nhan qua
KINH NHÂN QUẢ 3 ĐỜI
KINH PHẬT NÓI NHÂN QUẢ 3 ĐỜI
Một hôm, Tôn giả A Nan Đà ở trên hội Linh Sơn cùng một ngàn hai trăm năm mươi đại Tỳ-kheo câu hội.
Khi ấy A Nan Đà Tôn giả, chắp tay đảnh lễ Phật, nhiễu 3 vòng, rồi quỳ xuống thưa thỉnh Đức Bổn Sư Thich Ca Mô Ni Thế Tôn rằng :
-Bạch Thế Tôn! Đến thời mạt pháp, tất cả chúng sinh ở cõi Diêm Phù Đề, nhiều kẻ sinh niệm chẳng lành, không kính Tam Bảo, không trọng mẹ cha, không có tam cang. Năm giềng rối loạn, sáu căn chẳng đủ. trọn ngày sát sinh hại mạng cho đến giàu nghèo sang hèn không đồng nhau. Do nhân duyên quả báo gì khiến nên như thế? Cúi xin Đức Thế Tôn từ bi, vì chúng con giải thích mọi sự việc.
Phật bảo A Nan cùng các đại đệ tử : “Lành thay! Lành thay! Các ông hãy lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà giải thích rành rẽ”.
Tất cả nam nữ trên thế gian giàu nghèo hay sang hèn, chịu khổ vô cùng hoặc hưởng phước vô lượng đều do nhân duyên đời trước cà cảm quả báo.
Cho nên tất cả chúng sinh, trước phải hiếu kính mẹ cha, kế đó phải tin trọng ngôi Tam Bảo, thứ ba nên bỏ giới sát sinh mà phóng sinh, và thứ tư cần ăn chay bố thí mới có thể gieo giống ruộng phước về sau.
Phật liền nói bài kệ nhân quả rằng :
Giàu sang đều bởi mạng
Đời trước có nhân tu.
Ai thọ trì kinh này.
Đời đời hưởng phước lộc.
Thiện nam, tín nữ nghe ta nói:
Suy nhớ kinh Nhân Quả ba đời
Nhân quả ba đời việc chẳng nhỏ
Phật nói lời Phật chớ chê kinh.
1.Đời này làm quan do nhân gì?
Kiếp trước vàng ròng thếp tượng Phật
Đời này hưởng phước bởi nhân gì ?
Đai vàng, áo tía, cầu nơi Phật.
Vàng trang nghiêm Phật, trang nghiêm mình.
Làm đẹp Như Lai, đẹp từ thân.
Đừng bảo làm quan là chuyện dễ,
Không tu phước ấy đến từ đâu?
2. Cưỡi ngựa, ngồi kiệu do nhân gì ?
Kiếp trước làm cầu, bồi đắp lộ.
3.Do nhân duyên gì mặc gấm vóc?
Đời trước thí áo giúp Tăng Ni.
4.Có ăn, có mặc do nhân gì ?
Xưa giúp kẻ nghèo cho ăn uống.
5.Ăn mặc thiếu thốn bởi nhân chi ?
Kiếp trước một nửa không xả thí.
6.Lầu cao, nhà lớn do nhân gì ?
Xưa lên chùa am cúng thí gạo.
7.Phúc lộc đầy đủ do nhân gì ?
Xưa lập chùa am, cất nhà mát1.
[1 Nhà dưỡng lao, cô nhi]
8.Tướng mạo xinh đẹp do nhân gì ?
Đời trước hoa tươi cúng dường Phật.
9.Thông minh trí tuệ do nhân gì ?
Kiếp trước ăn chay thường niệm Phật.
10.Người thấy vui mừng do nhân gì?
Xưa kết duyên lành cùng đại chúng.
11.Chồng vợ bền lâu do nhân gì ?
Đòi trước tràng phan nghiêm cúng Phật.
12.Cha mẹ song toàn do nhân gì ?
Đời trước kính trọng người cô độc.
13. Không cha mất mẹ do nhân gì ?
Kiếp trước là người đánh bẫy chim.
14. Con cháu đông nhiều do nhân gì ?
Đời trước mở lồng thả chim thú.
15. Nuôi con không được do nhân gì 2 ?
[ Xưa kia ở Ấn Độ cho đến Trung Hoa, những nhà nghèo sinh con nhiều nuôi không kham nên dìm cho chết bớt con gái lúc mới sinh ra]
16. Đời nay không con do nhân gì ?
Kiếp trước bẻ gãy hại trăm hoa.
17. Đời nay sống lâu do nhân gì ?
Kiếp trước mua vật phóng sinh nhiều.
18. Đời nay yểu mạng do nhân gì ?
Kiếp trước xẻ thịt giết chúng sinh.
19. Đời nay không vợ do nhân gì ?
Kiếp trước tham mưu gian vợ người.
20. Đời nay ở góa do nhân gì ?
Kiếp trước buông lung khinh rẻ chồng.
21. Làm thân tôi đòi do nhân gì ?
Kiếp trước quên ơn cùng phụ nghĩa.
22. Đời nay sáng mắt do nhân gì ?
Kiếp trước cúng dầu đốt đèn cho Phật.
23. Đời nay đui mù do nhân gì ?
Kiếp trước chỉ đường chẳng phân minh.
24. Môi miệng sứt thiếu do nhân gì ?
Kiếp trước thổi tắt đèn cúng Phật.
25. Đời nay câm điếc do nhân gì?
Xưa từng ác khẩu mắng mẹ cha.
26. Đời nay lưng gù do nhân gì ?
Kiếp trước chê cười người lễ Phật.
27. Tay bị cong quẹo do nhân gì ?
Đời trước đều là người tạo nghiệp.
28. Chân tay co rút do nhân gì ?
Kiếp trước ngăn đường đánh cướp người.
29. Làm thân trâu ngựa do nhân gì ?
Xưa thiếu nợ người không chịu trả.
30. Đọa làm heo chó do nhân gì ?
Kiếp trước lừa gạt phỉnh hại người.
31. Đời nay nhiều bệnh do nhân gì?
Xưa đem rượu thịt bày cúng Phật.
32. Đời nay không bệnh do nhân gì ?
Xưa thí thuốc men cứu bệnh nhân.
33. Hằng bị lao tù do nhân gì ?
Kiếp trước làm ác chẳng nhượng người.
34. Đời nay chết đói do nhân gì ?
Kiếp trước thường lấp hang rắn chuột
35. Bị thuốc độc chết do nhân gì ?
Kiếp trước đăng lưới giết hại cá.
36. Nổi trôi cơ khổ do nhân gì ?
Ác tâm lấn hiếp mưu hại người.
37. Đời nay lùn bé do nhân gì ?
Kiếp trước xem kinh để dưới đất 3.
[Ngồi dưới đất xem kinh, nên đặt kinh trên 1 cái bệ, khinh mạn cũng là nhân của tướng lùn bé. Lễ Phật, khiêm hạ là nhân của tướng cao hơn.]
38. Nay thường thổ huyết do nhân gì?
Xưa đi ăn thịt rồi đi tụng kinh. 4
[ Sau khi ăn mặn,muốn tụng kinh ta phải : súc miệng, rửa tay, rửa miệng sạch, rồi tụng chú như sau “Um! Soa fa va suýt đà, sạt và đạt ma; soa fạ va suýt đa hàm (7 lần). Aum! Syabhava sudaha, sarva drama svabhàva suddhà hàma” . Tất được thanh tịnh không tội lỗi ]
39. Đời nay ngu điếc do nhân gì ?
Kiếp trước tụng kinh chẳng lắng nghe.
40.Ghẻ lác phong điên do nhân gì ?
Xông hơi thịt cá trước bàn Phật.
41. Thân có mùi hôi do nhân gì ?
Xưa bán hương thơm trọn dối gian.
42. Đời nay chết treo do nhân gì ?
Kiếp trước đem dây săn bẫy thú.
43. Quan, quả , cô độc do nhân gì ?
Xưa thường ganh ghét hiềm mắng người.
44. Sét đánh lửa thiêu do nhân gì ?
Cân non, già, thiếu : lòng gian xảo.
45. Rắn cắn, cọp ăn do nhân gì?
Kiếp trước gây oan tạo đối đầu.
Muôn việc mình làm lại mình chịu
Thọ khổ địa ngục oán trách ai?
Đừng nói nhân quả người không thấy.
Xa trả con cháu, gần trả mình.
46. Chỉ nhìn trước mắt người hưởng phước.
Sẽ tin bố thí với trì trai.
Kiếp trước tu nhân nay hưởng quả.
Đời này tích đức để về sau.
Nếu ai hủy báng kinh Nhân Quả,
Kiếp sau đọa lạc mất thân người.
Kẻ nào thọ trì kinh Nhân Quả,
Chư Phật, Bồ Tát đều chứng minh.
Kẻ nào biên chép kinh Nhân Quả,
Truyền đời tu học đạo nhà hưng.
Ai mà mang đội kinh Nhân Quả.
Tai hung hoạnh họa chẳng vào thân.
Nếu người nói giàng kinh Nhân Quả,
Đời đời kiếp kiếp được thông minh
Kẻ nào đề xướng kinh Nhân Quả.
Đời sau người thấy sinh cung kính.
Người nào ấn tống kinh Nhân Quả,
Kiếp sau sẽ được thân đế vương.
Theo kinh Nhân Quả hỏi đời trước,
Chính sự thọ hưởng của đời nay.
Theo kinh Nhân Quả hỏi đời sau,
Chính sự gây nhân của kiếp này,
Nếu như nhân quả không cảm ứng,
Do đâu Mục Liên cứu được mẹ?
Người nào tin sâu kinh Nhân Quả.
Đồng sinh Tây phương cõi Cực lạc.
Nhân quả ba đời nói không hết,
Thiên Long chẳng bỏ ý người lành.
Nếu ngôi Tam ảo ruộng phước lớn,
Nhân tu tuy một hưởng muôn ngàn.
Gởi kho bền chắc không hư mất, 5
Nhiều đời thọ dụng phước vô cùng.
Muốn biết nhân đời trước,
Xem sự hưởng đời nay,
Muốn biết quả đời sau,
Xem việc làm kiếp này.
CHUNG
[Gởi kho đây không phải đốt tiền vàng bạc gửi vào mà ý nói tiền bạc ở thế gian không bền vững, khi ta chết phải bỏ lại tất cả. Chỉ có tu phước làm điều lành, ăn chay, tụng kinh, tham thiền, niệm Phật là kho bền vững]
NHÂN QUẢ LUÂN HỒI TẠP LỤC
Ai nói luân hồi chuyện vẩn vơ,
Người, dê chuyển kiếp lẹ không ngờ6
Đốt là hương hỏi niệm xưa cũ,
Nghe giọng triều âm tỉnh giấc mơ.
[6 Kinh Lăng Nghiêm viết “ Người giết dê ăn thịt, người chết làm dê, dê chết làm người, xoay vần trả nghiệp báo”.]
MẠNH PHU QUÂN
Điền Canh Dã, quan Đề đốc tỉnh Quảng Tây, có vợ là bà Mạnh phu nhân, bẩm tính hiền lương nhưng chẳng may mất sớm.
Khi Điền Công thuyền quan ở trấn Lương Châu, đêm trăng ngồi một mình nơi nha dinh, bỗng mơ màng như vào mộng thấy phu nhân dung mạo cực đẹp, từ trên ngọn cây phơi phới bay xuống. Ông mừng rỡ, cùng nhau hỏi chuyện hàn huyên như thủa sinh bình. Phu nhân bảo :”Thiếp vốn là một vị Thiên nữ do túc duyên trước nên nay làm bạn với tướng công, duyên trần nay đã mãn, lại trở về ngôi cũ. Nay bởi còn chút duyên thừa nên mới đến viếng thăm”.
Công hỏi: - Tôi kết cuộc ở quan tước nào?
Đáp: - Quan vị còn tăng không phải chỉ chừng ấy mà thôi.
Hỏi: - Tôi thọ được bao lâu?
Đáp: - cơ trời khó nói, tướng công lúc chết không về nơi hương lý, không ở chốn quan nha, không tại quán dịch bên đường, cũng không mất ở giữa chiến trận, thời đến sẽ tự rõ.
Hỏi: - Sau khi chết, còn được thấy nhau nữa chăng?
Đáp: - Việc này đều bởi tướng công. Nếu cố gắng tu, khi sinh lên cõi trời tất sẽ được gặp, bằng không chắc khó hy vọng.
Sau Điền Công đi chinh phạt giặc Miêu trở về già, yếu chết dưới trướng binh.
LAI TINH HẢI
LAI TINH HẢI ngoại danh Lai Phục, người ở Tam Nguyên xứ hiệp Tây. Ông thi đỗ tiến sĩ vào khoa Đinh Mùi, niên hiệu Vạn Lịch. Cha ông là Lai Thiếu Sâm, tính điềm đạm khiêm nhường, cũng là một bậc Tiến Sĩ.
Khi Tinh Hải chưa sinh, trong làng có một vị tăng pháp danh Lai Phục, dốt chữ, chỉ nhờ người dạy học thuộc lòng được phẩm Phổ Môn và Bát Nhã Tâm Kinh, ngoài ra không biết chi cả. Cách làng hơn mười dặm, có khoảng sông cạn đầy cát, đến mùa nước tràn ngập, người đi lại rất lấy làm khổ sở. Sư Lai Phục không nề hà nhọc nhằn, tự thân đứng ra đắp đường làm cầu, có ai quyên trợ cũng đều từ tạ, Do đấy, xa gần đều gọi là Phật Hòa Thượng, có người thấy sư khổ hạnh, dốt nát, gọi là Chuyết Hòa Thượng (có nghĩa là hòa thượng quê vụng). Cũng có kẻ hiềm sư không chịu đi đám tụng kinh, nên gọi là Lại Hòa Thượng (có nghĩa là hòa thượng làm biếng). Duy Tiến sĩ Lai Thiếu Sâm kính trọng sư nên gọi là Hữu Hạnh Hòa Thượng.
Sư tính không thích càu cạnh người, Lai Công biết ý, thỉnh thoảng đến chùa nghe sư tụng hai thứ kinh và cúng dường vải gạo cùng các thức ăn.
Một hôm Lai Công đang ngồi ở thính đường xử việc chợt thấy Lai Phục đi qua. Công vội vã đứng lên đón rước, nhưng sư không đoái đến, đi thẳng vào nhà trong; kêu hỏi cũng chẳng đáp. Công đang lấy làm lạ thì giây lát có tin truyền ra là phu nhânh sinh ra được một đứa bé trai. Thiếu Sâm bèn sai người đến chùa hỏi thăm, mới hay sư vừa tọa hóa. Công biết chắc sư đã thác sinh vào con mình, nên đặt ký danh là Lai Phục.
Thuở thiếu niên, Phục cực kỳ thông minh, đọc rất nhiều sách, thông cả ngành thuốc và bách công kỹ nghệ. Lớn lên thi đỗ đi làm quan các nơi, kẻ nghe biết đến cầu trị bệnh, cứu được rất nhiều người. Khi lớn tuổi, ông cáo bệnh về quê, thường bảo người rằng:”Ta vốn là kẻ xuất gia, đi trên đường hoạn lộ đã lâu; e quên mất tính bản lai, biết làm sao?”.
Lúc sắp chết ông lại nói “Nay ta muốn trở về để nối thành công nghiệp cũ”.
Nói xong ông liền qua đời.
HẠ PHÙNG THÁNH
Quan tướng quốc thời Minh là Hạ Phùng Thánh, trong niên hiệu Sùng Trinh, cùng gia nhân từ miền quê lên kinh sư. Thuyền vừa đến mũi tầm ngư thuộc dòng Cửu Giang, sóng to gió lớn nổi lên. Hạ Công vội mặc triều phục cầm hốt ra trước thuyền khấn vái. Khi ấy người trên thuyền thấy giữa hư không có vị thần mặc áo lụa đỏ, xách con quỷ đen liệng xuống nước. Liền đó, sóng gió dừng lặng. Công cho thuyền ghé vào bờ, thiết lễ cúng nơi miếu Đại Vương ở bên sông, để đáp ơn thần phù hộ. Do duyên sự này, từ đó về sau dân chúng càng tin tưởng, đem hương đèn dê lơn dâng cúng nơi miếu mỗi ngày thêm nhiều.
Năm Sùng Trinh thứ mười ba, Kỳ Thân Vương muốn phục hưng đạo tràngQuy Ngưỡng, cho rước Tam Muội Quang Luật sư vào đất Sở. Thuyền qua Cửu Giang, Luật sư mơ thấy một vị áo mão trang nghiêm thưa rằng:” Tôi là Tống Đại Vương, thủy thần sông Cửu Giang. Kiếp trước tôi cùng Luật sư và Hạ Tướng Công, ba người là bạn đồng tu ở chốn thâm sơn. Luật sư không mê là chính nhân, nên đời này là bậc cao tăng. Hạ Công do phước duyên, lên đến ngôi Tể Tướng . Còn tôi, vì một niệm sai lầm, trở thành vị thần hưởng huyết thực. Trước đây, Hạ Công bị con yêu nơi cây đại thọ ở mũi Tàm Ngư nổi sóng muốn lật thuyền, tôi vì nghĩ đến tiền duyên nên ra tay giúp đỡ. Không ngờ do sự việc đó mà dân chúng sát sinh đến cúng tế ngày càng thêm nhiều, e rằng tương lai ắt bị đày vào Vô Gián địa ngục. Ngày mai, Luật sư đi qua đây, xin ghé vào miếu từ bi thọ ký cho. Lại xin công bố việc này cho bốn phương hay biết, để về sau dân chúng đừng sát sinh cúng tế nữa. Như thế niềm hân cảm, mối thâm ân sẽ vô hạn!”.
Sau khi tỉnh dậy Luật sư nhớ và nhất nhất làm y theo lời.
Từ đó về sau, giang thuyền qua lại mũi Tầm Ngư, quanh năm đều được yên ổn, kẻ lữ hành chỉ dùng trai thực hoa quả cúng tế mà thôi. Chuyện này cùng với việc thần hồ Cùng Đinh thác mộng cho vị sư con vua nước An Tức cầu độ., có phần tương đồng.
(Trích Lục Trì Bắc Ngẩu Đảm)
CHUYỆN VỊ LÃO TĂNG
Thế gian diễn hứa bi hoan sạ
Dục nhập tham thiền vạn kiếp không.
Thời Trung Hoa dân quốc, cư sĩ Uông Hiêu Viên một hôn ra chợ, thấy vị lão Tăng đứng ngó sững vào hàng thịt rưng rưng nước mắt, cư sĩ lấy làm lạ hỏi duyên cớ. Lão Tăng đáp :
- Câu chuyên rất dài xin lược thuật phần đại khái. Tôi nhớ được việc hai kiếp về trước. Đời thứ nhất, tôi là một tên đồ tể. Hơn 30 tuôi mãn phần, hồn bị người ta bắt trói đưa đi. Minh Quan trách là nghiệp sát nặng, cho quỷ áp giải đến ty Chuyển Luân để thọ ác báo. Lúc bị xô xuống con song đen tối, tâm thức tôi hoảng hốt mơ màng, thoạt tiên thật óng như lửa đốt khó nhẫn, kế đó là cảm giác hơi mát mẻ; tôi tỉnh ra thì mình đã sinh làm kiếp súc vật trong chuồng heo. Sau khi dứt sữa, thấy thức ăn không được sạch, lòng cũng biết nhàm gớm nhưng vì đói quá ruột gan cồn cào, nên bất đắc dĩ phải nhắm mắt nuốt vào. Sau lần lần thông tiếng nói của loài heo, thường cũng hỏi han nhau, trong đồng loại cũng lắm kẻ nhớ biết kiếp trước của mình, song không thể nói cho người hiểu được. Đại để đều nhận thức mình sẽ bị giết, nên có lúc rên rỉ, đôi mắt ướt tỏ thái độ bi sầu. Loài heo than thể thô nặng, vào mùa hạ rất nóng, khổ chỉ tìm vũng bùn nằm vùi mới đỡ, song cũng chỉ là đôi khi mới được như vậy. Bởi lông thưa và cứng, nên mùa đông lại khổ vì lạnh, thân thể giá buốt, thấy loài dê chó lông nhuyễn dầy, hằng mơ ước, xem như loài thú tiên . Đến lúc bị bắt tự biết mình không khỏi, nhưng sợ quá nhảy chạy càn, mong kéo dài mạng sống được phút nào hay phút ấy. Khi bị trói rút bốn chân khiêng đi, dây khuyết đau đến tận xương. Lúc người bỏ lên xe trở về, than hình cùng đồng loại chồng chất đè lên nhau, máu huyết ứ đọng, gin như muốn đứt. Khi đến nhà lò, bị liệng xuống đất, ruột gan đau tưởng như nát ra. Nhìn thấy dao bén chảo vạc để hai bên, lòng bắt đầu run sợ, không biết đến khi bị giết sẽ đau đớn như thế nào? Lúc thọc huyết, thân tâm sảng sốt rụng rời, thấy ánh dao chớp lên liền nhắm mắt không dám nhìn thẳng. Khi đồ tể ấn lười dao vào cổ, rung lắc mạnh cho huyết chảy xuống bồn, ban đầu còn kêu la, sau chỉ rên nhỏ trong cổ họng, cho đến máu chảy đến tắt hơi, sự đau khổ thật không thể tưởng tượng ! Bây giờ hoảng hốt mê ly như say trong mộng, chừng tỉnh dậy thấy mình đã thành hình người. Minh Quan xét thấy kiếp trước còn có nghiệp lành, nên cho chuyển sinh làm người, tức là thân đời nay đây. Vừa rồi tôi thấy loài heo bị giết thương nó đau đớn, nhớ lại kiếp trước mình đã chịu khổ độc, rồi tiếc cho người đồ tể tương lai cũng bị nỗi khổ đó, ba mối niệm giao cảm, bất giác thương tâm không biết rơi lệ tự lúc nào !
Nói xong, quay mặt bỏ đi. Lúc ấy, người xung quanh nghe nói , chỉ trỏ bàn tán phân vân . Bác hàng thịt được biết câu chuyện, sinh lòng sợ hãi , từ đó về sau đổi nghề đi bán rau đậu.
(Trích lục Phật Học Chỉ Nam)
THÁI THÚ HỌ NGƯU
Miền tích Châu, có Uông Tả Viên tiên sinh, biệt hiệu là Sĩ Khan. Trong niên hiệu Gia Khánh, Uông thi đỗ tiến sĩ, được bổ làm Huyện lệnh ở Tứ Xuyên. Dưới quyền quản lý của ông có viên Thái thú họ Ngưu, vốn là hàng đồng niên và đã chiếm Á Nguyên ở bản tỉnh.
Quan Thái thú này, bàn tay mặt là tay người, còn tay bên trái là móng ngựa. Ông nhớ rõ việc ba kiếp trước từng thuật với Tả tiên sinh rằng :
- Đời trước tôi là một vị tướng, vì đánh giặc Miêu tàn sát quá nhiều, nên Minh quan phạt cho chuyển kiếp làm ngựa. Khi sinh ra đã đổi thành thân ngựa ở trong tàu, tự thường la rên nhảy cắn, không ăn mà chết. Minh Quan trách là cưỡng lệnh, đánh phạt, rồi lại cho chuyển sinh làm ngựa như cũ. Lần này, vì sợ bị trách phạt, nên không dám cầu chết. Khi lớn lên được một tướng quân chọn để cưỡi. Ông này tính tình nóng nảy, hung bạo nên tôi thường bị roi vọt, trăm điều thống khổ.
Một hôm, vị tướng đánh giặc thua bị quân địch đuổi theo rất gấp. Tôi chở vị tướng chạy trốn, chậy đến một ke núi rộng hơn trượng, bên kia đá nhọn dựng chập chùng. Lúc ấy tôi nghĩ: “Nếu nhảy qua mình sẽ phải chết, song chủ tướng có thể thoát chết. Nhưng không nhảy qua thì chủ sẽ bị giặc giết”. Nghĩ xong, liều mình cố hết sức nhảy qua khe núi, bụng bị đá nhọn đâm, rách ruột mà chết. Vị tướng vì thế mà thoát nạn.
Sau khi tôi chết, Minh Quan khen là trung nghĩa, hứa cho làm người và là quan văn, lên đến bậc tứ phẩm. Trước kia khi phải làm ngựa, quỷ tốt lấy da ngựa đắp vào mình; nay được trở lại làm người phải lột bỏ lớp da ấy đi. Nhưng vì tôi đã hai kiếp làm ngựa, da dính chặt vào thân, khi quỷ dùng dao lột da, đau đến tận xương tủy. Khi rách đến móng lại càng đau đớn không thể chịu nổi, nhân mới lén lút giấu móng chân đằng trước. Quỷ tốt cũng không để ý phát giác. Cũng vì duyên cớ đó, mà lúc chuyển sinh, bàn tay tay trái lại thành móng ngựa.
Kể chuyện xong, Thái Thú bào Viên tiên sinh rằng :”Lộ vị của tôi chỉ đến tầm này, mạng sống chẳng còn được bao lâu, đến ngày tháng ấy… sẽ từ trần”. Sau việc quả nhiên diễn ra y như vị Thái thú nói.
(DungAi bút ký)
GIẾT DÊ HẠI VỢ
Lưu Đao Nguyên làm quan huyện tại Bông Khuê, lúc giải chức trên đường về trọ nhà họ Tần. Đêm hôm ấy ông mộng thấy thiếu nữ đến khóc thưa : “Tôi vốn là vợ của nhà họ Tần này. Vì xưa chót lỡ tay đánh chết nhười thiếp. Nên bị Minh quan xủ phải đền mạng, lại phạt làm thân dê. Nay tôi đang ở trong chuồng, sáng sớm sẽ bị giết để đãi ông. Tôi chết vẫn không tiếc , nhưng vì trong bụng đang mang thai dê con. Nếu nó nhân đó chết theo, thì tội lỗi càng nặng hơn”.
Lưu Đao Nguyên đợi đến sáng thuật lại, thì dê cái đã bị giết. Cả nhà nghe xong đều khóc lóc thảm thiết, mang dê con để lại vào bụng dê cái rồi đem đi chôn.
PHẠM DÂM TRẢ QUẢ
Trần Sinh ở Động Đình nhà rất nghèo, nên đem vợ và em trai di cư đến Châu Kinh. Nơi đây thương khách tới lui tấp nập. Trần tính hay chiều chuộng nịnh bợ lại khéo mua bán, nên chẳng mấy năm gia tư có đến ngàn lượng vàng.
Một hôm ông bỗng dưng mắc bệnh nằm liệt vài ngày, rồi ngồi dậy bảo vợ và em trai rằng :”Ba chúng ta kiếp trước đều là tu sĩ, chung nhau gian dâm một thiếu phụ, rồi giết người chồng. Kẻ cầm dao chính là tôi. Nay Minh quan cho quỷ đến bắt, oan trái ắt phải đền trả. Bây giờ tôi phải đi trước còn hai người chắc cũng không thoát khỏi đâu !”. Nói xong tự nhổ râu tóc, lấy dao cắt lưỡi mình; lại dùng hai ngón tay móc đôi tròng mắt lôi ra, giây phút liền tắt thở.
Cô vợ và người em mấy ngày sau cũng chết.
BẤT HIẾU ĐỌA LÀM HEO
Hầu Nhị ở Kim Đơn vốn là kẻ bất hiếu. Bà mẹ đem gạo giúp người ăn xin, Hầu Nhị trông thấy liền nổi giận đánh và đuổi mẹ ra khỏi nhà, vợ con khóc lóc can gián y cũng không nghe. Chăng bao lâu sau, khắp thân mình Nhị sinh ghẻ độc lở loét, hành hạ đau nhức cho đến lúc y mãn phần.
Sau khi chết, Hầu Nhị về báo mộng cho con thấy, bảo rằng :”Do cha ngỗ ngược, bất hiếu nên bị phạt làm heo ở nhà Trương Nhị, nơi cửa Tuyên Võ ở kinh sư. Con nên qua đó mà chuộc mạng cha, nếu để trễ e không kịp !”.
Thức dậy đứa con y theo lời tìm đến nhà Trương Nhị, quả nhiên có heo nái vừa mới sinh ra mấy heo con. Trong đó có một con heo mình thú mặt người, có mạo trạng giống Hầu Nhị. Đứa con thương khóc thuật lại duyên cớ, nguyện đưa ra 10 lượng vàng xin chuộc đem về. Nhưng Trương Nhị không nghe đem heo con ra giết.
Việc này xảy ra vào niên hiệu Khang Hy thứ 37 đời nhà Thanh
VÙI TRONG BẾP LỬA
Bên nhà ông phú ở Hoa Đĩnh có thân cây khô rất to. Ông sắp đốn, thì đêm lại mộng thấy một lão nhân dẫn nhiều người tới, xin hãy thong thả chậm lại ít hôm cho dời đi. Phú ông biết trong cây có vật lạ, sai người trèo lên nhìn xem, thì thấy cây đó bọng ruột trong cây vô số rắn lạ nằm khoanh. Ông liền bảo đầy tớ chất củi đổ dầu đót cháy cây ấy. Lúc đó hơi tanh hôi bay xa cả dặm, phú ông đắc ý vỗ tay cười lớn.
Không bao lâu, ban đêm phú ông thường thấy có đám lửa bay to bay vào nhà. Ông gọi gia nhân thức dậy đến cứu chữa, nhưng tuyệt nhiên không có chuyện gì cả. Việc như vậy cứ xảy ra nhiều lần rồi đều kết thúc là không có gì cả, cả nhà không lấy làm lạ. Đêm nọ, đứa đầy tớ trộm củi đem nấu đồ riêng, bỗng lửa cháy phát đỏ, Phú ông và gia nhân đều cho là trạng thái cũ, nằm nghỉ luôn không thức dậy. Nhưng lần này thì cháy thật, cả gia quyens đều bị vùi thân trong lửa,
[email protected]_________________11/2007
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com