LS4
ĐÊ THI KỸ NĂNG ĐẠI DIỆN NGOÀI TỐ TỤNG, THAM
GIA GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NGOÀI TÕA ÁN VÀ
CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ KHÁC LS4
ĐỀ 1
Tháng 11/2021, CTCP BĐS Hưng Thịnh ("Hưng Thịnh") và bà Phượng xác lập Hợp
đồng mua bán căn hộ chung cư ("Hợp đồng"). Theo đó, Hưng Thịnh là bên bán và bà
Phượng là bên mua căn hộ chung cư ("Căn hộ"). Hợp đồng do Hưng Thịnh soạn sẵn có
một số nội dung đáng lưu ý như sau:
– Đối tượng Hợp đồng là Căn hộ của dự án nhà ở xã hội;
– Giá trị Hợp đồng mua bán Căn hộ là 821.620.800 VNĐ;
– Các tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng có thể được giải quyết tại Tòa án hoặc Trọng tài.
Nếu vụ việc được giải quyết tại Trọng tài, các bên đồng ý rằng nơi giải quyết sẽ là Trung
tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam, bên cạnh Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, hai bên có xảy ra tranh chấp nên bà Phượng đến
VPLS của anh (chị) để nhở tư vấn.
Câu hỏi 1 (1,5 điểm): Theo LTTM, bà Phượng có quyền lựa chọn Tòa án để giải quyết
khi phát sinh tranh chấp, kể cả khi có thỏa thuận trọng tài như tình huống nếu trên hay
không?
Tình tiết bổ sung
Tháng 12/2021, bà Phượng đã ký Phụ lục Hợp đồng ("Phụ lục") mà không có sự tư vấn
của luật sư, nội dung về điều khoản giải quyết tranh chấp trong Phụ lục được các bên
thỏa thuận như sau: "Bất kể các tranh chấp phát sinh từ thỏa thuận này, hoặc từ Hợp
đồng mua bán căn hộ, các bên có thể giải quyết với nhau bằng thương lượng hoặc hòa
giải. Trường hợp không thành, các bên có thể đệ trình vụ tranh chấp để được giải quyết
tại Tòa án hoặc Trọng tài."
Câu hỏi 2 (2,5 điểm):
1. a) Theo anh chị, trong trường hợp bà Phương không thực hiện thủ tục thương
lượng hoặc hòa giải trước khi khởi kiện tại trọng tài hoặc tòa án thì Trọng tài hoặc
tòa án có thụ lý vụ tranh chấp không?
2. b) Trong trường hợp bà Phượng không thực hiện thủ tục thương lượng hoặc hòa
giải trước mà tiến hành khởi kiện tại trọng tài hoặc tòa án thì chế tài xử lý vi phạm
như thế nào?
Tình tiết bổ sung
Bà Phượng khởi kiện Hưng Thịnh ra Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam vì không
bàn giao căn hộ đúng thời hạn như đã cam kết trong Hợp đồng. Hai bên tranh chấp
không thỏa thuận hay yêu cầu khác nên Hội đồng trọng tài gồm có 3 TTV. Bị đơn (Hưng
Thịnh) đã chọn một TTV theo yêu cầu của Trung tâm trọng tài nhưng bà Phượng không
đồng ý TTV do Bị đơn chọn này.
Câu hỏi 3 (2,5 điểm): Theo anh chị, trường hợp bà Phượng không đồng ý TTV do bên
kia chọn thì phải xử lý như thế nào?
Tình tiết bổ sung
Nguyên đơn và Bị đơn đã ký Hợp đồng và Phụ lục với thỏa thuận trọng tài nêu trên. Ông
Toàn là bên bảo lãnh cho Hưng Thịnh cam kết thời hạn bàn giao căn hộ và bồi thường
thiệt hại cũng như phạt vi phạm hợp đồng do việc chậm bàn giao Căn hộ gây ra theo Hợp
đồng bảo lãnh ký kết giữa ông và Hưng Thịnh.
Câu hỏi 4 (1,5 điểm): Ông Toàn có được triệu tập với tư cách người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan hay không?
Câu hỏi 5 (2 điểm): Anh chị hãy phân tích các vấn đề pháp lý liên quan đến hiệu lực của
thỏa thuận trọng tài?
ĐÁP ÁN
GIẢI ĐỀ 1: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VÀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI
Câu hỏi 1 (1,5 điểm): Theo LTTM, bà Phƣợng có quyền lựa chọn Tòa án để giải
quyết khi phát sinh tranh chấp, kể cả khi có thỏa thuận trọng tài nhƣ tình huống
nếu trên hay không?
Trả lời:
Bà Phƣợng có quyền lựa chọn Tòa án để giải quyết tranh chấp.
Giải thích:
1. Nguyên tắc chung của LTTM: Theo Khoản 2 Điều 5 Luật Trọng tài thƣơng
mại 2010 (LTTM), khi các bên đã có thỏa thuận trọng tài hợp pháp, Tòa án phải
từ chối thụ lý (trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thực hiện
được).
2. Phân tích thỏa thuận: Thỏa thuận của Hợp đồng ghi rõ: "Các tranh chấp phát
sinh từ Hợp đồng có thể được giải quyết tại Tòa án HOẶC Trọng tài."
3. Kết luận về hiệu lực: Việc sử dụng từ "HOẶC" để đặt Tòa án và Trọng tài
ngang hàng nhau trong cùng một điều khoản giải quyết tranh chấp dẫn đến sự mơ
hồ và mâu thuẫn trong việc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp độc
quyền/chung thẩm. Thỏa thuận này có nguy cơ cao bị Tòa án hoặc Hội đồng
Trọng tài tuyên vô hiệu do không xác định rõ cơ quan giải quyết tranh chấp cuối
cùng (Điểm c Khoản 2 Điều 18 LTTM).
4. Quyền lựa chọn: Do thỏa thuận trọng tài bị coi là vô hiệu vì lý do trên, Bà
Phượng không bị ràng buộc bởi thỏa thuận trọng tài và giữ nguyên quyền khởi
kiện tại Tòa án theo thẩm quyền được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự.
Câu hỏi 2 (2,5 điểm):
a) Trọng tài hoặc tòa án có thụ lý vụ tranh chấp không nếu bà Phƣợng không thực
hiện thủ tục thƣơng lƣợng hoặc hòa giải trƣớc khi khởi kiện?
Trả lời:
Trọng tài hoặc Tòa án vẫn sẽ thụ lý vụ tranh chấp.
Giải thích:
Việc các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng thƣơng lƣợng hoặc hòa giải
trƣớc là một nghĩa vụ hợp đồng giữa các bên.
Tuy nhiên, nghĩa vụ này không phải là điều kiện bắt buộc về mặt tố tụng để xác
định thẩm quyền thụ lý của Trọng tài (theo LTTM) hay Tòa án (theo Bộ luật Tố
tụng Dân sự).
Trọng tài hoặc Tòa án sẽ tập trung xem xét thẩm quyền dựa trên bản chất vụ việc
và tính hợp lệ của thỏa thuận trọng tài/tòa án, chứ không phải dựa trên việc đã
hoàn thành nghĩa vụ thương lượng hay chưa.
b) Trong trƣờng hợp bà Phƣợng không thực hiện thủ tục thƣơng lƣợng hoặc hòa
giải trƣớc mà tiến hành khởi kiện tại trọng tài hoặc tòa án thì chế tài xử lý vi phạm
nhƣ thế nào?
Trả lời:
Bà Phượng không phải chịu chế tài pháp lý (phạt vi phạm) theo quy định của Luật
Trọng tài thương mại hay Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Phân tích:
Về pháp luật: Pháp luật Việt Nam không quy định chế tài đối với việc bỏ qua
bước thương lượng/hòa giải tiền tố tụng.
Về Hợp đồng: Bà Phượng chỉ có thể bị xử lý nếu Phụ lục Hợp đồng có điều
khoản quy định cụ thể về phạt vi phạm khi bỏ qua thủ tục thương lượng/hòa giải
này.
Về Tố tụng: Trong trường hợp không có thỏa thuận phạt trong hợp đồng, việc
không thực hiện thủ tục này có thể bị Hội đồng Trọng tài hoặc Tòa án xem xét khi
phân bổ chi phí tố tụng (ví dụ: yêu cầu bên khởi kiện chịu chi phí nếu việc kiện
tụng được đánh giá là thiếu thiện chí hoặc quá vội vàng).
Câu hỏi 3 (2,5 điểm): Theo anh chị, trƣờng hợp bà Phƣợng không đồng ý TTV do
bên kia chọn thì phải xử lý nhƣ thế nào?
Trả lời:
Trường hợp Bà Phượng không đồng ý Trọng tài viên (TTV) do Bị đơn (Hưng Thịnh)
chọn, Bà Phượng phải thực hiện thủ tục yêu cầu thay đổi (khƣớc từ) Trọng tài viên
theo quy định của LTTM và Quy tắc Tố tụng của VIAC.
Các bƣớc xử lý cụ thể:
1. Cơ sở pháp lý: Bà Phượng có quyền yêu cầu thay đổi TTV nếu có căn cứ cho
rằng TTV đó không vô tƣ, độc lập hoặc không đáp ứng tiêu chuẩn theo thỏa
thuận của các bên (Điều 42 LTTM).
2. Hình thức yêu cầu: Bà Phượng phải gửi văn bản yêu cầu thay đổi TTV đến
Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC).
3. Nội dung yêu cầu: Văn bản yêu cầu phải nêu rõ:
o Lý do cụ thể của việc khước từ (ví dụ: TTV có mối quan hệ công việc/tư
vấn với Hưng Thịnh hoặc Luật sư của Hưng Thịnh).
o Cung cấp chứng cứ (nếu có) để chứng minh cho lý do khước từ.
4. Giải quyết yêu cầu:
o VIAC sẽ chuyển yêu cầu này cho TTV bị khước từ và bên đối diện (Hưng
Thịnh) để lấy ý kiến.
o VIAC (Chủ tịch VIAC hoặc cơ quan có thẩm quyền theo Quy tắc VIAC)
sẽ xem xét, quyết định về việc chấp nhận hoặc từ chối yêu cầu thay đổi
TTV.
o Nếu yêu cầu được chấp nhận, TTV đó sẽ bị thay thế bằng một TTV khác
do Hưng Thịnh chọn lại, hoặc do VIAC chỉ định.
Câu hỏi 4 (1,5 điểm): Ông Toàn có đƣợc triệu tập với tƣ cách ngƣời có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan hay không?
Trả lời:
Có. Về nguyên tắc, Ông Toàn là ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ tranh
chấp, nhưng việc ông được triệu tập tham gia tố tụng Trọng tài phụ thuộc vào thỏa
thuận trọng tài.
Phân tích:
1. Về bản chất: Ông Toàn là bên bảo lãnh cho nghĩa vụ bàn giao căn hộ của Hưng
Thịnh. Nghĩa vụ bảo lãnh của ông Toàn phát sinh trực tiếp từ việc Hưng Thịnh
vi phạm Hợp đồng mua bán căn hộ (chậm bàn giao). Do đó, kết quả giải quyết
tranh chấp giữa Bà Phượng và Hưng Thịnh (về việc có chậm bàn giao và có phải
bồi thường thiệt hại/phạt vi phạm hay không) sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến trách
nhiệm bảo lãnh của Ông Toàn.
2. Về Trọng tài:
o Điều 12 LTTM cho phép người thứ ba tham gia tố tụng trọng tài nếu tranh
chấp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ và được sự đồng ý của ngƣời
thứ ba và các bên tranh chấp (Nguyên đơn, Bị đơn).
o Tuy nhiên, nguyên tắc căn bản của Trọng tài là chỉ có thẩm quyền với
những ngƣời có thỏa thuận trọng tài. Nếu Hợp đồng Bảo lãnh giữa Ông
Toàn và Hưng Thịnh không có điều khoản trọng tài hoặc Ông Toàn
không có thỏa thuận trọng tài với Bà Phƣợng, Hội đồng Trọng tài
không có thẩm quyền triệu tập Ông Toàn tham gia tố tụng một cách bắt
buộc (trừ khi Ông Toàn tự nguyện tham gia và được các bên chấp thuận).
Câu hỏi 5 (2 điểm): Anh chị hãy phân tích các vấn đề pháp lý liên quan đến hiệu lực
của thỏa thuận trọng tài?
Trả lời:
Thỏa thuận trọng tài trong Hợp đồng và Phụ lục này có nhiều vấn đề pháp lý liên quan
đến hiệu lực, chủ yếu tập trung vào tính mơ hồ trong việc lựa chọn cơ quan giải quyết
tranh chấp.
Vấn đề
pháp lý 1. Tính
Mơ hồ về
Cơ quan
giải quyết
2. Thẩm
quyền
Giải
quyết
3. Hình
thức Thỏa
thuận
4. Chỉ
định
Trung
tâm
Phân tích và Đánh giá Hiệu lực Thỏa thuận ghi: "giải quyết tại Tòa án
HOẶC Trọng tài." Việc đặt Tòa án và Trọng
tài song song, không loại trừ nhau, mâu
thuẫn với nguyên tắc chung thẩm của Trọng
tài. Thỏa thuận này có nguy cơ cao bị tuyên
vô hiệu do không xác định rõ cơ quan giải
quyết tranh chấp chung thẩm.
Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng mua bán
căn hộ chung cư (thuộc lĩnh vực đầu tư, kinh
doanh, thương mại).
Thỏa thuận trọng tài được ghi trong Hợp
đồng và Phụ lục (đều là văn bản).
Thỏa thuận chỉ rõ: Trung tâm Trọng tài
Quốc tế Việt Nam (VIAC).
Xuất sang Trang tính
Cơ sở pháp lý
Điểm c Khoản 2 Điều 18
LTTM: Thỏa thuận trọng tài
vô hiệu khi có mục đích vi
phạm điều cấm của pháp luật
hoặc không thể thực hiện được
do không xác định rõ cơ quan
giải quyết.
Điều 2 LTTM: Tranh chấp
phát sinh từ hoạt động thương
mại thuộc thẩm quyền của
Trọng tài. Điều kiện này Đạt.
Điều 16 LTTM: Thỏa thuận
trọng tài phải được lập dưới
hình thức văn bản. Điều kiện
này Đạt.
Điều 16 LTTM: Phải có tên
Trung tâm Trọng tài. Điều
kiện này Đạt.
Tóm tắt:
Thỏa thuận trọng tài thỏa mãn các điều kiện về hình thức, thẩm quyền và chỉ định
Trung tâm Trọng tài.
Tuy nhiên, rủi ro lớn nhất là việc thỏa thuận "Tòa án HOẶC Trọng tài" có thể
bị tuyên vô hiệu theo LTTM. Nếu thỏa thuận này bị tuyên vô hiệu, các bên sẽ mất
đi quyền giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.
ĐỀ 2
Ngày 28/5/2023, ông Nguyễn Hữu Trung đến VPLS gặp anh chị và trình bày: Ông nhận
được Thông báo về việc thụ lý vụ án của TAND Quận BT, TP. H về việc bà Trần Thu Hà
khởi kiện ông. Nội dung đơn khởi kiện của bà Hà như sau: Vợ chồng ông Trung là chủ
sở hữu căn hộ 10.20 Chung cư M, phường 27, Quận BT, TP. H. Ngày 20/11/2021, bà
Trần Thu Hà và ông Trung đã ký kết hợp đồng đặt cọc mua bán căn hộ 10.20 Chung cư
M, phường 27, Quận BT, TP. H. Hai bên ký kết đặt cọc bằng giấy tay. Theo thỏa thuận
tại hợp đồng đặt cọc thì giá mua bán căn nhà trên là 2,7 tỷ đồng, đặc cọc số tiền 10% là
270 triệu và trong vòng 30 ngày kể từ ngày đặt cọc (tức ngày 20/12/2021) thì hai bên sẽ
ra Văn phòng công chứng X để hoàn tất thủ tục mua bán. Nếu bên mua đổi ý không mua
thì bị mất tiền cọc, còn bên bán đổi ý không bán thì phải bồi thường số tiền 270 triệu
đồng cộng với số tiền đặt cọc 270 triệu đồng. Cùng ngày 20/11/2021, bà Hà đã chuyển
khoản số tiền 270 triệu vào tài khoản của ông với nội dung chuyển tiền là "Đặt cọc mua
nhà". Đến thời hạn ký hợp đồng mua bán nhà ông Trung đã vi phạm thỏa thuận, không
tiến hành ký hợp đồng công chứng với bà, bà đã liên lạc với ông Trung nhiều lần nhưng
ông Trung từ chối không gặp. Do đó, bà Hà khởi kiện yêu cầu ông Trung trả cho bà số
tiền đặt cọc là 270 triệu đồng, tiền phạt cọc 270 triệu đồng, đồng thời bà yêu cầu ông
Trung bồi thường thiệt hại thực tế phát sinh do phải thuê Luật sư tham gia vụ kiện là 30
triệu đồng; tiền lãi do việc ông Trung chậm trả tiền cho bà từ ngày 20/12/2021 đến ngày
xét xử sơ thẩm theo lãi suất của Ngân hàng.
Ông Trung không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Hà vì ông không có lỗi trong việc
thực hiện hợp đồng đặt cọc.
Ông Trung hiện đang làm nhân viên kinh doanh nên công việc rất bận. Với các yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn trên đây, ông Trung đề nghị với anh chị nội dung công việc
như sau: Ông Trung sẽ ủy quyền cho anh chị được toàn quyền thay mặt ông tham gia tố
tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trung.
Câu 1 (2,5 điểm): Anh chị hãy xác định các vấn đề cần trao đổi với ông Trung trước khi
thực hiện công việc đại diện theo ủy quyền?
Qua trao đổi với ông Trung và nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ do ông Trung cung cấp,
anh chị được biết: Ngày 20/11/2021, ông có ký kết hợp đồng đặt cọc về việc mua bán căn
10.20 Chung cư M với bà Hà. Căn nhà này là tài sản chung của vợ chồng ông. Nội dung
đặt cọc đúng như bà Hà đã trình bày. Đến ngày 20/12/2021, ông có đến Văn phòng công
chứng X nhưng không gặp bà Hà ở đây và sau đó, ông có liên lạc với bà Hà để ký hợp
đồng công chứng nhưng bà Hà không trả lời. Do bà Hà tự ý chấm dứt hợp đồng và cần
tiền để trả nợ nên ngày 30/12/2021, vợ chồng ông đã bán căn nhà trên cho ông Nguyễn
Thành Sơn và đã giao nhà cho người mua. Ngay bà Hà khởi kiện yêu cầu ông trả tiền cọc
và phạt cọc, bồi thường các khoản thiệt hại khác thì ông không đồng ý. Lý do là bà Hà tự
ý chấm dứt hợp đồng, việc này có bà Phạm Thu Lan là người môi giới làm chứng.
Câu 2 (2,0 điểm): Là người đại diện theo ủy quyền của ông Trung, anh chị hãy giúp ông
Trung soạn thảo nội dung cơ bản của văn bản trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn để nộp cho Tòa án theo Thông báo về việc thụ lý vụ án.
Câu 3 (1,5 điểm): Anh chị hãy xác định chứng cứ cần thu thập để nộp cho Tòa án.
Tình tiết bổ sung
Tại bản tự khai ngày 15/7/2023, người làm chứng bà Phạm Thu Lan trình bày: Bà là bên
môi giới nhà đất. Khi bà Hà xem nhà để đặt cọc thì nhà ông Trung đang sửa chữa, tình
trạng nhà rất bừa bộn. Ông Trung có đưa cho bà Hà xem một bản photo giấy chứng nhận
quyền sở hữu căn hộ. Sau khi xem xong, bà Hà đã đặt cọc mua nhà. Tại buổi đặt cọc mua
nhà, bà có nói ông Trugn sửa chữa nhà hoàn chỉnh để giao cho bà Hà ngay sau khi ký
Hợp đồng mua bán tại Văn phòng công chứng X. Ông Trung đồng ý và hứa sẽ sửa nhà,
giao nhà đã hoàn thiện. Sau ngày đặt cọc, bà Hà có qua kiểm tra tình trạng sửa chữa nhà
và nhiều lần liên hệ với ông Trung nhưng ông Trung bận đi công tác nên không gặp được.
Bà Hà lo sợ việc sửa nhà không kịp tiến độ, ông Trung lại không quan tâm đôn đốc việc
sửa nhà nên đến ngày 15/12/2021, bà đã đến nhà ông Trung yêu cầu trả cọc nhưng ông
Trung nói đã sử dụng hết số tiền đặt cọc của bà Hà nên không có tiền trả lại cho bà Hà.
Ngày 20/12/2021, theo cam kết của hợp đồng đặt cọc để ra công chứng hợp đồng mua
bán nhà, ông Trung, vợ ông Trung và bà có đến Văn phòng công chứng X chờ bà Hà từ
8h đến 10h nhưng điện thoại của bà Hà không liên lạc được nên cả 3 người ra về. Bà cam
đoan lời khai của bà là đúng sự thật.
Tại bản tự khai ngày 17/8/2023, bà Phạm Thúy Nga, là vợ ông Trung trình bày: Trong
khoản thời gian ký kết hợp đồng đặt cọc giữa 2 bên, căn hộ của vợ chồng bà đang được
thế chấp tại Ngân hàng. Việc đặt cọc mua nhà giữa bà Hà và ông Trung bà không biết, bà
không ký giấy đặt cọc và không cầm tiền đặt cọc, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp
luật. Bà bận công việc nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Bà Hà có lời khai như sau: Ngày 15/12/2021, bà có đến nhà ông Trung để yêu cầu trả lại
tiền cọc vì nhìn thấy tiến độ sửa nhà của ông Trung chắc chắn không đảm bảo cho việc
đến ngày 20/12/2021 hia bên có thể bàn giao nhà. Ông Trung có nói là đồng ý trả lại tiền
cọc nhưng vì ông đã dùng tiền đặt cọc của bà để trả nợ rồi nên không còn tiền để trả cho
bà ngay, đợi ông bán nhà cho người khác sẽ trả lại. Mặc dù vậy, đến ngày ký hợp đồng
mua bán tại Văn phòng công chứng X, bà vẫn đến nhưng không thấy ông Trung. Bà gọi
điện cho ông Trung thì ông Trung nói là vợ chồng ông Trung và người môi giới đã đến
Văn phòng công chứng X nhưng bà không tới nên đã về. Thông tin của ông Trung là
không đúng. Hợp nữa, khi ký hợp đồng đặt cọc, căn hộ này đang thế chấp tại Ngân hàng
và vợ ông Trung là bà Nga không ký nên ông Trung hoàn toàn có lỗi nên phải trả cọc và
bồi thường cho bà.
Tài liệu hồ sơ thể hiện: Theo công văn số 331/2023/CVTL ngày 26/8/2023 của Ngân
hàng thương mại cổ phần M xác định: tại thời điểm ngày 20/11/2021 thì căn hộ 10.20
Chung cư M, phường 27, quận BT, TP. H là tài sản chung của ông Trung, bà Hà đang thế
chấp tại Ngân hàng thương mại cổ phần M để đảm bảo cho khoản vay 800 triệu. Đến
ngày 17/12/2022, ông Trung, bà Nga mới tiến hành thanh lý hợp đồng tín dụng và giải
chấp tài sản. Ngân hàng thương mại cổ phần M không nhận được thông báo nào của ông
Trung, bà Nga về việc nhận đặt cọc mua bán căn hộ nói trên.
Câu 4 (2,0 điểm): Anh chị hãy xác định các vấn đề cần phải chứng minh của vụ án?
Tình tiết bổ sung
Hòa giải không thành, Tòa án quyết định mở phiên tòa sơ thẩm vào ngày 29/9/2023.
Ngày 14/9/2023, anh chị nhận được thông tin về việc ông Trung đột ngột qua đời vì tai
nạn giao thông.
Câu 5 (2,0 điểm): Nêu hướng xử lý tiếp theo của anh chị với tư cách là người đại diện
theo ủy quyền của ông Trung?
ĐÁP ÁN
Chào bạn, tôi sẽ tư vấn và hỗ trợ bạn giải quyết ĐỀ 2 về tranh chấp Hợp đồng đặt cọc
mua bán căn hộ.
CÂU HỎI 1: CÁC VẤN ĐỀ CẦN TRAO ĐỔI VỚI ÔNG TRUNG TRƢỚC KHI
THỰC HIỆN CÔNG VIỆC ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN?
Trước khi nhận ủy quyền và tham gia tố tụng, Luật sư cần làm rõ các vấn đề cốt lõi về sự
việc và mục tiêu của ông Trung:
1. Xác minh Tƣ cách Chủ sở hữu (Tài sản chung):
o Căn hộ 10.20 là tài sản chung của vợ chồng ông Trung. Ông Trung có Giấy
ủy quyền hoặc Văn bản đồng ý bán từ vợ (Bà Nga) tại thời điểm ký Hợp
đồng đặt cọc không?
o Mục đích: Xác định Hợp đồng đặt cọc có nguy cơ vô hiệu do vi phạm quy
định về định đoạt tài sản chung của vợ chồng (Điều 35, 37, 213 Bộ luật
Dân sự 2015 - BLDS 2015).
2. Tình trạng Pháp lý của Căn hộ:
o Tại thời điểm ký Hợp đồng đặt cọc (20/11/2021), căn hộ có đang thế chấp
tại Ngân hàng hay không?
o Ông Trung có thông báo cho bà Hà về tình trạng thế chấp này không? Việc
không thông báo về thế chấp là vi phạm nghĩa vụ của bên bán.
3. Xác định Lỗi Vi phạm Hợp đồng:
o Ông Trung khẳng định bà Hà tự ý chấm dứt Hợp đồng. Yêu cầu ông
Trung cung cấp chứng cứ (tin nhắn, email, lời khai người làm chứng)
chứng minh bà Hà từ chối ký hợp đồng công chứng và không xuất hiện tại
Văn phòng công chứng X ngày 20/12/2021.
o Yêu cầu ông Trung giải thích lý do bà Hà từ chối/yêu cầu trả cọc (nếu có):
Vấn đề sửa chữa nhà, vấn đề tài sản chung, vấn đề thế chấp?
4. Các Khoản Tiền Đã Nhận và Yêu cầu Bồi thƣờng:
o Ông Trung có đồng ý với yêu cầu của bà Hà về tiền cọc (270 triệu) và tiền
phạt cọc (270 triệu) không?
o Tiền luật sƣ 30 triệu: Ông Trung có đồng ý với khoản bồi thường thiệt hại
này không?
o Lãi chậm trả: Ông Trung đã tính toán khoản lãi này theo mức lãi suất
ngân hàng bà Hà yêu cầu chưa?
5. Mục tiêu của Ông Trung:
o Mục tiêu cao nhất là giữ lại tiền đặt cọc 270 triệu (do lỗi của bà Hà).
o Mục tiêu thứ hai là chỉ phải trả lại tiền cọc 270 triệu, không phải chịu
phạt cọc và các chi phí khác.
CÂU HỎI 2: DỰ THẢO NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA VĂN BẢN TRÌNH BÀY Ý
KIẾN CỦA BỊ ĐƠN
(Dự thảo đƣợc xây dựng dựa trên thông tin Ông Trung cung cấp ban đầu: Ông
không có lỗi, Bà Hà tự ý chấm dứt Hợp đồng)
VĂN BẢN TRÌNH BÀY Ý KIẾN CỦA BỊ ĐƠN
Kính gửi: TÕA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BT, THÀNH PHỐ H
Tên vụ án: Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc mua bán căn hộ.
Bị đơn: NGUYỄN HỮU TRUNG
Đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Trần Thu Hà, Bị đơn xin trình bày ý
kiến nhƣ sau:
1. Về việc xác lập Hợp đồng Đặt cọc:
o Bị đơn thừa nhận việc đã ký kết Hợp đồng đặt cọc mua bán căn hộ 10.20
Chung cư M ngày 20/11/2021 với bà Trần Thu Hà và đã nhận số tiền đặt
cọc 270.000.000 VNĐ.
o Hợp đồng quy định hai bên phải ra Văn phòng Công chứng X để hoàn tất
thủ tục mua bán vào ngày 20/12/2021.
2. Về lỗi vi phạm Hợp đồng:
o Bị đơn KHÔNG ĐỒNG Ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn
vì Bị đơn không hề có lỗi vi phạm Hợp đồng.
o Bị đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình: Ngày 20/12/2021, Bị đơn đã
có mặt tại Văn phòng công chứng X (có vợ Bị đơn và người môi giới
Phạm Thu Lan làm chứng) để ký Hợp đồng công chứng.
o Ngƣời vi phạm Hợp đồng chính là Bà Trần Thu Hà (Nguyên đơn) khi
đã tự ý chấm dứt Hợp đồng (yêu cầu trả cọc trước ngày 20/12/2021) và
không có mặt tại Văn phòng công chứng X đúng thời hạn đã thỏa thuận
để hoàn tất thủ tục mua bán.
3. Ý kiến của Bị đơn về Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:
o Yêu cầu trả cọc 270 triệu VNĐ: Bị đơn không chấp nhận. Theo thỏa
thuận, do lỗi hủy ngang của Nguyên đơn, Nguyên đơn phải bị mất số tiền
đặt cọc 270.000.000 VNĐ.
o Yêu cầu phạt cọc 270 triệu VNĐ, tiền thuê Luật sƣ 30 triệu VNĐ và lãi
chậm trả: Bị đơn đề nghị Tòa án BÁC BỎ TOÀN BỘ các yêu cầu này vì
Bị đơn không có lỗi.
Yêu cầu Tòa án: Đề nghị TAND Quận BT, TP. H xem xét tài liệu, chứng cứ và tuyên:
1. Bác bỏ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Trần Thu Hà.
2. Tuyên bố Nguyên đơn Trần Thu Hà bị mất số tiền đặt cọc 270.000.000 VNĐ do
lỗi vi phạm nghĩa vụ Hợp đồng.
CÂU HỎI 3: CHỨNG CỨ CẦN THU THẬP ĐỂ NỘP CHO TÕA ÁN.
Để chứng minh bà Hà có lỗi và ông Trung không có lỗi (theo lập luận tại Câu 2), cần thu
thập:
1. Chứng cứ về việc thực hiện nghĩa vụ của Ông Trung:
o Lời khai của Bà Phạm Thu Lan (người môi giới) xác nhận ông Trung, bà
Nga và bà Lan đã có mặt tại Văn phòng Công chứng X trong khung giờ đã
hẹn ngày 20/12/2021.
o Lời khai của Bà Phạm Thúy Nga (vợ ông Trung) xác nhận việc cùng ông
Trung đến Văn phòng công chứng.
o Các tin nhắn, email, cuộc gọi của ông Trung gửi bà Hà vào ngày
20/12/2021 để nhắc nhở và xác nhận việc có mặt tại công chứng.
2. Chứng cứ về hành vi chấm dứt hợp đồng của Bà Hà:
o Lời khai của Bà Phạm Thu Lan xác nhận bà Hà yêu cầu trả cọc ngày
15/12/2021.
3. Chứng cứ về việc Bán căn hộ cho bên thứ ba:
o Hợp đồng mua bán căn hộ với ông Nguyễn Thành Sơn ngày 30/12/2021
và Giấy chứng nhận QSDĐ đã sang tên (nếu có) để chứng minh việc ông
Trung đã bán căn hộ cho người khác sau ngày hết hạn ký Hợp đồng với bà
Hà (20/12/2021).
4. Chứng cứ chứng minh năng lực tài chính và thiện chí của Ông Trung:
o Bản sao Sổ đỏ/GCN QSDĐ của căn hộ.
CÂU HỎI 4: CÁC VẤN ĐỀ CẦN PHẢI CHỨNG MINH CỦA VỤ ÁN?
Dựa trên tình tiết bổ sung, vụ án đã chuyển từ tranh chấp lỗi không xuất hiện sang tranh
chấp hiệu lực Hợp đồng đặt cọc do các vấn đề pháp lý nghiêm trọng của căn hộ.
Vấn đề cần
chứng minh Mục đích chứng minh Bên có nghĩa vụ
chứng minh
1. Tính hợp
pháp của Hợp
đồng Đặt cọc
Chứng minh Hợp đồng đặt cọc vô hiệu do vi phạm
quy định về tài sản chung.
(Tài sản
Bị đơn (Ông
Trung và Bà
Nga)
chung)
2. Khả năng
thực hiện Hợp
đồng (Thế
chấp)
3. Lỗi dẫn đến
chấm dứt Hợp
đồng
4. Cơ sở áp
dụng Phạt cọc
và Bồi thƣờng
Nội dung: Bà Nga (đồng sở hữu) không ký kết,
không biết, không đồng ý việc bán căn hộ. Ông Trung
đã tự ý định đoạt tài sản chung.
Chứng minh ông Trung không đủ khả năng pháp lý
để thực hiện Hợp đồng mua bán tại thời hạn cam kết
(20/12/2021).
Nội dung: Tại ngày 20/11/2021 và 20/12/2021, căn
hộ đang thế chấp tại Ngân hàng (theo Công văn
Ngân hàng) và chỉ được giải chấp sau đó rất lâu
(17/12/2022). Ông Trung không thể công chứng Hợp
đồng mua bán mà không có sự đồng ý của Ngân
hàng.
Chứng minh lỗi thuộc về Ông Trung do không có
khả năng pháp lý để bán nhà (Tài sản chung + Thế
chấp) tại thời điểm cam kết.
Nội dung: Việc bà Hà yêu cầu trả cọc ngày
15/12/2021 được coi là hợp lý vì ông Trung đã vi
phạm nghĩa vụ cơ bản (Bán tài sản không bị cản trở).
Chứng minh bà Hà có quyền yêu cầu phạt cọc do lỗi
của ông Trung (bên bán đổi ý/không bán).
Cơ sở pháp lý:
Điều 35, 37
BLDS 2015.
Nguyên đơn (Bà
Hà) (để chứng
minh lỗi của Bị
đơn)
Cơ sở pháp lý:
Điều 320 BLDS
2015 (Nghĩa vụ
của bên thế
chấp).
Nguyên đơn (Bà
Hà)
Cơ sở pháp lý:
Điều 428, 432
BLDS 2015.
Nguyên đơn (Bà
Hà)
Vấn đề cần
chứng minh Mục đích chứng minh Nội dung: Cần chứng minh ông Trung không bán
đƣợc (do lỗi pháp lý của căn hộ) tương đương với
việc đổi ý không bán theo thỏa thuận cọc.
Xuất sang Trang tính
Bên có nghĩa vụ
chứng minh
Cơ sở pháp lý:
Điều 328 BLDS
2015.
CÂU HỎI 5: HƢỚNG XỬ LÝ TIẾP THEO CỦA ANH CHỊ VỚI TƢ CÁCH LÀ
NGƢỜI ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN CỦA ÔNG TRUNG?
Với thông tin ông Nguyễn Hữu Trung đột ngột qua đời ngày 14/9/2023 (trước phiên tòa
29/9/2023), luật sư cần thực hiện các bước sau:
1. Thông báo và Tạm đình chỉ vụ án:
o Hành động: Luật sư phải lập Văn bản thông báo gửi ngay đến TAND
Quận BT, kèm theo Giấy chứng tử của ông Trung.
o Cơ sở pháp lý: Yêu cầu Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ
án theo Điểm a Khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015
(BLTTDS 2015): "Cá nhân là đương sự chết... mà quyền và nghĩa vụ của
họ được thừa kế".
2. Chấm dứt Hợp đồng Ủy quyền và Tƣ vấn Hậu quả:
o Hành động: Hợp đồng ủy quyền giữa luật sư và ông Trung chấm dứt hiệu
lực kể từ ngày ông Trung chết (Khoản 4 Điều 422 và Khoản 3 Điều 568
BLDS 2015).
o Tƣ vấn: Luật sư cần thông báo cho bà Nga (vợ ông Trung) và các người
thừa kế hợp pháp của ông Trung về việc:
Tư cách Bị đơn sẽ được chuyển giao cho ngƣời thừa kế của ông
Trung (sau khi họ chấp nhận thừa kế và nghĩa vụ tài sản).
Quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trung sẽ được chuyển giao. Bà
Nga và các người thừa kế cần làm đơn yêu cầu tiếp tục tham gia
tố tụng theo Điều 215 BLTTDS 2015.
3. Tƣ vấn về Thừa kế Nghĩa vụ:
o Hành động: Luật sư tư vấn cho bà Nga về việc nghĩa vụ trả nợ, phạt cọc
(nếu có) sẽ trở thành nghĩa vụ của di sản của ông Trung.
o Nếu bà Nga và các người thừa kế chấp nhận di sản, họ phải thực hiện
nghĩa vụ trả nợ do ông Trung để lại trong phạm vi di sản. Bà Nga, với tư
cách đồng sở hữu tài sản chung, sẽ là người có trách nhiệm chính trong
việc tham gia giải quyết vụ án để bảo vệ quyền lợi của di sản và tài sản
chung.
ĐỀ 3
Ngày 14/02/2024, chị Hoàng Thị Ngân đến VPLS gặp anh chị và trình bày: chị Ngân kết
hôn với anh Trần Văn Khang theo GCN kết hôn ngày 20/3/2016 tại UBND phường A,
thị xã B, tỉnh C. Ngày 25/4/2017, anh Khang đi công tác ở Hàn Quốc. Ngày 25/8/2017,
anh Khang trở về Việt Nam. Ngày 02/10/2017, chị Ngân sinh cháu Mừng có đăng ký
khai sinh cha là anh Khang.
Kể từ khi anh Khang đi làm xa về, cuộc sống vợ chồng của chị Ngân và anh Khang
thường xuyên mâu thuẫn. Anh Khang nghi ngờ chị Ngân không chung thủy với mình,
ngoại tình với anh Nguyễn Văn Hùng (trước khi kết hôn với anh Khang, chị Ngân và anh
Hùng có tình yêu nam nữ với nhau). Hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, đỉnh điểm
nhất là ngày 18/9/2020, anh Khang đánh chị Ngân nên chị Ngân bề con bỏ về nhà cha mẹ
ruột ở. Một tháng sau đó, anh Khang lại qua xin lỗi và đưa mẹ con chị Ngân về sống
chung. Ngày 05/02/2021, chị Ngân sinh cháu Hoa có đăng ký khai sinh ghi cha là anh
Khang.
Trong quá trình chung sống, chị Ngân và anh Khang tạo lập được 1 căn nhà cấp 4 có diện
tích là 80m2 tại phường A, thị xã B, tỉnh C, xe ô tô hiệu Toyota đang cho thuê, chiếc xe
máy Honda hiệu Vision, tủ lạnh, máy giặt, tivi, bộ bàn ghế bằng gỗ.
Kể từ khi sinh con thứ hai, mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng của chị Ngân và anh
Khang phát sinh nhiều hơn. Anh Khang cho rằng chị Ngân không hết lòng với mình, bí
mật để tiền riêng mà không nói cho anh biết. Anh luôn nghi ngờ chị Ngân ngoại tình, anh
còn nói cháu Mừng không phải con anh với nhiều người và anh nghi ngờ là con của anh
Hùng và anh đã đánh chị Ngân.
Chị Ngân nhận thấy cuộc sống chung của vợ chồng rất ngột ngạt, không có hạnh phúc,
anh Khang không tôn trọng chị, tình cảm vợ chồng không còn. Đến nay, chị Ngân không
còn yêu thương anh Khang nữa nên chị muốn khởi kiện ly hôn với anh Khang, chị muốn
được nuôi 02 con và yêu cầu anh Khang cấp dưỡng nuôi 02 con là 4.000.000 đồng/tháng
cho đến khi 02 con đến tuổi trưởng thành và có việc làm ổn định, tài sản chung là nhà đất,
chị muốn chi đôi theo quy định của pháp luật, các tài sản khác còn lại thì vợ chồng tự
thỏa thuận.
Chị Ngân đang là giáo viên tiểu học nên rất bận. Với các yêu cầu khởi kiện trên đây, chị
đề nghị với anh chị nội dung công việc như sau: Chị ngân sẽ ủy quyền cho anh chị được
toàn quyền thay mặt chị thực hiện thủ tục khỏi kiện tại Tòa án (soạn thảo đơn và chuẩn bị
hồ sơ khởi kiện), toàn quyền thay mặt chị tham gia tố tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp cho chị và các con của chị.
Câu 1 (2 điểm): Anh chị nêu ý kiến nhận xét của anh chị về đề nghị trên của chị Ngân?
Câu 2 (2 điểm): Anh chị hãy xác định các vấn đề cần trao đổi với chị Ngân trước khi
thực hiện công việc đại diện theo ủy quyền?
Tình tiết bổ sung
Tòa án có thẩm quyền đã thụ lý vụ án. Anh chị tham gia tố tụng tại Tòa án với tư cách là
người được ủy quyền theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án, anh Khang đồng ý ly hôn với chị
Ngân vì anh thấy mâu thuẫn của vợ chồng kéo dài không thể hàn gắn được. Về con
chung, anh Khang yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận anh không phải là cha ruột của
cháu Mừng, anh Khang yêu cầu anh và chị Ngân mỗi người nuôi một trẻ, anh Khang đề
nghị được nuôi cháu Hoa, giao cháu Mừng cho chị Ngân nuôi dưỡng, không bên nào
phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào vì cháu Mừng không phải con ruột của anh. Ngoài
ra, anh Khang còn có yêu cầu Tòa án giải quyết định chính, sửa đổi lại thông tin xác định
anh không phải là cha của cháu Mừng ghi trên Giấy khai sinh của cháu Mừng do UBND
phường A, thị xã B, tỉnh C cấp (nơi anh Khang cư trú).
Về căn nhà cấp 4, anh Khang trình bay như sau: Căn nhà đã được Nhà nước cấp
GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở cho vợ chồng anh, tuy nhiên, nguồn gốc đất là do bố
mẹ anh là ông Trần Văn Nam và bà Nguyễn Thị Thủy đã đi tìm đất để mua, giao đất cho
vợ chồng anh ở nhờ, vợ chồng anh chỉ bỏ tiền ra xây dựng căn nhà cấp 4 trên đất. Số tiền
xây dựng nhà là 150 triệu đồng, anh có vay của chị anh là chị Trần Thị Hòa số tiền 60
triệu đồng. Anh đề nghị Tòa án triệu tập bố mẹ và chị của anh là người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan. Đối với tài sản chung khác, anh Khang thống nhất để vợ chồng tự
thỏa thuận phân chia và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Trần Văn Nam, bà Nguyễn Thị Thủy đã nộp đơn yêu cầu độc lập đến Tòa án công
nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của ông bà. Tòa án đã thụ lý yêu cầu độc lập theo quy
định. Ông Nam, bà Thủy đã ủy quyền cho Luật sư A tham gia tố tụng.
Tại bản tự khai, Luật sư A tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền
cho ông Nam, bà Thủy trình bày ý kiến sau: Về yêu cầu ly hôn, nuôi con, thỏa thuận
phân chia tài sản chung của vợ chồng anh Khang, chị Ngân, ông Nam và bà Thủy đồng ý.
Đối với yêu cầu sửa đổi lại thông tin xác định anh Khang không phải cha đẻ của cháu
Mừng, ông bà không đồng ý vì yêu cầu này của anh Khang không có cơ sở. Đối với yêu
cầu độc lập, đề nghị Tòa công nhận 80m2 đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp cho ông bà.
Nếu vợ chồng anh Khang không hoàn trả được đất thì trả lại tiền cho ông bà theo giá thị
trường hiện nay.
Câu 3 (2,0 điểm): Là người đại diện theo ủy quyền của ông Nam, bà Thủy, theo anh chị
Luật sư A cần phải thu thập tài liệu, chứng cứ gì?
Câu 4 (2,0 điểm): Nêu ý kiến nhận xét của anh chị về nội dung bản tự khai trên đây của
người đại diện theo ủy quyền của ông Nam, bà Thủy?
Tình tiết bổ sung
Ngày 04/4/2024, chị Ngân gặp anh chị và tiếp tục trình bày: Anh Khang vì ghen tuông vô
cớ nên đã nhiều lần có lời lẽ xúc phạm danh dự của chị và đánh chị ở nơi đông người.
Chị thừa nhận trước khi kết hôn, chị và anh Hùng là 2 người yêu nhau nhiều năm. Tuy
nhiên, sau khi kết hôn, chị một mực chung thủy với anh Khang. Vì anh Khang nghi ngờ
cháu Mừng không phải con anh nên trước khi yêu cầu ly hôn, chị đã yêu cầu anh Khang
đi làm xét nghiệm ADN để xác định mối quan hệ huyết thống cha con giữa anh Khang và
cháu Mừng nhưng anh Khang không thực hiện việc này. Chị đề nghị Tòa án ra quyết
định bắt buộc anh Khang phải đi làm xét nghiệm ADN để xác định huyết thống cha con.
Ngoài ra, chị có yêu cầu khởi kiện bổ sung là buộc anh Khang phải xin lỗi công khai,
buộc anh Khang phải bồi thường thiệt hại cho chị do đã có hành vi xúc phạm danh dự, uy
tín, nhân phẩm của chị theo quy định của pháp luật.
Câu 5 (2,0 điểm): Là người đại diện cho chị Ngân, anh chị hãy nêu ý kiến nhận xét về
các yêu cầu trên đây của chị Ngân? Theo anh chị Tòa án có chấp nhận các yêu cầu trên
của chị Ngân không? Vì sao?
ĐÁP ÁN
Chào bạn, tôi sẽ giúp bạn phân tích và tư vấn chi tiết ĐỀ 3 về vụ án ly hôn, quyền nuôi
con, phân chia tài sản, và tranh chấp huyết thống.
CÂU HỎI 1: NHẬN XÉT VỀ ĐỀ NGHỊ ỦY QUYỀN CỦA CHỊ NGÂN?
Trả lời:
Đề nghị ủy quyền của chị Ngân là không thể đƣợc chấp nhận toàn bộ theo quy định
của pháp luật tố tụng dân sự và hôn nhân gia đình.
Phân tích:
1. Về thủ tục ly hôn (Yêu cầu cá nhân):
o Việc ly hôn là vấn đề nhân thân (quyết định chấm dứt quan hệ hôn nhân),
không thể ủy quyền toàn bộ.
o Chị Ngân phải trực tiếp tham gia các giai đoạn tố tụng quan trọng, đặc
biệt là phiên hòa giải và phiên tòa sơ thẩm (nếu hòa giải không thành) để
Tòa án xác định chính xác ý chí ly hôn và tình trạng hôn nhân.
o Luật sư không thể thay mặt chị Ngân bày tỏ ý chí ly hôn.
2. Về quyền nuôi con (Quyền của cha/mẹ):
o Quyền quyết định nuôi con cũng là một vấn đề mang tính nhân thân và
phụ thuộc vào tình cảm, năng lực thực tế của cha mẹ.
o Luật sư có thể đại diện cho chị Ngân để trình bày lập luận, chứng cứ tại
Tòa án nhưng không thể thay mặt chị Ngân đưa ra quyết định cuối cùng về
việc nuôi con tại Tòa.
3. Về tài sản chung và cấp dƣỡng (Vấn đề tài sản):
o Đối với các vấn đề về tài sản (phân chia nhà đất, xe cộ, yêu cầu cấp
dưỡng), Luật sư có thể đƣợc ủy quyền toàn quyền để tham gia tố tụng,
đưa ra ý kiến, và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chị Ngân.
Kết luận: Luật sư cần giải thích cho chị Ngân rõ ràng về giới hạn của việc ủy quyền:
Luật sư có thể đại diện chị thực hiện mọi hành vi tố tụng liên quan đến tài sản và thủ
tục, nhưng chị Ngân vẫn phải trực tiếp tham gia để Tòa án làm rõ ý chí ly hôn và
quyền nuôi con.
CÂU HỎI 2: CÁC VẤN ĐỀ CẦN TRAO ĐỔI VỚI CHỊ NGÂN TRƢỚC KHI
THỰC HIỆN CÔNG VIỆC ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN?
Luật sư cần làm rõ 05 vấn đề cốt lõi sau:
1. Về Cơ sở chấm dứt hôn nhân và Bằng chứng bạo lực:
o Mức độ mâu thuẫn: Cần xác định mâu thuẫn giữa chị Ngân và anh Khang
có thuộc trường hợp trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục
đích hôn nhân không đạt đƣợc không (Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia
đình 2014 - LHGĐ).
o Bạo lực gia đình: Yêu cầu chị Ngân cung cấp bằng chứng cho việc anh
Khang đánh chị ngày 18/9/2020 (ví dụ: Biên bản công an, giấy chứng nhận
y tế, ảnh chụp vết thương) để tăng cơ sở được ly hôn.
2. Vấn đề nghi vấn huyết thống của Cháu Mừng:
o Thời gian mang thai: Cháu Mừng sinh ngày 02/10/2017, anh Khang về
nước ngày 25/8/2017. Khoảng thời gian chỉ 38 ngày là không thể cho
một thai kỳ bình thường. Cần hỏi rõ chị Ngân về thời điểm mang thai, và
thái độ của chị đối với nghi ngờ của anh Khang (chuẩn bị sẵn sàng cho việc
xét nghiệm ADN).
3. Về Tài sản chung (Nhà đất):
o Nguồn gốc đất: Mặc dù GCNQSDĐ đứng tên hai vợ chồng, cần hỏi rõ về
việc bố mẹ anh Khang đã mua đất và cho ở nhờ như thế nào. Hỏi xem chị
Ngân có bằng chứng chứng minh vợ chồng đã bỏ tiền mua đất (một phần)
hay không, để đối phó với yêu cầu độc lập của bố mẹ chồng (Tình tiết bổ
sung sau).
o Giá trị tài sản: Yêu cầu chị Ngân cung cấp ước tính giá trị thị trường của
căn nhà cấp 4 và 80m² đất.
4. Về Chiếc xe ô tô:
o Xe ô tô hiệu Toyota đang cho thuê. Cần xác định giá trị, ai đang quản lý
Hợp đồng thuê, và doanh thu từ việc cho thuê để tính vào tài sản chung
cần phân chia.
5. Về Yêu cầu cấp dƣỡng:
o Yêu cầu chị Ngân cung cấp thông tin về thu nhập thực tế của anh Khang
(nếu biết) để làm căn cứ pháp lý cho yêu cầu cấp dưỡng 4.000.000
đồng/tháng (mức cấp dưỡng phải căn cứ vào khả năng kinh tế của người
cấp dưỡng và nhu cầu thực tế của con).
CÂU HỎI 3: LUẬT SƢ A CẦN PHẢI THU THẬP TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ GÌ?
Với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của ông Nam, bà Thủy (bố mẹ anh Khang),
Luật sư A cần thu thập các tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyền sử dụng đất là của
ông bà và vợ chồng Khang-Ngân chỉ sở hữu căn nhà trên đất.
1. Chứng cứ về Nguồn gốc tạo lập Quyền sử dụng đất (QSDĐ):
o Giấy tờ, Biên nhận mua bán, chuyển nhượng đất hoặc giao đất của cơ
quan có thẩm quyền cho ông Nam/bà Thủy (nếu đất được cấp).
o Chứng từ tài chính (Sổ sách, Giấy biên nhận, Sổ tiết kiệm rút ra) chứng
minh ông Nam, bà Thủy là người bỏ tiền mua, nhận chuyển nhƣợng
QSDĐ.
o Lời khai của ngƣời làm chứng (người bán đất, người môi giới, hàng xóm)
xác nhận ông bà là người tìm mua và thanh toán tiền đất, và cho vợ chồng
Khang-Ngân ở nhờ.
2. Chứng cứ về Quyền sở hữu Nhà ở (Tài sản riêng của vợ chồng):
o Hợp đồng vay tiền 60 triệu đồng của chị Trần Thị Hòa (chị anh Khang)
với vợ chồng Khang-Ngân, chứng minh đây là nguồn tiền xây nhà của vợ
chồng.
o Hóa đơn, chứng từ mua vật liệu xây dựng, Hợp đồng thuê thợ để chứng
minh số tiền 150 triệu đồng là chi phí xây dựng do Khang-Ngân bỏ ra.
3. Chứng cứ về việc Cấp GCNQSDĐ:
o Bản sao GCNQSDĐ đứng tên Khang-Ngân và các Hồ sơ xin cấp GCN để
tìm hiểu lý do vì sao đất của bố mẹ lại được cấp cho con (ví dụ: có Văn bản
cam kết cho tặng/cho mượn đất để xây nhà).
o Lời trình bày của ông Nam/bà Thủy về việc đồng ý để con đứng tên trên
GCN nhưng chỉ là "đứng tên hộ" để thuận tiện xây nhà/vay vốn.
CÂU HỎI 4: NHẬN XÉT VỀ NỘI DUNG BẢN TỰ KHAI CỦA NGƢỜI ĐẠI DIỆN
THEO ỦY QUYỀN CỦA ÔNG NAM, BÀ THỦY?
Trả lời:
Nội dung bản tự khai của Luật sư A có một số điểm chƣa hợp lý và vƣợt quá phạm vi
đại diện cho thân chủ (Ông Nam, Bà Thủy).
1. Vƣợt quá phạm vi đại diện:
o Nội dung: "Về yêu cầu ly hôn, nuôi con, thỏa thuận phân chia tài sản
chung của vợ chồng anh Khang, chị Ngân, ông Nam và bà Thủy đồng ý."
o Nhận xét: Ông Nam, bà Thủy không phải là đƣơng sự chính trong quan
hệ ly hôn, nuôi con. Việc đại diện theo ủy quyền phát biểu ý kiến "đồng ý"
hoặc "không đồng ý" về việc ly hôn và nuôi con là vƣợt quá thẩm quyền
của người đại diện theo ủy quyền. Những vấn đề này thuộc về quyền nhân
thân của anh Khang và chị Ngân.
2. Lập luận không có cơ sở đối với vấn đề huyết thống:
o Nội dung: "Đối với yêu cầu sửa đổi lại thông tin xác định anh Khang
không phải cha đẻ của cháu Mừng, ông bà không đồng ý vì yêu cầu này
của anh Khang không có cơ sở."
o Nhận xét: Việc xác định huyết thống phải dựa trên chứng cứ khoa học
(xét nghiệm ADN). Việc ông Nam, bà Thủy phủ nhận yêu cầu này bằng
cách nói "không có cơ sở" là thiếu thuyết phục. Luật sư nên tư vấn cho
thân chủ không bình luận về vấn đề huyết thống vì nó không liên quan
trực tiếp đến yêu cầu độc lập về đất đai.
3. Yêu cầu độc lập về đất đai:
o Nội dung: "Đề nghị Tòa công nhận 80m² đất thuộc quyền sử dụng hợp
pháp cho ông bà. Nếu vợ chồng anh Khang không hoàn trả được đất thì trả
lại tiền cho ông bà theo giá thị trường hiện nay."
o Nhận xét: Yêu cầu này là hợp lý và đúng thẩm quyền theo Điều 198 Bộ
luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2015 (yêu cầu độc lập của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan). Việc đưa ra yêu cầu hoàn trả tiền theo giá thị
trƣờng là một hình thức yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại thay thế và được
Tòa án chấp nhận xem xét giải quyết chung.
CÂU HỎI 5: NHẬN XÉT VỀ CÁC YÊU CẦU BỔ SUNG CỦA CHỊ NGÂN? TÕA
ÁN CÓ CHẤP NHẬN KHÔNG?
1. Yêu cầu Tòa án buộc anh Khang phải đi làm xét nghiệm ADN
Nhận xét: Yêu cầu này có cơ sở vì đây là chứng cứ khoa học duy nhất để giải
quyết tranh chấp huyết thống.
Tòa án có chấp nhận không?
o Tòa án sẽ ra Quyết định trƣng cầu giám định (xét nghiệm ADN) theo
yêu cầu của chị Ngân (Điều 105, 107 BLTTDS 2015).
o Tuy nhiên, Tòa án không có quyền ra quyết định "bắt buộc" anh Khang
phải thực hiện xét nghiệm ADN. Tòa án không thể cƣỡng chế thân thể
đương sự.
o Hậu quả từ chối: Nếu anh Khang từ chối thực hiện xét nghiệm ADN mà
không có lý do chính đáng, Tòa án có thể xem xét:
Căn cứ vào Điều 107 BLTTDS 2015, Tòa án sẽ lập biên bản về việc
từ chối này.
Căn cứ vào Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP, nếu có chứng cứ khác
chứng minh mối quan hệ (như thời gian chung sống, lời khai, GKS)
và anh Khang từ chối giám định, Tòa án có thể coi lời khai của chị
Ngân là đúng sự thật (tức là công nhận cháu Mừng là con chung
của anh Khang).
2. Yêu cầu khởi kiện bổ sung: Buộc anh Khang phải xin lỗi công khai và bồi thƣờng
thiệt hại do xúc phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm
Nhận xét: Yêu cầu này hoàn toàn có cơ sở pháp lý vì hành vi của anh Khang đã
vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ
(Điều 19 LHGĐ 2014) và vi phạm quyền nhân thân của chị Ngân.
Tòa án có chấp nhận không?
o Thẩm quyền: Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng này trong cùng vụ án ly hôn (vì cùng đương sự và liên
quan đến quan hệ hôn nhân).
o Bồi thƣờng: Nếu chị Ngân chứng minh được hành vi xúc phạm (lời lẽ xúc
phạm, đánh đập ở nơi đông người) và thiệt hại:
Thiệt hại về tinh thần: Tòa án có thể chấp nhận buộc anh Khang
bồi thường khoản tiền tổn thất tinh thần cho chị Ngân (tối đa
không quá 10 lần mức lương cơ sở) và buộc xin lỗi công khai (Điều
592 BLDS 2015).
Thiệt hại về danh dự/nhân phẩm: Việc xúc phạm danh dự, nhân
phẩm là một căn cứ cho thấy hôn nhân đã trầm trọng và Tòa án
phải xem xét để chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ngân.
ĐỀ 4
Công ty cổ phần đầu tư Bình An (công ty Bình An) có trụ sở tại Quận 1, TP. HCM dự
định vay vốn Ngân hàng TMCP X (Ngân hàng X), chi nhánh tại Quận 1, TP. HCM.
Hiện nay công ty Bình An có nhu cầu về vốn khoảng 10 tỷ đồng. Công ty dự định sử
dụng căn nhà thuộc sở hữu của vợ chồng ông Long, giám đốc công ty Bình An làm tài
sản bảo đảm cho khoản vay này. Ngân hàng đã đồng ý phương án này.
Các bên dự định tiến hành ký kết 02 hợp đồng gồm hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng X
và Công ty Bình An, hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng X và vợ chồng ông Long.
Các bên đồng ý rằng: Trong trường hợp công ty Bình An vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và
lãi vay, ngân hàng X được quyền khởi kiện cả bên vay và bên bảo đảm ra Trung tâm
trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC). Ngân hàng X hỏi luật sư cách thức để thực hiện.
Câu hỏi 1 (1,5 điểm): Anh chị hãy cho biết ý kiến pháp lý về mong muốn giải quyết
tranh chấp trong các hợp đồng trên?
Câu hỏi 2 (2,5 điểm): Anh chị hãy dự thảo thỏa thuận trọng tài trong 2 hợp đồng trên?
Tình tiết bổ sung
Ngày 01/5/2021, công ty Bình An ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng X mà không có
sự tư vấn của luật sư. Trong hợp đồng tín dụng các bên không có thỏa thuận phương thức
giải quyết tranh chấp. Ngoài hợp đồng tín dụng, ngân hàng X còn ký kết hợp đồng thế
chấp bằng tài sản với vợ chồng ông Long và hợp đồng thế chấp cũng không có thỏa
thuận phương thức giải quyết tranh chấp.
Thực hiện hợp đồng này, ngân hàng X đã giải ngân 10 tỷ đồng cho công ty Bình An. Đến
ngày đáo hạn, công ty Bình An không trả nợ gốc và lãi vay như thỏa thuận trong hợp
đồng. Ngân hàng X đã nhiều lần yêu cầu công ty Bình An thực hiện nhưng công ty vẫn
không thực hiện. Để giữ gìn quan hệ làm ăn, ngân hàng X mong muốn giải quyết bằng
hòa giải thương mại tại Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC).
Câu hỏi 3 (2,5 điểm): Anh chị hãy thực hiện các thủ tục để giúp khách hàng thực hiện
mong muốn giải quyết bằng hòa giải thương mại?
Tình tiết bổ sung
Sau nhiều lần thương lượng nhưng không thống nhất được với nhau về cách thức giúp
giải quyết bằng hòa giải. Ngân hàng X và công ty Bình An đã thống nhất giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài theo thỏa thuận được xác lập: "Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín
dụng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam
(VIAC) theo quy tắc trọng tài của Trung tâm này, địa điểm trọng tài tại TP. HCM." Bên
công ty Bình An do Phó giám đốc ký. Sau đó ngân hàng X đã làm đơn khởi kiện ra
VIAC và trọng tài đang thụ lý giải quyết.
Phiên họp của HĐTT diễn ra vào ngày 01/5/2023, trong phiên họp này, bị đơn (công ty
Bình An) đề nghị HĐTT triệu tập vợ chồng ông Long với tư cách là bên có quyền và
nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng trọng tài.
Câu hỏi 4 (2,0 điểm): Theo anh chị, HĐTT có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của Bị đơn
hay không?
Tình tiết bổ sung
Trước phiên họp giải quyết tranh chấp, các bên không có phản đối về thẩm quyền của
HĐTT. Tuy nhiên, tại phiên họp của HĐTT, Bị đơn phản đối về thẩm quyền của HĐTT
về việc người ký thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền, nhưng HĐTT không chấp
nhận. Sau khi có phán quyết của HĐTT bị đơn đã có đơn yêu cầu Tòa án hủy phán quyết
trọng tài với lý do người ký kết thỏa thuận trọng tài phía công ty Bình An là phó giám
đốc công ty không phải là người có thẩm quyền và không có ủy quyền của giám đốc nên
thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Tại phiên họp của Hội đồng xét đơn, ngân hàng X không
cung cấp được giấy ủy quyền của giám đốc công ty Bình An và cũng không cung cấp
được bất kỳ tài liệu gì thể hiện người đại diện hợp pháp của công ty thừa nhận việc ký
kết hợp đồng nêu trên hoặc biết mà không phản đối.
Câu hỏi 5 (1,5 điểm): Theo anh chị, Hội đồng xét đơn có cơ sở để chấp nhận yêu cầu
hủy phán quyết trọng tài không?
ĐÁP ÁN
Chào bạn, tôi sẽ giúp bạn phân tích và tư vấn chi tiết ĐỀ 4 liên quan đến hợp đồng tín
dụng, thế chấp, và thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
CÂU HỎI 1 (1,5 điểm): Ý KIẾN PHÁP LÝ VỀ MONG MUỐN GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP TRONG CÁC HỢP ĐỒNG TRÊN?
Trả lời:
Mong muốn của Ngân hàng X về việc khởi kiện cả bên vay (Công ty Bình An) và bên
bảo đảm (Vợ chồng Ông Long) ra Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) là
có cơ sở pháp lý để thực hiện, nhưng cần phải thỏa thuận cẩn thận để đảm bảo ràng
buộc tất cả các bên.
1. Về thẩm quyền Trọng tài:
Tranh chấp Hợp đồng Tín dụng (Ngân hàng X - Công ty Bình An): Đây là
tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại. Việc giải quyết bằng Trọng tài là
hoàn toàn hợp pháp (Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010 - LTTM).
Tranh chấp Hợp đồng Thế chấp (Ngân hàng X - Vợ chồng Ông Long): Đây là
giao dịch dân sự bảo đảm cho nghĩa vụ thương mại. Tranh chấp này cũng thuộc
thẩm quyền giải quyết của Trọng tài (Điều 2 LTTM).
2. Về tính đa bên và hiệu lực Thỏa thuận Trọng tài:
Nguyên tắc: Trọng tài chỉ có thẩm quyền với các bên đã thỏa thuận trọng tài
bằng văn bản (Điều 5 LTTM).
Yêu cầu: Để Ngân hàng X có thể khởi kiện tất cả các bên trong một vụ kiện
Trọng tài duy nhất, thỏa thuận trọng tài cần:
o Được ký kết hoặc tham chiếu và được chấp thuận bởi tất cả 03 bên (Ngân
hàng X, Công ty Bình An, Vợ chồng Ông Long).
o Nên được đưa vào Phụ lục hoặc một Thỏa thuận Trọng tài riêng ràng
buộc cả 03 bên, hoặc đưa vào cả 02 Hợp đồng với nội dung có sự liên kết
rõ ràng.
CÂU HỎI 2 (2,5 điểm): DỰ THẢO THỎA THUẬN TRỌNG TÀI TRONG 2 HỢP
ĐỒNG TRÊN?
Để đảm bảo Ngân hàng X có thể khởi kiện cả bên vay và bên bảo đảm tại VIAC, cần dự
thảo thỏa thuận liên kết hai Hợp đồng:
1. Trong Hợp đồng Tín dụng (Ngân hàng X & Công ty Bình An):
ĐIỀU X: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
1. Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến Hợp đồng Tín dụng này và
Hợp đồng Thế chấp số [Số HĐTC] (ký ngày [Ngày]) giữa Ngân hàng X
và Vợ chồng Ông Long, sẽ được giải quyết bằng Trọng tài.
2. Các bên thống nhất giải quyết tranh chấp tại Trung tâm Trọng tài Quốc
tế Việt Nam (VIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này.
3. Địa điểm Trọng tài: Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Chung thẩm: Phán quyết của Hội đồng Trọng tài là chung thẩm và ràng
buộc các bên.
2. Trong Hợp đồng Thế chấp (Ngân hàng X & Vợ chồng Ông Long):
ĐIỀU Y: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
1. Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến Hợp đồng Thế chấp này và
Hợp đồng Tín dụng số [Số HĐTD] (ký ngày [Ngày]) giữa Ngân hàng X
và Công ty Bình An, sẽ được giải quyết bằng Trọng tài.
2. Các bên thống nhất giải quyết tranh chấp tại Trung tâm Trọng tài Quốc
tế Việt Nam (VIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này.
3. Thẩm quyền: Các bên đồng ý rằng nếu Ngân hàng X lựa chọn khởi kiện
cả Bên vay (Công ty Bình An) và Bên thế chấp, tất cả các tranh chấp sẽ
được giải quyết trong cùng một vụ kiện trọng tài tại VIAC.
4. Chung thẩm: Phán quyết của Hội đồng Trọng tài là chung thẩm và ràng
buộc các bên.
CÂU HỎI 3 (2,5 điểm): THỰC HIỆN CÁC THỦ TỤC ĐỂ GIÖP KHÁCH HÀNG
GIẢI QUYẾT BẰNG HÕA GIẢI THƢƠNG MẠI?
Context: Hai Hợp đồng (Tín dụng và Thế chấp) không có thỏa thuận giải quyết tranh
chấp. Ngân hàng X muốn hòa giải tại VMC.
Vì không có thỏa thuận hòa giải ban đầu, các bên cần phải lập Thỏa thuận Hòa giải theo
quy định của Luật Hòa giải thương mại 2017.
Thủ tục cần thực hiện:
1. Lập Thỏa thuận Hòa giải (Điều 15 Luật Hòa giải thƣơng mại):
o Ngân hàng X cần liên hệ và đề xuất với Công ty Bình An và Vợ chồng Ông
Long ký Văn bản thỏa thuận hòa giải (Ad-hoc).
o Văn bản này cần ghi rõ:
Tên các bên tham gia hòa giải (Ngân hàng X, Công ty Bình An, Vợ
chồng Ông Long).
Nội dung tranh chấp (Vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi vay theo
Hợp đồng Tín dụng và Thế chấp).
Quyết định chọn Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC).
2. Chuẩn bị Đơn yêu cầu Hòa giải (Điều 17 Luật Hòa giải thƣơng mại):
o Ngân hàng X chuẩn bị Đơn yêu cầu Hòa giải gửi đến VMC.
o Đơn phải bao gồm: Thông tin các bên, tóm tắt tranh chấp, yêu cầu cụ thể
(ví dụ: yêu cầu Bình An thanh toán nợ gốc, lãi, và Ông Long/Vợ chấp
thuận xử lý tài sản thế chấp).
3. Nộp hồ sơ cho VMC:
o Nộp Đơn yêu cầu Hòa giải và Thỏa thuận Hòa giải cho VMC.
4. VMC thụ lý và chỉ định Hòa giải viên:
o VMC thụ lý hồ sơ.
o VMC sẽ thông báo cho các bên và tiến hành thủ tục chỉ định Hòa giải viên
theo Quy tắc hòa giải của Trung tâm (trừ khi các bên đã thỏa thuận khác).
5. Tiến hành Hòa giải:
o Hòa giải viên tiến hành các buổi hòa giải để các bên tự nguyện thỏa thuận.
CÂU HỎI 4 (2,0 điểm): HĐTT CÓ CƠ SỞ ĐỂ CHẤP NHẬN YÊU CẦU CỦA BỊ
ĐƠN HAY KHÔNG?
Trả lời:
Hội đồng Trọng tài (HĐTT) không có cơ sở pháp lý để buộc (triệu tập bắt buộc) Vợ
chồng Ông Long tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
1. Về thẩm quyền Trọng tài đối với Ông Long và Vợ:
Căn cứ: Thẩm quyền Trọng tài chỉ dựa trên thỏa thuận trọng tài bằng văn bản.
Phân tích:
o Hợp đồng Tín dụng gốc không có thỏa thuận trọng tài.
o Hợp đồng Thế chấp gốc không có thỏa thuận trọng tài.
o Thỏa thuận trọng tài ad-hoc sau này chỉ đƣợc ký giữa Ngân hàng X và
Công ty Bình An về Hợp đồng Tín dụng.
o Vợ chồng Ông Long không phải là bên ký kết thỏa thuận trọng tài mới.
2. Về tham gia tố tụng của Ngƣời thứ ba:
Cơ sở pháp lý: Theo Điều 12 LTTM, người thứ ba (Vợ chồng Ông Long) có
quyền tham gia tố tụng Trọng tài nếu:
o Tranh chấp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ.
o Được sự đồng ý của họ (Vợ chồng Ông Long).
o Được sự đồng ý của các bên tranh chấp (Ngân hàng X và Công ty Bình
An).
Kết luận: Vì không có thỏa thuận trọng tài ràng buộc Ông Long và Vợ, và không
có thông tin về sự đồng ý tham gia tự nguyện của họ hoặc sự đồng ý của Ngân
hàng X, HĐTT không có thẩm quyền triệu tập hoặc đưa họ vào vụ án một cách
bắt buộc.
CÂU HỎI 5 (1,5 điểm): HỘI ĐỒNG XÉT ĐƠN CÓ CƠ SỞ ĐỂ CHẤP NHẬN YÊU
CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI KHÔNG?
Trả lời:
Có. Hội đồng xét đơn của Tòa án có cơ sở pháp lý để chấp nhận yêu cầu hủy phán
quyết trọng tài.
Cơ sở pháp lý:
1. Căn cứ hủy: Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài dựa trên căn cứ: Thỏa thuận
trọng tài vô hiệu do người ký kết không có thẩm quyền (Điểm a Khoản 2 Điều
68 LTTM).
2. Đánh giá thẩm quyền ngƣời ký:
o Người ký thỏa thuận trọng tài là Phó giám đốc Công ty Bình An (CTCP),
không phải là người đại diện theo pháp luật (Giám đốc hoặc Chủ tịch
HĐQT).
o Việc ký kết thỏa thuận trọng tài thuộc nhóm giao dịch vƣợt quá thẩm
quyền của người đại diện (trừ khi có ủy quyền).
3. Thiếu bằng chứng về ủy quyền/phê chuẩn:
o Ngân hàng X (bên đối tác) không cung cấp đƣợc giấy ủy quyền của Giám
đốc hoặc bất kỳ tài liệu nào chứng minh việc Giám đốc biết, chấp nhận
hoặc không phản đối việc ký kết.
4. Kết luận theo Án lệ:
o Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP (Khoản 4 Điều 3),
trong trường hợp người ký thỏa thuận không phải người đại diện theo pháp
luật và không có giấy ủy quyền, nếu người đại diện theo pháp luật của công
ty không biết và không phản đối thì thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực.
o Tuy nhiên, khi Ngân hàng X (bên yêu cầu bảo vệ hiệu lực) không chứng
minh đƣợc sự ủy quyền, sự phê chuẩn sau này, hoặc sự chấp thuận của
người đại diện hợp pháp, thì thỏa thuận trọng tài có nguy cơ bị tuyên vô
hiệu.
o Do thỏa thuận trọng tài bị coi là vô hiệu, đây là căn cứ hủy hợp pháp theo
quy định.
Vì vậy, Hội đồng xét đơn sẽ chấp nhận yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài.
ĐỀ 5
Ngày 29/1/2020, Công ty TNHH Saki (công ty Saki) và CTCP Del (công ty Del) ký hợp
đồng về việc công ty Saki cho thuê các thiết bị xây dựng như giàn giáo, giáo nêm, bao
che, phụ kiện giàn giáo và các thiết bị phục vụ thi công khác. Hợp đồng có thời hạn 3
năm kể từ ngày ký. Hợp đồng có một số thỏa thuận đáng chú ý như sau:
(i) Giá trị thuê bằng số lượng thuê x đơn giá thuê x số ngày thuê. Tiền thuê được tính
hàng ngày và ngày kết thúc là ngày cuối cùng của tháng. Chậm thanh toán phải chịu lãi
chậm trả là 0,05%/ngày. Nếu việc chậm thanh toán vượt quá 30 ngày, công ty Saki có
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và công ty Del phải chịu phạt vi 8% giá trị hợp
đồng/tổng giá trị đơn hàng, đền bù toàn bộ thiệt hại do việc chậm trễ thanh toán do công
ty Del gây ra.
(ii) Công ty Saki có quyền từ chối nhận lại hàng bị hư hỏng nếu không sửa chữa được
hoặc có thể sửa chữa được nhưng công ty Del từ chối sửa chữa. Công ty Del phải bồi
thường mất mát hoặc hư hỏng nhưng không sửa chữa theo giá trị còn lại của tài sản thuê.
Công ty Del phải thanh toán cho công ty Saki toàn bộ số tiền bồi thường trong thời hạn
30 ngày kể từ ngày công ty Saki xác nhận tài sản thuê bị mất mát hoặc hư hỏng nhưng
không sửa chữa. Nếu sau 30 ngày, công ty Del không thanh toán đủ cho công ty Saki thì
công ty Saki vẫn tính tiền thuê đối với số hàng bị mất.
(iii) Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng trước hết được giải quyết bằng hòa giải. Trong
trường hợp không hòa giải được thì sẽ giải quyết tại Trung tâm trọng tài quốc tế Việt
Nam, tại thành phố Hồ Chí Minh theo quy tắc tố tụng trọng tài của ICC.
Thực hiện hợp đồng, bước sang năm 2022, công ty Del đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Trong biên bản đối chiếu công nợ ngày 30/9/2022, công ty Del còn phải thanh toán cho
công ty Saki số tiền là 6 tỷ đồng. Ngoài ra, công ty Del còn phải bồi thường tài sản thuê
do làm mất mát số tiền 385 triệu đồng.
Các bên vẫn đang tiếp tục thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, công ty Saki muốn giải quyết
dứt điểm số tiền nợ và tiền bồi thường thiệt hại theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày
30/9/2022 là yêu cầu công ty Del thanh toán tiền nợ gốc 6 tỷ, tiền lãi phát sinh theo lãi
suất 0,05%/ngày và tiền bồi thường thiệt hại số tiền là 385 triệu, tiền lãi phát sinh do
chậm trả tiền bồi thường thiệt hại theo lãi suất 0,05%/ngày. Công ty Del không thực hiện
được nghĩa vụ trả tiền, tranh chấp phát sinh giữa các bên. Công ty Saki đến nhờ luật sư tư
vấn để bảo vệ quyền lợi cho công ty. (Thời điểm tư vấn là tháng 3/2023).
Câu hỏi 1 (1,5 điểm): Anh chị thu thập các thông tin, tài liệu gì để phục vụ việc tư vấn?
Câu hỏi 2 (2,5 điểm): Khách hàng hỏi luật sư về các yêu cầu đưa ra cho công ty Del có
phù hợp với pháp luật không?
Tình tiết bổ sung
Tranh chấp phát sinh giữa các bên, công ty Saki có mong muốn khởi kiện đến cơ quan tài
phán có thẩm quyền.
Câu hỏi 3 (2,0 điểm): Anh, chị hãy nhận xét về thỏa thuận trọng tài được ký kết giữa các
bên và cơ quan tài phán nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp?
Tình tiết bổ sung
Các bên mong muốn giải quyết tại một trung tâm trọng tài để thuận lợi hơn trong quá
trình giải quyết tranh chấp.
Câu hỏi 4 (2,0 điểm): Anh, chị hãy soạn thảo thỏa thuận trọng tài nằm ngoài hợp đồng
cho các bên? Tinh tiết bổ sung
Giả sử các bên thống nhất thỏa thuận trung tâm trọng tài thương mại Y có thẩm quyền
giải quyết tranh chấp.
Câu hỏi 5 (2,5 điểm): Anh, chị hãy soạn thảo đơn khởi kiện tại trọng tài?
ĐÁP ÁN
Chào bạn, tôi sẽ giúp bạn phân tích và tư vấn chi tiết ĐỀ 5 về tranh chấp hợp đồng thuê
thiết bị xây dựng và các yêu cầu khởi kiện.
CÂU HỎI 1 (1,5 điểm): ANH CHỊ THU THẬP CÁC THÔNG TIN, TÀI LIỆU GÌ
ĐỂ PHỤC VỤ VIỆC TƢ VẤN?
Để tư vấn và bảo vệ quyền lợi cho Công ty Saki, cần thu thập các thông tin và tài liệu sau:
1. Về Cơ sở Pháp lý của Quan hệ Hợp đồng:
o Hợp đồng thuê thiết bị xây dựng số [Số HĐ] ngày 29/1/2020 và các phụ
lục, đơn hàng đi kèm (để xác định tổng giá trị hợp đồng/tổng giá trị đơn
hàng làm căn cứ tính phạt vi phạm 8%).
o Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty Saki và Công ty
Del (để xác định tư cách pháp lý và địa chỉ).
2. Về Công nợ và Vi phạm:
o Biên bản đối chiếu công nợ ngày 30/9/2022 (xác nhận nợ gốc tiền thuê 6
tỷ VNĐ).
o Các Hóa đơn/Chứng từ về tiền thuê hàng tháng (để xác định chính xác
ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán).
o Các chứng từ thanh toán đã thực hiện của Công ty Del (nếu có).
o Các Văn bản/Email Công ty Saki đã gửi yêu cầu thanh toán.
3. Về Bồi thƣờng Tài sản mất mát/Hƣ hỏng:
o Biên bản kiểm kê/Xác nhận mất mát tài sản thuê giữa hai bên (xác nhận
số tiền bồi thường 385 triệu VNĐ).
o Chứng từ/Văn bản xác định giá trị còn lại của tài sản bị mất mát/hư hỏng
(theo thỏa thuận tại Khoản ii).
o Các Văn bản/Email yêu cầu bồi thường thiệt hại gửi Công ty Del.
4. Về Thẩm quyền giải quyết tranh chấp:
o Toàn bộ các thƣ từ, văn bản liên quan đến thủ tục Hòa giải đã thực hiện
(nếu có) để chứng minh điều kiện khởi kiện.
CÂU HỎI 2 (2,5 điểm): CÁC YÊU CẦU ĐƢA RA CHO CÔNG TY DEL CÓ PHÙ
HỢP VỚI PHÁP LUẬT KHÔNG?
Các yêu cầu của Công ty Saki đưa ra (Nợ gốc 6 tỷ, Lãi chậm trả, Bồi thường 385 triệu,
Lãi chậm trả Bồi thường) cơ bản phù hợp với thỏa thuận hợp đồng nhưng cần bổ
sung thêm yêu cầu phạt vi phạm và có rủi ro pháp lý đối với yêu cầu tính lãi chậm trả
đối với khoản bồi thường.
Yêu cầu của Saki Phù hợp Hợp
đồng?
1. Tiền nợ gốc (6 tỷ
VNĐ)
Phù hợp (Biên
bản đối chiếu
30/9/2022).
2. Lãi chậm trả
(0,05%/ngày) trên
nợ gốc
3. Tiền bồi thƣờng
mất mát (385 triệu
VNĐ)
Phù hợp
(Khoản i).
Phù hợp (Biên
bản đối chiếu
30/9/2022).
4. Lãi chậm trả
(0,05%/ngày) trên
tiền bồi thƣờng
(385 triệu)
Không rõ
ràng.
Phù
hợp
Pháp
luật?
Nhận xét
Phù
hợp. Là nghĩa vụ thanh toán chính.
Phù
hợp.
Tương đương 18.25%/năm. Mức này thấp
hơn mức trần 20%/năm theo Khoản 1 Điều
468 BLDS 2015.
Phù
hợp. Là nghĩa vụ bồi thƣờng theo Khoản ii.
Hợp đồng chỉ quy định lãi 0.05%/ngày cho
"Tiền thuê". Đối với tiền bồi thường (385
Có
triệu), nếu Hợp đồng không quy định, Saki
rủi ro
chỉ được quyền yêu cầu lãi chậm thanh toán
bị
theo Khoản 2 Điều 468 BLDS 2015 (mức
bác.
lãi suất cơ bản do Tòa án quyết định/quy
định của pháp luật).
Xuất sang Trang tính
Tƣ vấn bổ sung cho Công ty Saki:
Công ty Saki nên bổ sung thêm yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng.
Cơ sở: Theo Khoản (i), nếu việc chậm thanh toán vượt quá 30 ngày (điều kiện
này đã đạt được tính đến tháng 3/2023), Saki có quyền yêu cầu:
o Phạt vi phạm: 8% giá trị hợp đồng/tổng giá trị đơn hàng.
o Bồi thƣờng toàn bộ thiệt hại (ngoài phạt vi phạm) - bao gồm cả lãi chậm
trả và chi phí liên quan.
Lƣu ý: Nếu Saki áp dụng phạt 8% và bồi thƣờng thiệt hại (lãi chậm trả), đây
là mô hình phạt kết hợp. Theo Luật Thương mại 2005, việc áp dụng cả phạt và bồi
thường thiệt hại là hợp pháp (trừ khi có thỏa thuận khác).
CÂU HỎI 3 (2,0 điểm): NHẬN XÉT VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI VÀ CƠ
QUAN TÀI PHÁN CÓ THẨM QUYỀN?
1. Nhận xét về Thỏa thuận Trọng tài:
Thỏa thuận trọng tài trong Hợp đồng là Thỏa thuận lai (Hybrid Clause) và có nguy cơ
bị xem là vô hiệu hoặc không thực hiện đƣợc do sự mâu thuẫn giữa trung tâm trọng tài
và quy tắc tố tụng.
Nội dung thỏa thuận: "giải quyết tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam
(VIAC), tại thành phố Hồ Chí Minh theo quy tắc tố tụng trọng tài của ICC."
Vấn đề:
o VIAC là cơ quan quản lý/hành chính vụ kiện (Arbitration Administration).
o ICC Rules là Quy tắc tố tụng của Phòng Thương mại Quốc tế
(International Chamber of Commerce - có trụ sở tại Paris).
Đánh giá: Quy tắc tố tụng của VIAC và ICC khác nhau về thủ tục chỉ định Trọng
tài viên, ngôn ngữ, và chi phí. Việc áp dụng đồng thời có thể dẫn đến mâu thuẫn
thủ tục nghiêm trọng, khiến thỏa thuận trọng tài không rõ ràng, không thể thực
hiện đƣợc.
2. Cơ quan tài phán có thẩm quyền:
1. Trƣờng hợp 1 (Thỏa thuận đƣợc coi là Hợp lệ/Có thể thực hiện đƣợc):
o Cơ quan thẩm quyền: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC).
o VIAC sẽ yêu cầu các bên làm rõ ý chí về việc áp dụng quy tắc. Nếu các bên
không thể làm rõ, VIAC có thể quyết định áp dụng Quy tắc của mình để
giải quyết tranh chấp.
2. Trƣờng hợp 2 (Thỏa thuận bị coi là Vô hiệu/Không thực hiện đƣợc):
o Cơ quan thẩm quyền: Tòa án Nhân dân cấp có thẩm quyền (TAND
Quận/Huyện hoặc TAND Tỉnh/Thành phố, tùy thuộc vào giá trị tranh chấp).
o Vì vụ kiện là tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại, nếu thỏa thuận
trọng tài vô hiệu, Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo Bộ luật Tố tụng
Dân sự 2015.
CÂU HỎI 4 (2,0 điểm): SOẠN THẢO THỎA THUẬN TRỌNG TÀI NẰM NGOÀI
HỢP ĐỒNG CHO CÁC BÊN?
(Giả định các bên muốn chọn một Trung tâm Trọng tài thƣơng mại Y tại TP. HCM
để giải quyết, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất)
THỎA THUẬN TRỌNG TÀI BỔ SUNG (Về việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ
Hợp đồng thuê thiết bị xây dựng ngày 29/1/2020)
Hôm nay, ngày [Ngày/tháng/năm], tại Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi gồm:
1. Công ty TNHH Saki (Bên A):
o Địa chỉ: [Địa chỉ Công ty Saki]
o Đại diện: [Tên, Chức vụ]
2. CTCP Del (Bên B):
o Địa chỉ: [Địa chỉ Công ty Del]
o Đại diện: [Tên, Chức vụ]
Các bên thống nhất hủy bỏ điều khoản giải quyết tranh chấp tại Điều (iii) của Hợp đồng
thuê thiết bị xây dựng ngày 29/1/2020 và thay thế bằng thỏa thuận sau:
ĐIỀU 1. PHƢƠNG THỨC VÀ CƠ QUAN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến Hợp đồng thuê thiết bị xây dựng ngày
29/1/2020 sẽ được giải quyết bằng phương thức Trọng tài tại Trung tâm Trọng tài
Thƣơng mại Y (TTTM Y).
ĐIỀU 2. CÁC QUY TẮC TỐ TỤNG
1. Tranh chấp sẽ được giải quyết theo Quy tắc Tố tụng Trọng tài hiện hành của
TTTM Y.
2. Địa điểm Trọng tài: Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.
3. Số lƣợng Trọng tài viên: 03 (Ba) Trọng tài viên.
4. Luật áp dụng: Pháp luật Việt Nam.
5. Chung thẩm: Phán quyết của Hội đồng Trọng tài là chung thẩm và ràng buộc
các bên.
Đại diện Bên A (Ký tên, đóng dấu)
Đại diện Bên B (Ký tên, đóng dấu)
CÂU HỎI 5 (2,5 điểm): SOẠN THẢO ĐƠN KHỞI KIỆN TẠI TRỌNG TÀI?
(Giả định: Các bên đã thỏa thuận chọn TTTM Y. Thời điểm khởi kiện là ngày
31/3/2023. Lỗi chậm trả tiền thuê bắt đầu từ 01/11/2022. Lãi suất 0,05%/ngày đƣợc
áp dụng cho cả tiền thuê và tiền bồi thƣờng theo yêu cầu tối đa của khách hàng.
Công ty Saki bổ sung yêu cầu Phạt vi phạm 8% tổng nợ 6 tỷ)
Tính toán yêu cầu bồi thƣờng (Tính đến ngày 31/3/2023):
Thời gian chậm trả: 01/11/2022 đến 31/03/2023 là 152 ngày.
Tiền nợ gốc (Tiền thuê): 6.000.000.000 VNĐ.
Tiền bồi thƣờng (Mất mát): 385.000.000 VNĐ.
Tiền lãi chậm trả trên nợ gốc: 6.000.000.000×0.05%×152 ngày = 456.000.000
VNĐ.
Tiền lãi chậm trả trên bồi thƣờng: 385.000.000×0.05%×152 ngày = 29.260.000
VNĐ.
Phạt vi phạm (8% tổng nợ gốc 6 tỷ): 6.000.000.000×8% = 480.000.000 VNĐ.
TỔNG YÊU CẦU:
6.000.000.000+456.000.000+385.000.000+29.260.000+480.000.000 =
7.350.260.000 VNĐ.
CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TP. Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 03 năm 2023
ĐƠN KHỞI KIỆN TRỌNG TÀI
Kính gửi: TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI Y (TTTM Y)
I. THÔNG TIN CÁC BÊN
Mục BÊN KHỞI KIỆN (NGUYÊN
ĐƠN) BÊN BỊ KIỆN (BỊ ĐƠN)
Tên Công ty Công ty TNHH Saki CTCP Del
Mục BÊN KHỞI KIỆN (NGUYÊN
ĐƠN) BÊN BỊ KIỆN (BỊ ĐƠN)
Trụ sở chính [Địa chỉ trụ sở chính Công ty Saki] [Địa chỉ trụ sở chính Công ty
Del]
Ngƣời đại diện [Họ tên], Chức vụ: [Chức vụ] [Không rõ]
Điện
thoại/Email [Số điện thoại] / [Địa chỉ Email] [Số điện thoại] / [Địa chỉ Email]
Xuất sang Trang tính
II. CƠ SỞ KHỞI KIỆN
1. Cơ sở Hợp đồng: Hợp đồng thuê thiết bị xây dựng ngày 29/1/2020.
2. Cơ sở Thẩm quyền: Thỏa thuận Trọng tài Bổ sung ngày [Ngày/tháng/năm] đã
lựa chọn TTTM Y để giải quyết tranh chấp.
III. TÓM TẮT TRANH CHẤP
1. Thực hiện Hợp đồng, Nguyên đơn đã cho Bị đơn thuê các thiết bị xây dựng.
2. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê và nghĩa vụ bồi thường tài sản
mất mát/hư hỏng.
3. Theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày 30/9/2022, Bị đơn còn nợ 6.000.000.000
VNĐ tiền thuê và 385.000.000 VNĐ tiền bồi thường tài sản.
4. Bị đơn đã chậm thanh toán vượt quá 30 ngày, vi phạm nghiêm trọng Hợp đồng.
IV. YÊU CẦU GIẢI QUYẾT
Nguyên đơn yêu cầu Hội đồng Trọng tài buộc Công ty Del phải thanh toán cho Công ty
Saki tổng cộng 7.350.260.000 VNĐ (Bảy tỷ ba trăm năm mươi triệu hai trăm sáu mươi
nghìn đồng) và các khoản phát sinh khác, cụ thể:
1. Tiền nợ gốc (Tiền thuê): 6.000.000.000 VNĐ.
2. Tiền bồi thƣờng thiệt hại (Mất mát tài sản): 385.000.000 VNĐ.
3. Lãi chậm trả trên nợ gốc (tính đến 31/3/2023): 456.000.000 VNĐ (Mức
0.05%/ngày).
4. Lãi chậm trả trên tiền bồi thƣờng (tính đến 31/3/2023): 29.260.000 VNĐ (Mức
0.05%/ngày).
5. Phạt vi phạm Hợp đồng (8% trên nợ gốc 6 tỷ): 480.000.000 VNĐ.
6. Lãi suất phát sinh tiếp: Yêu cầu Bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi trên tổng
nợ gốc và bồi thường 6.385.000.000VNĐ theo mức 0.05%/ngày tính từ ngày
01/4/2023 cho đến ngày Bị đơn thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ thanh toán.
7. Chi phí Trọng tài: Yêu cầu Bị đơn thanh toán toàn bộ chi phí Trọng tài (phí
trọng tài, thù lao luật sư, chi phí khác) mà Nguyên đơn đã chi trả.
V. TÀI LIỆU KÈM THEO
1. Hợp đồng thuê thiết bị xây dựng ngày 29/1/2020.
2. Thỏa thuận Trọng tài Bổ sung.
3. Biên bản đối chiếu công nợ ngày 30/9/2022.
4. Biên bản xác nhận mất mát tài sản.
5. Bản tính toán chi tiết tiền lãi và phạt vi phạm.
6. Giấy ủy quyền (nếu có) và Giấy chứng nhận Đăng ký Doanh nghiệp.
ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA CÔNG TY TNHH SAKI (Ký, ghi rõ họ tên, chức vụ,
đóng dấu)
ĐỀ 6
Ngày 02/6/2020, ông Vũ Quang H có đơn gửi UBND huyện C đề nghị giải quyết tranh
chấp đất đai đối với ông Đào Kim C đối với phần đất 5000m2 thuộc thửa đất số 42 tờ
bản đồ số 19, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh K. Ngày 26/8/2020, chủ tịch UBND huyện C ban
hành Quyết định 1312/QĐ-UBND công nhận quyền sử dụng 5000m2 đất cho ông H.
Không đồng ý với quyết định của Chủ tịch UBND huyện C, ngày 22/9/2020, ông C gửi
đơn đến Chủ tịch UBND tỉnh K đề nghị xem xét lại Quyết định 1312/QĐ-UBND và
công nhận phần đất tranh chấp trên cho gia đình ông vì đã khai hoang từ 1967.
Theo ông Đào Kim C, năm 1967, ông khai hoang 11.000m2 đất tại Đồng Cây Chay (nay
thuộc thửa đất số 42 tờ bản đồ số 19, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh K) trồng khoai lang. Từ
1967 – 1975, ông đi bộ đội nên không canh tác. Ông tiếp tục sử dụng đất này từ 1976. Từ
1981 – 1983 Nhà nước đưa đất này vào HTX. Năm 1984, HTX trả lại cho dân, ông sử
dụng đến 2016 nhưng do đất xấu, bị xói mòn nên ông không canh tác thường xuyên trên
toàn bộ diện tích mà chọn vị trí. Khoảng năm 2004, ông cho em ruột là bà Đào Thị K (vợ
ông Vũ Quang H) 3000m2 (không giấy tờ), trong quá trình sử dụng, ông H đã lấn thêm
5000m2 trồng xoài, đất này không liên quan đến phần đất ông Đào M (bố của ông C và
bà K) chia thừa kế cho các con. Năm 2008, ông C đã báo cáo UBND thị trấn Đ nhưng
chính quyền không có ý kiến gì. Năm 2008, ông được UBND thị trấn cấp GCN đã đo đạc
và chờ cấp quyền sử dụng đất đối với 8500m2 thuộc 1 phần thửa đất số 35 tờ bản đồ số
03 (bản đồ 201) thị trấn Đ.
Câu hỏi 1 (2,0 điểm): Đơn đề nghị của ông C sẽ được giải quyết theo thủ tục nào? Vì sao?
Câu hỏi 2 (2,0 điểm): Giả sử ông Vũ Quang H yêu cầu Luật sư tham gia với tư cách
người đại diện theo ủy quyền. Hãy xác định các vấn đề cần tìm hiễu khi tham gia giải
quyết vụ việc phát sinh do yêu cầu của ông C.
Tình tiết bổ sung
Theo trình bày của ông Vũ Quang H
Năm 2003, vợ chồng ông được cha vợ (ông Đào M) cho 3000m2 đất theo di chúc lập
năm 1996. Năm 2006, ông mua của ông Phạm T 5000m2 (phần đất đang tranh chấp) tiếp
giáp với phần đất bố vợ cho nói trên (mua bán bằng giấy tay), cải tạo trồng sắn (mì), điều
và sau đó là xoài. Năm 2008, ông làm đơn xin xác nhận diện tích 8000m2 và được
UBND thị trấn Đ xác nhận vào ngày 10/9/2008, cấp giấy chứng nhận đã đo đạc và chờ
cấp quyền sử dụng đất. Ông H sử dụng từ đó, ông C không có ý kiến gì cho đến tháng
8/2019 mới xảy ra tranh chấp vì ông C cho rằng đất đó do mình khai hoang.
Ý kiến của UBND thị trấn Đ: Diện tích 5000m2 đất đang tranh chấp thuộc 1 phần thửa
đất số 42 tờ bản đồ số 19, thị trấn Đ (bản đồ VN-2000) tương ứng 1 phần thửa đất số 35,
tờ bản đồ số 03 (bản đồ 201).
Sổ mục kê năm 2004 xã Đ (nay là thị trấn Đ) không thể hiện đối tượng sử dụng. Theo
bản đồ VN-2000 và số mục kê đất đai năm 2013 thửa đất 42 tờ bản đồ số 19 ghi đối
tượng sử dụng là ông Võ Văn T, tuy nhiên hiện trạng lại do ông H và bà K sử dụng nên
số mục kê ghi không đúng thực tế. UBND thị trấn hiện không có hồ sơ lưu trữ liên quan
đến việc HTX quản lý thửa đất số 35, tờ bản đồ số 3 (bản đồ 201). Ông H cung cấp giấy
mua bán viết tay không được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận. Ông H và ông C đều
không cung cấp giấy tờ pháp lý về nguồn gốc, quá trình sử dụng đấtt. Hiện trạng ông H
là người canh tác, trồng xoài trên đất từ năm 2008 đến nay.
Ý kiến của các hộ dân có đất tại khu vực này đều khẳng định ông H là người sử dụng đất,
ông C không sử dụng.
Với tư cách đại diện theo ủy quyền của ông H. Anh chị hãy
Câu hỏi 3 (3,0 điểm): Xác định các vấn đề cần chứng minh? Tài liệu ông H cần cung cấp
cho cơ quan nhà nước có thẫm quyền giải quyết vụ việc?
Câu hỏi 4 (3,0 điểm): Các nội dung cần trình bày trong phiên đối thoại để bảo vệ quyền
lợi cho ông H.
ĐÁP ÁN
Chào bạn, tôi sẽ giúp bạn giải quyết chi tiết ĐỀ 6 về tranh chấp đất đai và thủ tục giải
quyết khiếu nại hành chính.
GIẢI ĐỀ 6: TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ KHIẾU NẠI
Câu hỏi 1 (2,0 điểm): Đơn đề nghị của ông C sẽ đƣợc giải quyết theo thủ tục nào? Vì
sao?
Trả lời:
Đơn đề nghị của ông C sẽ được giải quyết theo thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai
theo quy định của Luật Khiếu nại 2011.
Giải thích:
1. Xác định bản chất Quyết định:
o Ngày 26/8/2020, Chủ tịch UBND huyện C đã ban hành Quyết định
1312/QĐ-UBND công nhận quyền sử dụng 5000m² đất cho ông H.
o Đây là một Quyết định hành chính cá biệt được ban hành để giải quyết
tranh chấp đất đai theo quy định của Luật Đất đai 2013 (thuộc thẩm quyền
của Chủ tịch UBND huyện) và là đối tƣợng của khiếu nại theo Khoản 1
Điều 2 Luật Khiếu nại 2011.
2. Xác định cấp giải quyết:
o Quyết định 1312/QĐ-UBND do Chủ tịch UBND huyện C ban hành (cấp
giải quyết lần đầu).
o Ông C không đồng ý, gửi đơn đến Chủ tịch UBND tỉnh K (cấp giải quyết
lần hai, là cấp trên trực tiếp của Chủ tịch UBND huyện C).
3. Cơ sở pháp lý:
o Theo Khoản 2 Điều 7 và Điều 36 Luật Khiếu nại 2011, nếu người khiếu
nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (hoặc quá thời
hạn mà không được giải quyết), họ có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ
trƣởng cấp trên trực tiếp của người đã giải quyết lần đầu.
o Thời hiệu: Ông C nhận Quyết định 1312/QĐ-UBND ngày 26/8/2020 và
gửi đơn ngày 22/9/2020. Thời hiệu này nằm trong thời hạn 90 ngày kể từ
ngày nhận quyết định, do đó đủ điều kiện để được thụ lý giải quyết khiếu
nại lần hai.
Câu hỏi 2 (2,0 điểm): Các vấn đề cần tìm hiểu khi tham gia giải quyết vụ việc phát
sinh do yêu cầu của ông C?
Với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của ông H (Bên được công nhận quyền lợi ở
lần giải quyết đầu tiên), cần tìm hiểu các vấn đề để bảo vệ tính hợp pháp của Quyết
định 1312/QĐ-UBND và phản bác yêu cầu của ông C.
1. Hồ sơ giải quyết tranh chấp lần đầu:
o Thu thập toàn bộ hồ sơ mà UBND huyện C đã sử dụng để ban hành Quyết
định 1312/QĐ-UBND (Biên bản hòa giải, Biên bản xác minh nguồn gốc
đất, Bản đồ trích lục, Ý kiến các cơ quan chuyên môn...).
o Mục đích: Xác định tính hợp pháp về thủ tục và căn cứ pháp lý của Quyết
định đã có lợi cho ông H.
2. Chứng cứ về Nguồn gốc và Quá trình sử dụng đất của ông H:
o Nguồn gốc 5000m²: Tìm hiểu chi tiết về giao dịch mua bán giấy tay năm
2006 với ông Phạm T: người làm chứng, thời điểm giao tiền, giao đất. Cần
có lời khai/xác nhận của ông Phạm T.
o Sử dụng ổn định: Chi tiết về việc canh tác từ năm 2006/2008 đến nay (các
loại cây trồng, thời điểm trồng xoài, chi phí đầu tư).
3. Tính chính xác của Giấy tờ đất địa phƣơng:
o Làm rõ sai sót trong Sổ mục kê năm 2013 (ghi ông Võ Văn T trong khi
thực tế là ông H) để loại trừ nghi ngờ về sự chồng lấn hoặc tranh chấp khác.
o Tìm hiểu về Giấy xác nhận diện tích 8000m² ngày 10/9/2008 của UBND
thị trấn Đ (đã đo đạc và chờ cấp GCN).
4. Phản bác các lập luận của ông C:
o Yếu tố thời gian tranh chấp: Tìm hiểu hồ sơ tại UBND thị trấn Đ về việc
ông C đã báo cáo vào năm 2008. Mục đích là để chứng minh việc này
không phải là một tranh chấp chính thức được thụ lý giải quyết theo quy
định, hoặc ông C đã bỏ mặc tranh chấp quá lâu.
o Tình trạng sử dụng đất của ông C: Thu thập thêm lời khai chi tiết của
các hộ dân khẳng định việc ông C không sử dụng đất từ năm 2008 đến nay.
Câu hỏi 3 (3,0 điểm): Xác định các vấn đề cần chứng minh? Tài liệu ông H cần cung
cấp cho cơ quan nhà nƣớc có thẫm quyền giải quyết vụ việc?
A. Các vấn đề cần chứng minh:
1. Chứng minh việc tạo lập đất có căn cứ và mục đích sử dụng tốt:
o Chứng minh 5000m² đƣợc nhận chuyển nhƣợng (mua bán giấy tay năm
2006) chứ không phải lấn chiếm.
2. Chứng minh việc sử dụng đất là ổn định, liên tục và công khai trƣớc
01/7/2014:
o Chứng minh ông H đã canh tác liên tục trên đất từ năm 2008 (thời điểm
được UBND thị trấn xác nhận) cho đến nay. Việc sử dụng đất ổn định là cơ
sở pháp lý quan trọng để công nhận quyền sử dụng đất không có giấy tờ
theo Điều 101 Luật Đất đai 2013.
3. Chứng minh không có tranh chấp đất đai trƣớc thời điểm 01/7/2014:
o Phủ nhận ý kiến của ông C về việc tranh chấp xảy ra từ năm 2008. Khẳng
định tranh chấp chỉ thực sự xảy ra từ tháng 8/2019, tức là sau thời điểm
cần thiết để được công nhận quyền sử dụng đất.
4. Chứng minh sự thừa nhận của chính quyền địa phƣơng:
o Chứng minh UBND thị trấn Đ đã xác nhận QSDĐ cho ông H vào năm
2008 (đo đạc, chờ cấp GCN), thể hiện sự công khai và chấp thuận của
chính quyền sở tại đối với việc sử dụng đất của ông H.
B. Tài liệu ông H cần cung cấp:
1. Tài liệu chứng minh Nguồn gốc và Sử dụng:
o Giấy mua bán viết tay giữa ông H và ông Phạm T năm 2006.
o Bản Tự khai/Lời khai của ông Phạm T xác nhận giao dịch chuyển nhượng
đất.
o Giấy xác nhận diện tích 8000m² của UBND thị trấn Đ ngày 10/9/2008.
o Lời khai/Văn bản xác nhận của các hộ dân lân cận khẳng định ông H là
người sử dụng đất, ông C không sử dụng.
o Các hình ảnh, chứng từ, hóa đơn về việc mua giống, phân bón, chi phí
trồng xoài, sắn từ năm 2008 (nếu có).
2. Tài liệu chứng minh việc giải quyết lần đầu hợp pháp:
o Toàn bộ Hồ sơ vụ việc đã được UBND huyện C sử dụng để ban hành
Quyết định 1312/QĐ-UBND.
o Văn bản/Xác nhận của UBND thị trấn Đ về việc không có hồ sơ tranh
chấp chính thức của ông C đối với ông H trước tháng 8/2019.
Câu hỏi 4 (3,0 điểm): Các nội dung cần trình bày trong phiên đối thoại để bảo vệ
quyền lợi cho ông H.
Kính gửi Chủ tịch UBND tỉnh K, Hội đồng giải quyết khiếu nại, và các bên liên
quan,
Với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của ông Vũ Quang H, tôi xin trình bày các
luận điểm để bảo vệ tính hợp pháp của Quyết định 1312/QĐ-UBND và quyền lợi của
ông H.
1. Bảo vệ tính hợp pháp của Quyết định 1312/QĐ-UBND:
Quyết định 1312/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND huyện C được ban hành dựa
trên quá trình xác minh thực tế sử dụng đất, nguồn gốc đất, và ý kiến của cộng
đồng dân cƣ, tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai.
Quyết định đã công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho ông H, người đã đáp
ứng các điều kiện pháp lý. Đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh K giữ nguyên Quyết
định này.
2. Khẳng định quyền sử dụng đất của ông H là ổn định, công khai và có căn cứ:
Về Nguồn gốc: Ông H đã nhận chuyển nhượng 5000m² đất này từ ông Phạm T
vào năm 2006 (giấy viết tay).
Về Sử dụng ổn định: Từ năm 2008, ông H đã thực hiện việc canh tác liên tục,
trồng cây lâu năm như xoài, điều, và được UBND thị trấn Đ xác nhận diện tích
vào ngày 10/9/2008. Việc sử dụng đất công khai và ổn định này đã kéo dài liên
tục đến nay và được các hộ dân lân cận khẳng định.
Căn cứ pháp lý: Việc sử dụng đất ổn định, không tranh chấp (trước 01/7/2014) là
cơ sở vững chắc để ông H được công nhận quyền sử dụng đất theo Điều 101 Luật
Đất đai 2013.
3. Phản bác yêu cầu của ông Đào Kim C:
Sử dụng không liên tục: Ông C chỉ trình bày việc khai hoang, nhưng thừa nhận
việc bỏ đất trống trong nhiều giai đoạn (1967-1975), bị đưa vào HTX (1981-
1983), và không canh tác thƣờng xuyên từ 2016.
Không có tranh chấp trƣớc đó: Mặc dù ông C nói đã báo cáo năm 2008, nhưng
không có hồ sơ pháp lý nào chứng minh đây là tranh chấp chính thức được thụ lý.
Ông C đã im lặng trong suốt hơn 11 năm trong khi ông H công khai canh tác và
đầu tư lớn vào vườn xoài. Việc tranh chấp chỉ thực sự phát sinh vào tháng 8/2019,
điều này không đủ căn cứ để phủ nhận quá trình sử dụng ổn định và hợp pháp của
ông H trước đó.
Kết luận: Đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh K xem xét toàn bộ hồ sơ, chứng cứ thực tế, và ra
quyết định bác bỏ yêu cầu khiếu nại của ông Đào Kim C, giữ nguyên Quyết định số
1312/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND huyện C.
ĐỀ 7
Công ty cổ phần S (sau đây gọi là công ty S) được cấp GCNĐKDN vào năm 2015,
chuyên sản xuất và cung ứng sơn qua hệ thống đại lý. Ngày 02/01/2022, công ty S (bên
A) ký kết Hợp đồng nguyên tắc số HĐNT/2022/ALO/369/765 với hộ kinh doanh Lê Thị
T (chủ hộ là bà Lê Thị T – bên B) để làm đại lý giới thiệu sản phẩm, nhà phân phối, tiêu
thụ sơn và vật liệu chống thấm mang thương hiệu ALO của Công ty S.
Hợp đồng nguyên tắc có quy định một số nội dung chính sau:
Bên B nhận làm đại lý giới thiệu sản phẩm, nhà phân phối, tiêu thụ sơn và vật liệu chống
thấm mang thương hiệu ALO do bên A sản xuất; thời hạn 36 tháng từ ngày ký hợp đồng.
Trong thời gian bên B làm đại lý cho bên A thì bên B không được trưng bày, bán và giới
thiệu các sản phẩm khác do bên A sản xuất; không được ký hợp đồng trực tiếp với bất kỳ
công ty nào khác. Nếu vi phạm, bên B phải chịu phạt 100 triệu VNĐ.
Bên B đồng thời ký hợp đồng mượn tài sản của bên A với nội dung mượn máy pha màu
tự động và lắp đặt tại bên B.
Doanh số mà hộ kinh doanh T phải đáp ứng (30 triệu VNĐ/tháng), tiền hàng tháng được
thanh toán hàng tháng vào 5 ngày đầu tiên của tháng kế tiếp.
Chế độ thưởng của công ty dành cho nhà phân phối: thực hiện đối chiếu công nợ là căn
cứ để bên A tính thưởng doanh thu năm cho bên B với mức 10%/tổng doanh thu.
Hai bên xác nhận có cơ chế và chính sách bán hàng bên A giành cho bên B chỉ thể hiện
tại bản hợp đồng nguyên tắc này. Tất cả các nội dung hỗ trợ khác với các điều khoản trên
hợp đồng này sẽ chỉ có hiệu lực khi hai bên ký kết bằng phụ lục hợp đồng.
Sau đó, ngày 07/01/2022, Công ty S tiếp tục ký với bà T hợp đồng cho thuê tài sản số
HĐTTS/2022/ALO/369/765-01 về việc cho thuê tài sản là hệ thống máy pha màu ALO
Tinting gồm: 01 máy chiết màu, nhãn hiệu SATINT A2 (mới 100%) – số seri
1703140A216003 và một máy trộn màu nhãn hiệu MIXER HS – 5T (mới 100%) – số
seri 5T 1908185. Cùng ngày phía Công ty S tiếp tục ký Hợp đồng cho thuê tài sản số
HĐTTS/2022/ALO/765-02 về việc bà T1 thuê tài sản là hệ thống máy pha màu ALO
Tinting, gồm: 01 máy chiết màu, nhãn hiệu SANTINT A2 (mới 100%) – số seri
191029A2100020 và một máy trộn màu nhãn hiệu MIXER HS – 5T (mới 100%) – số
seri 5T 1908200. Cùng ngày phía Công ty S đã bàn giao hệ thống máy pha màu nêu trên
cho bà T.
Thực hiện hợp đồng HĐNT/2022/ALO/369/765, công ty đã nhiều lần chuyển sơn cho
nhà phân phối Lê Thị T. Sau một thời gian thực hiện hợp đồng, công ty S cho rằng bà T
liên tục vi phạm thỏa thuận tại các Hợp đồng nguyên tắc số HĐNT/2022/ALO/369/765
ký ngày 02/01/2022, Hợp đồng cho thuê tài sản số HĐTTS/2022/ALO/369/765-01 ký
ngày 07/1/2022 và Hợp đồng thuê tài sản số HĐTTS/2022/ALO/765-02 ký ngày
01/3/2022. Cụ thễ: (i) bà T tiến hành trưng bày, giới thiệu và bán sản phẩm không do
Công ty S sản xuất, (ii) doanh số mà bà T cam kết tại các Hợp đồng cũng không đạt, (iii)
tính đến hết ngày 31/3/2023, bà T còn nợ quá hạn không thanh toán cho Công ty S số
tiền 188.257.752 đồng mặc dù phía Công ty đã nhiều lần có văn bản yêu cầu thanh toán
và muốn dừng hợp đồng phân phối với các lý do nêu trên (tại công văn ngày 1/4/2023).
Bà Lê Thị T muốn gặp gỡ trao đổi để làm rõ các vấn đề trong việc thực hiện hợp đồng
đại lý nêu trên.
Tháng 4/2023, bà T đề nghị VPLS hỗ trợ để giải quyết tranh chấp nêu trên với Công ty S.
Trưởng Văn phòng giao cho anh/chị là người nghiên cứu hỗ trợ bà T.
Câu hỏi 1 (2,0 điểm): Để chuẩn bị cho phiên làm việc, anh/chị yêu cầu bà T cung cấp
các tài liệu gì để phục vụ cho việc nghiên cứu nhằm hỗ trợ bà T trong việc giải quyết
tranh chấp nêu trên? Mục đích của việc sử dụng các tài liệu nêu trên?
Câu hỏi 2 (2,0 điểm): Sau khi nghiên cứu tài liệu như đã yêu cầu khách hàng cung cấp ở
câu 1, anh chị cần trao đổi gì với bà T? Tra cứu những văn bản pháp luật nào để phục vụ
cho việc xây dựng phương án thương lượng với công ty S?
Tình tiết bổ sung
Anh/chị tham gia phiên làm việc cùng bà T vào ngày 18/4/2023.
Tại phiên làm việc, công ty S đề nghị chấm dứt hợp đồng phân phối và yêu cầu bà T phải
thanh toán.
Số tiền chưa thanh toán là 188.257.752 đồng.
Khoản tiền lãi do chậm thanh toán với mức là 10% (tính cụ thể của các tháng chậm thanh
toán tiền hàng).
Khoản tiền thuê tài sản do không đạt doanh số theo Hợp đồng cho thuê tài sản số
HĐTTS/2019/ALO/369/765-01 ký ngày 07/1/2022, thời gian tính chi phí thuê máy từ
ngày 7/1/2022 đến 18/4/2023 với số tiền thuê là 83.562 VNĐ/ngày.
Khoản tiền thuê tài sản do không đạt doanh số theo Hợp đồng thuê tài sản số
HĐTTS/2021/ALO/369/765-02 ký ngày 01/3/2022, thời gian tính chi phí thuê máy từ
ngày 01/03/2022 đến ngày 18/4/2023, với số tiền thuê là 83.562 VNĐ/ngày.
Phạt vi phạm hợp đồng 100 triệu VNĐ.
Bà T phải chịu các chi phí thu hồi máy, các khoản bồi thường thiệt hại theo 2 hợp đồng
thuê tài sản và sau khi công ty S đánh giá lại tài sản thuê.
Câu hỏi 3 (3,0 điểm): Ý kiến của anh/chị về các đề nghị do Công ty S đưa ra?
Tình tiết bổ sung
Tại phiên làm việc vào ngày 18/4/2023, bà T đưa ra đề nghị như sau với phía bên công ty
S: (i) sửa đổi mức khoản doanh thu để phù hợp với tình hình thực tế và tiếp tục thực hiện
hợp đồng; (ii) đề nghị công ty S thanh toán tiền thù lao đại lý năm 2022 với mức 10%
của doanh thu năm 2022; và tiền lãi chậm thanh toán khoản thù lao này nhưng công ty S
cho rằng khoản tiền thưởng doanh thu theo thảo thuận hợp đồng chỉ được công ty thanh
toán nếu bà T đạt mức doanh theo theo đúng thỏa thuận. Thực tế thực hiện bà T chưa đạt
doanh thu nên không có cơ sở trích doanh thu, công ty không vi phạm về thanh toán
khoản tiền này và lãi chậm thanh toán phát sinh.
Câu hỏi 4 (1,5 điểm): Quan điểm của anh chị về các yêu cầu bà T đưa ra và ý kiến phản
hồi của công ty S?
Tình tiết bổ sung
Tại phiên thương lượng các bên chỉ thống nhất được với nhau về việc tranh chấp sẽ được
giải quyết tại Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.
Câu hỏi 5 (1,5 điểm): Thỏa thuận này có phù hợp với quy định của pháp luật không?
Các nội dung gì cần đưa vào thỏa thuận để đảm bảo tốt nhất quyền lợi cho khách hàng?
ĐÁP ÁN
Chào bạn, tôi sẽ giúp bạn phân tích và tư vấn chi tiết ĐỀ 7 về vụ tranh chấp hợp đồng đại
lý và cho thuê tài sản giữa Hộ kinh doanh Lê Thị T (Bà T) và Công ty Cổ phần S (Công
ty S).
CÂU HỎI 1: CÁC TÀI LIỆU CẦN THU THẬP VÀ MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG
Để chuẩn bị cho phiên làm việc và xây dựng phương án bảo vệ Bà T, anh/chị cần yêu cầu
Bà T cung cấp các tài liệu sau:
Tài liệu cần thu thập Mục đích sử dụng
1. Chứng từ pháp lý
Giấy chứng nhận ĐK Hộ kinh doanh của Bà
T.
Xác định tư cách pháp lý của Nguyên đơn
và Bị đơn.
2. Hợp đồng và Phụ lục
Hợp đồng nguyên tắc
HĐNT/2022/ALO/369/765 (HĐNT).
Hợp đồng cho thuê tài sản số
HĐTTS/2022/...-01 & 02.
3. Tài liệu thực hiện Hợp đồng
Các Hóa đơn/Chứng từ giao hàng và Biên
bản đối chiếu công nợ (đặc biệt là BĐCC
Nợ 31/3/2023).
Các văn bản, email yêu cầu thanh toán từ
Công ty S.
Xác định các quyền, nghĩa vụ, đặc biệt là
điều khoản độc quyền, doanh số tối
thiểu, phạt vi phạm 100 triệu VNĐ và
chế độ thƣởng 10%.
Xác định điều khoản cho thuê máy pha
màu, đặc biệt là căn cứ tính phí thuê (mức
83.562 VNĐ/ngày) khi không đạt doanh
số.
Xác định thời điểm phát sinh nợ, số tiền
nợ gốc chính xác (188.257.752 đồng) để
tính lãi chậm trả.
Xác định thời điểm Công ty S yêu cầu
chấm dứt hợp đồng và làm căn cứ phản
biện.
4. Tài liệu phản biện vi phạm
Chứng từ bán hàng của Bà T (Sổ sách, hóa
đơn bán sơn ALO)
Bằng chứng (ảnh, hóa đơn, thư từ) về việc
bán/trƣng bày sản phẩm khác (nếu có).
Xuất sang Trang tính
Xác minh doanh số thực tế để tính toán
thƣởng 10% và phản bác cáo buộc không
đạt doanh số tối thiểu.
Xác định mức độ vi phạm độc quyền để
tính toán rủi ro bị phạt 100 triệu VNĐ.
CÂU HỎI 2: CÁC VẤN ĐỀ CẦN TRAO ĐỔI VỚI BÀ T VÀ VĂN BẢN PHÁP
LUẬT CẦN TRA CỨU?
A. Các vấn đề cần trao đổi với Bà T:
1. Xác nhận Lỗi vi phạm độc quyền: Yêu cầu Bà T xác nhận rõ ràng về việc có
trưng bày, bán sản phẩm không do Công ty S sản xuất hay không. Nếu có, cần xác
định giá trị hợp đồng/đơn hàng liên quan đến việc bán hàng vi phạm để làm căn
cứ tính giới hạn phạt (8% theo Luật Thương mại).
2. Mối quan hệ giữa Hợp đồng Đại lý và Hợp đồng Thuê tài sản: Cần làm rõ ý
chí khi ký kết 02 Hợp đồng thuê tài sản. Phí thuê máy 83.562 VNĐ/ngày có phải
là một hình thức phạt hợp đồng đối với lỗi không đạt doanh số hay không.
3. Cơ sở tính thƣởng doanh thu 10%: Xác nhận tổng doanh thu năm 2022 của Bà
T. Trao đổi về quan điểm của Bà T: việc không đạt doanh số tối thiểu 30
triệu/tháng có ảnh hưởng đến khoản thưởng 10% trên tổng doanh thu hay không
(vì HĐNT không quy định rõ điều kiện này).
4. Thiện chí giải quyết: Xác định mục tiêu ưu tiên của Bà T: Tiếp tục hợp đồng
hay chấm dứt hợp đồng và chỉ giải quyết công nợ.
B. Văn bản pháp luật cần tra cứu:
1. Luật Thƣơng mại 2005 (LTM 2005):
o Điều 168 - Điều 170: Về Hợp đồng Đại lý thương mại (để xác định bản
chất hợp đồng).
o Điều 301: Quy định về mức phạt vi phạm tối đa 8% giá trị phần nghĩa vụ
hợp đồng bị vi phạm (quan trọng để đối phó với yêu cầu phạt 100 triệu
VNĐ).
2. Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015):
o Điều 351, 468: Về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng và lãi suất
chậm thanh toán (mức lãi suất cơ bản) (để đối phó với yêu cầu lãi 10%
của Công ty S).
o Điều 472 - 482: Về Hợp đồng thuê tài sản.
3. Luật Cạnh tranh 2018:
o Điều 11, 12: Về các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (để xem xét tính hợp
pháp của điều khoản độc quyền).
CÂU HỎI 3: Ý KIẾN VỀ CÁC ĐỀ NGHỊ DO CÔNG TY S ĐƢA RA?
Anh/chị cần phân tích từng yêu cầu của Công ty S để bảo vệ quyền lợi cho Bà T:
Yêu cầu của Công ty S Đánh giá pháp lý (Quan điểm bảo vệ Bà T)
1. Tiền nợ gốc
(188.257.752 đồng) Chấp nhận. Đây là nghĩa vụ thanh toán tiền hàng cơ bản.
Phản đối. Hợp đồng không quy định mức lãi suất chậm thanh
toán. Theo Khoản 2 Điều 468 BLDS 2015, lãi suất chậm trả
2. Tiền lãi do chậm
thanh toán (10% lãi
suất)
được tính bằng mức lãi suất cơ bản do Tòa án quyết định/quy
định của pháp luật (thông thường là mức trung bình tại Ngân
hàng). Mức 10% Công ty S đưa ra là tự ý và không có căn cứ
pháp lý.
Phản đối/Xem xét lại bản chất. Yêu cầu này cần được xem là
3. Tiền thuê máy
(83.562 VNĐ/ngày x 2
máy) do không đạt
doanh số
một hình thức phạt vi phạm do không đạt doanh số tối thiểu.
Nếu tính cả tiền thuê máy và tiền phạt 100 triệu VNĐ, tổng
mức phạt có thể vƣợt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm
theo Điều 301 LTM 2005. Bà T chỉ phải chấp nhận một trong
hai hình thức phạt nếu tổng giá trị vượt quá 8%.
4. Phạt vi phạm HĐ
100 triệu VNĐ (vi
phạm độc quyền)
Phản đối. Theo Điều 301 LTM 2005, mức phạt tối đa là 8%
giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Khoản phạt cố
định 100 triệu VNĐ cho vi phạm độc quyền (một nghĩa vụ
Yêu cầu của Công ty S Đánh giá pháp lý (Quan điểm bảo vệ Bà T)
không dễ định giá) có nguy cơ bị giảm trừ nếu vượt quá 8% giá
trị các đơn hàng vi phạm hoặc giá trị HĐNT.
Chấp nhận (có điều kiện). Chi phí này được chấp nhận nếu có
5. Chi phí thu hồi
chứng từ, hóa đơn hợp pháp chứng minh thiệt hại thực tế do
máy, bồi thƣờng thiệt
lỗi của Bà T gây ra và phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng thuê
hại (sau đánh giá)
tài sản.
Xuất sang Trang tính
Tóm tắt quan điểm của Luật sƣ: Chấp nhận nợ gốc, nhưng phản đối toàn bộ các
khoản phạt/lãi chậm trả vì đều thiếu cơ sở pháp lý và vượt quá giới hạn pháp luật
(LTM & BLDS), trừ khi Công ty S cung cấp bằng chứng rõ ràng.
CÂU HỎI 4: QUAN ĐIỂM VỀ CÁC YÊU CẦU BÀ T VÀ Ý KIẾN PHẢN HỒI
CỦA CÔNG TY S?
A. Về yêu cầu Sửa đổi mức doanh thu và tiếp tục Hợp đồng của Bà T:
Quan điểm: Đây là một đề nghị thƣơng lƣợng hợp lý dựa trên nguyên tắc tự do
thỏa thuận trong BLDS 2015. Việc sửa đổi doanh số là cần thiết để Hợp đồng có
thể tiếp tục thực hiện được trong bối cảnh thực tế. Công ty S có quyền chấp nhận
hoặc từ chối, nhưng việc từ chối có thể dẫn đến chấm dứt hợp đồng và mất đi một
nhà phân phối.
B. Về yêu cầu Thanh toán Tiền thù lao đại lý/Thƣởng doanh thu 10% năm 2022:
Quan điểm của Bà T (Luật sƣ): Yêu cầu này có cơ sở để thƣơng lƣợng, dựa
trên sự mơ hồ của Hợp đồng. Hợp đồng chỉ ghi: "Chế độ thưởng... là 10%/tổng
doanh thu" và "thực hiện đối chiếu công nợ là căn cứ để bên A tính thưởng".
Hợp đồng không quy định rõ việc không đạt doanh số tối thiểu 30 triệu/tháng là
điều kiện tiên quyết để được thưởng.
Quan điểm của Công ty S (Phản hồi): Có cơ sở pháp lý vững chắc. Thưởng
doanh thu (thù lao đại lý/thưởng năm) về bản chất là khoản tiền được trả khi đạt
đƣợc mục tiêu kinh doanh (doanh số). Vì Bà T chƣa đạt doanh số tối thiểu (30
triệu/tháng), Công ty S có quyền cho rằng Bà T không hoàn thành nghĩa vụ chính
để được hưởng khoản thưởng này.
Kết luận: Trong trường hợp ra Trọng tài, Hội đồng Trọng tài có xu hướng chấp
nhận ý kiến của Công ty S (rằng thưởng phải đi kèm với đạt mục tiêu doanh số),
trừ khi Bà T chứng minh được rằng việc không đạt doanh số là do lỗi của Công ty
S (ví dụ: cung cấp hàng không kịp thời). Luật sư nên sử dụng khoản thưởng này
làm đòn bẩy thƣơng lƣợng để Công ty S giảm các khoản phạt/lãi chậm trả khác.
CÂU HỎI 5: THỎA THUẬN TRỌNG TÀI VÀ NỘI DUNG CẦN THÊM?
A. Thỏa thuận "giải quyết tại Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam" có phù hợp
với pháp luật không?
Phù hợp. Thỏa thuận này là hợp pháp và có hiệu lực theo Luật Trọng tài thương
mại 2010 (LTTM).
Giải thích: Theo Khoản 1 Điều 18 LTTM, thỏa thuận trọng tài không bị vô hiệu
chỉ vì thiếu tên Trọng tài viên, quy tắc trọng tài, hoặc các chi tiết khác (như địa
điểm). Việc chỉ nêu tên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) là đủ
để xác định rõ cơ quan giải quyết tranh chấp.
B. Các nội dung cần đƣa vào thỏa thuận để đảm bảo tốt nhất quyền lợi cho khách
hàng (Bà T):
Để đảm bảo quy trình giải quyết thuận lợi, tiết kiệm chi phí và thời gian cho Bà T, thỏa
thuận trọng tài cần bổ sung các nội dung sau:
1. Quy tắc tố tụng: Xác định rõ áp dụng Quy tắc tố tụng Trọng tài của VIAC (để
tránh sự mơ hồ khi áp dụng quy tắc tố tụng quốc tế khác).
2. Số lƣợng Trọng tài viên: Thống nhất chỉ có 01 (Một) Trọng tài viên giải quyết
vụ việc. Điều này giúp tiết kiệm chi phí trọng tài (phí) và rút ngắn thời gian giải
quyết (thay vì Hội đồng 03 TTV).
3. Địa điểm Trọng tài: Xác định rõ Thành phố Hồ Chí Minh là địa điểm Trọng tài
(vì Hộ kinh doanh của Bà T và Công ty S đều ở TP.HCM, thuận tiện cho việc
tham gia tố tụng).
4. Luật áp dụng: Thống nhất áp dụng Pháp luật Việt Nam để giải quyết vụ việc.
ĐỀ 8
Ngày 01/01/2022, Công ty Hồng Kông và văn phòng Luật sư LQ (VPLS LQ) ký kết thỏa
thuận đề cập đến biện pháp giải quyết tranh chấp giữa công ty Hồng Kông và CTCP TX
của Việt Nam liên quan đến hợp đồng nguyên tắc ngày 29/8/2019 giữa công ty Hồng
Kông và CTCP TX của Việt Nam.
Ngày 23/01/2022, Công ty Hồng Kông lập giấy ủy quyền cho Luật sư Q thuộc VPLS LQ
thay mặt Công ty Hồng Kông tiến hành các giao dịch với CTCP TX của Việt Nam. Giấy
ủy quyền có nội dung: "Công ty Hồng Kông ủy quyền cho cá nhân Luật sư Q – Trưởng
VPLS LQ, có địa chỉ tại HN, Việt Nam được toàn quyền thay mặt Công ty Hồng Kông
đàm phán và ký kết các biên bản thỏa thuận với CTCP TX của Việt Nam liên quan đến
việc giải quyết các tranh chấp giữa Công ty Hồng Kông và CTCP TX của Việt Nam phát
sinh từ Hợp đồng nguyên tắc ký ngày 4/10/2020 giữa CTCP TX của Việt Nam và công
ty Hồng Kông". Giấy ủy quyền được đại diện có thẩm quyền của Công ty Hồng Kông và
Luật sư Q ký, có đóng dấu của VPLS LQ.
Câu hỏi 1 (2,0 điểm): Anh (chị) xác định chủ thể của hợp đồng ủy quyền trong tình
huống nêu trên là VPLS LQ hay cá nhân Luật sư Q? Giải thích tại sao?
Tình tiết bổ sung
Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng nguyên tắc liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt
hại và phạt vi phạm của Công ty Hồng Kông cho CTCP TX của Việt Nam. Theo hợp
đồng, Công ty Hồng Kông phải giao hàng cho CTCP TX của Việt Nam trước ngày
31/12/2020. Tuy nhiên, đến ngày 15/01/2021, Công ty Hồng Kông mới giao hàng cho
CTCP TX của Việt Nam. Vì vậy, CTCP TX của Việt Nam yêu cầu Công ty Hồng Kông
bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng cho CTCP TX của Việt Nam với tổng số
tiền 1,5 tỷ đồng. Công ty Hồng Kông trình bày do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid nên
dẫn đến giao hàng chậm, trên tàu có người bị Covid nên bị cách ly 14 ngày, vì vậy không
đồng ý chịu phạt và bồi thường thiệt hại cho CTCP TX của Việt Nam.
Câu hỏi 2 (2,0 điểm): Anh (chị) trình bày căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt
hại và phạt vi phạm trong trường hợp trên?
Câu hỏi 3 (2,0 điểm): Anh (chị) hãy tư vấn cho Công ty Hồng Kông các tài liệu, chứng
cứ cần cung cấp? Tình tiết bổ sung
Theo tài liệu Công ty Hồng Kông cung cấp, anh (chị) xác định nội dung trình bày của
Công ty Hồng Kông là đúng. Thời gian Công ty Hồng Kông giao hàng cho CTCP TX
của Việt Nam theo thỏa thuận trong hợp đồng là thời gian diễn ra dịch bệnh covid; ông K
người phụ trách giao hàng của Công ty Hồng Kông bị covid bị buộc phải cách ly 14 ngày.
Câu hỏi 4 (2,0 điểm): Anh (chị) hãy trình bày căn cứ pháp lý và lập luận để bảo vệ Công
ty Hồng Kông?
Tình tiết bổ sung
Sau khi thu thập các thông tin cần thiết, luật sư lên phương án để thực hiện công việc
theo Giấy ủy quyền của Công ty Hồng Kông.
Câu hỏi 5 (2,0 điểm): Anh (chị) hãy xây dựng phương án đàm phán với CTCP TX của
Việt Nam với tư cách người đại diện theo ủy quyền của Công ty Hồng Kông?
ĐÁP ÁN
Chào bạn, tôi sẽ giúp bạn phân tích và tư vấn chi tiết ĐỀ 8 liên quan đến hợp đồng ủy
quyền, trách nhiệm vi phạm hợp đồng và nguyên tắc miễn trách nhiệm.
CÂU HỎI 1: XÁC ĐỊNH CHỦ THỂ CỦA HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN
Trả lời:
Chủ thể của Hợp đồng ủy quyền trong tình huống này là cá nhân Luật sƣ Q.
Giải thích:
1. Căn cứ vào nội dung Giấy ủy quyền:
o Giấy ủy quyền có nội dung rõ ràng: "Công ty Hồng Kông ủy quyền cho cá
nhân Luật sư Q – Trưởng VPLS LQ...". Điều này xác định rõ người được
ủy quyền là cá nhân Luật sư Q.
2. Phân biệt chủ thể của quan hệ ủy quyền:
o Luật sƣ Q là cá nhân, Trưởng Văn phòng Luật sư (VPLS LQ).
o VPLS LQ là một tổ chức hành nghề luật sư (là pháp nhân hoặc không phải
pháp nhân, tùy thuộc vào hình thức tổ chức), hoạt động theo Luật Luật sư.
o Mặc dù Luật sư Q là Trưởng VPLS LQ và giấy ủy quyền có đóng dấu của
VPLS LQ, nhưng việc đóng dấu chỉ mang tính chất xác nhận Luật sư Q là
người hành nghề tại Văn phòng đó, hoặc là sự cam kết của Văn phòng về
việc tạo điều kiện cho Luật sư Q thực hiện ủy quyền.
o Bản chất của Hợp đồng ủy quyền là xác lập quyền và nghĩa vụ giữa Bên
ủy quyền (Công ty Hồng Kông) và Ngƣời đƣợc ủy quyền (Luật sƣ Q).
Kết luận: Chủ thể được ủy quyền trực tiếp, nhận quyền và nghĩa vụ thực hiện công việc
là cá nhân Luật sƣ Q.
CÂU HỎI 2: CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI
VÀ PHẠT VI PHẠM
Tranh chấp này là tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế (Công ty Hồng Kông và
CTCP TX Việt Nam). Trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm phát sinh dựa
trên các căn cứ sau:
1. Căn cứ phát sinh Trách nhiệm Phạt vi phạm Hợp đồng:
Căn cứ: Phát sinh khi có sự vi phạm Hợp đồng và có thỏa thuận phạt vi phạm
trong Hợp đồng nguyên tắc.
Phân tích:
o Hành vi vi phạm: Công ty Hồng Kông đã giao hàng vào ngày 15/01/2021,
chậm so với thỏa thuận là 31/12/2020. Đây là hành vi vi phạm nghĩa vụ
giao hàng đúng thời hạn (Điều 292 Luật Thương mại 2005 - LTM 2005).
o Thỏa thuận: Nếu Hợp đồng nguyên tắc có điều khoản phạt đối với hành
vi giao hàng chậm, trách nhiệm phạt vi phạm sẽ phát sinh. Mức phạt do các
bên thỏa thuận, nhưng không được vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp
đồng bị vi phạm (Điều 301 LTM 2005).
2. Căn cứ phát sinh Trách nhiệm Bồi thƣờng Thiệt hại:
Căn cứ: Phát sinh khi có sự vi phạm Hợp đồng và có thiệt hại thực tế xảy ra
(Điều 303 LTM 2005).
Phân tích:
o Hành vi vi phạm: Hành vi giao hàng chậm của Công ty Hồng Kông.
o Thiệt hại thực tế: CTCP TX phải chứng minh được các thiệt hại trực tiếp
và hợp lý do việc giao hàng chậm gây ra (ví dụ: mất cơ hội kinh doanh, chi
phí lưu kho phát sinh, tiền phạt phải trả cho bên thứ ba...).
o Mối quan hệ nhân quả: Phải chứng minh được thiệt hại thực tế là hậu
quả trực tiếp của hành vi giao hàng chậm.
Lƣu ý: Theo Điều 307 LTM 2005, việc áp dụng chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt
hại là độc lập và có thể áp dụng đồng thời, trừ khi các bên có thỏa thuận khác trong
Hợp đồng.
CÂU HỎI 3: TƢ VẤN CÁC TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ CẦN CUNG CẤP CHO
CÔNG TY HỒNG KÔNG
Mục tiêu của Công ty Hồng Kông là miễn trách nhiệm do ảnh hưởng của dịch bệnh và
lệnh cách ly. Do đó, cần cung cấp chứng cứ để chứng minh sự kiện Bất khả kháng
(Force Majeure).
Loại Tài liệu/Chứng cứ Mục đích Chứng minh
1. Chứng cứ về Dịch bệnh (Bất khả kháng):
Văn bản của cơ quan nhà nƣớc có thẩm
quyền (Chính phủ, Bộ Y tế, Cơ quan Hải quan
tại cảng) tại thời điểm 31/12/2020 – 15/01/2021.
Chứng minh sự kiện dịch bệnh Covid
là khách quan, không thể lƣờng
trƣớc và không thể khắc phục (Điều
156 BLDS 2015).
2. Chứng cứ về Lệnh cách ly:
Quyết định hoặc Văn bản của Cơ quan y
tế/Hải quan tại nơi cập cảng (hoặc nơi quá cảnh)
xác nhận việc tàu bị cách ly do có người bị
Covid (ông K).
Chứng minh chính sự kiện cách ly là
nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc
chậm giao hàng.
Bệnh án, Giấy xác nhận dƣơng tính với Covid
của ông K và các tài liệu liên quan đến việc ông
K là người phụ trách giao hàng.
Chứng minh sự kiện bất khả kháng đã
tác động trực tiếp đến khả năng thực
hiện hợp đồng của Công ty Hồng
Kông.
3. Chứng cứ về Nỗ lực khắc phục:
Các Văn bản, Email, Fax Công ty Hồng Kông
gửi cho CTCP TX để thông báo về sự chậm trễ
Chứng minh Công ty Hồng Kông đã
áp dụng mọi biện pháp cần thiết để hạn
Loại Tài liệu/Chứng cứ Mục đích Chứng minh
và nỗ lực khắc phục (ví dụ: thuê người khác giao
hàng thay, chuyển hàng sang tàu khác...).
chế thiệt hại, nhưng không thể khắc
phục được sự kiện (Điều 294 LTM
2005).
4. Hợp đồng nguyên tắc:
Bản Hợp đồng nguyên tắc gốc ngày 29/8/2019
và các phụ lục liên quan.
Kiểm tra kỹ điều khoản về Bất khả
kháng để xem dịch bệnh Covid hoặc
việc cách ly có được liệt kê là sự kiện
miễn trách nhiệm không.
CÂU HỎI 4: CĂN CỨ PHÁP LÝ VÀ LẬP LUẬN BẢO VỆ CÔNG TY HỒNG
KÔNG
Dựa trên các tình tiết bổ sung, Luật sư sẽ bảo vệ Công ty Hồng Kông bằng cách viện dẫn
sự kiện Bất khả kháng (Force Majeure) để yêu cầu miễn trách nhiệm bồi thường thiệt
hại và phạt vi phạm.
1. Căn cứ pháp lý:
Điều 294 Luật Thƣơng mại 2005 (Miễn trách nhiệm): Quy định Bên vi phạm
được miễn trách nhiệm khi vi phạm xảy ra do sự kiện bất khả kháng.
Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) (Bất khả kháng): Quy định sự kiện
bất khả kháng là sự kiện xảy ra khách quan không thể lƣờng trƣớc đƣợc và
không thể khắc phục đƣợc mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả
năng cho phép.
2. Lập luận bảo vệ:
1. Sự kiện Bất khả kháng:
o Tính khách quan và không thể lƣờng trƣớc: Thời gian giao hàng là cuối
năm 2020, là thời kỳ dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp và các
quy định về cách ly y tế thay đổi liên tục, nằm ngoài khả năng kiểm soát
của Công ty Hồng Kông.
o Không thể khắc phục: Việc ông K (ngƣời phụ trách giao hàng) bị cách
ly 14 ngày do nhiễm Covid-19 là một lệnh hành chính bắt buộc của cơ
quan có thẩm quyền. Sự kiện này là không thể khắc phục được bằng các
biện pháp thông thường, ngay cả khi Công ty Hồng Kông muốn thuê người
khác giao hàng thì vẫn phải tuân thủ lệnh cách ly đối với hàng hóa/phương
tiện.
2. Mối quan hệ nhân quả:
o Việc chậm giao hàng (15/01/2021) là hậu quả trực tiếp và duy nhất của
sự kiện cách ly 14 ngày (bắt đầu sau ngày 31/12/2020) do dịch bệnh Covid-
19.
3. Thủ tục thông báo:
o Cần khẳng định Công ty Hồng Kông đã thông báo cho CTCP TX về sự
kiện bất khả kháng và hậu quả có thể xảy ra trong thời hạn hợp lý (Điều
295 LTM 2005).
Kết luận: Công ty Hồng Kông đã vi phạm nghĩa vụ, nhưng việc vi phạm đó xảy ra do sự
kiện Bất khả kháng, do đó Công ty Hồng Kông đƣợc miễn hoàn toàn trách nhiệm bồi
thường thiệt hại và phạt vi phạm.
CÂU HỎI 5: XÂY DỰNG PHƢƠNG ÁN ĐÀM PHÁN VỚI CTCP TX CỦA VIỆT
NAM
Mục tiêu của đàm phán là đạt được thỏa thuận giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án/Trọng
tài, duy trì quan hệ hợp tác và chấm dứt hoàn toàn các yêu cầu phạt/bồi thường 1,5 tỷ
VNĐ.
1. Phƣơng án đàm phán (Nguyên tắc Win-Win):
Giai đoạn/Chiến
lƣợc Mục tiêu Lập luận
Giai đoạn 1: Lập
luận Pháp lý (Vị
thế mạnh)
Miễn trách
nhiệm hoàn
toàn.
Trình bày toàn bộ căn cứ Bất khả kháng (tài liệu y
tế, lệnh cách ly, Điều 294 LTM). Khẳng định Công
ty Hồng Kông không có lỗi, do đó không phải
chịu bất kỳ khoản phạt/bồi thƣờng nào.
Giai đoạn 2: Đề
xuất Thƣơng mại
(Nhƣợng bộ chiến
lƣợc)
Giảm thiểu
thiệt hại và đền
bù cho sự bất
tiện.
Chuyển từ lập luận pháp lý sang thiện chí thƣơng
mại (thỏa hiệp). Đề xuất hỗ trợ một phần chi phí
cho CTCP TX (ví dụ: trả chi phí lưu kho phát sinh
hoặc tặng thêm một lô hàng nhỏ/giảm giá cho đơn
hàng tiếp theo) để đổi lấy việc CTCP TX rút lại
toàn bộ yêu cầu phạt/bồi thường 1,5 tỷ VNĐ.
Giai đoạn 3: Duy
trì Quan hệ (Mục
tiêu dài hạn)
Ký kết Phụ
lục/Biên bản
Thỏa thuận
chấm dứt tranh
chấp.
Đề xuất ký Hợp đồng nguyên tắc mới hoặc Phụ lục
cho Hợp đồng hiện tại với các điều khoản Bất khả
kháng chi tiết hơn (bao gồm cả dịch bệnh/cách ly)
để đảm bảo an toàn cho các giao dịch tương lai.
2. Nội dung Thỏa thuận Dự kiến (Nếu đàm phán thành công):
Biên bản Thỏa thuận Giải quyết Tranh chấp sẽ có các nội dung chính:
1. Xác nhận Bất khả kháng: Hai bên xác nhận sự kiện chậm giao hàng xảy ra do sự
kiện bất khả kháng (dịch bệnh Covid và lệnh cách ly).
2. Miễn trách nhiệm: CTCP TX rút lại toàn bộ yêu cầu phạt vi phạm và bồi
thường thiệt hại tổng cộng 1,5 tỷ VNĐ.
3. Nghĩa vụ hỗ trợ: Công ty Hồng Kông thực hiện một khoản hỗ trợ thương mại (ví
dụ: giảm giá 5% trên đơn hàng tiếp theo hoặc chi trả $X chi phí phát sinh thực tế).
4. Chấm dứt tranh chấp: Hai bên cam kết không khởi kiện tranh chấp này ra Tòa
án hoặc Trọng tài, và xem như tranh chấp đã được giải quyết dứt điểm.
ĐỀ 9
Theo đơn khiếu nại:
Năm 2000, Bà Lưu Thị Uyễn có mua lại 156m2 đất của chị Nguyễn Thị Hương tại khu
phố 3, phường Y, quận X, tỉnh A. Về nguồn gốc đất chị Hương có đưa ra giấy ủy quyền
mua bán của mẹ chị là bà Nguyễn Thị Rượu; diện tích đất này được bà Rượu mua lại của
thương binh phường Y, do thương binh khai hoang. Năm 1993, thương binh đã tiến hành
xây dựng nhà cấp 4 để ở. Hiện tại, trên diện tích đất này đang tồn tại một căn nhà 2 tầng,
diện tích 65m2/tầng. Từ thời điểm mua cho đến năm 2020, bà Uyễn đều nhận được thông
báo thuế và đều nộp thuế nhà đất hàng năm.
Ngày 21/3/2021, bà Uyễn mời Công ty đo đạc tiến hành đo đạc hồ sơ kỹ thuật thửa đất.
Ngày 19/4/2021, bà Lưu Thị Uyễn làm hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và tài sản trên đất và mang đến nộp tại UBND phương Y, quận X, tỉnh A. Ngày
19/6/2021, UBND phường ban hành thông báo số 01/TB- UBND trả lời thửa đất trên đã
có quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Nguyễn Anh
Quân theo dự án làm nhà ở của công ty Sông Hương. Bà Hương thấy rằng quyết định cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 156m2 do gia đình bà đang quản lý cho ông
Quân là vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Ngày
19/7/2021, bà Hương làm đơn khiếu nại thông báo số 01/TB-UBND đến Chủ tịch UBND
phường Y.
Câu hỏi 1 (1,5 điểm): Thông báo số 01/TB-UBND ngày 19/6/2021 có là đối tượng khiếu
nại không? Tại sao?
Câu hỏi 2 (2,0 điểm): Anh/chị hãy đánh giá về điều kiện khiếu nại của bà Lưu Thị Uyễn?
Tình tiết bổ sung
Sau khi thụ lý đơn của bà Uyễn, UBND phường Y tiến hành làm việc và xác định: Thửa
đất 1B, có diện tích 156m2, tờ bản đồ số 16, mục đích là đất ở đã được giao cho công ty
Sông Hương thuê (nằm trong diện tích 2000m2) vào năm 1995. Sau đó, đến năm 1998,
thì công ty Sông Hương đã tiến hành lập dự án làm nhà ở đối với 2000m2 thuê trên và
bán cho 10 cán bộ, công nhân viên của công ty. Phần đất nhà bà Uyễn đang ở được giao
cho hộ gia đình ông Nguyễn Anh Quân. Tuy nhiên, sau khi giải phóng mặt bằng để bàn
giao và thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận thì chưa thực hiện được do có hộ gia đình
bà Lưu Thị Uyễn đang sinh sống trên thửa đất này. Việc nộp tiền sử dụng đất của công ty
Sông Hương đối với dự án trên được nộp làm 2 lần (40.000.000 đồng/đợt, đợt 1 nộp năm
2008, đợt 2 nộp năm 2014).
Ông Quân trình bày: Năm 1998, ông là cán bộ công ty Sông Hương và được công ty
thông báo có xin được dự án làm nhà ở cho cán bộ công nhân tại phường Y. Xét thấy
mình đủ tiêu chuẩn, ông đã làm đơn và được phê duyệt mua 1 suất đất tại dự án này.
Năm 2008, UBND tỉnh A có ban hành quyết định phê duyệt dự án làm nhà ở của công ty
Sông Hương tại phường Y, quận X và danh sách các hộ được cấp đất làm nhà ở theo dự
án. Theo quyết định này, ông Quân được cấp 1 suất đất 156m2, thửa 1B, tờ bản đồ số 16.
Với tư cách luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Uyễn, anh (chị) hãy
Câu hỏi 3 (1,5 điểm): Xác định các vấn đề chứng mình của vụ việc.
Câu hỏi 4 (2,0 điểm): Xác định các tài liệu, chứng cứ cần chuẩn bị để tham gia vào phiên
đối thoại.
Câu hỏi 5 (3,0 điểm): Đánh giá tính bất hợp pháp về nội dung của Thông báo số 01/TB-
UBND ngày 19/6/2021.
ĐÁP ÁN
Chào bạn, tôi sẽ giúp bạn phân tích chi tiết ĐỀ 9 liên quan đến khiếu nại quyết định hành
chính trong lĩnh vực đất đai.
CÂU HỎI 1 (1,5 điểm): THÔNG BÁO SỐ 01/TB-UBND NGÀY 19/6/2021 CÓ LÀ
ĐỐI TƢỢNG KHIẾU NẠI KHÔNG? VÌ SAO?
Trả lời:
Thông báo số 01/TB-UBND ngày 19/6/2021 của UBND phƣờng Y KHÔNG phải là
đối tƣợng khiếu nại theo quy định của Luật Khiếu nại.
Giải thích:
1. Căn cứ pháp lý:
o Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại 2011, đối tượng khiếu nại là Quyết
định hành chính hoặc Hành vi hành chính của cơ quan, cá nhân có thẩm
quyền.
o Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước ban
hành, chứa đựng quy tắc xử sự chung hoặc áp dụng một lần đối với một
hoặc một số đối tượng cụ thể.
2. Đánh giá Thông báo số 01/TB-UBND:
o Thông báo số 01/TB-UBND chỉ là văn bản thông tin cho Bà Uyễn về việc
hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ của Bà bị từ chối với lý do thửa đất đã có quyết
định cấp cho hộ ông Nguyễn Anh Quân.
o Thông báo này không làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền,
lợi ích hợp pháp của Bà Uyễn một cách trực tiếp. Quyền lợi của Bà bị ảnh
hưởng là do Quyết định cấp GCNQSDĐ cho ông Quân (được đề cập
trong thông báo), chứ không phải do bản thân "Thông báo" đó.
o Do đó, Thông báo số 01/TB-UBND không phải là Quyết định hành
chính bị khiếu nại.
Kết luận: Bà Uyễn cần khiếu nại trực tiếp Quyết định cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ gia đình ông Nguyễn Anh Quân, chứ không phải khiếu nại Thông báo.
CÂU HỎI 2 (2,0 điểm): ĐÁNH GIÁ VỀ ĐIỀU KIỆN KHIẾU NẠI CỦA BÀ LƢU
THỊ UYỄN?
Dựa trên giả định Bà Uyễn khiếu nại Quyết định cấp GCNQSDĐ cho ông Quân (được
đề cập trong thông báo) chứ không phải khiếu nại Thông báo 01/TB-UBND, điều kiện
khiếu nại của Bà Uyễn cần được đánh giá theo Điều 7 Luật Khiếu nại 2011:
Điều kiện Đánh giá Nhận xét
1. Ngƣời
khiếu nại
2. Đối
tƣợng
khiếu nại
Có đủ điều
Bà Uyễn là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất và cho rằng
quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi Quyết định
kiện.
cấp GCN cho ông Quân.
Có đủ điều
kiện.
Quyết định cấp GCNQSDĐ cho ông Quân là một Quyết định
hành chính cá biệt thuộc đối tượng khiếu nại.
Bà Uyễn nhận được thông tin về Quyết định cấp GCN cho ông
3. Thời
hiệu
khiếu nại
Có đủ điều
kiện.
Quân vào ngày 19/6/2021 (qua Thông báo 01/TB-UBND). Bà làm
đơn khiếu nại ngày 19/7/2021. Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày kể
từ ngày biết được Quyết định (Điều 9 Luật Khiếu nại 2011). Bà
Uyễn đảm bảo thời hiệu.
Bà Uyễn chƣa nộp đơn khiếu nại Quyết định cấp GCNQSDĐ cho
4. Khiếu
nại lần
đầu
ông Quân đến cơ quan đã ban hành quyết định đó (UBND tỉnh
A/Sở TNMT). Việc nộp đơn tới UBND phường Y là không đúng
thẩm quyền.
5. Việc Không có
thông tin
rõ ràng.
Chƣa có Việc khiếu nại phải đƣợc làm bằng đơn và gửi đến đúng cơ
Điều kiện Đánh giá khiếu nại đủ điều
kiện.
Nhận xét
quan có thẩm quyền giải quyết lần đầu theo quy định tại Điều 18
Luật Khiếu nại 2011 (Thông thường là cơ quan đã cấp GCN
hoặc cấp trên trực tiếp của cơ quan đó).
Xuất sang Trang tính
Kết luận: Bà Uyễn đáp ứng điều kiện về chủ thể, đối tƣợng và thời hiệu, nhưng chƣa
đáp ứng về thủ tục vì nộp đơn khiếu nại sai đối tượng (Thông báo) và sai cơ quan
(UBND phường Y).
CÂU HỎI 3 (1,5 điểm): XÁC ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CẦN CHỨNG MINH CỦA VỤ
VIỆC
Với tư cách luật sư bảo vệ Bà Uyễn, mục tiêu là chứng minh Bà Uyễn có quyền sử dụng
đất hợp pháp và Quyết định cấp GCN cho ông Quân là bất hợp pháp.
1. Chứng minh quá trình sử dụng đất là ổn định, liên tục và hợp pháp của Bà
Uyễn:
o Bà Uyễn đã mua và sử dụng đất từ năm 2000 (thời điểm mua là căn cứ
pháp lý quan trọng).
o Việc nộp thuế nhà đất hàng năm từ 2000 đến 2020 thể hiện việc sử dụng
đất công khai, liên tục, và đƣợc chính quyền địa phƣơng thừa nhận
(Giấy nộp tiền thuế là chứng cứ quan trọng để công nhận QSDĐ không có
giấy tờ theo Điều 101 Luật Đất đai 2013).
o Sự tồn tại của căn nhà 2 tầng trên đất chứng minh quá trình đầu tƣ, gắn
bó lâu dài với đất.
2. Chứng minh tính bất hợp pháp của việc cấp GCN cho ông Quân:
o Chứng minh thời điểm Công ty Sông Hƣơng lập dự án (1998) và thời
điểm bán suất đất cho ông Quân (1998) là sau khi đất đã được người tiền
nhiệm của Bà Uyễn (thương binh) sử dụng, xây nhà từ năm 1993.
o Khẳng định việc cấp GCN cho ông Quân là cấp trên đất đã có ngƣời sử
dụng ổn định và có nhà ở, vi phạm nguyên tắc cấp GCNQSDĐ.
3. Chứng minh sự mâu thuẫn trong hồ sơ dự án:
o Chứng minh dự án được phê duyệt năm 2008, nhưng việc nộp tiền sử dụng
đất kéo dài đến năm 2014, trong khi đất đã có người sử dụng ổn định từ
trước. Việc Công ty Sông Hương bán đất từ năm 1998 trong khi dự án đến
2008 mới được phê duyệt là bán đất trên giấy hoặc chuyển nhƣợng
không có thẩm quyền.
CÂU HỎI 4 (2,0 điểm): XÁC ĐỊNH CÁC TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ CẦN CHUẨN
BỊ ĐỂ THAM GIA VÀO PHIÊN ĐỐI THOẠI
1. Chứng cứ về Giao dịch và Sử dụng của Bà Uyễn:
o Giấy tờ mua bán đất năm 2000 giữa Bà Uyễn và Chị Hương (kèm giấy ủy
quyền của Bà Rượu).
o Giấy tờ mua bán đất giữa Bà Rượu và Thương binh phường Y (nếu có)
hoặc Lời khai/Xác nhận của những người này.
o Biên lai nộp thuế nhà đất hàng năm từ năm 2000 đến 2020.
o Ảnh chụp hiện trạng nhà 2 tầng trên đất (chứng minh việc sử dụng ổn
định, lâu dài).
o Lời khai của hàng xóm xác nhận Bà Uyễn là người sử dụng đất liên tục từ
năm 2000 đến nay.
2. Chứng cứ về Nguồn gốc đất của Thƣơng binh:
o Tìm kiếm hồ sơ tại phường/quận về việc khai hoang của thƣơng binh
năm 1993 (Văn bản xác nhận của chính quyền, danh sách thương binh
được cấp đất, v.v.) để chứng minh nguồn gốc đất không thuộc diện đất
trống cho thuê/làm dự án.
3. Chứng cứ về Quyết định Cấp GCN cho ông Quân (cần thu thập):
o Quyết định cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông Nguyễn Anh Quân (số,
ngày, tháng, năm ban hành).
o Quyết định phê duyệt dự án làm nhà ở của công ty Sông Hƣơng năm
2008 của UBND tỉnh A.
o Danh sách các hộ đƣợc cấp đất theo dự án (để xác định đúng vị trí và tên
ông Quân).
CÂU HỎI 5 (3,0 điểm): ĐÁNH GIÁ TÍNH BẤT HỢP PHÁP VỀ NỘI DUNG CỦA
THÔNG BÁO SỐ 01/TB-UBND NGÀY 19/6/2021
Như đã phân tích ở Câu 1, Thông báo 01/TB-UBND không phải là đối tượng khiếu nại,
mà là Quyết định cấp GCNQSDĐ cho ông Quân được nêu trong thông báo mới là bất
hợp pháp. Đánh giá này sẽ tập trung vào tính bất hợp pháp của Quyết định cấp
GCNQSDĐ cho ông Quân.
Quyết định cấp GCNQSDĐ cho ông Quân có tính bất hợp pháp về nội dung vì vi
phạm các nguyên tắc pháp luật đất đai về công nhận quyền sử dụng đất và cấp GCN.
1. Vi phạm nguyên tắc Công nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ):
Căn cứ pháp lý: Khoản 2 Điều 100 và Điều 101 Luật Đất đai 2013 quy định về
việc cấp GCN cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà không có
giấy tờ.
Lập luận:
o Thửa đất 156m² đã được người tiền nhiệm của Bà Uyễn sử dụng, xây nhà
từ năm 1993 và Bà Uyễn sử dụng ổn định, công khai, nộp thuế từ năm
2000.
o Việc công nhận QSDĐ cho ông Quân (người chưa sử dụng đất, chỉ có
suất đất từ dự án) trên phần đất đã có ngƣời khác sử dụng ổn định, có
nhà ở hợp pháp và nộp thuế là trái với nguyên tắc ƣu tiên công nhận
QSDĐ cho người sử dụng đất ổn định, lâu dài.
2. Vi phạm nguyên tắc Quản lý và Phát triển Dự án:
Căn cứ pháp lý: Điều 12 Luật Đất đai 2013 (các hành vi bị nghiêm cấm) cấm
lấn chiếm, chuyển nhượng trái phép.
Lập luận:
o Công ty Sông Hương đã được giao đất thuê vào năm 1995. Tuy nhiên, việc
Công ty Sông Hương bán suất đất cho ông Quân vào năm 1998 là trước
khi dự án đƣợc phê duyệt chính thức (2008) và trước khi Công ty hoàn
thành nghĩa vụ tài chính (nộp tiền sử dụng đất đến 2014).
o Hơn nữa, đất thuê đã có người sử dụng (thương binh/bà Rượu/bà Uyễn) từ
trước khi dự án được phê duyệt. Điều này cho thấy Công ty Sông Hƣơng
đã đề xuất dự án trên đất không sạch, xâm phạm QSDĐ của người khác.
3. Vi phạm nguyên tắc về đối tƣợng và điều kiện cấp GCN:
Căn cứ pháp lý: Quyết định cấp GCN cho ông Quân thực chất là một hình thức
giao đất/công nhận đất cho ông Quân theo dự án, nhưng lại được thực hiện trên
đất đã có tài sản (nhà 2 tầng) và được nộp thuế của người khác (Bà Uyễn).
Lập luận: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp GCN cho ông Quân mà chƣa
hoàn thành thủ tục thu hồi, giải phóng mặt bằng hoặc giải quyết tranh chấp
đối với Bà Uyễn, đây là một vi phạm nghiêm trọng về thủ tục và nội dung cấp
GCN.
o Việc cấp GCNQSDĐ phải dựa trên hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm
cấp, và hiện trạng là Bà Uyễn đang sử dụng.
Tóm lại: Quyết định cấp GCNQSDĐ cho ông Quân là bất hợp pháp vì đã công nhận
QSDĐ cho người không sử dụng đất, trên phần đất đã có người khác sử dụng ổn định,
công khai và nộp thuế, vi phạm nguyên tắc và điều kiện công nhận QSDĐ theo Luật Đất
đai.
ĐỀ 10
Công ty TNHH Bình Minh (công ty Bình Minh), trụ sở tại TP. HCM chuyên thi công
công trình xây dựng, công ty Bình Minh dự định thực hiện dự án dây xựng một siêu thị
tại TP. HCM để khai thác kinh doanh. Tuy dự án rất hấp dẫn nhưng công ty Bình Minh
không có đủ khả năng tài chính để thực hiện dự án này. Công ty Bình Minh có quen biết
với công ty TNHH Phúc Nguyên (công ty Phúc Nguyên), trụ sở tại TP. HCM chuyên
kinh doanh hàng may mặc, công ty Phúc Nguyên có nguồn vốn nhàn rỗi và đang muốn
cho vay. Do đó, công ty Bình Minh dự định vay tiền Công ty Phúc Nguyên để triển khai
dự án.
Các bên mong muốn, khi có tranh chấp nếu không tự thương lượng được thì sẽ giải quyết
bằng phương thức hòa giải tại Trung tâm hòa giải Việt Nam (VMC), nếu không đạt kết
quả hòa giải các bên tiếp tục giải quyết bằng phương thức trọng tài tại Trung tâm Trọng
tài Quốc tế Việt Nam (VIAC). Ngoài ra, công ty Phúc Nguyên còn mong muốn được lựa
chọn thêm TAND có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp trong trường hợp công ty Bình
Minh vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi vay.
Để giúp các bên đạt được sự thỏa thuận như mong muốn, đại diện công ty Phúc Nguyên
đến VPLS của anh chị để nhờ tư vấn.
Câu hỏi 1 (2,0 điểm): Anh chị hãy cho biết ý kiến pháp lý về mong muốn giải quyết
tranh chấp trên của khách hàng?
Câu hỏi 2 (2,0 điểm): Anh chị hãy giúp các bên dự thảo điều khoản giải quyết tranh chấp
như mong muốn của khách hàng.
Tình tiết bổ sung
Thực tế, tháng 9/2020, công ty Bình Minh ký hợp đồng vay tiền số 1155/2020/HĐV-
BM-PN với công ty Phúc Nguyên mà không có sự tư vấn của luật sư, trong hợp đồng có
các nội dung
Điều 5:
Số tiền vay là 10 tỷ đồng, lãi suất cho vay 15%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi
suất cho vay. Thời hạn vay là 2 năm tính từ ngày giải ngân, trả tiền nợ gốc và lãi vay một
lần vào ngày đáo hạn.
Điều 9:
"Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung
tâm trọng tài TP. HCM, số lượng trọng tài viên là 03, ngôn ngữ trọng tài sẽ bằng tiếng
Anh, địa điểm trọng tài tại TP. HCM. Nếu kết quả giải quyết bằng trọng tài không được
như mong đợi, các bên có quyền tiếp tục yêu cầu Tòa án giải quyết và bản án của Tòa án
sẽ là quyết định cuối cùng, có giá trị thực hiện."
Câu hỏi 3 (2,5 điểm): Anh chị hãy đánh giá pháp lý về hiệu lực, hiệu quả của thỏa thuận
giải quyết tranh chấp trên?
Câu hỏi 4 (1,0 điểm): Theo anh chị với thỏa thuận này nguyên đơn có thể khởi kiện tại
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) không?
Tình tiết bổ sung
Sau khi ký hợp đồng công ty Phúc Nguyên đã giải ngân vào ngày 01/102/2020 số tiền 10
tỷ đồng cho công ty Bình Minh. Đến ngày đáo hạn là 01/10/2022, công tinh Bình Minh
vẫn không trả nợ gốc và lãi vay theo thỏa thuận. Công ty Phúc Nguyên yêu cầu công ty
Bình Minh thực hiện nghĩa vụ đến hạn, sau nhiều lần yêu cầu, công ty Bình Minh vẫn
không trả. Công ty Phúc Nguyên muốn khởi kiện công ty Bình Minh ra Trung tâm trọng
tài Quốc tế Việt Nam (VIAC).
Câu hỏi 5 (2,5 điểm): Giả sử Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam có thẩm quyền giải
quyết, anh chị hãy giúp khách hàng dự thảo đơn khởi kiện ra trọng tài?
ĐÁP ÁN
Chào bạn, tôi sẽ tư vấn và hỗ trợ bạn giải quyết ĐỀ 10 liên quan đến hợp đồng vay giữa
Công ty Bình Minh và Công ty Phúc Nguyên.
CÂU HỎI 1: Ý KIẾN PHÁP LÝ VỀ MONG MUỐN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
TRÊN CỦA KHÁCH HÀNG
Mong muốn của Công ty Phúc Nguyên về chuỗi giải quyết tranh chấp Hòa giải (VMC)
→ Trọng tài (VIAC) → Tòa án (lựa chọn thêm khi vi phạm) là có cơ sở pháp lý để
thực hiện ở hai bƣớc đầu nhưng bƣớc cuối cùng là không hợp pháp theo pháp luật
Việt Nam.
1. Về Hòa giải thƣơng mại (VMC): (Hợp pháp)
Theo Luật Hòa giải thƣơng mại 2017, các bên có quyền thỏa thuận đưa tranh
chấp ra hòa giải tại Trung tâm hòa giải thương mại (như VMC) trước hoặc sau khi
phát sinh tranh chấp. Đây là một phương thức giải quyết tranh chấp tự nguyện.
2. Về Trọng tài thƣơng mại (VIAC): (Hợp pháp)
Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vay giữa hai doanh nghiệp là tranh chấp
thƣơng mại (Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010 - LTTM).
Việc giải quyết bằng trọng tài tại VIAC là hoàn toàn hợp pháp và được pháp luật
khuyến khích.
3. Về Lựa chọn thêm Tòa án (sau Trọng tài): (Bất hợp pháp)
Tính chung thẩm của Phán quyết Trọng tài: Theo Điều 61 LTTM, phán quyết
của trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành.
Hạn chế thẩm quyền Tòa án: Khi các bên đã thỏa thuận giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài, Tòa án phải từ chối thụ lý vụ kiện, trừ trường hợp thỏa thuận trọng
tài vô hiệu (Điều 6 LTTM).
Vấn đề: Thỏa thuận cho phép các bên tiếp tục đưa vụ việc ra Tòa án sau khi có
phán quyết trọng tài là vi phạm nguyên tắc chung thẩm và làm cho thỏa thuận
trọng tài ban đầu bị coi là vô hiệu vì thiếu tính cam kết cuối cùng (Điều 17
LTTM).
Tƣ vấn: Để đảm bảo tính hợp pháp, Luật sư nên tư vấn khách hàng lựa chọn một trong
hai phương án sau:
Phƣơng án 1 (Chắc chắn nhất): Hòa giải → Trọng tài (chung thẩm, loại trừ Tòa
án).
Phƣơng án 2 (Unilateral Option - Có rủi ro pháp lý): Thỏa thuận rằng, trong
trường hợp vi phạm nghĩa vụ, Công ty Phúc Nguyên có quyền lựa chọn khởi kiện
tại Trọng tài hoặc Tòa án ngay từ đầu. (Phương án này không vi phạm tính
chung thẩm, nhưng tính hợp pháp của các điều khoản lựa chọn đơn phương vẫn
còn tranh cãi tại Việt Nam).
CÂU HỎI 2: DỰ THẢO ĐIỀU KHOẢN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
Dựa trên mong muốn của khách hàng, tôi sẽ dự thảo điều khoản theo hướng tối đa hóa
quyền lợi lựa chọn Tòa án cho Phúc Nguyên và tuân thủ chuỗi Hòa giải → Trọng tài,
nhưng phải làm rõ tính lựa chọn (option) thay vì tính tuần tự (sequential) của Trọng tài
và Tòa án.
ĐIỀU X: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
1. Hòa giải: Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến Hợp đồng này
trước hết phải được giải quyết bằng phương thức Hòa giải thƣơng mại tại
Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) theo Quy tắc hòa giải của Trung
tâm này.
2. Trọng tài hoặc Tòa án:
o Trong trường hợp hòa giải không thành công trong vòng [Thời hạn],
các bên thống nhất đưa tranh chấp ra giải quyết tại Trung tâm
Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài
của VIAC, địa điểm trọng tài tại TP. Hồ Chí Minh. Phán quyết của
Trọng tài là chung thẩm và ràng buộc các bên.
o Lựa chọn đặc biệt: Tuy nhiên, các bên đồng ý rằng, trong trường
hợp Công ty TNHH Bình Minh vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc
và/hoặc lãi vay theo Hợp đồng này, Công ty TNHH Phúc Nguyên
có quyền lựa chọn khởi kiện và yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm
quyền giải quyết thay cho Trọng tài. Việc lựa chọn này phải được
thông báo bằng văn bản trước khi nộp đơn khởi kiện.
CÂU HỎI 3: ĐÁNH GIÁ PHÁP LÝ VỀ HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ CỦA THỎA
THUẬN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG HỢP ĐỒNG GỐC
Thỏa thuận tại Điều 9 của Hợp đồng số 1155/2020/HĐV-BM-PN là vô hiệu và thiếu
hiệu quả nghiêm trọng.
1. Về Hiệu lực (Validity) - Vô hiệu:
Vi phạm tính chung thẩm: Điều khoản quy định: "...Nếu kết quả giải quyết bằng
trọng tài không được như mong đợi, các bên có quyền tiếp tục yêu cầu Tòa án
giải quyết..."
o Điều khoản này vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc chung thẩm của phán
quyết trọng tài được quy định tại Điều 61 LTTM.
o Do đó, thỏa thuận trọng tài này vô hiệu theo Điểm g Khoản 1 Điều 18
LTTM (vì vi phạm điều cấm của pháp luật, ở đây là nguyên tắc chung
thẩm).
Mơ hồ về Trung tâm Trọng tài: Điều khoản quy định: "...giải quyết bằng trọng
tài tại Trung tâm trọng tài TP. HCM..."
o Tên gọi này không rõ ràng, vì tại TP. HCM có nhiều trung tâm trọng tài
đang hoạt động. Sự mơ hồ này cũng là một căn cứ khiến thỏa thuận trọng
tài bị coi là không thực hiện đƣợc (Điều 17 LTTM).
2. Về Hiệu quả (Efficiency) - Thiếu hiệu quả:
Tốn kém và mất thời gian: Nếu thỏa thuận bị tuyên vô hiệu, các bên sẽ phải giải
quyết tranh chấp tại Tòa án (TAND TP. HCM), vốn là cơ quan có quy trình tố
tụng kéo dài hơn và chi phí kiện tụng/thời gian chờ đợi thường cao hơn so với
Trọng tài.
Mâu thuẫn: Chuỗi giải quyết Trọng tài → Tòa án làm mất đi lợi thế lớn nhất
của Trọng tài là sự nhanh chóng và chung thẩm.
CÂU HỎI 4: NGUYÊN ĐƠN CÓ THỂ KHỞI KIỆN TẠI VIAC KHÔNG?
Trả lời: Theo thỏa thuận tại Điều 9, Nguyên đơn (Công ty Phúc Nguyên) không thể
khởi kiện tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) một cách hợp pháp.
1. Vô hiệu: Thỏa thuận trọng tài tại Điều 9 là vô hiệu vì vi phạm tính chung thẩm
của phán quyết trọng tài. Do đó, theo Điều 6 LTTM, trọng tài (bao gồm cả VIAC)
phải từ chối thụ lý.
2. Mơ hồ: Thỏa thuận chỉ đề cập đến "Trung tâm trọng tài TP. HCM", không chỉ
đích danh VIAC. VIAC có thể từ chối thụ lý do thỏa thuận không rõ ràng và
không xác định được đích danh trung tâm.
Nếu muốn khởi kiện, Công ty Phúc Nguyên phải nộp đơn tại Tòa án nhân dân TP.
HCM (nơi Bị đơn có trụ sở) vì thỏa thuận trọng tài đã vô hiệu.
CÂU HỎI 5: DỰ THẢO ĐƠN KHỞI KIỆN RA TRỌNG TÀI
(Giả định: VIAC chấp nhận thẩm quyền và Công ty Phúc Nguyên khởi kiện vào ngày
01/11/2023)
Tính toán sơ bộ các khoản nợ đến ngày 01/11/2023:
1. Nợ gốc: 10.000.000.000 VNĐ.
2. Lãi vay (Đúng hạn) (01/10/2020 – 01/10/2022):
10 tỷ×15%/na˘m×2 na˘m=3.000.000.000 VNĐ.
3. Lãi suất nợ quá hạn: 150%×15%=22.5%/na˘m.
4. Thời gian quá hạn: Từ 02/10/2022 đến 01/11/2023 là 397 ngày.
5. Lãi quá hạn trên nợ gốc (tính đến 01/11/2023): 10 tỷ×36522.5%
×397 ngaˋy≈2.448.630.137 VNĐ.
6. Tổng Yêu cầu: 10.000.000.000+3.000.000.000+2.448.630.137=15.448.630.137
VNĐ.
CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TP. Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 11 năm 2023
ĐƠN KHỞI KIỆN TRỌNG TÀI
Kính gửi: TRUNG TÂM TRỌNG TÀI QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIAC)
I. THÔNG TIN CÁC BÊN
Mục BÊN KHỞI KIỆN (NGUYÊN
ĐƠN) BÊN BỊ KIỆN (BỊ ĐƠN)
Tên Công ty CÔNG TY TNHH PHÚC NGUYÊN CÔNG TY TNHH BÌNH MINH
Trụ sở chính [Địa chỉ trụ sở chính Công ty Phúc
[Địa chỉ trụ sở chính Công ty
Nguyên]
Bình Minh]
Ngƣời đại diện [Tên, Chức vụ] [Tên, Chức vụ]
Điện
thoại/Email [Số điện thoại] / [Địa chỉ Email] [Số điện thoại] / [Địa chỉ Email]
Xuất sang Trang tính
II. CƠ SỞ KHỞI KIỆN
1. Cơ sở Hợp đồng: Hợp đồng vay tiền số 1155/2020/HĐV-BM-PN ký ngày
09/2020 (Hợp đồng vay).
2. Cơ sở Thẩm quyền: Điều 9 Hợp đồng vay đã thỏa thuận giải quyết tranh chấp
bằng Trọng tài tại TP. Hồ Chí Minh. Nguyên đơn đề nghị VIAC thụ lý giải quyết.
III. TÓM TẮT TRANH CHẤP
1. Ngày 01/10/2020, Nguyên đơn đã giải ngân đủ 10.000.000.000 VNĐ cho Bị đơn
theo Hợp đồng vay.
2. Theo Điều 5 Hợp đồng vay, ngày đáo hạn là 01/10/2022. Tính đến ngày này, Bị
đơn phải trả nợ gốc và lãi vay đúng hạn là 13.000.000.000 VNĐ.
3. Đến ngày đáo hạn (01/10/2022), Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ, không thanh toán nợ
gốc và lãi vay, mặc dù Nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu.
4. Việc Bị đơn chậm trả đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho Nguyên đơn.
IV. YÊU CẦU GIẢI QUYẾT
Nguyên đơn yêu cầu Hội đồng Trọng tài buộc Công ty TNHH Bình Minh phải thanh
toán cho Công ty TNHH Phúc Nguyên tổng cộng 15.448.630.137 VNĐ (Mười lăm tỷ
bốn trăm bốn mươi tám triệu sáu trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng) và các
khoản phát sinh khác, cụ thể:
1. Tiền nợ gốc: 10.000.000.000 VNĐ.
2. Lãi vay đúng hạn (15%/năm trong 2 năm): 3.000.000.000 VNĐ.
3. Lãi suất nợ quá hạn trên nợ gốc (22.5%/năm, tính từ 02/10/2022 đến
01/11/2023): 2.448.630.137 VNĐ.
4. Lãi suất quá hạn phát sinh tiếp: Yêu cầu Bị đơn phải tiếp tục thanh toán lãi suất
nợ quá hạn là 22.5%/năm trên số tiền nợ gốc 10.000.000.000 VNĐ tính từ ngày
02/11/2023 cho đến ngày Bị đơn thanh toán xong toàn bộ nợ gốc.
5. Chi phí Trọng tài: Yêu cầu Bị đơn thanh toán toàn bộ Phí Trọng tài, thù lao Luật
sư và các chi phí hợp lý khác mà Nguyên đơn đã chi trả.
V. TÀI LIỆU KÈM THEO
1. Hợp đồng vay tiền số 1155/2020/HĐV-BM-PN.
2. Chứng từ giải ngân 10.000.000.000 VNĐ.
3. Các văn bản, email yêu cầu thanh toán.
4. Bản tính toán chi tiết nợ gốc, lãi vay và lãi quá hạn.
5. Giấy chứng nhận Đăng ký Doanh nghiệp của hai bên.
ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA CÔNG TY TNHH PHÖC NGUYÊN (Ký, ghi rõ họ tên,
chức vụ, đóng dấu)
ĐỀ 11
Theo bà Vy trình bày
Ngày 01/10/2019, bà Nguyễn Thúy Vy nhận được Quyết định thu hồi đất số 03/QĐ-
UBND của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh An ban hành ngày 18/6/2019 về việc thu hồi
130m2 tại thôn Quế Ô, xã Hòa Bắc, huyện Tĩnh An, tỉnh C của gia đình bà để làm tuyến
đường mở rộng của đường vành đai 3 trên cao.
Ngày 15/10/2019, bà Vy tiếp tục nhận được Quyết định số 04/QĐ-UBND của Chủ tịch
UBND huyện Tĩnh An ban hành ngày 19/6/2019 về việc phê duyệt phương án bồi
thường và giải phóng mặt bằng mở rộng đường vành đai 3 trên cao đối với gia đình bà.
Nhận thấy 02 quyết định trên xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình, bà Vy muốn
làm đơn khiếu nại gửi đến UBND huyện Tĩnh An.
Để giúp bà Vy khiếu nại, anh chị hãy
Câu hỏi 01 (1,5 điểm): Xác định đối tượng khiếu nại? Giải thích tại sao?
Câu hỏi 02 (2,5 điểm): Đánh giá về điều kiện khiếu nại của bà Vy?
Tình tiết bổ sung
Bà Vy cho rằng: Thửa đất 3B, tờ bản đồ số 19, có diện tích 168m2 là đất của ông cha để
lại. Toàn bộ thửa đất này nằm trong vùng quy hoạch làm đường vành đai 3 mở rộng. Nếu
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU558/QĐ-UBND cấp ngày 10/3/2009 có
diện tích là 168m2, trong khi đó nhà nước chỉ thu hồi và đền bù là 130m2 và thực hiện
việc giải tòa toàn bộ. Như vậy, so với diện tích được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất là còn thiếu 38m2 chưa được đền bù. Để đảm bảo quyền lợi của mình bà Vy đã đến
UBND huyện Tĩnh An cố ý kiến đề xuất và được trả lời đất này không thuộc sở hữu của
gia đình và nên bà không được đền bù.
UBND huyện Tĩnh An cho rằng: Thửa đất số 3B, tờ bản số 19, có diện tích 168m2 theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU558/QĐ-UBND cấp ngày 10/3/2009 mang tên
bà Nguyễn Thúy Vy là thửa đất nằm trong vùng quy hoạch làm đường vành đai 3 mở
rộng. Việc UBND huyện thu hồi đất và giải phóng mặt bằng là hoàn toàn phù hợp với
quy định của pháp luật. Tuy Giấy chứng nhận cấp 168m2 nhưng chỉ được thu hồi và đền
bù đối với 130m2 vì diện tích 38m2 nằm trong vùng quy hoạch cũ, mặc dù được cấp số
nhưng nguồn gốc đất là đất lấn chiếm nên không đủ điều kiện để đền bù. Ngày
05/10/2019, bà Vy có đến UBND huyện thắc mắc tại buổi tiếp công dân của Phó Chủ
tịch phụ trách và việc này đã được giải quyết xong tại buổi tiếp công dân này. Như vậy,
chứng tôi đã giải quyết khiếu nại của bà Vỵ. Đến nay, bà Vy tiếp tục làm đơn khiếu nại
gửi lên UBND huyện thì Ủy ban đã hết quyền giải quyết khiếu nại và sẽ chuyển đơn đến
cơ quan có thẩm quyền cấp trên trực tiếp để đảm bảo quyền lợi cho bà Vy.
Với tư cách luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Vy, anh (chị) hãy
Câu hỏi 3 (2,0 điểm): Nhận xét về việc giải quyết khiếu nại của UBND huyện Tĩnh An.
Câu hỏi 4 (2,0 điểm): Xác định các tài liệu, chứng cứ cần thiết để giúp bà Vy khiếu nại.
Câu hỏi 5 (2,0 điểm): Soạn thảo lập luận bảo vệ cho bà Vy tại phiên đối thoại.
ĐÁP ÁN
Chào bạn, tôi sẽ giúp bạn phân tích và tư vấn chi tiết ĐỀ 11 liên quan đến việc khiếu nại
quyết định thu hồi đất và bồi thường.
CÂU HỎI 1 (1,5 điểm): XÁC ĐỊNH ĐỐI TƢỢNG KHIẾU NẠI? GIẢI THÍCH TẠI
SAO?
Trả lời:
Đối tượng khiếu nại là hai Quyết định hành chính sau đây:
1. Quyết định thu hồi đất số 03/QĐ-UBND ngày 18/6/2019 của Chủ tịch UBND
huyện Tĩnh An.
2. Quyết định phê duyệt phƣơng án bồi thƣờng và giải phóng mặt bằng số
04/QĐ-UBND ngày 19/6/2019 của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh An.
Giải thích:
Căn cứ pháp lý: Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại 2011, đối tượng khiếu
nại là Quyết định hành chính hoặc Hành vi hành chính của cơ quan, cá nhân có
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước.
Tính chất của Quyết định:
o Cả hai Quyết định 03 và 04 đều là Quyết định hành chính cá biệt do Chủ
tịch UBND huyện ban hành, áp dụng một lần đối với một đối tượng cụ thể
(gia đình Bà Vy).
o Các quyết định này làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền và
lợi ích hợp pháp của Bà Vy trong lĩnh vực quản lý đất đai (thu hồi quyền
sử dụng đất và xác định mức bồi thường).
o Do đó, chúng là các quyết định hành chính thuộc đối tượng bị khiếu nại
theo quy định của pháp luật.
CÂU HỎI 2 (2,5 điểm): ĐÁNH GIÁ VỀ ĐIỀU KIỆN KHIẾU NẠI CỦA BÀ VY?
Việc đánh giá điều kiện khiếu nại của Bà Vy được thực hiện theo Điều 7 và Điều 9 Luật
Khiếu nại 2011.
Điều kiện
Đánh
Khiếu nại
giá Nhận xét
Có đủ
Bà Vy là người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm bởi các
1. Ngƣời
khiếu nại
2. Đối
tƣợng
khiếu nại
điều
quyết định hành chính (Quyết định thu hồi đất và Quyết định bồi
kiện.
thường) liên quan trực tiếp đến thửa đất đứng tên Bà.
Có đủ
Các quyết định 03/QĐ-UBND và 04/QĐ-UBND là Quyết định hành
điều
chính thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND huyện, là đối tượng
kiện.
khiếu nại.
Bà Vy nhận Quyết định 03 vào ngày 01/10/2019 và Quyết định 04
vào ngày 15/10/2019. Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày kể từ ngày
3. Thời
hiệu khiếu
nại
Có đủ
điều
kiện.
nhận được quyết định (Điều 9 Luật Khiếu nại 2011). Thời điểm
Bà Vy làm đơn khiếu nại không đƣợc nêu rõ; nếu Bà Vy làm đơn
trong vòng 90 ngày kể từ ngày nhận quyết định, thì đảm bảo thời
hiệu.
4. Thẩm
Có đủ
quyền
điều
khiếu nại
lần đầu
kiện.
Xuất sang Trang tính
Kết luận: Về mặt pháp lý, Bà Vy đáp ứng đầy đủ các điều kiện khiếu nại.Các Quyết định do Chủ tịch UBND huyện Tĩnh An ban hành. Bà
Vy có quyền khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch UBND huyện Tĩnh
An hoặc khiếu nại lần hai đến Chủ tịch UBND tỉnh C (Điều 7 Luật
Khiếu nại 2011).
CÂU HỎI 3 (2,0 điểm): NHẬN XÉT VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI CỦA
UBND HUYỆN TĨNH AN
Việc giải quyết khiếu nại của UBND huyện Tĩnh An có những điểm sai sót nghiêm
trọng về thủ tục và thẩm quyền, cụ thể:
1. Sai sót về Thủ tục và Hình thức Giải quyết:
o UBND huyện Tĩnh An cho rằng việc tiếp công dân ngày 05/10/2019 (tại
buổi tiếp của Phó Chủ tịch) đã được xem là giải quyết khiếu nại lần đầu
là sai quy định pháp luật.
o Theo Điều 29 Luật Khiếu nại 2011, việc giải quyết khiếu nại phải được
tiến hành bằng Quyết định giải quyết khiếu nại (văn bản hành chính
chính thức) sau khi đã thực hiện đầy đủ các bước xác minh, đối thoại. Buổi
tiếp công dân không thể thay thế một Quyết định giải quyết khiếu nại lần
đầu.
2. Sai sót về Thẩm quyền Giải quyết Lần hai:
o UBND huyện Tĩnh An cho rằng đã hết quyền giải quyết khiếu nại và sẽ
chuyển đơn đến cấp trên.
o Đây là sai sót về mặt logic pháp lý nếu UBND huyện chưa ban hành
Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu. Nếu Bà Vy làm đơn khiếu nại đến
UBND huyện, đây là khiếu nại lần đầu (đúng thẩm quyền theo Điều 18
Luật Khiếu nại 2011).
o Chỉ khi UBND huyện đã ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần
đầu, Bà Vy mới có quyền khiếu nại lên cấp trên (Chủ tịch UBND tỉnh).
Kết luận: UBND huyện Tĩnh An đã không tuân thủ thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu
theo Luật Khiếu nại, đồng thời tƣớc đi quyền đƣợc giải quyết khiếu nại lần đầu của
Bà Vy, làm ảnh hưởng đến quyền lợi và thủ tục khiếu nại tiếp theo của Bà.
CÂU HỎI 4 (2,0 điểm): XÁC ĐỊNH CÁC TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ CẦN THIẾT
ĐỂ GIÖP BÀ VY KHIẾU NẠI
Mục tiêu khiếu nại là buộc UBND huyện Tĩnh An phải bồi thƣờng thêm 38m² và giải
quyết đúng thủ tục. Cần chuẩn bị các tài liệu sau:
1. Tài liệu chứng minh Quyền sử dụng Đất:
o Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU558/QĐ-UBND cấp ngày
10/3/2009 (để khẳng định diện tích được cấp là 168m²).
o Trích lục bản đồ địa chính hoặc Bản đo đạc kỹ thuật thửa đất mới nhất
(để xác định vị trí, ranh giới và diện tích thực tế 168m²).
2. Tài liệu chứng minh Nguồn gốc và Sử dụng đất (Để phản bác cáo buộc "đất
lấn chiếm"):
o Giấy tờ về nguồn gốc đất (Giấy tờ thừa kế, giấy tờ giao, cho, mua bán,
v.v., nếu có) của ông cha để lại.
o Biên lai nộp thuế nhà đất hàng năm đối với diện tích 168m² (nếu có nộp
thuế cho cả 168m²).
o Lời khai/Xác nhận của hàng xóm hoặc người dân địa phương về quá
trình sử dụng ổn định 168m².
3. Tài liệu về Quyết định Hành chính bị khiếu nại:
o Quyết định thu hồi đất số 03/QĐ-UBND ngày 18/6/2019.
o Quyết định phê duyệt phƣơng án bồi thƣờng số 04/QĐ-UBND ngày
19/6/2019.
4. Tài liệu phản biện thủ tục và khiếu nại:
o Đơn khiếu nại Bà Vy đã gửi đến UBND huyện.
o Văn bản trả lời/Ghi nhận buổi tiếp công dân ngày 05/10/2019 (nếu có).
CÂU HỎI 5 (2,0 điểm): SOẠN THẢO LẬP LUẬN BẢO VỆ CHO BÀ VY TẠI
PHIÊN ĐỐI THOẠI
Kính gửi Chủ tịch UBND huyện Tĩnh An, Hội đồng/Cơ quan giải quyết khiếu nại,
và các bên liên quan,
Với tư cách là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bà Nguyễn Thúy Vy, tôi xin
trình bày các lập luận sau:
1. Về Yêu cầu Miễn trừ Thiếu sót Thủ tục Giải quyết Khiếu nại:
Lập luận: Việc UBND huyện Tĩnh An cho rằng buổi tiếp công dân ngày
05/10/2019 là giải quyết khiếu nại lần đầu là hoàn toàn trái với Luật Khiếu nại
2011. Buổi tiếp công dân chỉ là thủ tục hành chính, không thể thay thế một
Quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản sau khi đã xác minh theo thủ tục.
Đề nghị: Đề nghị Chủ tịch UBND huyện thụ lý khiếu nại của Bà Vy theo đúng
thủ tục khiếu nại lần đầu và tiến hành đối thoại theo quy định, không lấy lý do
"đã hết quyền" để thoái thác.
2. Về Yêu cầu Bồi thƣờng Diện tích 38m²:
Căn cứ pháp lý: Giấy chứng nhận QSDĐ số BU558/QĐ-UBND cấp ngày
10/3/2009 do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành đã công nhận diện tích
168m² mang tên Bà Vy.
Lập luận Phản bác:
o Việc UBND huyện Tĩnh An lấy lý do "diện tích 38m² nằm trong vùng
quy hoạch cũ" và "nguồn gốc đất là đất lấn chiếm" để từ chối bồi
thường là không có căn cứ pháp lý vững chắc.
o Nguyên tắc pháp lý: Giấy chứng nhận QSDĐ là chứng thƣ pháp lý để
Nhà nước xác nhận QSDĐ hợp pháp của người có quyền. Khi Giấy chứng
nhận đã cấp 168m² có hiệu lực pháp luật, mọi diện tích ghi trong đó phải
đƣợc công nhận hợp pháp để bồi thường (trừ khi Quyết định cấp GCN
này đã bị thu hồi hoặc hủy bỏ theo trình tự pháp luật).
o Thực tế: Nếu đất lấn chiếm, cơ quan nhà nước đã không đƣợc phép cấp
Giấy chứng nhận cho toàn bộ 168m² ngay từ năm 2009. Việc cấp GCN
cho cả 168m² đã hợp pháp hóa diện tích này.
Đề nghị: Đề nghị UBND huyện Tĩnh An sửa đổi Quyết định 04/QĐ-UBND để
tính toán bồi thường thỏa đáng cho Bà Vy đối với toàn bộ diện tích 168m² (nếu
thu hồi hết) hoặc 130m² + 38m² theo đúng giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận đã
được cấp.
ĐỀ 12
Công ty TNHH Bình Minh (sau đây gọi là công ty Bình Minh) được UBND tỉnh Đồng
Nai cho thuê đất theo Quyết định 1150/QĐ-UBND, diện tích cho thuê là 10.000m2, đất
tọa lạc tại huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 30/11/2019, công ty Bình Minh có ký hợp đồng thuê nhà xưởng, kho bãi số 68-
HĐTNX để cho công ty TNHH MTV Đô Thành (sau đây gọi là công ty Đô Thành) thuê
2.000m2 diện tích nhà xưởng, văn phòng, nhà ăn đã được xây dựng trên phần đất diện
tích 10.000m2. Thời hạn cho thuê là 5 năm tính từ ngày 01/12/2019, giá thuê là 36.000
đồng/m2 tương đương 72 triệu đồng/tháng (chưa bao gồm 10% thuế GTGT), phạt vi
phạm hợp đồng 9%. Công ty Đô Thành đặt cọc cho công ty Bình Minh số tiền 245 triệu
đồng ngay sau khi ký kết hợp đồng. Sau khi ký hợp đồng, công ty Bình Minh đã bàn giao
mặt bằng cho công ty Đô Thành sử dụng, quá trình sử dụng công ty Đô Thành thanh toán
đầy đủ tiền thuê.
Do nhu cầu sử dụng nhà xưởng, kho bãi nên ngày 02/10/2021 công ty Bình Minh đã có
"Thông báo về việc thanh lý hợp đồng thuê trước hạn" số 49CV-BM gửi đến công ty Đô
Thành. Ngày 29/11/2021, công ty Bình Minh có nhận được văn bản trả lời của công ty
Đô Thành ký ngày 27/11/2021 với nội dung từ chối yêu cầu đơn phương chấm dứt Hợp
đồng của công ty Bình Minh.
Nhận thấy hợp đồng thuê nhà xưởng, kho bãi số 68-HĐTNX giữa hai bên không có điều
khoản về đơn phương chấm dứt hợp đồng, cũng không có quy định về điều kiện giải
quyết yêu cầu đơn phương chấm dứt hợp đồng của cả hai bên. Công ty Bình Minh vẫn
cho rằng công ty Đô Thành đã vi phạm hợp đồng bằng việc từ chối yêu cầu hợp lệ của
công ty Bình Minh, gây khó khăn cho việc thu hồi tài sản thuê. Nên công ty Đô Thành
phải mất số tiền đặt cọc cho công ty Bình Minh là 245 triệu đồng và công ty Bình Minh
được miễn trừ nghĩa vụ thanh toán khoản tiền phạt Hợp đồng đối với việc đơn phương
chấm dứt của công ty Bình Minh. Tuy nhiên trong văn bản trả lời ngày 27/11/2021, công
ty Đô Thành yêu cầu công ty Bình Minh phải hoàn trả tiền đặt cọc và chịu phạt cọc
tương đương với khoản tiền mà công ty Đô Thành đã đặt cọc cho công ty Bình Minh do
vi phạm hợp đồng. Ngoải ra, công ty Đô Thành cũng yêu cầu công ty Bình Minh phải bồi
thường thiệt hại đối với chi phí phát sinh khi công ty Đô Thành phải thuê tạm kho bãi và
đi tìm nhà xưởng mới.
Công ty Đô Thành đề nghị VPLS A tư vấn và hỗ trợ để giải quyết tranh chấp nêu trên
bằng con đường thương lượng.
Câu hỏi 1 (2,5 điểm): Anh (chị) cần tiến hành những công việc gì để đáp ứng yêu cầu
của khách hàng? Hãy đánh giá vị thế pháp lý của công ty Đô Thành trong tranh chấp này?
Tình tiết bổ sung
Trải qua nhiều vòng làm việc, thương lượng những hai bên vẫn chưa đạt được kết quả
mong muốn. Hai bên đã thống nhất đưa vụ việc ra cơ quan tài phán giải quyết với thỏa
thuận "Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại
Trung tâm trọng tài TP. HCM, số lượng trọng tài viên là 02, địa điểm trọng tài tại TP.
HCM. Trong quá trình giải quyết tranh chấp không bên nào được yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời. Phán quyết trọng tài là cuối cùng và có hiệu lực ràng buộc hai
bên, các bên không được yêu cầu tòa án hủy phán quyết trọng tài."
Câu hỏi 2 (3,0 điểm): Anh (chị) hãy đánh giá pháp lý về hiệu lực, hiệu quả của thỏa
thuận giải quyết tranh chấp này?
Tình tiết bổ sung
Cuối cùng công ty Đô Thành đưa vụ việc ra giải quyết tại Trung tâm trọng tài Quốc tế
Việt Nam (VIAC), địa điểm trọng tài tại TP. HCM. Dự kiến phiên họp trọng tài diễn ra
vào ngày 01/12/2022. Trước thời điểm phiên họp trọng tài diễn ra, khách hàng (công ty
Đô Thành) thông tin cho anh chị: Trọng tài viên S thuộc VIAC do bên cho thuê chỉ định
trước đó đã là luật sư tư vấn về việc soạn thảo hợp đồng thuê mặt bằng và hai bên đã gặp
gỡ nhau tại quán café tại huyện C trước thời điểm diễn ra phiên trọng tài.
Câu hỏi 3 (2,0 điểm): Anh (chị) tiếp nhận và xử lý thông tin này như thế nào?
Tình tiết bổ sung
Sau khi có phán quyết trọng tài, trong đó có nội dung "Bị đơn đã vi phạm hợp đồng. Do
đó, buộc bị đơn (công ty Bình Minh) trả tiền cọc 245 triệu đồng cho nguyên đơn",
"Không chấp nhận yêu cầu phạt cọc của nguyên đơn".
Nguyên đơn (công ty Đô Thành) cho rằng HĐTT đã ban hành phán quyết không đúng
quy định pháp luật, vì bị đơn vi phạm hợp đồng nên ngoài việc trả lại tiền cọc còn phải
trả một khoản tương đương tiền cọc theo Điều 328 BLDS 2015. Do đó, HĐTT đã áp
dụng sai luật, vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam khi ban hành phán
quyết trọng tài. Nguyên đơn căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật TTTM 2010 để
yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài.
Câu hỏi 4 (2,5 điểm): Anh (chị) hãy cho biết ý kiến pháp lý về vấn đề này? Tòa án có cơ
sở để hủy phán quyết trọng tài không?
ĐÁP ÁN
Chào bạn, tôi sẽ giúp bạn phân tích chi tiết ĐỀ 12 liên quan đến tranh chấp hợp đồng
thuê nhà xưởng và thỏa thuận trọng tài.
CÂU HỎI 1: CÁC CÔNG VIỆC CẦN TIẾN HÀNH VÀ ĐÁNH GIÁ VỊ THẾ
PHÁP LÝ CỦA CÔNG TY ĐÔ THÀNH
A. Các công việc cần tiến hành để hỗ trợ Công ty Đô Thành
1. Nghiên cứu hồ sơ:
o Thu thập và nghiên cứu kỹ Hợp đồng thuê nhà xƣởng, kho bãi số 68-
HĐTNX (bao gồm các điều khoản về thời hạn, giá thuê, đặt cọc, phạt vi
phạm, và đặc biệt là điều khoản về đơn phương chấm dứt hợp đồng).
o Thu thập Quyết định 1150/QĐ-UBND (hoặc các tài liệu liên quan) về việc
UBND tỉnh Đồng Nai cho Công ty Bình Minh thuê đất 10.000m² (để kiểm
tra quyền cho thuê lại của Công ty Bình Minh).
o Thu thập Thông báo 49CV-BM của Công ty Bình Minh và Văn bản trả
lời ngày 27/11/2021 của Công ty Đô Thành.
o Thu thập các chứng từ về việc đặt cọc 245 triệu đồng và thanh toán tiền
thuê đầy đủ của Công ty Đô Thành.
o Thu thập chứng từ về thiệt hại thực tế của Công ty Đô Thành (chi phí thuê
tạm kho bãi, chi phí tìm kiếm nhà xưởng mới).
2. Đánh giá pháp lý: Phân tích bản chất hành vi của Công ty Bình Minh là đơn
phƣơng chấm dứt hợp đồng trái pháp luật (do hợp đồng không có điều khoản
cho phép) và phản bác lập luận của Công ty Bình Minh về việc tịch thu tiền đặt
cọc và miễn trừ phạt.
3. Xây dựng phƣơng án thƣơng lƣợng: Chuẩn bị Dự thảo Biên bản thỏa thuận
dựa trên vị thế mạnh của Công ty Đô Thành, yêu cầu:
o Hoàn trả tiền đặt cọc (245 triệu VNĐ).
o Phạt vi phạm hợp đồng thuê (9% giá trị phần nghĩa vụ còn lại của Hợp
đồng).
o Bồi thường thiệt hại thực tế (chi phí thuê tạm và tìm kiếm).
B. Đánh giá vị thế pháp lý của Công ty Đô Thành
Vị thế pháp lý của Công ty Đô Thành là mạnh trong tranh chấp này.
1. Về nghĩa vụ Hợp đồng: Công ty Đô Thành đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh
toán tiền thuê, không có vi phạm (theo tình huống).
2. Về Đơn phƣơng Chấm dứt:
o Hợp đồng thuê không có điều khoản cho phép đơn phƣơng chấm dứt hợp
đồng trước thời hạn 5 năm.
o Theo Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015), việc đơn phương
chấm dứt hợp đồng chỉ được thực hiện nếu các bên có thỏa thuận hoặc
pháp luật có quy định.
o Hành vi của Công ty Bình Minh (gửi Thông báo 49CV-BM) là đơn
phƣơng chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.
3. Về Yêu cầu Đặt cọc và Phạt cọc:
o Tiền đặt cọc 245 triệu VNĐ: Công ty Bình Minh phải hoàn trả tiền đặt
cọc vì chính Công ty Bình Minh là bên vi phạm hợp đồng (đơn phương
chấm dứt).
o Phạt cọc: Theo Khoản 2 Điều 328 BLDS 2015, do Công ty Bình Minh là
bên từ chối thực hiện Hợp đồng, Công ty Đô Thành có quyền yêu cầu trả
lại tiền đặt cọc và một khoản tiền phạt cọc tƣơng đƣơng giá trị đặt cọc
(245 triệu VNĐ), nếu các bên không có thỏa thuận khác.
o Phạt vi phạm Hợp đồng: Công ty Bình Minh còn phải chịu phạt vi phạm
Hợp đồng (9% giá trị phần nghĩa vụ còn lại) theo thỏa thuận tại Hợp đồng
do vi phạm nghĩa vụ cơ bản.
4. Về Bồi thƣờng Thiệt hại: Công ty Đô Thành có quyền yêu cầu bồi thường thiệt
hại thực tế phát sinh do hành vi vi phạm của Công ty Bình Minh (chi phí thuê tạm,
tìm nhà xưởng mới).
CÂU HỎI 2: ĐÁNH GIÁ PHÁP LÝ VỀ HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ CỦA THỎA
THUẬN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MỚI
Thỏa thuận trọng tài mới có các nội dung cần đánh giá pháp lý dựa trên Luật Trọng tài
thƣơng mại 2010 (LTTM):
1. Về Hiệu lực (Validity): Thỏa thuận VÔ HIỆU một phần
Đánh
Nội dung Thỏa
thuận
giá
Căn cứ
pháp lý
Trung tâm trọng
tài TP. HCM
Số lƣợng trọng tài
viên là 02
Không yêu cầu áp Vô
hiệu.
Vô
hiệu.
Vô Theo Điều 17 LTTM, thỏa thuận trọng tài có thể bị vô hiệu
nếu không rõ ràng về tên trung tâm trọng tài. Việc chỉ ghi
"Trung tâm trọng tài TP. HCM" mà không chỉ đích danh (ví
dụ: VIAC chi nhánh TP. HCM, Trung tâm trọng tài Sài
Gòn...) sẽ khiến thỏa thuận trọng tài không thực hiện
đƣợc.
Theo Khoản 2 Điều 39 LTTM, Hội đồng Trọng tài phải có
số lƣợng lẻ, thông thường là 01 hoặc 03. Thỏa thuận 02
trọng tài viên vi phạm điều cấm của pháp luật, khiến thỏa
thuận trọng tài vô hiệu (Điểm g Khoản 1 Điều 18 LTTM).
Theo Khoản 1 Điều 49 LTTM, các bên có quyền yêu cầu
Nội dung Thỏa
thuận
Đánh
giá
pháp lý
hiệu. Căn cứ
dụng Biện pháp
khẩn cấp tạm thời
(BKCTT)
Không yêu cầu
Tòa án hủy phán
quyết
Vô
hiệu.
Tòa án áp dụng BKCTT. Thỏa thuận tước bỏ quyền này có
thể bị coi là vi phạm điều cấm của pháp luật, khiến thỏa
thuận trọng tài vô hiệu (Điểm g Khoản 1 Điều 18 LTTM).
Theo Điều 68 LTTM, việc yêu cầu Tòa án hủy phán quyết
là một quyền tố tụng được pháp luật quy định. Thỏa thuận
tước bỏ quyền này bị coi là vi phạm điều cấm của pháp
luật, khiến thỏa thuận trọng tài vô hiệu (Điểm g Khoản 1
Điều 18 LTTM).
Xuất sang Trang tính
2. Về Hiệu quả (Efficiency): Rất Kém
Thỏa thuận này rất thiếu hiệu quả vì khả năng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn
bộ theo Điều 18 LTTM là rất cao do vi phạm nhiều quy định bắt buộc (số lượng
TTV, tước quyền yêu cầu hủy).
Nếu thỏa thuận trọng tài vô hiệu, tranh chấp sẽ phải giải quyết bằng Tòa án nhân
dân có thẩm quyền, làm mất đi lợi thế về tốc độ và tính chung thẩm của trọng tài.
CÂU HỎI 3: TIẾP NHẬN VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN VỀ TRỌNG TÀI VIÊN S
Thông tin Trọng tài viên (TTV) S (do bên cho thuê chỉ định) đã từng là luật sư tư vấn
soạn thảo hợp đồng thuê mặt bằng và gặp gỡ riêng với bên cho thuê (Công ty Bình Minh)
tại quán café là thông tin quan trọng cần được xử lý ngay theo quy định về Tố tụng
Trọng tài.
1. Tiếp nhận và Đánh giá thông tin:
Tính không vô tƣ (Lack of Impartiality): Việc TTV S từng là luật sư tư vấn cho
Công ty Bình Minh liên quan đến hợp đồng thuê mặt bằng bị tranh chấp là căn cứ
rõ ràng để nghi ngờ tính khách quan và vô tƣ của TTV này.
Quy tắc Đạo đức Trọng tài: Việc gặp gỡ riêng Bị đơn tại quán café trước phiên
họp trọng tài (nếu không có sự tham gia của Nguyên đơn) là vi phạm nghiêm
trọng nguyên tắc tố tụng trọng tài, tạo ra nguy cơ thiên vị.
2. Phƣơng án Xử lý:
Bƣớc 1: Tƣ vấn Khách hàng (Công ty Đô Thành) làm Đơn từ chối Trọng tài
viên.
o Căn cứ: Khoản 2 Điều 42 LTTM (Trọng tài viên phải từ chối giải quyết
tranh chấp hoặc bị thay đổi nếu có căn cứ rõ ràng cho thấy TTV không vô
tƣ, khách quan).
o Nội dung Đơn: Trình bày rõ ràng bằng chứng về việc TTV S đã tư vấn cho
Bị đơn và có cuộc gặp gỡ riêng.
Bƣớc 2: Gửi Đơn cho VIAC và Hội đồng Trọng tài.
o Đơn từ chối phải được gửi cho VIAC trƣớc khi Hội đồng Trọng tài ra
phán quyết.
o VIAC/Hội đồng Trọng tài sẽ xem xét và quyết định thay đổi TTV S.
Bƣớc 3: Hậu quả pháp lý nếu không xử lý: Nếu Công ty Đô Thành không từ
chối TTV S và TTV này vẫn tham gia ra phán quyết, đây sẽ là một căn cứ quan
trọng để yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài sau này (vì phán quyết có thể
bị coi là trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật do TTV không khách quan, vô
tư).
CÂU HỎI 4: Ý KIẾN PHÁP LÝ VỀ VẤN ĐỀ HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI
1. Đánh giá lập luận của Công ty Đô Thành:
Căn cứ yêu cầu Hủy Phán quyết: Điểm đ Khoản 2 Điều 68 LTTM (Phán quyết
trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam).
Nội dung vi phạm theo Công ty Đô Thành: Hội đồng Trọng tài (HĐTT) đã áp
dụng sai Điều 328 BLDS 2015 (đã không buộc Bị đơn phải trả khoản tiền phạt
cọc tương đương tiền đặt cọc).
2. Ý kiến Pháp lý:
Điều 328 BLDS 2015 quy định: "...bên từ chối thực hiện hợp đồng phải trả lại tài
sản đặt cọc và một khoản tiền phạt cọc tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác."
HĐTT đã buộc Công ty Bình Minh trả lại tiền cọc 245 triệu đồng (đúng theo
BLDS) nhưng không chấp nhận yêu cầu phạt cọc (245 triệu đồng).
Luật sƣ lập luận: Việc HĐTT không áp dụng phạt cọc chƣa chắc đã vi phạm
nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
o Thứ nhất: Việc phạt cọc theo Điều 328 BLDS là tùy nghi ("trừ trường
hợp có thỏa thuận khác") và HĐTT có thể đã căn cứ vào một thỏa thuận
ngầm hoặc nguyên tắc "thiện chí" và "hợp lý" trong pháp luật thương mại
để cân nhắc.
o Thứ hai: Việc áp dụng sai luật nội dung (như áp dụng sai Điều 328
BLDS) không phải là căn cứ để Tòa án hủy phán quyết trọng tài. Tòa
án chỉ hủy phán quyết khi nó trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật Việt Nam, tức là vi phạm các chuẩn mực đạo đức xã hội, công bằng,
và công lý, chứ không phải là lỗi áp dụng luật.
o Thứ ba: Tòa án có xu hướng tôn trọng tính chung thẩm của phán quyết
trọng tài.
3. Tòa án có cơ sở để hủy phán quyết trọng tài không?
Không có cơ sở vững chắc. Tòa án khó có thể hủy phán quyết trọng tài chỉ vì lý
do HĐTT không chấp nhận yêu cầu phạt cọc theo Điều 328 BLDS 2015.
Hủy phán quyết vì áp dụng sai luật: Quyết định hủy phán quyết trọng tài do
"trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật" chỉ áp dụng khi phán quyết xâm phạm
nghiêm trọng lợi ích công, lợi ích quốc gia, hoặc các nguyên tắc công bằng cơ bản.
Việc tranh chấp về tiền phạt cọc là tranh chấp về lợi ích cá nhân, không thuộc
phạm vi này.
Phân biệt: HĐTT có quyền đánh giá chứng cứ, giải thích hợp đồng và áp dụng
luật để đưa ra phán quyết. Tòa án không xem xét lại nội dung vụ việc hoặc việc
áp dụng pháp luật của HĐTT.
ĐỀ 13
Ngày 20/1/2023, CTCP tập đoàn VITAT (Công ty VITAT) ký hợp đồng mua bán hàng
hóa số YNPII40 với Công ty Thiên Tân (pháp nhân Trung Quốc), địa chỉ tại Thượng Hải,
Trung Quốc. Hợp đồng số YNPII40 có một số nội dung chính như sau: Bên mua hàng.
Công ty VITAT; Bên bán hàng: Công ty Thiên Tân.
Hàng hóa: 100 tấn nhôm thỏi A7;
Giá bán: 1.550 USD/tấn,
Tổng giá trị hợp đồng: 155.000 USD
Giao hàng: 02 đợt, mỗi đợt 50 tấn, trị giá 77.500 USD.
Thời hạn thực hiện hợp đồng: đến hết tháng 12/2023.
Thanh toán: Việc thanh toán được thực hiện theo từng lô hàng, mỗi đợt 77.500 USD,
thông qua tín dụng thư không hủy ngang, Ngân hàng mở tín dụng thư là Ngân hàng
HSBC (Việt Nam), chi nhánh Hà Nội, ngân hàng thụ hưởng là Ngân hàng Công nghiệp
và Thương mại Trung Quốc, người thụ hưởng là công ty Thiên Tân.
Thỏa thuận trọng tài: Trong quá trình thực hiện hợp đồng, mọi tranh chấp nếu không
thương lượng được trong thời hạn 60 ngày sẽ được giải quyết bởi một Trung tâm trọng
tài thương mại tại Hà Nội do nguyên đơn lựa chọn, phán quyết của Trọng tài là phán
quyết cuối cùng, buộc hai bên phải thực hiện. Phí trọng tài sẽ do bên thua kiện chịu. Luật
áp dụng đối với hợp đồng là luật của Việt Nam.
Hợp đồng được ký kết bởi người đại diện hợp pháp của các bên.
Thực hiện hợp đồng, ngày 16/3/2023, công ty VITAT đã mở tín dụng thư không hủy
ngang số DC VHN401536 tại Ngân hàng HSBC, chi nhánh Hà Nội với số tiền 155.000
USD để thanh toán cho công ty Thiên Tân.
Lô hàng đầu tiên của công ty Thiên Tân giao cho công ty VITAT có số vận đơn là
EGLV141, số hóa đơn YNZLS001 đã cập cảng Hải Phòng ngày 17/5/2023.
Đối với lô hàng đầu tiên nêu trên, khi hàng về đến cảng Hải Phòng, trước khi mở tờ khai
hải quan, công ty VITAT đã thuê công ty kiểm định SGS mở container toàn là gạch,
không phải là hàng hóa mà hai bên đã thỏa thuận và được quy định trong hợp đồng. Mặc
dù vậy, chi nhánh Ngân hàng HSBC tại Hà Nội đã thanh toán cho Ngân hàng Công
nghiệp và Thương mại Trung Quốc số tiền là 77.500 USD.
Nhận thấy công ty Thiên Tân vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng, công ty VITAT
đã đến tổ chức hành nghề luật sư đề nghị tư vấn (thời điểm tư vấn là tháng 5/2023).
Câu hỏi 1 (2,0 điểm): Anh chị hãy đánh giá về thỏa thuận trọng tài nêu trên? Với thỏa
thuận trọng tài trên, với tư cách là luật sư của công ty VITAT, anh chị sẽ tư vấn cho
khách hàng thực hiện những công việc gì?
Tình tiết bổ sung
Giả sử công ty VITAT đã gửi công văn cho công ty Thiên Tân đề xuất giải quyết tranh
chấp tại Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam. Tuy nhiên, công ty VITAT không nhận
được công văn cũng như bất kỳ hồi đáp nào từ phía công ty Thiên Tân.
Câu hỏi 2 (2,5 điểm): Anh chị hãy kiểm tra các điều kiện khởi kiện trọng tài cho khách
hàng?
Tình tiết bổ sung
Theo quy định của hợp đồng, việc giao nhận hàng được thực hiện làm 2 đợt. Nhận thấy
ngay từ đợt giao hàng đầu tiên, công ty Thiên Tân đã vi phạm nghiêm trọng hợp đồng,
công ty VITAT muốn chấm dứt hợp đồng, không tiếp tục có quan hệ hợp tác với công ty
VITAT. Công ty VITAT cho rằng đã bị ảnh hưởng về quyền lợi hợp pháp.
Câu hỏi 3 (3,0 điểm): Anh chị hãy soạn thảo đơn khởi kiện cho công ty VITAI?
Tình tiết bổ sung
Giả sử Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam thụ lý vụ tranh chấp . Phía công ty Thiên
Tân gửi Bản tự bảo vệ trong đó có nội dung phản đối thẩm quyền của Trung tâm trọng tài
Quốc tế Việt Nam vì thỏa thuận trọng tài không chỉ rõ tên của Trung tâm trọng tài; công
ty Thiên Tân thừa nhận đã giao nhầm hàng và cam kết sẽ chuyển hàng thay thế. Công ty
VITAT đã gửi công văn đến Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam không chấp nhận yêu
cầu trên.
Câu hỏi 4 (2,5 điểm): Anh chị hãy dự thảo nội dung cơ bản của bản luận cứ trình bày tại
phiên họp theo các yêu cầu khởi kiện được đưa ra trong đơn khởi kiện?
ĐÁP ÁN
Chào bạn, tôi sẽ giúp bạn phân tích và tư vấn chi tiết ĐỀ 13 liên quan đến hợp đồng mua
bán quốc tế và tranh chấp trọng tài.
CÂU HỎI 1: ĐÁNH GIÁ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI VÀ CÔNG VIỆC CẦN TƢ
VẤN
A. Đánh giá về Thỏa thuận Trọng tài
Thỏa thuận trọng tài trong Hợp đồng số YNPII40 có hiệu lực về mặt nguyên tắc, nhưng
tồn tại một số điểm chƣa rõ ràng và có rủi ro pháp lý:
Nội dung Thỏa thuận Đánh giá
Pháp lý Ghi chú
Theo Điểm c Khoản 2 Điều 17 Luật Trọng tài
Tranh chấp... sẽ đƣợc
giải quyết bởi một
thƣơng mại 2010 (LTTM), thỏa thuận trọng tài
Hợp pháp
không bị vô hiệu nếu chỉ thiếu tên trung tâm trọng
Trung tâm trọng tài
nhƣng
tài. Tuy nhiên, việc không chỉ rõ tên (ví dụ: VIAC,
thƣơng mại tại Hà
chƣa rõ
Trung tâm Trọng tài Hà Nội - HAC, v.v.) sẽ tạo cơ
Nội do nguyên đơn
ràng.
sở để Bị đơn (Công ty Thiên Tân) phản đối thẩm
lựa chọn
quyền sau này.
Phán quyết của Trọng
tài là phán quyết cuối
Hợp
Phù hợp với nguyên tắc chung thẩm của phán quyết
cùng, buộc hai bên
pháp.
trọng tài (Điều 61 LTTM).
phải thực hiện.
Phí trọng tài sẽ do bên
Hợp
Phù hợp với thông lệ và quy định của pháp luật trọng
thua kiện chịu.
pháp.
tài về phân bổ chi phí.
Luật áp dụng đối với
Đây là thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng, phù hợp với
hợp đồng là luật của
Hợp
nguyên tắc tự do thỏa thuận trong hợp đồng có yếu tố
pháp.
nước ngoài (Pháp luật Việt Nam và Công ước Viên
Việt Nam.
1980 về mua bán hàng hóa quốc tế).
Xuất sang Trang tính
Kết luận: Thỏa thuận có hiệu lực cơ bản (vì xác định rõ phương thức, địa điểm và tính
chung thẩm), nhưng có thể bị thách thức về tính rõ ràng của Trung tâm Trọng tài.
B. Công việc cần tƣ vấn cho Công ty VITAT (tháng 5/2023)
1. Xác nhận Hành vi Vi phạm Hợp đồng:
o Phân tích: Việc Công ty Thiên Tân giao hàng là gạch thay vì nhôm thỏi
A7 là hành vi vi phạm cơ bản nghĩa vụ giao hàng (Điều 49 Công ƣớc
Viên 1980 - CISG hoặc Điều 22 Luật Thƣơng mại 2005 - LTM).
o Tƣ vấn: Công ty VITAT có quyền tuyên bố hủy bỏ hợp đồng đối với lô
hàng vi phạm và có quyền yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại.
2. Xác định Trách nhiệm Thanh toán Tín dụng thƣ (L/C):
o Tƣ vấn: Trong giao dịch L/C, ngân hàng chỉ làm việc với chứng từ, không
làm việc với hàng hóa (Điều 5 UCP 600). Việc Ngân hàng HSBC thanh
toán 77.500 USD là đúng theo nguyên tắc L/C (nguyên tắc độc lập). Tranh
chấp về hàng hóa (gạch) chỉ được giải quyết giữa Công ty VITAT và Công
ty Thiên Tân thông qua Trọng tài/Tòa án, không liên quan đến ngân hàng.
3. Thực hiện Thủ tục Trọng tài:
o Yêu cầu đối thoại: Tư vấn Công ty VITAT gửi công văn chính thức cho
Công ty Thiên Tân yêu cầu thƣơng lƣợng giải quyết tranh chấp trong thời
hạn 60 ngày theo thỏa thuận hợp đồng.
o Lựa chọn Trung tâm Trọng tài: Tư vấn Công ty VITAT lựa chọn một
Trung tâm Trọng tài uy tín tại Hà Nội (ví dụ: Trung tâm Trọng tài Quốc
tế Việt Nam - VIAC) và thông báo rõ ràng bằng văn bản cho Công ty Thiên
Tân.
4. Chuẩn bị Chứng cứ: Tập hợp tất cả chứng cứ về vi phạm: Hợp đồng, Vận đơn,
Hóa đơn, Báo cáo kiểm định của SGS (chứng minh hàng là gạch), chứng từ
thanh toán L/C.
CÂU HỎI 2: KIỂM TRA CÁC ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN TRỌNG TÀI
Việc Công ty VITAT đã gửi công văn đề xuất giải quyết tranh chấp tại VIAC nhưng
không nhận được hồi đáp từ Công ty Thiên Tân cần được kiểm tra theo các điều kiện
khởi kiện trọng tài (Điều 30 LTTM):
Điều kiện Khởi kiện Đánh
giá Kết luận
1. Có thỏa thuận
Trọng tài 2. Tranh chấp thuộc
thẩm quyền Trọng
tài
3. Đã có văn bản đề
xuất giải quyết
Tranh chấp
Đã có. Hợp đồng có Điều khoản Trọng tài.
Đã có. Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa là
tranh chấp thương mại (Điều 2 LTTM).
Đã có. Công ty VITAT đã gửi công văn đề xuất giải quyết tại
VIAC.
4. Thời hạn thƣơng
lƣợng 60 ngày
5. Công ty Thiên
Tân không hồi
đáp/Không đồng ý
6. Xác định rõ
Trung tâm Trọng
tài
Chƣa
chắc
chắn.
Đã đáp
ứng.
Hợp đồng quy định: "...nếu không thương lượng được
trong thời hạn 60 ngày sẽ được giải quyết bởi trọng
tài...". VITAT phải kiểm tra xem 60 ngày đã trôi qua kể
từ ngày gửi công văn đề xuất thương lượng hay chưa.
Công ty Thiên Tân không hồi đáp được xem là thƣơng
lƣợng không thành công.
Đã đáp
ứng.
Nguyên đơn (VITAT) đã thực hiện quyền lựa chọn của
mình, xác định rõ VIAC là cơ quan giải quyết tranh chấp.
Xuất sang Trang tính
Kết luận:
Công ty VITAT đã đáp ứng hầu hết các điều kiện khởi kiện.
Điều kiện cần kiểm tra lại: Thời điểm khởi kiện phải là sau khi đã hết thời
hạn 60 ngày thương lượng/chờ hồi đáp kể từ ngày Công ty VITAT gửi công văn
đề xuất. Nếu chưa đủ 60 ngày, VIAC có thể chưa thụ lý.
CÂU HỎI 3: SOẠN THẢO ĐƠN KHỞI KIỆN CHO CÔNG TY VITAT
(Giả định: Đã đủ điều kiện và thời hiệu khởi kiện. Yêu cầu chính là đòi lại tiền lô hàng
đầu tiên (77.500 USD) và chấm dứt hợp đồng.)
CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày [Ngày/Tháng/Năm] 2023
ĐƠN KHỞI KIỆN TRỌNG TÀI
Kính gửi: TRUNG TÂM TRỌNG TÀI QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIAC)
I. THÔNG TIN CÁC BÊN
Mục BÊN KHỞI KIỆN (NGUYÊN ĐƠN) BÊN BỊ KIỆN (BỊ
ĐƠN)
Tên Công ty CTCP TẬP ĐOÀN VITAT (Công ty
VITAT) CÔNG TY THIÊN TÂN
Trụ sở chính [Địa chỉ tại Việt Nam] Thượng Hải, Trung Quốc
Ngƣời đại diện [Tên, Chức vụ] [Tên, Chức vụ (Nếu biết)]
Luật sƣ đại
diện [Tên Văn phòng Luật sư/Luật sư]
Xuất sang Trang tính
II. CƠ SỞ KHỞI KIỆN
1. Cơ sở Hợp đồng: Hợp đồng mua bán hàng hóa số YNPII40 ký ngày 20/01/2023.
2. Cơ sở Thẩm quyền: Điều khoản Trọng tài trong Hợp đồng quy định giải quyết
tại một Trung tâm Trọng tài thương mại tại Hà Nội do Nguyên đơn lựa chọn.
Nguyên đơn lựa chọn VIAC.
3. Luật áp dụng: Luật của Việt Nam và Công ước Viên 1980 (CISG) (theo thỏa
thuận).
III. NỘI DUNG TRANH CHẤP VÀ YÊU CẦU
1. Tóm tắt Tranh chấp:
o Nguyên đơn đã thanh toán 77.500 USD cho lô hàng đầu tiên (50 tấn nhôm
thỏi A7) thông qua L/C.
o Bị đơn đã vi phạm cơ bản hợp đồng khi giao gạch (không phải nhôm thỏi
A7) tại cảng Hải Phòng ngày 17/5/2023 (theo Báo cáo kiểm định SGS).
o Nguyên đơn đã tiến hành thủ tục thương lượng theo quy định hợp đồng
nhưng không nhận được hồi đáp từ Bị đơn.
2. Yêu cầu Khởi kiện (Tổng giá trị yêu cầu: 77.500 USD + Bồi thƣờng Thiệt hại):
o Yêu cầu 1: Tuyên bố Hủy bỏ/Chấm dứt Hợp đồng: Tuyên bố hành vi
của Bị đơn là vi phạm cơ bản hợp đồng (giao gạch thay nhôm) và tuyên bố
chấm dứt Hợp đồng số YNPII40 kể từ ngày ban hành Phán quyết Trọng
tài.
o Yêu cầu 2: Hoàn trả Tiền hàng đã thanh toán: Buộc Công ty Thiên Tân
phải hoàn trả cho Công ty VITAT số tiền 77.500 USD (tiền hàng đã thanh
toán cho lô hàng đầu tiên).
o Yêu cầu 3: Bồi thƣờng Thiệt hại: Buộc Công ty Thiên Tân bồi thường
các thiệt hại phát sinh, bao gồm:
Chi phí kiểm định SGS.
Chi phí lưu kho/lưu bãi lô hàng giả (gạch).
Chi phí khác (tổn thất kinh doanh, chi phí Trọng tài, v.v.).
IV. ĐỀ NGHỊ HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI:
Đề nghị VIAC thụ lý vụ việc và thành lập Hội đồng Trọng tài để giải quyết tranh chấp
theo Quy tắc tố tụng của VIAC và phán quyết theo các yêu cầu nêu trên.
ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA CTCP TẬP ĐOÀN VITAT (Ký, ghi rõ họ tên, chức vụ,
đóng dấu)
CÂU HỎI 4: DỰ THẢO NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BẢN LUẬN CỨ
Bản luận cứ sẽ tập trung phản bác lập luận về thẩm quyền của Bị đơn và củng cố căn cứ
để chấm dứt hợp đồng và đòi bồi thƣờng.
I. Về Thẩm quyền của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)
Phản bác lập luận của Bị đơn (Thẩm quyền không rõ):
o Thỏa thuận trọng tài xác định rõ: Giải quyết bởi một Trung tâm trọng tài
thương mại tại Hà Nội do nguyên đơn lựa chọn.
o Nguyên đơn (Công ty VITAT) đã thực hiện quyền lựa chọn của mình theo
hợp đồng, xác định VIAC (Trung tâm Trọng tài tại Hà Nội) là cơ quan giải
quyết.
o Căn cứ pháp lý: Theo Điều 17 LTTM, việc thiếu tên trung tâm trọng tài
không làm thỏa thuận vô hiệu. Trọng tài được lựa chọn theo ý chí của
Nguyên đơn là hoàn toàn hợp pháp. Do đó, yêu cầu phản đối thẩm quyền
của Công ty Thiên Tân là không có cơ sở.
II. Về Quyền Chấm dứt Hợp đồng và Đòi Hoàn trả Tiền
Hành vi Vi phạm Cơ bản Hợp đồng:
o Luật áp dụng: Theo Điều 268 LTM và Điều 25 Công ƣớc Viên 1980
(CISG), hành vi vi phạm nghĩa vụ giao gạch thay vì nhôm thỏi A7 là vi
phạm cơ bản làm cho Nguyên đơn bị tước đi những gì họ có quyền trông
đợi từ hợp đồng.
o Việc giao nhầm/giao gạch không chỉ đơn thuần là giao hàng không phù
hợp mà là hành vi lừa dối và từ chối thực hiện nghĩa vụ cơ bản của hợp
đồng.
Quyền Hủy bỏ/Chấm dứt Hợp đồng:
o Luật áp dụng: Theo Điều 312 LTM và Điều 49 CISG, do Bị đơn vi phạm
cơ bản nghĩa vụ đối với lô hàng đầu tiên (ngay cả khi hợp đồng chia làm 2
đợt), Nguyên đơn có quyền tuyên bố hủy bỏ hợp đồng (bao gồm cả lô
hàng thứ hai chưa giao) để chấm dứt quan hệ hợp đồng.
Phản bác đề nghị giao hàng thay thế:
o Lập luận: Công ty VITAT không chấp nhận đề nghị giao hàng thay thế
của Công ty Thiên Tân. Sự vi phạm nghiêm trọng và hành vi lừa dối (giao
gạch) đã làm mất lòng tin căn bản để tiếp tục hợp tác.
o Yêu cầu: Buộc Bị đơn phải hoàn trả 77.500 USD (tiền hàng đã trả) ngay
lập tức theo Điều 81 CISG (hoàn trả tiền hàng khi hợp đồng bị hủy bỏ).
III. Về Yêu cầu Bồi thƣờng Thiệt hại
Căn cứ: Theo Điều 303 LTM và Điều 74 CISG, Nguyên đơn có quyền yêu cầu
Bị đơn bồi thường thiệt hại phát sinh từ hành vi vi phạm.
Yêu cầu cụ thể: Yêu cầu Hội đồng Trọng tài buộc Bị đơn thanh toán chi phí
kiểm định SGS, chi phí lƣu container/lƣu bãi, và các chi phí khác chứng minh
bằng chứng từ hợp pháp.
ĐỀ 14
Công ty TNHH An Bình (công ty An Bình) và công ty cổ phần Minh Hải (công ty Mình
Hải) ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh về việc xây dựng và khai thác bể bơi thuộc
Trung tâm thể thao quận X, Thành phố Hà Nội. Tổng mức đầu tư để xây dựng bể bơi là
15 tỷ đồng do công ty An Bình được giao là chủ đầu tư. Ngày 30/12/2021, Hai bên đã ký
kết hợp đồng hợp tác kinh doanh với nội dung sau: Công ty An Bình góp 40%, công ty
Minh Hải góp 60%. Công ty Minh Hải chuyển khoản vào tài khoản của công ty An Bình
theo tiến độ góp vốn công ty An Bình yêu cầu, bảo đảm tỷ lệ góp vốn của Mình Hải đạt
60%. Công ty An Bình phải mở hệ thống số sách theo dõi chi phí của dự án này. Công ty
Minh Hải có quyền cử người tham gia Ban Quản lý Dự án của công ty An Bình. Phương
thức chia lãi, lỗ theo tỷ lệ 40-60 giữa công ty An Bình và công ty Minh Hải. Các bên
phải có nghĩa vụ góp vốn đủ và đúng thời hạn, bên nào vi phạm phải chịu trách nhiệm
bồi thường thiệt hại thực tế phát sinh. Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng được giải
quyết tại trọng tài hoặc tòa án có thẩm quyền.
Thực hiện hợp đồng, công ty An Bình có các công văn để công ty Minh Hải chuyển tiền
theo các ngày 10/1/2022, 15/2/2022, 15/3/2022, 15/4/2022, mỗi lần góp 1 tỷ đồng. Tổng
cộng số tiền góp của công ty Minh Hải là 4 tỷ đồng. Từ tháng 5/2022, công ty An Bình
gửi công văn đề nghị công ty Minh Hải tiếp tục chuyển tiền góp vốn liên doanh là 3 tỷ
đồng nhưng công ty Minh Hai không phản hồi và không chuyển tiền. Ngày 15/8/2022,
đại diện của hai công ty đã có biên bàn làm việc với nội dung đến ngày 1/9/2022, công ty
Minh Hải không góp vốn thì tỷ lệ vốn góp sẽ tính trên số vốn góp thực tế của công ty
Minh Hải so với tổng mức đầu tư. Đến tháng 6/2023, công ty Minh Hải tự động chuyên 3
tỷ đồng vào tài khoản của công ty An Bình nhưng phía công ty An Bình đã chuyển trả lại
số tiền trên và gửi thông báo công ty An Bình đã tự thu xếp được nguồn vốn và việc xây
dựng bể bơi đã hoàn thành.
Công ty Minh Hải không đồng ý và yêu cầu công ty An Bình phải nhận số tiền góp vốn 3
tỷ và sẵn sàng trả lãi cho số tiền chậm góp vốn. Công ty Minh Hải cho rằng theo thỏa
thuận trong hợp đồng, tỷ lệ góp vốn và hưởng lợi nhuận của công ty Mình Hải luôn là
60%. Trường hợp công ty Minh Hải nộp chậm số tiền góp vốn thì công ty Minh Hải sẽ
chịu tiền lãi trên số tiền chậm nộp này. Tranh chấp phát sinh giữa các bên.
Công ty An Bình là khách hàng của luật sư và mong muốn luật sư tư vấn, tham gia giải
quyết tranh chấp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Thời điểm khách hàng tìm
đến luật sư là tháng 12/2023.
Khi kiểm tra Hợp đồng hợp tác kinh doanh, luật sư nhận thấy công ty Minh Hải không có
Nghị quyết của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông về việc góp vốn hợp tác
kinh doanh.
Câu hỏi 1 (2,0 điểm): Anh, chị cần kiểm tra thêm các tài liệu gì để xác định hợp đồng
hợp tác kinh doanh
Tình tiết bổ sung
Giả sử hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký kết bởi Phó Giám đốc công ty Minh Hải và
Phó Giám đốc công ty An Bình và đều không có ủy quyền của giám đốc, người đại diện
theo pháp luật của 2 công ty.
Câu hỏi 2 (2,0 điểm): Anh, chị cho biết thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng có hiệu lực
pháp luật không?
Tình tiết bổ sung
Các bên đã thỏa thuận nhưng không đạt được phương án thương lượng. Giả sử các bên
mong muốn được tiếp tục giải quyết bằng hòa giải tại một trung tâm hòa giải thương mại
tại Hà Nội.
Câu hỏi 3 (2,0 điểm): Anh, chị tư vấn cho các bên như thế nào?
Tình tiết bổ sung
Giả sử hợp đồng hợp tác kinh doanh có hiệu lực, hai công ty không thỏa thuận được
phương án giải quyết tranh chấp. Công ty Minh Hải đã làm đơn khởi kiện đến trung tâm
trọng tài X (một trung tâm trọng tải Việt Nam đang hoạt động tại Hà Nội) yêu cầu buộc
công ty An Bình phải nhận số tiền góp vốn và xác định tỷ lệ góp vốn và chia lợi nhuận
theo tỷ lệ 70/30. Thời điểm khởi kiện là ngày 5/1/2024.
Câu hỏi 4 (4,0 điểm): Anh (chị) hãy kiểm tra lại điều kiện khởi kiện tại trọng tài và soạn
thảo bàn tự bảo vệ cho khách hàng?
ĐÁP ÁN
Chào bạn, tôi sẽ giúp bạn phân tích và tư vấn chi tiết ĐỀ 14 liên quan đến hợp đồng hợp
tác kinh doanh và tranh chấp góp vốn.
CÂU HỎI 1: CÁC TÀI LIỆU CẦN KIỂM TRA THÊM ĐỂ XÁC ĐỊNH HỢP
ĐỒNG HỢP TÁC KINH DOANH
Để đánh giá toàn diện tính pháp lý, hiệu lực và quyền lợi của Công ty An Bình trong Hợp
đồng Hợp tác Kinh doanh (HĐHTKD) này, Luật sư cần kiểm tra thêm các tài liệu sau:
1. Hồ sơ pháp lý nội bộ của Công ty Minh Hải (Bên góp vốn):
o Điều lệ Công ty Minh Hải: Để xác định thẩm quyền của Hội đồng Quản
trị (HĐQT) hoặc Đại hội đồng Cổ đông (ĐHĐCĐ) trong việc quyết định
HĐHTKD có giá trị lớn hoặc liên quan đến việc sử dụng vốn góp của công
ty (theo Luật Doanh nghiệp 2020).
o Nghị quyết của HĐQT/ĐHĐCĐ (Nếu có): Ngoài việc kiểm tra Nghị
quyết về góp vốn (mà khách hàng đã xác định là không có), cần kiểm tra
các Nghị quyết khác có thể gián tiếp xác nhận việc thực hiện hợp đồng (ví
dụ: Nghị quyết phê duyệt việc cử người tham gia Ban Quản lý Dự án).
2. Hồ sơ pháp lý nội bộ của Công ty An Bình (Bên chủ đầu tƣ):
o Điều lệ Công ty An Bình: Xác định thẩm quyền của người ký kết hợp
đồng (Phó Giám đốc) và quy định về việc thực hiện dự án đầu tư có giá trị
15 tỷ đồng.
3. Hồ sơ chứng minh Dự án và Chi phí thực hiện Dự án:
o Quyết định phê duyệt Dự án xây dựng và khai thác bể bơi thuộc Trung
tâm thể thao quận X.
o Sổ sách kế toán/Báo cáo tài chính của Công ty An Bình liên quan đến chi
phí thực hiện dự án (Theo dõi chi phí theo yêu cầu hợp đồng).
o Chứng từ chứng minh việc Công ty An Bình đã hoàn thành xây dựng
bể bơi (Biên bản nghiệm thu, quyết toán, v.v.).
o Tài liệu chứng minh Công ty An Bình đã tự thu xếp nguồn vốn thay thế
cho số vốn góp thiếu của Công ty Minh Hải (Chứng từ vay, vốn chủ sở hữu,
v.v.).
CÂU HỎI 2: HIỆU LỰC PHÁP LUẬT CỦA THỎA THUẬN TRỌNG TÀI
TRONG HỢP ĐỒNG
Giả sử HĐHTKD được ký kết bởi Phó Giám đốc của cả hai công ty mà không có ủy
quyền của Giám đốc/Người đại diện theo pháp luật, cần đánh giá hiệu lực của Hợp đồng
và Thỏa thuận Trọng tài.
1. Về Hiệu lực của Hợp đồng (Bao gồm Thỏa thuận Trọng tài):
o Việc người không có thẩm quyền (Phó Giám đốc không ủy quyền) ký kết
hợp đồng có thể dẫn đến việc hợp đồng vô hiệu nếu không được người đại
diện theo pháp luật chuẩn y sau đó (Điều 142 Bộ luật Dân sự 2015).
o Tuy nhiên, trong trường hợp này, hai bên đã thực hiện hợp đồng một cách
thực tế (Công ty Minh Hải đã góp 4 tỷ đồng, Công ty An Bình đã xây dựng
và hoàn thành). Việc thực hiện hợp đồng được coi là hành vi chấp nhận và
thừa nhận hiệu lực của hợp đồng.
2. Về Hiệu lực của Thỏa thuận Trọng tài (Độc lập với Hợp đồng):
o Theo Điều 19 Luật Trọng tài thƣơng mại 2010 (LTTM): Thỏa thuận
trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng.
o Do đó, ngay cả khi HĐHTKD bị tuyên bố vô hiệu do vi phạm thẩm quyền
người ký, thỏa thuận trọng tài vẫn có thể có hiệu lực pháp luật, trừ khi
có căn cứ để tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu riêng (ví dụ: đối tượng
tranh chấp không thuộc thẩm quyền trọng tài, vi phạm hình thức, v.v.).
3. Kết luận:
o Thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng ("Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp
đồng được giải quyết tại trọng tài hoặc tòa án có thẩm quyền") là một
thỏa thuận hợp pháp về mặt nội dung, không vi phạm các điều cấm của
pháp luật.
o Mặc dù hợp đồng được ký bởi người không có thẩm quyền, nhưng do các
bên đã thực tế thực hiện hợp đồng, nên thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu
lực pháp luật và có thể được sử dụng để giải quyết tranh chấp (trừ khi có
yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu).
CÂU HỎI 3: TƢ VẤN VỀ VIỆC TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT BẰNG HÕA GIẢI
Việc các bên mong muốn tiếp tục giải quyết tranh chấp bằng hòa giải tại một trung tâm
hòa giải thƣơng mại tại Hà Nội là một phương án hoàn toàn hợp pháp và khả thi.
Tƣ vấn của Luật sƣ:
1. Về Căn cứ pháp lý:
o Theo Luật Hòa giải thƣơng mại 2017, tranh chấp thương mại có thể được
giải quyết bằng hòa giải. Việc hòa giải là tự nguyện và không ảnh hưởng
đến quyền của các bên trong việc tiếp tục đưa tranh chấp ra Trọng tài hoặc
Tòa án nếu hòa giải không thành.
2. Về Tính hợp lý và Hiệu quả:
o Giảm chi phí và thời gian: Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thường
nhanh chóng, ít tốn kém hơn so với Trọng tài hay Tòa án.
o Bảo vệ quan hệ hợp tác: Hòa giải giúp các bên duy trì mối quan hệ kinh
doanh tốt đẹp, đặc biệt khi dự án bể bơi đã hoàn thành và cần khai thác
chung.
o Thẩm quyền: Trung tâm Hòa giải thương mại tại Hà Nội có thẩm quyền
giải quyết theo thỏa thuận của các bên.
3. Các bƣớc cần tiến hành:
o Thỏa thuận Hòa giải: Các bên cần ký kết một thỏa thuận hòa giải bằng
văn bản, chỉ rõ trung tâm hòa giải được lựa chọn và cam kết tham gia quá
trình hòa giải.
o Xây dựng giải pháp: Chuẩn bị các phương án thỏa hiệp:
Phƣơng án 1 (Ƣu tiên cho An Bình): Công ty Minh Hải chấp nhận
tỷ lệ vốn góp thực tế (4 tỷ/15 tỷ) và tỷ lệ chia lãi/lỗ tương ứng.
Phƣơng án 2 (Thỏa hiệp): Công ty Minh Hải góp đủ 9 tỷ đồng +
Lãi suất chậm góp vốn; Công ty An Bình chấp nhận, nhưng tỷ lệ lợi
nhuận có thể bị giảm trong một giai đoạn nhất định để bù đắp rủi ro
cho Công ty An Bình.
o Nếu Hòa giải Thành: Ký Biên bản Hòa giải thành, có giá trị ràng buộc
các bên.
CÂU HỎI 4: KIỂM TRA ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN VÀ SOẠN THẢO BẢN TỰ
BẢO VỆ
A. Kiểm tra Điều kiện Khởi kiện tại Trọng tài (Công ty Minh Hải)
Điều kiện Khởi kiện (Điều 30
Đánh
LTTM)
giá Kết luận
1. Có Thỏa thuận Trọng tài Đã có. Thỏa thuận "trọng tài hoặc tòa án" là một
thỏa thuận lựa chọn, có hiệu lực.
2. Tranh chấp thuộc thẩm
quyền Trọng tài Đã có. Tranh chấp phát sinh từ HĐHTKD là tranh
chấp thương mại (Điều 2 LTTM).
3. Tranh chấp không thuộc
trƣờng hợp vô hiệu/không
Đã đáp
ứng.
Không có dấu hiệu thỏa thuận trọng tài vô
hiệu.
thực hiện đƣợc
Tranh chấp phát sinh từ tháng 5/2022, thời
4. Thời điểm khởi kiện Đã đáp
ứng.
điểm khởi kiện 05/01/2024 là trong thời hiệu
02 năm (Điều 33 LTTM).
Xuất sang Trang tính
Kết luận: Công ty Minh Hải đáp ứng đủ điều kiện để khởi kiện tại Trung tâm Trọng tài
X theo thỏa thuận đã ký kết.
B. Soạn thảo Bản Tự Bảo vệ cho Công ty An Bình
Kính gửi: HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI TRUNG TÂM TRỌNG TÀI X Về vụ việc:
Tranh chấp Hợp đồng Hợp tác Kinh doanh giữa Công ty Minh Hải (Nguyên đơn) và
Công ty An Bình (Bị đơn).
Mục Nội dung Tự Bảo vệ Căn cứ Pháp lý & Hợp
đồng
I. Về Yêu cầu
Bị đơn từ chối nhận 3 tỷ đồng và chấm
Nhận vốn góp 3
dứt nghĩa vụ hợp tác liên quan đến vốn
tỷ đồng:
góp 60%.
Nguyên đơn đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa
vụ góp vốn đủ và đúng thời hạn (Điều
Lập luận 1 (Vi
phạm nghĩa
vụ):
khoản Hợp đồng). Nguyên đơn chậm góp
vốn 03 tỷ đồng từ tháng 5/2022 đến tháng
6/2023, khiến Bị đơn phải tự thu xếp nguồn
Điều 411 BLDS 2015
(Quyền đơn phương chấm
dứt hợp đồng nếu vi phạm
là điều kiện cơ bản).
vốn thay thế để hoàn thành dự án.
Hai bên đã có Biên bản làm việc ngày
15/8/2022 thỏa thuận: Nếu Công ty Minh
Lập luận 2
(Thỏa thuận
lại):
Hải không góp vốn đến 01/9/2022 thì tỷ lệ
vốn góp sẽ tính trên số vốn góp thực tế (4
tỷ đồng) so với tổng mức đầu tư (15 tỷ
Biên bản làm việc ngày
15/8/2022 là Phụ
lục/Thỏa thuận bổ sung
hợp pháp.
đồng). Công ty Minh Hải đã không thực hiện
đúng Biên bản này.
Việc Nguyên đơn cố tình chậm góp vốn
trong 01 năm, đợi đến khi Bị đơn hoàn thành
dự án (giảm thiểu rủi ro) mới chuyển tiền, là
hành vi không thiện chí, không phù hợp với
Điều 387 BLDS 2015
(Nguyên tắc thực hiện
hợp đồng).
nguyên tắc hợp tác kinh doanh.
Lập luận 3
(Nguyên tắc
Thiện chí):
II. Về Yêu cầu
Xác định Tỷ lệ
góp vốn và
Chia Lợi
nhuận 70/30:
Lập luận 1
(Căn cứ hợp
đồng):
Lập luận 2
(Căn cứ thực
tế):
Bị đơn bác bỏ yêu cầu này.
Lập luận 3
(Tính lại tỷ lệ):
Tỷ lệ góp vốn và chia lãi/lỗ ban đầu là 60/40
(Minh Hải 60%, An Bình 40%). Nguyên đơn chỉ góp 4 tỷ VNĐ, chiếm
khoảng 26.67% (4 tỷ/15 tỷ). Việc Nguyên
đơn yêu cầu tỷ lệ 70/30 là hoàn toàn không
có cơ sở pháp lý và hợp đồng, đi ngược lại
thỏa thuận.
Theo Biên bản làm việc ngày 15/8/2022, tỷ
lệ vốn góp thực tế của Công ty Minh Hải là
4 tỷ VNĐ, nên tỷ lệ chia lãi/lỗ phải được xác
định lại theo tỷ lệ vốn góp thực tế: Minh
Hải (26.67%) và An Bình (73.33%).
Điều khoản Hợp đồng.
Nguyên tắc chia lãi/lỗ
theo tỷ lệ góp vốn thực
tế.
Biên bản làm việc ngày
15/8/2022.
Mục III. Yêu cầu
Phản tố (Nếu
có):
Nội dung Tự Bảo vệ Căn cứ Pháp lý & Hợp
đồng
Bị đơn yêu cầu Nguyên đơn bồi thƣờng
thiệt hại.
Yêu cầu Công ty Minh Hải bồi thường thiệt
hại phát sinh do chậm góp vốn, bao gồm
Yêu cầu Phản
tiền lãi suất trên số tiền 5 tỷ đồng chậm góp
tố:
(9 tỷ - 4 tỷ) theo lãi suất nợ quá hạn hoặc lãi
suất cơ bản của ngân hàng trong thời gian từ
01/5/2022 đến 06/2023.
Điều 303 LTM 2005 (Bồi
thường thiệt hại); Điều
khoản Hợp đồng (Bên vi
phạm phải chịu bồi
thường thiệt hại thực tế
phát sinh).
Xuất sang Trang tính
Đề nghị: Hội đồng Trọng tài bác bỏ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Minh Hải,
và chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty An Bình về việc tính lại tỷ lệ góp vốn theo
vốn thực tế và bồi thường thiệt hại (lãi suất chậm góp vốn).
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com