niente
Nàng tiên cá Ostra nổi tiếng bởi giọng hát và được nhiều người mền mộ bởi thứ châu báu trời phú ấy. Người ta đồn rằng giọng hát của nàng trong veo và thơ ngây đến mức có thể cảm hóa được bất kì loài dã thú nào khi chúng chỉ vừa nghe những tiếng ngân nga đầu tiên, rồi từ ngày này qua tháng nó, giọng hát của nàng được phóng đại thành một thứ thần dược không cần uống mà người ta chỉ cần cảm nhận bằng lỗ tai và xem nó như một nguồn suối tươi mát đang rót vào trong tâm hồn. Giọng hát của nàng khiến người điếc nghe thấy được, người què có thể đứng dậy và biết bao người tưởng chừng đã kề cận cửa tử vẫn có thể tiếp tục băng rừng vượt núi. Người ta không biết nàng đã bao nhiêu tuổi, họ cũng không biết nàng trông như thế nào; câu chuyện về nàng trở thành truyền thuyết lót gối của những em bé và là mục tiêu cho những chàng thanh niên muốn thử sức mình với hiểm nguy cuộc đời.
Người ta bàn nhiều về Ostra nhưng hiếm ai bàn về nhan sắc của nàng. Từ những quyển sách cũ xa xưa tưởng chừng đã mục nát theo tháng năm, ta có thể gói gọn như sau: Ostra có đôi mắt mở to nhưng bị phủ bởi một lớp màn đục như ngọc trai, mái tóc nàng màu nâu nhạt, hơi rối, đính nhiều những vỏ óc và đá quý nhỏ xíu vừa đủ để nàng trông nổi bật nhưng cũng không khiến chúng bị lu mờ. Da của Ostra sáng, chuyển sang màu hơi tái vì nàng không mấy khi lên bờ, bên tai nàng là mấy lớp vảy cá nhạt màu rêu chồng chất thành từng lớp lên nhau như một tấm vải loang màu. Ostra không quá xuất sắc, so với những truyền thuyết về nhân ngư thì nàng chỉ là một tiên cá bình thường. Cha của nàng không phải vua và mẹ của nàng cũng không phải là hoàng hậu nhưng tất cả tình yêu thương họ đều trao cho nàng vì nàng là đứa con duy nhất. Những ngón tay của Ostra dính lại vào nhau nhưng không thô kệt, móng tay của nàng được cắt gọn và nàng biết chơi một số loại nhạt cụ. Đuôi cá của nàng, thứ được chú ý nhiều nhất vì nó khác với những người trên cạn có màu lá xanh đậm của những chiếc lá đã thôi mơn mởn và gần như chuyển sang đen. Không biết liệu thế giới của người cá có phân biệt cấp bật qua những chiếc đuôi không nhưng Ostra thường sẽ ngại ngùng giấu nó dưới nước. Thân hình của nàng mảnh mai, bụng thon, về điểm này không có gì quá bất ngờ. Phản ứng của nàng hơi chậm, những viên đá đính trên tóc sẽ chuyển đổi tùy theo tâm trạng của nàng như một bộ quần ảo. Ostra sẽ không nhìn vào mắt người đối diện và thứ duy nhất có thể biết được nàng chính là giọng hát trời phú ấy.
Nàng tiên cá không có quá nhiều bạn, lần đầu tiên nàng bị phát hiện là khi đang ngồi một mình với đàn hạc trong tay và ngân nga một giai điệu không tên. Những bài hát của cũng chưa bao giờ có tên và nó tùy hứng đến mức người ta cũng chẳng biết kể lại như thế nào. Họ thường dùng những từ thần kì và tuyệt mĩ để miêu tả chúng cho những người chưa nghe được và sự không rõ ràng ấy kéo dài từ đời này sang đời khác. Tiên cá không có tuổi, ít nhất thì đó là dưới góc độ của những giống loài khác. Mấy chục năm hay một trăm năm sau, khi người ta gặp Ostra năm lần, mười lần hay hai mươi lần nữa thì nàng vẫn như vậy. Vẻ rụt rè của nàng khiến cho nàng trẻ mãi và cũng chính là lí do khiến người ta không nhìn thấy được sự già nua ở nàng.
Người ta tìm đến Ostra phần nhiều để thỏa mãn sự tò mò bên trong mình, những dòng chữ trong sách cổ chưa bao giờ là thức ăn ngon đối với con quỷ tò mò tồn tại sâu bên trong lòng mỗi người. Con người tìm đến nàng và những con quỷ cũng không buông tha nàng. Ostra từng trên hai lần được diện kiến các thiên thần, khi tiếng hát của nàng cất lên thì nhạc cụ trở thành những món đồ vô tri vô giác. Và Ostra cũng chẳng lấy điều đó làm tự hào, với nàng thì mỗi thứ đều có những công dụng cho riêng mình, chẳng qua người ta mải mê chú ý đến những điều nổi bật nhất và chán chê những thứ bên cạnh. Họ vô tình bỏ xó nó, xem nó là điều không cần thiết. Những nếu Ostra thiếu cây đàn trong tay, nàng nghĩ giọng hát của nàng không thể hay đến thế.
Thật ra Ostra không tài giỏi đến thế, nhiều lần nàng hét lên với những kẻ tìm đến mình trước khi quay lưng và biến mất trong làn nước trong vắt. Nước có trong như ngọc cũng trở thành lớp màn che chắn của nàng, để những kẻ ở lại vẫn chưa hoàn hồn khỏi tiếng hát và giọng nói ngọt ngào của nàng. Nhưng lần nào cũng như lần ấy, loài vật thường quay quanh mỗi khi Ostra ngoi lên bờ và lân cận chỗ nàng thường đến trở thành chỗ tụ tập mới của tất cả giống loài. Những mối thù tạm thời được gác lại chỉ để không đả động đến sự yên bình của nàng tiên cá nhưng đồng thời lại có những mối thù mới được nảy sinh. Người ta không ngừng thù hằn nhau miễn là họ còn sống, chẳng ai biết giới hạn chịu đựng của mình ngắn đến đâu cho đến khi họ gặp những kẻ mà chính họ cũng chẳng hiểu vì sao mình lại ghét chúng đến vậy.
Như đã nói ở trên, tiếng ca của nàng tiếng cá có thể trị được bách bệnh và người ta còn biết được rằng nàng có thể gọi những loài vật đi lạc trở về với chủ cũ. Câu chuyện rõ ràng nhất về một vị pháp sư già vô tình làm lạc mất quyển sách cổ trong thư viện ngàn năm của ông ta. Thứ nào càng tồn tại lâu với thời gian thì càng có linh tính, vậy nên nhân lúc ông già có phần lẩm cẩm vẫn còn mải mê trong ma thuật của chính mình thì quyển sách ấy đã lẻn đi. Loài vật ham thích tự do và đâu đó sâu thẳm bên trong những thứ vô tri cũng khao khát tự do. Chẳng biết được tự do là gì, chẳng ai định nghĩa được điều ấy, bởi chắc vì từ khi sinh ra thì muôn loài đã phải tự quấn quanh mình những sợi xích được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Vậy nên khi nghe chính quyển sách giải thích, ông già cũng bật cười ha hả rồi chê nó ngu ngốc. Quay lại với lí do tại sao ông ta tìm lại được quyển sách cổ ấy, cũng bởi sau khi truyền tin đi khắp nơi và những tờ giấy vụn rải rác như những tờ truy nã, người ta đã mách ông tìm đến Ostra để xem liệu nàng có thể giúp đỡ phần nào được hay không.
Ban đầu Ostra không đồng ý, hiển nhiên rồi, dù thế giới này có kì diệu cách mấy thì làm gì có chuyện một quyển sách đã rời bỏ chủ cũ lại có thể quay về chỉ vì giọng hát của một giống loài xa lạ được. Mặc dù nàng có thể biến từ bệnh thành lành, giọng hát nàng có thể khiến một loài dã thú hung ác thường lấy việc săn bắt người làm thú vui giảm bớt đi vẻ hung tợn nhưng mỗi vật đều có một sứ mệnh của nó. Như nàng, như tiếng hát của nàng. Và như quyển sách, hay như ông pháp sư già.
Ông pháp sư cũng không hy vọng gì nhiều. Sống đến từng tuổi ấy không phải ông chưa từng nghe những trò bịp bợm của bọn tiên cá và không phải lần đầu tiên ông gặp một tinh đồn không có thật. Thời trẻ ông đã từng dành mấy tháng trời để chinh phục đỉnh núi, nơi mà người ta thủ thỉ vào tai nhau rằng có một loại nấm linh mà chỉ cần chút bột của nó cũng có thể điều chế ra thứ thuốc hóa giải mọi lời nguyền dành cho người vô tội và giúp gia tăng năng lực đối với những người dùng ma thuật như ông. Nhưng cuối cùng thì chẳng đâu vào đâu, cây nấm ấy cũng chỉ là một thứ nấm bình thường và bào tử của nó được gió đưa đến nơi cao ngất ấy.
Việc mất quyển sách quý khiến ông pháp sư già trở nên cáu kỉnh hơn mọi ngày, lúc đang muốn chửi rủa, ông lại nhìn thấy biết bao thế lực xung quanh đang nhìn chằm chằm về phía mình. Những con rắn độc khoác lên mình bộ áo sặc sỡ, đầu nó to như một cái lá nhìn ông đăm đăm như thể chỉ cần ông quay lưng lại thôi là nó sẽ nhào tới và cắn. Ma quỷ và thần tiên lúc này lại hòa hợp đến lạ, ai mà ngờ được sẽ có ngày họ cùng nhau uống một ấm trà. Hiệp sĩ và anh hùng, cả những tên cướp biển. Giống loài nhỏ bé như kiến hay một loài vốn chậm chạp như sên cũng tụ hợp ở đây. Chúng không dị nghị nhau, ngược lại ngồi ngay ngắn như những người chiêm ngưỡng nghệ thuật thực thụ.
Ông già pháp sư nhận ra một vài gương mặt trong số họ. Chàng hiệp sĩ tóc vàng điển trai xứ sangue với thanh đao lớn phía sau từng chém chết con hổ bốn nanh chỉ trong nửa giờ, hay là một chàng hiệp sĩ khác với thân hình vạm vỡ từng tay không vật ngửa một con voi. Có một số người khác nữa tuy chưa vang danh nhưng vẫn có chỗ đứng nhất định trong những quán rượu trao đổi thông tin. Tất cả họ đều đang ở đây, tất cả họ đều đang chờ đợi.
Ông già không còn cách nào ngoài việc ngồi xuống cùng với họ.
Ostra bắt đầu cất tiếng hát dưới sự mong đợi của mọi người. Nàng đã quen với cảnh có biết bao người vây quanh và nàng cũng đã quen khi người ta đến và yêu cầu nàng làm một chuyện không tưởng với giọng hát của mình. Ostra thích hát, nhưng nàng không tin vào phép màu đến tự giọng hát của mình. Có lẽ nàng không thần kì đến thế, hoặc có lẽ người ta thấy lạ lẫm với giọng hát của nàng rồi một thời gian sau đó họ sẽ bỏ đi vì nó chán ngắt. Nàng tiên cá ngân nga những âm đầu tiên, âm thanh phát ra từ cổ họng nàng giống như một nguồn suối mát lành chảy vào trong tim, phổi những người nghe qua thính giác. Thời gian như dừng lại khi nàng tiên cá bắt đầu cất giọng, gió ngừng thổi, chim ngừng bay và những cành cây thôi xào xạc. Vòng vây sự sống quanh nàng ngày một rộng lớn, những thính giả đến muộn cũng biết điều mà bước đi thật khẽ để không đánh động đến nàng tiên cá.
Những ngón tay trắng muốt bắt đầu lướt trên dây đàn, tạo thành tiếng đệm êm tai nang giọng hát của Ostra lên một tầm cao mới. Đôi mắt nàng tiên cá nhắm lại, thật kì lạ là chúng thường mở to để nhìn vào ai đó đối diện nàng dù phần lớn cuộc đời Ostra cũng không cần đến chúng là bao. Nàng đã quen với một lớp màn đục che chắn đi phần nào tầm mắt của mình, và nàng đã thôi không chối bỏ thứ khuyết điểm có thể khiến nàng trở thành con mồi của bất kì một kẻ vô lại nào có mặt trên đời. Ostra từng ước rằng giá như nàng có thể là một người bình thường, không cần hát hay và có một tầm mắt rõ thì tốt biết bao. Việc trở nên khác biệt trở thành một lời nguyện và thứ người ta ca tụng là châu báu đối với nàng lại chẳng khác nào sự trừng phạt kéo dài cả một đời.
Nhưng khóc lóc cũng chẳng giải quyết được gì mà chỉ khiến tầm mắt ngày càng mờ đi. Ostra cũng không thể ủ rũ cả đời được, nàng không thể làm như vậy, hoặc nỗi buồn bên trong nàng đã đạt đến giới hạn và nàng chẳng thể nào ủ dột thêm được. Những tinh chất ngọc trai được xoa trên mi mắt vào sáng và tối, nước bọt của loài rồng biển, vảy của con cá gai, rong rêu tạo thành thứ thuốc vừa đắng vừa tanh cũng chẳng khiến tình thế khả khẩm hơn. Ostra từ chối những cách điều trị, nàng chấp nhận những phần khuyết thiếu ấy là một phần của bản thân nàng. Và nó cũng giúp nàng tạo thành một lớp lá chắn tách nàng khỏi những kẻ thiếu đứng đắn thích ve vãn.
Tiếng đàn khi trầm khi bổng thổi thêm hồn vào giọng hát. Những ngón tay chậm rãi lướt trên bề mặt dây đàn như người mẹ dịu dàng vỗ về đứa con. Nàng tiếng ca dịu dàng ngân nga những ca từ tưởng chừng như vô nghĩa, nàng hát bằng sự thiện lương đã được nuôi dưỡng bao năm qua trong lòng mình. Những ca từ của Ostra không thuộc về bất cứ sinh vật nào, nàng tiên cá chìm đắm vào thế giới của mình mối khi nàng hát. Nắng len qua những cụm mây phủ lên vai trần nàng như một lớp màn lụa mỏng nhẹ, càng khiến khung cảnh xung quanh trở thành một chốn thần tiên ảo diệu mà chính những vị thần cũng chưa từng chứng kiến qua.
Không gian chỉ còn tiếng hát của nàng Ostra. Tiếng đàn lúc này đã dừng lại để những ca từ tự do bay đi. Có lẽ chính sự tự do ấy là thứ cảm hóa những thù hằn cá nhân, có lẽ chính sự dịu dàng ấy đã xoa dịu những đớn đau bệnh tật. Ông già pháp sư cũng đã quên khuấy đi nỗi hằn học trong lòng, lúc bấy giờ đang chăm chú nghe hát như những vị thính giả khác. Chính vì những lời hát của Ostra là vô nghĩa đối với những kẻ luôn đi tìm ý nghĩa trong cuộc đời, nên chính nó đã dần đường lối cho biết bao nhiêu tầm hồn đang lỡ bước quay lại vào trong thế giới của chính chúng.
Một tiếng sột soạt vang lên đánh thức ông già khỏi những mơ mộng thời niên thiếu. Đôi mắt được tô vẽ bởi những đường chân chim sâu hoắm chớp vài ba cái rồi sáng lên vẻ ngỡ ngàng. Chẳng biết từ lúc nào mà quyển sách quý được cho là đã mất lại nằm trong tay ông. Pháp sư già muốn hoan hô, nhưng chợt nhớ ra mình vẫn còn đang ở giữa buổi hòa nhạc tự phát nên đành đè nén niềm vui sướng vào sâu trong lòng. Tiếng hát vẫn tiếp tục dẫn những linh hồn lạc lối trở về nơi mà chúng thuộc về. Giọng hát của nàng Ostra mở ra những con đường trong tiềm thức, khiến người ta quên đi thực tại và khi đã đi đến cuối con đường, người ta chợt nhận ra cả cuộc hành trình dài ấy thật ra là họ đang đi sâu vào bên trong chính mình.
Thế là những tài liệu ghi chép về giọng hát kì diệu của nàng Ostra lại dài thêm một trang.
Thật ra mà nói, ban đầu Ostra không phải là người nhút nhát như bây giờ. Nàng từng thích hát và không ngại kết bạn. Tiếng cười của nàng ríu rít và dù không sở hữu nhan sắc quá đỗi mĩ miều như những tiên cá khác cùng giống loài thì người ta vẫn yêu mến vẻ ngoài đáng yêu và dịu dàng của nàng. Ostra không rực rỡ như ánh mặt trời nhưng nầng vẫn có thể là một làn gió xuân hay một khe suối róc rách khiến người ta cảm thấy bình yên. Sự tồn tại của nàng chính là ranh giới ngăn cách giữa thế giới phực tạp người ta phải đối mặt và thế giới nội tâm bên trong.
Người ta quý Ostra và nàng cũng quý họ. Những người bạn của nàng ban đầu chỉ xoay quanh cá, cua, tôm tép và những nàng tiên cá đồng trang lứa khác. Thế giới dưới biển rộng lớn vì người ta chưa khai phá được nó và không đủ khả năng để biết được rốt cuộc nó còn chứa đựng những gì. Làn nước che giấu mọi thứ quá kĩ càng và những người trên bờ bỗng trở nên ngây thơ và trần trụi biết bao nhiêu. Nhưng biển cả không rộng lớn như thế, người ta phần lớn đều quen biết nhau và nàng Ostra mong muốn có thêm những người bạn mới trên bờ.
Ostra đã làm quen được với những người mà nàng cho là bạn nhưng mối quan hệ của họ cũng chẳng đi được đến đâu. Làm sao một mối quan hệ có thể lâu dài khi từ đầu mục đích của hai bên đã không đồng nhất? Ostra không biết được điều ấy, cha mẹ nàng cũng không dạy nàng điều ấy, những người bạn dưới nước của nàng cũng không nói với nàng điều ấy. Nhưng người ta cũng không thể lường trước được việc một người cần chuẩn bị những gì trong hành trình tìm kiếm những người khác và để họ trở thành bạn. Có lẽ đó là bài học mà một số người phải dành cả đời để hiểu được. Ostra, may mắn hơn hoặc xui xẻo hơn, đã hiểu được sớm hơn nàng nghĩ; và chính sự may mắn hơn hoặc xui xẻo hơn đó lại lại thứ khiến nàng trở nên khép mình và không còn cởi mở như trước nữa.
Người bạn trên bờ đầu tiên của Ostra là một cậu bé không lớn lắm, Kandra. Ostra không biết gì nhiều về cậu, và ngược lại, Kandra cũng không biết quá nhiều về nàng. Hai người gặp nhau khi Kandra lần theo tiếng hát đến một vách đá tưởng là đường cùng nơi bờ suối và gặp được Ostra đang ngồi quay lưng lại với mình. Ánh nắng chiếu xuống đuôi cá khiến những cái vảy dọc theo thân đuôi bừng sáng theo, những vỏ óc nhỏ trên mái tóc khiến cậu bé vốn không có cơ hội được tiếp xúc với quá nhiều bạn gái chỉ biết đứng yên bất động tại chỗ.
"Cậu vừa mới tới sao, mình chưa từng thấy cậu trước đây."
Kandra rụt rè lên tiếng hỏi dò. Sự đường đột ấy khiến Ostra đang quay lưng giật thót. Nàng quay ngoắt lại, nhìn vị khách không mời mà đến. Trước mắt nàng là một cậu bé đen nhẻm, nhỏ người nếu không muốn nói là hốc hác. Da thịt cậu bám sát và xương, đôi mắt cậu sáng, cả một vườn cỏ cây đầy nhựa sống đang chờ ngày nở rộ bên trong đôi mắt ấy. Ostra hơi dè chừng, có thể thấy bằng mắt thường rằng nàng đã nhích ra sau dù ánh mắt nàng vẫn quấn chặt lấy cậu không buông.
"Trước đây có nhiều tiên cá tới đây lắm sao, mình nghĩ đây là chỗ bí mật của mình rồi chứ."
Ostra hỏi ngược lại cậu, nàng không trả lời rằng mình mới đến hay đã ở đây từ đâu. Nhưng bằng câu trả lời ấy, Kandra cũng lờ mờ đoán được phần nào. Gương mặt cậu bé hơi ửng đỏ, ánh mắt cậu nhìn Ostra rồi lại nhanh chóng chuyển sang nơi khác. Mặc dù những thứ cậu mặc trên người không đắt tiền và những người xung quanh cậu cũng chẳng phải tầng lớp cao sang gì nhưng cậu không muốn mình trở thành một người thô lộ trước một bạn gái mới gặp.
"Mình không biết nữa, mình nghĩ tiên cá phải ở nơi đâu xa xôi lắm và có lẽ đến già mình cũng sẽ không cơ cơ hội gặp họ lần nào. Nhưng cậu hát hay lắm."
Ostra gật đầu, nàng không bình luận gì vì đã quá quen với việc có ai đó khen ngợi gióng hát của nàng. Nụ cười mỉm chi của nàng tiên cá khiến Kandra thêm bẽn lẽn ngại ngùng. Cậu bé gầy gò đứng im tại chỗ, hai tay buông thõng xuống nhưng những ngón tay ngọ nguậy không biết nên để ở đâu cho phải. Hai người nhìn nhau trong im lặng, Kandra không dám tiến tới vì cậu sợ nàng không hài lòng, hoặc biết đâu một giây phút nào đó chính cậu đang mạo phạm sự riêng tư của nàng.
Việc Kandra đứng chôn chân một chỗ cũng khiến Ostra ngập ngừng không kém. Nàng không biết liệu những người trên bờ có khác gì so với những người bạn dưới nước của nàng hay không. Nàng muốn kết bạn với họ nhưng nàng cũng không biết quá nhiều về họ. Sự lạ lẫm khiến cho nỗi e dè bên trong nàng tiên cá dâng lên cao. Nàng không biết nên mở lời thế nào, nàng không hoạt ngôn đến thế.
"Mình có thể ngồi gần cậu không?"
Kandra lên tiếng, mắt cậu nhìn Ostra rồi vẫn quyết định nhìn sang chỗ khác. Mặt cậu không đỏ, nhưng tai cậu thì đỏ bừng. Kandra không nhận thức được điều đó và Ostra đối diện cậu cũng không. Nhưng giọng điệu của cậu bé thể hiện rõ như ngượng ngùng của cậu. Cả hai tâm hồn thơ ngây tò mò bởi sự xa lạ của đối phương, nhưng chính sự khác nhau ấy lại khiến họ muốn biết thêm nhiều về nhau hơn.
Ostra lẩm bẩm "Được" Và Kandra nghe thấy điều đó. Cậu bé bước từng bước thật chậm về phía nàng và Ostra cũng đã hơi nhích người về một phía để nhường chỗ cho cậu.
Sự gượng gạo dần bị lu mờ rồi biến mất khi Kandra ngồi xuống bên cạnh nàng. Tâm hồn của hai đứa trẻ mở ra để đón chào chúng vào thế giới của nhau. Kandra hỏi nàng tất cả những gì cậu tò mò về người cá và những lời đồn bí ẩn dưới biển sâu và Ostra đã hai ba lần bật cười trước một vài câu chuyện quá đỗi ngớ ngẩn ấy. Nàng không nghĩ người ta lại hình tượng hóa biển vĩ đại như thế, thậm chí còn hơn cả những câu chuyện về cuộc sống trên bờ mà nàng đã từng nghe khi còn là một đứa trẻ cần có mẹ kể chuyện mỗi đêm mới ngủ được.
Ostra từng nhìn thấy những người trên bờ, một số người trong tộc người cá giữ mối quan hệ trao đổi giao thương với họ và đạt được một số lợi ích nhất định. Ostra cũng đã từng nhìn thấy những gã đàn ông bặm trợn mà cha nàng gọi là cướp biển, nàng từng hoảng sợ bỏ chạy khi có một thời gian người ta bắt đầu truy lùng người cá vì sự khác lạ về mặt ngoại hình và họ nghĩ rằng người cá có thể chỉ điểm cho họ kho báu ở đâu ngoài biển xa.
Ostra đã trải qua rất nhiều chuyện, nàng sống qua giai đoạn căng thẳng nhất và cũng đang sống trong giai đoạn mọi thứ đã ổn định. Không hẳn là hòa bình, nhưng thái độ đối mặt từ cưỡng ép chuyển sang thương lượng để hai bên cùng có lời. Sau tất cả, Ostra không có bất kì định kiến nào nhưng để tung hô, thần tượng, ngưỡng mộ hay yêu thích thì nàng không cảm thấy quá rõ điều đó.
Nàng tiên cá cũng được Kandra kể về đời cậu và cuộc sống thường ngày của những người trên cạn. Đôi mắt to tròn nhìn chằm chằm vào cậu bé trước mặt dù nàng không thấy cậu rõ ràng lắm. Kandra đã buông bỏ sự rụt rè lúc ban đầu, càng nói, cậu bé càng trở nên dạn dĩ hơn. Kandra thuộc tộc người kiến, vốn dĩ gọi như vậy vì những người như cậu có dáng người nhỏ thó, sống theo tập thể và có một thứ sức mạnh phi thường giúp họ nâng được những vật nặng gấp nhiều lần cơ thể của mình. Dẫu nhỏ bé, nhưng họ thiện chiến, sống có kỉ luật và cũng không phải là một giống loài quá báu bở cho những kẻ thích đi chiếm đất.
Kandra kể cho nàng nghe về những thứ cậu từng gặp, về những cây nấm trong rừng đổi màu như một con tắc kè, về những bông hoa sặc sỡ nhưng đầy gai, về loài ếch có thể nhảy cao như chim hay về những loài chim lai với máu rồng nên có thể phun ra được lửa. Hai mắt Ostra nhìn cậu bé bên cạnh ngày càng sáng, những câu chuyện ấy khiến nàng càng cảm thấy thế giới này lạ lẫm biết bao. Sự lạ lẫm khơi gợi hứng thú bên trong nàng và nàng cứ kêu Kandra kể cho mình mãi.
Đó là lần đầu tiên hai người gặp gỡ và trò chuyện. Kandra cũng không có quá nhiều bạn, cậu rụt rè và thường sợ mình sẽ làm mích lòng người khác. Cậu bé thích làm theo mệnh lệnh và không thật sự quá giỏi trong việc khơi gợi hứng thú của ai đó để họ dành thời gian cho cậu. Ostra là người bạn đầu tiên của cậu, sau khi hai người đã hứa sẽ trở thành bạn bè của nhau. Ngày hôm đó Ostra hát một bài hát cho cậu nghe, nàng nói đó là bài hát mà mẹ thường hát cho nàng nghe để đưa nàng vào giấc ngủ. Hôm đó vừa hay lúc họ tạm biệt thì trời đã chạng vạng tối, Ostra phải trở về nhà và Kandra cũng không thể biến mất cả ngày mà không thấy tâm hơi đâu được.
Mối quan hệ của hai người càng gắn bó khi tần suất gặp nhau ngày một nhiều. Kandra mang cho Ostra những món bánh nóng hổi thơm ngào ngạt mùi bột mì và bơ do chính tay mẹ cậu làm, thi thoảng là những loài nấm rừng mà cậu hái được, và những có cả những món Ostra chưa từng thấy như răng nanh của một con cọp và cái áo được làm từ da thú nhằm chuẩn bị cho mùa đông giá buốt. Thậm chí Kandra từng tự tay làm một cái dây chuyền được bện từ những sợi dây cho Ostra và cậu đã trang trí bằng những viên đá, những nhánh hoa và một vài chiếc lá.
Ostra luôn trân quý những món quà mà cậu tặng cho nàng. Sợi dây chuyền ấy đã trở thành vật bất li thân để chứng minh rằng Ostra có một người bạn trên bờ của riêng mình. Nàng tiên cá mang đến cho Kandra những vỏ ốc với hoa văn kì lạ, nàng tặng cho bạn mình những món ngon dưới biển và một vài loại thảo dược rong rêu tới mùa trong nhà mình. Cũng như cậu bạn mới, Ostra tặng Kandra một chiếc nhẫn trong số những kho báu của mình. Nàng tiên cá khéo léo dùng đá khắc tên cậu bên trong và luôn qua một sợi dây trong trường hợp cậu không muốn đeo nó lên ngón tay.
Những ngày ấy là những ngày hạnh phúc và bình yên đến kì lạ. Cứ mỗi khi hoàng hôn buông xuống, họ lại gặp nhau ở nơi mà lần đầu họ gặp. Họ kể cho nhau những câu chuyện vụn vặt và cùng cười ồ lên trước một tình tiết ngớ ngẩn nào đó. Ostra hát cho Kandra nghe những bài mà mình và Kandra đã tập chơi một loại kèn truyền thống trong tộc cậu chỉ có thể hòa nhịp cùng với nàng.
Người đàn ông đầu tiên mà Ostra chạm vào là Kandra, người đầu tiên nàng nắm tay là cậu và mối quan hệ của hai người từ bạn bè đã có một sự thay đổi sâu sắc hơn. Ostra không biết đó có phải là tình yêu không vì Kandra vẫn chưa tỏ tình với nàng dù những hành động của cậu cho nàng thấy nàng là một điều gì đó rất quan trọng đối với cậu. So với lần đầu gặp nhau, Kandra lúc này đã lớn hơn, giọng cậu trầm đi, nghiêm túc và hơi vang. Cơ thể gầy gò lúc này cũng đã săn chắc, làn da đen nhẻm đã chuyển sang màu bánh mât và gió sương hơn trước. Đôi mắt cậu không còn vẻ ngây thơ nữa mà có gì đó kiên định hơn, đôi mắt từng không dám nhìn thẳng vào Ostra bây giờ lúc nào cũng quấn chặt lấy nàng mỗi khi hai người trò chuyện.
Kandra đã trưởng thành hơn, chàng trở thành một trụ cột, một điểm tựa với những người thân yêu và chàng cũng trở thành tình yêu của nàng tiên cá. Kandra cao lớn hơn một cách mà chẳng hai ngờ tới, bắp tay chàng săn chắc, vai rộng, lưng hơi bành ra và những ngón tay lúc này đã xuất hiện vết chai. Kandra kể với chàng đã có một vị trí quan trọng đối với bộ tộc của chàng, và quá trình từ một cậu bé nhút nhát đến khi thành một người đàn ông thì Ostra đã ở bên chàng và chứng kiến hết thảy.
Dẫu bận rộn hơn với những công việc không tên, nhưng Kandra chưa bao giờ tiếc thời gian ở bên nàng. Hai người vẫn gặp nhau đều đặn như vậy và không ít lần Kandra đã ngỏ ý muốn mời nàng lên bờ chơi. Chàng muốn giới thiệu nàng cho mẹ mình, cho những thân tín bên cạnh và cho tất cả những ai mà chàng có thể nhưng Ostra đã từ chối.
Và Kandra cũng chọn cách tôn trọng nàng.
Mặc dù khi ấy Kandra đã được trao cho quyền chỉ huy một nhóm người nhưng Ostra biết chàng vẫn là cậu bé nhút nhát hôm nào. Gương mặt chàng lấm lem bùn đất, đầu óc rối bù, áo quần chàng thoang thoảng mùi mồ hôi và máu. Kandra mệt đến mức chẳng thể nói được một câu toàn vẹn, chàng lẩm bẩm gì đó cho qua chuyện rồi dành phần lớn thời gian tựa đầu lên vai nàng Ostra trong khi mười ngón tay của họ đan chặt lấy nhau.
Ostra yên lặng nghe tiếng thở của Kandra vang lên bên tai mình, chàng chạy vội đến đây vì không muốn nàng phải đợi chờ quá lâu. Hôm ấy là một ngày dài đối với chàng và có lẽ là nhiều người nữa. Với cương vị là người dẫn đầu, Kandra có nhiều thứ phải lo hơn là những người khác. Chàng không giải thích quá cặn kẽ, chàng không biết mọi chuyện sẽ đi đến đâu và chân màu chàng nhíu chặt lại khi chàng nghĩ về một điều tồi tệ nào đó. Sau cùng, chàng Kandra dụi mặt vào bụng nàng, ngay khi Ostra gợi ý chàng nên nằm xuống nếu chàng quá mệt.
Kandra gối đầu trên đuôi cá màu xanh thẫm của nàng, cảm giác man mát xoa dịu những sợi dây thần kinh vẫn luôn căng chặt. Hai cánh tay của nàng quấn quanh eo nàng như thể bây giờ Ostra là điểm tựa cuối cùng của chàng trên cõi đời này và Ostra cũng không từ chối chức vị quá đỗi cao cả ấy. Những bàn tay của nàng tiên cá lướt theo sườn mặt của chàng thủ lĩnh và nhận ra chàng đã rên hừ hừ vì thoải mái như một con mèo. Ostra mỉm cười, nàng tiên cá hát một bài hát chợt vụt qua trong đầu mình. Những âm ban đầu còn ngắt ngứ vì vùng kí ức ấy đã mờ, nhưng về sau ca từ lại nắm tay tạo thành một câu chuyển cổ tích xưa cũ mà nàng đã từng nghe về một chiến binh quay trở về nhà sau những năm tháng chiến đấu khốc liệt. Chàng Kandra nhắm mắt, lông mày chàng dẫn giãn ra khi những ngón tay của Ostra chạm vào chúng. Và chàng chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay.
Đó là khoảnh khắc bình yên cuối cùng trước khi cơn bão ập đến và Kandra cũng chưa từng nghĩ mình và Ostra sẽ phải chia xa lâu đến vậy. Đêm trước bão, chàng kể hết mọi chuyện cho Ostra nghe. Thà rằng để nàng biết hết mọi chuyện còn hơn để Ostra phải phí hoài thời gian mà không biết được gì. Kandra nói về mối đe dọa đang dòm ngó tộc của chàng, Kandra kể rằng mình phải đi xa, Kandra nói về việc chàng không biết khi nào mình sẽ trở lại và gần như là thú tội, Kandra đã chờ mong một câu hờn trách hoặc điều gì đó đại loại như vậy từ phía nàng tiên cá.
Nhưng sau cùng thì chẳng có gì cả.
Ostra dịu dàng áp tay lên mặt người mình yêu, cảm nhận từng giọt nước mắt nóng hổi rơi trên mu bàn tay mình. Chàng khóc và nàng cũng vậy. Cả hai im lặng khóc, cảm xúc của họ như vỡ òa và cả tuyệt vọng khi không biết ngày gặp lại nhau là khi nào. Giữa họ vẫn còn quá nhiều điều để nói, những câu chuyện họ kể nhau nghe cũng không thể kết thúc ở đây được. Nhưng chẳng có gì khắc nghiệt hơn thực tế, Kandra không mong nàng sẽ chờ đợi mình vì chàng cũng không biết liệu mình có về được hay không. Việc lãnh thổ đang bị đe dọa và tính mạng của mọi người đang bị uy hiếp là một sự thật không thể làm ngơ. Tuy rằng những người trong tộc của chàng vẫn không ngại đấu tranh nhưng sự khác nhau về lực lượng và khả năng vẫn là thứ gì đó phũ phàng hơn như vậy. Họ cần thời gian để chuẩn bị, họ cần thời gian để viện trợ, họ cần thứ gì đó chắc chắn hơn là những sự hy sinh vô nghĩa chỉ để bảo vệ một thứ sớm muộn gì cũng mất.
Ostra không nói gì về việc mình sẽ chờ đợi, nhưng nàng vẫn luôn chờ Kandra trở về. Kandra là người bạn đầu tiên, và chàng không biết rằng chàng chính là người bạn duy nhất của nàng.
Ostra đã từng có thêm những người bạn mới dù nàng không gọi họ là bạn, nhưng sau cũng không có ai mang đến cho nàng cảm giác giống như Kandra cả. Nàng tiên cá biết mình không đúng khi trông mong hình bóng của Kandra trong hình hài một kẻ khác, nhưng sự tôn trọng, ánh mắt và cách nói chuyện của những người sau này khiến nàng cảm thấy may mắn vì người đầu tiên nàng gặp chính là Kandra.
Những người bạn mới của Ostra luôn tìm nàng với mục đích riêng, họ đến vì giọng hát của nàng, vì sự lạ lẫm ở vẻ ngoài, vì họ coi nàng là tấm huân chương treo trước ngực. Họ không đến tìm nàng vì nàng là nàng mà họ đến tìm nàng về những thứ chỉ có họ mới hiểu được. Ostra không thể ngăn cấm ai, nàng chẳng là gì để ra lệnh cho người khác trong khi cái đó là vấn đề cơ bản đã tồn tài trong đầu họ từ những ngày đầu tiên. Nàng không có quyền gì để dạy dỗ ai hay bắt ai phải làm gì, thứ duy nhất nàng có thể làm là ôm những buồn đau rồi tránh xa chỗ khác.
Nàng Ostra ngày một ít bạn đi dù tin đồn về tiếng hát của nàng được lan xa, nàng không muốn bản thân trở thành tâm điểm của những lời bàn tán và chỉ trỏ. Chúng khiến nàng hoài nghi, và chúng khiến nàng không thích nàng nữa. Dẫu vậy nàng tiên cá vẫn hát, nàng hát vì có một điều gì đó thôi thúc nàng phải như vậy, nàng hát vì nàng hy vọng tiếng hát của mình có thể đến bên người kia tại nơi nào đó mà nàng không biết.
Nàng hát vì nàng không biết hiện tại chàng đang ở đâu. Ostra gửi gắm hy vọng của mình vào đó, vì đã bao năm rồi nàng không còn nhận được bất cứ tin tức gì về Kandra nữa.
Cuộc sống của chàng Kandra không bình yên đến vậy, thực tại khắc nghiệt đã bào mòn hy vọng về tương lai hạnh phúc của chàng và những người xung quanh chàng. Những ngày đầu, Kandra vẫn còn gửi thư cho Ostra, chàng gửi nàng một nhành hoa ven đường và kể chuyện về những thứ xảy ra trong ngày. Chàng kể về những nơi chàng đã đi qua, về những tháng ngày trú trong hang và những lúc săn bắt. Kiếm của chàng nhuốm màu nhiều đến nỗi nó không kịp khô và cả người chàng tàn tạ hơn bất cứ lúc nào hai người đã gặp trước đây.
Nhưng Kandra không muốn nàng lo lắng, sau thư chàng lúc nào nói mình cũng vẫn ổn. Mỗi người đều phải vượt qua khó khăn của riêng họ và chàng nghĩ đây là lúc để chàng trưởng thành. Đó cũng là lúc để chứng minh rằng những người trong tộc chàng đã đặt niềm tin vào đúng người.
Những bức thư ít dần khi có người đầu tiên ngã xuống và dừng lại hẳn khi người ngã xuống ngày một nhiều. Ostra biết chuyện đó qua những dòng vội vã cuối cùng của Kandra và bây giờ ngoài việc đọc lại những bức thư chàng gửi thì không còn cách nào để khiến nàng nhớ về chàng nữa. Nàng tiên cá biết chàng vẫn còn nhiều thứ phải lo, trên vai chàng lúc này là bao nhiêu tánh mạng và bao nhiêu gia đình. Có lẽ khi thấy những người thân lần lượt ngã xuống, chàng đã cắn rứt và tự trách dữ lắm. Nhưng Kandra vẫn phải mạnh mẽ, vì nếu chàng sụp đổ thì mọi thứ sẽ trở thành một đống hoang tàn ngay.
Cơn bão kéo đến ngày càng dữ dội, số lượng người lúc bấy giờ đã mất đi hơn phân nửa. Hằng ngày những người còn sống lấy nỗi buồn làm thức ăn, họ không biết liệu lựa chọn của mình có phải là đúng hay không. Kandra không còn cười nhiều như trước nữa, ánh mắt chàng đục ngầu vô cảm và cánh tay mỏi như vì phải cầm kiếm quá lâu. Dây thần kinh của chàng căng như dây đàn, vừa nghĩ cách làm sao để mọi người không đói, không khát và vừa phải luôn cảnh giác vì có thể bị đánh lén bất cứ lúc nào.
Còn mục tiêu nào tuyệt vời hơn một bộ tộc lang thang không có nơi trở về và đang chìm trong cảnh đường cùng tuyệt vọng?
Kandra không biết làm gì ngoài việc gắng gượng từng ngày. Mỗi ngày trôi qua, sợi dây thòng lọng siết quanh cổ chàng và những người khác cũng ngày một chặt hơn. Họ biến việc chém giết trở thành một thứ bản năng, không tha thứ cho bất kì sinh vật nào mà họ cho rằng mối đe dọa. Những tiếng cười nói cũng đã tắt, và những đứa trẻ cũng bắt đầu phải tập cầm vũ khí.
Đôi chân của họ đã mỏi nhừ, một vài thân tín đã từng gợi ý với Kandra về việc suy nghĩ lại nhưng con đường mà họ đang đi là con đường duy nhất ở hiện tại. Họ đã đi quá xa để có thể quay lại, và nếu quay lại thì họ phải đối mắt với những người nằm xuống như thế nào đây? Lựa chọn duy nhất là phải đi tiếp, họ phải đi cho đến cuối cùng của cuộc hành trình.
Những lời Kandra kể cho Ostra vào ngày cuối cùng họ gặp nhau chỉ là bề nổi của tảng băng chìm. Thứ mà chàng và cả bộ tộc phải đối diện là sự truy cùng diệt tận đã kéo dài từ bao đời. Vốn dĩ họ đã quen với mối thù hằn ấy, và bao năm qua họ cũng chẳng sợ bất cứ kẻ nào tìm đến gây sự. Nhưng lần này thì khác, kẻ thù có đông quân hơn, hắn có nhiều người trựo giúp hơn và một thứ ma thuật kì lạ khiến hắn có thể triệu hồi ra những con thú cưỡi tưởng chừng chỉ có trong sách cổ.
Mối thù của hai bộ tộc truyền từ ông sang cha rồi từ cha sang con. Kandra biết kẻ ấy, chàng đã bao lần nhìn thấy hắn từ khi chỉ là một cậu bé chăm lo việc hậu cần và cả hai đã từng chạm trán nhau. Những người dẫn đầu trong tộc chàng đã đổ máu, sự hy sinh ấy như một vết thương lở loét lan rộng ra cả một vùng da và khiến cho một thể cân bằng bắt đầu nghiêng ngả. Mọi thứ dần đè nặng lên hai vai của Kandra, người có hy vọng nhất lúc này. Và kế hoạch mà chàng thủ lĩnh vừa được đề bạt là tất cả họ phải đi về phương nam, nơi vốn nổi tiếng bởi những tay lính đánh thuê và những thứ vũ khí cấm. Kandra cần một bộ áo giáp chắc hơn và những hòn đá ma thuật khiến thanh kiếm trong tay chàng có thể chém bất cứ thứ gì.
Đường đi càng dài, kẻ thù càng nhiều. Họ không biết số sinh vật chết dưới tay họ bây giờ đã lên đến con số bao nhiêu. Những bữa ăn chỉ được lo lót qua loa tạm bợ rồi họ lại phải đi tiếp. Cả bộ tộc chìm trong im lặng suốt mấy hôm liền và khi họ đặt chân đến được thành phố phía nam thì đã là một năm sau đó.
Kandra không có quá nhiều thời gian để chuẩn bị, kẻ thù của chàng cũng không còn kiên nhẫn để kéo dài chuyện này thêm giây nào nữa. Đoạn kết của một mối thù là một trong hai phải biến mất và chàng biết dù sớm hay muộn thì mình cũng phải đối mặt với nó.
Kandra không mất quá nhiều thời gian để bổ sung lực lượng, chàng tính kĩ chuyện này từ những ngày đầu tiên. Chàng ám ảnh đến mức trong mơ cũng có thể nhìn thấy cảnh tượng mình bước từng bước vào thành trí lớn ở phía nam, mình đi tìm những món đồ đó như thế nào và mình làm cách nào, dùng bao nhiêu tiền để có thể đạt được những thứ mình muốn. Máu của những người ngã xuống và bao giọt mồ hôi vì gian khổ tạo thành trái ngọt cho ngày hôm nay. Mọi thứ diễn ra suôn sẻ hơn những gì chàng nghĩ, và những tiếng thở phào nhẹ nhõm dần bắt đầu xuất hiện giữa mọi người với nhau.
Năm gã khổng lồ và những thùng vũ khí sắc bén. Những lười dao mòn đều đã được thay mới và Kandra cũng đã để thanh kiếm đi theo mình bao năm tạm nghỉ ngơi. Chàng vô tình gặp được một người đàn bà lạ ở chợ đen ẩm thấp dưới chân cầu và mối duyên ấy đã cho chàng một thanh kiếm mà chẳng nghĩ mình chẳng bao giờ có cơ hội sở hữu.
Lưỡi kiếm sắc, đỏ như máu, cong lại ở phần đầu như một cái móc câu. Dọc hai bên là những dòng văn tự cổ như đang nhảy múa. Kandra vừa rút kiểm ra khỏi vỏ, một luồn sát khí như thủy triều dâng lên rồi đường đột ập xuống, tản ra cả những vùng xung quanh. Kandra thở dốc, một đòn đó đã lấy đi ít nhiều sức lực của chàng. Bà lão bên cạnh không có vẻ gì ngạc nhiên, dường như bà cũng đã dự đoán trước được điều này.
Theo lời bà kể, Kandra giống như người chủ cũ của thanh kiếm này và cũng chính là chồng bà. Thời còn sống, trên vai ông cũng là trách nhiệm và tính mạng của vô số người trên vai. Người đàn ông trong trí nhớ của bà lấy việc giúp đỡ người khác làm lẽ sống. Có những người được sinh ra trên đời này không phải vì bản thân họ, mục đích tồn tại của họ là vì người khác. Nhưng dường như họ không cho đó là điều thiệt thòi, họ tình nguyện làm như vậy; và chỉ có làm vậy mới có thể giúp họ ngủ ngon.
Cho đến những giây phút cuối cùng trước khi nhắm mắt, thứ khiến ông lo lắng là sự an nguy của những người vừa được ông cứu. Bà lão đã từng hận ông, bà trách ông không nghĩ cho bản thân mình; và bà nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ muốn gặp lại ông nữa. Ông cụ vừa mất không bao lâu, bà lão đã lần lượt bán đi những món đồ cũ của ông dưới danh nghĩa quyên góp cho những người cần, bà nghĩ đó là điều cuối cùng mà bà có thể làm cho ông với tư cách là một người vợ. Nhưng chỉ có thanh kiếm này, dù cố gắng thế nào cũng không thể bán được. Và dù có bán được đi nữa cũng sẽ bị trả trở về vì những người mua đều không thể rút ra khỏi vỏ.
Bà lão không còn cách nào ngoài việc mang theo thanh kiếm ấy bên mình gần nửa cuộc đời, đôi khi nó khiến bà nhớ lại người đàn ông bà từng yêu, từng hận và đôi khi chính nó cũng giúp bà nguôi ngoai phần nào. Thời gian không xóa đi được vết thương nhưng nó có thể khiến cho sự đau đớn ban đầu không còn nữa. Và ngay giây phút gặp được Kandra, bà đã biết chàng là người mà bà cần tìm.
Đến khi không còn trên cõi đời này nữa, ông lão ấy vẫn giúp đỡ mọi người bằng những cách khác nhau.
Kandra không bày tỏ gì với câu chuyện của bà cụ, chàng cảm thấy mình không giống người chồng quá cố của bà. Ông ấy sẵn sàng cho đi dù bản thân ông có thể sẽ chẳng còn gì, nhưng chàng thủ lĩnh chỉ đang làm mọi thứ để cứu vớt bộ tộc mình khỏi sự truy sát và tìm kiếm một tương lai lâu dài hơn.
Chàng Kandra không muốn nói suy nghĩ của mình cho bà lão biết, một câu chuyện sẽ có rất nhiều góc nhìn. Có lẽ bà lão đúng khi chàng là người rút thanh kiếm ấy ra khỏi vỏ được, và có lẽ bà đã sai vì biết đâu trên thế giới này vẫn còn người giống với ông lão ấy hơn là chàng.
Nhưng trời xanh đã ban cho cơ hội gì cớ gì không đưa hai ra nhận lấy. Có được thanh kiếm trong tay, chàng Kandra như hổ mọc thêm cánh. Những ngày tưởng chừng như đường cùng bấy giờ đã mở ra một lối đi mới. Cứ như thế đến thời khắc nhất định thì mọi thứ mới bắt đầu hiện rõ, lối đi mà họ vốn luôn tìm kiếm rất nhiều đến giờ khắc này mới xuất hiện ở nơi họ không lường trước được.
Ngày quyết đấu, xét về lực lượng, hai bên ngang sức nhau. Những gã khổng lồ của Kandra đã nhanh chóng chiếm được thế thượng phong. Những bàn tay to như một bức tường thành vừa mở đầu đã nắm lấy những con rồng đang bay lượn trên không trung rồi quăng xuống đất như những món đồ chơi. Tay chân họ tuy to lớn nhưng không cồng kềnh, dường như họ cũng đã quen với viết sử dụng sự to lớn của mình để chiếm thế thượng phong.
Kandra hô to lên, sức chiến đấu của đoàn quân cũng ngày càng dâng cao theo theo giọng chàng. Tiếng ngựa hí vang lên một tràng dài, vó người và tiếng hét, máu và mồ hôi trở thành một bản ca không có điểm dừng. Những người lính của chàng đã được huấn luyện bởi những ngày tháng gian khổ, họ biết cách để đoạt mạng kẻ thù một cách nhanh nhất. Những thanh kiếm nhọn hoắc cứ nhắm thẳng vào cổ họng như mũi tên khóa chặt lấy hồng tâm. Nếu bị rơi mất vũ khí, họ còn dao, nếu mất đi dao, họ vẫn còn những quả đạn nổ tự chế.
Người này vừa ngã ngựa thì có hai, ba người khác lao lên. Họ không còn là những thiếu niên ngây thơ ngày nào nữa. Đôi mắt họ sáng lên như một loài thú săn. Những cú đâm, cú đá, những đòn khóa cổ đã được họ tập luyện rất nhiều lần. Nếu Kandra ám ảnh bởi kể hoạch thì những người lính bên dưới chàng ám ảnh về việc họ sẽ kết liễu kẻ thù như thế nào. Những ngày đêm cam chịu nhục nhã, những khoảnh khắc chứng kiến người thân lần lượt ngã xuống đã nuôi hạt giống thù hận trong họ và đây là lúc chúng nảy mầm.
Kandra cũng không có phút giây nào thảnh thơi. Chàng là điểm tựa cuối cùng của tất cả nên dù có bao nhiêu người gục xuống thì chàng vẫn phải đứng vững. Chàng dùng thanh kiếm đã đi theo mình bao năm để mở đầu trận đấu. Những tiếng la hét lần lướt vang lên mỗi khi ngựa của chàng lướt qua. Một con đường máu được vẽ ra dẫn chàng thẳng đến chỗ kẻ thù.
Hai bên nhìn nhau đầy thù hận, ánh mắt họ ghim vào nhau như thể nếu có thể giết người bằng ánh mắt thì chắc hẳn giờ đây đối phương đã tan xương nát thịt. Người đàn ông kia xông về phía chàng, con ngựa mà hắn cưỡi chạy nhanh như thể đáp gió mà bay chứ không còn trên mặt đất. So với một người đã có nhiều kinh nghiệm trên chiến trường, Kandra vẫn như một mầm cây mới nhú, một con non đang tập đi.
Thanh kiếm theo chàng bao năm nhanh chóng bị hắn đánh gẫy, vỡ tan thành những mảnh vụn nằm trên mặt đất. Những người khác muốn chạy đến giúp chàng cũng nhanh chóng bị hắn đánh gục. Từng tiếng gào thét vì đau đớn cứ vang vọng bên tai. Kandra thở dốc, mùi máu và những tiếng la thảm thiết cứ vang lên bên tai chàng. Chàng thủ lĩnh đảo mắt nhìn quanh, rõ ràng những người khác vẫn đang cố gắng, rõ ràng họ vẫn chưa thua nhưng sao chàng lại cảm thấy một nỗi tuyệt vọng nặng nề đang bao trùm lấy mình.
Hai chân Kandra vỗ liên tục lên bụng ngựa, bàn tay chàng nắm lây dây cương để tránh né từng đòn đâm tới của kẻ thù. Mỗi đòn đánh của hắn thật hiểm hóc, dường như hắn cũng mệt mỏi và muốn giết chàng nhiều như nỗi khao khát muốn giết hắn của chàng. Kandra nhanh chóng rút thanh kiếm bên hông ra, lưỡi kiếm màu đỏ sáng loáng nhanh chóng chặn được một đòn đánh hiểm. Hai người cứ vờn nhau trên lưng ngựa, mồ hôi túa ra khiến chàng cay mắt nhưng Kandra không dám chớp mắt lấy một giây.
Những kĩ thuật chiến đấu giờ đây cũng đã trở nên vô dụng. Họ chiến đấu vì bản năng và phản xạ được tôi luyện từ những tháng ngày gian khổ. Phần lưỡi kiếm cong lại trở thành lợi thế khiến Kandra giật được món vũ khí của kẻ thù rồi quăng nó ra thật xa. Một vài người xuông đến muốn giúp hắn, lần này hắn là người cần trợ giúp chứ không phải chàng, đều bị Kandra chém bay hết. Vũ khí của chúng nát thành từng mảnh, và chàng chém đứt cả tay chúng.
Tiếng ngựa hí vang vọng thê lương, từng người ngã xuống gào thét thảm thiết. Tên thủ lĩnh vẫn còn chống chọi được dù hắn đã mất đi thanh kiếm của mình. Nhưng hắn vẫn còn một con dao nhỏ. Tiếng kim loại va chạm với nhau nghe thật chói tai, từng đường chém của họ đều nhắm vào chỗ hiểm của đối phương. Cả hai đều biết đây là trận chiến cuối cùng và họ không còn cơ hội nào để gỡ gạc nữa.
Máu lấm lem trên mặt họ, Kandra đã nhanh chóng né được đòn đâm của hắn. Chàng xoay người, máu bắn lên thanh kiếm đỏ rồi thấm vào bên trong chứ không chảy xuống. Tên kia hét lên. Kandra đã đâm một cú vào bụng hắn.
Đòn bất ngờ khiến hắn không thể ngồi vững trên lưng ngựa được nữa. Gã đàn ông ấy loạng choạng rồi bị một cú đạp của Kandra khiến hắn ngã nhào xuống đất. Kandra không chần chờ, chàng nhảy xuống theo. Lúc này những hành động của chàng để xuất phát từ bản năng nguyên thủy, chàng chỉ muốn giết hắn nhanh nhất có thể. Những nỗi bất hạnh đã đến lúc kết thúc và những người trong tộc chàng cũng nên nghỉ ngơi rồi.
Tên tướng ấy vẫn cố quằn quại, hắn gắng gượng bật lên muốn đâm vào cổ họng Kandra nhưng chàng đã gạt đi. Ánh mắt chàng bây giờ đây sát ý, như một loài mãnh thú phẫn nộ bắt đầu muốn cắn đứt cổ con mồi.
Tên tướng ấy hét lên, dù sao một người không có vũ khí cũng chẳng thể cầm cự quá lâu. Những thứ đạn ma thuật của hắn chẳng là gì, Kandra lúc này đã không còn thấy đau đớn nữa. Bộ giáp trên người chàng cũng chẳng thể chống đỡ được mấy đòn. Tên tướng ấy vẫn muốn quăng thêm đạn nhưng dường như hắn không còn nữa. Và chẳng đợi hắn nhận thức được chuyện gì đang xảy ra, Kandra đã lao lên, chém đầu hắn.
Vậy là, họ đã chiến thắng.
Người dẫn đầu chết rồi thì dù đội quân có mạnh đến đâu cũng chỉ như rắn mất đầu, huống chi phần lớn quân trong đó chỉ là những kẻ ngoại lai không hiểu rõ nội tình. Nhưng quân địch chạy toán loạn, họ cũng chẳng còn tâm trạng để đuổi cùng diệt tận. Tất cả mọi người đều buông vũ khí xuống, bắt đầu hoan hô ăn mừng. Họ ca vang những bài hát đã giấu nhẹm trong lòng trong suốt những tháng ngày qua, họ ôm chầm lấy nhau và hôn nhau. Họ ăn mừng cho những người đã ngã xuống và cho những tháng ngày sau này.
Lúc Kandra gặp lại Ostra là chuyện của hai năm sau đó. Chàng đã tốn rất nhiều thời gian mới có thể tìm thấy nàng. Chàng lảng vảng ở những quán rượu để nghe ngóng thông tin, chàng tìm gặp những người đã nói rằng họ đã gặp nàng và dù chỉ là những hy vọng mong manh nhất thì chàng vẫn tình nguyện nắm lấy. Bước chân của chàng Kandra ngày một nặng nề nhưng chàng chưa bao giờ dừng lại, chàng đã để nàng đợi quá lâu và bây giờ là điều mà chàng đáng phải nhận lấy.
Kandra bước sâu vào khu rừng, chàng vén những sợi dây leo chắn ngang tầm mắt để đến bên hồ. Ở đó, nàng Ostra đang quay lưng lại với chàng như ngày hai người lần đầu gặp nhau. Mãi tóc của nàng dài hơn, trang sức và những viên đá quý bao quanh lấy nàng như một lớp áo choàng lộng lẫy. Nàng Ostra đang chải tóc, tiếng sột soạt khiến nàng quay ngoắt lại và nước mắt nàng trào ra ngay khi vừa nhìn thấy người đến.
"Ta đã nghĩ rằng mình sẽ chết, ta nghĩ rằng mình sẽ bỏ cuộc. Ta cứ đi mãi mà không biết mình đi vì điều gì, đến hôm nay ta mới biết được hóa ra ta phải đi đến cuối cùng cuộc hành trình là để về với nàng."
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com