Chào các bạn! Truyen4U chính thức đã quay trở lại rồi đây!^^. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền Truyen4U.Com này nhé! Mãi yêu... ♥

tai lieu cua duc

Tác động của lãi suất cho vay tới hoạt động sản xuất kinh doanh

Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ bàn đến lãi suất cho vay và tác động của nó đến hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp (DN) và đề xuất một số giải pháp để xử lý vấn đề lãi suất một cách hợp lý, hiệu quả.

Thị trường tài chính thường phân biệt 3 loại lãi suất: (i) lãi suất chính sách, là lãi suất mà các Ngân hàng Trung ương có thể kiểm soát được trực tiếp, ví dụ như Fed fund rate ở Mỹ hay lãi suất cơ bản ở Việt Nam; (ii) lãi suất liên ngân hàng, là lãi suất các ngân hàng thương mại (NHTM) cho vay lẫn nhau, ví dụ LIBOR, TIBOR, VIBOR, (iii) lãi suất thương mại, là lãi suất các NHTM vay hoặc cho vay các đối tượng không phải là ngân hàng trong nền kinh tế, ví dụ lãi suất huy động, lãi suất cho vay. Về cơ bản 3 loại lãi suất này có liên hệ mật thiết với nhau và tuân thủ theo nguyên tắc: (i) < (ii) < (iii). Trong đó, lãi suất cho vay lại phải tuân thủ theo bất phương trình: L1 < L2 < L3 < L4 (với L1 là mức lạm phát, L2 là lãi suất huy động, L3 là lãi suất cho vay, L4 là tỷ suất lợi nhuận bình quân xã hội trong cùng kỳ hạn lãi suất. Trong một vài thời điểm, mối quan hệ trên có thể bị phá vỡ tạm thời, nhưng nếu nó bị phá vỡ trong 1 thời gian dài thì đó là dấu hiệu không tốt cho hệ thống ngân hàng và chắc chắn dòng vốn đang không được lưu thông một cách tự do và hiệu quả.

Lãi suất cho vay của NHTM và hoạt động của các DN

Trong quan hệ tín dụng giữa DN và Ngân hàng, lãi suất cho vay phản ánh giá cả của đồng vốn mà người sử dụng vốn là các DN phải trả cho người cho vay là các NHTM. Đối với các DN, lãi suất cho vay hình thành nên chi phí vốn và là chi phí đầu vào của quá trình SXKD. Do đó, mọi sự biến động về lãi suất cho vay trên thị trường cũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả SXKD hay nói cách khác là tác động trực tiếp đến lợi nhuận của DN và qua đó điều chỉnh các hành vi của họ các hoạt động kinh tế. Khi lãi suất cho vay của NHTM tăng sẽ đẩy chi phí đầu vào và giá thành sản phẩm tăng lên, làm suy giảm lợi nhuận cũng như khả năng cạnh tranh của DN, gây ra tình trạng thua lỗ, phá sản trong hoạt động SXKD. Xu hướng tăng lãi suất Ngân hàng sẽ luôn đi liền với xu hướng cắt giảm, thu hẹp quy mô và phạm vi của các hoạt động SXKD trong nền kinh tế. Ngược lại, khi lãi suất Ngân hàng giảm sẽ tạo điều kiện cho DN giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh. Lãi suất cho vay thấp luôn là động lực khuyến khích các DN mở rộng đầu tư, phát triển các hoạt động SXKD và qua đó kích thích tăng trưởng trong toàn bộ nền kinh tế.

Ở nước ta, do điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển, các kênh huy động vốn đối với DN còn rất hạn chế nên nguồn vốn từ các Ngân hàng luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng, do đó, lãi suất cho vay của các NHTM luôn có tác động rất lớn đến hoạt động của các DN. Trong năm 2008, dưới sức ép của tình trạng lạm phát tăng cao và tác động từ các giải pháp chống lạm phát của Chính phủ, mặt bằng lãi suất cho vay của các NHTM trên thị trường đã có những biến động bất thường và gây ra nhiều xáo trộn trong nền kinh tế, trong đó khu vực DN là nơi chịu nhiều ảnh hưởng nhất. Có lẽ mãi sau này người ta không thể quên được cảnh tượng "dòng người" xếp hàng để rút tiền từ nơi lãi suất thấp sang nơi lãi suất cao vì lãi suất tiền gửi được đẩy lên liên tục, cao nhất là 19-20%/năm. Theo đó lãi suất cho vay được đẩy lên đúng bằng lãi suất tối đa, 21%/năm. Những tác động tiêu cực của lãi suất đến các DN trong năm vừa qua có thể khái quát lại như sau:

- Do lãi suất cho vay tăng cao, hiệu quả SXKD của hầu hết các DN đã bị giảm sút, nhiều DN bị thua lỗ, khả năng trả nợ bị suy giảm.

- Lãi suất vay cao, cùng với nguồn cung tín dụng bị hạn chế đã dẫn đến tình trạng hầu hết các DN buộc phải cơ cấu lại hoạt động SXKD, cắt giảm việc đầu tư, thu hẹp quy mô và phạm vi hoạt động.

- Nhiều DN có quy mô nhỏ, vốn ít, không chịu đựng được mức lãi suất cao, không có khả năng huy động vốn để duy trì hoạt động SXKD đã phải ngừng hoạt động, giải thể và phá sản.

Bước sang năm 2009, bằng nhiều giải pháp của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, mặt bằng lãi suất đã liên tục được điều chỉnh giảm, nguồn cung tín dụng được nới lỏng, cùng với chính sách kích cầu thông qua hỗ trợ lãi suất vay vốn phục vụ SXKD cho các DN, hoạt động SXKD của các DN trong nền kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi trở lại, nhu cầu vay vốn của DN cũng như số tiền giải ngân cho nền kinh tế của các NHTM đã tăng trở lại. Điều đó cho thấy các tác động tích cực của lãi suất trong bối cảnh cả nước đang tập trung thực hiện các giải pháp kích cầu, chống suy giảm kinh tế, đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đang diễn ra lan rộng.

Giải pháp xử lý vấn đề lãi suất

Trên cơ sở phân tích, đánh giá những tác động của lãi suất cho vay đối với hoạt động của DN, từ đó có các giải pháp tối ưu nhằm khai thác các tác động tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực của lãi suất nhằm đạt được các mục tiêu trong hoạt động kinh doanh cũng những hoạt động điều tiết nền kinh tế luôn là yêu cầu đặt ra đối với cả các NHTM, các DN và các cơ quan quản lý vĩ mô.

Đứng trên giác độ của mỗi bên, các định hướng và giải pháp cụ thể khi xử lý vấn đề lãi suất cần phải thực hiện như sau:

Đối với các NHTM

Nguồn thu về lãi suất cho vay là nguồn thu nhập nuôi sống hoạt động của Ngân hàng và theo bản năng, Ngân hàng nào cũng muốn cho vay lãi suất cao. Tuy nhiên, xét về bản chất kinh tế thì lãi suất tiền vay có lại nguồn gốc từ lợi nhuận hoạt động của DN, do đó, các NHTM chỉ có thể "sống" được khi hoạt động SXKD của DN có hiệu quả và phát triển. Vì vậy, khi thực hiện chính sách lãi suất, các NHTM nên:

- Phân tích và đánh giá chính xác mức sinh lời của DN để từ đó xác định lãi suất cho vay hợp lý, đảm bảo đôi bên cùng có lợi.

- Nâng cao khả năng dự báo và thực hiện tốt vai trò tư vấn về lãi suất cho vay đối với khách hàng để giúp DN phòng ngừa và hạn chế rủi ro cho chính mình và cho cả Ngân hàng.

- Cung cấp các sản phẩm phái sinh làm công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất cho các DN.

- Thực hiện thường xuyên và kịp thời các chính sách ưu đãi, chia sẻ khó khăn về lãi suất với các khách hàng gặp khó khăn trong khả năng của mình, qua đó hỗ trợ khách hàng phát triển bền vững và gắn bó với Ngân hàng.

- Phát huy vai trò của Hiệp hội Ngân hàng trong việc thực hiện chính sách lãi suất ổn định, đồng nhất, để vừa đảm bảo lợi ích kinh doanh của Ngân hàng vừa tránh những xáo trộn về mặt bằng lãi suất gây ảnh hưởng đến nền kinh tế.

Đối với các DN

Lãi suất tiền vay là chi phí đầu vào nên để đảm bảo hoạt động kinh doanh có lãi và phát triển bền vững, DN cần phải:

- Tính toán và dự báo thật đầy đủ, chính xác về chi phí lãi vay khi xem xét, đánh giá hiệu quả và quyết định thực hiện đối với các phương án/dự án SXKD.

- Tích cực và chủ động thực hiện các công cụ phòng ngừa rủi ro về lãi suất thông qua việc khai thác, sử dụng các sản phẩm phái sinh để bảo hiểm các rủi ro do biến động lãi suất trên thị trường.

- Trích lập đầy đủ các quỹ dự phòng về tài chính trong hoạt động SXKD nhằm tạo nguồn lực dự phòng, giúp cho DN đứng vững trong các cú sốc về lãi suất.

- Sử dụng thận trọng và linh hoạt công cụ đòn bẩy tài chính trong hoạt động kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu gia tăng lợi nhuận trong điều kiện lãi suất thấp, đồng thời hạn chế rủi ro thua lỗ khi lãi suất biến động ngoài dự đoán.

- Thường xuyên tăng cường năng lực tự chủ về tài chính, đa dạng hóa các kênh huy động vốn, tránh việc phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn vay Ngân hàng.

Đối với các Cơ quan quản lý vĩ mô

Lãi suất là một công cụ điều tiết vĩ mô hết sức nhạy cảm, có tác động lớn đến nhiều đối tượng trong nền kinh tế, vì vậy, để đảm hiệu quả tối ưu khi sử dụng công cụ này thì các nhà làm chính sách cần:

- Có lộ trình, giải pháp khuyến khích phát triển đồng bộ các thị trường tài chính, đa dạng hóa các kênh huy động vốn trong nền kinh tế để nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng của DN, hạn chế tình trạng tín dụng đen, thị trường tài chính ngầm phát triển tự do không có kiểm soát.

- Điều hành chính sách lãi suất một cách linh hoạt, kịp thời, duy trì mặt bằng lãi suất ổn định, phù hợp cơ chế thị trường trên cơ sở xử lý tốt mối quan hệ về lợi ích của người gửi tiền, các Ngân hàng và người vay tiền.

- Hạn chế sử dụng các biện pháp hành chính trong điều hành lãi suất, làm biến dạng sự vận động của lãi suất để đảm bảo lãi suất trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, giúp cho các chủ thể tham gia thị trường có thể dự báo, đưa ra các giải pháp đối phó phù hợp.

- Tăng cường năng lực dự báo kinh tế và sớm đưa ra các giải pháp điều tiết mang tính đón đầu để tránh các cú sốc về lãi suất, gây tổn thương cho các chủ thể trong nền kinh tế.

- Trong bối cảnh suy giảm kinh tế hiện nay, cần thực hiện triệt để và kiên trì giải pháp hỗ trợ lãi suất, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi DN có thể tiếp cận được sự hỗ trợ của Chính phủ nhằm phát huy tốt nhất hiệu ứng từ gói kích cầu này đối với toàn bộ nền kinh tế.

TS. Đỗ Thị Thủy - VietinBank

8 yeu to khien lam phat quay lai

Từ tháng 7 tới đây sẽ có sự cộng hưởng của nhiều yếu tố trong và ngoài nước, góp phần làm cho lạm phát có nguy cơ trở lại. Những yếu tố đó là gì?

Thứ nhất là các khoản tiền tiết kiệm với lãi suất lên đến trên dưới 19%/năm đã đến kỳ đáo hạn, được người gửi rút ra.

Có thể một phần trong tổng số tiền này tiếp tục được gửi lại ngân hàng, nhưng chủ yếu là số tiền nhỏ; số tiền của những người có thói quen "tích cốc phòng cơ", tích cóp cho những công việc lớn hơn; không biết đầu tư, không dám đầu tư mạo hiểm; số tiền tạm thời nhàn rỗi; số tiền của các nhà đầu tư "tạm trú" ở kênh tiết kiệm để nhảy vào các kênh đầu tư có tỷ suất lợi nhuận cao hơn...

Lãi suất tiết kiệm hiện nay đang thực dương vì nó cao hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng, nhưng vẫn không đủ hấp dẫn các nhà đầu tư.

Thứ hai là lượng tiền trong lưu thông tăng lên từ sự nới lỏng chính sách tiền tệ, tài khóa từ cuối năm trước đến nay và việc đưa ra các gói kích cầu đầu tư tiêu dùng.

Tính đến nay, đã có bốn quyết định của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ lãi suất (131, 443, 497, 579), trong đó gói kích cầu đầu tiên với lượng "vốn mồi" 17.000 tỉ đồng, đến nay lượng vốn đã giải ngân là 291.886 tỉ đồng (tính đến 14-5).

Tăng trưởng dư nợ tín dụng, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán mới qua bốn tháng đã lên đến trên 11%; dự kiến cả năm lên đến trên dưới 25%, cao gấp khoảng 5 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế - một con số khá cao so với các nước trong khu vực (thường trên dưới 2,3 lần).

Tổng giá trị các gói kích cầu lên đến 143.000 tỉ đồng, tương đương với 8 tỉ đô la Mỹ. Tỷ lệ giá trị kích cầu so với GDP gần 10% (Mỹ 4,8%, Trung Quốc 4,4%, Đức 3,4%, Nhật Bản 2,2%, Pháp 1,3%...).

Thứ ba là việc tăng lương tối thiểu từ đầu tháng 5 đối với công chức, viên chức, tăng trợ cấp cho người nghỉ hưu và các đối tượng hưởng từ nguồn ngân sách sẽ làm tăng sức mua có khả năng thanh toán của một bộ phận dân cư.

Thứ tư là việc tiếp tục thực hiện lộ trình giá thị trường đối với một số hàng hóa, dịch vụ, trong đó có giá điện, giá xăng dầu, giá nước sạch... cũng sẽ làm cho mặt bằng giá tiêu dùng tăng lên. Điều quan trọng là hệ thống phân phối, công tác quản lý thị trường giá cả còn những hạn chế bất cập, nên tình trạng "té nước theo giá", "tát nước theo lương" thường diễn ra làm cho mặt bằng giá bị đẩy lên.

Thứ năm là người tiêu dùng đã bắt đầu chi tiêu cao hơn, thể hiện ở chỗ tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sau khi loại trừ yếu tố tăng giá đã tăng cao hơn những tháng trước và quan trọng là cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế (tháng một tăng 4%, hai tháng tăng 5%, ba tháng tăng 6,6%, bốn tháng tăng 7,4%).

Thứ sáu là lượng hàng hóa nhập siêu giảm mạnh so với năm trước. Bốn tháng đầu năm nay Việt Nam xuất siêu 801 triệu đô la Mỹ, trong khi cùng kỳ năm trước nhập siêu 11,57 tỉ đô la.

Theo dự báo từ cuối quí 1 của Tổng cục Thống kê, mức nhập siêu cả năm khoảng 7 tỉ đô la, theo dự báo mới đây của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương chiếm 8,7% GDP, suy ra cũng chỉ ở mức một chữ số - tức là chỉ vào khoảng trên dưới một nửa so với năm trước).

Thứ bảy là giá hàng hóa nhập khẩu tăng có xu hướng tăng trở lại theo giá thế giới, cùng với sự tiềm ẩn lạm phát khi các gói kích thích kinh tế khổng lồ của các nước đưa ra từ cuối năm ngoái đến nay. Các loại hàng hóa đang có xu hướng tăng là xăng dầu, sắt thép, lúa mì, bông sợi...

Mặt khác, do tỷ giá đồng Việt Nam/đô la Mỹ năm nay cao hơn năm trước (sau bốn tháng, tỷ giá đồng Việt Nam/đô la Mỹ tăng 3,88%, nếu tính sau một năm, tức là bình quân bốn tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước, tăng tới 9,95%, trong khi cùng kỳ năm trước các con số tương ứng là giảm 0,7% và giảm 0,54%). Điều đó có nghĩa là giá hàng nhập khẩu đang có xu hướng tăng "kép".

Thứ tám là nhu cầu sản xuất và tiêu dùng có thể tăng lên khi nền kinh tế đã có dấu hiệu thoát "đáy" từ quí 2 và đi lên vào quí 3 và 4.

Từng yếu tố trên sẽ tác động đến tái lạm phát và khi nó cộng hưởng nhau trong khoảng thời gian nhất định, thường là vào dịp cuối năm, thì nguy cơ tái lạm phát là không thể coi thường. Đây cũng là điều cảnh báo đối với các nhà hoạch định chính sách vĩ mô về những liều lượng, thời gian thực hiện của các giải pháp từ nay đến cuối năm.

Tinh hinh kinh te 4 thang dau nam 2009

Tình hình kinh tế quý 1

Tăng trưởng GDP trong quý 1 đứng ở mức 3,1%, tiếp tục giảm. Tăng trưởng sản lượng công nghiệp giảm mạnh xuống còn 1,5% trong khi tăng tăng trưởng xây dựng hồi phục. Tăng trưởng trong ngành dịch vụ ở mức khiêm tốn.

Phát triển nhu cầu nội địa diễn biến trái chiều. Doanh số bán lẻ trong tháng 3 tăng 23,7% so với một năm trước nhưng tăng trưởng tiêu dùng thực tế vẫn không đổi. Tuy nhiên, sản lượng công nghiệp có vẻ đã chạm đáy.

Cán cân thương mại vẫn ổn định đáng ngạc nhiên. Xuất khẩu trong tháng 4 tăng khiêm tốn với 1,4% nhờ xuất khẩu đá quý và kim loại quý, đẩy nhanh xu hướng của khu vực. Nhập khẩu trong tháng 4 vẫn giảm mạnh với mức giảm 27,7% do mức độ nhập xăng dầu và thép vẫn còn yếu.

Áp lực lạm phát giảm, giá tiêu dùng trong tháng 4 tăng 9,2%, lần đầu tiên ở mức một con số kể từ 10/2007.

Để kích cầu, chính phủ đã giảm thuế VAT với những mặt hàng như quần áo, đồ may mặc và dệt, trong khi các nhà sản xuất những mặt hàng tương tự cũng được giảm 30% thuế thu nhập. Thuế trước bạ dành cho ô tô cũng sẽ được giảm một nửa.

Thị trường chứng khoán biến động lớn. Sau khi tăng gần 25% trong nửa đầu tháng, hơn một nửa mức tăng đã biến mất. Nhà đầu tư ngoại vẫn mua ròng 3 trong số 4 tuần cuối cùng.

Báo cáo của ANZ nhận định, thời điểm xấu nhất của kinh tế Việt Nam có thể đã ở lại sau lưng do kế hoạch kích cầu của chính phủ sẽ kích thích đầu tư tăng trưởng, và giảm thiểu rủi ro.

Chính sách trên thị trường tiền tệ

ANZ dự đoán, các cơ quan chức năng có thể thực hiện chính sách đồng VND yếu hơn, như một cách giải quyết tình trạng mất cân đối cung cầu đồng USD trên thị trường trong nước. Mặc dù cán cân thương mại đánh dấu mức thặng dư ít ỏi trong quý 1/2009, nhà chức trách có thể vẫn muốn bảo toàn lượng dự trữ ngoại hối.

Trong tháng 4, cam kết FDI mới giảm 87% so với một năm trước xuống còn 342 triệu USD. Trong khi đó, nhu cầu USD tăng khiến giá USD trên thị trường tự do tăng trên 18.250 đồng, lớn hơn nhiều so với tỷ giá chính thức 17.780 đồng.

Nhu cầu USD tăng từ phía các nhà nhập khẩu (tận dụng thời cơ mua vào khi giá thấp) và giới giao dịch vàng. Các nhà nhập khẩu đã tìm đến thị trường tự do vì ngân hàng không có đủ USD bán ra, còn các nhà xuất khẩu vẫn thích giữ USD trong tài khoản.

Vấn đề càng nghiêm trọng hơn khi những người bán USD trên thị trường liên ngân hàng bắt đầu do dự bán ra vì mức chênh lệch lớn giữa thị trường tự do và thị trường chính thức để chờ Ngân hàng Nhà nước can thiệp hoặc cho phép VND giảm sâu hơn nữa.

Cho tới lúc này, Ngân hàng Nhà nước vẫn phủ nhận thiếu hụt USD. ANZ dự đoán VND sẽ được can thiệp để giảm giá trong thời gian sắp tới, tỷ giá USD/VND vào cuối năm nay có thể tăng lên 18.800 đồng.

Áp lực lãi suất

Trong tháng 4, Ngân hàng Nhà nước đã giảm lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu xuống còn lần lượt ở mức 7% và 5%. Lãi suất cơ bản cũng được giữ nguyên ở mức 7%. Tuy nhiên, áp lực với lãi suất trái phiếu lại tăng.

Đấu thầu trái phiếu chính phủ trong tháng 4 tiếp tục không thành công khi những người mua yêu cầu mức lãi suất cao hơn gần 200 điểm điểm cơ bản so với mức chính phủ đưa ra 7,6% đối với trái phiếu kỳ hạn 2 năm.

Chương trình hỗ trợ lãi suất của chính phủ cũng tạo áp lực lãi suất khi các ngân hàng trong nước phải tăng lãi suất tiền gửi VND để thu hút thêm vốn, đáp ứng nhu cầu cho vay. Tính đến ngày 10/4, các ngân hàng đã cho vay 218 nghìn tỷ đồng (12,4 tỷ USD) so với mục tiêu cho vay 420 nghìn tỷ đồng trong năm 2009 của chính phủ.

Theo dự đoán của ANZ, Ngân hàng nhà nước sẽ hạ lãi suất cơ bản xuống 6% vào giữa năm nay và sẽ giữ nguyên cho đến tháng 9/2010 mới tăng lại 7%.

Những tác động của "kích cầu" đối với nền kinh tế nước ta

Chính phủ đã ban hành nhiều quyết sách nhằm thực hiện nhiệm vụ ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy giảm. Một trong những biện pháp đó là sử dụng các gói kích cầu. Biện pháp trên đã có những tác động tích cực đối với nền kinh tế đất nước.

"Liệu pháp kích cầu" về bản chất là việc Nhà nước chủ động tác động tích cực tới tổng cung và tổng cầu xã hội một cách thống nhất, có tổ chức và có chủ đích, theo hướng khuyến khích đầu tư và mở rộng quy mô tiêu dùng; kích hoạt và tăng động lực phát triển kinh tế trong bối cảnh có sự suy giảm các động lực phát triển kinh tế do các khó khăn về nguồn vốn và thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp, nhất là khu vực kinh tế tư nhân...

Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu năm 2009, sự xuất hiện các "gói kích cầu" này là phổ biến ở các quốc gia, các tổ chức khu vực và quốc tế như IMF, EU, ASEAN, với quy mô ngày càng tăng, từ hàng ngàn tỷ USD như ở Mỹ, hàng trăm tỷ USD như ở Nhật, Trung Quốc, Nga và các nước thành viên EU...

Ở Việt Nam, gói kích cầu thứ nhất trị giá 17. 000 tỷ đồng đã được Chính phủ quyết định thông qua và sớm được giải ngân nhanh chóng để hỗ trợ 4% lãi suất vay ngân hàng thương mại cho các khoản vay ngắn hạn dưới 1 năm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có vốn điều lệ dưới 10 tỷ đồng, sử dụng không quá 300 công nhân, không nợ đọng thuế và nợ tín dụng quá hạn ...

Tiếp đó, gói kích cầu thứ hai cũng đã được công bố với quy mô lớn hơn, thời hạn cho vay dài hơn (tới 2 năm), điều kiện nới lỏng hơn (doanh nghiệp và cả HTX có vốn dưới 20 tỷ đồng, sử dụng dưới 500 lao động, có thể nợ thuế và tín dụng quá hạn nhưng có dự án phù hợp vẫn được xét cho vay) và lĩnh vực cho vay cũng mở rộng hơn...

Tuy còn cần thời gian cũng như các số liệu cần thiết để tổng kết thực tế, phân tích khách quan hiệu quả của các gói kích cầu này, song trước mắt có thể cảm nhận được một số tác động của chúng .

Có thể nói, gói kích cầu trước hết có hiệu ứng tâm lý tích cực, làm tăng tức thời lòng tin của các doanh nghiệp, các ngân hàng và nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào trách nhiệm của Nhà nước trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp đang gặp khó khăn, cũng như tin vào triển vọng thị trường và môi trường đầu tư trong nước.

Gói kích cầu đã trực tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận được các nguồn vốn ngân hàng với chi phí rẻ hơn, từ đó giảm bớt chi phí kinh doanh, góp phần giảm giá thành sản phẩm, tăng cạnh tranh và tăng tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ trên thị trường; giúp các ngân hàng cải thiện hoạt động huy động vốn và cho vay tín dụng của mình, một mặt, không phải hạ thấp lãi suất huy động dễ gây giảm và biến động mạnh nguồn tiền gửi và huy động; mặt khác, mở rộng đầu ra nhờ không buộc phải nâng lãi suất cho vay dễ làm thu hẹp cầu tín dụng trên thị trường.

Sự ổn định và hoạt động lành mạnh của hệ thống ngân hàng trong khi gia tăng dòng tiền vào thị trường là điều kiện tiên quyết cho sự ổn định kinh tế vĩ mô và gia tăng các hoạt động đầu tư xã hội, mà bài học khủng hoảng tài chính ở Mỹ hiện đang là bài học đắt giá nóng hổi.

Hơn nữa, gói kích cầu còn trực tiếp góp phần gia tăng các hoạt động đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo nền tảng và động lực của sự phát triển xã hội cả hiện tại, cũng như tương lai.

Nhiều doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ kịp thời của gói kích cầu đã có thêm cơ hội giữ vững và mở rộng sản xuất, từ đó góp phần giảm bớt áp lực thất nghiệp và đảm bảo ổn định xã hội.

Những hoạt động xúc tiến đầu tư và thương mại quốc gia được tài trợ từ gói kích cầu nếu thực hiện có hiệu quả sẽ có tác động tích cực đến việc tăng dòng vốn chảy vào và mở rộng thị trường đầu ra cho doanh nghiệp và nền kinh tế, từ đó trực tiếp góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước...

Bên cạnh những tác động tích cực trên, sự lạm dụng và sử dụng không hiệu quả các gói kích cầu sẽ có thể gây ra một số hậu quả, chẳng hạn, khi các dự án vay đầu tư có chất lượng thấp hoặc triển khai kém, giải ngân không đúng mục đích, sẽ làm thất thoát, lãng phí các nguồn vốn vay, gia tăng gánh nặng nợ nần và các hiện tượng "đầu cơ nóng" gây hệ quả xấu cho cả Chính phủ, doanh nghiệp, ngân hàng và xã hội nói chung.

Sử dụng không hiệu quả các gói kích cầu sẽ làm tổn hại đến sức cạnh tranh của nền kinh tế nếu việc cho vay thiên về quy mô và thành tích (tức là góp phần níu kéo, duy trì cơ cấu kinh tế, cũng như cơ cấu sản phẩm và thị trường kinh doanh lạc hậu, kém hiệu quả) đồng thời, làm gia tăng hoặc kéo dài tình trạng bất bình đẳng thị trường giữa các loại hình doanh nghiệp, khu vực kinh tế và các địa phương nếu không tuân thủ tốt các nguyên tắc minh bạch và bình đẳng trong triển khai các gói kích cầu.

Đặc biệt, về trung hạn, nếu kéo dài quá lâu "liệu pháp kích cầu" và sử dụng không hiệu quả gói kích cầu có thể khiến gia tăng tích tụ về mất cân đối hàng - tiền và vi phạm nghiêm trọng quy luật lưu thông tiền tệ.

Tóm lại, về tổng thể và cơ bản, "liệu pháp kích cầu" có nhiều tác động tích cực hơn tiêu cực, đặc biệt các gói kích cầu có ý nghĩa lịch sử nhất định trong quá trình phát triển và quản lý kinh tế-xã hội đất nước, nhất là trong các tình huống khẩn cấp và đặc biệt ...

Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế đòi hỏi sự cẩn trọng và tỉnh táo, tránh lạm dụng, kéo dài, cũng như cần tăng cường công tác thông tin, thanh kiểm tra và kết hợp các giải pháp đồng bộ khác nhằm phát huy các tác động tích cực, trung hoà và phòng ngừa các tác động tiêu cực, góp phần ổn định và phát triển kinh tế vĩ mô và vi mô theo hướng bền vững.

Đặc trưng của những công cụ được dùng chủ yếu trong liệu pháp kích cầu ở các nền kinh tế thị trường thường là:

- Áp dụng nới lỏng ở các mức độ khác nhau cả chính sách tài chính lẫn tiền tệ và tín dụng, như miễn, giảm, hoàn thuế, khoanh nợ, giãn nợ, nới lỏng các điều kiện tín dụng, giảm lãi suất và tăng quy mô dư nợ tín dụng ngân hàng cho các hoạt động kinh doanh và tiêu dùng, tăng lương, tăng phát hành tiền và trái phiếu nợ Chính phủ, gia tăng quy mô và phạm vi các hoạt động chi tiêu công và đầu tư Nhà nước...;

- Gia tăng mức độ tự do hoá trong kinh doanh, giảm bớt và thu hẹp lĩnh vực độc quyền Nhà nước, mở rộng tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài và tư nhân trong các doanh nghiệp cổ phần có vốn Nhà nước; khuyến khích các hoạt động mua lại, sáp nhập và tái cấu trúc cơ cấu kinh tế vĩ mô và vi mô...;

- Giảm bớt rào cản các thủ tục hành chính cho hoạt động kinh doanh và tiêu dùng; khuyến khích giảm giá, đồng thời có thể có sự gia tăng các hình thức bảo bộ phi thuế quan đi đôi với kiểm soát an toàn vĩ mô đối với thị trường nội địa...

Giữ vai trò chủ lực trong "liệu pháp kích cầu" thường là các "gói kích cầu"- tức quỹ tài chính của Chính phủ, trực tiếp chi cho các hoạt động kích cầu đầu tư và tiêu dùng, chống suy giảm, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội theo kế hoạch được các cấp có thẩm quyền quyết định.

Các Ngân hàng trung ương cần phải làm gì

Trung tuần tháng 5 vừa qua, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản Masaaki Shirakawa đã đến thăm Sở giao dịch chứng khoán London. Tại đây, ông đã đọc một bài diễn văn quan trọng liên quan đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, trong đó ông đã nêu bật các nhiệm vụ của NHTW các nước nhằm góp phần đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính này.

Thống đốc Masaaki Shirakawa đã đặt ra câu hỏi tại sao nền kinh tế toàn cầu lại suy sụp nhanh chóng như vậy kể từ mùa thu năm ngoái, và ông cho rằng nguyên nhân trước tiên và quan trọng nhất là các khoản vay vượt quá giới hạn cho phép đã tích tụ quá nhiều trong thời kỳ tăng trưởng cao vào đầu thập kỷ này. Bong bóng tín dụng xuất hiện tại một số khu vực của thế giới và bắt đầu lan rộng một cách nhanh chóng khi cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra. Trong quá trình này, cái thòng lọng thông tin phản hồi bất lợi giữa hoạt động kinh tế và tài chính đã gây ra những hậu quả khôn lường. Thứ hai, tình trạng này càng trở nên trầm trọng do sự xói mòn nhanh chóng lòng tin vào thị trường tài chính xuất phát từ sự đổ vỡ của tập đoàn Lehman Brothers. Do đó, nó hạn chế chu chuyển vốn từ hệ thống tài chính tới nền kinh tế sản xuất, và đồng thời cắt giảm đáng kể chu chuyển vốn tới các nước có nền kinh tế mới nổi.

Ông lên tiếng phê phán mạnh mẽ tại sao thế giới không rút ra được những bài học từ các cuộc khủng hoảng trong quá khứ bất chấp một thực tế là các cuộc khủng hoảng đã lặp đi lặp lại nhiều lần. Và ông đã tự đưa ra câu trả lời rằng thứ nhất trí nhớ của con người đã phai mời đi một cách nhanh chóng và hy vọng điều này sẽ không tái diễn trong tương lai. Thứ hai là vì người ta biết đến tình trạng bong bóng nổ tung và các cú sốc của cuộc khủng hoảng xảy ra tại một nước khác hoặc có thể chỉ đọc thấy nó trong các bản tin hoặc qua sách vở. Do vậy khó có thể rút ra được những bài học của cuộc khủng hoảng để thực hiện những biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn chúng, một khi người ta chưa thực sự nếm trải cuộc khủng hoảng đó. Đã có nhiều sách báo viết về cuộc khủng hoảng tại Nhật Bản trước đây, nhưng việc người ta có rút ra được bài học từ cuộc khủng hoảng này hay không lại là một vấn đề khác. Thứ ba là các cuộc khủng hoảng không bao giờ giống nhau, và mỗi cuộc khủng hoảng lại có đặc điểm riêng của nó. Cuộc khủng hoảng của Nhật Bản và cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay có những điểm chung, nhưng cũng lại có những nét riêng biệt. Đối với trường hợp của Nhật Bản, các khoản vay khó đòi hầu hết là các khoản vay bất động sản thương mại của các ngân hàng cấp ra và cuộc khủng hoảng chủ yếu tập trung vào ngành ngân hàng quốc nội. Mặt khác, cuộc khủng hoảng hiện nay mang bản chất toàn cầu và diễn ra ở cả thị trường ngân hàng lẫn thị trường vốn, làm cho cuộc khủng hoảng này càng thêm phức tạp. Ngoài ra, trước khi cuộc khủng hoảng xảy ra, quan điểm bao trùm của các nhà hoạch định chính sách và các học giả cho rằng ngay cả khi tình trạng bong bóng sắp nổ tung, thì việc nới lỏng tiền tệ một cách mạnh mẽ ngay sau đó có thể ngăn chặn tình trạng xấu đi nhanh chóng của hoạt động kinh tế và đó là một quan điểm hết sức ấu trĩ.

Ông đã đưa ra lời khuyên rằng các nhà hoạch định chính sách, các đối tượng trong khu vực tư nhân và các học giả cần phải hết sức khiêm tốn học hỏi. Đừng bao giờ cho rằng chúng ta biết hết tất cả tính chất đa dạng và mối quan hệ tương hỗ giữa hai hệ thống tài chính và kinh tế.

Trên cơ sở những phân tích khoa học và xuất phát từ thực tế của nước ông lẫn các nước khác mà ông từng biết, Thống đốc NHTW Nhật Bản đã nêu lên những gợi ý về vai trò hữu quan mà NHTW các nước cần phải thể hiện trong việc ngăn chặn khủng hoảng tài chính. NHTW là cơ quan cung ứng duy nhất nguồn thanh khoản không hạn chế và có trách nhiệm duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế và tài chính.

Cho dù các chi tiết cụ thể có thể khác nhau ở mỗi NHTW, nhưng theo cách hiểu truyền thống thì một NHTW đều có các vai trò như: thực thi chính sách tiền tệ nhằm mục đích duy trì ổn định giá cả, đóng vai trò là người cho vay cuối cùng, vận hành và giám sát hệ thống thanh toán, và trong một số trường hợp thực hiện chức năng thanh tra các ngân hàng thương mại. Sau đây là vai trò của một ngân hàng trung ương nhìn từ 4 góc độ hơi khác nhau:

NHTW đóng vài trò là cơ quan cung cấp phân tích toàn bộ hệ thống.

Trước hết, ngân hàng trung ương là cơ quan cung cấp phân tích toàn bộ hệ thống. Để xây dựng một tầm nhìn trên cơ sở phân tích toàn hệ thống, kiến thức tại chỗ cũng như năng lực cán bộ của NHTW để tham gia vào các cuộc đối thoại với ban giám đốc của các định chế tài chính là vô cùng quan trọng. NHTW Nhật Bản bắt đầu tiến hành các hoạt động thanh tra tại chỗ vào năm 1928. Công tác thanh tra này được xây dựng trên cơ sở những kinh nghiệm của cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra trong những năm cuối của thập kỷ 20. Cơ sở pháp lý cho việc tiến hành thanh tra tại chỗ được quy định rất rõ ràng khi bộ luật Ngân hàng Trung ương Nhật Bản được chỉnh sửa hoàn tất vào năm 1998. Trên thực tế, công tác thanh tra tại chỗ theo định kỳ được bổ sung bằng việc thanh tra từ xa, kể cả việc kiểm tra thanh khoản hàng ngày, tạo điều kiện cho NHTW Nhật Bản có thê liên tục đánh giá rủi ro cho toàn hệ thống. Cho dù có cơ quan nào đó chịu trách nhiệm tối thượng đối với chính sách an toàn vĩ mô, thì NHTW đương nhiên vẫn có vai trò nhất định do các chức năng đặc biệt của mình. NHTW đã tích lũy được kỹ năng và kinh nghiệm trong công tác phân tích kinh tế vĩ mô và duy trì một nền văn hóa thể chế thâm căn cố đế nhấn mạnh tới tầm quan trọng của công tác nghiên cứu. NHTW cũng tiếp cận với nguồn thông tin thông qua mối quan hệ của mình với các đối tác trên thị trường và đã tích lũy được kinh nghiệm về các hệ thống thanh toán trong quá trình hoạt động của mình. Tất cả những nhân tố này tạo ra một cơ sở vững chắc cho việc phân tích toàn bộ hệ thống một cách có hiệu quả.

Ngân hàng trung ương đóng vai trò là "người thợ lắp đặt ống nước".

Thứ hai, NHTW đóng vai trò là "người thợ lắp đặt ống nước." Khi nghĩ về chức năng của NHTW, người ta thường tập trung vào chính sách tiền tệ, mà trong những năm gần đây nó chỉ được định nghĩa bó hẹp như là điều chỉnh lãi suất ngắn hạn. Tuy nhiên, như các NHTW đã nhấn mạnh trong những năm gần đây, để thực thi chính sách tiền tệ một cách hiệu quả và duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính, thì việc "lắp đặt ống nước" đủ độ tin cậy trong đó có cả hệ thống thanh toán vững chắc là điều cần thiết. Thị trường cần có một một cơ sở hạ tầng để cho thanh khoản tuôn chảy một cách suôn sẻ và hiệu quả đến với các sản phẩm, các đối tượng của thị trường, các múi giờ và các khu vực. Cuộc khủng hoảng hiện nay một lần nữa nhấn mạnh đến tầm quan trọng của thanh khoản. Đương nhiên, các NHTW cần cung cấp thanh khoản với vai trò là người cho vay cuối cùng. Nhưng không phải chỉ dừng lại ở đó. Vai trò của NHTW là "người thợ lắp đặt ống nước" là điều không thể thiếu được, mặc dù nó không được thừa nhận vào những thời điểm bình thường. Chẳng hạn như, thị trường hoán đổi tiền tệ chỉ được các ngân hàng sử dụng để tiếp cận các nguồn ngoại tệ như đô la Mỹ. Mặc dù ít được đưa lên báo chí, nhưng sự hiện diện của hoạt động thanh toán kết nối liên tục (CLS) đã hạn chế tới mức tối đa của cái gọi là rủi ro Herstatt phát sinh ra khi thực hiện giao dịch ngoại hối giữa các khu vực khác nhau trong cuộc khủng hoảng này. Đây là nhân tố rủi ro vô cùng quan trọng cho một nước như Nhật Bản là nơi thị trường mở cửa đầu tiên hàng ngày trên toàn cầu. Không có hệ thống này, hoạt động bị gián đoạn trên các thị trường tài chính trong thời gian khủng hoảng càng trở nên trầm trọng hơn. Các NHTW lớn đóng một vai trò lặng lẽ nhưng lại là chủ chốt trong viêc thiết lập hệ thống CLS. Tại các khu vực khác, việc tạo điều kiện sử dụng có hiệu quả tài sản của NHTW như là tài sản thế chấp của NHTW sẽ đảm bảo được rằng thanh khoản được cung ứng đầy đủ cho các đối tượng của thị trường. Thiết lập được cơ sở hạ tầng đó lại càng trở nên quan trọng hơn trong những tình huống khó khăn. Các hoạt động kinh doanh ngoại tệ, đặc biệt là đô la Mỹ, của các NHTW ngoài nước Mỹ cũng là cách để đảm bảo rằng thanh khoản sẽ tuôn chảy đến nơi cần thiết khi mà thị trường bị tê liệt.

Các Ngân hàng trung ương trở thành một mạng lưới toàn cầu

Thứ ba, các NHTW trở thành một bộ phận của một mạng lưới toàn cầu được kết nối chặt chẽ. Mặc dù không cần phải nói rằng sẽ không có một đồng tiền duy nhất nào. Nhưng các thị trường tài chính đã được toàn cầu hoá. Nhà kinh tế người Anh John Hicks từng được giải thưởng Nobel đã đưa ra lời tiên đoán 40 năm trước đây là trong một thị trường tài chính toàn cầu hoá "một NHTW của quốc gia sẽ không còn thực sự là một NHTW nữa," nhưng sẽ trở thành " các ngân hàng đặc trưng trong một hệ thống toàn thế giới." Đương nhiên, mỗi một NHTW cần phải hoàn thành vai trò truyền thống của mình trong quyền hạn của ngân hàng đó. Nhưng trong một hệ thống tài chính toàn cầu hoá này, sự hợp tác của NHTW lại càng thêm quan trọng, chẳng hạn như trao đổi thông tin và hài hoà hoá các dịch vụ của NHTW.

Các Ngân hàng trung ương là một thực thể hướng tới mối quan tâm dài hạn.

Thứ tư, các điều kiện của thị trường kinh tế và tài chính liên tục phát triển và chúng ta cần phải tiên liệu trước được tất cả những diễn biến và từ đó để xác định trước những quy định chi tiết. Các NHTW sẵn sàng sửa đổi những hạn chế của các quy định đó. Những kinh nghiệm gần đây trong chính sách tiền tệ là một ví dụ điển hình. Tất cả các NHTW đều có mục tiêu lâu dài là duy trì ổn định giá cả làm tiền đề cho tăng trưởng kinh tế bền vững. Vấn đề mấu chốt là làm sao xác định được các biện pháp để duy trì ổn định giá cả. Hầu hết các NHTW đều diễn đạt sự ổn định giá cả bằng con số theo cách họ hiểu, định nghĩa hoặc đề ra mục tiêu. Sự diễn đạt bằng con số này đóng một vai trò quan trọng, vì các NHTW độc lập đều phải có trách nhiệm thực thi chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, ở mức độ mà một con số cụ thể làm cho xã hội đưa ra giả định cho rằng một NHTW chỉ tập trung chủ yếu vào lạm phát giá cả không thôi, nhất là trong ngắn hạn, nó có thể gây ra hậu quả không chủ ý là góp phần tạo ra tình trạng bong bóng khi lạm phát thấp song hành với tình trạng bùng nổ quá mức trong hoạt động kinh tế và tài chính. Nếu đúng như vậy thì nó sẽ là rào cản đối với mục tiêu dài hơi hơn của NHTW nhằm duy trì giá cả ổn định và một hệ thống tài chính ổn định.

Một vấn đề cơ bản phát sinh khi tình trạng bong bóng tín dụng xuất hiện trong một môi trường ổn định giá cả chung. Liệu các NHTW có thắt chặt chính sách tiền tệ hay không khi mà giá cả nói chung là ổn định ? Bởi vì điều quan trọng đối với ban lãnh đạo của các định chế tài chính là không nên theo đuổi chủ nghĩa ngắn hạn được minh hoạ bằng các mục tiêu ngắn hạn của tỷ lệ sinh lời trên vốn, mà các ngân hàng trung ương nên chú trọng tới sự ổn định tài chính và giá cả dài hạn. Không cần phải nói thì ai cũng biết ổn định giá cả là điều thiết yếu. Nhưng nếu các NHTW nhìn vào nền kinh tế chỉ qua lăng kính của sự ổn định giá cả được diễn giải một cách hạn hẹp, thì có lúc họ lại coi nhẹ những mất cân đối còn quan trọng hơn nhiều. Ông Milton Friedman diễn giải trong diễn văn nổi tiếng đọc tại Hiệp hội kinh tế Mỹ vào năm 1968 cho rằng vai trò của chính sách tiền tệ có hai chức năng là duy trì sự hoạt động suôn sẻ của các thị trường và hệ thống tài chính, và ổn định giá cả. Nếu tách bạch hai mục tiêu này của NHTW thì có hợp lý không và do đó cần phải sử dụng 2 nhóm công cụ tách biệt để đạt được các mục tiêu đó. Nói một cách đơn giản là liệu chúng ta có nên sử dụng chính sách lãi suất để duy trì ổn định giá cả và sử dụng các công cụ an toàn vĩ mô tách biệt để duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính hay không ? Thực ra, 2 mục tiêu này của các ngân hàng trung ương có mối liên hệ mật thiết với nhau. Không thể đạt được mục tiêu này trong khi mục tiêu kia lại mang tính chất dài hạn. Vì vậy nếu tách bạch 2 nhóm công cụ này sẽ là điều không thực tế. Các NHTW cần một bộ công cụ tổng thể to lớn để đạt được 2 mục tiêu dài hạn không thể tách rời nhau. Đó là nhiệm vụ vô vùng quan trọng đối với ngân hàng trung ương hoạt động với tầm nhìn dài hạn.

Thống đốc Masaaki Shirakawa kết luận : Các cuộc thảo luận hiện đang diễn ra trên diễn đàn quốc tế nhằm xây dựng một cơ cấu tài chính mới và các quy định mới để ngăn chặn các cuộc khủng hoảng trong tương lai. Tuy nhiên, các cơ cấu và các quy định mới bản thân nó cũng là không đủ. Không nghi ngờ gì nữa thông qua những bước tiến trong công nghệ và phát minh, các sản phẩm tài chính, các định chế tài chính và các thị trường tài chính sẽ phát triển một cách nhanh chóng. Các quy định, đặc biệt là các quy định mang tính toàn cầu, đòi hỏi phải được thử nghiệm một cách thận trọng trước khi đem ra áp dụng. Sử dụng sự đánh giá của các chuyên gia để áp dụng các quy định hiện nay vào một môi trường mới luôn luôn là điều quan trọng. Không có một loạt quy định nào có thể điều khiển sự đối phó lý tưởng giữa các nền kinh tế, đặc biệt trong việc đối phó với các sự kiện trong tương lai mà không thể tiên liệu trước được. Các NHTW thông qua các kỹ năng và kinh nghiệm của mình trong chính sách kinh tế vĩ mô cũng như địa vị độc nhất vô nhị trong các thị trường tài chính có thể hướng các cuộc thảo luận chính sách vào trong các lĩnh vực như chính sách an toàn vĩ mô.

Các NHTW bằng các quan điểm vĩ mô hướng tới cả nền kinh tế sản xuất lẫn hệ thống tài chính, với kỹ năng là "người thợ lắp đặt ống nước" của hệ thống thanh toán và các thông tin tình báo thị trường thu thập được thông qua mối quan hệ với các đối tác trên thị trường có thể và phải đóng vai trò chủ chốt trong việc ngăn chặn các cuộc khủng hoảng trong tương lai. Điều này cũng nói lên trách nhiệm to lớn của các NHTW và chúng ta phải cùng nhau hợp tác chặt chẽ để sẵn sàng hoàn thành vai trò đó cùng với các cơ quan thẩm quyền khác. Sự hợp tác chặt chẽ với các định chế tài chính và các đối tượng khác trên thị trường cũng là điều vô cùng quan trọng.

Nhật Bản và NHTW Nhật Bản có mối quan hệ khăng khít với thành phố London kể từ khi Nhật Bản bước vào kỷ nguyên hiện đại. Nhật bản phát hành trái phiếu chính phủ đầu tiên tại London vào năm 1870, chỉ 2 năm sau khi Chính phủ của Thủ tướng Meiji được thành lập. Đợt phát hành trái phiếu đó nhằm xây dựng tuyến đường sắt đầu tiên nối Tokyo với Yokohama. NHTW Nhật Bản được thành lập năm 1882 và văn phòng đầu tiên tại nước ngoài của NHTW Nhật Bản được mở tại London vào năm 1904. Nhiều cán bộ của NHTW Nhật Bản đã được gửi sang đào tạo tại London và có 2 trong số lưu học sinh này đã trở thành Thống đốc NHTW Nhật Bản.

Tháng 3.2009: Thị trường tiền tệ ổn định, đầu tư cho nền kinh tế tăng

Nhìn chung, trong tháng 3/2009, mặt bằng lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng có xu hướng giảm. Tỷ giá niêm yết mua bán USD/VND của các ngân hàng thương mại (NHTM) tương đối ổn định. Riêng tỷ giá liên ngân hàng giảm 0,1% so với cuối tháng 2/2009.

Cụ thể, lãi suất cho vay bằng VND của các TCTD đối với khách hàng áp dụng phổ biến ở mức 8-10%/năm; lãi suất cho vay đối với các khoản cho vay được hỗ trợ lãi suất chỉ còn ở mức 4,5-6%/năm. Riêng lãi suất cho vay phục vụ nhu cầu đời sống và cho vay thông qua thẻ tín dụng ở mức 12-15%/năm.

Tương tự, lãi suất cho vay bằng USD cũng giảm từ 0,2-0,5%/năm và đang phổ biến ở mức 6-8%/năm.

Tính đến hết ngày 31/3, lãi suất giao dịch bình quân bằng VND trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng có xu hướng giảm ở hầu hết các kỳ hạn, đặc biệt là các kỳ hạn ngắn (qua đêm, 1 tuần và 2 tuần); ngoại trừ lãi suất bình quân kỳ hạn 1 tháng không đổi và lãi suất bình quân kỳ hạn 3 tháng tăng nhẹ. Mức biến động lớn nhất là 0,26%/năm (kỳ hạn 3 tháng).

Lãi suất bình quân qua đêm là 6,34%/năm, lãi suất các kỳ hạn còn lại dao động trong khoảng 6,5-8,5%/năm.

Trong khi đó, lãi suất giao dịch bình quân bằng USD có xu hướng tăng ở hầu hết các kỳ hạn. Lãi suất giao dịch bình quân bằng USD cao nhất là 2,33%/năm (kỳ hạn 6 tháng), lãi suất các kỳ hạn còn lại dao động trong khoảng từ 0,5-2,3%/năm.

Tỷ giá ổn định

Tháng 3, tỷ giá niêm yết mua bán USD/VND của các NHTM tương đối ổn định, tỷ giá liên ngân hàng ngày 24/3/2009 tăng 0,05% so với cuối tháng 2/2009.

Kể từ thời điểm NHNN điều chỉnh biên độ tỷ giá lên mức +/-5% (ngày 24/3/2009), tính đến ngày 31/3, tỷ giá niêm yết mua bán USD/VND của NHTM có xu hướng tăng, ở mức 17.720-17.802 đồng/USD. Mặc dù tỷ giá niêm yết mua bán ở các NHTM tăng nhưng tỷ giá liên ngân hàng giảm 0,1% so với cuối tháng 2/2009, giảm 0,14% so với thời điểm trước khi điều chỉnh biên độ tỷ giá.

Cuối tháng 3 cho đến những ngày đầu tháng 4/2009, các NHTM lại có xu hướng để tỷ giá niêm yết bán USD/VND ở mức sát trần. Tỷ giá niêm yết bán USD/VND của các NHTM phổ biến quanh mức 17.790 - 17.811 đồng/USD. Tuy nhiên, tỷ giá niêm yết mua USD/VDN vẫn ở mức thấp, phổ biến quanh mức 17.620 - 17.720 đồng/USD.

Tỷ giá EUR/VND hiện vẫn biến động theo diễn biến của đồng EUR trên thị trường quốc tế. Ngày 31/3, tỷ giá EUR/VND trên thị trường chính thức ở mức 23.256-23.740 đồng/EUR, tăng 4,59% so với cuối tháng trước.

Đầu tư cho nền kinh tế tăng

Trong tháng 3, tổng phương tiện thanh toán ước tăng 5,55% so với cuối năm 2008. Trong đó, tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng ước tăng 16,8%.

Về huy động vốn, ước tính tháng 3 tăng 3,4% so với cuối năm 2008. Trong đó, tiền gửi VND ước tăng 3,34%, tiền gửi ngoại tệ ước tăng 3,6%.

Đến cuối quý I/2009, đầu tư cho nền kinh tế ước tăng 2,67% so với cuối năm 2008; trong đó, đầu tư bằng VND ước tăng 3,9%, đầu tư bằng ngoại tệ ước giảm 2,24%.

NHNN cho biết, trong tháng 3, NHNN đã trình Thủ tướng Chính phủ cho phép NHNN và Công ty cổ phần Chuyển mạch tài chính quốc gia (Banknetvn) triển khai thực hiện Đề án xây dựng Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất; đồng thời hoàn thiện đề án Kết nối hệ thống bù trừ và quyết toán trái phiếu Chính phủ với Hệ thống thanh toán liên ngân hàng quốc gia để trình lãnh đạo NHNN và Bộ Tài chính phê duyệt vào cuối quý II/2009.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com

Tags: