mummy mk123
Đánh ghen: Đặc điểm của tranh dân gian Đông Hồ là rất động và vui. Tranh Đông Hồ thường có nhiều yếu tố biếm họa mà bức “Đánh ghen” là một đỉnh cao. Yếu tố biếm họa thể hiện ở sự cường điệu hóa các hình thể và đường nét trong tranh, tạo nên sự sôi động, nét hài hước, vui nhộn trước một tình huống bi kịch gia đình Tranh “Đánh ghen” được khắc họa một cách chắt lọc về đường nét; tỉ lệ hình ước lệ theo một sự hợp lý của bản năng nghệ thuật và cảm thức trong sáng, hồn hậu, dí dỏm…Những quan niệm, mĩ cảm của người nghệ sĩ- nghệ nhân được thoát thai từ hiện thực cuộc sống được đưa vào tranh một cách tài tình và sâu sắc qua bố cục, đường nét của hình thể được khái quát và điển hình hóa nên cái không gian hiện thực trên tranh. Sự bình phẩm hay sự “đưa ra” những cảnh huống trớ trêu xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội xưa
cũng nhẹ nhàng mà thâm thúy kín đáo. Tranh “Đánh ghen” với lời đề “Thôi thôi nuốt giận làm lành. Chi điều sinh sự nhục mình, nhục ta”, bên cạnh hình tượng các nhân vật và không gian ươc lệ được hình tượng hóa gia cảnh của các nhân vật bằng các mảng tường hoa, bình phong…và hình ảnh người vợ cả dữ tợn, cầm kéo xông vào cô vợ trẻ (đang được người chồng ôm ngực bảo vệ) thách thức chìa tóc ra, vênh váo…khiến người xem cảm nhận được cái dư vị bi hài muôn thuở của đời sống “chồng chung vợ chạ” trong thực tế thường xảy ra trong các gia đình giàu có, của ăn của để.
Đặc điểm của tranh dân gian Đông Hồ là rất động và vui. Tranh Đông Hồ thường có nhiều yếu tố biếm họa mà bức “Đánh ghen” là một đỉnh cao. Yếu tố biếm họa thể hiện ở sự cường điệu hóa các hình thể và đường nét trong tranh, tạo nên sự sôi động, nét hài hước, vui nhộn trước một tình huống bi kịch gia đình . Xem “Đánh ghen”, ta thấy yếu tố tĩnh và động được kết hợp hài hòa, dù cái động có phần trội hơn. Những hình ảnh tĩnh trong tranh là hình tượng cây tùng, bức bình phong, tường hoa, cây cảnh…. đối lập là các hình tượng nhân vật rất động với dáng điệu quyết liệt trong sự giằng co của trận đòn ghen bất phân thắng bại giữa hai bà vợ mà hai nhân vật trung gian là ông chồng và đứa con.
Nét vẽ trong tranh rất phong phú, những nét thẳng của bình phong, tường hoa làm tôn lên những đường cong của các nhân vật, vốn rất đặc trưng trong cách tạo hình của dòng tranh dân gian Đông Hồ. Một tổ hợp các đường cong được nối tiếp với nhau tạo nên các nhân vật có dáng điệu rất sinh động trong tranh. Tuy là vật thể tĩnh, nhưng chính đường cong của tấm bình phong cũng tạo nên nhịp điệu trong bố cục của tranh Tranh chăn trâu thả diều Tranh dân gian góp phần không nhỏ vào việc lưu giữ các vốn văn hoá cổ xưa của dân tộc, làm cho đời sống tinh thần của người Việt Nam thêm phong phú và đa dạng. Cặp tranh Em bé chăn trâu, theo thói chơi tranh Tết dán theo bộ đăng đối nhau cùng tiến vào giữa, thì tờ tranh ở mảng tường bên trái được gọi là Em bé chăn trâu thả diều, còn tờ tranh đối lại là Em bé chăn trâu thổi sáo. Cách gọi tên tranh như thế chỉ là “trông mặt đặt tên”. Các nghệ nhân xưa không đặt tên cụ thể để người xem trông hình mà gọi, nhưng ở hai bức tranh này vốn xưa ở mỗi bức có một câu chữ, do đó mọi người thường lấy đó làm tên tranh. Câu chữ ở bức thả diều là NHẤT RƯƠNG PHÚC LỘC ĐIỀN và ở bức thổi sáo là HÀ DIỆP CÁI THANH THANH. Năm chữ cắt thành hai hàng dọc không chỉ nói lên ý tứ của hình tượng mà còn tham gia vào bố cục của tranh. Với người chơi tranh là nông dân hầu hết không biết chữ, đã mấy ai đọc được và ngay cả khi đọc được thì cũng thật ít người hiểu được thâm ý. Vì thế giá trị của những dòng chữ này trước hết - cơ bản là làm cho bố cục tranh được trọn vẹn, đầy đặn như ước mơ đầu xuân của mọi người.
Dán hai tờ tranh Tết thuộc một bộ phải như treo hai vế của một câu đối, có bức 1 và bức 2 như vế ra và vế đối. Ở bộ tranh chăn trâu này phần chữ cả hai đều tận cùng bằng chữ thuộc vần bằng tức thuộc vế đối, nhưng vì cả nghệ nhân và người chơi tranh đều rất hạn chế về trình độ văn học, nên câu đối tranh ở đây là theo hình: Hai con trâu ở hai bức tranh phải được dán như từ hai phía đi vào giữa để gặp nhau, do đó bức thả diều dán ở tay phải người xem, bức thổi sáo ở bên trái. Tranh chăn trâu thả thổi sáo: Con trâu là con vật mà nhà nông không thể thiếu “Con trâu là đầu cơ nghiệp” giúp họ cày bừa, kéo vác. Trâu trong bức tranh này trông thật đáng yêu và ngộ nghĩnh. Đôi tai vểnh lên nghe ngóng, chân tung tăng như nhảy theo tiếng sáo, mặt vui vui nhìn cuộc đời, đuôi vây vẩy ngộ nghĩnh. Dường như trâu cũng đang thưởng thức âm nhạc và cảm thấy vui sướng. Điều đó có thể nói trâu không chỉ giúp cho nhà nông làm việc mà nó còn là một người bạn tinh thần của họ. Trâu khoẻ với gam màu nóng và đường viền chân tạo sự chắc, vững. Chú bé trên lưng trâu trông thật khôi ngô, khỏe đẹp. Khôi ngô biểu hiện qua ngũ quan trên khuôn mặt thật hài hòa, cân đối. Khỏe đẹp qua nước da hồng hào và thế ngồi vững chãi - khoanh hai chân vào nhau. Chú thật là một cậu bé tài năng: vừa biết chăn trâu lại vừa thổi được sáo.
Ngồi trên lưng trâu và thổi sáo, một lúc hai việc quả là có khả năng thích nghi cao. Không những thế chú còn là một đứa trẻ ngoan, biết chăn trâu giúp bố mẹ. Đây là hình ảnh ta thường thấy trong cuộc sống nông thôn Việt Nam. Khí hậu phương Đông nắng nóng lắm, mưa ẩm nhiều. Vì vậy cậu bé của chúng ta phải cởi trần, mặc quần cộc để cưỡi trâu, thổi sáo. Trên đầu, một lá sen được cậu ngắt kẹp giữa hai chân. Lá sen vươn lên trời xanh che nắng cho cậu. Đôi lúc ta thấy nó cũng như muốn ngả nghiêng, uốn éo theo điệu sáo. Sáo mà cậu bé thổi cũng được làm rất duyên dáng, chắc chắn, là sáo chứ không thể là một cành củi khô được bởi đầu sáo gắn một túm dây rất điệu.
Nếu để ý còn thấy cậu bé ấy không ngồi hẳn trên trâu mà là ngồi trên một thảm hoa đặt trên lưng trâu và được trang trí bằng những bông hoa gam trầm rất sắc nét. Ngoài ra, dưới chân cậu, trên tấm thảm còn có những búp sen, lá sen, hoa sen, cọng sen với cách sắp xếp khác nhau trông thật vui mắt. Cách sắp xếp rất hay và biểu cảm. Cỏ dưới chân trâu có ba bụi nhưng mỗi bụi một vẻ không bụi nào giống bụi nào, lối chuyển động của cỏ hết sức sinh động Tranh chăn trâu đọc sách: Tranh dân gian góp phần không nhỏ vào việc lưu giữ các vốn văn hoá cổ xưa của dân tộc, làm cho đời sống tinh thần của người Việt Nam thêm phong phú và đa dạng. Trong các dòng tranh dân gian, tranh Đông hồ khá gần gũi với đại đa số dân chúng Việt Nam, nhắc tới hầu như ai cũng đều biết. Tranh gần gũi vì nó gắn với làng quê, ngõ xõm, với cuộc sống lao động của người nông dân bình dị, chất phác và hình ảnh của nó đã đi vào thơ, văn:
“Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”
Không phải tự nhiên mà tranh Đông Hồ được nhà thơ Hoàng Cầm nhắc đến đầy tự hào và kiêu hãnh trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” như một đặc sản nghệ thuật của vùng quê Kinh Bắc. Cái làm nên nét đặc sắc độc đáo của tranh Đông Hồ chính là chất liệu làm tranh, được chế biến thủ công từ các nguyên liệu có sẵn trong thiên nhiên: Giấy làm từ cây dó, màu đỏ từ gạch non, màu vàng từ hoa điệp vàng, màu đen từ lá tre đốt, màu trắng được nghiền từ vỏ sò, ốc… Trên cơ sở những màu sắc cơ bản ấy người dân đã tạo thêm nhiều màu sắc khác nhau từ việc trộn lẫn các màu. Để hoàn thành một sản phẩm, không kể khâu khắc tranh trên bản gỗ, có sẵn giấy và màu, người làm tranh phải rất công phu, cẩn thận trong từng giai đoạn: sơn hồ lên giấy, phơi giấy cho khô hồ, quết điệp rồi lại phơi giấy cho khô lớp điệp, khi in tranh phải in từng màu lần lượt, nếu có 5 màu thì 5 lần in, mỗi lần in là một lần phơi… Cứ thế, dưới ánh sáng mặt trời lấp lánh từng hình ảnh, đường nét của cảnh sắc thiên nhiên, nếp sinh hoạt của người dân, những hình ảnh của cuộc sống thường ngày ... như “bừng” sáng trên giấy dó. Mọi giai đoạn đều thật công phu nên đòi hỏi người làm tranh luôn cẩn trọng, cầu kì, chú ý đến từng chi tiết nhỏ để có được một bức tranh đẹp. Đám cưới chuột: Chuột được nhân hóa thành người, thể hiện thực trạng của người khá giả trong thời phong kiến. Trạng Chuột ơn vua cưới vợ làng,
Kiệu son lộng lẫy lọng hoa vàng !
Nàng dâu xứ chuột chân đi đất,
Ngón nhỏ bùn non vẫn dính chân !
Đám cưới rất trang trọng, mang đậm cái hình ảnh ngựa anh đi trước, kiệu nàng theo sau. Chàng xênh xang trong bộ áo gấm xanh. Nàng mặc áo màu gụ. Họ được rước đi, rạng rỡ trên con đường làng màu son nhạt với những vạt cỏ màu mạ. Chuột Trạng hoặc chuột chú rể được che lọng tía tượng trưng cho vinh quang, danh vọng lớn. Chuột cô dâu dịu dàng trong chiếc kiệu bát cổng có nhiều hoa văn trang trí kiểu cổ. Bốn chú chuột hầu hạ, ghé vai khiêng. Đám rước còn có biển đỏ, dàn nhạc. Hai chú chuột thổi hai chiếc kèn có cung bậc khác nhau: kèn pha và kèn đại. Trang phục các chú chuột “điểu đóm” là một loại gần như lòe loẹt, tinh nghịch gợi người xem liên tưởng tới kiểu trang phục của các anh hề ở gánh xiếc. Bức tranh tưng bừng về màu sắc, hài hòa về nhân vật, sinh động, rộn lên vẻ đùa giỡn, giễu cợt, trào lộng Tranh cóc múa kỳ lân: Thường đội lân đánh trống vang xóm và nhà nào có treo thưởng thì đội lân sẽ đến múa chúc vui, … Đám múa lân thường gồm có một người đội chiếc đầu lân bằng giấy và múa những điệu bộ của con vật này theo nhịp trống. Đầu lân có một đuôi dài bằng vải màu do một người cầm phất phất theo nhịp múa của lân. Ngoài ra còn có trống thanh la, não bạt, đèn màu, cờ ngũ sắc, có người cầm côn đi hộ vệ đầu lân và quan trọng nhất không thể thiếu đó là ông Địa. Thường đội lân đánh trống vang xóm và nhà nào có treo thưởng thì đội lân sẽ đến múa chúc vui, tiền thưởng thường treo trên cao, có khi buộc trên cành tre cao, đội lân sẽ đôn người lên cho lân há miệng ngoạm lấy (có khi làm thang là một cột thép dựng đứng để lân leo). Thường phần thưởng càng lớn thì treo càng cao, đội lân càng có nghề càng thích phần thưởng treo cao, xem như một thách thức các đội lân khác, đồng thời qua đó chứng tỏ tài nghệ của đội để thu hút các gia chủ khác. Nhưng trong nhà có người già thì phần thưởng lại được treo thấp dù có giá trị cao, chắc tránh cho lân gặp phải nguy hiểm xem như gia chủ để phước. Ông địa phải vào nhà vái chào người già, gia chủ, sau đến giỡn chơi hoặc làm hề cho trẻ em vui, nếu gia chủ tỏ ý muốn mời thì đoàn lân sẽ vào, sau khi lân ngậm được tiền, lân gục gặc đầu cảm tạ thì ông địa lại vái chào cảm ơn gia chủ trước khi đoàn lân qua nhà khác.
Có nhiều kiểu múa lân.
"Độc chiếm ngao đầu" - Một con lân biểu diễn, thể hiện tài tả xung hữu đột, tiến thoái nhịp nhàng, bộ pháp hùng dũng, nhảy cao, trèo giỏi, tượng trưng cho cái uy, cái dũng của một mãnh tướng, một hảo hán, một vị anh hùng.
"Song hỉ" - Hai con lân cùng biểu diễn, thể hiện niềm hân hoan khoan khoái, tâm đầu ý hợp như loan với phụng, như vợ với chồng, như đất trời và âm dương tương hợp.
"Tam Tinh" - Ba con lân hợp múa với ba màu vàng, đỏ, đen, thể hiện những điều cầu nguyện của mọi người đạt được điều lành, ba điều tốt là Phúc, Lộc, Thọ.
"Tam Anh" - Ba con lân cùng múa, diễn tả Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi vừa hùng dũng, vừa có chí lớn, vừa thương yêu, gắn bó với nhau hơn cả anh em ruột thịt cho đến chết.
"Tứ Quý hưng long" - Bốn con lân cùng múa, gồm bốn đầu lân trắng, vàng, đỏ, đen (hoặc xanh), tượng trưng cho bốn mùa, bốn phương, bốn hiện tượng trong trời đất, diễn tả sự sung mãn, trường thọ, mạnh khỏe và hạnh phúc Tranh nhân nghĩa: Bức tranh bé trai ôm cóc với ngụ ý cầu chúc em bé sẽ học hành hiển đạt. Tranh Nhân nghĩa vẽ hình em bé ôm cóc. Trong văn chương truyền miệng Việt Nam, chắc cũng chưa ai quên hình ảnh con cóc trong truyện “Cóc kiện trời”, hoặc câu ca dao:
Con cóc là cậu ông trời
Ai mà đámh cóc thì trời đánh cho
Ông Trời – chúa tể của vũ trụ – linh thiêng là thế, uy vũ là thế, mỗi khi con người gặp chuyện gì không vừa ý lại kêu trời. Vậy mà cóc còn là cậu của ông trời mới oai chứ! Đúng là “oai như Cóc”. Tranh có chú thích chữ "nhân nghĩa" ấy chính là lời cầu chúc cho các cháu bé được tặng tranh có được cái Nhân, cái Nghĩa như con cóc tía trong truyện cổ: mình mẩy tuy có thể xấu xí, bé nhỏ song dám lên kiện cả ông trời để đòi mưa cho dân làng. Chính vì vậy tranh vẽ hình em bé ôm con cóc một cách trìu mến. Không có sự giải thích nội dung tranh sẽ trở nên khó hiểu vì ai mà bồng bế một con cóc bao giờ.
Tranh Nhân nghĩa vì vậy còn được gọi là tranh "Trai tài ôm cóc tía", đối xứng với tranh "Gái sắc bế rùa xanh".
Tranh treo tết thì bao giờ cũng mang một nội dung là cầu chúc cho những gì tốt đẹp. Những bức tranh chính là những câu chúc cho gia chủ một năm phát tài phát lộc
Tranh gà hoa hồng:
Người Việt quan niệm gà trống là biểu tượng của ngũ đức: văn, võ, dũng, nhân, tín. Đó là những đức tính rất cần có của một bậc dũng sĩ.
Người Việt quan niệm gà trống là biểu tượng của ngũ đức: văn, võ, dũng, nhân, tín. Đó là những đức tính rất cần có của một bậc dũng sĩ. Gà gáy báo hiệu một ngày mới. Con gà sẽ đánh thức mặt trời chiếu sáng cho đủ đầy ánh nắng cả năm. Và gà không chỉ là vật nuôi thân thuộc nó còn là chiếc đồng hồ gọi cả làng dậy ra đồng mỗi sớm mai. Chính vì thế nó trở thành con vật gắn bó, gần gũi trong tâm linh của nhà nông từ ngàn xưa. Thậm chí con gà đã là một mã văn hoá đi liền với tín ngưỡng tôn sùng mặt trời của nghề trồng lúa nước.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com