Phân - DInh dưởng cây Lúa
Phân Đa lượng bao gồm: Phân đạm (N), phân lân (P2O5) và phân kali (K2O). Phân Trung lượng gồm: Phân calcium (Ca), phân Magie (Mg) và Lưu huỳnh (S).
Sau đây, chúng ta sẽ xét đến đặc tính, công dụng của từng loại cũng như những biểu hiện cây lúa khi bị thiếu các dưỡng chất này.
Phân Đa lượng
1. Phân đạm (N):
Là thành phần cấu tạo protein. Protein là thành phần của nguyên sinh chất, lục lạp và enzym. Không có đạm, cây trồng không thể sống và phát triển. Đạm giúp cây lúa quang hợp tốt, phát triển thân lá, cây to khỏe, nẩy chồi tốt, cho bông lớn. Bón phân đạm theo bảng so màu lá. Tránh bón lai rai, bón dư đạm nhất là ở giai đoạn sau, sẽ làm cho lúa bị lép nhiều.
Thiếu đạm:
- Trừ lá non còn xanh, các lá già chuyển sang màu vàng nhạt, lá lúa ngắn, thẳng, bàn lá hẹp, lá có màu xanh vàng.
- Cây lúa phát triển kém, thấp lùn, nẩy chồi kém.
- Toàn bộ ruộng có màu vàng nhạt.
- Năng suất giảm.
Sử dụng phân đạm:
Bón phân đợt 1 và 2 vào giai đoạn cây phát triển thân lá và phát triển chồi hữu hiệu, ở giai đoạn này cây lúa rất cần đạm và lân, nếu thiếu đạm và lân thì cây lúa phát triển kém, đẻ nhánh kém, giảm số chồi hữu hiệu, về sau cây cho bông nhỏ ít hạt.
Bón phân đợt 3 vào giai đoạn phân hóa đòng. Theo các nhà Nông học khuyến cáo, bón thúc phân đạm ở giai đoạn phân hóa đòng khoảng 25 ngày trước lúc trổ bông, khi đòng dài khoảng 1mm làm tăng số hạt và kích thước của bông.
Trường hợp có lượng phân đạm ít, người ta có thể bón thúc đạm 1 lần vào giai đoạn 20 ngày trước khi cây lúa trổ vì thời kỳ này trùng hợp với giai đoạn sinh trưởng mạnh mẽ của bông non. Bón thúc đạm 20 ngày trước trổ không chỉ làm cho khối lượng bông hạt đạt đến cực đại mà còn làm tăng khả năng chống đổ ngã (Theo Singh và Takehashi 1962).
2. Phân lân (P2O5):
Lân là thành phần của protein cấu tạo nhân của tế bào do đó chất lân không thể thiếu được trong đời sống cây trồng. Lân ảnh hưởng đến sự vận chuyển chất đường bột tích lũy ở thân, bẹ lá lúa về hạt. Lân giúp cây lúa phát triển tốt bộ rễ, cây nẩy chồi tốt. Phân lân còn có tác dụng hạ phèn, phân lân có thể bón lót hoặc chia lượng phân lân ra bón hết vào đợt bón phân 1 và 2. Phân lân rất cần thiết ở giai đoạn lúa đẻ nhánh.
Cây lúa thiếu lân, triệu chứng thường xuất hiện ở lá lúa già.
- Lá ngắn, bản lá hẹp, thẳng, lá lúa có màu xanh đậm đến xanh tối. Các lá non vẩn khỏe, các lá già chết khi đã chuyển màu nâu, trên lá có thể có màu đỏ hoặc màu tím huyết dụ nếu giống lúa có xu hướng sản sinh ra sắt tố antoxian.
- Hệ thống rễ của cây lúa kém phát triển.
- Cây ốm, thấp lùn, ít phát triển, cây nẩy chồi kém.
- Năng suất giảm.
Các loại đất ảnh hưởng đến lượng lân hữu hiệu:
- Đầt có pH thấp, đất phèn, đất đỏ chua, đất kiềm, đất đá vôi đều thiếu lân.
3. Phân kali (K2O)
Giúp cây lúa hút các chất dinh dưỡng được tốt hơn, làm cứng cây, làm tăng lực cơ giới ở thân nhờ tăng độ dầy của thân (Noguchi 1940). Kali giúp cây lúa chống chịu hạn. Kali còn giúp cây lúa vận chuyển các chất đường bột vào hạt tốt, ngoài ra việc bón phân kali còn hạn chế được sâu đục thân gây hại. Bón kali vào đợt 1 và 3.
Triệu chứng thiếu kali trên lúa thường xuất hiện ở lá già.
- Thiếu kali cây lúa kém phát triển, cây thấp, lá ngắn rủ xuống màu
xanh đậm, các lá dưới bắt đầu từ ngọn biến màu nâu vàng giữa các gân lá, lúc khô trở thành màu nâu nhạt, sự thiếu kali trên lúa thường kéo theo bệnh đốm nâu phát triển trên lá.
- Cây dễ bị đổ ngả ở giai đoạn lúa trổ.
- Đầu lá lúa xuất hiện những đốm nâu sau đó bị khô cháy.
- Thời gian chín kéo dài.
- Hạt lép trên bông cao. Năng suất giảm.
Các loại đất ảnh hưởng đến hàm lượng kali hữu hiệu:
- Đất thoát nước kém, đất trũng thường thiếu kali. Một phần do các chất độc sản sinh trong đất khử cao làm ngăn cản việc hút kali ở cây và một phần kali giải phóng ra khỏi keo đất rất ít.
- Đất phèn có hàm lượng kali thấp thường đi kèm với ngộ độc sắt.
- Thiếu kali kèm theo các đốm bệnh Helminthosporium oryzae trên lá là triệu chứng thông thường của bệnh Akiosi (bệnh rối loạn sinh lý hay bệnh suy thoái mùa thu) trên đất cát.
Sử dụng phân kali: Đối với phân kali cây lúa cần với lượng lớn, kali cần nhiều ở giai đoạn đầu, giảm dần ở giai đoạn giữa và tăng mạnh ở giai đoạn sau. Cho nên việc bón bổ sung kali kéo dài đến khi lúa trổ, lúc hình thành sản lượng đã hoàn chỉnh là rất cần thiết.
Phân Trung lượng.
1. Phân calcium (Ca):
Giúp cây lúa cứng cây, phát triển tốt bộ rễ và làm chức năng hoạt động của rễ mạnh lên, vôi còn có tác dụng hạ phèn. Ngoài ra ruộng bón đủ canxi giúp cây lúa chống chịu tốt đối với bệnh cháy bìa lá do vi khuẩn Xanthomonas oryzae và bệnh đốm nâu do nấm Helminthosporium oryzae gây hại trên lúa.
Cây lúa thiếu calcium:
- Triệu chứng thiếu Ca thường xuất hiện trên lá non, đầu lá non
chuyển màu trắng, lá cuốn tròn hoặc quăn queo. Những đám chết mô xuất hiện dọc theo mép lá. Những lá già chuyển màu nâu và chết.
- Cây lúa thấp lùn, đỉnh sinh trưởng bị còi cọc và chết.
- Chức năng hoạt động của rễ bị suy yếu.
- Thiếu canxi dẩn đến cây hút nhiều Fe và cây dể bị ngộ độc sắt.
Các loại đất ảnh hưởng đến lượng Ca hữu hiệu:
- Đất có cấu trúc xấu như đất cát, đất bị rữa trôi mạnh, thiếu Canxi.
- Đất chua, đất có độ pH thấp thường thiếu canxi.
- Đất kiềm, đất có tỉ lệ Na/ Ca trao đổi lớn làm giảm khả năng hấp thụ canxi của cây dẩn tới cây thiếu canxi.
- Đất có tỉ lệ Fe/ Ca hoặc Mg/ Ca lớn làm giảm khả năng hấp thụ canxi của cây.
- Ruộng bón nhiều N hoặc K kết quả tỉ lệ NH4 / Ca hoặc K/ Ca lớn làm giảm khả năng hấp thụ canxi của cây.
- Ruộng bón nhiều P làm giảm khả năng hút canxi của cây.
Sử dụng phân calcium:
- Dùng CaCl2 phun qua lá.
- Bón thạch cao vào đất thiếu Ca. hoặc đất giàu kali.
- Bón phối hợp phân Mg với Ca hoặc K với Ca.
2. Phân Magie (Mg)
Giúp cây lúa đồng hóa tốt CO2 và tổng hợp protein. giúp cấu tạo tế bào và cân bằng cation và anion hoạt hóa.Giúp các enzymes hoạt động mạnh. Và magie là thành phần cấu tạo nên diệp lục tố. giúp vận chuyển các chất từ lá già về lá non. Cây lúa thiếu Magie triệu chứng đầu tiên thường xuất hiện ở lá già rồi sau đó đến lá non.
- Cây lúa có màu xanh nhợt nhạt, lá lúa gợn sóng và rủ xuống, gân lá có màu vàng cam. Lá già bị úa vàng và sau đó đến lá non.
- Sự héo úa phát triển thành màu vàng ở lá già.
- Làm giảm số nhánh gié trên bông.
- Giảm phẩm chất hạt gạo.
Các loại đất ảnh hưởng đến lượng Mg hữu hiệu:
- Đất có cấu trúc xấu, đất bị suy thoái hoặc đất bạc màu, đất phèn, đất cát thiếu Mg.
- Ruộng cung cấp đủ nước thường không thiếu Mg.
- Ruộng bón nhiều K làm giảm khả năng hấp thu Mg của cây.
3. Lưu huỳnh (S):
Lưu huỳnh là thành phần cấu tạo một số amino acide, giúp cây tổng hợp protein, lưu huỳnh còn là thành phần cấu tạo diệp lục tố, ảnh hưởng đến phản ứng oxy hóa khử. Sự chín của bông lúa, trong hóa trình sinh trưởng của cây lúa thiếu lưu huỳnh sẽ ảnh hưởng đến năng suất lúa.
Triệu chứng đầu tiên thiếu S trên lúa xuất hiện trên lá non.
- Triệu chứng thiếu lưu huỳnh trên lúa rất giống với triệu chứng thiếu đạm.
- Cây thấp có màu vàng nhợt, hoặc toàn cây có màu xanh nhạt.
- Lá non úa vàng, hoặc màu xanh nhợt.
- Ở giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng thiếu S làm giảm năng suất lúa.
- Cây lúa nẩy chồi kém.
- Nhánh gié trên bông giảm, bông ngắn ít hạt.
- Kéo dài thời gian chín.
Biện pháp khắc phục tình trạng thiếu S:
- Thiếu lưu huỳnh thường gây rối loạn dinh dưỡng trên cây trồng cạn nhưng hiếm thấy xãy ra trên đất trũng trồng lúa.
- Nguồn cung cấp lưu huỳnh cho cây có trong tự nhiên như đất, nước tưới, không khí và nước mưa.
- Cày vùi rơm rạ. (Đốt đồng làm mất 40 – 60% S mằn trong rơm rạ).
Châu Văn Hải
Phòng Trồng trọt - Kiểm dịch thực vật
- - - - -
Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa và vai trò của phân bón
TS. Mai Thị Phương Anh - Công ty cổ phần Kỹ thuật Môi trường
Lời mở đầu
Lúa là cây lương thực chính của khoảng 1,3 tỉ người trên thế giới, là sinh kế chủ yếu của nông dân các nước châu Á. Bình quân 1 người tiêu thụ 180 - 200 kg gạo/ năm tại các nước châu á và khoảng 10 kg/ năm tại các nước châu Mỹ. Ở Việt Nam, từ năm 1986 đến nay đã có những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất lúa, từ chỗ là nước thiếu ăn triền miên đã trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 trên thế giới. Năm 1980, Galston đã tìm ra 16 nguyên tố cần thiết cho cây trồng là: C,H,O, N, P, K, S, Mg, Mn, Ca, Fe, Cu, Zn, Mo, B, Cl. Đến năm 1998, Lincoln Taiz đã bổ sung thêm 3 nguyên tố thiết yếu nữa là Na, Si, Ni. thiếu một trong số chúng thì cây trồng không thể hoàn thành chu kỳ sống của mình. Tuy nhiên, đối với từng cây trồng nhu cầu 19 nguyên tố dinh dưỡng này khác nhau.
I. Các nguyên tố dinh dưỡng nào cần thiết cho sinh trưởng, phát triển cây lúa ?
Các chất dinh dưỡng cần thiết, không thể thiếu được đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa là: các-bon, ô-xy, hyđrô (từ thiên nhiên) và các chất khoáng : nitơ (N), phốtpho (P), kali (K), canxi, sắt, kẽm, đồng, magiê, mangan, mô-líp-đen, bo, silic, lưu huỳnh, trong đó 3 yếu tố dinh dưỡng cây lúa cần với lượng lớn là: nitơ, phốtpho và kali, các nguyên tố khoáng còn lại, cây lúa cần với lượng rất ít.
1. Nitơ : là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất với cây lúa. Nitơ có mặt trong rất nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng, có vai trò quyết định trong quá trình trao đổi chất và năng lượng cũng như các hoạt động sinh lý của cây, là thành phần cấu tạo nên protein, tế bào và mô cây, thúc đẩy quá trình quang hợp tích lũy chất hữu cơ; giữ vai trò quan trọng trong hình thành bộ rễ, thúc đẩy nhanh quá trình đẻ nhánh và cho sự sinh trưởng và phát triển của thân lá. Đủ nitơ, thân lá phát triển tốt, lúa đẻ nhánh mạnh, đòng to, bông lớn, năng suất cao. Các bộ phận non của cây lúa có hàm lượng nitơ cao hơn các các bộ phận già. Nitơ có tác dụng mạnh trong thời gian đầu sinh trưởng và tác dụng rõ rệt nhất của nitơ đối với cây lúa là làm tăng hệ số diện tích lá và tăng nhanh số nhánh đẻ. Cây lúa hút nitơ nhiều nhất vào hai thời kỳ: đẻ nhánh và làm đòng. Khi kết thúc thời kỳ phân hóa đòng, hầu như cây lúa đã hút trên 80% tổng lượng nitơ cho cả chu kỳ sinh trưởng.
Triệu chứng thiếu nitơ thay đổi tùy theo thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây, cây sinh trưởng phát triển kém, hàm lượng diệp lục giảm, lá chuyển màu vàng, nhỏ, cây thấp, đẻ nhánh kém, giai đoạn làm đòng thì đòng nhỏ, trỗ sớm hơn và không đều, số bông và số lượng hạt ít hơn, năng suất giảm.
Thừa nitơ cho lá lúa to, dài, nhưng phiến mỏng, nhiều, màu xanh đen, thân nhỏ yếu, cây cao vóng, lốp đổ, lúa đẻ nhánh vô hiệu nhiều, trỗ muộn, nhiều hạt lép, dễ bị sâu bệnh tấn công làm giảm năng suất, hiệu suất kinh tế thấp.
Nhu cầu về nitơ của cây lúa phụ thuộc vào mùa vụ gieo cấy, độ màu mỡ của đất, tiềm năng năng suất của giống lúa, thời gian và cách bón phân bổ sung. Dạng nitơ vô cơ được dùng bón cho lúa là Urê, ngoài ra nguồn phân hữu cơ có vai trò quan trọng trong cung cấp nitơ cho cây.
2. Phốtpho (P)
Tính theo chất khô, tỉ lệ phốtpho nguyên chất (P2O5) chiếm khoảng 0,2% trong rơm rạ và khoảng 0,48% trong gạo. Phốtpho tham gia vào thành phần ADN và ARN của cây lúa, phốtpho có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành diệp lục, vào quá trình hình thành chất béo, tổng hợp prôtêin trong cây và vận chuyển tinh bột, làm tăng sự phát triển của bộ rễ, thúc đẩy việc ra rễ, đặc biệt là rễ bên và lông hút. Trong một số trường hợp đất phèn và đất phèn mặn thì phốtpho có vai trò kìm hãm các độc tố giúp cho lúa sinh trưởng và phát triển.Tỉ lệ phốtpho cao hơn tại các cơ quan non của cây lúa. Cây lúa hút phốtpho trong suốt thời kỳ sinh trưởng nhưng mạnh nhất là thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng. Giai đoạn đầu nhu cầu về phốtpho của cây lúa rất thấp. Đủ phốtpho cây đẻ khỏe, bộ rễ phát triển tốt, trỗ và chín sớm ngay cả trong điều kiện nhiệt độ thấp trong vụ đông xuân, hạt thóc mẩy và sáng.
Thiếu phốtpho cây còi cọc, số lá ít, lá ngắn, phiến lá hẹp, lá dựng đứng, xanh tối, đẻ nhánh kém, trỗ bông chậm, chín kéo dài, nhiều hạt xanh, hạt lép, số bông và số hạt/bông đều giảm.
Thừa phốtpho không có biểu hiện gây hại như thừa N vì P thuộc loại nguyên tố linh động, nó có khả năng vận chuyển từ cơ quan già sang cơ quan còn non.
Trong sản xuất, khi bón phân phốtpho cho lúa, lượng phốtpho supe bao giờ cũng gấp 1,5-2 lần so với urê và bón lót toàn bộ phân phốtpho để cung cấp kịp thời phốtpho cho sự phát triển của bộ rễ lúa. phốtpho supe (supe lân ) bón lót cho đất ít chua, còn phốtpho nung chảy (hay còn gọi là técmo phốtphát) dùng cho nhiều loại đất, đặc biệt có tác dụng ở đất chua.
3. Ka li (K) : quan trọng nhất đối với nhóm cây chứa nhiều đường hay tinh bột. Trong cây lúa, tính theo chất khô, tỉ lệ kali nguyên chất (K2O) chiếm khoảng 0,6-1,2% trong rơm rạ và khoảng 0,3-0,45% trong gạo. Khác với nitơ và phốtpho, kali không tham gia vào thành phần bất kỳ một hợp chất hữu cơ nào mà chỉ tồn tại dưới dạng ion trong dịch bào và một phần nhỏ kết hợp với chất hữu cơ trong tế bào chất của cây lúa. Kali chiếm tỉ lệ cao hơn tại các cơ quan non của cây lúa, tồn tại dưới dạng ion nên có thể len lỏi vào giữa các bào quan, xúc tiến quá trình vận chuyển dinh dưỡng, giúp cây lúa tăng cường hô hấp. Kali còn giúp thúc đẩy tổng hợp prôtit, hạn chế việc tích lũy nitrat trong lá, hạn chế tác hại của việc bón thừa nitơ cho lúa. Ngoài ra kali còn giúp bộ rễ tăng khả năng hút nước và cây lúa không bị mất nước quá mức ngay cả trong lúc gặp khô hạn, kali làm tăng khả năng chống hạn và chống rét cho cây lúa. K làm tăng hiệu quả sử dụng N và P. Cây lúa được bón đầy đủ kali phát triển cứng cáp, không bị ngã đổ, chịu hạn và chịu rét tốt.
- Triệu chứng thiếu K là lá hẹp, ngắn, xuất hiện các chấm đỏ, lá có màu lục tối, mép lá có màu nâu hơi vàng, lá dễ héo rũ và khô. Cây lúa thiếu K sinh trưởng kém, trỗ sớm, chín sớm, nhiều hạt lép lửng, mép lá về phía đỉnh biến vàng. Khi tỉ lệ kali trong cây giảm xuống chỉ còn bằng 1/2-1/3 so bình thường thì mới thấy xuất hiện triệu chứng thiếu kali trên lá, cho nên khi triệu chứng suất hiện thì năng suất đã giảm nên việc bón kali không thể bù đắp được
Phân kali bón cho lúa chủ yếu là Kali Clorua (KCl) hay gọi là MOP
4. Silic (Si)
- Silic giúp cho lá mọc vươn thẳng, tạo điều kiện cho cây hấp thu ánh sáng tốt hơn, tăng khả năng quang hợp, tăng hiệu lực phân nitơ. Tác dụng tương hỗ giữa silic với lượng phốtpho giúp cây hấp thu dinh dưỡng tốt hơn, cây tăng trưởng nhanh làm pha loãng nồng độ sắt, nhôm trong cây do đó làm tăng khả năng chống chịu phèn cho cây.
- Trong đất, silic có khả năng tạo phức với sắt, nhôm và mangan thành những hợp chất khó tan làm hạn chế sự thu hút các chất này vào trong cây, nhờ vậy cây tránh được tình trạng bị ngộ độc do hàm lượng sắt, nhôm và mangan quá cao (trong đất chua phèn), bộ rễ phát triển mạnh, giảm hiện tượng vàng lá, cháy lá do xì phèn.
- Bón Si vào đất làm tăng hàm lượng phốtpho dễ tiêu cho cây nhờ tác dụng làm giảm sự giữ chặt P trong đất, vì vậy giúp tăng sự thu hút phốtpho của cây. Sự tích tụ silic trong lớp tế bào biểu bì trên bề mặt lá là rào cản vật lý ngăn chặn sự xâm nhiễm của bệnh đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông, khô vằn, đốm nâu, lem lép hạt do nhiều loại nấm gây ra và cả cháy bìa lá cũng như tuyến trùng rễ.
Silic không phải là một dưỡng chất chủ yếu của cây lúa, thiếu silic lúa không chết, nhưng lúa hấp thụ rất nhiều silic, nhiều gấp 4 lần chất nitơ (N). Nhu cầu silic rất thấp ở lúa ở giai đoạn mạ và con gái, nhưng rất cao ở giai đoạn sinh sản. Ở đất phèn, silic còn giúp cây lúa ngăn ngừa ngộ độc mangan và sắt bằng cách nở rộng đường vận chuyển ôxy từ lá xuống rễ, giúp rễ nhận được nhiều ôxy hơn để ôxyt hóa sắt và mangan, làm các chất này không còn hòa tan trong dung dịch đất, hạn chế sự hấp thụ của rễ lúa đối với những độc chất này.
5. Lưu huỳnh (S): Lưu huỳnh tham gia trong thành phần protein, axit amin, vitamin, có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi lipit và sự hô hấp của cây.
Triệu chứng thiếu S vàng lá như khi thiếu N, nhưng xuất hiện ở các lá non trước các lá trưởng thành và lá già. Khi cây thiếu S, gân lá chuyển vàng trong khi phần thịt lá vẫn còn xanh, sau đó mới chuyển vàng. Kèm theo những tổn thương trước hết ở phần ngọn và lá non, cộng với sự xuất hiện các vết chấm đỏ trên lá do mô tế bào chết.
6. Canxi (Ca): Canxi có vai trò quan trọng trong việc hình thành tế bào, hình thành các mô cơ quan của cây’ là thành phần quan trọng trong vách tế bào, giữ cho thành tế bào được vững chắc giúp cây tăng trưởng khỏe mạnh, hạn chế sâu bệnh, duy trì cân bằng anion-cation trong tế bào, trung hòa các acid hữu cơ trong cây giúp giải độc hữu cơ, giải độc phèn cho cây, làm tăng pH đất giúp giảm độc tố sắt, nhôm, làm đất tơi xốp, cải thiện tính thấm nước và thông thoáng nhờ đó cải thiện điều kiện phát triển của rễ, kích thích hoạt động của vi khuẩn, làm tăng khả năng hữu dụng của molipdent (Mo) và sự hấp thu các yếu tố dinh dưỡng khác.
Triệu chứng đặc trưng của cây thiếu Ca là các lá mới ra bị dị dạng, chóp lá uốn câu, rễ kém phát triển, ngắn, hóa nhầy và chết. Ca là chất không di động trong cây nên biểu hiện thiếu Ca thường thể hiện ở các lá non trước.
7. Magiê (Mg): Mg rất cần đối với lúa, là thành phần quan trọng của phân tử diệp lục quyết định hoạt động quang hợp của cây, là chất hoạt hóa của nhiều men quan trọng đối với quá trình hô hấp và trao đổi chất của cây, làm tăng hàm lượng tinh bột trong sản phẩm, giúp cây tăng trưởng nhanh, đẻ nhánh mạnh, hạn chế bệnh do nấm, giúp cây thu hút được nhiều phốtpho và các dưỡng chất khác.
Triệu chứng điển hình là các gân lá còn xanh trong khi phần thịt lá đã biến vàng. Xuất hiện các mô hoại tử thường từ các lá phía dưới, lá trưởng thành lên lá non, vì Mg là nguyên tố linh động, cây có thể dùng lại từ các lá già. Thiếu Mg làm chậm quá trình ra hoa, cây thường bị vàng lá do thiếu diệp lục.
8. Sắt (Fe): Vai trò quan trọng nhất của sắt là hoạt hóa các men của quá trình quang hợp và hô hấp, mặ dù không tham gia vào thành phần diệp lục nhưng có ảnh hưởng quyết định tới sự tổng hợp diệp lục trong cây. Hàm lượng sắt có quan hệ mật thiết đến hàm lượng diệp lục trong lá cây.
Lá cây thiếu sắt sẽ chuyển từ màu xanh sang vàng hay trắng ở phần thịt lá, trong khi gân lá vẫn còn xanh. Triệu chứng thiếu sắt xuất hiện trước hết ở các lá non, sau đến lá già, vì Fe không di chuyển được từ lá già về lá non. Thiếu hụt Fe thường xảy ra trên nền đất có đá vôi.
9. Mangan (Mn): là nguyên tố hoạt hóa rất nhiều men của các quá trình quang hợp, hô hấp và cố định nitơ phân tử, có vai trò xúc tác trong một số phản ứng men và chu trình sinh lý, kiểm soát oxy trong tế bào ở cây pha sáng và tối.
Triệu chứng điển hình khi cây thiếu Mn là phần gân lá và mạch dẫn biến vàng, nhìn toàn bộ lá có màu xanh sáng, về sau xuất hiện các đốm vàng ở phần thịt lá và phát triển thành các vết hoại tử trên lá. Nếu thiếu nghiêm trọng sẽ gây khô và chết lá.
10. Đồng (Cu): là nguyên tố hoạt hóa nhiều men của quá trình tổng hợp protein, axit nucleic và dinh dưỡng nitơ của cây, thành phần của nhiều men.
Thiếu đồng thường xảy ra trên những vùng đất đầm lây, ruộng lầy thụt, thiếu đồng làm mất màu xanh ở phần ngọn lá.
11. Bo (B): tác động trực tiếp đến quá trình phân hóa tế bào, trao đổi hocmon, trao đổi N, nước và chất khoáng khác, ảnh hưởng rõ rệt nhất của B là tới mô phân sinh ở đỉnh sinh trưởng và quá trình phân hóa hoa, thụ phấn, thụ tinh, hình thành quả, tăng khả năng thấm ở màng tế bào, giúp vận chuyển hydrate carbon dễ dàng, quan trọng trong quá trình sự phân chia tế bào, giúp điều chỉnh tỷ lệ K/Ca trong cây.
Triệu chứng thiếu B : chồi ngọn bị chết, rễ sinh trưởng kém, lá bị dày lên, hoa không hình thành, tỷ lệ lép cao.
12. Molypden (Mo): có vai trò rất quan trọng trong việc trao đổi nitơ và hình thành lục lạp, là thành phần của men khử nitrate và men nitrogenase.
Thiếu Mo sẽ ức chế dinh dưỡng nitơ của cây.
13. Kẽm (Zn): tham gia hoạt hóa khoảng 70 men của các chu trình sinh lý, sinh hóa, đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp acid nucleic và protein, tăng cường khả năng sử dụng phốtpho và nitơ trong cây.
Thiếu Zn sẽ gây rối loạn trao đổi auxin nên ức chế sinh trưởng, lá cây bị biến dạng, ngắn, nhỏ và xoăn, đốt ngắn và biến dạng.
II. Độ pH của đất ảnh hưởng đến cây lúa như thế nào?
Độ pH tác động nhiều đến các tính chất vật lý, hóa học và vi sinh vật đất đến sự phát triển và năng suất của cây lúa. Độ pH ảnh hưởng tới khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất. Khoảng pH tối ưu cho cây lúa phát triển là từ 5 - 7. Độ pH thấp có thể kích thích làm cho cây lúa nhạy cảm hơn với các chất độc và một số bệnh, pH cao các ion bicacbonat và natri có thể làm giảm sản lượng lúa.
Cây lúa đặc biệt nhạy cảm với sự thiếu hụt kẽm; lượng kẽm cũng như sắt dễ hấp thụ sẽ giảm khi pH > 7. Photpho thường phát huy hết tác dụng ở độ pH 6 - 7, còn đối với canxi và kali thì ở độ pH < 6. Nếu pH cao quá 7 thì urê và amoni sulfat có thể bị chuyển hóa thành khí amoniac, đặc biệt đối với đất chứa canxi cacbonat. Độ pH thấp sẽ làm giảm tốc độ vi khuẩn giải phóng nitơ từ các chất hữu cơ. Lưu huỳnh (lưu huỳnh nguyên tố và axit sulfuric) có thể hạ thấp độ pH của đất, tăng sản lượng lúa.
III. Ảnh hưởng của phân bón Ước mơ nhà nông đối với dinh dưỡng cây lúa
Thành phần và đặc điểm phân bón Ước mơ Nhà nông (AGRODREAM)đóng vai trò quyết định các tính chất lý, hóa, khả năng điều kiện dinh dưỡng và hấp phụ trao đổi của đất. Bón Ước mơ nhà nông dạng rắn làm tăng khả năng trao đổi cation (CEC) của đất, giữ chất dinh dưỡng giúp ngăn ngừa sự rửa trôi chất dinh dưỡng ra khỏi vùng rễ, đồng thời có thể phóng thích chất dinh dưỡng ở dạng hữu dụng cho cây khi cần thiết, làm tăng sự chuyển hóa phân bón, tăng sự hấp thu dưỡng chất vào cây. Tăng độ thông thoáng đất, giúp hệ vi sinh vật đất phát triển mạnh, cải thiện đáng kể lý tính và thành phần cơ giới đất như. Phun phân bón lá Ước mơ nhà nông “M” bổ sung các chất dinh dưỡng thiếu hụt, giảm bón phân vô cơ, tăng tỷ lệ gạo/thóc, tăng năng suất, chất lượng gạo.
= = = = =
Quản lý dinh dưỡng cây trồng và phân bón Ước mơ nhà nông
TS. Mai Thị Phương Anh - Công ty cổ phần Kỹ thuật Môi trường
Lời mở đầu
Công ty ETC mở chuyên mục mới trên trang web về “Quản lý dinh dưỡng cây trồng” nhằm cụ thể các cách thức để người nông dân có thể sử dụng hiệu quả các chất dinh dưỡng khác nhau (trong đó có cả các phân bón vô cơ truyền thống) để giảm chi phí cho phân bón, cho thuốc bảo vệ thực vật, giảm công chăm sóc và bảo vệ môi trường sống. Mục tiêu của công ty là gắn yêu cầu của dinh dưỡng với từng giai đoạn phát triển sinh lý của cây trồng, khi đó lượng phân bón sẽ giảm đi rất nhiều và vai trò của chất dinh dưỡng hữu cơ, của các vi sinh vật trong đất, của quá trình quang hợp và của 1 hệ thống tự nhiên đa dạng sẽ tăng lên nhiều. Tuy nhiên đó là mục tiêu lâu dài, trước mắt, các bài viết trong chuyên mục này sẽ giúp cho việc sử dụng hiệu quả chất dinh dưỡng cho từng giai đoạn phát triển của các cây trồng khác nhau, trong đó có khuyến cáo sử dụng phân bón Ước mơ nhà nông là một một giải pháp quan trọng để điều hoà các nhu cầu dinh dưỡng của cây và tăng cường khả năng tận dụng những nguồn chất dinh dưỡng vô tận trong tự nhiên do các quá trình quang hợp và vi sinh vật mang lại.
Dinh dưỡng ảnh hưởng tới sinh trưởng, phát triển cây trồng như thế nào ?
Cũng giống như các cơ thế sống khác, cây cần dinh dưỡng để tăng trưởng và phát triển. Nếu không có đủ 16 nguyên tố quan trọng, cây có những biểu hiện thiếu hụt như bị còi cọc, màu sắc lá kém, thừa dinh dưỡng cây bị ngộ độc .... Các chất dinh dưỡng cần thiết bao gồm :
I. Chất dinh dưỡng không phải chất khoáng : hydro, cac bon và oxy được cây tiếp nhận từ không khí và nước. Trong quang hợp cây dùng năng lượng mặt trời để biến khí các bo nic (CO2) và nước (H2O) thành tinh bột và đường. Đây là các loại thực phẩm từ thực vật
II. Chất dinh dưỡng khoáng - có 3 nhóm : đa, trung và vi lượng tồn tại trong đất (chất khoáng và chất hữu cơ). Để cây sử dụng các chất dinh dưỡng hiệu quả thì cây cần được sống trong môi trường đầy đủ ánh sáng, nước và độ ấm. Đất không đủ dinh dưỡng, cần được cung cấp từ bên ngoài bằng phân bón (hữu cơ và vô cơ).
A. Các nguyên tố đa lượng (quan trọng nhất): ni tơ, phốt pho và kali.
1. Ni tơ (N) : tác động trong tất cả quá trình sống của cây; là thành phần cấu tạo chủ yếu của axit amin, protein, cùng với các nguyên tố khác tạo thành axit nucleic - cơ sở vật chất di truyền của sự sống nói chung và thực vật nói riêng, các photpholipit, các hợp chất cao năng (ATP, ADP…), các coenzym (NAD, FAD…), một số vitamin, diệp lục (trong quang hợp), một số hormon, kháng sinh và nhiều hợp chất hữu cơ khác giữ vai trò điều tiết các hoạt động sống của tế bào và cơ thể. Thiếu hụt Ni tơ lá cây vàng hoặc xanh nhạt, cây còi cọc, giảm số lượng hoa và chín sớm. Cây phản ứng rất mạnh với phân chứa Ni tơ, mặc dù ni tơ bị rửa trôi rất nhanh trong đất.
2. Phốt pho (P) : là thành phần của nhân tế bào; cần trong quá trình tăng trưởng rễ cây; quá trình nảy mầm hạt; ảnh hưởng đến sự tạo thành và chín của quả. Là thành phần quan trọng của axit nucleic; là thành phần của các nucleotit; đặc biệt là các phân tử cao năng ATP, ADP…, là thành phần của các phân tử photphorit - cơ sở phân tử của cấu trúc các loại màng trong tế bào, là thành phần của các coenzym; là thành phần của các loại đường hoạt hóa…có vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp, hô hấp ở thực vật. Phôt pho có vai trò điều tiết: muối vô cơ của axit photphoric trong tế bào tham gia điều tiết độ pH của xytosol, điều tiết độ nhớt keo trao đổi chất, kích thích quá trình tổng hợp protein, tổng hợp gluxit… làm tăng phẩm chất hạt và phôi, nâng cao khả năng chống chịu của cây. Kích thích hoạt động của vi khuẩn nốt sần cây họ đậu trong quá trình cố định nitơ. Thiếu phốt pho giảm phân chia tế bào, thân lá chuyển sang màu vàng, cây còi cọc, quả chín chậm lại, giảm lượng hạt, giảm sự phát triển quả. Cây hút phốt pho từ đất khi thời tiết ấm, do đó thường gặp hiện tượng thiếu phốt pho khi thời tiết rét. Cây rất mẫn cảm với phốt pho ở giai đoạn sinh trưởng, phát triển đầu tiên, đó là thời kì nảy mầm va cây non.
3. Kali (K) : nhiều chức năng trong chu trình sinh lý như quang hợp, hô hấp (tổng hợp ATP, thúc đẩy quá trình sinh tổng hợp diệp lục, nâng cao cường độ quang hợp, tăng cường độ phân giải các chất hữu cơ…); tổng hợp protein, duy trì nước (lượng kali trong mô liên quan đến cường độ quang hợp, tốc độ và hiệu quả sử dụng nước của cây); phân chia tế bào; tăng cường tạo đường nhờ xúc tiến đồng hóa CO2 và vận chuyển đường đến các cơ quan tiêu thụ hoặc dự trữ; các quá trình có tham gia của men (kali không phải là thành phần cấu trúc bắt buộc của men nhưng có tác dụng hoạt hóa các men thực hiện trong quá trình trao đổi gluxit, quá trình tổng hợp axit béo.... Có khoảng hơn 60 loại men cần sự tham gia hoạt hóa của kali. K đóng vai trò như một bơm thẩm thấu; kích thích sự hấp thụ nước từ ngoài vào tế bào rễ; giúp cây tăng tính chống chịu với sâu bệnh hại, khô hạn, nóng và rét bằng việc đóng mở khí khổng, vận chuyển đường. Thiếu hụt kali lá biến màu, giảm năng suất quang hợp, sinh trưởng chậm, cây bé nhỏ, yếu ớt, thân mảnh, rễ kém phát triển, hậu quả là quả và hạt bé, năng suất và chất lượng giảm.
B. Các nguyên tố trung lượng
1. Can xi (Ca) : chiếm phần lớn trong cấu tạo vách tế bào thực vật, có vai trò đáng kể trong hình thành các chất hữu cơ và cấu trúc tế bào; góp phần xây dựng nên bản trung gian giữa các tế bào do đó ảnh hưởng lớn đến sự phân bào và kéo dài tế bào, ảnh hưởng đến tính thấm của màng, đến sự vận động của tế bào chất, đến hoạt động của men (là tác nhân hoạt hóa của nhiều men) và nhiều quá trình khác. Ngoài ra can xi còn hạn chế sự xâm nhập của các ion khác vào rễ cây, góp phần loài bỏ độc tính do nồng độ dư thừa của các ion NH4+, Al3+, Mn2+, Fe3+, tăng tính chịu mặn của cây, giảm độ chua của đất. Thiếu canxi rễ sinh trưởng chậm, vách tế bào bị hóa nhầy và tế bào bị hủy hoại, rễ, lá, và các phần khác của cây bị thối và chết, gãy những phần chóp hoặc chồi non.
2. Magiê (mg) : thành phần cấu tạo diệp lục tố; thành phần cấu trúc nên riboxom và poliriboxom, là cầu nối giữa nguyên liệu và men, tham gia hình thành cấu trúc không gian của axit nucleic, có tác dụng kích thích khoảng 80 loại men; tham gia điều tiết nhiều quá trình trao đổi chất trong tế bào, kích thích tăng hiệu lực sử dụng N, P, K của cây; kích thích ra hoa, kết quả sớm, nâng cao chất lượng hạt. Thiếu Mg sẽ làm giảm lượng P trong cây và ức chế quá trình tổng hợp các hợp chất photpho hữu cơ, ức chế sự tổng hợp polisacarit-tinh bột và ức chế sự tổng hợp potein, ảnh hưởng đến lsinh tổng hợp diệp lục.
3. Lưu huỳnh (S) : là thành phần cấu tạo trong protein và dầu thực vật, là thành phần của 3 axit amin là xistein, xistin và metionin, có vai trò trong quá trình trao đổi chất và năng lượng, trong thành phần của coenzym - cơ sở phân tử của quá trình trao đổi chất trong tế bào; có tác dụng ổn định cấu trúc phân tử protein, giữ ổn định thế năng oxy hóa khử của tế bào. Thiếu lưu huỳnh ức chế sự tổng hợp các axit amin và protein chứa lưu huỳnh, giảm cường độ quang hợp, giảm tốc độ sinh trưởng. Thiếu lưu huỳnh nghiêm trọng sinh tổng hợp diệp lục bị phá hoại và cơ thể bị phân giải.
C. Các nguyên tố vi lượng
1. Đồng (Cu) : cần thiết cho sự hình thành diệp lục và làm xúc tác cho một số phản ứng khác trong cây; tham gia vận chuyển điện tử trong quang hợp; kích thích quá trình tổng hợp chlorophyll, kích thích sự vận chuyển sản phẩm quang hợp tới mô dự trữ, tổng hợp tinh bột, dầu, vi ta min; tham gia thành phần các protein chứa đồng và các enzym xúc tác các phẩn ứng oxi hóa khử, quá trình khử nitrat ở tế bào; tăng tính chống chịu lốp đổ nhờ điều tiết hàm lượng các chất ức chế có bản chất phenol của cây, làm tăng tính chống nấm bệnh, chịu rét, chịu nóng cho cây. Thiếu đồng, cây sẽ phát triển chậm, mất nước, dễ bị nấm bệnh.
2. Bo (B) : cần thiết cho nẩy mầm của hạt phấn, tăng trưởng của ống phấn, cần thiết cho sự hình thành của thành tế bào và hạt giống, hình thành nên các phức chất đường, rượu, các chất phenol, ảnh hưởng đến cơ chất của các phản ứng enzym, xúc tiến hoặc ức chế quá trình tổng hợp gluxit, protein, axit nucleic…có liên quan đến trao đổi tinh bột, pectin, amit, axit hữu cơ, caroten, vitamin A, C…; đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành protein. Thiếu Bo cây sinh trưởng còi cọc, làm đình trệ đỉnh sinh trưởng và các lá non.
3. Sắt (Fe) : là chất xúc tác để hình thành nên diệp lục và hoạt động như là một chất mang oxy; giúp hình thành một số hệ thống men hô hấp. Tham gia hỗ trợ, xây dựng các enzym trong dây chuyền tổng hợp diệp lục, tham gia vào quá trình quang phân ly nước và photphoryl hoá; thành phần bắt buộc của hệ enzym oxy-hoá khử; tham gia vận chuyển điện tử từ nguyên liệu hô hấp tới oxy. Thiếu sắt gây ra hiện tượng mầu xanh lá cây nhợt nhạt (bạc lá). Tuy nhiên quá nhiều sẽ gây độc cho cây, có thể bón vôi, đạm và một số nguyên tố khác để hạn chế độc hại này.
4. Mangan (Mn) : thành phần của các hệ thống men (enzyme) trong cây; hoạt hóa một số phản ứng trao đổi chất quan trọng trong cây, hỗ trợ tổng hợp diệp lục; Tăng cường sự chín và sự nẩy mầm của hạt bằng việc tăng sử dụng của phốtpho và canxi. Thiếu mangan ở những chân đất giàu hữu cơ, trung tính hoặc hơi kiềm, cũng có thể gây ra bởi sự mất cân bằng với các dinh dưỡng khác như canxi, magiê và sắt khi điều kiện thời tiết lạnh, úng nước.
5. Molipden (Mo) : cần cho tổng hợp và hoạt động của men khử Nitrat (thành ammonium); tham gia quá trình cố định đạm tự do; cần thiết cho việc chuyển hóa phốtpho từ dạng vô cơ sang hữu cơ trong cây;. kích thích quá trình tổng hợp các axit amin, protein, chlorophyll, antoxian, phenol, tanin…; cùng với các nguyên tố khác thúc đẩy sự vận chuyển các sản phẩm quang hợp từ lá tới các cơ quan dự trữ làm tăng hiệu quả quang hợp; làm tăng khả năng giữ nước của mô, giúp cây chịu hạn tốt. Thiếu Molipden thường xảy ra ở đất chua, đất nhẹ.
6. Kẽm (Zn) : là một trong các nguyên tố vi lượng đầu tiên cần thiết cho cây trồng (nguyên tố hạn chế năng suất); hỗ trợ tổng hợp các chất sinh trưởng và hệ thống men (đường phân, hô hấp, xúc tác phản ứng loại nước ); tăng cường số phản ứng trao đổi chất trong cây; xúc tác quá trình tổng hợp triptophan, protein, axit indolilaxetic, cần để sản xuất diệp lục và các hydratcarbon. hiếu kẽm làm giảm qua trình tổng hợp axit amin quan trọng là triptophan, gây ra rối loạn quá trình trao đổi phốtpho và nhiều quá trình sinh lý nhờ quang hợp, hô hấp…
7. Clo: là nguyên tố vi lượng sống còn cho cây trồng; tham gia vào các phản ứng năng lượng trong cây; tham gia vào quá trình vận chuyển một số cation như canxi, magie, kali; điều hòa hoạt động của những tế bào bảo vệ khí khổng (kiểm soát sự bốc hơi nước).
Đất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây như thế nào ?
Đất tốt rất cần thiết để cho cây sinh trưởng và phát triển. Cùng với nước, ánh sáng và không khí, đất giúp cây lấy dinh dưỡng và phát triển khỏe hệ rễ.
1. pH đất : đất có pH thấp được coi là đất chua, còn đất có pH >7 được gọi là đất kiềm. pH đất ảnh hưởng đến loại và số lượng chất dinh dưỡng có thể cung cấp cho cây. Đất chua chứa nhiều sắt, bo, đồng và kẽm hơn đất kiềm. Nếu không có pH thích hợp rất nhiều chất dinh dưỡng cây không thể hút được. Nếu pH thấp các chất đa lượng trở nên thiếu. pH thấp còn cải thiện hệ vi khuẩn phân giải ni tơ và lưu huỳnh.
2. Cấu trúc đất :Cấu trúc đất là nhân tố quan trọng tác động đến sự sinh trưởng của cây. Cấu trúc đất tốt giúp vận chuyển nước và chất khoáng.
3. Vi sinh vật đất :Vai trò chính của vi sinh vật trong đất là phân hủy chất hữu cơ phức thành chất hữu cơ đơn giản (một quá trình quan trọng trong hệ sinh thái khi các chất dinh dưỡng nằm ở dạng hữu cơ) đảm bảo việc tái chế vật liệu bên trong đất; có vai trò quan trọng trong chu trình nitơ là phân giải chất hữu cơ giải phóng ni tơ và giúp cây có thể cố định ni tơ từ không khí để đảm bảo các chất dinh dưỡng có thể duy trì liên tục toàn bộ hệ thống; tăng khả năng giữ nước của đất thông qua sự hình thành mùn, tạo ra môi trường hấp dẫn để cây có thể phát triển; giiúp ngăn ngừa ô nhiễm bằng cách phá vỡ các chất gây ô nhiễm; tạo các túi khí, thông thoáng, giúp rễ cây phát triển.
Trong một thìa đất canh tác có thể chứa hơn 3 tỷ vi khuẩn với vài trăm nghìn loài vi khuẩn, mỗi loại có một vai trò phân giải khác nhau. Vi khuẩn sống trong môi trường chủ yếu là chất khoáng, nước, không khí và vật liệu hữu cơ. Đất càng có nhiều chất hữu cơ thì số lượng và chủng loại vi khuẩn càng lớn, do đó cây càng có nhiều cơ hội tiếp nhận chất dinh dưỡng từ đất. Tuy nhiên, trong đất cũng tồn tại một số vi khuẩn có hại, nhưng trong đất giàu hữu cơ vi khuẩn có lợi sinh sôi này nở nhanh sẽ lấn át vi khuẩn có hại. Những điều kiện thuận lợi cho hệ vi sinh vật phát triển là đất giàu chất hữu cơ, đủ ẩm, thông thoáng và nhiệt độ thích hợp. Ngoài vi khuẩn thì vai trò của giun đất rất quan trọng trong việc nâng cao và duy trì độ phì đất canh tác. Giun đất trong quá trình sinh sống lấy chất hữu cơ từ đất, biến nó thành chất mùn thông qua quá trình tiêu hóa, để lại một lượng phân trộn trong đất, góp phần tăng độ phì đất. Như vậy đất càng có nhiều chất hữu cơ càng có nhiều giun hoạt động
Như vậy, việc quản lý đất rất quan trọng để tăng cường lượng chất dinh dưỡng trong đất canh tác cung cấp thường xuyên và đủ cho cây trồng, cơ hội nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và duy trì độ bền vững đất. Quản lý đất tốt làm tăng số lượng và sự đang dạng vi khuẩn. Nếu để đất dí dẽ, thiếu oxy (trong trườn hợp bón quá nhiều phân vô cơ kéo dài, không chú trọng đến bổ sung chất hữu cơ, tưới quá nhiều, không đúng cách nén khoảng không giữa các hạt đất sẽ làm giảm đáng kể lượng vi khuẩn trong đất.
Giải pháp nào cho việc quản lý đất canh tác và dinh dưỡng ?
- Bổ sung thêm chất hữu cơ thông qua phân bón hữu cơ là giải pháp tối ưu.
- Tận dụng tối đa quang hợp để có đường và tinh bột.
- Tận dụng tối đa khả năng của vi sinh vật trong đất để có chất kích thích sinh trưởng, chất tự bảo vệ và tổng hợp ni tơ tự nhiện thay cho phân đạm.
Mối quan hệ giữa việc bón phân và chất lượng dinh dưỡng như thế nào ?
Đất tốt là điều kiện đầu tiên để cây sinh trưởng. Đất luôn luôn bị cây lấy mất dinh dưỡng trong chu trình sống, do đó việc bổ sung dinh dưỡng thông qua bón phân rất quan trọng. Tuy nhiên, việc lựa chọn loại phân và thời kỳ bón có tính quyết định đến tăng trưởng và phát triển cây trồng. Như đã biết cây trồng cần 16 nguyên tố dinh dưỡng nhưng tuỳ từng loại cây trồng, tuỳ từng giai đoạn sinh trưởng mà yêu cầu các chất dinh dưỡng này khác nhau.
Phân bón hữu cơ là loại phân bón đáp ứng được yêu cầu trên, một trong giải pháp thuận tiện, rẻ, và dễ sử dụng nhất là dùng phân bón “Ước mơ nhà nông” để bổ sung dinh dưỡng cho cây trồng và đảm bảo độ bền vững đất, không tác động xấu đến môi trường.
Tại sao Ước mơ Nhà nông (AGRODREAM) lại được khuyến cáo sử dụng
để bổ sung dinh dưỡng cho tất cả các loại cây trồng ?
- Thứ nhất : Ước mơ Nhà nông (AGRODREAM) có nguồn gốc hữu cơ chứa tất cả các loại dinh dưỡng mà cây cần.
- Thứ hai : AGRODREAM ở dạng lỏng có thể phun lên toàn bộ cây (thân, lá, hoa, quả), tưới gốc hoặc chuyển sang dạng rắn để bón lót và thúc sớm (xem Hướng dẫn sử dụng)
- Thứ ba : Phân bón AGRODREAM giúp phát triển hệ vi sinh vật đất, tạo đất thông thoáng, tăng khả năng giữ ẩm, tăng tính chống chịu với điều kiện ngoại cảnh.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com