Chương 28
Dứt lời Đình Thiên liền đứng dậy, gió núi thốc vù vù vào vạt áo, công tử lại tiếp tục trèo lên. Qua quãng mây dày, bậc đá liền trở nên rộng rãi, sắp xếp thành hình xoắn ốc quanh vách núi, bốn người thong thả đi liền năm canh giờ, tới khi thấp thoáng trông thấy một cái lán dựng trên mỏm đá, thì trời cũng tang tảng sáng.
Trong lán có người, một già một trẻ, họ đón tiếp bốn vị khách lạ rất niềm nở. Vì bất đồng ngôn ngữ nên Đình Thiên phải đưa mảnh ngọc ra họ mới hiểu, người này là tới tìm Đắc gia. Nghỉ chân nửa canh giờ, bốn người theo đứa trẻ trong lán đi tiếp. Quãng đường đó họ luồn vào trong hang núi, có bậc thang lên trên, thành vách nhẵn nhụi, đây mới là đường của tiên tộc dùng để di chuyển.
Rất nhanh liền thấy đường ra, vừa bước chân tới bên ngoài, ai nấy đều sửng sốt. Những ngôi nhà bằng tre nứa được dựng khéo léo trên các gờ đá, bên dưới có cột chống, nhà này nối với nhà kia bằng cầu thang gỗ, mây còn phải ở thấp hơn bọn họ, ngửa mặt nhìn lên trời chỉ cách một sải tay. Nhà dựng rất đơn sơ, chèo chống không cầu kỳ, cốt là nhẹ và chắc chắn, bước lên cảm giác vững chãi như đi trên đất bằng.
Đứa trẻ dẫn bốn người qua rất nhiều nhà, lại lên vài dãy cầu thang, đi ngược ra sau núi, tới một căn đứng riêng biệt, cửa nhà đó khép hờ, bên trong có ánh sáng hắt ra. Đứa trẻ gọi ba tiếng, sau cửa liền xuất hiện một người con gái, thân hình mảnh dẻ, tóc búi trễ, mắt lá răm mày lá liễu, mũi miệng vừa như khuôn, tổng thể rất xinh đẹp. Nữ nhân trao đổi với đứa trẻ kia xong liền qua nói với Đình Thiên:
- Ngươi tới vì ngọc luyện hồn phải không?
Hóa ra người con gái ấy nói được tiếng xuôi, công tử cung kính đáp lời. Nữ nhân nhìn qua từng người, thấy bọn họ ai nấy đều mặt mũi phờ phạc, thương tích đầy mình, môi miệng nứt nẻ, ngay cả người đứng trước mặt nàng cũng không kém tang thương. Người con gái tự xưng là Thị Dung, Đắc gia theo nữ quyền, vì thế mà Thị Dung liền dẫn bốn người tới nhà khách gặp tộc trưởng, cũng là tằng tổ của nàng.
Sau một tuần trà, bốn người đã yên vị, thần thái mười phần đã khôi phục bảy, có thể tỉnh táo nói chuyện với tộc trưởng Đắc gia. Đó là một bà lão tóc bạc phơ, da dẻ đã nhăn nheo, miệng đã móm, nhưng đôi mắt vẫn rất tinh anh. Thị Dung dẫn tằng tổ ra tiếp khách tiện thể đứng phía sau hầu bà, tằng tổ nói:
- Ngươi đường xa tới đây, muốn gặp lão có việc gì?
- Xin tiên nhân giúp cho tại hạ việc này, ngoài người ra không ai có thể làm được. – Đình Thiên đứng dậy, công tử bước sang cạnh ghế của tằng tổ, đầu gối lập tức khụy xuống. Tiếp theo Quốc Trí cùng Bá Dũng cũng lần lượt quỳ phía sau, chủ tớ đồng lòng khẩn thiết.
- Nói lão nghe.
Đình Thiên dâng mảnh ngọc bội lên quá đầu, nói:
- Đây là kỷ vật của mẫu thân tại hạ, tiên nhân có nhận ra nó không?
Tằng tổ cầm lên, vừa chạm tay vào liền gật đầu, bà lão này tuy tuổi cao sức yếu, nhưng hoàn toàn minh mẫn, trong đời đã từng chế bao nhiêu mảnh ngọc bà đều nhớ hết. Con bàn long này Liên Thành quý phi nhờ tằng tổ chế ra, là ám chỉ thân phận của Đình Thiên, tất nhiên bà lão sẽ khắc cốt ghi tâm.
- Ngọc đã nhuộm đen, linh khí cạn kiệt, tà khí bao trùm, giống như độc đã ngấm vào xương tủy, không thể giải được. –Tằng tổ trả lại mảnh ngọc cho Đình Thiên.
- Tại hạ mông muội, cúi xin tiên nhân hãy phá ngọc để giải thoát cho mẫu thân tại hạ.
- Tà khí lớn như vậy, mảnh ngọc này nếu vỡ ra sẽ vấy bẩn cả Bạch Mộc Lương Tử, lão không thể giúp ngươi, mau về đi. – Tằng tổ phất tay.
- Xin tiên nhân nghĩ cách cứu giúp, tại hạ dẫu làm trâu ngựa cũng không từ nan. – Nói rồi Đình Thiên lập tức khấu đầu ba cái.
- Lão không phải không muốn giúp, là vật này không thể cứu vãn nổi, nơi đây vốn cấm đem theo tà khí, ngươi dám tới là đã quá to gan rồi, mau quay về đi. – Tằng tổ đứng dậy, bà lão để Thị Dung đỡ, quay người toan đi vào buồng trong.
- Tiên nhân thấy chết không cứu, tại hạ sẽ quỳ mãi ở đây, dẫu có đánh đuổi cũng không quay về. - Đình Thiên dập đầu thật mạnh xuống sàn gỗ, công tử không ngẩng đầu lên, thuộc hạ phía sau răm rắp làm theo.
Tằng tổ mặc kệ bọn họ, một đường đi thẳng vào buồng trong, cửa đóng then cài kín mít. Tử Phàm thấy cảnh thương tâm, muốn khuyên công tử một câu, nhưng biết không lay chuyển được ý định ngài ấy, cuối cùng đành ngồi bên cạnh uống trà, nhìn ra ngoài cửa mây bay khói tỏa, trầm ngâm đợi công tử buông xuôi.
Đình Thiên khấu đầu nguyên một canh giờ, trong buồng lại có tiếng mở cửa, Thị Dung bước ra, thấy bốn người không đi, mới lấy lời khuyên can:
- Tằng tổ đã nói không được thì các người cũng đừng hy vọng, đường từ đây xuống núi còn xa, mau về sớm đi, nếu thiếu lương thực ta sẽ cho, đừng làm khó chúng ta nữa.
Đình Thiên không ngẩng đầu. Thị Dung đành bỏ qua công tử, đi sang buồng ngách xuống nhà dưới. Lại đợi tiếp một canh giờ nữa, Tử Phàm hết trà uống, đang nhấp nhổm tìm Thị Dung xin nước, lại thấy nàng từ dưới buồng ngách đi lên, tay bưng bốn bát bốc khói nghi ngút. Thị Dung để bát xuống bàn, nói:
- Các ngươi chưa ăn gì thì húp tạm ít cháo chay này, sau đó hãy trở về.
Nói rồi nàng quay người rời đi. Tử Phàm bấy giờ đã hết cách, hắn đột nhiên lên tiếng:
- Tiên cô, xin dừng bước. Tại hạ có vật này, mong tiên cô chuyển giúp tới trưởng tộc.
Thị Dung nhìn hắn, thấy hắn đưa tới một chuỗi tràng hạt bằng đá cẩm thạch, trên mỗi hạt đều khắc ký tự. Nàng gật đầu, sau đó đi vào buồng. Lát sau cửa liền mở, Thị Dung chuyển lời của tằng tổ tới Tử Phàm, nói hắn mau vào trong để bà hỏi chuyện. Tử Phàm đứng dậy, trước khi đi hắn còn vỗ vai Đình Thiên, nói với công tử rằng:
- Để bần đạo lo liệu, công tử đừng quỳ nữa, mau ăn bát cháo kia đi, vẫn còn nóng đấy.
Đình Thiên ngẩng đầu, thấy hắn đi theo Thị Dung vào buồng, cửa vừa đóng lại, công tử cũng lảo đảo gục xuống. Hai thuộc hạ vội lên đỡ, nhưng tuyệt nhiên công tử không chịu đứng dậy. Bát cháo bưng tới trước mặt vừa hút được hai miếng, cửa lại mở, Đình Thiên đặt bát cháo xuống một bên, nhìn những người bước ra.
- Ngươi đảm bảo sẽ cự lại được tà khí kia chứ? – Tằng tổ hỏi.
- Bần đạo dám lấy tính mạng ra đảm bảo, một chút cũng không để lọt, xin tộc trưởng yên tâm. – Tử Phàm cung kính hành lễ.
- Ngươi đứng lên đi, theo ta ra đan phòng. – Tằng tổ chỉ Đình Thiên nói.
Công tử thấy bà lão đồng ý với mình, mắt liền chuyển hướng sang Tử Phàm, muốn hỏi hắn đã làm gì. Tử Phàm nói nhỏ rằng, chuyện này vốn rất đơn giản, Đắc gia tu luyện đạo pháp từ khi còn ở miền xuôi, sau đó mới lên núi này ở ẩn, hắn có trong tay tràng hạt của trưởng phái Trúc lâm thiền tự, cũng chính là nói mình theo chính đạo. Tằng tổ nhận ra báu vật liền cho gọi Tử Phàm, hắn tùy tiện bịa chuyện, nhận tràng hạt là của mình, chính tay trưởng phái Trúc lâm thiền tự kế nghiệm truyền lại cho hắn. Vì thế mà khi hắn đảm bảo sẽ thu phục tà khí, bà lão không nghi ngại mà gật đầu đồng ý với công tử.
Đình Thiên chật vật đứng dậy, chân công tử mất cảm giác, từ đầu gối tới bàn chân lạnh toát, phải dựa vào thuộc hạ mới có thể đứng vững. Tằng tổ đã đi trước, công tử sợ bà lại đổi ý, liền quên hết đau đớn, bước thấp bước cao đi theo, tới một căn phòng cửa mở sẵn thì bước vào.
Mảnh ngọc bội được trao cho tằng tổ, bà lão đặt nó lên một cái chậu đá lớn, trong ngập nước, dưới chậu có bốn chân quỳ khắc đầu thú, lần lượt là tứ tượng: Chu Tước, Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ, miệng thú ngậm một thanh tre. Tằng tổ bày binh bố trận xung quanh, Đình Thiên nhìn hoàn toàn không hiểu, Thị Dung nói rằng, bà lão đang chuẩn bị tẩy trần cho mảnh ngọc.
Tử Phàm lật một ống tay áo lên, hắn dùng bút lông vẽ đồ hình vào lòng bàn tay, chăm chú tô từng nét chữ, màu mực ăn sâu vào da hắn, giống như Tử Phàm đang xăm chuỗi ký tự kia lên tay mình. Tay còn lại hắn rút ra một lá bùa, chân bước đến trước chậu đá, Tử Phàm cúi người hành lễ với tằng tổ Đắc gia. Bà lão gật đầu, lấy từ trên giá xuống một cái búa ngọc nhỏ cỡ nửa nắm tay, có cán bằng vàng, gõ đánh coong một tiếng vào thành chậu đá.
Nước trong chậu sủi lên lăn tăn, đồng thời đầu Thanh Long khắc trên chân quỳ phát ra tiếng u u. Bà lão lại gõ liền ba tiếng nữa, lần lượt các đầu thú còn lại đều tru lên, nước trong chậu như bị khuấy đảo, bọt nước bắt tung, rất nhanh liền xuất hiện một chiếc vòi rồng trên mặt nước. Đây giống như một truyền thuyết của người Tàu, kể về bốn thần thú trấn giữ tứ phương đông, tây nam, bắc.
Thuở bấy giờ trời đất đang yên bình, bỗng một ngày xuất hiện khe nứt rất sâu, tà khí lan tràn, muôn loài kinh hãi, tiếng kêu động tới thiên môn. Ông trời biết được liền sai thần tiên xuống vá đất, nhưng không ai làm được, mà khe nứt vẫn ngày một rộng ra. Trong lúc cấp bách, ông trời liền bố cáo với toàn thể sinh linh dưới hạ giới, ai có cách vá đất thì nghe hiệu lệnh trống của thiên đình, lập tức đáp ứng.
Trên trời đánh lên một tiếng trống, từ phương bắc Huyền Vũ đáp lời, mây đen kéo đến vần vũ. Tiếng trống thứ hai vừa dứt, từ phương nam Chu Tước đáp lời, kéo gió tới ầm ầm. Lại tới tiếng trống thứ ba, từ phương đông Thanh Long đáp lời, mưa lập tức trút như vũ bão. Sau cùng là tiếng trống thứ tư, từ phương tây Bạch Hổ đáp lời, sấm vang chớp giật ùng ùng nổi dậy. Bốn thần thú hợp sức tạo lên cơn đại hồng thủy, ba ngày ba đêm lấp đầy nước trong khe nứt, tạo lên sông Trường Giang bây giờ.
Dẹp yên đại nạn, bốn thần thú được ông trời cho trấn yểm mỗi con một phương, trong dân gian liền truyền tụng nhau tục thờ tứ tượng, là để trị thủy trừ tà. Tằng tổ Đắc gia gõ xong bốn tiếng, liền xuất hiện vòi rồng trong chậu đá, Tử Phàm đưa bàn tay đã vẽ chú vào giữa vòng xoáy, lá bùa chặn trên cổ tay.
Tách!
Có tiếng ngọc vỡ trong chậu, tà khí theo đó thoát ra, trong khoảnh khắc liền bốc lên đen kịt. Tử Phàm giữ cho đám khói đen đó không lan rộng, hắn dùng trấn thuật để hút lấy tà khí, quả nhiên lượng khói đen tích tụ trong mảnh ngọc lớn kinh người, tay hắn liền chuyển từ trắng sang xám, rồi từ xám sang đen. Những người đứng nhìn ai nấy đều kinh hãi, chỉ thấy Tử Phàm mồ hôi chảy như tắm, tay nọ giữ chặt tay kia, hết sức áp chế tà khí, bàn tay run lên bần bật.
Khói đen dần bị hút hết vào tay Tử Phàm, tiếng tru vừa dứt, hắn liền rụt tay về, đem lá bùa quấn vào cổ tay, phong bế tà khí lại. Tử Phàm đứng không vững, hắn lấy vạt áo che cánh tay đã phế kia đi, tựa lưng vào vách nứa thở hổn hển. Đình Thiên lập tức đến hỏi thương thế hắn, qua một lúc mới thấy hắn xua tay, lại chỉ vào trong chậu đá, ý bảo công tử nhanh qua đó xem.
Đình Thiên nhìn vào trong chậu, mảnh ngọc bội đã vỡ đôi, màu lục bảo liền được khôi phục. Ảnh phản chiếu của công tử in lên mặt nước, Đình Thiên bỗng nhiên nhận ra, kia không phải mặt mình, khuôn mặt mà công tử nhìn thấy là của mẫu thân. Ánh mắt người hiền từ, chỉ là một bóng nước mà vẫn toát ra vẻ bao dung vô hạn. Đình Thiên vươn tay chạm đến, ảnh phản chiếu lập tức tan ra, nhìn lại thì đã không thấy mẫu thân đâu, dưới nước là khuôn mặt sầu thảm của công tử.
- Người đã được giải thoát, hà cớ gì ngươi phải đau lòng? – Tằng tổ Đắc gia lên tiếng.
- Tại hạ còn một thỉnh cầu, xin tiên nhân chấp thuận. – Đình Thiên cung kính nói.
- Ngươi có phải cũng muốn chế ngọc luyện hồn?
- Thưa, vâng.
- Những người này thường có kết cục bất hạnh, không ai giữ được lương tâm trong sạch mãi, dù là người ngươi muốn bảo vệ, một khi đã trao cho người đó linh hồn ngươi, sẽ chẳng biết khi nào người đó biến ngươi thành ma quỷ.
- Chỉ cần người đó được bình an, tại hạ sẽ không oán trách.
- Kể cả là không có luân hồi, nhân thế ruồng bỏ, hồn siêu phách tán?
- Tại hạ đều chấp nhận.
Núi Tùng nằm ở mạn tây kinh thành, thẳng đường lớn đi ngựa nửa tháng là tới. Như Đình Thiên đã nói, sau khi giải quyết xong việc của mình, công tử sẽ đi cùng Tử Phàm về Bách Tùng miếu. Hiện bốn người còn cách núi Tùng ba ngày đi ngựa, đường đèo đổ dốc quanh co, ngựa phi nước đại vun vút như bay.
Lại nhắc việc của Đình Thiên, tròn một tháng trước công tử gặp được tiên nhân trên Bạch Mộc Lương Tử sơn, giải thoát được cho mẫu thân, đồng thời ở lại bảy ngày để theo trưởng tộc Đắc gia chế ngọc luyện hồn. Quá trình không cần nói nhiều, theo lời tằng tổ, Đình Thiên ngày đêm vào núi nhặt đá, bà lão nói, có thể luyện thành hay không còn tùy vào ý trời, công tử đi tìm một mảnh ngọc thạch về đây, bà sẽ luyện cho.
Tìm ngọc thạch trong núi đá khác gì mò kim đáy bể, Đình Thiên một ngày đào được cả nghìn viên, có lớn có nhỏ, nhưng không viên nào ưng ý. Tới ngày thứ tư, sáng hôm ấy công tử vác giỏ vào núi, lúc đi trên cầu gỗ thì nghe tiếng rào rào từ trên đổ xuống, ngửa mặt nhìn liền thấy đá trên đỉnh núi sạt xuống. Công tử đang định thoái lui, lại thấy ở giữa cầu là đứa trẻ ở hôm trước dẫn đường đến nhà Đắc gia. Đình Thiên vội vã lao tới đón lấy đứa trẻ, tai nghe tiếng đá lở ầm ầm trên đầu, công tử né được mấy khối, rất nhanh liền tới được đầu bên cầu bên kia.
Đứa trẻ cảm cái ơn cứu mạng của công tử, liền lấy trong túi ra một mảnh đá màu hổ phách, hình quả trứng, nhỏ bằng hai ngón tay, bên trong có vân trắng. Đình Thiên nhớ đến lời của tằng tổ, nghĩ duyên cuối cùng cũng đến, công tử nhận ngọc thạch và tới gặp tộc trưởng Đắc gia. Bà lão cầm viên đá lên xem, lại có lời khen tới công tử, đây là hổ phách ba trăm năm, chỉ có thể đào ra sâu trong lõi núi đá.
Tằng tổ dùng hai ngày tiếp theo để chế ngọc, tới hôm cuối cùng liền gọi Đình Thiên vào, dùng phép nhập hồn cho công tử, sau đó bốn người từ biệt bà lão cùng Thị Dung để xuống núi. Theo cầu thang trong núi thẳng một mạch xuống tới mặt đất, ra đến ngoài thì quang cảnh đã khác, không thấy hồ Bạch Tâm đâu nữa.
Lại đi hai ngày trong rừng, đang lúc Quốc Trí săn thú rừng làm lương thực, có gặp được một người đi đặt bẫy thỏ, người đó nhiệt tình dẫn đường cho bọn họ, rất nhanh công tử đã đến một thôn trại. Bên trong dân cư đông đúc, nhà sàn cao hơn cây, gà lợn thả chạy đầy đất, trẻ con đứa nào cũng trắng trẻo mũm mĩm.
Đình Thiên mua lại của thôn dân bốn con ngựa, họ không dùng tiền để trao đổi, thay vào đó Quốc Trí và Bá Dũng phải đi săn lấy bốn con lợn rừng lớn cho họ. Hai hộ vệ đi một ngày, tới tối liền tay không trở về, thôn dân hỏi thì một người nói mau vào rừng khiêng lợn về, bọn họ săn được tổng là năm con, đều nặng ngang một con ngựa nhỡ. Vì thế mà quãng đường tiếp theo bốn người có ngựa để đi, từ cuối mạn bắc xuyên sang mạn tây là mười ngày đi ngựa, hiện đã đi được bảy ngày.
Cánh tay của Tử Phàm chưa phục hồi được, từ khi xuống núi hắn vẫn luôn phải phủ vạt áo che đi. Đã lâu hắn không về Bách Tùng miếu, nhìn mây trời non nước mà cảm giác bồi hồi. Ba ngày trôi rất nhanh, núi Tùng xanh thẫm hiện ra trước mắt, đất đồi ở đây chỉ hợp trồng loài cây lá kim vững trãi ấy, ngoài ra tới cây bụi cũng không mọc được. Tử Phàm buộc ngựa ở chân núi, bốn người đi bộ một đoạn liền thấy một cầu thang đá dẫn lên trên, lối đi này do sư phụ làm, lúc làm tới đây thì Tử Phàm xuống núi, sư phụ từ đó không nghĩ tới việc làm bậc đá nữa.
Bách Tùng miếu không có gì đặc sắc, sân trước đầy lá cây trút xuống, cửa miếu khép hờ, bên trong mạng nhện giăng kín, rõ ràng là từ lâu không có ai ngó ngàng tới miếu này. Bốn người dọn dẹp trong ngoài một lượt, sau đó mới thắp đèn, nhóm bếp lên thổi cơm ăn. Ăn xong liền ngồi quanh đống lửa uống trà nói chuyện.
- Công tử có định trả thù cho mẫu thân không? – Tử Phàm hỏi.
Đình Thiên nhấp một ngụm trà, công tử lắc đầu, nói:
- Kẻ đó hại ta, ta lại hại kẻ đó, cứ như vậy tới bao giờ mới hết nghiệp. Ta không thể để thù hận che mắt, quốc gia đang đối mặt với thù trong giặc ngoài, việc riêng không đáng để bàn đến.
- Vậy công tử sẽ về kinh nhậm chức sao?
- Không. Ta nghe nạn dân dọc đường nói biên giới phía bắc đang bị giặc Minh tràn sang cướp bóc, ta sẽ tâu lên vua cha, cho dẫn quân đi dẹp giặc. Là thân nam nhi, nếu phải quanh quẩn đấu đá trong cung, ta thà chết trận ngoài sa trường.
Tử Phàm trầm ngâm, hắn nghĩ tới chiến trận, người trẻ tuổi này quả nhiên khảng khái, nếu nối ngôi sau này ắt hẳn sẽ thành minh quân.
- Thầy có định ở lại đây không? – Đình Thiên bấy giờ lại hỏi.
- Nếu được, xin công tử cho bần đạo theo ngài ra chiến trận, được sống mái với quân giặc.
- Thầy không quen chuyện binh đao, ra trận chỉ uổng mạng. Nếu muốn theo ta, chi bằng đợi khi ta thắng trận trở về, sẽ tới đây tìm thầy.
Tử Phàm nhìn công tử, lại nghĩ số phận hắn rốt cuộc vẫn là cô độc. Đình Thiên lấy trong túi ra một vật, đưa đến trước mặt hắn, nói:
- Thầy giữ cho ta vật này, chiến trường binh đao loạn lạc, ta không biết nhờ ai, đành phiền tới thầy.
Đó là mảnh ngọc hổ phách, Tử Phàm lập tức từ chối, công tử liền bảo hắn:
- Ta sẽ sớm quay lại lấy đồ, thầy nếu coi ta là bằng hữu, thì đừng từ chối.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com