ngoèo như con rồng. Hồ sợ nói "Hòa thượng ác thật ta không vào được", bèn lui lại bỏ đi.
Ất mon men tới gần thì có con rồng thật từ vách nhô ra, ngẩng đầu muốn bay tới, sợ quá cũng lui lại. Đó là họ Tôn tìm được một nhà sư nước ngoài nhờ trấn yểm hồ, nhà sư mới trao cho lá bùa về trước dán chứ chưa tới. Hôm sau nhà sư tới, lập đàn làm phép, hàng xóm kéo qua xem, Ất cũng trà trộn trong đó, chợt biến sắc bỏ chạy về nhà, tới cửa thì ngã xuống đất biến thành con hồ, chân tay còn mặc quần áo người. Nhà sư toan giết, vợ con Ất lạy lục năn nỉ, nhà sư bèn sai trói nhất lại, hàng ngày cho ăn uống, được vài hôm thì chết.
408. Hai Truyện Xử Án (Chiết Ngục Nhị Tắc)
I.
Phía tây huyện ta có thôn cạnh núi. Có kẻ trong thôn đi buôn bị giết trên đường, đêm hôm sau thì người vợ tự tử, em trai người đi buôn khóc lóc lên kêu với quan. Lúc ấy ông Phí Huy Vĩ làm huyện lệnh Truy Xuyên, đích thân tới khám nghiệm, thấy bọc tiền của người ấy còn năm nén bạc vẫn giắt trong lưng, biết đây không phải là vụ giết người cướp của. Bèn đòi hương chức ở thôn ấp tới hỏi, thẩm xét qua một lượt không được chút manh mối gì, cũng thả cho về cả chứ không bắt bớ một ai, chỉ sai họ ngấm ngầm dò xét, cứ mười ngày một lần lên huyện bẩm lại mà thôi. Được nửa năm việc hầu như bị dìm đi, em trai người đi buôn oán ông nhân từ nhu nhược, lên huyện làm ầm ĩ. Ông giận nói "Người không nêu được đích danh kẻ nào, lại muốn ta bắt bớ đánh đập kẻ lương dân à?", sai quát đuổi ra. Em trai người đi buôn không có cách nào, căm hờn trở về chôn cất anh và chị dâu.
Một hôm có mấy người thiếu thuế bị bắt giải lên huyện, trong đó có một người tên Chu Thành sợ bị giam, bẩm rằng đã lo đủ tiền nộp thuế, rút bọc tiền giắt trong lưng đưa lên cho quan xem. Ông xem xong hỏi "Nhà ngươi ở làng nào?", đáp ở thôn Mỗ. Lại hỏi cách thôn cạnh núi phía tây huyện bao xa, đáp là năm sáu dặm. Ông hỏi "Năm rồi thôn ấy có người đi buôn bị giết, là gì của ngươi?", đáp là không hề quen biết. Ông chợt đùng đùng nổi giận nói "Ngươi giết y, lại còn nói là không hề quen biết à?", Chu ra sức phân trần, ông không nghe, sai tra tấn, quả nhiên y chịu nhận tội. Trước đó vợ người đi buôn là Vương thị đi thăm họ hàng, thẹn vì không có món đồ trang sức nào, nói với chồng bảo sang nhà hàng xóm mượn chiếc thoa, chồng không chịu. Vương thị bèn sang mượn rồi đi thăm họ hàng, giữ gìn rất cẩn thận, trên đường về tháo ra cho vào bọc tiền cất trong tay áo, về tới nhà xem lại thì đã làm rơi mất, không dám nói với chồng, cũng không có cách nào đền cho hàng xóm, lo buồn muốn chết.
Hôm ấy Chu tình cờ nhặt được, biết là của Vương thị làm rơi, bèn rình lúc người đi buôn vắng nhà, nửa đêm nhảy tường vào, định lấy đó ép Vương thị ngủ với mình. Hôm ấy trời nóng nực, Vương thị ngủ ở sân, Chu tới cưỡng ép, Vương thị tỉnh giấc la lớn. Chu vội ngăn lại, đưa chiếc thoa ra. Xong rồi Vương thị dặn "Từ nay về sau đừng tới nữa, đàn ông nhà ta dữ lắm, y biết thì chết cả". Chu tức giận nói "Ta mà cầm cái thoa này tới kỹ viện thì đủ ngủ mấy đêm, chẳng lẽ mới có một lần mà đã đủ à?". Vương thị nói ngọt rảng "Không phải ta không muốn. Nhưng chồng ta nhiều bệnh, chẳng bằng cứ thong thả, chờ y chết rồi sẽ tính". Chu bèn về, vì vậy rình giết người đi buôn, đêm tới nói với Vương thị "Bây giờ y đã bị người ta giết rồi, xin nàng theo lời hứa". Vương thị nghe thế khóc ầm lên, Chu hoảng sợ bỏ trốn, sáng ra thì Vương thị chết.
Ông hỏi rõ được hết sự thật, bèn khép tội Chu. Người ta đều phục là ông sáng suốt như thần, song không rõ ông dựa vào đâu mà biết là Chu giết người đi buôn. Ông nói "Chuyện này không khó, chỉ cần để ý đúng chỗ thôi. Lúc ta khám nghiệm xác chết, thấy bọc tiền có thêu chữ Vạn, bọc tiền của Chu cũng thế, cùng là do tay một người thêu. Khi hỏi thì y đáp là không hề quen biết người kia, lời lẽ sắc mặt đều có vẻ giả trá, cho nên biết được".
Dị Sử thị nói: Những người xét án trên đời, nếu không thẳng tay kết tội cũng bắt bớ đánh đập vài mươi người, bừa bãi quá lắm! Trên thềm sai đánh người huỳnh huỵch, quát thét tới trưa, rồi nghênh ngang nói "Ta lo việc dân mệt quá!". Gõ ba hồi trống nghỉ thì giọng nói sắc mặt đều lộ vẻ tự đắc, không quyết được việc án mà cũng chẳng nghĩ ngợi gì, chỉ chờ tới lúc ra công đường thì tra khảo cho nặng mà thôi? Ô hô, có phải nhờ vậy mà rõ được dân tình đâu!
II.
Trong huyện có Hồ Thành cùng làng với Phùng An, nhiều đời có hiềm khích với nhau. Cha con Hồ hung dữ, Phùng nhịn nhục qua lại chơi bời, song rốt lại Hồ vẫn ngờ vực. Một hôm cùng uống rượu, Hồ hơi say không còn giữ gìn nữa, bèn nói khoác rằng "Ta chẳng sợ gì nghèo, gia tài trăm lượng vàng chẳng phải là khó kiếm". Phùng thấy nhà Hồ không giàu, bèn chế nhạo. Hồ tỏ vẻ thành thật nói "Nói thật nhé, đêm qua gặp nhà buôn giàu trên đường mang rất nhiều hàng, ta đã giết y quăng xuống giếng cạn ở núi nam rồi". Phùng lại cười nhạo. Lúc ấy em rể của Hồ là Trịnh Luân nhờ mua ruộng đất, có gởi ở nhà Hồ mấy trăm đồng tiền vàng, Hồ bèn đem ra giả làm chứng cớ, Phùng mới tin. Hôm sau Phùng ngầm lên huyện tố cáo, ông cho bắt Hồ tra hỏi, Hồ bèn nói hết sự thật, hỏi tới Trịnh Luân và người bán ruộng cũng không sai. Bèn tới chỗ giếng cạn, dòng dây sai một người lính lệ xuống xem, thì quả có một cái thây người không đầu dưới đáy giếng. Hồ hoảng sợ không biết làm sao phân trần, chỉ kêu là oan.
Ông giận, sai đánh vài mươi tát, nói "Chứng cớ rõ ràng, còn kêu oan à?", sai đóng gông tử tù giam lại. Cái thây thì không cho mang lên, chỉ hiểu thị cho các làng gọi người nhà tới nhận. Vài hôm sau có người đàn bà tới nhận là vợ người chết, nói rằng chồng tên Hà Giáp, mang vài trăm đồng tiền vàng đi buôn, bị Hồ giết chết. Ông nói "Dưới giếng có xác người chết thật, nhưng chắc đâu đúng là chồng ngươi". Người đàn bà cả quyết đó là chồng mình, ông bèn cho mang cái xác lên, xét ra quả đúng. Người đàn bà không dám tới gần, chỉ đứng xa xa gào khóc. Ông nói "Đã bắt được thủ phạm rồi, nhưng thi thể người chết chưa đầy đủ, ngươi cứ tạm về nhà, khi nào tìm được cái đầu, sẽ báo quan trên xét rồi kết án". Rồi cho gọi Hồ trong ngục ra, nói "Ngày mai mà không đem được cái đầu tới đây, sẽ đánh cho một trận". Lính lệ giải Hồ đi cả ngày trở về, hỏi cái đầu đâu, Hồ chỉ kêu khóc. Ông sai bày các thứ hình cụ ra, làm như sắp tra khảo rồi bảo dừng lại, nói "Hay là trong đêm ngươi vội vã quăng bừa không biết là rơi ở đâu sao không chịu tìm cho kỹ?". Hồ kêu là oan, ông tha cho, bắt phải tìm gấp.
Ông lại hỏi người đàn bà có mấy đứa con rồi, thưa rằng không có. Hỏi thân thích của Giáp còn những ai, thưa rằng "Chỉ còn có một ông chú. Ông bùi ngùi nói "Còn trẻ đã chết chồng, lênh đênh như vậy, rồi lấy gì mà sống?" Người đàn bà bật khóc, xin ông thương xót. Ông nói "Tội kẻ giết người đã rõ, chỉ cần tìm được đầu người chết, án này sẽ kết thúc. Kết thúc án này xong, ngươi có thể cải giá ngay. Ngươi là đàn bà trẻ tuổi, khỏi ra vào công đường nữa". Người đàn bà cảm kích khóc lạy rồi ra, ông ra lệnh cho người làng tìm giúp cái đầu xác chết. Qua một đêm, lập tức có Vương Ngữ cùng thôn báo là đã tìm được, ông đưa ra khám nghiệm cái đầu rõ ràng xong, bèn thưởng cho y một ngàn đồng tiền, gọi chú của Giáp lên nói "án lớn đã xong nhưng mạng người là lớn, chưa hết năm chưa kết thúc được. Cháu ngươi đã chết, vợ y còn trẻ không biết lấy gì mà sống, cứ cho đi lấy chồng khác, từ nay về sau không hỏi tới nữa. Nếu có quan trên cần xem xét lại, chỉ cần ngươi có mặt là đủ". Người chú của Giáp không chịu, ông ném hai cái thẻ tre xuống"*, vừa lại định cãi, ông lại ném ra một cái thẻ tre nữa, người chú của Giáp sợ, vâng dạ lui ra. Người đàn bà nghe chuyện tới tạ ơn ông, ông hết sức dịu ngọt an ủi, lại ra lệnh ai muốn cưới người ấy phải bẩm với quan.
*Ném hai cái thẻ tre xuống: ngày xưa lệ ở công đường sắp đánh đòn trách phạt kẻ có tội thì quan ném thẻ tre ra làm hiệu lệnh. Đây ý nói Phí Huy Vĩ dọa sẽ đánh đòn người chú của Hà Giáp.
Ngay sau đó có kẻ lên huyện thưa với quan xin cưới, đó là Vương Ngũ, người tìm ra cái đầu xác chết. ông gọi người đàn bà lên huyện hỏi "Ngươi đã biết kẻ giết người thật là ai chưa?" thưa là Hồ Thành. Ông nói "Không phải đâu, ngươi và Vương Ngũ mới đúng là thủ phạm đấy". Hai người hoảng hốt, ra sức biện hộ là bị oan ức. Ông nói "Ta đã biết sự thật từ lâu, nhưng để từ từ mới nói ra, là vì sợ vạn nhất có chỗ oan uổng thôi. Cái thây chưa mang lên khỏi giếng, sao ngươi đã biết đó đúng là chồng ngươi, rõ ràng đã biết trước rằng y đã chết rồi. Vả lại người đi buôn chết mà áo mặc rách mướp, lấy đâu ra vài trăm đồng tiền vàng?". Lại nói với Vương Ngữ rằng "Tại sao ngươi biết rõ chỗ cái đầu như vậy? Sở dĩ ngươi gấp gáp như thế, là vì muốn lấy ngườì đàn bà này sớm thôi". Hai người mặt xám như tro không nói được câu nào, đến khi bị tra khảo, quả đều khai nhận tội. Đại khái Vương Ngũ và người đàn bà tư thông với nhau đã lâu, bèn mưu giết chồng người đàn bà, lại gặp đúng lúc Hồ Thành nói đùa nên thành chuyện. Ông bèn tha cho Hồ, phạt trượng rồi đày Phùng An ba năm vì tội vu cáo. Án ấy kết thúc, không người nào bị chịu cực hình oan uổng.
Dị Sử thị nói: Thầy ta nổi tiếng nhân ái, cứ xem chuyện này đủ biết người nhân dụng tâm lao khổ thế nào. Lúc ông vừa làm huyện lệnh Truy Xuyên, Tùng vừa tới tuổi nhược quan*, được ông quý mến lắm cho là tài giỏi, nhưng ngu độn bất tài, lại trở thành con hạc không múa khiến Dương công xấu hổ** . Đó là việc không sáng suốt duy nhất trong đời thầy ta đấy, mà thật là do tội của Tùng, nghĩ đau lòng thay!
*Tùng: tức Bồ Tùng Linh tự xưng.
** Con hạc không múa khiến Dương công xấu hổ: lấy tích Dương Thúc Tử nuôi con hạc biết múa, nhưng có lần có khách, ra lệnh cho nó múa thì nó cứ đứng im. Đây tác giả có ý nói mình lận đận công danh làm phụ lòng tin tưởng của Phí Huy Vĩ .
409. Hiệp Khách Chim (Cầm Hiệp)
Chùa nọ ở huyện Thiên Tân (tỉnh Hà Bắc) có đôi hạc làm tổ ở góc điện Phật. Giữa mái và trần điện Phật có con rắn lớn như cái chậu, khi hạc con vừa mọc lông cánh thì bò ra nuốt sạch. Đôi hạc kêu bi thảm mấy hôm rồi bay mất. Cứ thế ba năm, đôi hạc như cho rằng rắn không tới đó nữa, vẫn trở về làm tổ như cũ. Khi hạc con vừa lớn, đôi hạc bay đi, ba ngày mới về, vào tổ kêu ríu rít, mớm cho hạc con ăn. Con rắn lại ngoằn ngoèo bò lên, gần tới tổ thì đôi hạc hoảng sợ, bay ra kêu gấp, lên thẳng trên trời. Chợt nghe tiếng ào ào, trong chớp mắt trời đất tối sầm, mọi người kinh hãi, nhìn ra thấy một con chim lớn cánh che rợp mặt trời từ trên không lao xuống mau như cơn lốc, giơ móng chụp vào rắn, đầu con rắn đứt ra rơi xuống làm sập cả mấy thước tường góc điện, rồi giương cánh bay đi. Đôi hạc bay theo sau như tiễn đưa. Cái tổ hạc lật nghiêng, hai con hạc con rơi xuống đất, một con sống một con chết. Sư ở đó đem con còn sống đặt lên gác chuông, lúc sau đôi hạc về lại tiếp tục nuôi mớm cho. Đến khi hạc con đủ lông cánh thì cùng bay đi.
Dị Sử thị nói: Năm kế lại tới, chắc không ngờ là tai họa sẽ lại tới. Ba năm không dời tổ, thì đã quyết ý báo thù, ba ngày không trỡ về, đủ biết chuyến ấy là đi cầu cứn. Con chim lớn ắt là kiếm tiên của loài chim, ào ào bay tới, đánh một nhát rồi đi, kỳ diệu như vậy còn có gì nói thêm được nữa? Ở Tế Nam có người lính đóng trong dinh, thấy chim hạc bay qua, giương cung bắn, hạc theo tiếng dây cung bật rơi xuống, trong mỏ còn ngậm cá để mớm cho con. Có người khuyên nhổ mũi tên thả nó ra, người lính không chịu. Giây lát, con hạc vùng mang tên bay mất, về sau cứ qua lại quanh đó hơn hai năm, vẫn mang mũi tên như cũ. Một hôm người lính ngồi ở cửa dinh, con hạc bay qua, mũi tên rơi xuống đất. Người lính nhặt lên nhìn, nói "Mũi tên này vẫn không bị gì sao!". Vừa lúc thấy trong tai ngứa ngứa, nhân cầm mũi tên ngoáy, chợt có cơn gió mạnh thổi cánh cửa đóng sầm lại, đập mũi tên xuyên qua đầu, người lính chết luôn.
410. Chim Hồng (Hồng)
Có người đánh lưới chim ở phủ Thiên Tân (tỉnh Trực Lệ) bắt được một con chim hồng. Con trống theo y về tới tận nhà, kêu thảm thiết lượn trên nóc, đến chiều tối mới bay đi. Hôm sau người ấy ra khỏi nhà từ sáng sớm, thì con hồng đã tới bay theo kêu la, rồi nhảy xuống đậu sát dưới chân y. Người ấy chụp bắt luôn, thì nó vươn cổ lên nhả ra nửa nén vàng, y hiểu ý nói "Đây là nó chuộc vợ đây". Bèn thả con mái ra, đôi chim quẩn quanh cạnh nhau một lúc như vừa đau thương vừa mừng rỡ, rồi mới cùng bay đi. Người ấy đem cân vàng, thì được hơn hai lượng sáu đồng cân. Ôi, loài chim biết gì mà cũng chung tình tới như thế. Ở đời không gì buồn bằng nỗi buồn ly biệt, loài vật cũng như thế chăng .
411. Voi (Tượng)
Ở đất Quảng (tỉnh Quảng Đông) có người đi săn mang cung tên vào núi, nhân ngồi nghỉ mệt bất giác ngủ thiếp đi, bị một con voi tới đưa vòi cuốn lấy mang đi, tự nghĩ rảng sẽ bị giết chết. Không bao lâu con voi đặt y xuống dưới một gốc cây lớn, cúi đầu kêu một tiếng, một đàn voi ào ào kéo tới đứng vây chung quanh, như muốn khẩn cầu điều gì. Con voi kia bèn nằm xuống dưới gốc cây, ngẩng nhìn lên cây rồi cúi xuống nhìn người đi săn, như muốn y leo lên. Người đi săn hiểu ý, bèn leo lên lưng voi rồi vịn cành leo lên cây, song lên tít trên cao rồi vẫn chưa hiểu chúng muốn mình lên đây làm gì. Giây lát có con sư tử tới đàn voi đều nằm rạp xuống. Con sư tử chọn lấy một con to béo, định xé xác ăn thịt, cả bầy voi run sợ không con nào dám bỏ chạy, chỉ cùng ngẩng nhìn lên trên cây như xin thương xót cứn giúp. Người đi săn giơ nỏ ngắm vào con sư tử bắn một phát, sư tử lăn ra chết, bầy voi chầu cả lên không như nhảy nhót lạy tạ, người đi săn bèn leo xuống. Con voi kia lại nằm xuống, lấy vòi kéo áo y như bảo cưỡi lên nó. Người đi săn bèn leo lên lưng, voi bước đi. Tới một chỗ, nó lấy chân đạp đất lộ ra một cái hầm, bên dưới có vô số ngà voi. Người đi săn xuống lựa lấy bó lại, con voi lại chở y ra khỏi núi rồi mới trở về.
412. Hòa Thượng Tử Hoa (Tử Hoa Hòa Thượng)
Đinh Mỗ ở huyện Chư Thành (tỉnh Sơn Đông) là cháu nội của ông Dã Hạc. Còn trẻ tuổi đã nổi tiếng là danh sĩ, bị bệnh chết, qua một đêm lại sống lại nói "Ta ngộ đạo rồi". Lúc ấy có nhà sư tinh thông kinh kệ, Đinh sai người mời tới, bảo ngồi trước giường giảng kinh Lăng nghiêm, cứ nghe xong một đoạn lại nói không phải như thế. Lại nói "Ta mà khỏi bệnh thì chứng ngộ không khó, nhưng chỉ có Mỗ sinh là chữa được bệnh cho ta, phải cố mời tới". Lúc ấy trong huyện có Mỗ sinh giỏi y đạo nhưng không làm nghề chữa bệnh, Đinh cho người mời mấy lần mới tới, vừa bốc thang thuốc đầu tiên cho uống, bệnh Đinh đã giảm. Mỗ sinh về nhà, chợt thấy một cô gái từ ngoài vào, nói "Ta là thị tỳ trong phủ Đổng Thượng thư đây. Hòa thượng Tử Hoa có thù với thiếp, nay mới được rửa hận, ông lại muốn cứu y sống à? Nếu còn chữa bệnh cho y sẽ có tai họa đấy!", nói xong biến mất. Mỗ sợ, từ chối không chữa bệnh cho Đinh nữa. Bệnh Đinh lại phát, hết sức mời Mỗ, Mỗ bèn kể lại mọi việc, Đinh than rằng "Oan nghiệt từ kiếp trước, chắc ta chết rồi" kế chết. Sau Mỗ tìm hỏi, quả trước đó có một vị cao tăng là Hòa thượng Tử Hoa, thường được phu nhân của Đổng Thượng thư ở phủ Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông) rước về nhà cúng dường, song không ai rõ được oan nghiệt từ đâu mà sinh ra.
413. Mỗ Ất (Mỗ Ất)
Mỗ Ất ở phía tây huyện ta vốn là kẻ trộm. Người vợ rất lo sợ, nhiều lần khuyên thôi đi, ất bèn bỏ nghề. Được hai ba năm, nghèo túng không sao sống nổi, định bụng giở nghề cũ ra làm một lần chót. Bèn nói thác là đi buôn, tới gặp một người thầy bói giỏi, hỏi đi về hướng nào thì tốt. Người thầy bói nói "Hướng đông nam tốt, nhưng có lợi cho kẻ tiểu nhân, bất lợi cho người quân tử" ất thấy quẻ bói hợp với mình, trong bụng mừng thầm, bèn đi về phía nam. Tới huyện Tùng Giang vùng Tô Châu, hàng ngày đi dạo qua các thôn xóm, suốt cả mấy tháng. Một hôm ngẫu nhiên vào một ngôi chùa, thấy ở góc tường có hai ba hòn đá chất lên nhau, lấy làm lạ cũng nhặt một hòn vứt vào đó rồi ra sau tháp nằm ngủ. Đến chiều thì nghe trong chùa có tiếng nói ồn ào, như có hơn chục người. Một người ra đếm đống đá, thấy thừa một hòn thì ngạc nhiên, cả bọn đổ đi tìm, thấy Ất sau tháp bèn hỏi "Ngươi ném hòn đá vào phải không?". Ất dạ. Bọn kia hỏi tới tên họ quê quán, Ất bịa đặt trả lời, cả bọn bèn nhận Ất làm đồng đảng, dắt đi theo.
Tới một ngôi nhà lớn, bọn họ bắc thang lên tường tranh nhau trèo vào, riêng Ất vì từ xa tới không thông thuộc đường sá nên được nằm lại ở bên ngoài nhận đồ vật từ trong chuyền ra. Giây lát, có một cái bao ném ra, lát sau, lại một cái hòm được ném ra. Ất bưng cái hòm thấy bên trong có đồ vật, bèn phá ra đưa tay vào mò mẫm, thấy toàn là vật nặng đắt tiền, bèn dồn cả vào một cái bao, vác lên trốn đi luôn, ngày đêm theo đường về nhà. Nhờ đó xây dựng nhà cửa, mua ruộng tốt, nộp thóc mua phẩm hàm cho con, được quan huyện cấp cho biển "Thiện sĩ" treo ở trước cổng. Về sau vụ án ấy bị phát giác, bọn cướp kia đều bị bắt, duy có Ất không ai rõ tên họ quê quán nên quan không điều tra được, vẫn được yên ổn. Việc đã yên rất lâu, một hôm ất say rượu kể ra người ta mới biết .
Huyện Tào (tỉnh Sơn Đông) có tên tướng cướp là Mỗ vớ được chuyến hàng lớn, về làng tiêu phủ phê. Một hôm có hai ba tên cướp ranh trèo tường vào nhà bắt Mỗ đưa vàng bạc ra. Mỗ không chịu, chúng lấy dùi sắt nung đỏ dí vào người, rồi vơ vét sạch của cải trong nhà mang đi. Mỗ nói với người ta rằng "Ta không biết bị đốt da thịt khổ đến như thế". Mỗ căm hờn bọn cướp, tình nguyện gia nhập đội lính đi tróc nã, bắt được bọn cướp nào trong huyện cũng giết hết, khi bắt được bọn đã cướp nhà mình, cũng lấy dùi sắt nung đỏ đốt da thịt chúng.
Huyện ta có tên Ất nhà nghèo túng. Cuối năm trong nhà hết gạo, trên người không có được tấm áo nào lành lặn, tự nghĩ không biết lấy gì mà sống. Bèn giấu vợ, lén vác gậy ra rình trong khu mộ ngoài đồng, chờ có kẻ nào đi ngang một mình thì ra cướp. Rình rập rất lâu, nhìn xa xa chẳng thấy bóng một ai, mà gió lạnh thấu xương, chịu không nổi đã toan bỏ về. Chờ thấy một người ì ạch đi tới, mừng thầm đợi lúc tới gần bèn nhảy xổ ra. Thì ra là một ông già đeo cái túi, đứng lại bên đường năn nỉ với Ất rằng "Trên người không có vật gì đáng tiền, nhà hết gạo vừa qua vay con rể được năm đấu gạo này mà thôi". Ất cướp túi gạo, lại muốn lột cả cái áo bông, ông già khóc lóc lạy lục, Ất thương đã già bèn cho đi, vác gạo về nhà.
Vợ hỏi gạo từ đâu ra, ất nói dối là đánh bạc thắng được, nghĩ thầm cách này quá hay. Hôm sau lại ra đi, chờ không bao lâu thấy một người vác gậy tới, cũng núp vào trong khu mộ, ngồi chồm hổm nhìn nhìn ngó ngó. Ất bèn sau mộ đi vòng ra, người ấy giật mình hỏi là ai, đáp là kẻ đi đường. Lại hỏi sao không đi tiếp, Ất đáp "Chờ anh đấy thôi". Người kia cười ngất, hai bên hiểu ý nhau rồi cùng than thở chuyện đói rét. Đến khuya chẳng cướp được gì, Ất muốn về, người kia nói "Anh tuy làm nghề này, nhưng còn ngây thơ lắm. Thôn trước có người gả con gái, bày biện đến khuya, cả nhà chắc đều mỏi mệt. Anh đi với ta, được bao nhiêu thì chia đôi". Ất mừng bèn đi theo. Tới một ngôi nhà nọ, nghe sau vách có tiếng dọn dẹp bát đĩa, biết là người nhà còn thức, cùng nằm xuống chờ. Không bao lâu có người mở cửa ra múc nước, hai người nhân đó lẻn vào, thấy phòng phía bắc còn đèn sáng, các phòng khác đều tối om. Chợt nghe một bà nói "Đại thư à, về phòng phía đông xem lại xem, nữ trang của con cất cả trong rương, có khóa hay quên rồi?". Hai người nghe tiếng cô gái mệt mỏi ậm ừ, mừng thầm lẻn qua phòng phía đông. Mò mẫm trong bóng tối, thấy có cái rương dài, mở náp lên sờ soạng nhưng đáy rương sâu quá không với tới. Người kia bảo Ất "Vào đi", ất nhảy vào vớ được một cái bọc chuyền ra. Người kia hỏi hết chưa, đáp "Hết rồi". Lại nói "Tìm nữa xem", rồi đóng nắp rương cài khóa lại bỏ đi.
Ất bị nhốt ở trong, không ra được. Không bao lâu có ánh đèn lửa tiến vào phòng, soi tới cái rương, rồi nghe tiếng bà già nói ai khóa lại thế nhỉ. Kế đó hai mẹ con tắt đèn đi ngủ, Ất bí quá giả làm tiếng chuột gặm sột soạt, cô gái nói "Trong rương có chuột". Bà già nói "Coi chừng nó cắn nát áo con đấy, mẹ mệt lắm rồi, con dậy xem đi". Cô gái mặc áo trở dậy mở khóa giở nắp rương lên, Ất bất ngờ nhảy ra, cô gái hoảng sợ ngã lăn xuống đất, Ất tuông cửa chạy bạt mạng, tuy không lấy được gì song còn may không bị bắt. Việc nhà người gả con gái bị trộm đồn đãi khắp nơi, có người nghi là Ất. Ất sợ, trốn về phía đông hơn trăm dặm làm đầy tớ cho ngườí ta, hơn một năm lời đồn đãi đã ngớt mới lại về ở với vợ, không dám làm nghề trộm cướp nữa. Đây là theo chính lời y kể lại, vì giống với truyện họ Thân* nên chép phụ vào đây.
*Truyện họ Thân: tức truyện Thân thị, quyển IV.
414. Con Hồ Xấu Xí (Xú Hồ)
Mục sinh là người Trường Sa (tỉnh thành Hồ Nam). Nhà rất nghèo, mùa đông không có áo bông mà mặc. Một đêm đang ngồi buồn bã, thấy có cô gái bước vào, quần áo rực rỡ sang trọng nhưng diện mạo đen đúa xấu xí, cười nói "Không lạnh à?". Sinh sợ hỏi, đáp "Ta là hồ tiên, thương chàng tịch mịch buồn bã nên tới ngủ cùng để chia ấm lạnh". Sinh sợ là hồ, lại ghét vì xấu, la lớn. Cô gái lấy tiền ra đặt lên bàn nói "Nếu chịu thương nhau, xin tặng cái này", sinh mừng rỡ nghe theo. Gần sáng, cô gái dậy nói "Mau đem tiền ta tặng mua chăn màn để cùng ngủ, còn lại cũng đủ mua cái ăn cái mặc, nếu thương nhau mãi thì đừng lo nghèo", rồi đi. Sinh đem chuyện kể lại cho vợ, vợ cũng mừng rỡ, lập tức đi mua vải vóc về may chăn đệm. Tối đến cô gái tới, thấy chăn màn gối nệm đều mới, vui vẻ nói "Nương tử nhà chàng khó nhọc quá!", bèn đem vàng tặng vợ sinh. Từ đó đêm nào cũng tới, lần nào ra về cũng để lại tiền bạc. Hơn một năm, nhà cửa phòng ốc của sinh đều được sửa sang, người nhà trong ngoài đều mặc lụa là gấm vóc, nghiễm nhiên thành giàu có.
Cô gái dần dần đưa tiền ít đi, sinh do đó chán ghét, bèn rước thầy pháp về, vẽ bùa dán ở cửa. Cô gái tới, xé nát lá bùa, vào nhà chỉ mặt sinh nói "Vong ơn phụ nghĩa như chàng là hết mức, nhưng thứ bùa phép ấy thì làm gì được ta? Nếu đã không thích nữa, thì ta tự đi thôi. Có điều tình nghĩa đã tuyệt, nhận cái gì của ta thì phải trả lại đủ số", rồi đột nhiên biến mất. Sinh sợ, đem chuyện kể lại cho thầy pháp, thầy pháp bèn lập đàn trấn yểm. Còn đang bày biện chưa xong chợt ngã lăn xuống đất, máu chảy đầy mặt, nhìn lại thì đã bị cắt mất một tai. Mọi người hoảng sợ chạy tán loạn, thầy pháp cũng ôm tai lủi trốn. Trong nhà chợt có những tảng đá bằng cái chậu ném ầm ầm, cửa nẻo bát đĩa gãy vỡ tan nát cả. Sinh chui vào gầm giường trốn, không dám thở mạnh.
Giây lát thấy cô gái bước vào, ôm một con vật đầu mèo đuôi chó, đặt xuống trước giường, suỵt suỵt nói "Hì hì, cắn vào chân thằng gian đi". Con vật lập tức há miệng, răng nhọn như đao, sinh cả sợ định co người ẩn núp, thì chân tay đã không cựa quậy được nữa. Con vật cắn vào ngón chân sinh nhai nhai, nghe tiếng xương gãy răng rắc. Sinh đau quá van lạy, cô gái nói "Đem hết vàng bạc châu báu ra đây, không được giấu diếm". Sinh vâng dạ, cô gái nói "À à", con vật mới thôi không cắn nữa. Sinh không dậy được, chỉ nói ra nơi cất tiền bạc. Cô gái tự đi lấy, ngoài áo quần và vật trang sức chỉ có hơn hai trăm đồng vàng, thấy còn thiếu, lại nói "Hì hì". Con vật lại cắn, sinh rên rỉ thảm thiết xin tha. Cô gái hẹn sau mười ngày phải trả sáu trăm đồng vàng, sinh vâng dạ, cô gái bèn ôm con vật đi. Hồi lâu người nhà dần dần tụ họp lại, đỡ sinh ra khỏi gầm giường, thì máu ở chân chảy ròng ròng, hai ngón chân dập nát. Nhìn tới trong phòng thì tiền bạc của cải mất sạch, chỉ còn những món đồ rách ngày trước mà thôi, bèn lấy đắp cho sinh nằm. Sinh sợ mười ngày nữa cô gái lại tới, bèn bán đầy tớ cầm ruộng đất lấy đủ số tiền. Đến hẹn quả nhiên cô gái tới, sinh vội đưa tiền ra, cô gái cầm lấy im lặng bỏ đi, từ đó không gặp nữa. Sinh bị thương ở chân, chữa chạy nửa năm mới khỏi, mà nhà lại nghèo khó như xưa.
Hồ tới ở với họ Vu ở thôn bên cạnh. Vu làm ruộng, nhà không đủ ăn, nhưng sau ba năm trở nên giàu có, nạp thóc mua phẩm hàm, nhà cửa treo rèm, quần áo đẹp đẽ, quá nửa là đồ vật trong nhà sinh trước, sinh nhìn thấy song cũng không dám hỏi. Có lần ngẫu nhiên đi ngoài đồng gặp cô gái, sinh quỳ xuống ven đường, cô gái không nói câu nào, nhưng lấy mấy đồng vàng gói trong khăn ném cho rồi quay người bỏ đi. Về sau họ Vu chết sớm, lúc ấy cô gái còn tới nhà, vàng lụa trong nhà đều lấy đi hết. Con trai Vu chờ lúc cô gái tới, lạy nói "Cha đã chết, bọn con trẻ cũng như con, giả như không thương xót chu cấp thì thôi, lại nỡ bắt phải nghèo đói sao?". Cô gái bèn bỏ đi, sau đó không trở lại nữa.
Dị Sử thị nói: Yêu tà tới nhà, nếu giết đi thì cũng là mạnh mẽ, nhưng lại chịu ơn nó, thì không thể phụ bạc ma quỷ được. Đã được giàu sang rồi lại giết người giúp mình giàu sang, thì kẻ hiền hào coi đó là điều sai trái. Nếu trong lòng vốn thật không thích, thì tiền bạc nào làm động tâm được. Nghĩ kẻ kia thấy vàng vui ra mặt, thì cũng chỉ vì lợi mà quên thân làm chuyện nhục nhã, chẳng đáng tiếc sao? Tham của quên thân, rốt lại bị hại.
415. Bói Tiền (Tiền Bốc Vu)
Hạ Thương người huyện Hà Gian (tỉnh Hà Bắc). Cha là Đông Lăng, giàu có xa xỉ, mỗi khi ăn bánh bao thì xé bỏ vỏ bột, vứt bừa đầy đất, người ta thấy thân hình to béo nên gọi là "Thái úy bỏ vỏ". Về già thì nghèo mạt, ngày không đủ hai bữa cơm, hai cánh tay tóp lại, da chảy xệ xuống lùng nhùng như cái túi, người ta lại gọi là "Nhà sư khuyến hóa", ý nói là như khoác cái túi vậy. Lúc sắp chết dặn Thương rằng "Ta lúc trước phung phí của trời, làm trời nổi giận nên tới nỗi đói rét mà chết. Con nên tiếc phúc mà cố gắng, chuộc tội cho cha. Thương tuân theo lời trối trăn, thành thực chất phác không hai, cày ruộng nuôi thân, người làng đều yêu mến nể vì. Có phú ông Mỗ thương Thương nghèo bèn cho mượn tlền làm vốn bảo đi buôn. Thương thua lỗ mất sạch vốn, thẹn không thể đền được, xin làm đầy tớ để trả, phú ông không chịu. Thương áy náy, bán hết điền sản đem tiền trả. Phú ông hỏi biết rõ chuyện càng thương hơn, ép phải về chuộc lại điền sản, lại giúp thêm rất nhiều tiền cho đi buôn tiếp.
Thương chối từ nói "Mười mấy lượng vàng trước còn chưa đền được, chẳng lẽ lại còn mang nợ để kiếp sau làm lừa ngựa trả ơn ư?". Phú ông bèn gọi người khác cùng đi buôn với Thương, vài tháng trở về cũng có lãi chút ít, phú ông không lấy, bảo cứ lấy đó làm vốn buôn tiếp. Hơn một năm thì vốn liếng nhiều lên, mua hàng đầy xe trở về, qua sông bị đắm thuyền, hàng hóa mất hết. Về tính lại phần mình thì tạm đủ để đền, bèn nói với người bạn buôn rằng "Trời bắt ta nghèo, ai mà cứu được? Đây đều là ta làm lụy cho ông cả", rồi tính sổ giao hết hàng cho người ấy, tay không trở về. Phú ông lại ép đi buôn nữa, nhưng Thương không chịu, chỉ cày ruộng nuôi thân như cũ, thường than rằng "Người ta sinh ra ở đời đều được hưởng phúc vài năm, sao ta lại vất vả thế này?". Gặp lúc có người thầy bói ở nơi khác tới, chuyên bói bằng tiền, biết rõ số mạng người ta, Thương bèn kính cẩn tìm tới.
Thầy bói là một bà già, nhà cửa phòng ốc sạch sẽ, giữa đặt bàn thờ thần, khói hương nghi ngút. Thương vào vái lạy, bà ta bèn đòi trả tiền công trước. Thương đưa ra một trăm đồng tiền, bà ta bỏ cả vào cái thùng gỗ, cầm lấy quỳ xuống trước bàn thờ thần lắc vang, dáng như cầu khấn. Kế đứng dậy dốc tiền vào tay, rồi bày theo thứ tự lên trên bàn. Lối bói này lấy đồng tiền ngửa là rủi, sấp là may, mà năm mươi tám đồng đầu tiên đều ngửa, từ đó trở đi đều là sấp. Bà ta bèn hỏi tuổi tác, Thương đáp là hai mươi tám. Bà ta lắc đầu nói "Còn sớm quá. Quan nhân hiện đang trong vận của ông cha chứ chưa qua vận của bản thân, phải đến năm mươi tám tuổi đến vận của bản thân, mới như ý được". Thương hỏi thế nào là vận của ông cha, bà ta đáp "Ông cha làm điều lành, phúc đức chưa hết thì con cháu được hưởng, ông cha có điều không hay, tai họa chưa hết thì con cháu phải gánh chịu. Thương bấm đốt tay nói "Ba mươi năm nữa thì ta đã già sắp xuống lỗ mất rồi". Bà ta nói "Trước năm năm mươi tám tuổi cũng có năm năm giao vận, làm ăn tạm được, không tới nỗi đói rét. Năm năm mươi tám tuổi sẽ có món tiền lớn tự tới, chẳng cần tìm kiếm. Quan nhân cả đời không làm điểu lầm lỗi, kiếp sau sẽ được hưởng thụ không hết".
Thương chào người thầy bói ra về, nửa tin nửa ngờ. Nhưng vẫn giữ phận nghèo, không dám mong cầu gì, về sau đến năm năm mươi ba tuổi thì nghiệm ra thấy đúng. Mùa xuân năm ấy vào đầu vụ lúa Thương bị bệnh không cày cấy gì được, đến khi hết bệnh thì trời đại hạn, lúa mạ cháy khô, gần vào thu mới mưa, nhà không còn gì ăn, có vài mẫu ruộng phải trồng bắp cả. Kế đó lại hạn hán, lúa thu chết một nửa, chỉ có bắp không bị gì, sau lại gặp mưa lớn, nên Thương thu hoạch được rất nhiều. Mùa xuân năm sau đói lớn, nhưng nhờ có bắp nên nhà đủ ăn, Thương vì thế tin lời người thầy bói, tới phú ông mượn tiền buôn bán nhì nhằng cũng được lời chút ít. Có người khuyên nên buôn lớn, Thương không chịu. Đến năm năm mươi bảy tuổi ngẫu nhiên cuốc đất ở chân tường trồng rau, đào được cái chảo sắt, kéo ra thì hơi trắng xông lên lóa mắt, Thương sợ không dám giở lên. Lát sau hơi trắng tan hết, thấy là một vò bạc đầy, vợ chồng cùng vần vào nhà, cân lên được một ngàn ba trăm hai mươi lăm lượng, bàn thầm với nhau rằng bà thầy bói nói cũng còn sai chút ít. Có người đàn bà láng giềng qua nhà Thương nhìn trộm thấy bạc, về nói với chồng, người chồng chị ta ghen ghét bèn đi báo quan. Quan huyện là người rất tham lam, bèn bắt Thương đòi lấy tiền. Vợ Thương muốn giấu bớt một nửa, Thương nói "Của cải bỗng dưng mà có, giữ lại chỉ chuốc họa", bèn nộp hết. Quan huyện ngờ là còn giấu diếm, lại đòi nộp cả cái vò đựng, đổ bạc vào trở lại thấy đầy bèn thả Thương về.
Không bao lâu viên quan huyện được thăng làm Đồng Tri phủ Nam Xương (tỉnh Giang Tô), qua năm sau Thương đi buôn tới Nam Xương thì viên quan đã chết, vợ con sắp về quê, bán hết các vật cồng kềnh nặng nề. Trong đó có một thùng dầu rất lớn, Thương bèn mua chở về. Tới nhà thì cái thùng bị nứt, bèn rót dầu sang vò khác, thấy có hai nén bạc, thò tay vào thùng mò thử thì đều là bạc, xem lại đủ cả số bạc trước đó Thương đào được. Thương nhờ vậy giàu phất lên, rất hay giúp đỡ kẻ nghèo, không hề bỏn xẻn. Vợ khuyên nên dành dụm để lại cho con cháu, Thương nói "Giúp đỡ người ta như thế là dành dụm để lại cho con cháu đấy". Người láng giềng tố cáo Thương ngày trước sa sút, nghèo khó đến nỗi phải đi ăn xin, cũng muốn nhờ vả Thương nhưng xấu hổ không dám tới. Thương nghe được gọi qua nói "Chuyện ngày trước là số phận của ta phải thế, nên quỷ thần mượn tay anh để làm hại thôi, anh có lỗi gì đâu!", rồi chu cấp cho, người láng giềng cảm động òa khóc. Sau Thương thọ đến tám mươi tuổi, con cháu thừa kế, mấy đời không suy.
Dị Sử thị nói: Xa xỉ quá đáng thì dẫu là bậc vương hầu cũng không nên, huống chi là kẻ thứ nhân ư? Kẻ kia lúc sống thì phung phí của trời, lúc chết thì không có miếng cơm trong miệng, thật đáng thương thay! May là lúc chết còn có lời nói hay, người con lại có thể sửa cái lỗi lầm của cha, nên suy bại bảy mươi năm rốt lại còn khá lên được. Nếu không thì cái oan nghiệt của cha làm lụy đến con, con lại làm lụy cháu, không đời đời đi ăn xin thì chưa thôi đâu. Bà thầy bói già kia là người gì mà nói ra được sự bí ẩn của đạo trời, than ôi lạ thay!
416. Diêu An (Diêu An)
Diêu An là người huyện Lâm Thao (tỉnh Cam Túc), dáng người đẹp đẽ. Họ Cung ở cùng làng có con gái tự Lục Nga xinh đẹp lại biết chữ, nhiều người hỏi xin cưới không chịu, thường nói rằng "phải là người dòng dõi đẹp trai như chàng Diêu mới lấy". Diêu nghe được, xô vợ xuống giếng chết, nói là bị rơi xuống, rồi cưới Lục Nga, rất thương yêu nhau. Nhưng vì cô gái đẹp nên Diêu nghi ngờ, cứ đóng chặt cửa giữ rịt trong nhà, nàng đi đâu cũng theo sát. Cô gái về thăm cha mẹ thì giang hai tay áo che chắn từ trong nhà ra tới cửa, nàng lên kiệu rồi thì buông rèm che kín mít, cưỡi ngựa theo sát phía sau, đến chiều tối thì giục về cùng mình. Cô gái bực bội nói "Ta mà lăng nhăng thì ông cấm cản được à?". Diêu có việc đi khỏi nhà thì khóa cửa nhốt nàng trong phòng, cô gái càng chán ghét, bèn chờ lúc Diêu đi vắng, lấy ống khóa khác khóa cổng, cố ý làm Diêu nghi ngờ. Diêu về nhìn thấy cả giận, hỏi ống khóa lạ này ở đâu ra, cô gái bực bội nói không biết, Diêu càng ngờ vực, lại xét nét nhiều hơn.
Một hôm Diêu đi xa về nhà, rình nghe hồi lâu rồi mở khóa vào nhà, sợ có tiếng động nên rón rén vào phòng. Thấy có người đàn ông đội nón lông điêu nằm trên giường, tức giận cầm dao xông vào chém chết. Nhìn kỹ lại thì ra cô gái ngủ trưa sợ lạnh, lấy cái khăn lông điêu trùm kín mặt, cả sợ giẫm chân hối hận. Họ Cung căm giận kiện lên quan, quan bắt Diêu, tước bỏ khăn áo học trò đóng gông giam lại. Diêu phải bán điền sản hối lộ khắp cả trên dưới mới khỏi tội chết. Từ đó tinh thần mê muội, như là đánh mất vật gì. Một hôm đang ngồi một mình, chợt thấy cô gái cùng một người đàn ông mặt đầy râu ria ôm nhau đùa giỡn trên giường, căm giận tìm dao xông tới thì không thấy gì nữa. Ngồi lại chỗ cũ thì lại thấy như thế, tức giận quá cầm dao chém xuống giường, đứt nát cả chăn nệm, rồi tức tối cầm dao lên giường nằm chờ. Lại thấy cô gái đứng trước mặt nhìn mình cười, vùng dậy chém đứt đầu, nhưng nằm xuống lại thì vẫn thấy cô gái đứng đó cười như cũ. Ngày nào cũng thế, không sao chịu nổi, bèn bán hết nhà cửa ruộng vườn, tới ở nơi khác. Một đêm có bọn trộm khoét vách vào, cướp hết tiền bạc mang đi. Từ đó Diêu trở nên bần cùng, căm giận mà chết, người làng phải chôn cất qua loa cho.
Dị Sử thị nói: Yêu người mới mà giết vợ cũ, thật tàn nhẫn quá! Người ta chỉ biết là bị ma mới trả thù, chứ không biết đã bị ma cũ cướp hồn phách rồi. Ô hô, gọt chân cho vừa giày, không bại vong sao được?
417. Ông Hái Rau (Thái Vi Ông)
Lúc nhà Minh mất, binh lửa liên miên, Lưu Chi Sinh ở huyện Ô Lăng (tỉnh Sơn Đông) họp quân vài vạn, định kéo về nam. Chợt có một người đàn ông to béo tới trước cửa trại, mặc áo rách hở cả bụng ra, xin vào gặp chủ soái. Lưu mời vào cùng trò chuyện, lấy làm ưa thích, hỏi tới họ tên thì tự xưng là ông hái rau. Lưu giữ lại giúp việc quân, lấy đao tặng cho, ông ta nói "Ta tự có binh khí tốt, chẳng cần cầm giáo mác". Lưu hỏi binh khí ở đâu, ông ta kéo áo để hở bụng ra, lỗ rốn sâu có thể nhét được con gà vào. Ông ta nín hơi lấy tay đánh vào bụng, da rốn chợt khép lại, rồi thở phì ra thì trong rốn chợt lộ ra đốc kiếm, cầm lấy rút ra thì kiếm bén ngót sáng loáng như sương. Lưu cả kinh hỏi "Chỉ có thế thôi à?", ông ta cười chỉ vào bụng nói "Đây là kho võ khí, cái gì lại không có". Lưu bảo lấy cung tên ra xem, ông ta lại làm như trước, lấy ra một chiếc cung, lại nín hơi lần nữa thì một mũi tên rơi xuống, lấy bao nhiêu cũng có. Đến khi cắm kiếm vào rốn, thì không thấy võ khí đâu nữa. Lưu phục là thần kỳ, cùng ăn cùng ngủ, vô cùng kính trọng.
Lúc ấy trong dinh hiệu lệnh tuy nghiêm, nhưng quân lính ô hợp, thỉnh thoảng lại ra ngoài cướp bóc. Ông ta nói "Quân sĩ quý nhất là phải có kỷ luật, nay ông chỉ huy mấy vạn người, nếu không làm cho họ vâng lệnh được thì đó con đường bại vong đấy. Lưu khen lời ấy, lập tức tập hợp bộ ngũ, kiểm soát doanh trại, có kẻ nào cướp bóc của cải, bắt ép phụ nữ đều chém đầu thị chúng, quân sĩ giữ kỷ luật nghiêm hơn nhưng rốt lại vẫn không dứt được thói xấu. Ông hái rau lại thường thình lình cưỡi ngựa đi chơi trong doanh trại, nhĩmg tướng ác quân dữ tự nhiên đứt đầu ngã xuống không biết vì sao, mọi người đều ngờ là do ông ta. Trước kia ông ta dâng kế sách giữ nghiêm quân luật, quân sĩ đã vừa sợ vừa ghét, đến lúc ấy lại càng căm tức.
Các tướng đứng đầu bộ ngũ bèn gièm pha với Lưu rằng "Ông hái rau dùng yêu thuật. Các bậc danh tướng xưa nay chỉ nghe nói là dùng trí để cầm quân chứ không nghe là dùng thuật. Cái lũ dùng bùa phép lừa người ấy rốt cuộc cũng bị diệt vong. Nay tướng sĩ vô tội thỉnh thoảng lại tự nhiên bị rụng đầu, lòng người khiếp sợ lắm. Tướng quân ăn ở cùng y, cũng rất nguy hiểm, chẳng bằng giết đi". Lưu nghe lời ấy, bèn bàn với các tướng chờ lúc ông ta ngủ mà giết. Sai người rình, thấy ông ta trật áo hở bụng nằm ngủ, ngáy to như sấm. Mọi người cả mừng, đem quân vây chặt bên ngoài, hai người cầm đao bước vào chặt đứt đầu ông ta. Nhưng khi giở đao lên thì đầu lại nối lại vào thân như cũ cả sợ bèn chém vào bụng. Bụng ông đứt ra mà không chảy máu, bên trong giáo mác tua tủa chĩa ra nhọn hoắt. Mọi người càng sợ, không dám tới gần, cứ đứng xa xa đâm chém. Chợt cung nỏ trong bụng ông ta bắn ra ào ào, mấy người bị trúng tên. Mọi người khiếp hãi chạy tan, tới bẩm Lưu. Lưu vội vàng tới thì ông ta đã biến mất.
418. Oan Nghiệt Bài Thơ (Thi Nghiệt)
Phạm Tiểu Sơn người huyện Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông) làm nghề buôn bút, đi buôn vắng nhà. Vào tháng tư, vợ là Hạ thị đêm ngủ một mình bị cướp giết chết. Đêm ấy có mưa nhỏ, trên mặt đất còn rơi lại một chếc quạt đề thơ của Vương Thạnh tặng Ngô Phỉ Khanh. Không biết Thạnh là ai, còn Ngô là một người giàu có ở huyện Ích Đô (tỉnh Sơn Đông), cùng làng với Phạm, thường ngày vẫn làm những việc khinh bạc nên xóm làng đều chắc là Ngô. Quận huyện bắt lên tra hỏi, Ngô vẫn một mực không nhận, bị tra khảo nặng nề rồi kết án. Tra đi xét lại, trải hơn mười vị quan cũng không ai nói khác. Ngô cũng nghĩ số mình ắt chết bèn dặn vợ dốc hết của nhà ra trợ giúp những người cô đơn nghèo khổ. Ai hướng vào cổng niệm Phật một ngàn câu thì được quần bông, niệm một vạn câu thì được áo bông, nên những kẻ ăn xin kéo đến đông như chợ, tiếng niệm Phật vang xa hơn chục dặm. Nhà vì vậy nghèo đi rất nhanh, hàng ngày cứ phải bán ruộng đất để đãi khách. Ngô lại hối lộ người coi ngục nhờ ngầm mua giùm thuốc độc.
Đêm nằm mơ thấy thần nói "Ngươi chớ vội chết, hôm trước ở ngoài hung thì nay bên trong cát rồi!". Ngủ lại vẫn nằm mơ như thế, vì vậy không quyết tự tử nữa. Không bao lâu tiên sinh Chu Nguyên Lượng đi tuần sát tới, xét lại án tù, tới Ngô thì có vẻ nghĩ ngợi, nhân hỏi Ngô giết người có bằng chứng nào không, Phạm thưa rằng có cái quạt ông xem kỹ cái quạt rồi hỏi Vương Thạnh là ai, mọi người đều thưa là không biết. Ông lấy án văn xem kỹ lại một lượt rồi lập tức ra lệnh tháo gông cùm cho Ngô, cho chuyển từ nhà ngục ra nhà kho. Phạm cố biện luận, ông tức giận nói "Ngươi muốn giết oan một người cho xong chuyện hay muốn tìm ra kẻ thù mới cam lòng". Mọi người ngờ là ông riêng tây với Ngô nhưng không ai dám nói. Ông bèn ném thẻ bài đỏ sai đi bắt ngay người chủ quán nọ ở Nam Quách. Chủ quán sợ hãi không biết vì sao, tới thì ông hỏi "Trên vách quán ngươi có bài thơ của Lý Tú người huyện Đông Quan (tỉnh Sơn Đông), viết lúc nào vậy?". Chủ quán thưa "Năm trước quan Đốc học về ghé ngang, có hai ba người Tú tài uống rượu say đề thơ, không biết họ ở làng nào".
Ông sai nha dịch tới huyện Nhật Chiếu (tỉnh Sơn Đông) bắt Lý Tú. Mấy hôm sau Tú tới, ông giận dữ hỏi "Đã là Tú tài, sao còn mưu giết người?". Tú dập đầu kinh ngạc, chỉ nói là không hề làm chuyện ấy. Ông ném cái quạt xuống bảo Tú xem rồi nói "Rõ ràng là thơ của ngươi, sau dám bịa đặt đổ cho Vương Thạnh!". Tú xem kỹ rồi thưa "Thơ thì đúng do ta làm, nhưng chữ thì thật không phải do ta viết", ông nói "Đã biết thơ của ngươi thì ắt là bạn ngươi, vậy ai viết chữ?". Tú thưa "Nét chữ giống như của Vương Tá ở huyện Nghi (tỉnh Sơn Đông)". Ông bèn sai bắt Vương Tá, Tá tới, ông cũng quát hỏi như lúc hỏi Tú. Tá nói "Ấy là do người lái buôn sát ở huyện Ích Đô là Trương Thành nhờ ta viết, y là em họ Vương Thạnh". Ông nói "Thằng cướp ở đây rồi!". Cho bắt Thành tới, vừa tra hỏi đã nhận tội ngay.
Trước là Thành trộm thấy Hạ thị đẹp, muốn khêu gợi nhưng sợ không xong, mới nghĩ cách giả danh Ngô thì ắt mọi người đều tin nên mới làm giả chiếc quạt của Ngô cầm theo, nếu được thì tự nhận là mình, không được thì đổ cho Ngô, nhưng thực lòng không định giết người. Y leo tường vào nhà cưỡng bức người đàn bà, người đàn bà ở nhà một mình nên thường để sẵn dao tự vệ, lúc tỉnh giấc nắm áo Thành rồi rút dao vùng dậy. Thành hoảng sợ giật dao, nhưng người đàn bà cứ ra sức giữ chặt lấy hắn, lại kêu ầm lên, Thành cùng đường nên đâm chết rồi vứt chiếc quạt lại bỏ đi. Vụ án oan khuất ba năm chỉ một buổi mà xử xong, ai cũng ca ngọi ông sáng suốt như thần.
Ngô lúc bấy giờ mới sực hiểu lời thần nói "bên trong cát" là chữ Chu* song vẫn không hiểu vì sao ông Chu biết mình oan. Sau có một người thân hào ở huyện gặp dịp hỏi, ông cười đáp "Điều ấy dễ biết lắm! Đọc kỹ văn án thì Hạ thị bị giết vào thượng tuần tháng tư. Đêm ấy mưa phùn, khí trời còn lạnh, quạt là thứ không cần thiết, thủ phạm há vào lúc gấp rút còn mang theo cho bận thêm sao? Rõ ràng là nhằm giá họa vậy. Trước đây ta trú mưa ở Nam Quách, thấy có bài thơ đề trên vách quán lời lẽ tương tự bài thơ trên chiếc quạt nên đoán lầm là Lý sinh, quả nhân đó mà tìm ra tên cướp thật, cũng là may thôi", người nghe chuyện đều thán phục.
* "Bên trong cát" là chữ Chu: trong Hán tự, chữ "Chu" có phần bên trong là chữ "Cát" đây ý nói Ngô Phỉ Khanh may mắn gặp được ông Chu Nguyên Lượng.
Dị Sử thị nói: Việc trong thiên hạ nếu biết tới nơi tới chốn, thì từ chỗ không có cũng có thể thành có mà hữu dụng. Văn chương thơ phú là cái làm đẹp cho nước, tiên sinh lấy đó xem xét kẻ sĩ trong thiên hạ, người ta đều ca ngợi, há chẳng phải là tới nơi tới chốn sao. Nhưng chẳng ai nói tới việc đem đạo xem xét kẻ sĩ mà xử án. Kinh Dịch nói "Biết cơ là thần" tiên sinh là người như thế vậy.
419. Mao Đại Phúc (Mao Đại Phúc)
Mao Đại Phúc ở huyện Thái Hàng (tỉnh Sơn Đông) làm nghề trị bệnh ghẻ lở. Một đêm chữa bệnh về, gặp một con sói ngậm cái bọc vải nhả xuống rồi lui lại ngồi bên đường. Mao nhặt lên xem, thấy trong cái bọc có mấy món đồ trang sức bằng vàng. Đang còn lạ lùng thì con sói đã nhảy cỡn tới trước mặt, cắn nhẹ vào áo kéo rồi lại nhả ra bỏ đi. Mao bước đi thì nó lại cắn áo kéo, thấy ý tứ không có vẻ gì là hung dữ bèn đi theo. Tới cửa hang thì thấy một con sói bệnh nằm, trên đầu có một vết loét to giòi bọ lúc nhúc. Mao hiểu ra, bèn cắt bỏ hết thịt thối, rắc thuốc cho nó rồi về. Trời đã tối, con sói tiễn ra tới ba bốn dặm, chợt thấy có mấy con sói kéo tới gầm thét định cắn xé, Mao sợ lắm. Con sói kia vội xông vào đám sói như kể lại chuyện, đám sói tan đi, Mao bèn trở về. Trước đó trong huyện có người đi buôn bạc là Ninh Thái bị cướp giết trên đường, không sao tìm ra thủ phạm. Gặp lúc Mao bán các vật trang sức, bị vợ Ninh bắt gặp, kêu người trói lại dắt lên quan. Mao kể lại mọi chuyện, quan không tin, sai đóng gông. Mao oan ức mà không biết làm sao giải bày, chỉ xin cho dắt đi để hỏi sói. Quan sai hai người lính áp giải Mao vào núi, tới thẳng chỗ hang sói. Gặp lúc sói chưa về, chờ đến tối cũng không thấy đâu, ba người trở về. Được nửa đường thì gặp hai con sói, một con còn cái sẹo lớn trên đầu.
Mao nhận ra bèn vái khấn rằng "Trước đây được tặng vật quý, nay lại vì thế mà bị bắt bớ, nếu không giải oan cho, thì lần này ta về chỉ có nước chết mà thôi". Sói thấy Mao bị trói, tức giận xông lại, hai người lính rút dao chĩa ra, sói chúi mũi xuống đất hú lên. Hú được hai ba tiếng thì cả trăm con sói trong núi đổ tới vây chặt, hai người lính hoảng sợ. Con sói chen lên nhe răng cắn dây trói, hai người lính hiểu ý vội cởi trói cho Mao, bầy sói mới tan đi. Về huyện bẩm lại mọi chuyện, quan huyện lấy làm lạ nhưng cũng chưa thả Mao ra. Mấy ngày sau, quan vi hành trên đường, thấy một con sói ngậm chiếc giày rách vứt giữa đường. Quan cũng chưa lấy làm lạ, đi qua rồi thì con sói lại ngậm chiếc giày chạy lên phía trước đặt xuống. Quan sai lính hầu nhặt lấy, con sói bèn bỏ đi. Quan về sai người ngầm tìm chủ nhân chiếc giày, có người đồn rằng Tùng Tân ở thôn nọ bị một con sói đuổi riết cướp lấy giày mang đi, quan bèn sai bắt, giải lên nhận giày, thì đúng là giày của Tân. Quan ngờ ràng Tân là kẻ giết Ninh, bèn tra hỏi quả đúng. Đại khái là Tân giết Ninh cướp lấy món tiền lớn, nhưng dưới đáy túi Ninh còn sót mấy món trang sức, bị sói tha đi.
Trước có một bà mụ đi đỡ đẻ về, gặp một con sói chặn đường cắn áo như muốn mời thỉnh, bà ta đi theo. Thấy có một con sói cái đang đẻ chưa được bà ta bèn tới đỡ giúp, xong rồi con sói đực để bà ta về. Sáng hôm sau thấy nó tha một con nai tới đặt ở sân. Mới biết là chuyện như của Mao, từ xưa đã có vậy.
420. Thần Làm Mưa Đá (Bốc Thần)
Thái sử Đường Tế Vũ qua huyện Nhật Chiêu (tỉnh Sơn Đông) viếng đám tang họ An, trên đường đi ngang đền thờ Thần làm mưa đá Lý Tả Xa, bèn ghé vào chơi. Trước đền có cái ao nước trong leo lẻo, có vài con cá đỏ bơi lội tung tăng, trong có một con vẫy đuôi đớp bọt trên mặt nước, thấy người không hề tỏ vẻ sợ hãi. Thái sử nhặt viên đá nhỏ định ném đùa, đạo sĩ bên cạnh vội ngăn lại bảo đừng ném. Thái sư hỏi vì sao, đạo sĩ đáp "Tôm cá trong ao đều là rồng, xúc phạm sẽ có mưa đá". Thái sử cười là theo đuôi những người tin nhảm, không nghe lời can, cứ ném đá vào con cá. Đến khi ra xe lên đường, thấy có đám mây đen tròn như cái lọng đuổi theo xe, kế có mưa đá ào ào rơi xuống, to như quả trứng, đi hơn một dặm mới tạnh. Em Thái sử là Lương Vũ đi sau chỉ cách một tầm tên, lát sau lên tới gặp nhau hỏi chuyện, thì chẳng thấy có mưa đá gì cả. Hỏi những người đi trước Thái sử cũng thế. Thái sử cười nói "Chẳng lẽ đó là Quảng Vũ quân* tác quái à?", nhưng cũng chưa lấy làm lạ lắm.
*Quảng Vũ quân: tức Lý Tả Xa, được phong là Quảng Vũ quân của nước Triệu thời Hán Sở tranh hùng.
Ngoài thôn họ An có đền thờ Quan Đế, có người buôn dạo vừa đặt gánh xuống ngoài cửa, vứt bỏ quang gánh rảo bước vào đền, rút thanh đại đao trên giá múa tít, nói "Ta là Lý Tả Xa đây. Sáng mai sẽ xin theo hầu Thái sử họ Đường ở huyện Truy Xuyên đi đưa đám, kính báo cho chủ nhân biết trước". Nói mấy lượt như thế thì tỉnh lại, không nhớ rằng mình vừa nói gì, cũng không biết Thái sử họ Đường là ai. Nhà họ An nghe chuyện cả sợ, thôn cách đền thần hơn bốn mươi dặm cũng vội vàng sắm sửa lễ vật tới cầu khẩn xin thương cho, không dám làm phiền xa giá. Thái sử lấy làm lạ về việc quá tin tưởng như thế bèn hỏi, chủ nhân đáp rằng Thần làm mưa đá rất linh thiêng, thường mượn người sống để nhắn lời, điều gì cũng ứng nghiệm. Nếu không tới cầu khấn để xin thần bỏ qua, sáng mai đám tang sẽ gặp mưa đá ngay.
Dị Sử thị nói: Quảng Vũ quân lúc sinh thời cũng là hạng người quen tính việc lớn. Dù là làm Thần làm mưa đá ở Sơn Đông cũng có lẽ không chịu ẩn nhẫn, nên mới nhận mệnh ở trời. Nhưng đã làm thần rồi, thì cần gì phải tỏ ra linh dị chứ? Có lẽ Thái sử là người văn chương đạo nghĩa, trời người cùng khâm phục đã lâu, nên quỷ thần vì vậy muốn được bậc quân tử tin tưởng chăng?
421. Ông Lý Tám Vò (Lý Bát Hàng)
Giám sinh Lý Nguyệt Sinh là con thứ của ông Lý. Ông rất giàu, dùng vò để đựng vàng, người làng gọi là Bát hàng (Tám vò). Lúc ông bệnh nặng gọi con tới chia gia tài, con trưởng được tám phần, con thứ được hai phần, Nguyệt Sinh không giấu được vẻ thất vọng. Ông nói "Ta không phải là thương đứa này ghét đứa khác đâu, còn có vàng chôn chỗ khác, chờ lúc nào không có nhiều người sẽ nói cho con biết, đừng nóng ruột". Qua vài hôm, ông chỉ còn thoi thóp, Nguyệt Sinh sợ ông qua đời lúc nào không biết, bèn chờ lúc vắng người tới cạnh giường hỏi khẽ. Ông đáp "Đời người ta sung sướng hay khổ cực đều có số cả rồi, ngươi có phúc có được vợ hiền, thì không nên cho thêm nhiều vàng, chỉ thêm hoạn nạn thôi". Đại khái Nguyệt Sinh có vợ họ Xa, rất hiền thục, có đức độ như Hoàn Thiếu quân, Mạnh Quang* nên ông mới nói thế. Nguyệt Sinh cứ nài nỉ hỏi mãi, ông tức giận nói "Ngươi còn phải vất vả hai mươi năm nữa, dù có cho ngàn vàng cũng sẽ hết sạch, nếu chưa đến lúc cùng đường thì đừng trông mong ta sẽ cho thêm". Nguyệt Sinh là người hiếu đễ thuần hậu nên cũng không dám nói gì nữa, chỉ mong cho cha khỏe lại thì có lúc sẽ nói ra.
*Hoàn Thiếu quân, Mạnh Quang: Hoàn Thiếu quân là vợ Bào Tuyên, Mạnh Quang là vợ Lương Hồng, cùng là người thời Hán, đều nổi tiếng là vợ hiền.
Không bao lâu, ông Lý bệnh càng nặng, kế chết. May là người anh hiền, nên việc chôn cất không hề so đo với Nguyệt Sinh. Nhưng Nguyệt Sinh tính tình phóng khoáng, không tính toán lặt vặt, lại hiếu khách hay rượu. Có ngày bắt vợ làm cơm dọn rượu ba bốn lần đãi khách, lại không biết coi sóc người nhà làm ăn. Bọn vô lại trong làng thấy hiền lành nhu nhược cứ xúm vào bòn rút, được vài năm dần dần sa sút, song những lúc ngặt nghèo lại sang nhờ vả anh nên cũng không tới nỗi cùng khốn. Không bao lâu người anh già bệnh chết, không còn ai để nương tựa, tới nỗi trong nhà hết cả thóc ăn, cứ mùa xuân vay mùa thu trả, gặt xong trả nợ là hết sạch, từ đó cứ bán ruộng ăn dần. Được vài năm thì con trai lớn và vợ nối nhau chết, lại càng cực khổ. Kế tục huyền vói vợ người buôn dê họ Từ nên được nhờ vả đôi chút, song tính Từ cứng rắn nóng nảy, hàng ngày vẫn xỉa xói làm nhục, Nguyệt Sinh vì vậy thậm chí không dám đi lại thăm hỏi với bè bạn.
Chợt một đêm nằm mơ thấy cha về nói "Nay thì ngươi đã đến lúc có thể nói là cùng đường rồi, trước ta có nói sẽ cho ngươi số vàng còn chôn, bây giờ thì được rồi". Nguyệt Sinh hỏi chỗ, ông Lý đáp "Sáng mai ta chỉ cho". Nguyệt Sinh tỉnh dậy lấy làm lạ, còn nghĩ rằng vì mình nghèo mong muốn có tiền nên sinh ra mộng mị hão huyền. Hôm sau giẫy cỏ ở chân tường, cuốc được hủ vàng lớn, mới sực hiểu ra rằng trước kia ông Lý nói chờ lúc không có nhiều người, là ý nói chờ lúc người thân đã chết một nửa vậy.
Dị Sử thị nói: Nguyệt Sinh là bạn nghèo với ta, tính tình thành thực chất phác không có chút nào là giả trá, anh em ta giao du với ông rất thân, chuyện vui buồn đều có nhau. Mấy năm nay chỉ ở cách nhau hơn mười dặm mà không được tin sống chết ra sao, mỗi lần ta đi ngang cũng không dám ghé thăm, thì đủ biết Nguyệt Sinh rơi vào hoàn cảnh khổ cực tới mức nào rồi. Chợt nghe ông bất ngờ có được ngàn vàng, bất giác vỗ tay reo mừng cho ông. Than ôi! ông Lý lúc lâm chung nói mệnh, trước đây vẫn được nghe kể, nhưng vẫn không nghĩ rằng đó là lời sấm báo trước, hay ông là thần chăng?
422. Nhà Đò Bến Lão Long (Lão Long Thuyền Hộ)
Lúc ông Chu Huy Ấm làm Tổng chế Việt Đông (tỉnh Quảng Đông), có nhiều người buôn bán đi đường tới kêu về việc người chết không có nguyên do. Cứ có việc người đi ngàn dặm bị chết mất xác, thậm chí có mấy người cùng đi mà không ai có tin tức gì, đơn từ chất chồng không sao tra xét được. Buổi đầu nhận đơn các quan địa phương còn phát công văn sai tìm bắt hung thủ, nhưng về sau đơn bẩm ngày càng nhiều, cũng đành để đó không hỏi tới nữa. Ông Chu tới nơi làm quan, xem xét đơn từ đọng lại, trong đó những người bị coi là đã chết có tới hàng trăm, nhưng người chết trên ngàn dặm không ai tố cáo thì không biết là còn bao nhiêu nữa. Ông kinh sợ đau xót, lo lắng bỏ ăn bỏ ngủ, hỏi han khắp liêu thuộc tìm ra một cách. Rồi đó ông ăn chay tắm gội, đốt hịch văn cáo với thần Thành hoàng, kế đó vào trai phòng chờ.
Trong lúc mơ màng thấy có một viên quan cài trâm cầm hốt bước vào. Ông hỏi là quan ở đâu, viên quan ấy đáp là thần Thành hoàng họ Lưu. Ông hỏi là định nói gì, viên quan ấy đáp "Mái tóc rũ tuyết, Chân trời sinh mây, Gỗ trôi nước nọ, Cửa mở tường này", nói xong bước ra. Ông tỉnh dậy nghĩ ngợi không hiểu, trằn trọc tới sáng chợt nghĩ rằng "Mái tóc rũ tuyết là Lão (người già), Chân trời sinh mây là Long (rồng), Gỗ trôi trong nước là Thuyền (chiếc thuyền), Cửa mở trên tường là Hộ (cửa), hợp lại là bốn chữ Lão Long thuyền hộ (Nhà đò bến Lão Long) chăng?". Đại khái ở phía đông bắc tỉnh gọi là Tiểu Lĩnh, Lam Quan, phát nguồn từ bến Lão Long chảy ra tới Nam Hải, những nhà buôn lớn ở tỉnh ngoài đều theo đường ấy vào đất Việt. Ông vội điều động binh lính, ngầm trao mưu kế sai bắt hết những nhà đò ở bến Lão Long, lần lượt bắt được hơn năm mươi người, đều không phải tra khảo đã cúi đầu chịu tội. Đại khái đám cướp này giả danh chở thuê, dụ khách lên thuyền rồi thì hoặc bỏ thuốc, hoặc xông hương cho họ ngất đi rồi mổ bụng nhét đá vào ném xuống nước, rất là thê thảm. Vụ án kết thúc, xa gần người ta đều mừng rỡ, làm thơ đặt vè ca ngợi rất nhiều.
Dị Sử thị nói: Mổ bụng nhận chìm xác, quá sức oan khốc thê thảm, thế mà các quan như tượng gỗ chỉ coi là ghẻ ngứa ngoài da, để đất Việt hơi oan che khuất mặt trời đã lâu. Ông tới nơi thì quỷ thần hiển linh nghe lệnh, nỗi oan trong chậu úp được soi tỏ, sao mà lạ thế? Nhưng ông cũng chẳng phải có ba đầu sáu tay gì, chẳng qua chỉ là tỏ tình thương xót kẻ vô tội dồn lại trong lòng mà được như thế thôi. Nếu cứ nghênh ngang ngồi cao, ra thì kiếm kích bày hàng, vào thì lan xạ xông thơm, oai vệ cho lắm vào thì làm sao có thể cảm thông với quỷ thần được?
423. Tiên Sinh Nguyên Thiếu (Nguyên Thiếu Tiên Sinh)
Tiên sinh Hàn Nguyên Thiếu khi còn là Chư sinh, một hôm thấy một người bước vào phòng nói là chủ nhân mời về dạy học, nhưng không thấy đưa danh thiếp. Hỏi về gia thế nơi chốn người kia chỉ trả lời ậm ừ, nhưng đưa lễ vật mời thầy rất hậu. Tiên sinh ưng thuận, hẹn ngày tới dạy. Đến hẹn quả có chiếc xe tới đón, lối đi quanh co, đường xá rất lạ. Chợt thấy một nơi điện gác, xuống xe vào thấy khí tượng như là phủ đệ của bậc tiên vương. Vào nơi ở, thấy bày đủ rượu thịt mời khách ăn uống một mình chứ không thấy chủ nhân đâu. Tiên sinh ăn uống xong thì công tử ra lạy chào, mười lăm mười sáu tuổi, phong tư anh tuấn hơn người. Làm lễ xong công tử về ở nơi khác, lúc nào học mới tới chỗ thầy. Công tử rất thông minh, nghe giảng qua là hiểu ngay nhưng tiên sinh vì không rõ chủ nhân là ai nên vẫn ngờ vực lo lắng. Chỗ tiên sinh ở có hai đứa tiểu đồng hầu hạ, tiên sinh hỏi han cật vấn đều không nói. Hỏi chủ nhân ở đâu, chúng đáp là bận việc. Bảo dắt tới xem trộm chủ nhân làm việc, chúng đáp là không được, nài nỉ mấy lần chúng mới ưng thuận.
Kế dắt tiên sinh tới một chỗ, nghe có tiếng tra khảo đánh đập, ghé mắt nhìn vào khe cửa thấy một vị vương giả ngồi trên điện, dưới thềm bày đủ núi kiếm vạc dầu, toàn Ià công việc của âm phủ. Tiên sinh hoảng sợ, đang định trở lui thì bên trong đã biết có người, bèn ra lệnh tạm nghỉ. Diêm Vương quát đuổi bọn quỷ tốt lui xuống rồi lớn tiếng gọi hai đứa tiểu đồng, chúng biến sắc nói "Bọn ta vì tiên sinh mà mang họa vào thân rồi!", rồi run rẩy bước vào. Diêm Vương tức giận nói "Sao các người dám dắt người lạ tới nhìn trộm?", rồi ra lệnh phạt đánh roi hai đứa, sai triệu tiên sinh vào nói "Sở dĩ ta không cho ông gặp là vì âm dương khác nẻo. Nay ông đã biết ta là ai, thì khó lòng ở đây được nữa". Rồi đưa vàng bạc tiễn tặng bảo về, lại nói "Ông là bậc văn nhân đứng đầu thiên hạ, nhưng còn long đong chưa thành đạt đâu", kế sai người hầu dong ngựa đưa về. Tiên sinh ngờ mình đã chết, người hầu nói "Làm gì có chuyện ấy, tất cả thức ăn vật dùng của tiên sinh đều là mua trên trần gian đấy, không phải của âm phủ đâu?". Tiên sinh trở về, lận đận vài năm thì đỗ Trạng nguyên, lời Diêm Vương nói đều đúng cả.
424. Chu Sinh (Chu Sinh)
Chu sinh là mạc khách của Tri huyện. Quan có việc đi vắng, phu nhân họ Từ vẫn muốn tới chiêm bái nữ thần Bích Hà Nguyên quân nhưng vì đường xa sai gia nhân đem lễ vật đi thay, sai Chu làm bài văn khấn. Chu làm bài văn biền ngẫu, kể lại hành trạng của phu nhân, có nhiều lời đùa cợt khiếm nhã. Trong có đoạn như "Trồng hoa đào khắp cõi Lạc Dương, xót người cắt áo, Cấy cỏ thơm khắp nơi hoang vắng, thương trái đào thừa" để nói lên tâm sự uất ức của phu nhân* những câu như vậy rất nhiều. Đem bản thảo đưa cho người bạn mạc khách là Lăng sinh xem, Lăng cho là không kính cẩn, khuyên chớ nên dùng nhưng Chu không nghe, cứ đưa người gia nhân mang đi. Không bao lâu Chu chết ở công thự, kế đó người gia nhân cũng chết, ít lâu sau phu nhân họ Từ mắc bệnh sản hậu cũng chết, nhưng mọi người đều chưa lấy làm lạ. Con trai Chu từ kinh đô tới đưa linh cữu cha về đêm nằm ngủ với Lăng sinh, nằm mơ thấy cha khuyên răn rằng "Trong chuyện văn chương chữ nghĩa không thể không thận trọng. Ta không nghe lời ông Lăng nên bị thần giận về tội viết văn sỗ sàng, phải chết yểu mà còn làm lụy cả Từ phu nhân, hại lây cả tới người gia nhân đem bài văn đi tế, sợ không khỏi bị âm phủ trừng phạt". Lúc tỉnh dậy kể lại với Lăng, Lăng cũng nằm mơ thấy thế bèn đọc lại bài văn. Con Chu nghe xong mới biết chuyện, rất kính phục Lăng.
* Trong có đoạn... phu nhân: cắt áo và đào thừa nguyên văn là "đoạn tụ" và "dư đào", lấy tích Hán Ai đế sủng ái Đổng Hiền và Vệ Linh công sủng ái Di Tử Hà, đều là những kẻ mắc bệnh long dương (đàn ông yêu đàn ông). Theo văn cảnh, đây có lẽ chỉ viên Tri huyện thích đàn ông không ngó ngàng gì tới vợ. Xem thêm chú thích truyện Hoàng Cửu Lang, quyển V.
Dị Sử thị nói: Phóng tình múa bút, nghênh ngang tự đắc là chuyện thường của kẻ văn nhân, nhưng sao lại dám đem lời lẽ sỗ sàng khấn cáo với thần minh như vậy chứ! Gã cuồng sinh ngông nghênh không biết gì để tới nỗi bị âm phủ trừng phạt, lại làm cả phu nhân hiền thục lẫn người gia nhân lặn lội ngàn dặm phải chết mà không biết có tội gì, chẳng cũng khiến cho hình luật ở thế gian chia ra thủ phạm tùng phạm trở thành đáng thẹn sao? Oan thay!
425. Lưu Toàn (Lưu Toàn)
Thầy thuốc trâu bò Hầu Mỗ ở huyện Trâu Bình (tỉnh Sơn Đông) mang cơm cho người cày, ra tới đồng thấy một cơn lốc cuộn lên trước mặt. Hầu lập tức lấy chén rót rượu xuống đất khấn khứa, rót mấy chén cơn lốc mới tan đi. Lại có hôm Hầu đi ngang miếu Thành hoàng, rảnh rỗi tạt vào dạo chơi dưới hành lang, thấy trên vách vẽ bức tranh Lưu Toàn dâng bí* hình Lưu Toàn bị cứt chim vương vãi cả lên mắt, bèn nói "Nhơ bẩn thế này làm sao Lưu đại ca chịu được?", rồi lấy móng tay cạy gỡ hết ra.
*Lưu Toàn dâng bí: theo truyền thuyết, vua Đường Thái Tông chết xuống âm phủ, được Phán quan Thôi Giác là bạn thừa tướng Ngụy Trưng trong triều sửa sổ sinh tử giúp cho sống lại, trước lúc ra về có hẹn với Thập điện Dlêm Vương sẽ tặng bí cho âm phủ trồng. Sau khi sống lại, Thái Tông ra bảng tìm người, có người dân là Lưu Toàn tình nguyện tự tử để mang bí xuống biếu Diêm Vương.
Mấy năm sau Hầu mắc bệnh, đang nằm thì thấy có hai người đội mũ đen tới bắt đi giải tới trước một công thự, hạch sách đòi tiền bạc rất khổ. Đang lúc không biết làm sao, chợt bên trong có một người mặc áo xanh bước ra nhìn thấy ngạc nhiên hỏi "Ông Hầu sao lại tới đây?", Hầu bèn kể lại mọi chuyện. Người áo xanh lập tức mắng hai người mũ đen "Đây là Hầu đại gia của các người, sao dám vô lễ như thế?". Hai người mũ đen rối rít vâng dạ, xin lỗi là không biết. Giây lát nghe tiếng trống thúc ầm ầm như sấm sét, người áo xanh nói "Đến phiên hầu buổi sáng rồi". Rồi dẫn Hầu cùng vào bảo đứng dưới thềm dặn "Cứ tạm đứng ở đây, để ta hỏi cho". Rồi lên thềm chỉ tay gọi một viên lại xuống nói chuyện vài câu, viên lại nhìn thấy Hầu chắp tay nói "Hầu đại ca tới rồi đấy à? Việc của ông không có gì lớn đâu chỉ là một con ngựa kiện, hỏi qua một lần sẽ được về thôi".
Lát sau trên thềm gọi tên Hầu, Hầu bước ra quỳ xuống, con ngựa kia cũng quỳ xuống, quan hỏi con ngựa này nói bị ngươi cho uống thuốc mà chết, có đúng hay không?". Hầu thưa "Nó bị bệnh dịch, ta theo đúng cách mà chữa cho, đã khỏi bệnh rồi, cách một ngày sau thì chết, có dính líu gì tới ta đâu?". Con ngựa nói tiếng người, ra sức tranh cãi. Quan giở sổ xem, trong sổ ghi rõ con ngựa phải chết vào ngày tháng năm ấy, tính lại thì đúng khớp, bèn quát "Đó là vì số ngươi đã hết, sao dám vu cáo bậy bạ hả?" rồi thét đuổi nó ra. Lại nói với Hầu rằng "Ông giữ lòng giúp người nên không bị chết đâu", rồi gọi hai người mũ đen vào sai đưa Hầu về. Hai người mũ đen lúc nãy vào đưa Hầu ra, quan lại dặn đi dọc đường phải chăm sóc cho Hầu. Hầu hỏi "Hôm nay ta được đội ơn che chở cho, nhưng nửa đời mới gặp đây là lần đầu, xin ông nói rõ họ tên cho ta cảm tạ". Viên quan áo xanh ấy nói "Ba năm trước ta từ Thái Sơn ra, khát gần chết, may gặp ông ngoài đồng được cho uống mấy chén rượu, đến nay vẫn còn nhớ". Viên lại nói "Ta là Lưu Toàn, trước đây bị chim ỉa vào mắt, xốn xang không sao chịu nổi, được ông gỡ ra cho mới nhìn rõ được. Có điều rượu thịt cõi âm phủ này không đem ra mời khách được, xin chia tay ở đây thôi". Hầu mới chợt hiểu mọi chuyện bèn lên đường. Về tới nhà định giữ hai người áo đen lại khoản đãi, nhưng họ không dám uống cả một hớp nước. Hầu sống lại mới biết đã tắt thở hai ngày hai đêm rồi.
Từ đó càng ra sức làm điều lành, mỗi khi gặp chuyện rắc rối thường rót rượu khấn Lưu Toàn giúp. Về sau Hầu sống đến tám mươi tuổi vẫn còn khỏe mạnh, có thể cởi ngựa phi nước đại. Một hôm đang đi ngoài đường thấy Lưu Toàn cưỡi ngựa tới như sắp đi xa, chắp tay chào hỏi rồi nói "Số ông đã hết rồi, âm phủ đã phát công văn ra, bọn quỷ tốt muốn đi bắt nhưng ta cản không cho. Ông nên về nhà lo hậu sự, sau ba ngày ta sẽ tới đón. Ta đã mua cho ông một chức quan nhỏ đang khuyết dưới âm phủ, cũng không cục khổ đâu, rồi chào đi. Hầu về nhà kể chuyện cho vợ con, mời họ hàng tới từ biệt, sắm sửa đủ quan quách khâm liệm. Chiều tối ngày thứ tư nói với mọi người rằng "Lưu đại ca tới rồi!", rồi nằm vào quan tài mà chết.
426. Hàn Phương (Hàn Phương)
Cuối thời Minh, từ Tế Nam (tỉnh thành Sơn Đông) trở lên mấy châu huyện phía bắc có dịch lớn, nhà nào cũng có người mắc bệnh. Huyện Tế Đông có người nông dân tên Hàn Phương tính rất hiếu thảo, cha mẹ đều mắc bệnh, bèn sắm sửa lễ vật ra miếu thờ Cô Thạch đại phu khóc lóc cầu khẩn. Trên đường về nhà vừa đi vừa khóc, gặp một người áo mũ sạch sẽ hỏi vì sao mà đau thương như thế? Hàn kể lại mọi chuyện, người ấy nói "Thần Cô Thạch không có ở đó, cầu khẩn có ích gì? Ta có một thuật mọn, có thể chỉ cho ông làm thử". Hàn mừng rỡ hỏi tên họ, người ấy nói "Ta không mong được báo đáp, cần gì phải nói tên họ quê quán". Hàn ân cần mời mọc về nhà, người ấy đáp không cần, chỉ dặn cứ về nhà lấy một tờ giấy vàng đặt lên giường người bệnh rồi lớn tiếng nói "Ngày mai ta sẽ tới kinh bẩm cho Nhạc đế biết" thì cha mẹ sẽ hết bệnh.
Hàn sợ không hiệu nghiệm, cứ năn nỉ mời ghé nhà chơi, người ấy nói "Thôi nói thật với ông, ta không phải là người đâu. Tuần hoàn sứ giả dưới âm phủ thấy ta ngay thẳng cẩn thận cho nên giữ chức Thổ địa Nam Hương, thấy ông có hiếu nên chỉ cho cách ấy. Hiện nay Nhạc đế đang lựa chọn trong các hồn ma chết bất đắc kỳ tử, ai là dân có công đức hoặc ngay thẳng không quấy nhiễu người thì được cử làm các thần Thành hoàng Thổ địa. Nay có bệnh dịch là vì những hồn ma bị quân Bắc giết trong quận thành đều muốn tới kinh đô nhanh để nộp đơn nên quấy nhiễu trên đường kiếm tiền lộ phí đấy thôi. Cứ nói là tới kinh bẩm cho Nhạc đế biết ắt chúng sợ hãi, sẽ hết bệnh mà". Hàn rùng mình quỳ xuống ven đường dập đầu lạy tạ, lúc ngẩng lên thì người ấy đã biến mất, ngạc nhiên than thở trở về. Tới nhà làm theo lời thần dạy, quả nhiên cha mẹ đều khỏi bệnh, chỉ cho hàng xóm láng giềng cùng làm, thảy đều hiệu nghiệm.
Dị Sử thị nói: Quấy nhiễu người dọc đường để xin làm thần giúp đỡ người, có khác gì kẻ ruổi ngựa đi mau để dự thi mà không cần thi đỗ đâu! Việc trong thiên hạ phần lớn cũng như thế đấy! Còn nhớ trong khoảng năm Giáp tuất ất hợi, quan lại ra lệnh cho dân lạc quyên thóc lúa, viết sớ dâng lên vua tâu rằng dân đều vui vẻ quyên góp, từ đó các châu huyện cứ chiếu theo số đinh số ruộng mà thu, thôi thúc bắt bớ rất gấp. Lúc ấy bảy huyện phía bắc đều bị lụt mất mùa lớn, quyên góp càng khó khăn. Quan Thái sử họ Đường ở quê ta tình cờ tới huyện Lợi Tân, thấy mười mấy người bị trói giải đi trên đường, hỏi mắc tội gì thì họ đáp "Quan bắt bọn ta lên huyện để truy thu thuế lạc quyên". Dân quê có hiểu hai chữ "lạc quyên" là gì đâu, chỉ cho rằng đó là tên một loại thuế má gì đó mà thôi, thật đáng cười ra nước mắt vậy.
427. Vụ Án Ở Thái Nguyên (Thái Nguyên Ngục)
Ở huyện Thái Nguyên (tỉnh Sơn Tây) có nhà dân, mẹ chồng nàng dâu đều góa chồng. Mẹ chồng đang tuổi trung niên không giữ gìn được, đi lại với một tên vô lại trong làng. Nàng dâu không thích, cứ lén rình núp ở cổng ngũ hiên vách để cản trở. Mẹ chồng thẹn, kiếm cớ đuổi nàng dâu đi. Nàng dâu không chịu đi, căm tức tranh cãi, mẹ chồng càng ghét, lại vu cáo nàng dâu lang chạ, kiện lên quan. Quan hỏi tên họ kẻ gian phu, bà ta nói "Cứ tối tới khuya đi, thật không biết là ai, xin cứ hỏi nó sẽ rõ". Quan gọi nàng dâu lên hỏi, nàng dâu quả biết rõ tên họ kẻ gian phu, nhưng lại nói rằng y tư thông với mẹ chồng, hai bên ra sức cãi vã. Quan sai bắt tên vô lại tới, y lại mồm năm miệng mười nói rằng không tư thông với ai cả, hai mẹ con họ muốn mà không được nên nói bậy để làm nhục y mà thôi. Quan hỏi "Trong thôn có hàng trăm người, sao họ chỉ vu cáo cho riêng ngươi?", rồi sai đánh trượng thật nặng. Tên vô lại van lạy xin tha, nhận là có tư thông với nàng dâu. Quan sai tra khảo, nàng dâu vẫn không chịu nhận, quan đành tha về. Nàng dâu uất hận kiện lên quan tỉnh nhưng cũng vẫn như trước, không sao xử được.
Lúc ấy có Tiến sĩ Tôn Liễu Hạ người quê ta làm Tri huyện Lâm Tấn (tỉnh Sơn Tây), nổi tiếng giỏi xử án, quan trên bèn giao vụ án này cho huyện Lâm Tấn xử. Đôi bên thưa kiện được giải tới, ông hỏi qua hết một lượt, xét rõ rồi bèn sai nha lại chuẩn bị đủ gạch đá dao rựa để ngày mai xử án. Đám nha lại đều ngạc nhiên nói "Hình phạt nặng nề đã có đủ cả gông cùm roi gậy, sao lại còn phải dùng vật khác để xử án?", chẳng ai hiểu nhưng cũng theo lệnh chuẩn bị đầy đủ. Hôm sau ông ra công đường hỏi lại, thấy đã chuẩn bị đầy đủ bèn sai bày hết trên thềm rồi gọi phạm nhân ra, lại hỏi qua một lượt. Kế nói với hai mẹ con rằng "Chuyện này không cần phải xét quá kỹ, tuy chưa biết kẻ dâm phụ là ai song gian phu đã rõ rồi. Gia đình các ngươi vốn có tiếng tốt, chẳng qua nhất thời bị kẻ xấu dụ dỗ, chỉ có y là có tội. Vậy trên thềm có đủ cả gạch đá dao rựa, các người cứ mặc ý lấy mà giết chết y đi". Mẹ chồng nàng dâu đều sợ sệt không dám bước lên, sợ lỡ tay đánh chết người phải đền mạng, ông nói "Đừng sợ, có ta ở đây mà". Lúc ấy hai mẹ con đều bước ra, nhặt đá cùng ném. Nàng dâu căm giận đã lâu, cứ hai tay ôm đá lớn ném, chỉ hận không giết chết được tên vô lại ngay lập tức, còn mẹ chồng chỉ nhặt đá nhỏ ném vào vai vào đùi mà thôi. ông lại bảo cầm dao xông vào chém, bà ta còn ngần ngừ, ông sai dừng lại, nói "Ta đã biết dâm phụ là ai rồi". Sai bắt mẹ chồng tra khảo nặng nề, bà ta khai thật, vụ án kết thúc.
(Ghi thêm). Một lần ông sai nha lại đi thúc thuế, người thiếu thuế đi vắng chỉ có vợ ra thưa bẩm, đám nha lại đòi tiền hối lộ không được, bèn bắt chị ta về. Ông tức giận nói "Đàn ông người ta nhất định sẽ trở về, sao lại bắt vợ người ta?". Rồi phạt roi đám nha lại, thả người đàn bà về, lại ra lệnh cho thợ mộc làm sẵn nhiều cùm tay để chờ lúc cần dùng. Hôm sau cả huyện đồn rằng ông nhân đức, những người thiếu thuế nghe thấy đều bảo vợ ra mặt xin khất, ông sai bắt cùm tay hết giải về. Ta vẫn nói ông Tôn rất có tài, nhưng biết chuyện này rồi lại mừng rằng ông không phải là kẻ nhân đạo nhu nhược.
428. Vụ Án Ở Tân Trịnh (Tân Trịnh Ngục)
Tiến sĩ Thạch Tông Ngọc người huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông) làm Tri huyện Tân Trịnh (tỉnh Hà Nam). Lúc ấy có người khách họ Trương buôn bán xa nhà, bị bệnh muốn về nhưng không cưỡi ngựa đi bộ gì được nên thuê một chiếc xe tay, ôm năm ngàn đồng vàng, nhờ hai người phu đẩy đi. Tới Tân Trịnh, hai người phu xe vào chợ ăn uống, Trương ôm bọc tiền nằm một mình trong xe. Có tên Giáp đi ngang liếc thấy, nhìn chung quanh thấy không có ai bèn giật tiền chạy. Trương không cản được, gượng bệnh vùng dậy đuổi theo. Thấy Giáp chạy vào một thôn, Trương cũng vào theo, thấy Giáp chạy vào một cổng nhà, Trương không dám vào, chỉ đứng ngoài bức tường thấp nhìn vào. Giáp buông bọc tiền xuống quay nhìn thấy có người nhìn trộm, tức giận bắt Trương bảo là giặc cướp, trói giao giải tới ông Thạch, kể lại sự tình. Ông hỏi Trương, Trương kể lể nỗi oan ức, ông cho rằng không có gì làm bằng chứng, đuổi cả ra ngoài. Hai người bước xuống đều nói ông không biết phân rõ trắng đen, ông thản nhiên như không nghe thấy. Sực nhớ Giáp trước đây từng trốn thuế, ông bèn sai nha lại theo đòi ráo riết. Qua một hôm thì Giáp lập tức đem nộp ba lượng bạc. Ông lập tức gọi lên hỏi tiền này ở đâu mà có, Giáp bẩm là bán áo cầm đồ, đều nói rõ cầm bán những gì cho ai để làm bằng chứng.
Ông Thạch sai nha lại xem lại trong những người tới đóng thuế có ai là người cùng làng với Giáp không. Vừa gặp lúc có người láng giềng của Giáp đang ở đó, đám nha lại gọi vào, ông Thạch hỏi "Ngươi đã là hàng xóm với tên Giáp thì ắt biết tiền này của y từ đâu mà có". Người láng giềng đáp không biết, ông nói "Người láng giềng sát bên nhà cũng không biết thì tiền này có chỗ mờ ám rồi". Giáp sợ, đưa mắt nhìn người láng giềng nói "Ta bán vật này cầm vật nọ, chắc anh cũng nghe mà?". Người láng giềng vội nói "phải, phải, có nghe", ông Thạch tức giận nói "Thế này thì ắt ngươi và tên Giáp cùng trộm cướp, không trị tới nơi tới chốn không xong", rồi sai đóng gông tra khảo. Người láng giềng cả sợ bẩm "ta là láng giềng nên không dám chuốc oán với y, bây giờ sắp phải chịu hình phạt, đâu dám sợ sệt gì nữa? Quả đúng là y cướp tiền của họ Trương kia đấy ạ", ông bèn tha cho về. Lúc ấy Trương mất tiền chưa về còn ở đó, ông bèn phạt bắt Giáp trả tiền lại. Những việc xử án của ông Thạch như thế rất nhiều, cũng đủ thấy là người thật tâm lo việc chính sự vậy.
Dị Sử thị nói: Lúc ông Thạch còn là Chư sinh, cứ làm được bài văn nào đưa ra thì người được xem đều chép giấu kín như của báu, mà nhìn tới người thì thấy đường hoàng trang nhã, có phong độ Hàn Phạm* tựa hồ không phải là kẻ chỉ có tài văn thư sổ sách**. Chỉ đứng trong một hàng quan huyện mà nổi tiếng là quan giỏi, cả vùng Hà Nam biết danh, ai nói văn chương chỉ là đẹp đẽ không thiết thực? Vì vậy chép lại để nêu gương cho những kẻ có địa vị vậy.
*Hàn Phạm: tức Hàn Dũ thời Đường và Phạm Trọng Yêm thời Tống, đều là bậc đại thần nổi tiếng văn học.
** Tài văn thư số sách: chỉ tài làm thư lại và các chức quan thấp, chỉ phụ trách những việc nhỏ mọn vụn vặt.
429. Thư Sinh Ở Chiết Đông (Chiết Đông Sinh)
Thư sinh Phòng Mỗ người Chiết Đông (phía đông tỉnh Chiết Giang), làm khách ở đất Thiểm (vùng Thiểm Tây), nghèo không về quê được mở trường dạy học trò, thường khoe rằng mình gan dạ lắm. Một đêm đang cởi trần ngủ, chợt bị một con thú lông lá trên không rơi xuống đập vào đầu thành tiếng, thấy to như con chó, thở phì phì, bốn chân khua khoắng, sợ hãi vùng dậy định chạy. Con thú lấy hai chân trước vồ sinh ngã xuống, sinh sợ quá ngất đi. Hồi lâu thấy có người lấy vật nhọn chọc chọc vào mũi, hắt hơi tỉnh dậy. Thấy trong phòng đèn lửa leo lét, có một cô gái đẹp ngồì cạnh giường cười nói "Bậc nam tử vốn gan dạ lắm mà?", sinh biết là hồ càng sợ. Cô gái dần dần đùa cợt, sinh lấy lại can đảm, bèn ngủ với nhau. Suốt nửa năm sau cô gái ăn ở với sinh như vợ chồng rất hòa thuận đầm ấm. Một hôm cô gái ngủ trên giường, sinh lén lấy lưới săn chụp lên, cô gái tỉnh dậy không dám động đậy, chỉ năn nỉ gở lưới ra, sinh chỉ cười ngất.
Chợt cô gái hóa thành một luồng khí trắng thoát ra khỏi lưới bước trên giường xuống giận dữ nói "Rốt lại cũng không phải là bạn tốt, mau đưa ta về". Rồi nắm sinh kéo đi, sinh bất giác bước theo, ra tới cổng thì bay vọt lên trời, khoảng ăn xong bữa cơm thì cô gái buông tay, sinh choáng váng rơi xuống. Gặp khu vườn của một nhà thế gia có hầm nuôi cọp, đóng cọc làm rào, căng lưới bên trên. Sinh rơi xuống mặt lưới, tấm lưới nghiêng đi tuột một bên xuống, bụng sinh vướng vào lưới, người treo lơ lửng trên nóc hầm. Nhìn xuống thấy cọp ngồi chồm chỗm ngước cổ nhìn người rồi nhảy lên vồ, chỉ còn cách có một thước, sinh hồn bay phách lạc. Người coi vườn tới cho cọp ăn nhìn thấy lấy làm kỳ quái, đỡ lên thì sinh đã ngất đi, hồi lâu mới tỉnh kể lại mọi chuyện. Nơi ấy gần đất Chiết, chỉ cách nhà sinh hơn bốn trăm dặm. Người coi vườn báo lại, chủ nhà bèn tặng tiền ăn đường cho sinh về. Sinh thường kể lại cho mọi người nghe, nói "Tuy bị hai phen sợ chết ngất, nhưng nếu không có hồ thì thật không sao về nhà được".
430. Cô Gái Ở Bát Hưng (Bát Hưng Nữ)
Người dân họ Vương ở Bát Hưng có con gái đến tuổi cập kê. Nhà thế hào Mỗ thấy xinh đẹp, rình lúc cô gái ra khỏi nhà lén bắt về mà không ai hay biết. Về tới nhà, Mỗ toan cưỡng hiếp, cô gái la thét chống cự kịch liệt, Mỗ bóp cổ giết chết. Ngoài cửa vốn có cái vực sâu, bèn buộc đá vào xác cô gái quăng xuống dưới. Vương tìm con gái khắp nơi không thấy, không biết làm sao. Chợt trời đổ mưa, có một tia chớp bay vòng quanh nhà Mỗ, tiếng nổ ầm ầm, rồi một con rồng đáp xuống rút lấy đầu Mỗ đi mất. Không bao lâu trời tạnh, xác cô gái dưới vực nổi lên, tay cầm một cái đầu người nhìn kỹ thì là đầu thế hào Mỗ. Quan hay tin, bắt người nhà Mỗ tra hỏi, mới rõ được mọi chuyện. Rồng kia là cô gái biến hóa ra chăng, làm sao mà làm được như thế chứ? Lạ thật!
431. Một Viên Quan (Nhất Viên Quan)
Ông Ngô là Đồng Tri phủ Tế Nam (tỉnh Sơn Đông), tính ngay thẳng cứng cỏi. Thời bấy giờ có cái lệ xấu là nếu quan lại bớt xén của công bị phát giác thì quan trên cứ che chở cho, đem số thiếu hụt ấy chia đều cho liêu thuộc bắt mỗi người chịu một phần, không ai dám trái lệnh. Có lần ông bị bắt chịu một phần, chối từ không nhận, quan trên ép mãi không được tức giận quát mắng. Ông cũng lớn tiếng quát lại rằng "Ta tuy giữ chức quan nhỏ nhưng cũng là nhận mệnh lệnh của vua, cách chức thì được chứ chửi mắng thì không được đâu. Muốn giết thì cứ giết, chứ ta không thể đem bổng lộc của triều đình đền thay cho kẻ tham lam phạm pháp được", quan trên bèn dịu nét mặt xuống giọng vỗ về. Người ta cứ nói thời buổi này không thể sống ngay thẳng được, nhưng đó là do người không ngay thẳng thôi, sao lại đổ rằng vì thời buổi nên không thể sống ngay thẳng được?
Lúc ấy Mục Tình Hoài ở huyện Cao Uyển (tỉnh Sơn Đông) có hồ tới nương tựa, vẫn thường cùng người khảng khái bàn luận, chỉ nghe trên chỗ ngồi có tiếng nói chứ không thấy hình bóng đâu cả. Gặp khi tới quận thành, khách khứa tới gặp gỡ trò chuyện, có người hỏi hồ rằng "Tiên ông vốn biết mọi việc, xin hỏi trong quận có bao nhiêu viên quan?", hồ đáp ngay "Một viên". Mọi người cùng cười rộ, lại hỏi vì sao nói thế, hồ đáp "Toàn quận tuy có cả thảy bảy mươi hai ông quan, nhưng thật ra chỉ có Đồng tri họ Ngô đáng gọi là quan thôi".
Thời bấy giờ ông Trương là Tri châu Thái An (tỉnh Sơn Đông), vì cứng cỏi nên người ta gọi là khúc gỗ cứng. Phàm các quan to lên hành hương ở Thái Sơn cứ mang theo tôi tớ xe ngựa đông đúc, phí tổn rất nhiều, dân trong châu khổ về việc cung ứng phục dịch, ông sai bãi bỏ hết. Có lần bị đòi dê lợn, ông nói "Ta là một con dê đây, một con lợn đây, xin cứ mổ thịt để khoản đãi những người tùy tùng", quan trên cũng không biết làm sao. Ông từ khi làm quan xa nhà, cách biệt vợ con mười hai năm, vừa tới nhậm chức ở Thái An thì phu nhân cùng công tử từ kinh tới thăm, gặp nhau rất mừng rỡ. Được sáu bảy ngày, phu nhân thong thả nói "Ông không có tiền bạc gì, sao cứ từ chối không nghĩ tới con cháu?". Ông tức giận mắng lớn, gọi lấy gậy bắt phu nhân phải nằm xuống chịu đòn. Công tử nằm phục lên người mẹ kêu khóc xin chịu đòn thay, ông ra sức đánh thẳng tay, hồi lâu mới thôi. Phu nhân tức giận đỡ công tử lên sai sắp xe ngựa trở về, thề rằng cho dù ông có chết ở đây, ta cũng không tới nữa đâu. Qua năm sau quả nhiên ông chết, không thể nói rằng đây không phải là hạng quan cứng cỏi thời nay được. Nhưng vợ chồng xa cách lâu ngày, sao lại chỉ vì một câu nói mà giận dữ tới mức ấy, cũng bất cận nhân tình lắm. Có điều có thể nghiêm khắc với cả vợ con như thế, thì còn lạ lùng hơn cả chuyện quỷ thần vậy.
432. Thần Hoa (Hoa Thần)
Năm Quý hợi ta dạy học ở huyện Tất Hạ (tỉnh Sơn Đông), ngụ trong Trác Nhiên đường của ông Sử. Nhà ông trồng đầy hoa cỏ, cứ rảnh rỗi lại cùng ông chống gậy dạo chơi ngắm cảnh. Một hôm đi dạo xa quá trở về thấy mệt muốn nghỉ, cởi giày lên giường ngủ, nằm mơ thấy hai nữ lang quần áo đẹp đẽ tới mời "Có chuyện muốn nhờ, xin dời gót ngọc". Ta kinh ngạc đứng lên hỏi là ai triệu, họ đáp "Giáng phi". Ta đang hoang mang cũng không nghĩ ngợi gì, cứ đi theo họ. Giây lát thấy một nơi điện gác cao tận mây xanh, dưới có thềm đá, cứ từng chặng từng chặng đi lên, khoảng hơn trăm bậc mới hết. Thấy có cửa son treo rèm, lại có vài người đẹp chạy vào trong báo tin khách tới.
Không bao lâu trở ra dắt vào điện, thấy móc vàng treo rèm ngọc sáng ngời lóa mắt. Trong điện có một nữ nhân xuống thềm ra đón, tiếng vòng ngọc khua leng keng, dáng vẻ như bậc phi tần. Ta đang định vái lạy, Phi đã nói "Làm phiền tiên sinh, lẽ ra ta phải cám ơn trước". Rồi gọi tả hữu trải đệm ra, như định làm lễ. Ta hoảng sợ không biết làm sao, vội thưa "Kẻ quê mùa hèn mọn được ơn trên vời tới đây đã là vinh dự lắm rồi, làm sao còn dám nhận lễ chào khách, lại thêm tăng tội giảm phúc của thần thôi". Phi sai dẹp nệm bày tiệc, ngồi đối diện với ta. Rượu được vài tuần, ta nói "Thần uống rượu kém, sợ say thất lễ. Không rõ định sai bảo gì, cho thần hết lo lắng". Phi không nói, chỉ sai lấy chén lớn mời, ta lại hỏi mấy lần mới nói "Thiếp là thần hoa, cả nhà yếu ớt tới đây nương tựa, nhiều lần bị con tiện tỳ họ Phong* vô lễ lấn lướt. Nay muốn dựa lưng vào thành tử chiến một trận, phiền ông thảo cho một bài hịch".
*Họ Phong: thần gió.
Ta hoảng sợ đứng lên thưa "Thần học ít tài hèn, sợ phụ lời ký thác nặng nề, nhưng đã đội ơn được ban mệnh, đâu dám không hết sức ngu hèn", phi mừng rỡ, lập tức ban cho giấy bút ngay trên điện. Các mỹ nhân kê bàn sắp chỗ, mài mực thấm bút, lại có một người búi tóc rủ xuống tới rọc giấy đặt dưới khuỷu tay. Cứ ta viết được một hai câu lại có hai ba người tới đứng sau lưng đọc trộm. Ta vốn vụng về chậm chạp, mà lúc ấy thấy tứ văn cuồn cuộn tuôn ra như sóng sông, chỉ trong khoảnh khắc đã viết xong. Các mỹ nhân tranh nhau đón lấy tới trình cho Phi. Phi xem qua một lượt, cứ quá lời khen ngợi, bèn sai đưa ta về. Ta tỉnh dậy còn nhớ rõ mọi việc nhưng bài hịch đã quên mất quá nửa, nhân viết thêm vào cho đủ.
Xét họ Phong: Nghênh ngang thành nết, Độc ác là lòng
Giúp ác cậy tài, khác xa cỏ rạp, Bắn người ngậm cát, giống hệt yêu tà
Đế Ngu vui vẻ với hơi hòa, giàu sang chưa đủ thỏa lòng, còn mượn gió nam đưa khí mát, Vua Sở ngu ngơ lòng cảm thán, hiền tài chưa làm xứng ý, những mong lốc lớn để xưng hùng
Bái Thương mây tan, anh hùng còn mong mãnh sĩ, Mậu Lăng thu thẳm, quân vương lại nhớ giai nhân
Từ đó ngạo nghễ tự hùng, Vì thế rông càn bất kể
Thét gào vạn chốn, khua rèm ngọc giữa cung sâu, Thổi rít nửa đêm, phủ hơi thu lên cây lạnh.
Hướng vào rừng núi giả oai hùm, Lướt tới sông hồ gây sóng dữ
Lại còn: Khua rèm đẩy cửa, ngắt điệu nhạc chốn ca lâu, Rung vách giật song, phá giấc mơ người chinh phụ
Vạch rèm thổi chiếu, ngang nhiên làm khách vào màn, Xô cửa lên thềm, hách dịch như thầy lật sách
Vốn chẳng từng biết mặt, cũng đẩy cổng tiến vào, Đã không giúp níu quần, còn xô người bước tới.
Nhả ráng hồng bên trời biếc, còn khoe giúp bóng trăng tròn, Vờn sóng liễu giữa đồng xanh, lại nói đưa tin hoa nở
Kẻ về núi đường xa còn bước, thổi cho áo ẩn sĩ phất phơ, Người chơi non hứng rượu đang nồng, giật cho mão thù du lăn lóc
Xoay chuyển cánh bồng, cuốn trốt như sừng dê bốc thẳng, Tranh giành trời thẳm, tung dây lôi cánh ó sa mau
Không vâng lời chiếu Tắc Thiên, cứ xui hoa nở, Chưa dứt giải mão quan Sở, đã thổi đèn tàn.
Thậm chí: Thổi cát bốc mờ trời, san non Lý Hạ, Rắc mưa tuôn mịt đất, phá nóc Thiếu Lăng.
Đánh trống Phùng Di, Thổi sênh Thiên nữ
Lãng đãng tới, đá non hóa én, ầm ì qua, ngói điện chia uyên
Tát nước chửa ra oai, mặt sóng giang đồn run sợ lạy, Ngăn trời vừa giở sức, chân mây chữ nhạn vẹo xiêu hàng
Giúp buồm nhẹ qua Mã Đương, việc kia còn rõ, Kéo rèm xanh nơi Ngọc điện, ý nọ ra sao?
Tới như chim bể linh thiêng, cũng phải vào cửa Đông tránh núp, Những mong người đi yên ổn, chỉ luống kêu chàng Thạch trở về
Xưa có hiền tài, mới ngàn dặm cưỡi gió phá sóng, Đời không cao sĩ, được mấy người ruổi gió mà đi?
Giong xe pháo như mây cuồng, để Dạ Lang tự đại, Được Tham Lang hà khí nghịch, khoe Hà Bá là Tôn.
Chị em cùng chịu điêu tàn, Họ hàng thảy đều run sợ Tàn hồng gãy lục, thảm não sao cùng, Bẻ lá vặt cành, tiêu điều vô hạn
Ngọc chôn hương lấp, người đẹp xưa xiêm áo lạnh lùng, Sơn lạt sơn phai, cửa hầu cũ gạch vôi rơi rụng
Giảm sắc xuân trong sớm tối, muôn nét hao mòn, Tung nét hồng khắp tây đông, năm canh phách lối
Gái u nhàn nơi Giang Hán, đeo cung bước nhẹ giữa vườn xuân, Kẻ tịch mịch chốn lầu cao, nghe ngựa hí buồn trong nội cỏ
Lúc ấy kẻ thương xuân ôm nỗi sầu Không lời tả oán, Người dạo cảnh cất khúc hát Chẳng biết làm sao
Ngươi lại: Xoay khí hà hơi ra điều thần bí, Thổi mây vén ngút hiện vẻ vô cùng
Thương thay hoa đỏ vẫn còn, lác đác bên tường rụng cánh, Cảm bấy phướn xanh chẳng hạ, phất phơ ngọn cột thương ai?
Cánh rụng nhụy tàn, hồn thơm đã xong buổi ấy, Sáng tươi chiều héo, mạng kia biết gởi năm nào
Oán áo là dễ tính, Mắng ngọn gió vô tình
Kiện kẻ dữ hung bạo, Sớ chưa tới Thiên đình
Nhắn với các loài hoa thơm, xin học mày ngài bày trận, Nói cho bạn cùng chí khí, hãy đem cây cỏ làm binh
Đừng rằng mềm yếu không tài, Chỉ cốt giậu rào có chí
Cứ xem oanh én hợp bầy, chung lòng rửa hận, Xin cùng bướm ong kết nghĩa, ra sức diệt thù
Chèo lan mái quế đủ đánh trận hồ Côn Minh, Cờ liễu lọng dâu thừa rửa hờn vườn Thượng uyển
Giậu đông người ẩn sĩ, có ra khỏi lều tranh không, Cây lớn bậc tướng quân, phải sôi bừng lòng nghĩa chứ?
Giết loài bạo ngược, rửa nỗi oan hương phấn ngàn năm, Trừ kẻ tham tàn, tan mối hận phong lưu muôn thuở*
*Bài hịch này dùng rất nhiều điển tích về gió, đây chúng tôi chỉ cố gắng dịch đúng ý và không chú thích.
Năm Truyện Phụ Lục (Phụ lục ngũ tắc)
I.
Phi Yến ngoại truyện chép hậu mắc chiếc quần màu tía của Nam Việt cống, ca múa theo điệu Gió về đưa đi xa (Quy phong tống viễn). Vua sai người hậu ưa thích là Thị lang Phùng Vô Phương thổi sinh hòa theo. Hậu ca múa đến lúc say sưa, gió lớn chợt nổi lên, hậu theo gió giang tay áo nói "Tiên ơi! Tiên ơi! Bỏ cũ mà theo mới, nỡ quên lòng sao?". Vua nói "Vô Phương giữ hậu lại cho Trẫm", Vô Phương vứt ống sinh níu chặt lấy quần hậu giữ lại. Hồi lâu gió lặng, hậu khóc nói "Làm cho ta không lên tiên được". Vua trọng thưỡng cho Vô Phương, đưa hậu về cung. Về sau các cung nữ được vào hầu vua lần đầu có người dệt vải may quần theo kiểu ấy, gọi là Quần giữ tiên (Lưu tiên quần)
II.
Hàn thi ngoại truyện chép Sở Trang vương cùng các bề tôi uống rượu, đến lúc say thì gió thổi tắt đuốc. Có người kéo áo hậu, hậu ngầm dứt đứt giải mũ người ấy rồi nói với vương rằng "Xin đốt đuốc lên tìm người bị đứt giải mũ". Vương nói "Khoan đã" rồi lập tức ra lệnh "Hôm nay các ngươi uống rượu với quả nhân, không đứt cả giải mũ thì chưa phải là thật vui". Vì thế mọi người đều dứt đứt hết giải mũ, không biết người bị hậu dứt đứt giải mũ là ai.
III.
Cửu Giang ký chép núi Mã Đương cao tám mươi trượng, chu vi bốn dặm, ở phía bắc huyện Bành Trạch cũ. Núi gối ngang sông lớn, hình dáng như con ngựa, cản gió ngăn sóng nên sông chỗ ấy ba đào nổi cuồn cuộn đánh vào thuyền bè. Người ta rất sợ hãi, dựng miếu ở lưng chừng núi để thờ cúng. Vương Bột thời Đường bị ngược gió đậu thuyền lại dưới núi, gặp một ông già giúp cho ngọn gió thuận nên chỉ một đêm đã tới được Hồng Đô làm bài Tựa gác Đằng vương (Đằng Vương các tự).
IV.
Giang hồ kỷ văn chép truyện gió Thạch Vưu rằng con gái họ Thạch là vợ chàng Vưu. Vưu đi buôn xa, vợ ngăn lại không được Vưu đi mãi không về. Vợ nhớ chồng mắc bệnh chết, lúc sắp chết thở dài nói "Ta hận không ngăn được chàng, để tới nỗi này. Từ nay nếu có người buôn bán xa nhà lên đường, ta sẽ làm gió lớn ngăn cản giúp những người làm vợ trên đời". Từ đó những người buôn bán lên đường thấy mũi thuyền bị gió ngược cản trở đều nói "Gió Thạch Vưu đấy", rồi hoãn lại không đi nữa.
V.
Bác dị ký chép trong niên hiệu Thiên Bảo thời Đường (742-755), xử sĩ Thôi Nguyên Huy đêm ở nhà một mình, hết canh ba chợt có một cô gái tóc xanh tới nói "Ta trú trong vườn, nay cùng vài người chị em muốn mượn tạm nơi đó để yết kiến ông, có được không?", Nguyên Huy ưng thuận. Người áo xanh dẫn Nguyên Huy vào vườn, có cô gái mặc xiêm màu lục bước lên trước nói "Ta họ Dương", rồi chỉ một người khác nói "Cô này họ Lý". Lại một người nói "Ta họ Đào", rồi chỉ một người mặc áo màu đỏ nói "Cô này họ Thạch, tên Thố Thố". Nguyên Huy bảo ngồi xuống rồi hỏi đi đâu. Họ đáp "Định tới gặp dì Phong thứ mười tám". Còn chưa ngồi yên chỗ thì ngoài cổng đã có người vào báo "Dì họ Phong tới". Nguyên Huy ra chào, thấy họ Phong lời lẽ lạnh lùng, thái độ như gió lướt trong rừng. Chào hỏi xong, tất cả cùng uống rượu. Dì Phong thứ mười tám bưng chén rượu sóng sánh làm đổ vào áo Thố Thố, Thố Thố tức giận phẩy áo đứng dậy. Dì Phong thứ mười tám nói "Con nhỏ này mượn men rượu à!". Mọi người cùng đứng cả lên, ra ngoài cổng vườn chia tay. Dì Phong thứ mười tám đi về phía nam, các cô gái lại trở vào vườn.
Đêm sau tất cả lại tề tựu, nói "Phải tới chỗ dì Phong thứ mười tám". Thố Thố giận dữ nói "Cần gì phải tới nhà họ Phong, có chuyện chỉ cần nhờ xử sĩ đây là xong, nhưng không biết có được không?". Nguyên Huy hỏi chuyện gì, họ đáp "Bọn chị em đều ở trong vườn, hàng năm thường bị gió dữ tàn hại, thường xin dì Phong thứ mười tám che chỡ cho. Nhưng vì chuyện Thố Thố đêm qua nên khó lòng nhờ được nữa, xin xử sĩ cứ đến ngày đầu năm thì làm một lá phướn đỏ trên vẽ hình mặt trời mặt trăng và năm ngôi sao cắm ở phía đông vườn thì bọn ta có thể thoát nạn". Nguyên Huy nhận lời làm đúng theo như vậy. Đến ngày đầu năm, gió đông nổi lên từ Lạc Nam cuốn tới bẻ gãy cây cối, thổi tung cát đá nhưng cây hoa dày đặc trong vườn vẫn đứng im không động. Nguyên Huy mới sực hiểu rằng các cô gái đều là tinh của các loài hoa, Thố Thố là hoa thạch lựu, Dì Phong thứ mười tám là thần gió.
Liêu Trai Chí Dị Thập Di
01. Hoàng Tịnh Nam (Hoàng Tịnh Nam)
Hoàng Tịnh Nam lúc được trưng tập, cùng hai người Hiếu liêm lên kinh. Trên đường gặp một tên cướp khét tiếng, hai người Hiếu liêm sợ, quỳ rạp đưa tiền bạc ra. Hoàng tức giận, tay không tấc sắt nhưng lấy hai tay ôm chân y nhấc lên ném ra, tên cướp không kịp đề phòng bị ngã cả người lẫn ngựa. Hoàng sấn vào đánh y gãy cánh tay, lục túi y lấy hết tiền bạc rồi đuổi đi. Hai người Hiếu liêm phục Hoàng khỏe mạnh, giúp tiền khuyên nên tùng quân. Sau Hoàng lập được kỳ công, làm quan tới chức Tướng quân.
02. Răn Quỷ (Dụ Quỷ)
Lúc Thượng thư Thạch Mậu Hoa ở Thanh Châu còn là Chư sinh, ngoài cổng quận thành có cái vực lớn, không có mưa cũng không cạn. Trong hạt bắt được mấy mươi tên cướp lớn, xử tử trên bờ vực, ma quỷ tụ họp ở đó phá phách, người đi qua cứ bị kéo xuống vực. Một hôm, có Mỗ đang gặp nguy cấp, chợt bọn quỷ bỏ chạy tán loạn, nói "Thạch Thượng thư tới đấy!". Không bao lâu thì ông đi tới, Mỗ kể lại chuyện, ông lấy hòn than viết lên vách đá rằng "Thạch Mỗ ra điều cấm như sau: Xét vì suy nghĩ vô lương, đến nỗi chuốc cơn sấm sét, mưu toan bất pháp, cho nên chịu tội búa rìu. Chỉ nên bỏ lòng quỷ ý ma, lo điều sám hối, ngõ hòng rửa xương tàn cốt nát, thoát cảnh trầm luân. Các ngươi sống chịu cực hình, chết còn họp ác. Hung hăng kéo tới, xõa tóc thành bầy, nhảy nhót sấn lên, vung tay làm dữ. Bùn vàng lấp mũi, còn khoe oai quỷ oan hồn, ban ngày làm yêu, lại dám chặn đường hành khách. Ngoài núi gò ba thước, chỉ do kẻ sống trông coi, giữa trời đất hai ngôi, há để các ngươi hung dữ? Răn về sau đều nên giấu vết, chớ giữ lòng tà, đống xương bên sông Vô Định, chờ lúc luân hồi, mảnh hồn trong mộng kim khuê, về nơi cố thổ. Nếu còn giữ thói xưa, ắt có ngày hối hận".
03. Người Đất Tấn (Tấn Nhân)
Mỗ người đất Tấn (tỉnh Sơn Tây) rất khỏe mạnh, tuy không học võ nghệ nhưng người học võ cũng không ai đánh lại. Mỗ qua Trung Châu, có một đệ tử Thiếu Lâm bị y dánh bại, căm hờn về kể lại với sư phụ, bàn nhau bày tiệc mời y tới để làm hại. Mỗ tới, người kia trước tiên đem trà quả ra mời, trong có hạt hồ đào để nguyên vỏ cứng rắn không sao ăn được. Mỗ nhặt lấy đặt lên mép bàn, lấy ngón tay trỏ gõ một cái, hạt hồ đào lập tức vỡ nát. Mọi người hoảng sợ, đối xử với y rất tử tế rồi chia tay.
04. Nữ Quỷ (Nữ Quỷ)
Vương Bính ở Oanh Kiều huyện Truy Xuyên (tỉnh Sơn Đông), ra khỏi thôn thấy trong miếu Thổ địa có một cô gái đẹp bước ra, cứ liếc nhìn mình mãi. Vương buông lời ỡm ờ, nàng tươi cười vui vẻ, nhưng không có nơi nào hành sự, bèn hẹn đến đêm vui vầy với nhau. Bính nhân đó nói rõ nơi ở, tối đến quả nhiên nàng tới, cùng nhau vui thú rất nồng nàn. Bính hỏi họ tên, nàng không chịu đáp, từ đó lui tới không dứt. Bính ngủ cùng giường với vợ, cô gái cũng tới giao hoan mà vợ Bính vẫn không biết là có người. Bính ngạc nhiên hỏi, nàng mới nói "Ta là vợ thần Thổ địa", Bính cả sợ, muốn dứt tình ngay nhưng làm đủ cách vẫn không ngăn trở nàng được. Cứ thế nửa năm, bị bệnh nằm liệt giường không dậy nổi. Người đẹp lại càng hay lui tới, người nhà đều nhìn thấy. Không bao lâu Bính chết, người đẹp vẫn mỗi ngày tới một lần. Vợ Bính quát nàng ta "Con ma dâm đãng không biết xấu hổ. Người ta đã chết, còn tới làm gì?" người đẹp bèn đi không trở lại nữa.
Dị Sử thị nói: Thổ địa tuy nhỏ nhưng cũng là thần, há lại để tho vợ tùy ý lăng nhăng, quyết không đến nỗi như thế. Không biết là con ma nào dâm đãng giả danh, khiến cho ngàn năm sau người ta còn nói thôn ấy có vị thần hèn kém bất cẩn, oan thay!
05. Đàn Ông Sinh Con (Nam Sinh Tử)
Tổng binh Phúc Kiến Dương Phụ có tên luyến đồng, trong bụng máy động. Mười tháng đến kỳ, mơ thấy thần nhân mổ hai nách lấy con ra, hai đứa con trai kêu khóc hai bên. Trở dậy nhìn xuống dưới nách, vết mổ vẫn còn rõ ràng. Bèn đặt tên hai đứa con là Thiên Xá, Địa Xá.
Dị Sử thị nói: Xét lại thì việc này xảy ra trước khi Ngô phiên* làm phản. Sau khi Ngô làm phản, Trung thừa Mỗ nghi Dương, muốn trừ diệt nhưng sợ Dương làm loạn, bèn lấy cớ khác gọi tới. Vợ Dương trí dũng song toàn, lấy làm ngờ vực, khuyên Dương đừng đi, nhưng Dương không nghe. Vợ Dương khóc mà tiễn, trở về truyền lệnh cho các tướng, khoác giáp cầm gươm để chờ tin tức. Không bao lâu có tin chồng bị giết, bèn làm phản đánh Mỗ. Mỗ hoảng sợ không biết làm sao, may mà quân sĩ ra sức giữ thành, vợ Dương đánh không được bèn rút quân. Vợ Dương đi đã xa, Mỗ mới mặc giáp lên ngựa, kéo quân ra thành hò hét ầm ĩ, người ta kể cho nhau nghe để cười. Vài năm sau giặc bị dẹp yên, không bao lâu Mỗ bạo tử. Lúc chết thấy Dương cầm gươm bước vào, tả hữu cũng đều nhìn thấy. Than ôi, hồn ma tuy mạnh mẽ, nhưng đã không chắp lại đầu vào xác được nữa rồi! Việc sinh con đầy vẻ yêu tà, đã là điềm báo trước chăng?
*Ngô phiên: tức Ngô Tam Quế, xem chú thích truyện Bảo Trú, quyển IV
06. Nước Bọt Của Ma (Quỷ Tân)
Lý Mỗ đang ngủ trưa thấy một người đàn bà trong tường bước ra, đầu tóc rối tung, tóc xõa xuống che kín mặt. Người ấy tới trước giường mới lấy hai tay vạch tóc để lộ khuôn mặt, da dẻ đen dủi vô cùng xấu xí. Lý cả sợ định chạy nhưng đã bị người đàn bà chồm lên glường ôm chặt lấy đầu, kề môi vào miệng Lý, dùng lưỡi đẩy nước bọt qua, thấy lạnh như băng, từ từ trôi vào cổ Lý không muốn nuốt nhưng không sao thở được, nuốt thì thấy lầy nhầy trong cổ họng, vừa hít một hơi thì trong miệng đã đầy nước bọt, nghẹt thở đành phải nuốt vào. Như thế hồi lâu, ngạt thở không chịu nổi nữa, chợt nghe ngoài cửa có tiếng chân người, người đàn bà mới buông tay ra biến mất. Sau đó Lý thấy bụng trương lên đầy tức, mấy ngày không ăn uống gì được. Có người bảo uống nước sâm lư, Lý thổ ra một vật như quả trứng trong suốt, mới dần dần khỏi bệnh.
07. Nghiện Ăn Rắn (Xà Tịch)
Lữ Phụng Nghi là đầy tớ Vương Phủ Lệnh ở hương ta, tính nghiện ăn rắn. Mỗi khi bắt được con rắn nhỏ thì nuốt chủng, giống như nuốt cọng hành. Gặp con lớn thì lấy dao chặt ra từng khúc từng khúc, rồi bốc mà ăn, nhai nghe rau ráu, máu me chảy cả xuống cằm. Lại rất giỏi đánh hơi, từng có lần cách bức tường ngửi thấy mùi rắn, vội vàng chạy ra, quả nhiên bắt được con rắn dài một thước, lúc ấy không mang đao, bèn trước hết cắn nát đầu, đuôi còn ngoe nguẩy ngoài miệng.
08. Đầu Đà Họ Kim (Kim Đầu Đà)
Kim Thế Thành, người Trường Sơn. Tính không cần kiệm, đột nhiên xuất gia làm đầu đà. Giống như điên khùng, ăn những vật nhơ bẩn mà cho là ngon. Chó dê ỉa đái trước mặt là cúi xuống ăn, tự xưng là Phật. Bọn đàn bà dân quê ngu xuẩn lấy làm lạ, giữ lễ đệ tử có tới hàng ngàn hàng vạn người. Kim quát bảo ăn phân, không ai dám trái lời. Xây dựng điện gác, tiền bạc không đủ, mọi người vui vẻ đóng góp. Huyện lệnh Nam công ghét vì làm việc kỳ quái, bắt tới đánh đòn, sai sửa văn miếu, môn nhân đồn ầm lên với nhau "Phật gặp nạn", rồi tranh nhau cứu, trong một tuần cung điện ở Văn miếu đều xây xong, việc thu góp tiền bạc còn mau lẹ hơn kẻ lại tàn ác đi thu.
Dị Sư thị nói: Ta nghe Kim đầu đà, người ta đều gọi như thế, nói "Kim Thế Thành là Phật phẩm, đến nỗi ăn nhưng vật cực kỳ nhơ bẩn. Bị đánh đòn không đủ làm nhục, phạt thì lập tức có người cứu, cách xử sự của Nam công sao mà hay thế". Nhưng xây Học cung lại nhờ tới kẻ yêu tà ăn vật nhơ bẩn, cũng là sự xấu hổ của sĩ đại phu vậy!
09. Yêu Tài (Ái Tài)
Trong quan trường, có người có em gái vào cung làm Quý nhân sinh con. Có tướng quân Mỗ làm giúp bài khải, trong có câu "Em trai lớn lên, suốt đời cạnh mây rồng, vàng ngọc chói chang gác vẽ, xá muội phu nhân, mười năm theo kiệu phượng, xiêm y lộng lẫy ráng chiều. Chày giặt có thể cầm, trăng sương không cần đập áo, ngòi ngự có thể cậy, vịnh ngâm đâu nhọc Vân Anh*". Quan trên phục tài, cho đổi qua ngạch văn giai, về sau làm tới chức Thông chính sứ.
*Chày giặt... Vân Anh: chưa rõ điển tích, song theo văn cảnh thì có lẽ hai câu này muốn nói vị Quý nhân kia đã sinh con với vua, không phải lẻ loi như người vợ giặt áo dưới trăng mong chồng về, cũng không phải vất vả như Vân Anh trong tích cầu Lam. Xem thêm chú thích truyện Thụy Vân.
10 Vợ Người Nhà Buôn (Thương Phụ)
Thương nhân Mỗ ở Thiên Tân, sắp đi buôn nơi xa, vay tiền một người nhà giàu, bị tên trộm rình thấy. Đến đêm, y lén vào nhà núp, định chờ lúc sơ hở lấy trộm. Nhưng người thương nhân vì hôm ấy là ngày tốt, nên đã mang tiền lên đường. Tên trộm rình đã lâu, chỉ nghe vợ người thương nhân trăn trở trên giường, như không ngủ được. Kế đó, trên vách có cánh cửa nhỏ mở ra, cả phòng sáng bừng. Trong cửa có một cô gái bước ra, diện mạo trẻ trung xinh đẹp, tay cầm một sợi dây dài, tới cạnh giường đưa cho người đàn bà. Người đàn bà xua tay từ chối, cô gái cứ đưa người đàn bà bèn cầm dây trở dậy, buộc lên xà nhà, đưa cổ vào tự ải. Cô gái bèn bước ra, cánh cửa trên vách cũng đóng lại. Tên trộm cả kinh, tung cửa ra kêu ầm lên. Gia nhân tỉnh dậy đổ tới, hỏi han lý do, rồi vội xông vào cứu, nhưng người đàn bà không tỉnh lại. Liền bắt tên trộm đưa lên quan. Quan cho rằng tên trộm đã chính mắt nhìn thấy, thì không còn gì phải nghi ngờ, bèn thả y ra. Hỏi người làng, đều nói chủ cũ của nhà ấy từng có người thiếu phụ treo cổ tự tử, tuổi tác diện mạo đều giống hệt như tên trộm nhìn thấy, nên biết đó là ma. Tục truyền người chết dữ đều phải có kẻ thay thế, đúng là như thế chăng?
11. Năm Chuyện Về Rồng (Long Ngũ Tắc)
I.
Viên Tuyên Tứ nói ở Tô Châu, lúc mưa rào trời tối, sấm sét nổ ran. Mọi người đều nhìn thấy rồng trên mây buông xuống, vẩy trên thân rung động, trong vuốt nắm một cái đầu người, râu tóc đều nhìn thấy rõ. Giây lát bay vào trong mây đi mất, nhưng không nghe có ai bị mất đầu.
II.
Tục truyền rồng lấy nước dưới sông làm mưa, ngờ rằng điều đó chỉ là truyền thuyết mà thôi. Từ Đông Si nam du, ghé thuyền vào bờ sông, nhìn thấy một con rồng xanh giữa đám mây buông xuống, lấy đuôi khoắng vào nước sông, sóng nước nổi lên ầm ầm, theo thân rồng mà bay lên. Từ xa nhìn thấy ánh nước sáng loáng, rộng như tấm lụa ba thước. Giây lát đuôi rồng rút lên, mặt nước cũng yên ắng. Lát sau mưa đổ xuống như trút.
III.
Người đàn bà họ Lý ở thôn Hình huyện Truy Xuyên, chồng chết lúc đang có thai, bụng lúc chợt trướng lên như cái vò, lúc lại thu lại bằng nắm tay. Đến khi lâm bồn, suốt một ngày một đêm không sinh được. Nhìn tới, thấy một cái đầu rồng, vừa thấy người là thụt vào trong. Người nhà cả sợ, không dám tới gần. Có bà đỡ họ Vương, thắp hương võ bộ, niệm ấn bắt quyết, không bao lâu cái thai lọt ra, không thấy rồng đâu nữa. Chỉ có vài cái vẩy rơi xuống, đều to như đồng tiền. Sinh được một đứa con gái, da thịt trong suốt như thủy tinh, nhìn thấy cả tạng phủ trong người.
IV.
Huyện Bác có người dân tên Vương Mậu Tài, sáng sớm thăm ruộng, nhặt được ở bờ ruộng một đứa nhỏ khoảng bốn năm tuổi, mặt mủi đẹp đẽ ăn nói khôn ngoan, bèn đưa về nhà nuôi làm con, linh thông phi thường. Được bốn năm năm có một nhà sư tới nhà đứa nhỏ nhìn thấy, hoảng sợ bỏ trốn biệt tích. Nhà sư nói với Vương "Đó là một trong năm trăm con rồng nhỏ trong ao ở Hoa Sơn, bỏ trốn tới đây". Rồi lấy ra một cái bát đổ nước vào, quả nhiên nhìn thấy một con rắn trắng nhỏ bơi lội trong đó, kế cất bát ra đi.
V.
Di kiên chí chép: Trong niên hiệu Hoàng Thống nhà Kim (1141-1149), phủ Hà Trung đại hạn. Thái thú là Lý Kim Ngô cầu đảo không có kết quả. Nghe nói sư Từ Huệ ở chùa Tây Nham giới luật cao thâm, được đồ đệ ngưỡng mộ, bèn tới mời. Sư nói "Thân già không có gì có thể làm cảm động trời đất, nhưng hàng ngày lúc thuyết pháp đều thấy có một ông già tới nghe, không biết từ đâu tới, ngờ đó là rồng nên cầu khẩn y. Nhưng phải là Kim Ngô sáng mai tới đây, thành khẩn mà chờ". Lý nói "Vâng" Quả nhiên ông già lại tới. Lý đang nói chuyện với nhà sư, nhìn thấy ông ta bước vào chùa, lập tức thắp hương trải chiếu, sai tả hữu xốc nách dìu vào, quỳ xuống lạy lục bày tỏ ý nguyện. Ông già hoảng sợ ngăn lại nói "Sứ quân quỳ lạy một ông già trong núi, xin hỏi có chuyện gì?". Lý nói "Trời hạn gây tai họa, ngũ cốc không chín, muôn dân sẽ không sao sống nổi. Xin Long quân nhân từ, ban cho mưa ngọt, sẽ xin lập đền thờ tự, bốn mùa cúng tế để làm rõ uy linh của thần, xin thần thương cho".
Ông già im lặng, lát sau chau mày than thở "Ồ người tiết lộ thiên cơ của ta là nhà sư, không biết ta chết lúc nào đây". Bèn nói với Lý "Sứ quân đừng lo, ta xin đem cái chết để báo đáp". Rồi ngoảnh lại sư nói "Ta nay vì sư mà đắc tội với trời, nhất định sẽ bị tru diệt, ta sẽ phải chết ngay, thân rơi xuống đất, nhưng không ra khỏi đất này. Xin sư chứng minh, sai dân toàn quân làm đàn tế bảy ngày bảy đêm, ngõ hầu đền đáp công đức, có thể được siêu thăng". Sư ưng thuận, ông già bèn ra đi. Lúc ấy có một trận mưa đổ xuống ba ngày ba đêm. Ngu Khanh ngoài thành báo có con rồng chết rơi xuống chân núi. Lý dắt hết sĩ thứ, triệu một ngàn nhà sư tới đó, dựng đàn trường, mời Từ Huệ lên diễn pháp. Việc xong, thấy con rồng hiện thân trên không, nói tiếng người cảm tạ "Ta tuy bị trời giết, nhưng nhờ pháp lực cứn trợ, đội ơn diệu pháp vô thương nên đã được làm rồng cõi Bồ Đề". Lý bèn lập miếu thờ, xin triều đình ban cho biển ngạch, lại đặt tên cho xứ ấy là hang Thương Long.
Lại như bến Dã Ngưu ở Bạch Ba Lạc Kinh gần miếu Cửu thiên huyền nữ. Trong niên hiệu Hoàng Thống nhà Kim, đêm thu nước tràn, cư dân bị lụt chết đuối, mười người có tới sáu bảy. Người phía dưới bến thấy một bầy thuồng luồng vẫy vùng trong hang vực, xô bờ phá vách, biến chỗ ấy thành ao đầm, nhà cửa đều biến mất, ruộng vườn không còn gì. Mưa lớn năm ngày năm đêm không ngớt, chợt có mấy mươi con trâu trên đỉnh núi theo dòng trôi xuống đánh nhau với thuồng luồng ở chân núi. Mây đen mờ mịt, ánh lửa chốc chốc lóe lên, qua một đêm trời tạnh, nước sông lại trở về dòng cũ. Có một con thuồng luồng dài mười trượng chết dưới cổng đền. Mạnh quân Thái thú Lạc Kinh dẫn đầu sĩ dân hai quận Lạc Dương Hà Dương trai giới mang cỗ tam sinh tới bờ sông cúng tế. Giây lát có con rồng xuất hiện trên mây, vươn cổ như tới hưởng. Hàng vạn người ngẩng nhìn, mới biết đó là vật đã biến thành trâu giết thuồng luồng. Bèn lập miếu thờ ở chỗ ấy. Chu Tùng Long kể lại như thế.
12. Bạch Liên Giáo (Bạch Liên Giáo)
Tư Hồng Nho thủ lĩnh Bạch Liên giáo vốn là nhà nông. Cày ruộng ở chân núi, được một pho tượng Phật bằng đồng, một thanh kiếm bằng sắt, cùng hai quyển sách tả đạo. Ngày đêm học tập, không gì không tinh thông. Bèn tự xưng là Như Lai xuất thế, mê hoặc dân ngu. Từng có người khách đêm tới nhà, Từ vẽ một cái mặt trăng treo lên vách, cả gian phòng sáng bừng. Trong phòng chất đầy vàng bạc, để người ta tùy ý lấy không ngăn cấm. Không cần tôi tớ, chỉ rút trong túi ra hai hình người giấy cao ba tấc đặt xuống đất, lập tức vươn dài ra cao bằng người, lại thướt tha xinh đẹp. Một người ăn mặc lối văn sĩ, tuấn nhã phong lưu, một người ăn mặc lối võ sĩ, đeo kiếm mang cung. Sai dọn rượu bày tiệc đi lại rất mau lẹ. Lại lấy ra hơn mười người bằng giấy, làm phép đều biến thành mỹ nữ, áo lông xiêm ráng, ca múa mời rượu. Có thể sai khiến quỷ thần, cho dù các loại cây cối loài vật ở núi sông thành thị cũng đều có thể biến ra trong nháy mắt. Lại đưa ra một tấm gương bảo người ta soi vào có thể thấy được số phận trọn đời. Có người thì khăn lượt mũ sa, có người giáp vàng áo thêu, người soi vào không ai không mừng rỡ nhảy nhót.
Tin tức đồn đãi khắp nơi, lúc ấy người ta nối gót nhau tới xin soi, trước cửa đông nghịt. Từ thấy những người bị mê hoặc ngày càng đông, bèn treo gương tự soi, thì thấy đội mũ miện mặc long bào, nghiễm nhiên là bậc vương giả. Bèn phao tin rằng "Phàm những người ăn mặc đẹp đẽ trong gương đều là người trong hội Long Hoa, được Như Lai định rõ là sẽ làm quan, đều nên gắng sức để tìm phú quý". Mọi người đều ngạc nhiên mừng rỡ lạy phục xuống. Kế đó chế cờ lệnh cầm tiết việt, không ai không nhảy nhót đi theo, chưa từng có người nào không tuân lệnh. Không đầy vài tháng, đã có hàng vạn người theo về, một dải Đằng Dịch theo gió mà rạp. Về sau đại quân thảo phạt, giết sạch không ai sống sót. Bọn họ vọng tưởng một bước lên trời, mà không tự răn!
Bành Đô ty người Trường Sơn, sống trong quân ngũ nhiều năm, dũng cảm hơn người. Lúc thảo phạt, gặp hai cô gái để bím tóc cặp đao sắt, thúc ngựa dữ, hung hãn dị thường, Bành ra sức tiếp chiến. Hai cô gái không thể tới gần Bành, mà Bành cũng không sao làm hai người bị thương. Từ sáng đến chiều, liên tiếp ba ngày Bành kiệt sức, thở dốc mà chết. Về sau bắt được quân giặc hỏi cung, mới biết hai cô gái ấy là người giấy đao gỗ, ngựa cưỡi chỉ là ghế gỗ mà thôi. Đao ngựa giả mà làm chết tướng quân thật, lạ thay!
13. Sai Dịch Ma (Quỷ Lại)
Hai người sai dịch ở Lịch Thành vâng lệnh Huyện lệnh Hàn Thừa Huyên đi công cán ở quận khác, cuối năm mới về. Trên đường gặp hai người, ăn mặc giống như mình. Cùng đi suốt nửa ngày dần dần nói chuyện với nhau. Hai người kia tự xưng là sai dịch quận Tế Nam. Sai dịch nói "Những nha dịch trong quận, mười người thì bọn ta biết tới tám chín. Hai ông thì chưa từng quen biết". Người kia nói "Nói thật, ta là sai dịch ma trong miếu Thành hoàng, nay là mang công văn tới miếu Đông Nhạc". Sai dịch hỏi trong công văn viết gì, đáp "Tế Nam sắp có kiếp nạn lớn, là báo danh những người bị giết". Sai dịch cả sợ hỏi bao nhiêu người chết, đáp "Cũng không rõ lắm, nhưng e gần trăm vạn", sai dịch càng hoảng sợ. Nhân hỏi thời hạn, đáp là tháng giêng. Hai người sai dịch nhìn nhau, tính ngày về tới nơi vừa đúng hôm Trừ tịch. Sợ bị mắc nạn, nhưng chần chừ thì sợ bị khiển trách. Ma nói "Lỡ hạn tội nhỏ, gặp nạn họa lớn, nên tránh đi chỗ khác, tạm thời đừng về". Sai dịch theo lời, chia tay theo đường tắt trốn đi. Không bao lâu quân tới có gần trăm vạn người chết, hai người nha lệ được thoát.
Dị Sử thị nói: Theo lành tránh dữ là then chốt trên thế gian. Không ngờ dưới địa phủ cũng như thế. Hay là hai người sai dịch ấy không có tên trong kiếp nạn, nên sai dịch ma khuyên như thế chăng?
14. Khách Rết (Yết Khách)
Có người thương nhân phương Nam buôn rết, hàng năm tới Lâm Câu, thu mua rất nhiều. Thổ nhân cầm kẹp gỗ vào núi, vào hang sâu lật đá tảng tìm bắt. Hết một năm lại tới, ngụ ở chỗ trọ cũ chợt thấy bồn chồn, lông tóc dựng đứng mà sợ sệt gấp bội lúc bình thường. Chợt nói với chủ nhân "Làm hại vật sống đã nhiều, nay bị ma rết tức giận, sắp tới giết ta, xin cứu ta với". Chủ nhân thấy trong phòng có cái vò lớn, bèn bảo vào đó ngồi xổm rồi lấy nắp đậy lại. Không bao lâu, một đại hán bước vào, đầu tóc xõa tung vẻ mặt hung dữ, hỏi chủ nhân "Người khách phương Nam ở đâu?", đáp đã ra ngoài. Người ấy vào phòng nhìn quanh, khịt khịt mũi thành tiếng mấy lần, rồi ra cửa đi. Chủ nhân nói "May ra thì thoát nạn chăng!", rồi bước vào mở nắp vò lên, thì người khách đã hóa thành máu.
15. Con Hồ Trong Dinh Thự Tuân Hóa (Tuân Hóa Thự Hồ)
Khưu công người Chư Thành, làm Quản đạo đạo Tuân Hóa. Trong dinh thự vốn có nhiều hồ, ở ngôi lầu trong cùng thường xuyên có hồ tụ họp, thỉnh thoảng ra hại người. Chửi mắng lại càng lộng hành, nhĩmg người làm quan ở đó chỉ làm tiệc cầu khấn, không ai dám xúc phạm. Khưu công đáo nhiệm, nghe thế nổi giận. Hồ cũng sợ công cương nghị, biến thành một bà già, nói với người nhà của công "Xin bẩm lại với đại nhân là đôi bên không có thù oán gì, xin làm khách ba ngày nữa, sẽ đưa hết già trẻ đi," Công nghe cũng im lặng không nói gì. Hôm sau duyệt binh xong, bảo đừng tan về, sai đem hết súng ống trong các doanh tới, chĩa quanh lầu cùng phát đạn, trong giây lát ngôi lầu thành đất bằng. Lông da máu thịt trên trời rơi xuống rào rào, nhưng thấy giữa đám mưa máu mịt mờ có một làn khí trắng như đám mây vọt ra. Mọi người nhìn lên nói "Có một con thoát rồi", nhưng từ đó trở đi trong dinh thự yên ổn. Sau hai năm, công sai một người đầy tớ tin cẩn mang bạc về kinh để thu xếp việc thăng chuyển. Việc chưa xong, người ấy còn ở lại trong nhà một nha dịch để chờ trả tiền dần duyên*. Một hôm chợt có ông già tới kinh đô kêu oan, nói vợ con bỗng dưng bị tàn sát. Lại nói công cắt xén quân lương, nịnh nọt thượng cấp, hiện cất ở nhà Mỗ, có thể làm bằng chứng. Xét sớ hỏi lý, cùng tới nhà người nha dịch kia, tìm kiếm không ra tiền bạc. Ông già nhịp chân xuống đất, công sai hiểu ý, đào xuống quả nhiên lấy được vàng. Trên vàng bạc đều có khắc tên quận giải về. Sau đó tìm ông già, thì đã đi mất. Bắt láng giềng để tìm người ấy, cũng không có ai. Công vì thế mắc nạn. Ông già tức là con hồ trốn thoát vậy.
*Tiền dần duyên: dần duyên cũng như dần nghị, chỉ việc quan lại giao du với nhau. Tiền dần duyên tức tiền quan lại tặng biếu để làm quen, đây chỉ tiền hối lộ.
Dị Sử thị nói: Hồ quấy phá người ta, thì rất đáng tru diệt. Nhưng đã sợ mà xin tha, cũng nên giữ trọn lòng nhân, có thể nói công cũng quá nóng nảy vậy. Nếu làm quan ở Quan Tây mà như thế, thì há chỉ một con hồ trắng thù hận thôi sao?
16. Huyện Lệnh Ngô Huyện (Ngô Lệnh)
Ông Mỗ làm Huyện lệnh Ngô huyện, quên mất tên họ, cứng rắn có tiếng. Tục đất Ngô rất trọng thần Thành hoàng, dùng gỗ tạc tượng, may gấm làm áo, dáng vẻ như người sống. Gặp ngày cúng thần thì dân cư góp tiền mở hội, xe kiệu chật đường. Cờ phướn la liệt, trống kèn đàn sáo vừa trỗi vừa đi, ồn ào ầm ĩ, chen chúc trên đường. Thói quen đã thành lệ, không năm nào dám bỏ phế. Ông tới đó, gặp lúc họ đang đi, bèn ngăn lại hỏi, dân ở đó kể lại chuyện. Lại nói tiền bạc đóng góp rất nhiều, ông tức giận, chỉ vào thần trách mấy câu "Thành hoàng là chủ một huyện, nếu ngu xuẩn ương bướng không thiêng thì là ma . quỷ tối tăm ngu muội, không đáng để thờ phụng. Còn nếu linh thiêng thì phải biết tiếc của cải, sao lại được tốn phí vô ích, làm hao tổn máu mỡ của dân". Nói xong kéo tượng thần xuống đất, đánh hai mươi roi. Từ đó tập tục lập tức thay đổi. Ông trong sạch ngay thẳng không riêng tư, chỉ là trẻ tuổi thích đùa giỡn. Ở đó hơn một năm, ngẫu nhiên bắc thang trong giải vũ trèo lên bắt chim sẻ, hụt chân rơi xương gãy đùi, kế chết. Người ta nghe thấy trong đền Thành hoàng có giọng ông tức giận lớn tiếng, giống như tranh cãi với thần, mấy ngày không ngớt. Mọi người không quên ơn ông, kéo nhau tới tụ họp, khẩn cầu xin thôi, sẽ xây một miếu riêng, giọng ông liền tắt. Miếu mới cũng gọi là miếu Thành hoàng, xuân thu cúng tế, còn linh thiêng hơn miếu cũ Ngô huyện đến nay vẫn có hai Thành hoàng.
17. Nha Dịch Sâu Mọt (Đố Dịch)
Tiến sĩ Lý Khuông Cửu người Trâu Bình làm quan rất liêm khiết công minh. Từng có người nhà giàu bị người ta vu cáo, nha dịch dọa nói "Quan đòi hai trăm lượng vàng, mau thu xếp cho xong, không thì có tai họa đấy". Người nhà giàu sợ hãi vâng dạ, thu xếp được một nửa, nha dịch không chịu, người nhà giàu hết sức nài nỉ. Nha dịch nói "Không phải ta không ra sức, nhưng sợ quan không chịu. Đợi lúc xét xử, ngươi cứ nhìn ta, ta sẽ bẩm lại số này, quan ưng thuận hay không thì cũng có thể biết ta không có ý gì khác". Giây lát ông xét vụ ấy. Tên nha dịch biết ông không hút thuốc, bèn tới gần hỏi hút thuốc không, ông chỉ lắc đầu. Tên nha dịch bước xuống, nói khẽ "Vừa rồi nói ra con số, quan lắc đầu không chịu, ngươi thấy rõ chứ". Người nhà giàu tin thật, càng hoảng sợ, bèn ưng thuận con số lúc đầu. Tên nha dịch biết ông nghiện trà, bèn tới gần hỏi uống trà không, ông gật đầu. Tên nha dịch lấy cớ đi pha trà, lại bước xuống nói khẽ "Quan ưng thuận rồi, đã gật đầu, ngươi thấy rõ chứ?". Kế vụ ấy xét xong, người nhà giàu quả nhiên được tha. Tên nha dịch lập tức thu tiền, lại đòi thêm tiền tạ ơn. Than ôi, tên nha dịch ấy cũng gian trá thật.
18. Nha Dịch (Tạo Lệ)
Trong niên hiệu Vạn Lịch, Huyện lệnh Lịch Thành mơ thấy thần Thành hoàng đòi người hầu hạ, lập tức ghi tên tám người nha dịch vào sớ điệp đốt trong miếu. Đến đêm, tám người đều chết. Đầu tiên một người nghe bảy người kia đã chết, trong lòng sợ hãi, cắn ngón tay mà chết. Phía đông miếu có quán rượu, chủ quán vốn quen biết cả tám người. Đêm ấy có một người tới mua rượu, bèn hỏi mời khách nào. Đáp "Bạn đồng liêu rất đông nên mua một vò, chỉ thiếu họ Tự mà thôi". Đến sáng, gặp người nha dịch khác, mới biết người ấy đã chết. Tới miếu mở cửa vào thì vò rượu còn đó, rượu bên trong vẫn còn đầy, nhưng mùi vị giống hệt nước lã. Quay về nhìn lại tiền thì đều là tro giấy. Quan huyện bèn đắp tám pho tượng đặt trong miếu, riêng người cắn ngón tay thì pho tượng tươi tắn như người sống. Con cháu tám nhà đều quanh năm cúng tế. Các nha dịch trong huyện nhận chức, trước tiên đều ra đó tế lễ, nếu không ắt sẽ gặp chuyện bị trách phạt.
19. Trư Bà Long (Trư Bà Long)
Trư Bà Long sản ở Giang Tây, hình dáng như con rồng mà ngắn , có thể bay là đà, thường lên dọc bờ sông bắt ngỗng vịt để ăn. Có người săn được, thì bán thịt cho hai nhà họ Trần họ Kha. Hai họ ấy đều là hậu duệ của Trần Hữu Lượng, nhiều đời ăn thịt trư bà long, chú họ khác thì không dám ăn. Có người khách từ Giang Tây tới, bắt được một con, buộc lại trong thuyền. Một hôm ghé thuyền ở Tiền Đường, dây buộc hơi lỏng, nó chợt nhảy xuống sông, sóng nước nổi lên, thuyền buôn chìm hết.
20. Bạc Nén (Nguyên Bảo)
Lâm Giang ở Quảng Đông, vách núi dựng đứng, thường có bạc nén khảm vào vách đá. Phía dưới dốc núi sóng lớn, thuyền bè không thể ghé vào. Có người khua mái chèo cố tới gần để khều, thì dính cứng không lay động được. Nếu số người ấy lấy được, thì khều một cái là rơi xuống ngay, quay lại thì đã qua kiếp khác rồi.
21. Vu Tử Du (Vu Tử Du)
Người trên bờ biển nói, một hôm trong biển chợt có hòn núi cao nhô lên, người ở đó đều hoảng sợ. Có Tú tài đi nhờ thuyền đánh cá, mua rượu độc ẩm. Đến đêm có một thiếu niên bước vào, mặc áo đội mũ nhà nho, tự xưng là Vu Tử Du, chuyện trò phong nhã, Tú tài rất thích, bèn cùng nhau uống rượu. Đến nửa đêm rời tiệc cáo từ. Tú tài nói "Nhà ông ở đâu, đêm tối mờ mịt thế này, việc gì phải làm khổ mình". Đáp "Ta không phải là người ở đây. Vì sắp đến tiết Thanh minh, theo đại vương lên mộ. Gia quyến đã đi trước, đại vương tạm nghỉ lại, giờ Thìn sáng mai sẽ lên đường nên phải trở về để lo việc buổi sáng". Tú tài cũng không biết đại vương là ai. Đưa ra tới đầu thuyền, người ấy nhảy xuống nước bơi đi, mới biết là yêu cá. Hôm sau, giờ Thìn thấy đỉnh núi rung động, trong chớp mắt biến mất, mới biết hòn núi ấy là một con cá lớn, tức cái mà người kia gọi là đại vương. Tục truyền tiết Thanh minh, cá lớn trong biển dắt con cái đi bái mộ, hay là chuyện có thật chăng? Đầu niên hiệu Khang Hy, dưới biển nổi sóng, có con cá lớn gào thét mấy hôm, tiếng như trâu rống. Kế chết, những người quảy sọt tới xẻ thịt, chen chúc trên đường. Con cá to khoảng một mẫu, chỉ không có tròng mắt, hốc mắt sâu như cái giếng, bên trong đầy nước, người xẻ thịt vô ý rơi vào đó là lập tức chết đuối. Có người nói cá lớn dưới biển bị biếm chức là bị khoét mắt, lấy mắt làm ngọc dạ quang.
22. Em Trai Lý Tượng Tiên (Lý Tượng Tiên Đệ)
Lý Tượng Tiên ở Thọ Quang, học vấn uyên bác là kẻ sĩ cao khiết ở vùng Hải, Đại. Biết kiếp trước là sư, sinh ra đã sợ bú, trên kia đã kể rõ. Con trai sớm đỗ đạt, nhưng mình chỉ lấy văn học mà sống đến trọn đời. Đó là cái mà Phật gia vẫn nói là phúc nghiệp chưa tu chăng? Người em cũng sớm nổi tiếng, nhưng sinh ra có tật kín, mấy tháng mới động đậy. Lúc động thì bật dậy, không kể gì tới tân khách, từ ngoài la lối bước vào, lúc ấy tỳ nử bà vú đều tránh mặt. Tới cửa lại khựng lại, không vào phòng mà quay ra. Anh em đều là người kỳ lạ vậy.
23. Núi Vũ Di (Vũ Di)
Núi Vũ Di có vách đá dựng đứng cao ngàn nhận, người ta thường nhặt được trầm hương vàng ngọc chất đống bên dưới. Thái thú nghe chuyện, sai vài trăm người làm thang lên đỉnh để xem chuyện lạ, ba năm mới làm xong. Thái thú lên thang, sắp tới đỉnh thì thấy một bàn chân buông xuống, ngón cái to bằng cái chày giặt áo, lớn tiếng gọi "Đừng xuống, sắp rơi rồi", cả kinh vội trèo xuống. Vừa tới đất thì giá gỗ khô mục sụp xuống tan nát không còn gì.
24. Ao Huyền Âm (Huyền Âm Trì)
Thạch Hiến người Thái Nguyên, làm nghề buôn bán, thường đi buôn ở phía bắc đất Đại, đưa hàng từ chỗ có tới chỗ không. Một năm vào tháng năm, đang lúc bắt đầu nóng bức, Hiến trên đường từ cửa Nhạn Môn trở về, khát nước muốn uống, nhưng tìm khắp nơi không thấy suối, nhân ngồi nghỉ dưới gốc cây lớn. Chợt thấy một nhà sư, mắt lồi áo vá, diện mạo rất kỳ lạ, thoăn thoắt đi tới nói "Ta ở phía nam núi Ngữ Đài, có rừng sâu nước đọng, cách xa trần tục, thật là nơi quần tăng tránh nắng. Đàn việt có chịu theo ta tới đó chơi không? Nếu không đi được, ta thấy đàn việt sẽ vì bệnh nhiệt mà chết, há chẳng hối hận sao?". Hiến vì trời đang nóng bức, mà nhà sư lại lấy lời họa phúc khơi gợi nên động tâm, nhân xin với sư "Xin cùng đi với sư". Lúc ấy nhà sư dẫn Hiến đi về phía tây, được vài dặm quả thấy rừng sâu nước đọng, quần tăng đang đùa giỡn dưới nước. Hiến kinh ngạc hỏi, sư đáp "Đây là ao Huyền âm, bọn ta tắm dưới đó, cũng lấy nước ấm để hông áo". Rồi đưa Hiến đi vòng quanh ao, Hiến chỉ lạ chỗ quần tăng dưới nước trạng mạo đều giống hệt nhau. Kế đó trời tối, một nhà sư nói "Đàn việt hãy nghe bọn ta tụng kinh tiếng Phạn đây". Lúc ấy Hiến đứng trên bờ ao, quần tăng đều dưới nước, đồng thạnh tụng niệm.
Qua khoảng một bữa cơm, một nhà sư nắm tay Hiến nói "Đàn việt cứ cùng tắm với bọn ta trong ao Huyền âm, cẩn thận thì không có chuyện gì đâu". Hiến lập tức theo nhà sư lội xuống ao, chợt thấy toàn thân lạnh buốt, run lên bần bật, vì thế giật mình tỉnh dậy. Thấy mình vẫn nằm dưới gốc cây, giày áo ướt đẫm, mà trong người càng lạnh. Lúc ấy trời đã tối, vội tấp tểnh tới nơi có thôn xóm, gõ cửa xin nước, nhân ngủ nhờ ở đó. Sáng hôm sau thấy bệnh đã giảm, nên lại lên đường. Trên đường chợt nghe tiếng ếch kêu, rất giống tiếng quần tăng tụng kinh tiếng Phạn bèn đi tìm. Đi vài dặm thấy một nơi rừng sâu nước đọng, có rất nhiều ếch. Bèn tìm hỏi tiều phu, quả nhiên chỗ nước ấy tên là ao Huyền Âm, mới biết quần tăng đều là bầy ếch biến ra. Hiến nói !Bầy ếch này có thể biến hình để mê hoặc người ta, chẳng phải rất kỳ quái sao! chợt đùng đùng nổi giận, giết sạch bầy ếch.
25. Trâu (Ngưu Độc)
Đất Sở Trung có người nông dân ra chợ về, trên đường dừng lại nghỉ. Có người thuật sĩ phía sau tới, cùng nhau nói chuyện phiếm, chợt nhìn người nông dân nói "Khí sắc của ông không tốt, trong vòng ba ngày se bị hao tài, gặp quan ngục". Người nông dân nói "Ta đã nộp thuế đủ, bình sinh không hay tranh cãi, làm sao có chuyện quan ngục?". Người thuật sĩ nói "Ta cũng không biết, nhưng khí tượng như thế, không thể không cẩn thận". Người nông dân rất không tin, chắp tay từ biệt rồi về. Hôm sau chăn trâu ngoài đồng, có con ngựa trạm phóng qua, con trâu nhìn thấy, lầm tưởng là cọp, xông vào húc chết ngựa. Người nông dân bị bắt lên quan, quan phạt qua loa, bắt bồi thường con ngựa. Đại khái trâu gặp cọp ắt đấu, nên những người buôn trâu ngủ lại trên đường đều lấy trâu để tự vệ. Thấy ngựa tới là xua trâu tránh đi, vì sợ húc lầm.
26. Bài Ký Trĩ Xuyên (Trĩ Xuyên Ký)
Con nhà họ Lý ở Cô Tàng, gặp thời loạn lạc, trốn vào núi Thái Bạch, xõa tóc mặc áo vải, dứt hết trần duyên, quy y Tam bảo, đạo hiệu là Khế Hư. Không ăn cơm gạo, hàng ngày ăn lá bách đỡ lòng, như thế đã nhiều năm. Một hôm có đạo sĩ Kiều Quân dung mạo thanh tú, râu tóc trắng xóa tới thăm Khế Hư, nói "Cốt cách của sư rất thanh tú sau này nên rong chơi nơi tiên đô". Khế Hư nói "Ta là người trần tục, làm sao tới được tiên đô?". Kiều Quân nói "Tiên đô rất gần, sư có thể đi". Khế Hư nhân xin Kiều Quân chỉ đường, Kiều Quân nói "Sư nên chuẩn bị thức ăn chờ ở quán trọ tại Thương Sơn, phàm thấy người nào mang giỏ tre đi buôn, thì cứ mời ăn. Có ai hỏi sư đi đâu, sư cứ nói là muốn tới Trĩ Xuyên, người ấy sẽ dẫn sư đi". Khế Hư nghe xong, yui vẻ ra mặt, lập tức tới Thương Sơn, ngụ trong quán trọ, chuẩn bị thức ăn ngon để cho những người buôn bán qua lại Thương Sơn.
Ở đó liên tiếp mấy tháng, gặp hơn trăm người bán hàng rong mang giỏ tre, đều ăn xong rồi đi, hoàn toàn không có lễ phép gì, lòng cung kính của Khế Hư cũng hơi giảm. Lại cho rằng Kiều Quân lừa dối, định về Trường An. Đã chuẩn bị hành trang, chợt có một người bán hàng rong mang giỏ tre, tuổi còn rất trẻ, đột nhiên bước vào, hỏi Khế Hư "Sư định đi đâu?". Khế Hư nói "Ta muốn lên Trĩ Xuyên gần một năm nay rồi". Thiếu niên kinh ngạc nói "Trĩ Xuyên là cõi thần tiên, sư làm sao tới được?". Khế Hư đáp "Ta từ nhỏ đã hâm mộ thần tiên, từng gặp bậc chí nhân khuyên ta tới Trĩ Xuyên, nhưng chưa biết đường thế nào". Thiếu niên nói "Trĩ Xuyên cách đây trong gang tấc, sư có thể theo ta, có thể không bị ngăn trở". Khế Hư nói "Nếu quả được tới Trĩ Xuyên, thì có chết cũng không hối hận". Thiếu niên dẫn Khế Hư tới Lam Điền, mua thức ăn, rồi trong đêm ấy lên Ngọc Sơn, qua chỗ cheo leo, lên chỗ dốc hiểm, tất cả có tám mươi nơi. Tới một cái động, thấy trong động có nước chảy ra. Thiếu niên và Khế Hư lấy giỏ tre đựng đá tráng lấp cửa động, để chặn dòng nước. Sau ba ngày, nước trong động mới cạn, hai người bước vào, tối tăm không thể nhìn thấy vật gì. Thấy một cánh cửa cách vài mươi bước, bèn đi tới đó.
Ra khỏi cánh cửa thì mặt trời tỏa sáng, gió mát hiu hiu, sơn thủy xinh tươi, cảnh tiên hiển hiện trước mắt. Lại đi hơn trăm bước, thấy một hòn núi cao, đỉnh núi chót vót, đường lên cheo leo, Khế Hư hoa mắt không dám lên. Thiếu niên nói "Tiên đô đã sát bên, sao còn chần chừ?". Rồi kéo tay Khế Hư đi. Lên tới đỉnh núi, là một bãi đất phẳng. Nhìn xuống sông ngòi đồng ruộng phía dưới, xa tít không thấy rõ. Lại đi hơn trăm dặm, vào một cái động. Đến khi ra, thấy có hồ nước rộng mênh mông, cạnh hồ có một con đường lát đá rộng hơn thước, lại theo đó đi hơn trăm dặm. Thiếu niên dẫn Khế Hư theo đường đá đi, tới chân núi, phía trước có cây cổ thụ, cành lá rậm rạp, khói mây giăng mắc, cao mấy mươi tầm. Thiếu niên trèo lên cây hú dài, hồi lâu chợt có gió thu nổi lên đầu cành cây, kế thấy có sợi dây lớn buộc một cái giỏ trúc từ đỉnh núi thả xuống. Thiếu niên bảo Khế Hư nhắm mắt ngồi vào giỏ.
Khoảng nửa ngày, thiếu niên nói "Sư có thể mở mắt ra nhìn rồi". Khế Hư đã quên mình đang trên đỉnh núi, nhìn thấy thành quách cung khuyết vàng ngọc chớp sáng ngoài cõi ráng mây. Thiếu niên chỉ nói "Đó là Trĩ Xuyên". Lúc ấy bèn giải thích những gì trước mắt. Có bọn tiên đồng hơn trăm người xếp hàng trước sau, một người tiên hỏi thiếu niên "Nhà sư này là ai, là người nhân gian à?". Thiếu niên đáp "Nhà sư này tên Khế Hư, thường muốn tới Trĩ Xuyên, nên ta dắt tới đây". Kế tới một điện, có người cài trâm cầm hốt ngồi dựa vào ghế ngọc, dáng vẻ rất oai nghiêm, thị vệ xúm quanh vòng trong vòng ngoài, quát tháo rất dữ tợn. Thiếu niên bảo Khế Hư cúi đầu bước lên ra mắt, nói "Đó là Trĩ Xuyên chân quân". Khế Hư cúi lạy. Chân quân triệu Khế Hư lên, hỏi "Ngươi đã dứt bỏ được Tam Bành chưa?". Khế Hư không sao trả lời. Chân quân nói "Cẩn thận đừng ở lại đây quá lâu".
Rồi sai thiếu niên dẫn lên đình Thúy Hà. Ngôi đình ấy vươn ra không trung, lan can chạm mây, thấy một người phanh áo chớp mắt, tóc dài mấy mươi thước, da dẻ xám xịt, chỗ mắt và ngực lõm vào. Thiếu niên nói "Sư có thể ra mắt vái chào". Khế Hư hỏi "Người này là ai, chớp mắt là nhìn cái gì?". Thiếu niên nói "Đó là Dương Ngoại lang, vốn là Tôn thất nhà Tùy, từng làm Ngoại lang ở Nam cung, cuối thời Tùy thiên tử hoang dâm, thiên hạ phân tranh, bốn phương binh lửa, nước thuộc người khác. Vì thế ty địa vào núi, nay đã đắc đạo. Đó không phải là chớp mắt mà là nhìn thấu qua. Phàm người nhìn thấu qua thì thấy rõ cả thế gian". Khế Hư nói "Xin ông ta đừng chớp mắt có được không?". Thiếu niên bèn dẫn tới vái chào cầu xin. Ngoại lang chợt không chớp mắt nữa. Nhưng hai mắt phát ra ánh sáng sáng rực như mặt trăng mặt trời, mở nhắm cũng như nhau, không sao che được. Khế Hư sợ sệt toát mồ hôi lưng, lông tóc đều dựng đứng.
Kế lại thấy một người nằm trên vách đá, thiếu niên nói "Người ấy họ Nhất, tên Chi Nhuận, cũng là người nhân gian đắc đạo mà tới đây". Thiếu niên dẫn Khế Hư trở về, vẫn theo đường cũ. Khế Hư nhân hỏi thiếu niên "Trước đây ta ra mắt chân quân, chân quân hỏi ta chuyện Tam Bành, ta không trả lời được, xin hỏi đó là ý nghĩa gì?". Thiếu niên nói "Phàm Bành là họ của Tam Thi, thường sống trong thân thể con người, chờ xét công tội. Mỗi khi đến ngày Canh thân thì báo lên Thượng đế. Cho nên phàm những người tu tiên, trước tiên phải trừ tuyệt Tam Thi, như thế thì có thể đạt đạo. Nếu không thì tuy khổ công cũng vô dụng". Khế Hư hiểu ra, từ đó trở về làm nhà ở núi Thái Bạch, tuyệt cốc luyện khí, chưa từng kể lại chuyện Trĩ Xuyên cho người khác. Về sau dời tới ở dưới núi Hoa Sơn.
Có Trịnh Thân người Vinh Dương, Thẩm Luật người Ngô Hưng cùng từ Trường An ra, đi ngang Hoa Sơn, gặp lúc trời tối mưa lớn, hai người dừng lại. Khế Hư đã tuyệt cốc, nên không mời cơm. Trịnh Thân lấy làm lạ vì Khế Hư không ăn mà da dẻ vẫn hồng hào, nhân hỏi sự thật. Khế Hư mới kể lại chuyện Trĩ Xuyên. Trịnh vốn là người hiếu kỳ, nghe được chuyện ấy vừa than thở vừa ngạc nhiên, đến khi từ Quan Đông trở về ghé lại thì Khế Hư đã dọn đi không biết ở đâu. Trịnh quân từng ghi lại truyện ấy, gọi là Trĩ Xuyên ký.
27. Người Nước Ngoài (Ngoại Quốc Nhân)
Mùa thu năm Kỷ tỵ, ở Lĩnh Nam có một chiếc thuyền lớn ngoài biển gặp bão dạt vào, trên có mười một người. Đều mặc áo bằng lông chim, vằn vện rực rỡ, tự nói là người nước Lữ Tống*, gặp bão đắm thuyền, mấy mươi người đều chết, chỉ còn mười một người bám vào thanh gỗ lớn, trôi dạt tới một đảo lớn nên thoát chết. Ở lại đó năm năm, hàng ngày tìm bắt chim chóc, côn trùng để ăn, đêm ngủ trong hang đá, dệt lông chim làm áo. Chợt lại có một chiếc thuyền bị bão dạt vào, cột buồm cánh buồm đều không có, đại khái cũng bị thổi gãy trên biển. Lúc ấy bèn lấy chiếc thuyền trở về. Lại bị bão thổi vào Áo Môn (thuộc tỉnh Quảng Đông). Tuần phủ dâng sớ về triều, rồi đưa họ về nước.
* Lữ Tống: tức singapore.
28. Rắn Sâu (Trập Xà)
Quách sinh người huyện ta, mở trường dạy học ở trang Chi Hòa Đông Sơn. Đồng tử có năm sáu người, đều vừa vào học. Phía nam phòng sách là nhà xí, lại có một chuồng trâu dựng kề vào vách núi, trên vách núi cỏ mọc um tùm. Bọn đồng tử vào nhà xí phần nhiều cả giờ mới ra. Quách qưở mắng thì nói "Tôi trong nhà xí được lên mây". Quách ngờ vực, lúc đồng tử vào nhà xí, bèn theo bên cạnh liếc nhìn. Thấy bay lên trên không hai ba thước, lúc lên lúc xuống, thỉnh thoảng lại bất động. Quách bước vào nhìn kỹ, thấy ở khe hở trên vách đá có một con rắn ngẩng cao đầu, to như cái chậu, hút hơi phun lên. Bèn gọi người trong trang cùng tới xem, chất lửa đốt vách đá, con rắn chết mà khe hở vỡ ra. Con rắn không dài lắm, nhưng to bằng cái thùng. Đại khái bị chẹt ở trong không ra được, đã qua nhiều năm.
29. Đầy Tớ Của Họ Bao (Bao Thị Bộc)
Bao thị người Phiên Dương, ở ngoài cửa Tần Châu. Mua một con ngựa, giao cho đầy tớ là Trình Tam nuôi nấng. Hàng ngày dắt ngựa ra bến sông tắm, thường có con quạ khoang cổ trắng đậu xuống lưng ngựa ỉa, rất lo sợ, nhưng đuổi đi nó lại trỡ lại. Lúc ấy bèn uốn kim làm lưỡi câu, xâu vào sợi tơ dài, từ bụng ngựa buộc vòng lên lưng, móc mồi để nhử. Con quạ ăn mồi nuốt luôn lưỡi câu, không sao thoát được. Trình móc hai mắt quạ cho vào bọc về nhà, xin rượu của chủ nhân nuốt xuống. Từ đó mắt ngày càng sáng, có thể nhìn thấy ma quỷ trong cõi hư không. Có tỳ nử của họ Bao trong bếp, thấy một con ma trợn mắt lè lưỡi, dưới cổ lòng thòng một sợi dây, núp lén nhìn qua khe cửa, Trình vác gậy đập, con ma rên la hoảng sợ, dần dần lún xuống đất biến mất. Đại khái trước kia có người thắt cổ ở chỗ ấy. Về sau mỗi lần Trình ra ngoài đồng ắt nhìn thấy vật gì đó, tuy giống hình người, nhưng chân tay thân thể phần nhiều không nguyên vẹn. Quát tháo đuổi tới, thường đều bỏ chạy. Có người nói mắt con quạ ngàn năm có thể nhìn thấy vật giấu kín, hay cái mà Trình nuốt là như thế chăng.
30. Tục Đất Huy (Huy Tục)
Người đất Huy phần nhiều hóa thành loài vật, ra ngoài kiếm ăn. Có người khách nghỉ lại quán trọ, thấy bầy chuột chui vào khạp gạo, đuổi thì bỏ chạy. Khách chờ lúc chui vào, mau lẹ đậy nắp lại, múc nước đổ vào trong, lát sau đều chết. Cả nhà chủ nhân đột nhiên chết hết, chỉ còn một đứa con sống, liền kiện lên quan. Quan theo tình tha cho người khách.
31. Tục Đất Nguyên (Nguyên Tục)
Lý Quý Lâm quyền giữ ấn triện Nguyên Giang. Lúc vừa tới đáo nhiệm, thấy mèo chó đầy sảnh, lấy làm kinh ngạc. Liêu thuộc nói "Đó là bách tính dưới quê tới xem phong thái". Giây lát số người và súc vật bằng nhau, lát sau đều hóa thành người, nhao nhao tan đi. Một hôm, Lý ra ngoài gặp khách, kiệu đang đi trên đường, chợt một người phu kiệu gọi lớn "Tiểu nhân bị hại rồi!", lập tức nhờ nha dịch khiêng giúp. Nha dịch tức giận quát tháo cũng không nghe, cắm đầu chạy mau. Nha dịch đuổi theo sau, người ấy vào trong chợ, tìm thấy một ông già liền tới nhờ xem. Ông già nói "Là ngươi ăn phải vật lạ". Bèn lấy tay vuốt vào bụng, từ trên xuống dưới, ra sức đẩy, đẩy tới bụng dưới, thấy da thịt gổ lên, bèn lấy dao sắc rạch ra, lấy ra một hòn đá, nói "Khỏi rồi", người ấy bèn chạy về. Lại nghe nói có người nằm trong nhà mà cánh tay thì bay đi, vào nhà người ta trộm cắp tài vật. Nếu bị chủ nhân phát giác, buộc chặt cánh tay không cho bay về, thì người ấy kể như mất một cánh tay.
32. Con Ngựa Có Nghĩa (Nghĩa Mã)
Lưu Thừa Tiết người Chiết Tây, làm quan thu thuế ở Cống Châu được điều nhiệm, để gia đình ở lại đất Cống, chỉ cùng một con trai một đầy tớ cưỡi ngựa lên đường. Tới Quý Khê, dừng ngựa vào nhà trọ nghỉ lại. Gặp mấy người khách buôn mang hương đất Quảng, cùng ngồi hỏi han nhau từ đâu tới, muốn mua hương của khách. Khách lấy ra cho xem, đều không vừa ý. Khách chế nhạo, Lưu nói "Ta tuy không giàu có, nhưng hương của ta còn hơn hàng này". Nhân mở rương lấy ra cho xem, trong rương có vài trăm lượng bạc, bọn khách lén nhìn trộm. Đến lúc trời tối, đều ngủ lại. Bọn kia đều là cướp, đến khuya vác gậy xông vào phòng Lưu. Lưu từ nhỏ tùng quân, có sức khỏe, vung đao chém đứt một cánh tay, bọn cướp sợ hãi tan chạy.
Chủ nhân cũng là kẻ đồng mưu, bèn nói "Bọn họ không thỏa lòng, nhất định sẽ gọi thêm bè đảng tới, không thể ngủ yên được đâu, chẳng bằng nhân lúc trời chưa sáng lên đường để tránh đi". Lưu không ngờ là dối trá, gọi người đầy tớ dậy, không chờ ăn sáng đã lên đường. Tới dưới gù cao, gặp bọn cướp, tuy ra sức đánh nhau, nhưng ít khó chống nhiều, Lưu cùng con trai, đầy tớ đều bị giết. Vừa lúc có một người lính đưa công văn đi qua, bọn cướp cũng giết chết, vứt xác xuống hố, chia tiền bạc rồi tan đi, chỉ còn con ngựa quanh quẩn trên đường. Gặp lúc có viên Chủ bạ đi công cán về, con ngựa tới đón trước xe, khuỵu chân như lạy phục xuống, kế lúc lui lúc tiến, đuổi đi lại quay lại. Viên Chủ bạ lấy làm lạ, nỏì "Đây ắt có nỗi oan muốn tố cáo". Bèn sai mấy người theo con ngựa. Tới dưới dốc gò, con ngựa giẫm xuống đất đứng lại, thấy máu tươi đầy đất tanh nồng, bốn cái xác trong huyệt vẫn còn ấm. Lập tức sai Lý chính truy nã tìm bắt, không đầy buổi sáng đã bắt được tất cả bọn cướp, đều khép vào tội chết.
33. Vệ Sư Hồi (Vệ Sư Hồi)
Vệ Uyên, tự Sư Hồi, người Đông A Trịnh Châu. Nghiện rượu thành tật, thông minh hơn người nhưng lười đọc sách, hơn bốn mươi tuổi vẫn tay trắng nghèo hèn, thủy chung chưa ra làm quan. Gặp lúc mùa hè nóng bức, Sư Hồi cùng bạn bè đầu hồ uống rượu, say nằm dưới tường, mơ thấy mình đang ở chỗ khác. Chợt có tin báo người nước Nhũng Miến vào cướp, cư dân dìu già cõng trẻ chạy tán loạn. Sư Hồi hốt hoảng lủi trốn, đến khi trở về thì trong nhà đều đầy những người bị bắt, một mình đi vào núi, bàng hoàng mấy năm, không chốn nương thân. Chợt gặp ba người bạn cũ là Diêm Trung Phu, Lý Hanh Gia, Vương Miễn Phu, hỏi han tình hình, cho biết vợ con đều không việc gì.
Sư Hồi cả mừng vì được quá cả lòng mong mỏi, bèn nói "Ta khốn khổ ba năm, đói rét phiêu linh, ăn bữa sáng không biết bữa tối, thường nghĩ lúc gặp gỡ vui chơi trước kia, uống một hơi hết vài đấu rượu, nay muốn được uống một chén cho đỡ khát, cũng không phải chuyện gì lớn. Các ông thấy sao?". Trung Phu nói "Cách đây vài dặm có quán rượu, nhị muội của ta coi việc hâm rượu, rất xinh đẹp, cứ cùng tới thăm". Sư Hồi càng mừng, vào tới chợ thì đúng như lời Trung Phu. Sư Hồi đầu tiên uống một vò, lại gọi lấy thêm rượu, thấy a hoàn bưng rượu ra có vẻ buồn rầu.
Sư Hồi trách nói "Người hàng rượu gặp khách thì phải vui vẻ, tại sao ngươi lại như thế?". A hoàn khóc nói "Tiền bối không biết đó thôi. Vật người vừa uống không phải là lúa mạch nấu ra, mà đều là tinh huyết của người ta. Người là người cõi trần, lại vứt bỏ tiền trình, rước lấy tai họa, lúc chết sẽ bị ép cốt tủy mà làm rượu", Sư Hồi chớp chớp mắt không tin. Cô gái bèn dẫn vào nhà trong, vòng qua sảnh lớn, thấy đồ nấu rượu bày la liệt, bên cạnh có hơn trăm người trần truồng ngồi đó, nam nữ lẫn lộn. Có hai con quỷ lớn cầm kích theo thứ tự xóc lên cho vào vò rượu, lấy đá lớn đè xuống. Máu từ miệng chảy ra, giây lát thành rượu, Sư Hồi hoảng sợ tỉnh dậy. Nhìn thấy tiểu đồng đang hầu bên cạnh, tân khách vẫn đang ngồi, tiếng đầu hồ vẫn khua lanh canh. Bèn kể lại giấc mộng thì vốn chưa đầy một giờ, nhớ lại những điều đã trải qua, thì lại trong vài năm. Người thời Đường chép truyện Thái thú Nam Kha* anh đào áo xanh** giấc mộng kê vàng ở Hàm Đan***, việc cũng tương tự Văn thiên lục chép việc Trương sinh xuống âm ty (4*), cũng rất giống chuyện này.
* Truyện Thái thú Nam Kha: Nam Kha ký của Lý Công Tá thời Đường chép Thuần Vu Phồn ở Quảng Lăng, phía nam nhà ở có cây hòe lớn, cành lá xanh tốt. Gặp hôm sinh nhật Phồn say rượu nằm ngủ, mơ thấy tới nước Đại Hòe An, cưới công chúa, làm Thái thú quận Nam Kha hai mươi năm, sinh năm trai hai gái, cực kỳ vinh hiển. Sau đánh nhau với giặc thua trận, công chúa cũng chết, bị cách chức. Tỉnh dậy thấy nằm ở sân, mà mặt trời chưa lặn chén rượu uống dở vẫn còn. Bèn đi tìm dưới gốc cây hòe, thấy một tổ kiến lớn, mới sực nghĩ ra nước Đại Hòe An là bầy kiến dưới cây hòe, quận Nam Kha là một cành hòe hướng về phía nam. Về sau người ta dùng từ "Nam Kha" để chỉ sự hư ảo của vinh hoa.
**Anh đào áo xanh: nguyên văn là "Anh đào thanh y", chưa rõ là sách gì.
*** Giấc mộng kê vàng Hàm Đan: xem chú thích truyện Tục hoàng lương, quyển V.
4* Văn thiện lục... âm ty: chưa rõ là sách gì.
34. Thần Sét (Lôi Công)
Người dân ở Hào Châu tên Vương Tùng Giả, mẹ đang ngồi trong sảnh, gặp lúc mưa nhỏ, sắc trời mờ tối. Thấy thần sét cầm chùy đập cánh sấn vào, cả sợ vội cầm cái chậu đựng nước tiểu hắt ra. Thần sét bi dính bẩn, giống như bị đao búa chém trúng, quay người chạy mau, hết sức nhảy lên mây mà không được. Lăn lộn trước sân, rống lên như bò. Mây trên trời dần dần hạ xuống ngang mái hiên, trong đám mây có tiếng ran ran như ngựa hí, ứng với tiếng của thần sét. Giây lát mưa đổ như trút, thần sét rửa sạch được nước tiểu trên người, liền nổi sấm sét mà đi.
35. Hai Mươi Bốn Truyện Ma (Quỷ Trấp Tứ Tắc)*
*Nguyên bản in là "Quỷ nữ tứ tắc" (Bốn truyện nữ quỷ), nhưng thực tế có tới 23 truyện và không phải truyện nào cũng nói về nữ quỷ, rõ ràng chữ "nữ" đã bị lầm từ chữ "trấp" (hai mươi) vì có tự hình tương tự, đây đính lại như trên. Tuy nhiên bản Liêu Trai chí dị thập di chúng tôi dùng chỉ có 23 truyện, có lẽ bị in sót.
I.
Nhà người dân thôn Dư Can la Trương Học Lễ, đã đi ngủ, mục đồng ở chuồng bò nghe có tiếng gõ cửa, vội trở dậy ra nhìn. Thấy vài trăm tráng hán, đều khoác giáp ngũ hoa, đội mũ đâu mâu đỏ xông vào, kế biến mất không thấy đâu nữa. Đến sáng, năm mươi con bò trong chuồng đều chết, đại khái là ma ôn dịch
II.
Điền Xác người Truy Xuyên, cháu gái lấy con Lưu Lang trung. Lưu qua đời mấy năm, Điền thị bị bệnh, sai đầy tớ tới huyện bên cạnh gọi cháu họ là Trương Mẫn Trung tới, định gửi gắm hậu sự, Trương chưa tới thì Điền đã chết. Điền vốn có anh trai, cưới con gái họ Liêu ở huyện bên cạnh. Người ấy chết, lại cưới cô em gái, lúc anh Điền chết, chỉ còn có người chị dâu sau, bèn cùng Mẫn Trung tới viếng, ngụ ở gác Một Sơn chỗ Trương ở cũ. Lúc ấy là tháng mười năm Giáp thân. Đêm ấy Liêu thị chợt đau tim, mời thầy thuốc tới chữa cũng hơi đỡ. Quá nửa đêm, định ngồi dậy, ăn nói quàng xiên. Trương tới xem, thì là người chị nhập vào xác, trách mắng em gái nói "Lấy chồng chỗ nào không được, sao lại nhất định phải có chồng chung với ta, lúc chồng ta chết cũng không đặt bài vị thờ ta, khiến ta quanh năm không có nơi nương tựa. Không kéo ngươi cùng đi không được". Mẫn Trung nài nỉ nói "Đây là do chú Điền, không phải là lỗi của thím hai. Đã là chị em một nhà, sao lại nỡ làm thế?". Giây lát, chợt chắp tay nói "Thúc ông vạn phúc", lại nói "Khánh Tôn, ngươi cứ lên giường ngồi". Thúc ông là Điền Xác cha Điền Tam cô, Khánh Tôn là con út của Xác, đều đã chết. Đại khái ma quỷ đầy sảnh, người chung quanh đều nổi gai ốc.
Trong giây lát lại biến đổi vẻ mặt nói giọng họ Điền, nhìn Trương nói "Tri huyện vì cô mà tới đây. Lúc cô sống có lời muốn nói, nay cũng nên nói ra", rồi gọi Trương tới trước mặt nói chuyện lúc cô chết anh chồng lấn chiếm ruộng vườn và tỳ thiếp trộm cắp tiền bạc, lập ra danh sách, quả thật không sai, lại dặn lập đứa con nuôi thứ hai làm con thừa kế họ Lưu. Lại hạ giọng thì thào, như không muốn người khác nghe thấy. Hồi lâu ứa nước mắt nói "Ta không có tội gì lớn, sẽ không phải xuống địa ngục, nhưng đầu thai đường dài, chưa thể siêu thoát thôi", rồi sụt sùi ra đi. Lúc nhập vào thì Liêu thị thành mắt xếch, má có lúm đồng tiền, mười ngón tay thuôn dài, rất giống Điền cô lúc còn sống. Cứ thế cách một ngày lại tới một lần, toàn nhập vào Liêu thị.
Mùa xuân năm sau đưa đi chôn cạnh mộ Lưu, Trương và Liêu thị tống táng, ngủ lại cạnh mộ. Lúc ấy mưa xuân lạnh lẽo, gió thông vi vút, mọi người đều sợ sệt nghĩ là Liêu sẽ bị nhập. Trương mắng "Nhất định là ma quái ngoài đồng giả ra, chứ nếu là Điền Tam cô, thì tại sao dung mạo lại khác hẳn mùa đông năm ngoái?". Con ma lập tức thay đổi, rõ ràng không khác gì trước kia, lại nói chuyện cũ, dặn dò cặn kẽ rồi đi. Đến khi Liêu thị về nhà, lại tới nhờ cậy, nói muốn gặp Trương. Người nhà nói "Trương Tri huyện cách đây không xa, sao không tới đó?". Đáp "Trạch long cản trở, tuy ta muốn vào nhưng không cho, ta cũng không khỏi làm ma". Sau một năm Liêu chết, từ đó mới không tới nữa. Ma nhập vào người sống thì rất nhiều, nhưng chỉ con ma ấy là có thể khiến cho hình dáng trở nên giống mình, thật cũng kỳ quái.
III.
Dân ở đường Hoàng Bá Nam Môn Phủ Xuyên là Chiêm Lục Chiêm Thất, làm nghề bán cháo bán lụa. Người nhỏ còn gọi là Tiểu ca, vì đánh bạc hết tiền, sợ anh đánh mắng, lén trốn đi nơi khác, lâu ngày không về. Người mẹ nhớ con tha thiết mà nằm mơ xem bói đều là điềm bất tường, cho là tiểu ca đã chết. Gặp ngày hội Vu lan rằm tháng bảy, đêm trước họ Chiêm bày tiền giấy ra đốt trước sân. Trời sập tối, nghe như có tiếng sụt sịt bên ngoài. Người mẹ nói "Tiểu ca chết thật rồi, nay tới nói với ta đấy". Rồi lấy một tờ giấy tiền vàng bạc khấn "Nếu đúng là con ta, thì hãy giật tờ giấy này đi là đúng, sẽ cầu khấn âm ty giúp đỡ ngươi". Giây lát gió âm nổi lên, mấy lần cuốn vào rồi giật tờ giấy tiền vàng bạc đi. Mẹ và anh trai khóc thất thanh. Kế gọi sư tới tụng kinh siêu độ, không còn mong đợi gì nữa. Sau vài tháng, chợt Tiểu ca từ ngoài đi vào. Người anh nói "Ma rồi cầm dao đuổi. Người em sấn tới ôm chặt, nói "Chưa đâu", người anh mới nhìn kỹ, hỏi còn sống hay chết. Người em nói "Vốn sợ anh đánh nên trốn đi, nên tới Nghi Hoàng làm thuê, chứ chưa chết". Mới biết chuyện trước kia là ma quỷ dối trá.
IV.
Ở bến đò tại thôn ngoài huyện Tân Thành, có người đánh cá đêm trăng sáng buộc thuyền sắp về, nghe bờ bên kia có người gọi đò. Bèn chèo qua, là hơn hai mươi người, đều xăm người vác đao kiếm, nghĩ là quan quân ngoài trại, không dám hỏi han, chỉ chở qua sông. Tới bờ, họ trả tiền đò, lên bờ cảm tạ rồi đi. Bình thời binh sĩ qua lại chưa từng có chuyện như thế, người đánh cá vừa mừng rỡ vừa ngạc nhiên. Sáng hôm sau nhìn lại tiền ấy thì đều là giấy, mới biết đã gặp ma.
V.
Núi Long Môn cách huyện Nam Thành hơn trăm dặm về phía đông, trên đỉnh núi có chùa, vắng vẻ tịch mịch, ít có vết chân người lui tới, chỉ có một nhà sư ở đó. Có nhà sư vân du ghé đó làm khách, được mời ngủ ở phòng khách, cách phòng sư trụ trì khá xa. Lúc đã đi ngủ, nghe ngoài cổng có tiếng người gọi, kinh sợ không dám dậy. Giây lát, cửa tự nhiên mở ra. Khách càng hồi hộp, không dám thở mạnh, xuống giường muốn chạy, thì thấy cửa phòng có tảng đá lớn chặn cứng phía ngoài, kêu la hồi lâu, sư trụ trì mới lên tiếng. Đang lúc hỏi han tảng đá chợt biến mất, mà cửa lại mở ra như cũ. Khách không ngủ được nữa, qua phòng sư trụ trì ngủ, lại hỏi về chuyện kỳ quái ấy. Đáp "Đó là ma núi làm ra" Trước sau những người gặp chuyện ấy rất nhiều nhưng không làm hại ai.
VI.
Thợ vẽ Hoàng sinh người Lâm Xuyên, đi chơi tới Quảng Xương, vào trại Trật Ba, trọ lại nhà Nham Quán Chi ở Trường Lang. Nửa đêm một người đàn bà xuất hiện trước đèn, rất xinh đẹp, nhân say rượu khêu gọi, người đàn bà vui vẻ ưng thuận. Hỏi là người nhà ai, đáp "Là vợ chủ nhà", từ đó đêm nào cũng tới Hoàng có khi thiếu thốn, ắt lấy trộm tiền đưa cho. Nấn ná nửa năm, dần dần mắc bệnh gầy mòn. Nham hỏi han, cũng không chịu nói. Trước kia Nham thường đi lại với kỹ nữ, người vợ không nhịn được ghen tuông, thắt cổ tự tử chết trong phòng. Tuy đã chôn cất, nhưng vẫn mấy lần hiện hình lên tiếng, Nham bỏ trống phòng ấy không dám ở, mà Hoàng ở đó, nên Nham cho là bị ma quấy nhiễu, Hoàng mới nói thật. Nham hướng lên không khạc nhổ chửi rủa, đưa Hoàng ra ở quán trọ, đêm ấy người đàn bà lại tới. Hoàng sợ hãi định trốn tránh. Người đàn bà nói "Không cần trốn ta, ta há lại nỡ hại chàng. Chàng có trốn ta cũng tới". Hoàng bất đắc dĩ giữ lại cùng ngủ. Lâu sau, Hoàng sợ nàng hại mình, bèn phóng ngựa về quê. Dọc đường dừng lại nghỉ mệt, ngồi hóng mát dưới gốc dâu. Người đàn bà lại tới, nói "Thằng giặc quá vô tình, chung sống với nhau bấy lâu mà không có một câu chia tay, nỡ bỏ ta à? Quay lại mau!". Hoàng không dám đáp, nhưng trong lòng cầu khấn trời đất, thầm tụng kinh. Người đàn bà chợt thở dài nói "Đây là lỗi của ta. Lúc đầu lẽ ra không nên lầm lỗi, đến nỗi gặp lúc không có tiền trình ngày nay! Quân súc sinh đâu đáng hâm mộ, ta há lại không thể tìm người khác sao?", rồi bỏ đi. Từ đó con quái tuyệt tích.
VII.
Hồ Vũ Nham du học ở vùng Đạo Vĩnh Hồ Tương, trọ lại một ngôi chùa hư nát. Có nhà sư già ngồi quay lưng lại ngọn đèn, nói "Sao khách tới muộn thế?". Hồ nói "Không có hàng quán nên thiếu cái ăn, đi đường rất mệt". Sư rút trong tay áo ra hai cái bánh chay bảo ăn, rồi trải chiếu dưới đất cho nằm. Sư tụng bài kệ rằng "Bách bổ cà sa cựu bát vu, Kỷ niên đồng ngã thử sơn cư. Hàn đăng dạ chiếu thanh liên tọa, Đắc bạn khan thiêm sổ diệp thư" (Bát Cũ, Cà Sa cũng vá quàng, Mấy năm chung sống giữa non ngàn. Đèn khuya hiu hắt tòa sen lạnh, Có bạn xem thêm sách mấy trang). Sáng ra thấy áo ướt mà lạnh, sờ xuống chiếu mới biết nằm trên bãi cỏ ngoài trời sương, giữa đồng trống mênh mông, không có gì cả. Hoảng sợ kể lại với hành giả, hành giả nói "Đó là chỗ chôn cất tổ sư. Tổ sư viên tịch mười lăm năm rồi. Đêm qua cúng bánh chay, đang ngạc nhiên vì mất hai cái".
VIII.
Du sĩ Hổ Thiên Tuấn ngụ ở Giác Địa Thanh Tranh Đàm Châu. Đêm trăng đánh đàn dưới gốc mai, nhìn ra xa thấy có cô gái đẹp muốn bước tới lại thôi, bèn cố ý đùa giỡn. Cô gái thẹn thùng bước tới, Hồ đứng lên vái chào. Cô gái nói "Tiếng đàn tuy hòa hoãn, nhưng quá ai oán, không được thỏa ý lắm". Hồ nắm tay nàng nói "Trên đời không có ai là tri âm, đêm nay gặp nhau, hay là duyên trời chăng?". Cô gái khép nép bước đi, nói "Đêm mai trăng sáng sẽ tới gặp chàng". Hôm sau bạn bè kéo Hồ vào thành uống rượu, suốt hai ngày hai đêm vui vẻ quên về, hối hận vì lỡ hẹn. Vội trỡ về, nhặt được dưới gốc cây một cái khăn lụa trắng, trên để bài thơ rằng "Tiêu tiêu phong khởi nguyệt ngân tà, Lộ trọng vân hoàn áp ngọc già. Vọng đoạn hành vân ngưng lập cửu, Thủ đàn chau lệ tiễn mai hoa" (Vi vu gió nổi ánh trăng tà, Sương ướt vai gầy nặng ngọc thoa. Nhìn sững mây trời chờ đợi mãi, Bên mai rơi lệ ướt cành hoa). Hồ buồn rầu về ngủ. Hôm sau đưa tấm khăn cho mọi người xem. Triệu Băng Hồ hoảng sợ nói "Người vợ đã mất của Tôi người Hàng Châu, họ Kiều tên Vọng Tiên, là cháu gái Quý phi. Năm trước chợt qua đời, chôn sau gốc mai, đây đúng là nét chữ của nàng". Hồ bèn rưới rượu tế, lại làm bài thơ rằng "Vương Tôn tự hận phụ giai kỳ, Dạ túy Trường Sa ngẫu vọng (vong) quy, Ứng ứng hoang hồn đạp tàn nguyệt, Tương tương lộ thấp khứ thời y" (Vương Tôn tự hận phụ lòng ai, Quên bẵng giai nhân bởi rượu say, Trăng lạnh soi hồn thương lúc đợi, Sương rơi lạnh áo xót khi về).
IX.
La Mỗ người Ấn Cương Lư Lăng, cùng vài người đi đêm, qua hồ Tập Gia. Nhân ăn ô mai, bèn nhét hạt vào miệng cái đầu lâu cạnh đường, hỏi "Có mặn không?". Đi tiếp tới Trường Khanh, ánh trăng sáng rực, thấy phía sau có một khối đen cuộn tròn đuôi theo, gọi "Mặn quá" Mọi người cả sợ, chạy mau hơn mười đặm. Tới thôn Vinh, qua sông mới không nghe tiếng nữa.
X.
Phía đông chợ Lư Túc ở Viên Châu có người thợ bạc họ Quách, hơn ba mươi tuổi vẫn ở một mình. Phía tây chợ có bà già bán hoa, thường ghé Quách mua các thứ vòng nhẫn. Con gái bà già khoảng mười lăm mười sáu tuổi, một buổi tối tới nhà Quách nói "Xin làm vợ chàng". Quách hoảng sợ, cô gái nói "Thiếp hâm mộ chàng đã lâu, nay tìm được kế thoát thân, xin đừng nghi ngờ". Quách hỏi duyên cớ, nói "Vừa rồi giả chết, mẹ liệm thiếp vào quan tài, thiếp mở nắp quan tài bước ra rồi đậy lại. Mẹ đã đem quan tài rỗng đi chôn rồi, không tìm thiếp nữa đâu!". Quách đưa nàng vào phòng kín, bảo đừng ra ngoài. Hơn một tháng, người mẹ ngẫu nhiên tới chỗ Quách, gặp lúc Quách đi vắng, nhìn vào trong thấy đôi hài đỏ của con gái lúc liệm trong nhà, bèn xô cửa vào lấy, rồi gọi hàng xóm nói "Quách Mỗ đào mộ con gái ta". Quách về, nghe hàng xóm kể lại cả sợ. Cô gái nói "Mẹ tới bất ngờ nên thiếp vội tránh đi, để quên đôi giày. Ta cứ tạm tránh đi, chàng đừng lo". Cô gái đi, Quách bèn trốn tới Đàm Châu.
Đi được hơn mười dặm, cô gái đuổi tới, cùng tới Đàm Châu, lâu ngày hết tiền. Cô gái nóí "Thiếp giỏi hát điệu Cung xướng, chắc chắn có người thưởng thức". Bèn mở ca trường sau phường Bình Lý, giọng ca át mây, người xem đông nghẹt. Mỗi ngày bán được mấy trăm vé, những nhà phú hào tranh nhau mời tới, đều trả bằng trâm thoa vàng. Hơn một năm, dành dụm được hàng vạn. Một hôm có đạo nhân đội giốc cân, thân cao chín thước, vỗ vai Quách nói "Hàng ngàn hàng vạn con người lại đi xem con rối ma này!". Quách tỉnh ngộ, kéo tới chỗ vắng, lạy xin cứu giúp. Đạo nhân bảo tới cầu khẩn ở miếu Nam Nhạc. Quách tới miếu vái lạy, đến canh hai, thấy cô gái đeo gông bị kéo nhanh vào, tới hậu cung miếu Nam Nhạc đột nhiên ngã vật ra, thì là một cái xác, mới biết là ma nhập vào xác cô gái. Bèn dốc hết tiền bạc sữa miếu để chuộc tội cho cô gái, dùng hậu lễ hỏa thiêu cái xác. Đêm mơ thấy cô gái tới cảm tạ, khóc lóc từ biệt rồi đi.
XI.
Dương Nhị Lang người Kiến Khang, đem vốn đi buôn bán ở Nam Hải, đi về hơn mười năm, giàu có ngàn vạn. Trong niên hiệu Thuận Trị, gặp cướp ở Ba Trung, cả đoàn bị hại. Dương rơi xuống nước trước nên thoát thân. Gặp một cây gỗ, bèn ôm lấy cùng trôi nổi, qua hai ngày dạt vào một hòn đảo bèn lên bờ, dò dẫm đi tới một cái hang. Đàn ông đàn bà trong đó xúm lại nhìn, phần nhiều đều trần truồng, mà âm thanh có thể hiểu được. Có người đàn bà tự xưng là Quỷ mẫu, thị vệ rất đông, ngạc nhiên nói "Ở đây tựa hồ có mùi người sống", sai a hoàn khám xét, thấy Dương Nhị Lang, bèn báo với Quỷ mẫu. Sai dẫn tới trước mặt, hỏi "Ngươi có nguyện ý ở lại đây không?", Dương nghĩ không có cách nào thoát thân, cứ tạm ủy khúc để sống, bèn ứng tiếng đáp "Xin ở lại". Quỷ mẫu liền bảo a hoàn làm một gian phòng, cho hai người làm vợ chồng, suốt hơn hai năm ăn uống đi lại giống hệt cõi trần.
Có tên lính đưa thư tới, nói "Chân tiên mời Quỷ mẫu, xin tới Quỳnh thất". Từ đó cứ mười ngày hoặc một tháng lại đi, mọi người đều theo. Nhị Lang một mình ở lại trong hang, một hôm xin đi theo. Quỷ mẫu nói "Ngươi là phận người phàm, làm sao đi được?". Nhị Lang cứ nài nỉ, Quỷ mẫu chợt ưng thuận. Thấy dưới chân nhẹ nhàng như cưỡi mây, tới một nơi quán vũ, yến tiệc thịnh soạn âm nhạc rộn rã. Những người tới đều theo chỗ mà ngồi, Quỷ mẫu bảo Tiểu Dương nằm phục dưới tấm khăn bàn, dặn nín thở đừng động đậy. Tiệc xong thấy đốt giấy tiền vàng bạc, kế nghe tiếng khóc, lắng nghe thì là vợ con họ hàng của mình. Dương từ dưới gầm bàn bước ra, gọi tên người nhà, mọi người đều cho là ma xúm vào chửi mắng. Chỉ có người vợ khóc nói "Ngươi chết trên biển, lâu quá không có tin tức, lúc bấy giờ phát tang, chiêu hồn xem bói, hôm nay là ngày trừ phục, nên lập thủy lục đạo tràng để cúng tế, sao lại ở đây, chẳng lẽ lại là hồn ma dữ nhập vào sao". Dương nói "Ta là người thật", nhân kể lại duyên do, người nhà mới tin thật. Quỷ mẫu ở ngoài vẫy gọi không thấy ra, nổi giận chửi mắng, nhưng không thể vào gần, giây lát bỏ đi. Vợ Dương mời thầy thuốc dùng thuốc điều hòa bổi bổ, qua mấy năm, diện mạo dáng vẻ mới trở lại như thường.
XII.
Hoàng Tập Phố người Kiến Khang thông gia với Tăng Hồng Tử người Phủ Châu. Hoàng thích yên tỉnh, mỗi khi tới nhà Tăng, ắt xin ở trọ trong tăng xá bên cạnh, sư thường quét dọn quan phòng để chờ. Trong niên hiệu Sùng Trinh Hoàng có tang mẹ, tới nhà Tăng cảm tạ đã tới điếu tang, rồi tới tăng xá, sư cho ở phòng riêng. Hoàng cho rằng sư coi thường mình, hỏi không vui. Đêm ấy trăng sáng, nhân ra thềm hóng mát, nhìn ra xa thấy cung điện đèn lửa thấp thoáng, tiếng cười nói râm ran. Chợt có một vị sĩ phu bước ra vái nói "Ông có phải là Hoàng Tập Phố không? Mời vào uống chén trà". Hoàng nói "Ta quên mất ông là ai?". Người ấy nói "Ta là Trương Duy Kỷ, làm chức quan nhỏ trôi nổi giang hồ, đáo nhiệm tới đây". Nhân mời vào cùng uống rượu, gọi vợ con ra chào. Duy Kỷ nói "Ta có đứa cháu gái, còn chưa kết hôn, xin dâng ông để hầu chăn gối". Hoàng nói "Ta đang có tang, đâu dám bàn tới chuyện ấy". Duy Kỷ nói "Kẻ sĩ lễ pháp như con rận ở trong nếp quần. Tập Phố là kẻ đạt sĩ, sao còn câu nệ như thế". Nhân kéo vào phòng trong, ép uống rượu hợp cẩn, vợ chồng làm lễ xong, Hoàng nghĩ đang có tang lại làm thế này, quả thật là tội nhân danh giáo, vì thế im lặng. Chợt nghe tiếng thanh la khua vang, sực hiểu là bị ma ám. Muốn vùng dậy nhưng cô gái trong màn níu chặt lại, không sao giãy ra được. Bèn lớn tiếng gọi đầy tớ, Duy Kỷ bước ra nói "Tại sao Tập Phố lại coi nhau là ma quỷ?", bèn kéo ở lại.
Nhà sư thức dậy, thắp đuốc đưa Hoàng về nhà Tăng, Hoàng còn nhìn thấy Duy Kỷ và vợ con đi theo. Hoàng nói "Vừa rồi ai khua thanh la thế?", mọi người đáp "Gà gáy đấy", Hoàng càng hiểu ra. Sáng ra Tăng tiễn về, Duy Kỷ và vợ con cùng đi theo, Hoàng đi cũng đi, Hoàng dừng cũng dừng, người khác không nhìn thấy, chỉ có Hoàng nhìn thấy. Hoàng về đến nhà thì bị bệnh nặng. Bí giám Trương Uyên Huy, chơi thân với Hoàng tới thăm. Đi chưa được hai dặm, Hoàng nói "Trương Bí giám tới". Kế quả nhiên Trương tới. Trương hỏi han, thì là Trương Duy Kỷ kể lại, kế bị bệnh mấy tháng mới khỏi. Lúc trước lúc Hoàng đang uống rượu với Duy Kỷ, đầy tớ lấy làm lạ là lâu quá không vào, bèn trở dậy nhìn vào quan phòng. Có người nói "Quan của ngươi vào trong này uống rượu". Người đầy tớ về đi ngủ trước, hôm sau hỏi sư, sư nói gần đây có vị quan họ Trương tên Duy Kỷ đưa cả nhà tới trọ trong chùa, bị bệnh dịch đóng cửa chết hết trong quan phòng.
XIII.
Thiếu bảo Mã Lượng, lúc trẻ thắp đèn đọc sách cạnh cửa sổ. Chợt có bàn tay to như cái quạt từ ngoài song cửa thò vào. Đêm sau lại tới. Ông lấy bút chấm nước thư hoàng, vẽ một cái hoa áp lớn lên đó. Ngoài cửa la lớn "Chùi mau cho ta, nếu không sẽ có tai họa đấy?". Ông không nghe, bỏ đi ngủ. Giây lát, bên ngoài càng tức giận, càng giục giã bảo chùi đi, ông cũng không đếm xỉa gì tới. Gần sáng chuyển thành tiếng nài nỉ mà bàn tay không rút ra được, lại nói "Ông sẽ quý hiển, nên tạm thử ông thôi, sao lại nỡ đẩy ta tới chỗ đường cùng? Ông không biết chuyện Ôn Kiều đốt sừng tê* sao?", ông sực hiểu ra, lấy nước rửa dấu hoa áp đi, bàn tay rút ngay ra ngoài, nhìn ra thì không thấy gì.
*Ôn Kiều đốt sừng tê? Tấn thư chép ôn Kiều làm quan thời Nguyên đế, Minh đế, làm quan tới chức Thứ sử Giang Châu. Lúc Tô Tuấn làm phản vây hàm kinh sư, Kiều cùng Đào Khản đánh dẹp, được phong là Phiêu kỵ tướng quân, Thủy An quận công, trên đường về trấn đốt sừng tê soi thủy quái dưới ghềnh Ngưu Chử, đêm mơ thấy có người tới trách móc, nhân thế bị bệnh mà chết.
XIV.
Phương Tử Trương nhà ở thôn Ngụy Đường Tú Châu. Có tên tá điền là Trâu Đại, giỏi cắt tóc. Có người tới gọi, nói "Nhà Mỗ có khách, nhờ ngươi làm trò vui". Trâu từ tạ nói "Ta chỉ biết hát nhưng bài trong đám ma, ngươi dùng làm gì?". Nói "Chủ nhân chính muốn nghe khúc ấy, xin sẽ hậu tạ". Trâu vì thế rất kinh ngạc, nhưng tính toán thấy không thể từ chối, bèn ngầm giắt lục lạc vào bụng, buông tay áo lên đường. Tới nơi, chỗ ấy rất gần, nghĩ bình thường ở đây không có ai ở. Thấy phòng ốc rất nhỏ, mà điệu ai vãn không phải nên hát chỗ yến tiệc, lại càng nghi ngờ. Bèn lắc lục lạc hát, trên tiệc hơn hai mươi người đàn ông đàn bà đồng thanh nói "Bọn ta đều thông thạo điệu ấy, không cần có tiếng lục lạc chen vào". Lại hát thêm vài khúc, mọi người đều vỗ tay khen hay. Uống đến lúc ngà ngà, lại hỏi "Còn biết nghề gì khác không?", Trâu đáp "Cũng biết thần chú Đại bi uế tích", mọi người đều nói "Không phải là cái bọn ta cần". Trâu biết đó đều là ma, bèn rút lục lạc ra lắc mạnh, cao giọng niệm chú. Vừa được vài tiếng, gió âm nổi lên, đèn đuốc bàn ghế đều biến mất, trước mắt tối om, nhìn lên nóc thấy có lỗ nhỏ, cũng vừa đủ để ra, mà ánh trăng sáng xuyên xuống, có thể nhìn thấy chung quanh, bèn co người chui ra, may mà thoát được. Hôm sau tới xem chỗ áy, thấy gai góc cỏ dại um tùm, chỉ là một ngôi mộ cổ mà thôi.
XV.
Người đánh cá ở Hồ Châu là Ngu Nhất, nhân đi đánh cá buộc thuyền ngoài nhà dân ở cọc rào ranh giới Tân Thành. Quá nửa đêm, nghe trên bờ có người nói với nhau "Chúng ta ở nhà này đã lâu, nên tính chuyện ra đi, dời xuống thuyền nên chăng?". Có giọng ứng tiếng nói "Đây là thuyền chài, lại là người nơi khác làm sao xuống được? Ngày mai phía đông nam có thuyền tới trong đó có hai hộp chu hồng và mấy bình rượu xích nê, có thể đi theo. Người ấy là họ hàng người bệnh nên tới thăm, nhà lại khá giàu có đủ cho chúng ta dùng", cả bọn đều nói phải. Dứt lời lại im ắng, Ngô Nhất lấy làm kỳ quái. Trời gần sáng, dậy hỏi chuyện, thì nhà dân ấy đang bị bệnh dịch, kẻ tính chuyện đêm qua là ma. Bèn đi tắt qua đường nước phía đông nam buộc thuyền lại chờ xem. Quả nhiên gặp một chiếc thuyền nhỏ tới, nhìn đồ vật trong thuyền, đều như lời ma nói, vội gọi dừng lại, kể cho chuyện nghe thấy lúc đêm. Người trên thuyền cả sợ nói "Đó là nhà con rể ta, đang định tới đó thăm bệnh. Nếu không có ông cứu, thì cả nhà này lại ghi tên vào sổ ma rồi". Bèn đem hết rượu thịt mang theo tặng Ngô, cảm tạ rồi quay về.
XVI.
Quý Nguyên Hành tự Nam Thọ, người Tấn Vân. Sau khi thi đỗ, được điều làm Giáo thụ Thai Châu, định tới Kiến Khang yết kiến Phủ doãn. Trong nhà có người thiếp hầu, uất ức vì chủ mẫu không thể dung, thường có ý muốn chết. Lúc sắp lên đường, Lý nói chuyện với vợ, dặn "Ta đi rồi, nhất thiết đừng đánh đập, vạn nhất có chuyện không hay, lại phải tốn kém. Nếu nhất định không chứa được, cứ chờ ta về sẽ đuổi đi cũng không khó". Vợ nói "Cứ yên tâm mà đi, ta không làm chuyện như thế đâu", nói xong chia tay. Nguyên Hành đi mấy hôm tới Kiến Khang, đã bớt lo lắng, lại nghe bên tai có tiếng sụt sịt, giống tiếng người thiếp, nhưng không nhìn thấy hình dáng. Hỏi thì nói "Chàng vừa ra khỏi cửa là lập tức bị đánh đập, thế không sống được nữa, nên tự treo cổ chết rồi". Quý vì thế thương khóc xin nghỉ, muốn quay về, lại nghĩ ác nghiệp đã tới. Muốn gủi thư, lại không nỡ, nên tạm sai đầy tớ ngày đêm về nhà để hỏi rõ chuyện ấy. Lại thay người nhà viết thư báo cho quan huyện, lại gởi thêm tiền chôn cất. Từ đó đêm nào hồn ma cũng tới khóc lóc. Kế người đầy tớ trở lại, nói "Trong nhà vẫn vô sự, lúc Mỗ về tới bà ấy còn dọn cơm cho ăn" Quý nói "Vậy là ma quỷ giả mạo để mê hoạc ta thôi". Đêm ấy con ma lại tới, Quý nghiêm mặt nói "Ngươi là yêu tà ở đâu, lại dám như thế không chịu cút đi! Ta sẽ mời đạo sĩ tới đây, dùng phép bắt ngươi". Con ma nói "Quả thật ta không phải là người ấy. Vì lúc ông lên đường nảy dạ nghi ngờ, nên ta thừa cơ bịa đặt. Nay chỉ xin ông tụng cho vài quyển kinh Phật, đốt cho chút ít tiền giấy thôi".
XVII.
Phong tục phương Bắc, mỗi khi đến lúc giao thừa ắt thắp đèn sáng trưng ở các nơi nhà bếp nhà xí, gọi là soi rọi hư hao. Có người nhà giàu ở Khai Phong là Triệu Tái, sai hai tỳ nữ làm chuyện ấy. Một tỳ nữ tham dầu vừng thắp đèn để chải tóc, bèn thay dầu đồng vào đèn trong nhà xí. Đến nửa đêm, tỳ nữ kia trong nhà xí thấy một người đàn bà cao khoảng ba thước, xõa tóc mặc quần đỏ từ trong đi ra, cắp một cái rương nhỏ chứa đầy quần áo mới, xếp lên góc vách. Người tỳ nữ hoảng sợ la lớn chạy về, gọi bọn gia nhân kéo tới xem, nhưng tới nơi thì không thấy gì. Riêng tỳ nữ đánh tráo dầu chợt la lớn ngã lăn xuống đất. Mọi người đỡ về, đổ nước nóng cho, hồi lâu mới tỉnh. Nói đầu tiên dùng dầu đồng thắp đèn mới đến nỗi này, bị ma đánh. Lại nói "Ta bị người ta lôi vào nhà xí không lên tiếng, làm ta bị tuột da, đau lắm. Nói đang chờ lấy dầu đêm nay để xức, ngươi lại dám đánh tráo? Đang đánh túi bụi, thấy người nhà kéo tới đông quá, mới bỏ ta mà đi".
XVIII .
Huyện Dương Xuân châu Nam Tư, tức Xuân Châu thời cổ, có con ma lạ trú ở sảnh Chủ bạ, có thể giữa ban ngày hiện hình, ăn uống cười nói như người sống, rất ghét người ta nói tới hình dáng, ai nói là tới quấy phá. Nhà Chủ bạ rất khổ, sáng dậy ắt phải lạy, ăn cơm ắt phải cúng, thờ phụng rất kính cẩn. Có viên Tuần kiểm trực ban, vừa tới làm quan, Chủ bạ mời tới uống rượu. Trò chuyện nhắc tới chuyện ấy, nhân hỏi sự quái dị. Chủ bạ chưa kịp đáp, con ma đã đứng sau lưng Tuần kiểm, Chủ bạ biến sắc đứng dậy. Tuần kiểm biết có chuyện lạ, vung tay xô luôn, con ma không đứng nổi, ngã lăn xuống đất. Tuần kiểm vừa xô vừa đánh, con ma nhìn Chủ bạ năn nỉ nhờ xin giúp, Chủ bạ hết sức xin cho, con ma mới thoát được. Nhà Chủ bạ sợ nó giận lây, cả đêm không dám ngủ, nhưng đến sáng vẫn yên ắng không có một tiếng động. Mở cửa thấy trên vách viết một hàng chữ lớn "Vì Tuần kiểm là người thô lỗ, không thèm chấp nên đi" , từ đó tuyệt tích.
XIX.
Có người làm vườn ở Hàng Châu, rửa rau ở ao Bạch Quy. Nghe dưới nước có người trò chuyện, một người nói "Ngày mai ở đê Sa Hà khai trương cửa hiệu bán lụa, một viên Chưởng sự nhà họ Vương phải chết ở đây, có thể thay thế ta". Một người nói "Ngày đi của ngươi không còn xa, làm sao bây giờ". Người làm vườn biết viên Chưởng sự , liền tới báo tin. Người kia cảm tạ thề suốt ngày không ra khỏi cửa. Đến sáng cửa hiệu khai trương, quan phủ sai tên lính khỏe tới đón, nhà chủ hiệu lại biếu tiền lụa, bất đắc dĩ phải đi. Qua khỏi cầu Thanh Hồ, tên lính đưa đi theo đường hồ Bạch Quy, viên Chưởng sự nhất định không nghe. Những nhà ở cạnh đó chỉ thấy người ấy một mình đi loạng choạng, dáng vẻ như đang ra sức cãi vã đánh nhau. Cũng có người quen biết viên Chưởng sự, liền xốc nách đưa về. Kế hôn mê không nói được, trong miệng toàn đất bùn, cho uống Tô hợp hương, lâu sau mới tỉnh. Đại khái kẻ xưng là lính quan phủ cử tới là ma vậy. Lại qua hôm sau, người làm vườn tới đó rửa rau, bị chết đuối.
XX.
Lý Chủ bạ người huyện Đan Đồ Trấn Giang, tới Hồ Châu công cán. Có hai người sai nhân trong phủ tên Từ Chương, Thái Yên đi cùng. Vào tới địa giới Hồ Châu, trọ trong tăng phòng viện Quan âm, bên cạnh có một gian phòng nhỏ, cửa nẻo khóa chặt. Hai sai nhân nhìn trộm vào, thấy trên vách treo ảnh một cô gái, phía trước bày lư hương, biết là tẫn cung. Bèn nói vụng với nhau "Bọn ta ở đất lạ lạnh lẽo cô đơn, nếu được một người như thế tới làm bạn vui vẻ một phen thì thật là may mắn". Từ bèn hỏi sư, sư nói "Người trong quận là Trương Văn Lâm, làm Huyện lệnh Tượng Sơn, vợ chết, chôn tạm dưới nền trong phòng ấy, nhờ ta cúng tế. Đó là họa tượng của nàng". Đêm ấy, Chương đã ngủ, Yên đang thiu thiu thì có một cô gái vén màn chui vào, cười nói "Ban ngày người có ý với ta, nên tới gặp nhau, sẽ chu toàn cho ngươi, đừng nói cho ai biết, cũng đừng vì kỳ quái mà nảy ý nghi ngờ". Yên vui vẻ vì được thỏa nguyện, giữ lại ngủ với nhau. Từ đó không ngủ cùng giường với Chương nữa, cô gái đêm nào cũng tới, như thế hơn tháng. Hai người sai nhân vì sắp hết tiền, thưa với Chủ bạ xin về. Chủ bạ nói "Chương giỏi văn từ, ta không thể thiếu, một mình Yên về được rồi".
Đêm ấy cô gái tới hỏi vì sao trở về, Yên kể lại. Cô gái nói "Ta có chiếc thoa vàng tặng ngươi, cứ cầm đi mà bán, cũng tạm đủ dùng đến hết đợt công cán này". Rồi rút chiếc thoa trên đầu đưa cho Yên. Hôm sau bán ở chợ, được mười sáu ngàn đồng, đem đưa Chương nói "Vừa rồi vào thành, lại gặp một người làng đưa ta mượn số tiền này, có thể tiêu chung, không cần phải về nữa". Chương nghĩ thầm mình và y ở cùng ngõ, lẽ nào có người làng tới đây mà mình không biết. Lại nghe Yên đêm nào cũng như thì thào trò chuyện với người khác, sợ có lúc lộ ra sẽ liên lụy cả tới mình, bèn quyết ý rình xem. Một hôm, trời gần sáng, chờ lúc cô gái từ giường Yên bước ra, vội sấn tới ôm, cô gái ngã lăn xuống đất, giống hệt như mới chết, quần áo vẫn như cũ. Hai người hoảng sợ không biết làm sao, bèn kể thật với sư trụ trì, bèn bẩm với Thái thú tới xem, bắt hai người sai nhân lên quan, đưa vào nhà ngục hỏi cung, lại gởi công văn tới Tượng Sơn báo cho Trương Huyện lệnh. Trương sai bà vú già tới chùa khai quật ngôi mộ lên, thì quan tài rỗng không, hai người mới được tha. Không bao lâu trở về Đan Đồ, vì sợ hãi thành bệnh, cả hai đều chết.
XXI.
Lúc Hoàng Bưu Phụ làm Tri châu Viên Châu, một đêm tan tiệc khách ra về, bọn ngu hầu trực ban hết phiên, sau canh ba mới ra về. Một viên ngu hầu trên đường trò chuyện với người ta, thì thào không thôi, lại có vẻ mừng rỡ. Đồng bạn hỏi thì không chịu đáp, đi được trăm bước mới nói "Có cô gái từ nhà sau ra gặp nhau trên đường, nói là thị thiếp của Tri phủ, vì mọi người ruồng rẫy, muốn bỏ trốn đã lâu. Gặp lúc đêm nay chủ nhân say ngủ, đám tỳ thiếp cũng đã ngủ, nên trốn thoát ra, xin tới trú ở nhà ta để tìm kế khác. Nói xong lấy ra một chiếc thoa một chiếc xuyến đưa cho ta, lại đưa mấy cái bánh màn thầu, nói đây là trong tiệc còn thừa, đưa cả cho ông". Mọi người không tin, người ấy bèn đưa thoa xuyến cho xem, thì đều là mảnh tre. Cái gọi là màn thầu thì là quả tiết lệ, tục gọi là màn thầu gỗ. Người ấy tuy tỉnh ngộ, nhưng không kìm được, qua tháng sau thì chết. Quan quân trong quận cùng tìm con quái ấy, thì đại khái là người thiếp của Quận thú hai đời trước, sinh được con trai, bị vợ chính ghen tuông không chịu nỗi ngược đãi ôm con nhảy xuống sông tự tử, nay đã làm ma.
XXII.
Thái Hanh Khiêm người Lâm Xuyên vốn ở trong thôn, nhân lấy con gái Hoàng Bưu Phụ, bèn dời tới dưới thành, mua một khoảnh đất trống trước quân doanh xây nhà, dời cả nhà tới ở. Phía sau có khu vườn nhỏ, có bụi chuối mọc dày, thường nhìn thấy yêu quái, cũng có khi nghe tiếng cười tiếng hát. Một người thiếp đi gần đó, gặp người đàn bà bước ra trò chuyện, dung mạo rất xinh đẹp, hồi lâu chia tay, cũng không ngờ là ma quỷ. Đứa con nhỏ mới vài tuổi, ban ngày chơi đùa cạnh đó, người đàn bà từ trong chạy ra, túm tóc giật, đứa nhỏ kêu gào tiếng vang ra ngoài, Thái lập tức vác gậy tới cứu, tới gần người đàn bà mới buông tay, thè lưỡi đỏ như tấm sa hồng dài năm thước rồi chui xuống đất biến mất. Cha con Thái đều hoảng sợ ngã lăn xuống đất. Lát sau gia nhân đổ vào cứu về, đổ nước nóng cho, hồi lâu mới tỉnh. Lập tức sai đầy tớ dọn sạch bụi chuối, từ đó không thấy gì nữa. Dần dà tìm hỏi, đại khái người chủ ở đất ấy trước đó từng thắt cổ giết chết thị nhi, đào đất chôn xuống, trồng bụi chuối lên, cũng đã mười năm rồi.
XXIII.
Lữ Thúc Chiếu làm Huyện lệnh huyện Thái Bình phủ Ninh Quốc, cả nhà ở bên dãy phòng phía đông sảnh đường trong dinh. Con lớn là Tất Trung, con thứ là Hội Trung, vì đều đã lớn, nên ngủ chung giường ở phòng phía tây. Đêm mùa hè ngủ say, nghe dưới giường như có tiếng người nói, Hội Trung hỏi là ai, ứng tiếng đáp "Vâng vâng", giọng nói rất nhỏ. Bèn đưa tay sờ tìm cái chậu đi tiểu, người ấy bưng hai tay đưa cho, dài khoảng ba thước. Hội Trung đang lúc vừa tỉnh, cho là đứa tiểu tỳ, cũng không để ý. Hội Trung tiểu xong, Tất Trung tiếp theo, lấy cái chậu tiểu ở chỗ cũ thì không thấy đâu. Lúc ấy có hai bà vú ngủ ở gian gác phía sau, gọi ầm lên mà họ không biết gì, mới biết là gặp quái, Hội Trung vì thế bị bệnh, mấy tháng mới khỏi.
36. Phú Ông (Phú Ông)
Phú ông Mỗ có nhiều thương nhân vay tiền, một hôm có thiếu niên tới, hỏi ra thì cũng muốn vay tiền làm vốn, phú ông ưng thuận. Gặp lúc trên bàn có vài mươi đồng tiền, thiếu niên cầm lấy xếp thành một chồng cao. Phú ông liền từ tạ mời về, không cho vay nữa. Người ta hỏi nguyên cớ, đáp "Đó ắt là kẻ giỏi đánh bạc, không phải người đứng đắn. Tài nghệ thành thục, bất giác hiện ra ở chân tay", hỏi ra quả đúng. Người xét việc sáng suốt như thế, lại có thể không giàu sao?
37. Bà Già Làm Bánh Bột (Bác Thác ẩu)
Hàn sinh ra ở nhà khác nửa năm, cuối tháng chạp mới về nhà. Một đêm vợ vừa ngủ, nghe có tiếng người đi, nhìn ra thì than trong lò sởi cháy sáng rực, có một bà già khoảng tám chín mươi tuổi, da nhăn lưng gù, tóc rụng gần hết hỏi "ăn bánh bột không?". Vợ sinh sợ không dám lên tiếng, bà già lấy cặp gắp than khều lửa, đặt nồi lên trên, lại đổ nước vào, giây lát nước sôi, bà già mò vào vạt áo, mở cái túi ở thắt lưng lấy ra mấy mươi cái bánh bột cho vào nồi, lõm bõm thành tiếng. Lại tự nói một mình "Chờ tìm đũa đã". Rồi ra cửa đi. Vợ sinh chờ lúc bà già đã ra, vội trở dậy bưng nồi giấu vào dưới chiếu, rồi trùm chăn nằm lại. Giây lát bà già vào, căn vạn hỏi nồi đâu. Vợ sinh cả sợ la lớn, gia nhân đổ tới, bà già mới bỏ đi, giở chiếu lên . xem thì là mấy mươi con bọ rùa xếp lớp ở trong.
38. Con Rết Trong Đá (Thạch Trung Xà Yết)
Toàn Duy Thúc kể trong niên hiệu Thái Hòa, Trưởng lão Chí Hiền ở Bá Sơn tới Đông đường Tây Kinh, thấy sư du học ở đó đã đủ, lập tức ra đi. Sửa sang đường núi ở cầu Lạc An Dương Nguyên, đập vỡ một tảng đá lớn to bằng con trâu, trong có con rết đang nuốt con bọ cạp. Mọi người không biết nó từ đâu mà vào. Hiền nói "Đây là pháp của ta, là oán độc hóa ra, theo oán mà vào, trải ngàn vạn kiếp không được giải thoát. Nếu không giải thoát cho nó thì ngày khác cũng sẽ gặp ta". Rồi vung gậy lớn đập chết, cũng không có gì lạ.
39. Mộ Kinh Nương (Kinh Nương Mộ)
Cha Vương Nguyên Lão là Sở, giữ chức Huyện lệnh Bình Nguyên. Nguyên Lão khoảng hai mươi tuổi vừa đi thi cử nhân, học ở vườn sau hành lang huyện thự. Một hôm, chiều tối đi tản bộ trong vườn hoa, gặp một cô gái, hỏi tên họ, cô gái đáp "Ta là con gái Huyện lệnh họ Dương tiền nhiệm". Nguyên Lão thích vì xinh đẹp, mở lời trêu ghẹo, cô gái không giận mà cười, nhân ngủ với nhau. Gặp ngày Hàn thực, Nguyên Lão mời bạn bè tới kích hoàn ở bãi đất trống phía tây vườn, đầy tớ có người chỉ ngôi mộ Kinh Nương ở bãi đất. Nguyên Lão nhân hỏi Kinh Nương là ai, bạn bè nói là con gái út của Huyện lệnh họ Dương tiền nhiệm, tự Kinh Nương, vừa đến tuổi cập kê thì chết, chôn ở chổ ấy. Nguyên Lão nghe là con gái Dương Huyện lệnh, trong bụng đã ngờ vực. Trở về ngồi trong thư phòng, giây lát cô gái tới, sụt sịt thướt tha, định tới lại lùi, nói với Nguyên Lão "Ông đã biết, ta còn nói gì nữa. Âm dương khác nẻo, cũng khó ở với nhau lâu dài. Nay sắp đến ngày thi, ông ắt thi đỗ. Ở giữa hơi có chuyện lôi thôi, còn như có bệnh, cũng nên cố gắng mà đi. Sẽ gặp lại ông trên đường Liêu Dương".
Nói xong ra đi. Kế Nguyên Lão bệnh, cha mẹ không muốn cho đi thi. Hơn tháng thì hơi đỡ, Nguyên Lão quyết ý xin đi. Cha mẹ cho đi bằng xe, tới hồ Liêu Dương mưa dầm đường lầy xe không đi được, những người cùng đi thay ngựa lên đường, xe đi được vài dặm thì gãy trục. Nguyên Lão lo buồn không biết làm sao, chợt có người nông phu giắt rìu bên hông vác trục xe trên lưng đi tới, hỏi ra thì là thợ mộc. Nguyên Lão than thở "Chỗ này trước sau hai trăm dặm không có người ở, nay lại gặp thợ mộc không phải là cõi âm phù trợ sao". Sửa trục xe xong, bèn lên đường. Chợt thấy một chiếc xe tới, người trong xe là Kinh Nương. Nguyên Lão vừa mừng vừa sợ nói "Nàng cũng tới đây sao?". Kinh Nương nói "Ông không nhớ câu nói sẽ gặp lại trên đường Liêu Dương à? Biết ông có nạn, nên tới an ủi thôi". Nguyên Lão hỏi "Tiền trình tốt xấu, có thể biết được không?". Kinh Nương lập tức lên xe, chỉ nói Thượng thư bảo trọng mà thôi. Về sau, quả nhiên Nguyên Lão thi đỗ, quyền nhiếp chức Thượng thư bộ Lễ được vài hôm thì chết.
40. Người Mọc Đuôi(Nhân Sinh Vĩ)
Hà đạo sĩ nói Vương Bác ở Thanh Hà làm nghề thợ may, đã ba mươi bảy tuổi. Một hôm tới Liêu Thành, gặp Hà đạo sĩ, nói mùa xuân năm Đinh dậu uống rượu say nằm trong vườn đào, chợt mơ thấy một vị thần khoác giáp cầm kích tới nhà đá bắt ngồi dậy. Vương hỏi làm gì thế, thần nói "Ta đem đuôi tới cho ngươi đây". Từ đó chỗ xương cùng đau ngứa, vài hôm thì mọc ra một cái đuôi, to hơn ngón tay, xồm xoàm đầy lông như đuôi dê, muốn chặt đi thì đau thấu tim gan, muốn đốt cũng thế. Vì vậy tự nói là bất hiếu với mẹ, để mẹ đói rét, nên bị quả báo. Cứ có ai nhìn thấy mới hơi bớt đau ngứa, không thì không sao chịu được. Nhân hỏi làm cách nào để chữa trị, Hà không biết làm sao, Vương bèn đi, hiện ngụ ở Tân Điếm.
41. Ngọc Nhi (Ngọc Nhi)
Văn miếu ở Thái Nguyên, trước kia có con ma đàn bà, tên Ngọc Nhi, là thiếp của Đề hình Tống Đán, bị vợ chính ghen tuông đánh đập mà chết, chôn ở cạnh Văn miếu, chỗ ấy có bụi dâu mọc lên. Con ma thường vào trai xá đùa giỡn người ta, nhưng không làm hại. Lúc ấy có bọn Triệu Văn Khanh, Đoàn Quốc Hoa, Quách Cập Chi đêm ngủ lại đó. Sau canh ba, chợt nghe ngoài cửa sổ có tiếng guốc, giây lát con ma bước vào, lấy tay chỉ những người ngủ nói "Người này thi đỗ, người này không thi đỗ", kế nói "Đừng sợ đừng sợ, cứ theo mệnh trời" sau quả như lời.
42. Bọ Ngựa (Đường Lang)
Trong huyện có họ Trương, đi trong hang núi, nghe trên đỉnh núi có tiếng động ầm ầm, tìm đường lên nhìn, thấy một con mãng xà to bằng cái bát lăn lộn trong đám cây rậm, đuôi quấn chặt gốc liễu, cành liễu rơi rụng, lại giãy giụa giống như bị vật gì đâm. Trương nhìn kỹ không thấy gì cả, rất ngờ vực, lần tới gần xem, thấy một con bọ ngựa đang ở trên đầu con mãng xà, lấy càng cặp vào đầu, chặt cứng không sao gỡ ra. Hồi lâu con mãng xà chết, nhìn tới da thịt trên đầu thì đã rách toạc ra.
43. Ma Thắt Cỗ (Ải Quỷ)
Phạm sinh ngụ ở quán trọ, ăn cơm xong, thắp đèn chuẩn bị đi ngủ. Chợt có một tỳ nữ tới đặt áo quan lên giường, lại lấy gương lược hộp giỏ đặt cả ra bàn, rồi đi. Giây lát một thiếu phụ trong phòng bước ra, mở hộp mở giỏ, soi gương trang điểm, kế chải tóc, kế cài trâm, soi gương ngần ngừ rất lâu. Đứa tỳ nữ lúc nãy lại vào, bưng nước cho tắm. Thiếu phụ tắm xong, tỳ nữ lau hầu, rồi bưng nước ra. Thiếu phụ mở mớ áo quần ra, rõ ràng đều mới may. Bèn mặc vào, săm soi nắn vuốt, thắt đai tề chỉnh. Phạm không nói gì, trong lòng ngờ là ma quái, cho rằng là đàn bà đi vụng trộm, trang điểm để gặp khách. Thiếu phụ trang điểm xong, cởi dây lưng ra, buộc lên xà nhà. Phạm rất kinh ngạc. Thiếu phụ ung dung nhấc hài lên, đưa cổ vào dây tự tử treo một lúc, mắt nhắm lại, mày xếch lên, lưỡi thè ra hơn hai tấc, mặt mũi co rúm méo mó như ma quỷ. Phạm cả kinh . chạy ra, gọi chủ nhân vào, nhìn tới thì không thấy gì nữa. Chủ nhân nói "Trước có người đàn bà thắt cổ ở đây, hay là người ấy chăng? Lạ thật, dáng vẻ lúc chết cũng còn không quên".
Dị Sử thị nói: Chịu oan uổng hết mức, đến nỗi phải tự tử, mới khổ làm sao. Nhưng sống làm người không hay, chết làm ma không biết, chỉ khó sống thì trang điểm thắt dây tự tử mà thôi. Cho nên sau khi chết quên cả mọi chuyện, chỉ nhớ canh ấy lúc ấy, vẫn hiển hiện trước mắt mà làm theo, đó là điều không bao giờ quên được.
44. Ma Chết Đuối (Nịch Tử Quỷ)
Trạch Châu có người thợ may, một hôm ngủ dậy vừa giở kim chỉ ra may, nghe có người tới cạnh hào nước bên ngoài mừng rỡ nói "Ngày mai có người thay thế rồi". Người kia hỏi kẻ thay thế là ai, đáp "Một tên lính từ Chân Định tới mang túi đựng thư, tới tắm dưới hào, ta được thay thế rồi". Người thợ may ra cửa nhìn thì không thấy gì, biết là ma. Hôm sau đứng chờ ở cửa. Sau giờ ăn sáng, thấy một người lính bị bệnh, cầm túi đựng thư tới gửi trong nhà người thợ may, nói muốn xuống hào tắm. Người thợ may hỏi, quả nhiên từ Chân Định tới, nhân nói "Trong thành có nhà tắm, xin giúp ít tiền vào đó tắm". Người lính hỏi duyên do, người thợ may kể chuyện nghe được đêm qua, người lính cảm tạ mấy lần rồi đi. Đêm ấy qua canh hai, có kẻ ném ngói liệng gạch vào cửa, lớn tiếng chửi mắng "Ta chịu bao nhiêu đau khổ mới có người thay thế, lại bị thằng giặc này làm hỏng chuyện. Ta thề kéo ngươi xuống nước". Sáng ra thấy gạch ngói chất thành đống, mấy hôm sau cũng thế, người ấy bèn dời nhà qua chỗ khác để tránh.
45. Con Ngựa Vàng Của Họ Vương (Vương Thị Kim Mã)
Họ Vương ở Thái Nguyên, đời trước làm nghề thuốc, có âm đức, nổi tiếng trong làng. Anh em có ba người, trưởng là Quân Ngọc, kế là Khí Ngọc, út là Nhữ Ngọc, hiếu hữu trọng hậu, người làng đều khen là hiền. Cha mẹ Quân Ngọc đều kính thần Phật, trong tĩnh thất đặt kinh bày tượng, đóng cửa rất chặt, lúc quét dọn thì người mẹ đích thân làm lấy. Một hôm chiều tối vào thắp hương tụng kinh, chợt thấy trên bàn thờ có một vật nhỏ nhảy nhót hiện ra, ánh vàng sáng rực. Giây lát lại cất tiếng như ngựa hí, người mẹ đứng lên khấn "Các bậc phụ lão ngày xưa kể là có ngựa vàng, nay quả thật được nhìn thấy, nếu quả mang phúc tới, xin nhảy vào vạt áo của lão phụ". Rồi đưa vạt áo ra đón, con vật nhảy một cái rơi vào, nhìn tới thì đúng là ngựa vàng. Sau đó, Quân Ngọc đỗ Cử nhân trước, ba năm sau, Khí Ngọc, Nhữ Ngọc cũng nối nhau thi đỗ, người làng lấy làm vinh dự, gọi là họ Vương ba cành quế. Phủ doãn bèn lấy tên Tam Quế đặt cho phường nơi họ ở. Cháu nội là Trọng Trạch về sau đỗ Tiến sĩ, văn chương chính sự, biện luận thư họa đều được người đương thời ca ngợi. Con ngựa vàng ngang dọc ba tấc, màu vàng ủng như quả táo, cổ vươn cao, trên đuôi gọn lên như bụi ngải, ức đùi tròn láng. Sau cơn binh lửa, ta từng nhìn thấy.
46. Vương Vân Hạc (Vương Vân Hạc)
Vương Trung Lập, tự Thang Thần, người Kha Lam. Học rộng nhớ dai, không gì không biết. Lúc trẻ chuyên Kinh Dịch, nổi tiếng chốn trường ốc. Trong nhà giàu có, hàng ngày khách tới chật cửa, tiếp đãi rất chu đáo, nhưng mình hưởng thụ thì hàng ngày chỉ một bát cơm suông canh miến mà thôi. Chưa được bốn mươi tuổi thì vợ chết, không lấy vợ kế, cũng không đi thi nữa. Ở riêng một phòng, giống hệt một nhà sư già. Như thế ba bốn năm mới ra ngoài, người ta cảm thấy trò chuyện lưu loát, thi họa hơn người, giống như có quỷ thần nhập vào, nhưng hỏi thì không nói. Từng ở trong quán trọ tại Bình Định, gặp Nhàn Nhàn công bảo làm thơ, liền viết "Ký dữ Nhàn Nhàn ngạo Lãng tiên, Ương tùy thi tửu trụy phàm duyên. Hoàng trần già đoạn lai thời lộ, Bất đáo Bồng Lai ngũ bách niên" (Gởi nhắn Nhàn Nhàn ngạo cuộc say, Uổng vì thơ rượu đọa trần ai. Bụi vàng che lấp đường lui tới, Xa cách Bồng Lai chục kiếp rồi). Nhân nói sĩ đại phu thời Đường có năm trăm người, đều là người tiên bị trích giáng, vì đời loạn mà trước tác, cũng có người mê muội không quay về, như ông và ta đều như thế.
Một hôm tới kinh đô, ngụ trong nhà Nhàn Nhàn công. Có thơ Trung thu rằng "Ấn thấu sơn hà ảnh, Chiếu khai thiên địa tâm. Nhân thế hữu giai hiểu, Ngã hung vô cổ câm" (Núi sông in bóng ấy, Trời đất rọi gương này. Dưới đời có sớm tối, Trong dạ chẳng xưa nay), Nhàn Nhàn công lấy làm lạ. Nhân đòi một chậu mực, theo lời đưa cho. Sáng hôm sau không cáo từ mà bỏ đi, trên vách còn lưu lại hai chữ "Cổ hạc", nét chữ rộng một thước, theo thể phi hạc, khí vận sinh động, không biết lấy vật gì viết ra. Giây lát từ ngoài bước vào, hỏi vì sao làm thế thì không đáp, lại đề thơ bên cạnh rằng "Thiên địa chi gian nhất cổ nho, Tỉnh lai bất ký túy trung thư, Bàng nhân thác thử thần tiên tự, Chỉ khủng thần tiên tự bất như" (Đất trời có một hủ nho ta, Lúc say viết chữ nhớ đâu mà, Người ngoài cứ nói thần tiên viết, E chữ thần tiên cũng kém xa). Thơ của tiên sinh nhiều câu mang kỳ khí phương ngoại. Như "Túy tụ vũ hiềm thiên địa trách, Thi tình cuồng yếm hải sơn bình. Hốt kinh phong lãng nhĩ biên quá, Bất giác thần hình lai thế trung. Nhân quân cảm kích tùng quân thuyết, Tạc phá thiên cơ ngã diệc kinh" (Say múa luống chê trời đất hẹp, Hứng thơ lại chán núi gò bằng. Chợt nghe sóng gió vang bên gối, Chẳng biết thân mình đã xuống trần. Vì ông cảm kích nên ta nói, Nói rõ thiên cơ lại rợn lòng), như thế rất nhiều.
Có người hỏi chuyện ngoài đời cũng đáp một hai câu. Giỏi viết chữ lớn kiều phách khoa, thế rất mạnh mẽ, Nhàn Nhàn rất thích. Lý Chi Thuần ở Bình Sơn thường gặp tiên sinh, nói qua về nhân vật thời trước, dẫn lời tiên nho nghị luận mấy mươi điều, giống như từng người từng người tự bắt bí, kế theo ý mình mà đoán định, vì thế trở thành loại đứng đầu trong bọn biện giả. Lúc lên đường nói trước ngày chết, quả như lời ấy mà qua đời, được bốn mươi chín tuổi. Cuối đời đổi tên là Vân Hạc, hiệu là Nghĩ Hủ đạo nhân, nhân vật như Lữ Thế Họa cũng còn thua sút.
47. Xương Trần Hy Di (Trần Hy Di Linh Cốt)
Cốc Trương Siêu trong Hoa Sơn, linh cốt của Trần Hy Di ở đó. Đường núi cheo leo, bên dưới sâu không thấy đáy. Lý Khâm Thúc người Hà Trung từng tới đó. Xương của Trần to dài khác hẳn người đời nay, cứng nặng sáng loáng như ngọc xanh, việc thành đạo đều hiện rõ ở đó. Đệ tử Mỗ di hài cũng bên cạnh, nhưng so với Trần thì tiên phàm khác hẳn nhau.
48. Hai Chuyện Về Hồ (Hồ Nhị Tắc)
I.
Thiết Lý ở thôn Bắc Trịnh Dương Khúc, làm nghề bắt hồ. Một hôm giăng lưới dưới khu mộ cổ ở ngòi phía bắc, buộc một con bồ câu làm mồi, trèo lên cây lớn chờ. Sau canh hai, quần hồ kéo tới, nói tiếng người "Thiết Lý Thiết Lý, ngươi lấy bồ câu để nhử bọn ta à? Cha con ngươi giống như lừa ngựa, không chịu làm ruộng, chỉ học sát sinh, nội ngoại lục thân của bọn ta đều bị thằng giặc này làm hại. Hôm nay đã tới số trời, mau leo xuống đi. Nếu không bọn ta cưa đổ cây thì đừng trách". Kế đó lập tức nghe tiếng cưa kéo xoèn xoẹt, tiếng gọi lớn mang chảo dầu tới để luộc thằng giặc này, lửa cũng nổi lên. Thiết Lý sợ, không biết làm sao, nhìn lại trong lưng chỉ có lưỡi búa lớn, nghĩ nếu cây đổ xuống thì cứ chém bừa. Giây lát trời sáng, hồ cũng bỏ đi. Trèo xuống thấy trên thân cây không có vết cưa kéo gì, bên cạnh chỉ có vài cái xương sườn trâu mà thôỉ. Thiết Lý biết là hồ biến ra ảo ảnh chứ không có thật, đêm ấy lại tới. Chưa đến canh hai, hồ tới khóc lóc chửi bới rất có lớp lang. Lý giắt ống pháo trong lưng, lấy ra ngầm đốt rồi ném xuống gốc cây. Hỏa dược phát nổ vang rền, quần hồ chạy tán loạn, bị lưới chụp xuống, nhắm mắt chờ chết, không nói một câu. Thiết Ly vung búa chém chết hết.
II.
Hồ Ngạn Cao giữ ấn triện huyện Tức Mặc, huyện thự ở góc thành cổ bị yêu hồ chiếm cứ, ban ngày núp, ban đêm ra, biến hóa đủ lối, có khi biến ra ngục tốt cởi trói cho tù nhân, có khi biến thành quan kỹ trộm chăn trong dịch trạm, dụ dỗ đàn ông đàn bà, có người bị mê loạn đến nỗi chết, người trong huyện không biết làm sao đành phải phụng thờ hương hỏa, đã hơn năm mươi năm. Ngạn Cao tới đáo nhiệm, hỏi biết được chuyện, nói với đồng liêu "Quan xá là cho người hiền ở, nay Huyện lệnh không ở được, mà để quỷ quái chiếm cứ à?". Lúc ấy nhà cửa bỏ trống đã lâu, suy sụp tiêu điều, lập tức sai dọn cỏ.
Hôm sau Hồ ra sảnh xem việc, đến tối thắp đuốc bày ra ngồi chờ. Đến khuya hồ hú trong khu vườn phía sau, một con xướng hàng trăm con họa, giây lát chia ra vây quanh nội đình, trong bọn có một con hồ lớn lông trắng, ngồi xổm dưới đất rống lên như muốn cắn xé. Quân lính đều chạy tán loạn, không còn người nào. Ngạn Cao vẫn ngồi thẳng bất động, mà hồ cũng không dám xông tới, hồi lâu kéo cả bầy rút lui. Như thế liên tiếp ba ngày, rồi không tới nữa. Lại qua hơn mười ngày hồ ám một tỳ nữ, người ấy nhảy nhót cười rộ, điên cuồng như đang mộng mị. Ngạn Cao lấy son viết vào giữa chiếc thoa của tỳ nữ, bảo cút đi, tỳ nữ ấy lập tức tỉnh lại.
Sáng hôm sau, Huyện úy từ Tuần La về, gặp quần hồ mấy trăm con từ phía đông huyện đi về phía nam. Hồ lại ám một người đàn bà trong nhà lại mục Đăng Châu Giang Sùng. Sùng ra hải đảo mời đạo sĩ tới làm phép, nhân lúc người đàn bà đang điên cuồng, trói vào bánh xe, chôn trục xuống đất, sai người quay tít. Hồi lâu người đàn bà nôn ra nước dãi tanh hôi, là bầy hồ ở Túc Mặc bị Hồ công đuổi tới đó phá phách. Phụ lão ở Tức Mặc lập bia về việc Ngạn Cao, gọi là bia Hồ công đuổi hồ.
49. Khôi Tinh (Khôi Tinh)
Trương Tế Vũ ở Huy Thành, đi nằm mà chưa ngủ, chợt thấy ánh sáng soi sáng cả phòng, kinh ngạc nhìn ra, thấy một con quỷ cầm bút đứng, dáng như Khôi tinh, vội trở dậy vái lạy, ánh sáng cũng tắt dần. Từ đó tự phụ, cho rằng đó là điềm sẽ chiếm khôi nguyên. Về sau lại lạc phách không gì thành công, nhà cửa cũng suy sụp, người ruột thịt nối nhau chết, chỉ còn một mình Trương. Kẻ kia là Khôi tinh, sao không tạo phúc mà lại gây họa nhỉ!
50. Nhốt Rận (Tàng Sắt)
Người trong hương là Mỗ, ngẫu nhiên ngồi dưới gốc cây, mò bắt được một con rận, lấy giấy gói lại nhét vào cái lổ trên thân cây rồi đi. Hai ba năm sau lại đi ngang chỗ ấy, chợt nhớ chuyện trước, nhìn vào thấy mảnh giấy vẫn còn. Cầm lấy mở ra xem, thấy con rận mỏng như vỏ trấu, bèn đặt lên lòng bàn tay nhìn kỹ. Giây lát thấy lòng bàn tay rất ngứa, mà con rận to dần. Liền vứt đó về nhà, chỗ ngứa sưng to, đau đớn vài hôm thì chết.
51. Chuyện Lạ Về Rận (Sắt Dị)
Sau khi thành Đức Thuận bị phá, nhà dân dinh quan đều bị hủy. Dưới thành có vài mươi khẩu pháo, dây treo còn trong doanh cũ. Có người định tháo dây ấy, thấy sợi nào từ trên tới dưới cũng lúc nhúc rận lớn, như sáp chảy trên cây nến. Lúc loạn lạc trong cõi trời đất chuyện gì cũng có.
52. Kéo Ruột (Sưu Trường)
Người dân huyện Lai Dương là Mỗ ngủ trưa, thấy một người đàn ông dắt tay một người đàn bà bước vào. Người đàn bà vàng vọt sưng phù, bũng tròn căng như quả trứng, có vẻ rất buồn khổ. Người đàn ông thúc giục "Lại đây mau". Mỗ cho rằng họ làm bậy, nên giả như vẫn ngủ để xem ra sao. Hai người bước vào, như không thấy trên giường có người. Người đàn ông lại hối thúc "Mau lên". Người đàn bà tự phanh áo ra, để lộ da bụng, thấy to như cái trống. Người đàn ông rút ra một con dao mổ heo đâm vào, rạch từ ngực xuống tới rốn, sột soạt thành tiếng. Mỗ cả sợ, không dám thở mạnh. Người đàn bà nhíu mày nhịn đau, không hề kêu rên. Người đàn ông ngậm dao vào miệng, thò tay vào mớ ruột, kéo ra vắt lên khuỷu tay, vừa vắt vừa kéo, giây lát đầy kín cánh tay, liền lấy dao cắt, đặt lên ghế rồi kéo tiếp, trên ghế đầy ruột lại đặt lên bàn, trên bàn lại đầy. Lại vắt lên khuỷu tay, như người đánh cá kéo lưới, ném lên đầu Mỗ. Mỗ không nhịn nổi nữa, la lớn bật dậy bỏ chạy, mớ ruột rơi xuống dưới giường, hai chân bị vướng, tối tăm mặt mũi ngã xuống. Người nhà đổ tới xem, chỉ thấy trên người Mỗ đầy ruột heo, vào phòng nhìn quanh thì không có gì. Mọi người cho là Mỗ hoa mắt, cũng không ngạc nhiên. Đến khi Mỗ kể lại chuyện mình nhìn thấy, ai cũng lấy làm lạ, nhưng trong phòng hoàn toàn không có dấu vết nào.
53. Con Quái Trong Núi (Sơn Tiêu)
Người đàn bà Mỗ ở Truy Xuyên bị con quái trong núi gian dâm. Con quái nói "Nếu người thiếu cái chi dùng, ta sẽ đưa tới ngay". Từng đem vải tới chất đầy sân, đều có dấu ấn của kho quan Tế Nam. Nhà người đàn bà sợ vật của quan làm lụy mình nên xin mang đi, giây lát vải đều biến mất. Lời có con ngựa trắng yên vàng hàm thiếc bạc không biết từ đâu tới, nhưng thấy buộc trong tàu. Người nhà càng sợ, cầu khấn hồi lâu, con ngựa chợt biến mất. Bọn con em trong nhà bàn vụng với nhau "Nếu người ta không có con nối dõi, nó có thể đưa tới cho một đứa con không nhỉ?". Sáng hôm sau thấy có một đứa nhỏ mày mắt như vẽ, bọc tã gấm thêu đặt ngay giữa giường. Già trẻ trong nhà cầu khẩn không muốn nhận nhưng con quái vẫn để đó. Bèn đặt tên đứa nhỏ là Thần Ca, được sáu tuổi thì bệnh chết.
54. Phu Nhân Trời Cho (Thiên Tứ Phu Nhân)
Miếu Lư Sơn Công ở Quảng Ninh rất linh ứng. Lại có pho tượng vẻ mặt rất hung dữ, đặt chỗ cây rừng thấp thoáng, ban ngày vào đó, nhìn thấy là nổi gai ốc. Người quanh đó nói lúc đêm khuya yên ắng vẫn nghe có tiếng tra hỏi quát tháo, nên người ta đều tìm đường vòng mà đi tránh qua chỗ ấy. Chư sinh Lương Mỗ nhà ở núi Suất Mã trong hương cùng bạn học trò chuyện, nói tới quỷ thần, kể ra những người can đảm, Lương đều không phục. Nhân nói "Ta có thể lúc chiều tối hay lúc trời âm u vào miếu Lư Sơn đi một vòng quanh hành lang". Bạn bè bèn hùa vào, nói "Nói đi được thì lấy gì làm bằng?". Lương nói "Trước tiên ta sẽ đi một vòng, lấy vật đánh dấu lại để làm chứng".
Chiều hôm sau hẹn cùng tới, bạn bè chờ ngoài cửa miếu, Lương xốc áo vào. Đánh dấu tới góc phía đông miếu, mò mẫm thấy một người đứng cạnh vách. Lương cho là ma, bèn cõng ra. Bạn bè đón hỏi thấy gì không, Lương cười nói "Ta cõng được một con ma ra đây, lấy lửa soi xem nào". Đánh lửa lên nhìn thì là một người đàn bà đẹp, áo quần khác hẳn vói thế tục, định hỏi han thì thấy hơi thở yếu ớt, giống như say rượu ngất đi. Mọi người đều cho là ma quỷ đứng quanh canh giữ. Hồi lâu người đàn bà mở mắt, thấy người đứng chung quanh, không kìm được hoảng sợ, hỏi đây là nơi nào. Mọi người bèn trả lời, kể lại chuyện tìm thấy trong miếu, lại hỏi là người hay ma, vì sao tới đây. Người đàn bà nói "Ta là con gái đại tộc Mỗ ở Dương Châu, gặp ngày tốt đang trên đường về nhà chồng, ngồi trong kiệu chợt bị con gió lớn thổi đi, đầu óc mê man, không biết vì sao lại tới đây?". Mọi người vui mừng nói "Lương sinh chưa cưới vợ, quỷ thần bèn đưa một người vợ từ Dương Châu tới, quả thật có số trời, nên nhân dịp này thành hôn". Lương bèn dắt người đàn bà về, sau đó thi đỗ, làm quan hiển đạt. Người đàn bà sinh được mấy đứa con trai, nên người đương thời gọi là Phu nhân trời cho.
55. Chuyện Lạ Về Trứng (Noãn Dị)
Thầy thuốc Quách Ngạn Đạt người Sơn Dương, ngụ ở Đạ Minh Xuyên. Có người nông phu Đổng Thành quét nhà tới bậc cửa, chợt thấy đất nhô lên, lấy xẻng san phẳng, kế lại nhô lên. Cứ thế ba bốn lần, ngờ vực bèn đào lên, đầu tiên được một quả trứng to như cái bát. Thấy trong lớp màng bọc có hai con rắn, một đen một khoang. Lại đào được quả nữa, hơi to hơn quả trước. Ngạn Đạt khuyên nói "Thần vật không thể xúc phạm, nên cúng tế mà tiễn đi" Thành theo lời, đưa ra bến thả xuống sông. Năm ấy Đại Minh Xuyên mưa gió sấm sét làm gãy mấy ngàn cây đại thụ, mấy trăm người bị bệnh dịch mà chết.
56. Miếu Tam Cô (Tam Cô Miếu)
Miếu thần tằm Tam cô ở Đại Minh Xuyên, cạnh đó có rồng xuất hiện, nằm vắt ngang trên ba gian nhà cỏ, người tới xem có tới vài trăm. Thấy con rồng trên vẩy có lông màu vàng, hình dáng như đỉnh núi gồ lên, đầu to như một gốc đại thụ, tanh tưởi không sao tới gần, rơi xuống vùng vẫy không bay lên được. Hồi lâu mây mù kéo tới giăng kín, con rồng bay đi. Lúc ấy khoảng tháng bảy tháng tám năm Kỷ dậu.
57. Ma Cô Xin Cây (Ma Cô Khất Thụ)
Họ Lưu ở thôn Thạch Lạc núi Côn Luân Ninh Hải, trong nhà giàu có. Tùng bắt được con cá biển dài trăm trượng, lấy xương làm rui, xây ngôi nhà lớn, gọi là Lý thất. Trước sân có một cây hòe, bóng râm che rợp mấy mẫu, trên đời ít có. Lưu chợt nằm mơ thấy một nữ quan tới, tự xưng là Ma Cô, xin Lưu cây hòe để sửa miếu. Lưu trong giấc mộng lấy làm khó khăn, kế nói "Miếu cách đây mấy dặm, làm sao lấy được?" bèn ưng thuận bừa. Đến khi tỉnh dậy, lấy làm ngạc nhiên về chuyện ấy, nhưng cũng không tin. Vài mươi ngày sau, mưa gió nổi lên, trời đất tối sầm như ban đêm, mọi người biết là có biến, đều vào nhà tránh núp. Giây lát trời tạnh, chỉ có cây hòe trước nhà Lưu biến mất. Người ta tới chỗ miếu Ma Cô, thì cây hòe đã nằm trước miếu.
58. Quan Tài Nhỏ (Tiểu Quan)
Ở Thiên Tân có người đưa đò Mỗ, đêm nằm mơ thấy một người nói "Ngày mai có người mang cái rương tre tới thuê đò, cứ đòi ngàn lượng vàng, nếu không trả thì đừng chở". Mỗ tỉnh dậy, cũng không tin. Kế ngủ tiếp lại mơ thấy thế, lại viết ba chữ* lên vách, dặn "Nếu y tiếc tiền, thì cứ viết thế này đưa y xem". Mỗ lấy làm lạ, nhưng không biết chữ, cũng không hiểu là ý gì. Hôm sau bèn để ý người qua lại, đến xế chiều, quả có một người cưỡi lừa chở cái rương tre tới thuê đò. Mỗ theo giấc mộng ra giá, người ấy cười, tần ngần hồi lâu. Mỗ bèn dắt tay vào chỉ chữ viết trên vách, người ấy cả sợ, trong chớp mắt biến mất. Lục soát trong rương, thì có hơn mười vạn cái quan tài nhỏ, cái nào cũng dài khoảng một tấc, đều có một giọt máu nhỏ bên trên. Mỗ nói ba chữ ấy cho người khắp nơi xa nơi gần nghe, nhưng không ai hiểu. Sau đó Ngô nghịch** mưu phản bị tiết lộ, bè đảng bị tru diệt, số bị giết gần với số quan tài.
*Ba chữ: ba chữ này có tự hình rất đặc biệt. Chữ đầu viết với bộ hán và hai chữ bối, chữ thứ hai viết với bộ hán và ba chữ bối, chữ thứ ba viết với bộ hán và bốn chữ bốỉ, không thấy trong các từ điển từ thư, nhưng về tự hình rất giống nhiều cái quan tài chồng lên nhau.
** Ngô nghịch: tức Ngô Tam Quế, xem chú thích truyện Bảo Trú, quyển IV.
59. Con Ngựa Của Qua Thập Ha (Qua Thập Ha Mã)
Đầu niên hiệu Thuận Trị có Qua Thập Ha, nuôi một con ngựa, từ đầu tới chân trắng như tuyết, không có sợi lông tạp nào, biết nghe lời người sai khiến. Tên lính ấy không có phu đi kèm, mỗi khi tới phiên trực, con ngựa tự chở chăn nệm tới, hết phiên trưc thì chở về. Có người chăn đường bắt, thì hí vang tung vó xông vào cắn, không ai dám tới gần. Tuy trong quân ngũ, nhưng có khi tên lính ấy đi vắng, con ngựa tự đi tìm là tới được chỗ. Tên lính nam chinh, rơi xuống hầm sâu không lên được. Con ngựa quỵ hai chân trước xuống, nhờ thế nắm dây cương mà lên được, trong quân truyền tụng là con ngựa hiếu nghĩa.
60. Không Ăn Mà Có Thai (Bất Thực Nhi Dụng)
Mã thị ở Lai Châu, chưa đến hai mươi tuổi, vì nằm mơ mà không ăn nữa, ăn vào là nôn ra mà còn bị bệnh. Sau mấy năm cũng không gầy đi, năm ất tỵ sinh đươc một con gái, lại tự cho bú, người cô dắt tới gặp Lý đạo nhân, Lý khuyên người cô "Cô ta đã không ăn, mà không gầy đi, sao không cho theo đạo?". Người cô nói "Nó thương con gái, không thể rời ra". Người hiểu biết đoán cô gái ấy mơ được sinh khí, nên hành động như thường. Đến lúc mạch Thiên quý* mở, không thể cắt bỏ lòng yêu thương, vì thế có con. Chuyện thế này cũng ít thấy trong sách vở.
*Thiên quý: theo Đông y, thiếu nữ dậy thì thì mạch Thiên quý mở ra, có thể sinh nở.
61. Ếch Biến Thành Chuột (Oa Hóa Thử)
Vũng Bạch Dương ở An Châu phía nam Yên Kinh, từ nam tới bắc dài bốn mươi dặm, qua phía đông bảy mươi dặm, trước kia ngập nước. Gần đến năm Giáp ngọ chợt khô cạn, ếch rùa trong vũng đều biến thành chuột ăn hết rễ cây cỏ, mạch đất trống rỗng, không thể trồng trọt, nhưng ném hạt lúa mạch xuống ắt mọc lên. Cư dân ở đó không buồn làm lụng, cứ cho khách hộ thu hoạch, chỉ thu thuế mà thôi. Đất ấy rễ cỏ núi chằng chịt, không cần canh tác, vì chuột biến thành lúa mạch, cũng là chuyện lạ. Trong vũng có tấm bia đá khắc "Dù trời hoang đất loạn, cũng chớ rời hồ này. Có nước thì ăn cá, không có nước thì ăn miến", thế thì trước kia ở đó cũng đã từng có lúa mạch chăng?
62. Vật Lạ Trong Bụng Lừa (Lư Phúc Dị Vật)
Ở điếm Đông Lý Nam Ma, có nhà xay bột nuôi một con lừa, chợt mắc bệnh, lúc sắp chết la rống bảy ngày bảy đêm không dứt tiếng. Mổ bụng ra, trong bụng có một vật không phải sắt không phải đá, hình dáng như quả thầu dầu mà méo, màu đen tuyền, cứng như sắt đá. Nhà ấy không cho là chuyện lạ, ném vào lẫm thóc. Hàng ngày đều lấy thóc ở đó để ăn, mà không bao giờ vơi đi. Cứ thế một năm, người làng đồn đại coi đó là thần vật. Huyện lệnh Nghi Nguyên là Thạch công lấy về, cũng đặt vào lẫm thóc, nhưng không thấy có gì lạ. Nay vật ấy ở nhà họ Lỗ tại Bác Sơn, ta đã chính mắt nhìn thấy.
63. Chuyện Lạ Về Heo (Trư Dị)
Ở Túc Đông có một lò mổ, nuôi vài mươi con heo trong chuồng, một hôm bọn con em hỏi người chủ nên giết con nào. Người chủ ra chuồng chỉ chỏ, bầy heo đều nháo nhác, chỉ có một con thản nhiên nằm bất động. Người chủ chỉ con heo ấy nói "Con heo ấy ăn rất ít, nuôi cũng đã lâu, có thể giết thịt", Bọn con em vào chuồng kéo ra, con heo ấy chịu trói không kêu một tiếng. Đến khi chọc tiết, ở cổ không có huyết, cũng không chết. Bọn con em báo lại, chủ lò mổ đích thân cầm dao mổ bụng phanh ra, thì con heo ấy không có bộ lòng. Người chủ lò mổ cả kinh sực hiểu, biết là thần linh biến ra, bèn ném đao xuống đất, vái lạy trời đất bốn phương, phát nguyện xin bỏ nghề. Con heo ấy đã không chết, lại thản nhiên trở vào chuồng, sau đó nhà ấy cũng không cho ăn cám nữa, gọi là Ông bạn heo. Làng xóm đồn đại, có người từ xa tới xem, không ai không kinh ngạc khen lạ. Có một nhà láng giềng tới mời Ông bạn heo qua dùng chay, con heo như ưng thuận. Sáng hôm hẹn người mời chưa tới, con heo đã tới ngồi trước cổng nhà ấy. Nhà ấy bèn lấy cơm chay cho nó ăn. Như thế ba mươi ba ngày, ăn khắp các nhà láng giềng chung quanh, sau ra ngồi bất động trong một khu mộ, nhìn tới thì đã chết.
64. Tiếng Chuông Chùa Quảng Ninh (Quảng Ninh Tự Chung Thanh)
Chùa Quảng Ninh có cái chuông lớn, một hôm đánh mà không kêu. Tiếng chuông lại vang lên dưới cầu phía nam thành. Người đi đường nghe thấy, ai cũng kinh hãi, tới nói với sư trong chùa. Sư trong chùa mang nạo bạt tới dưới cầu đón về, chuông lại kêu.
65. Thần Biến Hóa Ở Kê Trạch (Kê Trạch Thần Biến)
Có năm người nông dân ở Kê Trạch cùng đi hái củi, ra cửa nhìn thấy gió tây rất lớn, ngần ngừ không muốn đi. Bốn người về nhà, một người đi hái củi. Chợt gió lớn phía tây bắc thổi tới, vi vút vang trời, người ấy không kịp tránh né, nằm phục xuống dưới cái rãnh, bị một người kéo lên cùng đi. Lúc đi đạp trên gió mà bay, tùy tùng đều là quỷ thần. Dần dà qua ngang một ngôi thành, thần nhân nói "Đây là triều thành". Lại đi về phía đông, cạnh đường có người hình dáng như ma quỷ, đều mặc áo thêu, mùi thơm sực nức. Người ấy ngồi vào giữa mời rượu. Người ngồi giữa không nói gì, lấy ngón tay bàn tay trái ra hiệu theo thứ tự mà mời. Mời rượu xong lại ra, giây lát bọn uống rượu dưới cửa miếu giải tán. Thần nhân ra, gió lớn theo chân nổi lên, không nói gì tới người ấy nữa. Người ấy chờ gió tắt ra hỏi thăm, mới biết chỗ ấy là địa giới huyện Đông Bình, ngôi miếu là Nhạc miếu. Xin ăn mấy ngày mới về được tới nhà, vẫn thấy chập chờn như đang nằm mộng.
66. Báo Oán (Oan Báo)
Vương Hồ ở Liễu Chàng huyện Xương, sống bằng nghề làm đồ gốm. Gặp năm mất mùa, cùng con là Vương Sinh tới Ích Đô kiếm ăn, vẫn làm nghề cũ. Một hôm có bọn cướp chín tên bị quan quân đuổi bắt, gấp rút không có chỗ trốn, chạy vào nhà Vương núp, nói thật với Vương "Bọn ta không thiếu vàng bạc, chỉ cần thoát thân được, sẽ tình nguyện chia cho cha con ông một nửa", Vương vì thế giấu bọn cướp trong khạp. Trong nhà đầy khạp vỡ, quan quân đuổi tới, không thấy gì bèn bỏ đi. Cha con Vương Hồ trong lòng không yên, lại tham tlền của, bèn nhân đêm phóng hỏa, giây lát đốt chết cả chín người, đem vàng bạc về quê mua rất nhiều ruộng vườn, giàu có đứng đầu một phương. Qua vài năm, Vương Sinh lên Thái Sơn dâng hương, đêm qua ngang thôn Tôn, lúc chập choạng nhìn thấy gì đó, khiếp đảm ngã ngựa, liền bị ma nhập vào. Đỡ lên cáng về nhà, Sinh miệng nói lời ma, trợn mắt giận dữ mắng "Quan quân đuổi bọn ta, đã thoát được rồi, chia đôi tiền bạc cũng đủ giàu có, lại nảy lòng tham đốt chết cả bọn ta. Tìm suốt mấy năm, nay mới gặp ngươi. Đền mạng là xong!", lúc ấy cứ cầm đao, gặp người là chém. Người nhà không biết làm sao, mời đạo sĩ Hà Cát Khanh tới đuổi ma. Hà tới làm phép, bọn ma lại nhập vào người biện luận, Hà biết oán đúng, không phải bùa phép có thể chế ngự, bèn khuyên nên lập đàn tràng siêu độ, hoặc giả có thể giải thoát. Vương Hồ bèn làm cáo trạng đọc trước đàn chay, thổ lộ sự thật, người ta mới biết nhờ đâu mà Vương giàu có. Kế dựng một ngôi đền lớn, đêm ngày cầu khấn, không bao lâu thì Sinh chết.
67. Thông Gian Với Chó (Khuyển Gian)
Giả Mỗ người Thanh Châu, thường làm khách ở ngoài, tết cũng không về. Trong nhà có nuôi một con chó trắng, người vợ dụ nó giao hợp, con chó dần quen, lấy làm chuyện thường. Một hôm chồng về, đi nằm với vợ, con chó chợt xông vào nhảy lên giường cắn chết người chồng. Láng giềng hơi biết chuyện, đều lấy làm bất bình, bèn kêu lên quan. Quan bắt người đàn bà đóng gông tra vấn, nhưng không chịu nhận tội. Bèn sai dắt con chó tới, rồi mới đẩy người đàn bà ra. Con chó vừa nhìn thấy người đàn bà liền xông tới xé nát áo quần, làm dáng vẻ như giao hợp, người đàn bà mới không chối cãi nữa. Quan sai hai người nha địch giải người đàn bà và con chó lên tỉnh, có những người muốn xem con chó giao hợp với người đàn bà, góp tiền đút lót cho hai người nha dịch, họ bèn kéo người đàn bà và con chó lại một chỗ, bắt giao hợp, người xem thường có tới vài trăm, hai người nha dịch nhờ thế thu lọi lợi. Về sau người đàn bà và con chó đều kiệt sức mà chết. Than ôi, trời đất bao la, nên không chuyện gì không có. Nhưng con người mà giao họp với thú, có lẽ chỉ có người đàn bà ấy thôi chăng?
Dị Sử thị vì thế phán rằng: Gặp gỡ trên sông Bộc, thời trước chê bai, hẹn hò trong bãi dâu, người đều khinh rẻ. Mà Mỗ không chịu được nỗi khổ thủ tiết, buông thả lang chạ vui vầy. Đêm vì nghĩa lên giường, là kẻ tình lang dưới cũi, mừng thấy chàng trên nệm, ấy con vật đực trong nhà. Vẫy đuôi trước đài mây mưa* cong lưng trong làng mềm ấm**. Dùi nhọn rút khỏi túi da, xương rung mà ló mũi, tên sắc ngập vào đá tảng, lông ướt mà mọc cây. Giao hợp khác loài, thật điều xằng bậy. Giống sủa gian mà làm gian, giết chóc ghen tuông, tội lạ Tiêu Tào*** khó trị, người không phải chó mà làm chó, tanh hôi dâm đãng, thịt nhơ cọp sói không ăn. Than ôi, đàn bà gian dâm giết người thì trị tội đàn bà, tới như chó gian dâm giết người thì dương gian không có hình phạt. Người bất lương thì phạt người làm chó, tới như chó bất lương thì âm tào phải trị tột cùng. Nên xé xác mà bắt hồn phách, xin áp giải xuống hỏi Diêm Vương.
* Đài mây mưa: nguyên văn là vân vũ đài, chỉ việc ái ân trai gái.
** Làng mềm ấm: nguyên văn là "ôn nhu hương", chỉ người phụ nữ đằm thắm đa tình.
*** Tiêu Tào: tức Tiêu Hà và Tào Tham, nối nhau làm Thừa tướng đầu thời Hán, đặt ra luật pháp nghiêm minh.
68. Lý Đàn Tư (Lý Đàn Tư)
Lý Đàn Tư là học trò trường Quốc học Trường Sơn. Trong thôn có bà già xuống cõi âm, nói với người ta rằng "Đêm qua cùng một người khiêng ông Đàn tới đầu thai vào một nhà mới ở Bá gia trang huyện Truy Xuyên, thân thể ông ta to nặng, suýt nữa bị đè chết". Lúc ấy Lý còn uống rượu với khách, mọi người đều cho là bà già nói bậy. Đến sáng, Lý không bệnh mà chết. Hôm sau mới theo lời bà già tìm tới hỏi, thì đêm trước nhà ấy sinh được một con gái.
Phụ Lục
Trương Nguyên
Bia Mộ Liễu Tuyền Bồ Tiên Sinh
Tiên sinh húy Tùng Linh, tự Lưu Tiên, lại tự Kiếm Thần, biệt hiệu Liễu Tuyền. Văn chương ý khí hào hùng một thời, người học bất kể thân sơ xa gần, quen hay không quen, cũng không ai không biết Liễu Tuyền tiên sinh, vì thế danh tiếng tiên sinh lẫy lừng khắp thiên hạ. Tiên sinh đầu tiên dự thi khóa Đồng tử, lập tức đỗ đầu cả ba kỳ ở huyện ở phủ ở tỉnh, được bổ Bác sĩ đệ tử, nổi tiếng văn chương trong các Chư sinh. Nhưng cứ vào thi hội là trượt, cảm khái nói "Là do mệnh chăng!". Vì thế quyết ý bỏ đường khoa danh, dốc sức vào cổ văn, phấn phát rèn luyện, ngày càng tinh tiến. Mà bình sinh chán chường thất chí, rơi rụng uất ức, nhìn ngắm chuyện đời, bi phẫn cảm khái, lại có chỗ khích phát chí khí, nên văn chương trong lòng nảy hoa, kỳ lạ chập chùng, vì thế có thể dứt bỏ sự rỗng tuếch, tự thành một nhà. Mà chỗ uẩn súc chưa dùng hết, nên lại sưu tập chuyện quái lạ, soạn thành bộ Chí dị, tuy việc dính líu tới chuyện xa xôi hư ảo, nhưng gọt sửa nghiêm cẩn, yếu chỉ ở chỗ sửa tục răn người, phù trì chính giáo, cũng như vì thế mà trước tác cổ văn thôi, chứ không phải soạn thuật bừa bãi.
Tiên sinh tính chất phác trọng hậu, ưa thích giao du, coi trọng danh tiết, nhưng riêng cao tự thẳng, nhất là không thể cùng cúi ngựa với đời. Lúc trẻ cùng người trong huyện là các tiên sinh Lý Hy Mai và bác họ tôi là Lịch Hữu, Thị Toàn kết thành thi xã Sính Trung, lấy phong nhã đạo nghĩa chơi thân với nhau, thủy chung không hề có chút xích mích. Cấp gián Tôn công trong hương là danh thần đương thời, rất có oai vọng, nên tôi tớ có khi lén lút rông càn. Hương lý không ai dám nói, chỉ có một mình tiên sinh cương quyết dâng thư hơn ngàn chữ chê trách, Tôn công được thư kinh ngạc khen ngợi, lập tức răn sức tôi tớ, họ đều thu mình giữ phép. Tư khấu Vương tiên sinh ở Tân Thành vốn coi tiên sinh là người có tài lạ, mấy lần gửi thư muốn nhận tiên sinh làm môn hạ, nhưng sau cùng tiên sinh lấy cớ có bệnh từ tạ, không tới ra mắt.
Than ôi, người học chưa gặp tiên sinh, mà mắt đọc văn chương, tai nghe danh tiếng, thì cho rằng người này ắt là kẻ sĩ cao đàm hùng biện, ý khí hiên ngang. Đến khi gặp con người thì thấy là bậc trưởng giả trang nghiêm, nghe trò chuyện thì ấp úng như không nói nên lời, mà xét bên trong thì uẩn súc sâu xa, đều có thể lấy điều trong lòng mà giúp cho đời. Thế mà nghèo túng lận đận, cuối đời chỉ là một Minh kinh già, chỉ có văn chương có thể lừng lẫy đương thời lưu truyền hậu thế. Đó là điều không may của tiên sinh, chứ há có thể theo đó mà biết hết tiên sinh đâu?
Ông nội của tiên sinh húy x* Nột (trên chữ Nột có một chữ không đọc được, bản Liêu Trai của Quốc học Phù Luân xã cho là chữ Sinh)**. Cha húy Bàn, cưới Lưu thị, là con gái cửa Lưu công Quý Điều Táng Quảng. Có bốn con trai, tám cháu nội, bốn chắt nội, cháu năm đời chỉ mới có một người. Trước tác có Văn tập 4 quyển, Thi tập 6 quyển, Liêu Trai chí dị 8 quyển. Mất ngày 22 tháng 1 năm Khang Hy thứ 54, hưởng thọ 76 tuổi trong năm ấy chôn ở gò cao phía đông thôn.
* Nguyên bản in một hình vuông biểu thị thiếu một chữ, ở đây dùng hiệu x để thay thế.
** Chú thích này có lẽ của Hồ Thích .
Qua mười một năm, đến năm Ung Chính thứ 3, con ông
muốn dựng bia nêu đức, bảo tôi viết văn bia. Vì tôi là kẻ hậu
tiến người cùng huyện, lại biết nhiều về tiên sinh, nên không
từ chối mà viết bài văn để dựng trên mộ Minh rằng:
Hữu văn bất hiển,
Hũu tích bất thi.
Súc cửu nhi xí,
Vi hậu chi ky (cơ).
Dĩ trưng dĩ tín,
Thị thử minh tỳ (từ).
(Tài không thành đạt,
Giỏi không phô bày,
Chứa lâu phát sáng,
Lưu tiếng lâu dài.
Để tin để biết,
Xem bài minh này).
Kẻ hậu học người cùng huyện là Trương Nguyên soạn.
Dựng ngày Thanh minh tháng 2 năm ất tỵ Ung Chính thứ 3 (1725).
Mặt Sau Bia Mộ Liễu Tuyền Bồ Tiên Sinh
x sinh x giờ Tuất ngày 16 tháng 4 năm Sùng Trinh thứ 15, mất vào giờ Dậu ngày 22 tháng 1 năm Khang Hy thứ 54.
Mẹ sinh vào giờ Thân ngày 26 tháng 11 năm Sùng Trinh thứ 18, mất vào giờ Mùi ngày 26 tháng 9 năm Khang Hy thứ 52.
Ghi thêm năm trước tác khác
x thân ngữ lục, Hoài hình lục, Lịch tự văn, Nhật dụng tục tự, Nông tang kinh mỗi loại 1 tập.
Ba vở hý khúc Khảo từ cửu chuyển hóa lang nhi, Chung muội khánh thọ, Náo quán.
Mười bốn vở hý khúc thông tục
Tường đầu ký, Cô phụ khúc, Từ bi khúc, Phiên yểm ương, Hàn sâm khúc, Cầm sắt lạc, Bồng Lai yến, Tuấn Dạ Xoa, Cùng hán từ, Xú tuấn ba khoái khúc mỗi loại 1 tập. Nhương đố sấm, Phú quý thần tiên khúc sau đổi thành Ma nan khúc, Tăng bổ Tường vân khúc mỗi loại 2 tập...(*) .
(*) Nguyên bản còn phần tên họ con cháu Bồ Tùng Linh, ở đây tạm lược.
Hồ Thích
Lời Bạt Bài Bia Mộ Liễu Tuyền Bồ Tiên Sinh Của Trương Nguyên
Về sự tích của Bồ Tùng Linh, ghi chép sớm nhất là bài Liễu Tuyền Bồ tiên sinh mộ biểu do Trương Nguyên viết. Không may là các sách dẫn lại bài văn bia này đều không chép đủ nguyên văn, lại thường có chỗ in lầm sửa lầm, vì thế gây ra không ít chuyện buồn cười. Năm trước tiên sinh Lộ Đại Hoang người Truy Xuyên tìm được tấm bia ấy trên mộ Tùng Linh, dập một bản gửi cho tôi, tôi đem so sánh với các bản sao, thấy bản dập của Lộ tiên sinh dòng nào cũng thiếu bốn chữ dưới cùng, đại khái là đoạn bị lún xuống đất. Nên tôi xin ông móc đất lên dập lại bản khác. Lộ tiên sinh được thư tôi vào lúc tháng chạp mùa đông lạnh giá, xông pha gió tuyết đi móc đất dập bia, "Nhưng nước có thể đóng băng, sáp mực đều vô dụng, đi lại bốn lần mới miễn cưỡng dập được". Nhiệt tâm của ông giúp chúng ta hôm nay đọc được toàn văn bài văn bia, biết được sự tích của Tùng Linh, giải quyết được rất nhiều nghi nan trong việc hiệu khám và khảo cứu, đó là điều tôi cảm kích nhất. Phần chính văn của tấm bia này gồm 15 dòng, mỗi dòng 50 chữ, phần mặt sau bia khắc giờ ngày tháng năm sinh và mất của vợ chồng Bồ Tùng Linh và mục lục các trước tác của ông. Đoạn cuối khắc tên bốn con trai, tám cháu nội, bốn chắt nội, một cháu năm đời của ông.
Trong văn bia nói lúc chết Bồ Tùng Linh "hưởng thọ 76 tuổi" phù hợp với ghi chép trong Sơn Tả thi sao và Truy Xuyên chí, đủ chứng minh sự sai lầm của các bản chép "thọ 86 tuổi". Sự lầm lẫn một chữ ấy có quan hệ không nhỏ. Vài năm trước có một người bậy bạ ngụy tạo hơn hai trăm bài thơ, đặt tên là Liêu Trai thi tập, in thạch ấn lưu hành, trong đó có năm bài đều là căn cứ vào một chữ bị lầm ấy mà bịa đặt ra! Sơn Tả thi sao trích sao bài văn bia này, trong có một câu:
"Thiếu dữ đồng ấp Lý Hy Mai cập tùng phụ Lịch Hữu kết Sính Trung thi xã" (Lúc trẻ cùng người trong huyện là Lý Hy Mai và bác họ là Lịch Hữu kết thành thi xã Sính Trung).
Liêu Trai văn tập do Quốc học Phù Luân xã ở Thượng Hải in chữ chì cuối thời Thanh có in kèm bài mộ biểu, câu này trong đó lại là:
"Dũ đồng ấp Lý Hy Mai cập dư tùng bá phụ Lịch Thị hữu, toàn kết Sính Trung thi xã" (Lúc trẻ cùng người trong huyện là các tiên sinh Lý Hy Mai và bác họ Tôi là Lịch Thị kết bạn, đều kết thành thi xã Sính Trung).
Ở đây "Lịch Thị" là tên người, "hữu" là động từ, "toàn" là phó từ biểu thị thời gian. Bản in thạch ấn Liêu Trai văn tập của Phường gian là in lại bản của Phù Luân xã, người biên tập quen đọc Liêu Trai chí dị, biết "Trương Lịch Hữu" là tên người, nên sửa câu này thành:
"Dữ đồng ấp Lý Hy Mai cập dư tùng bá phụ Lịch Hữu thân, toàn kết vi Sính Trung thi xã" (Lúc trẻ cùng người trong huyện là các tiên sinh Lý Hy Mai và bác họ tôi là Lịch Hữu chơi thân, đều kết thành thi xã Sính Trung).
Ở đây đổi chữ "thị" thành chữ "thân", làm động từ, về văn lý cũng thông. Nhưng hiện tại chúng ta xem bản dập bài bia, thì nguyên văn câu này là "Thiếu dữ đồng ấp Lý Hy Mai cập dư tùng bá phụ Lịch Hữu, Thị Toàn chư tiên sinh kết vi Sính Trung thi xã" (cùng người trong huyện là các tiên sinh Lý Hy Mai và bác họ tôi là Lịch Hữu, Thị Toàn kết thành thi xã Sính Trung). Nguyên bản có ba chữ "chư tiên sinh" (các tiên sinh), nên vừa nhìn là biết ngay "Lịch Hữu, Thị Toàn" là hai tên người. Các thi nhân được nhắc tới trong Sơn Tả thi sao có Trương Đốc Khánh, tự Lịch Hữu, Trương Lý Khánh, tự Thị Toàn. Từ Thị Toàn là lấy từ câu "Thị lý khảo tường, kỳ toàn nguyên cát" (Xem việc làm xét lành dữ, nếu trọn vẹn , nguyên cát) quẻ Thiên trạch Lý trong Kinh Dịch. Về sau các bản chép tay bỏ mất ba chữ "chư tiên sinh" (các tiên sinh), người sau không biết "Toàn Thị" cũng là nhân danh, nên tìm đủ cách đọc sai sửa bừa. Nếu chúng ta không từng nhìn thấy bản dập bài bia, cũng quyết không thể phát hiện ra chỗ sai lầm trong câu này. Câu chuyện nhỏ nhoi này có thể khiến chúng ta hiểu rõ cái học hiệu khám ắt phải tìm được bản nền sớm nhất tốt nhất. Không có bản nền cổ nhất, chỉ dựa vào sự thông minh nhỏ mọn của cá nhân mà đoán, mà sửa bừa, thì đó là hiệu khám đoán mò, không phải là hiệu khám khoa học.
Thế nhưng xem tới mặt sau tấm bia, thì chúng ta lại nhận được một bài học ngược lại! Bài học ấy là: chữ khắc trên bia cũng có thể sai! Mặt sau bia khảc như sau: "Cha sinh vào giờ Tuất ngày 16 tháng 4 năm Sùng Trinh thứ 15, mất vào giờ Dậu ngày 22 tháng 1 năm Khang Hy thứ 54.
Mẹ sinh vào giờ Thân ngày 26 tháng 11 năm Sùng Trinh thứ 18, mất vào giờ Mùi ngày 26 tháng 9 năm Khang Hy thứ 52".
Ở đây rõ ràng có hai ba chữ sai. Bồ Tùng Linh chết ngày 22 tháng 1 năm Khang Hy thứ 54 (1715), năm 76 tuổi, bia mộ ghi rất rõ ràng, từ năm Khang Hy thứ 54 tính ngược lên, thì năm sinh của ông phải là năm Canh thìn Sùng Trinh thứ 13 (1640). Bản sao Liêu Trai toàn tập cựu bản ở Đại học Thanh Hoa có bài thơ Dòng thần khốc mẫu, trong có đoạn:
"Lão mẫu hô ngã tọa, Đại tiểu nhiễu thân bàng... Nhân ngôn Canh thìn niên, Tuế sự tự cơ hoang. Nhĩ niên ư thử nhật, Đản nhữ tại bắc phòng..." (Mẹ già gọi ta ngồi, Lớn nhỏ đều xúm quanh. Nhân nói năm Canh thìn, Cay đắng chuyện mùa màng. Ngày này vào năm ấy, Sinh ngươi ở bắc phòng) (Bản sao của Mã Lập Huân ở Truy Xuyên cũng có bài thơ này).
Điều này có thể chứng minh câu "Sùng Trinh thập ngũ niên" (Năm Sùng Trinh thứ 15) ở mặt sau tấm bia phải là Sùng Trinh thập tam niên" (Năm Sùng Trinh thứ 13).
Ngoài ra phu nhân của ông chết vào ngày 26 tháng 8, không phải ngày 26 tháng 9. Trong Văn tập có bài Nguyên phối Lưu Nhụ nhân hành bảo, ghi chép về cái chết của bà như sau:
"Năm Quý tỵ (Khang Hy thứ 52) đã 71 tuổi, hôm Trung thu uống rượu trò chuyện với con gái và các con dâu, rì rầm đến trưa, hôm sau thì bị bệnh, cũng chưa có gì lạ. Qua vài hôm mệt mỏi không dậy được, mọi người mới lo lắng. Người thì nóng ran, thầy thuốc cho uống thuốc mát, lại càng nóng dữ. Các con trai ra chợ mua vải may áo liệm, vừa may xong, ngày 26 còn nằm coi sóc việc nhà, lúc vừa lên đèn thì mấy lần đòi thay áo, nói 'Ta đi đây. Không có chuyện gì dặn lại, chỉ đừng làm Phật sự mà thôi'. Kế đó tắt hơi..."
Theo bài này thì bà chết sau lúc lên đèn ngày 26 tháng 8 mặt sau bia lại khắc là "tháng 9" và "giờ Mùi" đều là ghi lầm.
Phần quý báu nhất ở mặt sau bia là bảng kê các trước tác của Bồ Tùng Linh. Bảng kê này sắp xếp rất lộn xộn, chữ viết lớn nhỏ cũng không có quy luật nhất định, đọc lần đầu thì rất không dễ mà hiểu, nay tra cứu xác định như sau:
Ghi thêm năm tập trước tác khác .
x thân ngữ lục (chữ bị thiếu là chữ "Tỉnh", bản sao của Đại học Thanh Hoa).
Hoài hình lục (bản sao của Đại học Thanh Hoa)
Lịch tự văn (bản sao của Đại học Thanh Hoa, nhan đề là Thời hiến văn, vì từ đời Càn Long trở đi kỵ húy vua nhà Thanh* nên đổi nhan đề, cuối sách có câu "Lịch văn một quyển, dạy bọn nhỏ ngươi", đủ chứng minh nguyên tác là Lịch văn hoặc Lịch tự văn).
*Vua Càn Long tức Thanh Cao Tông tên Hoằng Lịch.
Nhật dụng tục tự (bản sao của Á Đông Đồ thư quán)
Nông tang kinh (bản sao của Đại học Thanh Hoa, bản sao của Hồ Thích).
Ba vở hý khúc:
Khảo từ cửu chuyển hóa lang nhi (chưa tìm thấy)
Chung muội khánh thọ (chưa tìm thấy).
Náo quán (chưa tìm thấy).
Mười bốn vở hý khúc thông tục
Tường đầu ký (Bắc Bình Tân thời báo đã đăng qua, bản sao của á Đông Đồ thư quán).
Cô phụ khúc (diễn chuyện San Hô, bản sao của á Đông Đồ thư quán).
Từ bi khúc (diễn chuyện Trương Thành, bản sao của á Đông Đồ thư quán).
Phiên yểm ương (diễn chuyện Cừu Đại Nương, bản sao của Á Đông Đồ thư quán).
Hàn sâm khúc (diễn chuyện Thương Tam Quan, bản sao của Á Đông Đồ thư quán).
Cầm sắt lạc (chưa tìm thấy).
Bồng Lai yến (diễn chuyện Ngô Thái Loan tả vận, bản sao của Á Đông Đồ thư quán).
Tuấn Dạ Xoa (diễn chuyện một con ma cờ bạc hối lỗi, bản sao của Á Đông Đồ thư quán).
Cùng hán từ (chưa tìm thấy Có thể đây chính là bài Trừ nhật tế thần văn trong Liêu Trai bạch thoại vận văn do Hoành xã xuất bản?).
Xú tuấn ba (chưa tìm thấy).
Khoái khúc (chưa tìm thấy).
Nhương đố sấm (diễn chuyện Giang Thành, bản sao của Á Đông Đồ thư quán).
Phú quý thần tiên khúc sau đổi thành Ma nan khúc (nhan đề này là nói đầu tiên là Phú quý thần tiên khúc, sau đổi thành Ma nan khúc, diễn chuyện Trương Hồng Tiệm, bản sao của Á Đông Đồ thư quán, nhan đề là Phú quý thần tiên)
Tăng bổ Tường vân khúc (diễn chuyện hoàng đế Chính Thống vào kỹ viện chơi bời, bản sao của Á Đông Đồ thư quán).
Trở lên mỗi loại 2 tập.
Nhưng rõ ràng trong bài mộ biểu này có rất nhiều sai sót. Quan trọng nhất có những quyển sau đây: Văn tập (bài mộ biểu nói có 4 quyển, bản sao cựu bản của Đại học Thanh Hoa, bản sao của Mã Lập Huân, bản sao của Hồ Thích).
Thi tập (bài mộ biểu nói có 6 quyển, bản sao của Đại học Thanh Hoa, Mã Lập Huân, Hồ Thích).
Liêu Trai chí dị (bài mộ biểu nói có 8 quyển, bản Thông hành).
Đó đều được chép trong bài mộ biểu. Ngoài ra còn có một số tác phẩm mà bài mộ biểu và mặt sau bia không nhắc tới:
Vấn thiên từ (bản in chữ chì của Phác xã, theo khảo chứng của tiên sinh Lộ Đại Hoang, sách này là tác phẩm của Lập Đức cháu nội Bồ Tùng Linh. Bài của Lộ quân đăng trong Quốc văn chu báo, quyển 11, số 30).
Đào học truyện (bản in chữ chì của Phác xã).
Trừ nhật tế cùng thần văn, Cùng thần đáp văn (bản in chữ chì của Phác xã).
(Năm quyển trên đây, xem Liêu Trai bạch thoại vận văn của Mã Lập Huân, bản in Phác xã).
Tỉnh thế nhân duyên tiểu thuyết (bản Thông hành, bản in chữ chì của á Đông đồ thư quán. Bão Đình Bác nói sách này là của họ Bồ trước tác).
Hôn giá toàn thư (trong Văn tập có bài tựa. Sách này chưa tìm thấy).
Dược sùng thư (trong Văn tập có bài tựa. Sách này chưa tìm thấy)
Gia chính nội thiên, Gia chính ngoại thiên (theo tiên sinh Lộ Đại Hoang dẫn lại từ Liễu Tuyền cư sĩ hành lược của Vương Hồng Mưu ở Ích Châu. Sách này chưa tìm thấy).
Tiểu học tiết yếu (trong Văn tập có bài tựa và bài bạt. Sách này chưa tìm thấy).
Đọc xong thư mục tác phẩm nói trên, đọc qua những tác phẩm hiện còn giữ được chúng ta không thể không thừa nhận vị Tú tài già nghèo khổ này quả thật là một tác giả văn học cũ và văn học mới rất vĩ đại ở thế kỷ XVII.
Ngày 1 tháng 10 năm Dân quốc thứ 24 (1935).
HẾT
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com