Chào các bạn! Truyen4U chính thức đã quay trở lại rồi đây!^^. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền Truyen4U.Com này nhé! Mãi yêu... ♥

tây

TÂY TIẾN (QUANG DŨNG)

I. ĐẶT VẤN ĐỀ (Vận dụng làm mở bài)

"Có một bài ca không bao giờ quên". Vâng! Bài ca ko quên ấy là những tháng năm chiến

tranh hào hùng đầy khí thế của lịch sử dân tộc. Và xây nên bản hùng ca ko thể nào quên ấy là những chàng trai, cô gái, những người lính, thanh niên xung phong... người con trung hiếu của nhân dân, con người đẹp nhất của thời đại. Viết về đề tài người lính, người đọc nghĩ đến "Đồng chí" của Chính Hữu, "Lên Tây Bắc" của Tố Hữu, người đọc nhớ đến "Nhớ" của Hồng Nguyên, "Bài thơ về tiểu đội xe ko kính" của Phạm Tiến Duật. Và người đọc cũng ko thể nào quên "Tây Tiến" của Quang Dũng. Bài thơ mang chứa gần như trọn vẹn những gì là đặc

trưng nhất của hồn thơ QD, được đánh giá là "đứa con đầu lòng tráng kiện và hào hoa của thơ ca kháng chiến", để rồi khi nói tới QD là độc giả nhớ ngay tới "Tây Tiến", mặc dù bên cạnh bài thơ này ông cũng còn nhiều thi phẩm đặc sắc khác.

(Lắp ghép vấn đề nghị luận vào chỗ cuối này nhé)

II. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Khái quát (Dùng cho mọi đề về tác phẩm này nhé)

- QD là 1 nghệ sĩ đa tài: viết văn, làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc... nhưng trước hết ông là 1 nhà thơ với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa. Chất nhạc, chất họa luôn hòa quyện vào thơ ông khiến những bài ông viết đều có sức tạo hình, ngân nga trong lòng người đọc.

- Tây Tiến là tác phẩm xuất sắc của QD, được viết năm 1948, in trong tập "Mây đầu ô". Bài

thơ là nỗi nhớ da diết, khắc khoải của tg về vùng núi rừng Tây Bắc, về cuộc kháng chiến gian khổ, hào hùng của dân tộc, về những người đồng chí, đồng đội đã từng sống và chiến đấu bên nhau.

- Tây Tiến là đơn vị quân đội chủ lực được thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội nước bạn Lào bảo vệ biên giới phía Tây, đánh tiêu hao sinh lực địch ở Thượng Lào và Tây Bắc Việt Nam. Địa bàn hoạt động của binh đoàn Tây Tiến khá rộng bao gồm các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, Thanh Hóa và cả Sầm Nưa – Lào. Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên trí thức Hà Nội, hoạt động trong điều kiện khó khăn, gian khổ, thiếu thốn, đặc biệt là bệnh sốt rét rừng hoành hành dữ dội. Dù vậy, họ vẫn lạc quan trong cuộc sống và chiến đấu rất anh hùng. Một thời gian ngắn sau khi binh đoàn TT thành lập, QD được chuyển đến với tư cách là đại đội trưởng. Năm 1948, TT giải thể để thành lập trung đoàn 52, QD cũng chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh, nỗi nhớ về đơn vị cũ cứ trào dâng thôi thúc nhà thơ viết bài thơ này. "Thơ là thần hứng" (P-la- tông), thơ chỉ ra đời trong những giây phút thăng hoa. Ngòi bút của thi sĩ chỉ "có thần" khi trong lòng thực sự "xúc động hồn thơ" . Quang Dũng đã có được giây phút ấy, tâm thế ấy khi viết "Tây Tiến". Lúc đầu, bài thơ có tên là "Nhớ Tây Tiến", sau đó QD bỏ đi từ "nhớ"làm cho nhan đề ngắn gọn, cô đọng khiến bài thơ ko bị lộ mạch, khắc sâu đc 2 chữ Tây


tiến. Đồng thời tạo ra âm hưởng mạnh mẽ, chắc khỏe gợi cho người đọc hình dung về 1 đoàn binh anh hùng:

Tây tiến biên cương mờ khói lửa Quân đi lớp lớp động cây rừng Và bài thơ ấy, con người ấy Sống mãi muôn đời với núi sông

(Giang Nam)

2. Phân tích

2.1.Đoạn 1. 14 câu đầu: Cuộc hành quân của người lính TT trên nền bức tranh thiên nhiên miền Tây Bắc hùng vĩ hoang sơ nhưng cũng lãng mạn trữ tình a. 2 câu đầu

"Thơ là tiếng lòng", "Thơ là thư kí trung thành của trái tim". Và phải chăng, xúc cảm đong đầy khiến QD ngân lên khúc dạo đầu – một nỗi nhớ "chơi vơi" vừa xa xăm sâu lắng, vừa thiết tha quyến luyến:

Sông Mã xa rồi TT ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

+ Người ta thường nói, cuộc đời mỗi người nghệ sĩ thường gắn với 1 vùng đất, 1 vùng văn hóa thấm mĩ nhất định. Nếu Hoàng Cầm yêu dòng sông Đuống lấp lánh hiền hòa, Thanh Hải xao xuyến với dòng sông Hương biếc xanh, Tế Hanh tha thiết Nhớ con sông quê hương... thì trong những năm gắn bó với đoàn quân TT, QD lại kết thân cùng dòng sông Mã. Sông Mã là người bạn đồng hành, là chứng nhân đã theo suốt bước chân hành quân, chứng kiến biết bao vất vả, vui buồn, bao mất mát hi sinh của người lính TT. Chính vì vậy, mở đầu bài thơ, tác giả gọi tên con sông Mã bằng giọng điệu thiết tha trìu mến như gọi tên 1 người thân yêu, tri kỉ.

+ Nỗi nhớ tiếp theo là "TT ơi", nhớ đồng đội đã cùng nhau vào sinh ra tử, sát cánh kề vai. 3 chữ "TT ơi" như chứa đựng cả 1 bầu trời thương nhớ. Sông Mã xa rồi, TT cũng xa rồi, những kỷ niệm một thời đã lùi xa vào dĩ vãng nhưng luôn vẹn nguyên trong tâm trí người đi. Hai chữ "xa rồi" với 2 thanh bằng tạo nên sự hụt hẫng, nuối tiếc, bâng khuâng.

+ Nỗi nhớ của nhà thơ còn là "nhớ về rừng núi" – nhớ địa bàn hoạt động giữa thiên nhiên TB vừa hùng vĩ hiểm trở, vừa thơ mộng trữ tình. Từ láy "chơi vơi" gợi ta nhớ đến câu ca dao:

Ra về nhớ bạn chơi vơi

Hay câu thơ của thi sĩ Xuân Diệu:

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi


Nỗi "nhớ chơi vơi" trong thơ QD là nỗi nhớ không rõ hình, không rõ ảnh nhưng miên man, da diết, chênh chao giữa đôi bờ hư thực.Trong nỗi nhớ ấy, mọi kí ức hiện lên khi thì rõ nét, khi lại mờ ảo nhưng đều sống động, lung linh.Từ biểu cảm "ơi" kết hợp với từ láy "chơi vơi" tạo nên âm hưởng thiết tha, ngân nga trong lòng người, như tiếng vọng cùng năm tháng.

Điệp từ "nhớ" được nhắc lại 2 lần nhằm nhấn mạnh nỗi nhớ quặn lòng trong tâm trí nhà thơ. Dường như trong mỗi khoảnh khắc đứng trước thơ ca, mỗi thi nhân đều tựa vần thơ vào nỗi nhớ, tựa tâm hồn vào kỉ niệm để thành hình con chữ đầy xúc động. Trước đó hai năm, nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ cũng từng nghĩ về thuở trước hào hùng mà không nguôi

"thương nhớ":

Từ độ mang gươm đi mở cõi

Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long...".

(Nhớ Bắc).

b. 12 câu tiếp: Các phương diện cụ thể của nỗi nhớ

- "Khi tình cảm tự tìm cho nó một hình thức để bộc lộ ra ngoài chúng ta có thơ" (Ta- go). Đến vơí miền thơ là đi vào thế giới tâm tình, đến với sự dạt dào ấm nóng trong trái tim thi nhân. 12 câu tiếp theo là nỗi nhớ hướng về thiên nhiên và con người trên chặng đường hành quân vất vả.

+Đầu tiên là là hình ảnh "Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi". Sài Khao là mảnh đất lắm sương nhiều khói. Cũng miêu tả về khói sương Tây Bắc, nhà thơ Chế Lan Viên viết: "Nhớ bản sương giăng nhớ đèo mây phủ - Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương". Câu thơ của QD có sức tạo hình rất lớn, được ngắt nhịp 4/3 khiến trọng lượng rơi vào chữ "lấp". Sương dày như che khuất, nhấn chìm cả đoàn quân. Chữ "mỏi" khiến ta như nghe đâu đây giữa núi rừng hiểm trở cheo leo có hơi thở nhọc nhằn của những chàng trai Tây tiến.

+ Nếu như ở câu thơ trên, QD dùng bút pháp hiện thực để tái hiện những khắc nghiệt của núi rừng miền Tây thì câu thơ tiếp lại được viết bởi cảm hứng lãng mạn: "Mường Lát hoa về

trong đêm hơi" .Hình ảnh hoa gợi lên nhiều nét nghĩa độc đáo. Đó có thể là những ngọn đuốc soi đường lấp lánh như hoa.Cũng có thể là nhà thơ muốn nhắc tới những cô gái miền Tây có ánh mắt sóng sánh, có nụ cười tươi thắm như hoa. Hay hoa chính là muôn loài hoa rừng nở ngát hương giữa không gian đêm sương huyền ảo, mơ màng. Cái hay của nhà thơ là không nói hoa nở mà nói hoa về, không nói đêm sương mà nói đêm hơi. Cách dùng từ ngữ đó kết hợp với hình thức câu thơ 6/7 là thanh bằng đem tới cho câu thơ âm điệu nhẹ bỗng và dịu êm, khiến núi rừng Tây Bắc hiện lên với vẻ đẹp thơ mộng, quyến rũ, làm say đắm lòng người đồng thời chứng tỏ vẻ đẹp tâm hồn của những người lính lãng mạn, hào hoa.

- 4 câu thơ tiếp, QD tả cảnh vượt dốc, vượt đèo, đường đi hiểm nguy với núi cao, vực thẳm.

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi


+ Dưới ngòi bút của QD, con đường hành quân mở ra với biết bao khó khăn, gian khổ. Điệp từ "dốc" tái hiện lại khung cảnh núi rừng trùng điệp, con dốc này chưa qua con dốc khác đã đợi sẵn. Ở đây, QD đã huy động thành công hàng loạt từ ngữ giàu giá trị tạo hình. "Khúc khuỷu" gợi con đường gập ghềnh, quanh co, khó đi; "Thăm thẳm" vừa diễn tả độ cao của núi, vừa khắc họa độ sâu của vực và vừa nói lên độ xa của con đường. Con đường đó còn hoang vu, vắng vẻ đến mức "heo hút". Núi cao như chọc thủng màn mây, người lính vượt lên những đỉnh núi cao ngất, tưởng như "súng ngửi trời". Nhà thơ ko nói là súng chạm trời mà là "súng ngửi trời". Nó cho thấy cách đo chiều cao hóm hỉnh, tinh nghịch, đậm chất lính. Nó khiến

mũi súng được nhân hóa; khắc họa tư thế ngang tàng, kiêu dũng; đồng thời khẳng định chí khí, quyết tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao mà đi tới. Nó làm ta liên tưởng đến người lính trong thơ Tố Hữu:

Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới Lá ngụy trang reo với gió đèo

(Lên Tây Bắc)

Chính vì chất lính trẻ trung ấy, trước thiên nhiên dữ dội, người lính Tây Tiến không bị nhòe mờ đi mà nổi lên đầy thách thức. Lúc này đây, thiên nhiên không còn là đối tượng để thưởng thức ngắm nhìn mà trở thành đối thủ. Câu thơ "Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống" chia thành 2 vế tiểu đối, ngắt nhịp 4/3 như bẻ gãy làm đôi, diễn tả con dốc với chiều cao, chiều sâu đến rợn ngợp: nhìn lên núi cao chót vót, nhìn xuống vực sâu thăm thẳm. Người đọc nhớ đến những câu thơ trong "Chinh phụ ngâm" của Đoàn Thị Điểm:

Hình khe thế núi gần xa Đứt thôi lại nối thấp đà lại cao

+ 3 câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc tựa như những nét vẽ gân guốc khiến khi đọc lên ta có cảm giác trúc trắc, mệt mỏi như đang hành quân cùng với đoàn binh Tây Tiến. Nhưng xen vào những nét vẽ gân guốc ấy là nét vẽ rất mềm mại xoa dịu cả khổ thơ : "Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi". Câu thơ giống như một gam màu lạnh điểm xuyết giữa những gam màu nóng. Nó giúp ta hình dung ra cảnh những người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, họ phóng tầm mắt ra xa. Qua mịt mù lớp sương rừng mưa núi, họ thấy thấp thoáng những ngôi nhà của đồng bào dân tộc như bồng bềnh trôi giữa biển khơi. Những thanh bằng liên tiếp gợi tả sự êm dịu, tươi mát trong tâm hồn người lính: dẫu gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Nhịp thơ cũng chậm lại như phút nghỉ chân hiếm hoi của các anh.

Người xưa có câu "thi trung hữu nhạc, thi trung hữu họa" (Trong thơ có nhạc, trong thơ có họa). Thơ QD là sự kết hợp giữa cả ý, tình, hình, nhạc, vì thế mà lay động lòng người, đọng lại thật nhiều dư vị.


- 2 câu tiếp, nhà thơ nhớ về những người đồng đội trên chặng đường hành quân đầy chông gai, nguy hiểm.

Anh bạn dãi dầu ko bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời.

2 câu thơ có thể hiểu là trên chặng đường hành quân, vì mệt mỏi rã rời, người lính Tây Tiến tranh thủ ngủ thiếp đi. Tuy nhiên cũng có thể hiểu rằng cuộc vạn lí trường chinh với "núi cao rồi lại núi cao chập trùng" khiến không ít người lính đã ngã xuống. Cảm hứng lãng mạn của QD ko hề né tránh hiện thực khốc liệt mà các anh phải đương đầu. Hai chữ "dãi dầu" dồn tụ bao nhiêu gian lao, vất vả, đói khát, nắng mưa. "Ko bước nữa", "Bỏ quên đời" là ko thể bước tiếp, là hi sinh. Cách nói giảm nói tránh thể hiện thái độ thản nhiên đón nhận cái chết, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Đi vào cõi chết mà các anh như đang chìm vào giấc ngủ ngàn thu. Có một điều lạ làm toả sáng cả ý thơ là người lính Tây Tiến đến lúc gục xuống vẫn cố gắng ko xa rời đội hình chiến đấu, chết rồi nhưng súng mũ vẫn còn đó, hành trang của người chiến sĩ vẫn còn trong tư thế tiếp tục cuộc hành trình.

Vần thơ nói đến mất mát, hi sinh nhưng không chút bi lụy, thảm thương. Nó làm người đọc nhớ đến hình ảnh anh giải phóng quân ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất vẫn trong tư thế đàng hoàng nổ súng tiến công trong thơ Lê Anh Xuân:

Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công

( Dáng đứng Việt Nam)

- Để tô đậm sự hi sinh bi tráng của người lính, QD đã điểm tô thêm vào bức tranh thiên nhiên hình ảnh, thanh âm ghê rợn:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người"

2 câu thơ diễn tả thật ấn tượng cái hoang sơ, âm u bí ẩn của thiên nhiên miền Tây. Các từ láy "chiều chiều", "đêm đêm" gợi thời gian khắc nghiệt với bao hiểm nguy rình rập, khó khăn chất chồng mà lính TT phải đối mặt. Ban ngày thì trèo đèo lội suối, vượt thác băng rừng, chiều về rùng mình ghê sợ trước sự trỗi dậy của thác nước, đêm xuống phải đối mặt với chim kêu vượn hú, thú dữ hoành hành. Âm thanh mạnh mẽ, dữ dội dại của thác nước đã cho thấy cái oai linh của chốn rừng thiêng nước độc. Đối với "thác gầm thét" là "cọp trêu người". "Trêu" là một động từ rất đắt vừa diễn tả được dáng điệu lởn vởn của chúa sơn lâm, vừa nói lên tinh thần lạc quan xem thường cái chết của người lính. Hơn nữa, với từ "trêu", ranh giới giữa người và thú dữ đã bị phá vỡ, thân thuộc đến mức có thể trêu đùa. Và để gây ấn tượng hơn về sự nguy hiểm, QD đã sử dụng địa danh Mường Hịch. Chữ "hịch" với thanh nặng nghe như bước chân nặng nề, chắc nịch của chúa sơn lâm đang đến rất gần đe dọa tính mạng của lính Tây Tiến.


- Đoạn thơ kết thúc bằng 1 đường nét và âm điệu hết sức đầm ấm:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Quên sao được cảm giác ấm áp tình quân dân bên các bản làng lúc dừng chân ngơi nghỉ."Nhớ ôi" là từ cảm thán mang tình cảm dạt dào ấm áp vô cùng. Đó là tiếng lòng bồi hồi xúc động của người chiến sĩ. Nhớ những lúc người lính dừng chân, được đồng bào nấu cơm cho ăn.

Những cụm từ "cơm lên khói", "thơm nếp xôi", "mùa em" như vẽ ra trước mắt ta những bản làng, nơi có những nồi cơm đang bốc khói. Khói của cơm, hương thơm của lúa nếp ngày mùa khiến lòng các anh ấm lại. Nhớ mùi "thơm nếp xôi" là nhớ hương vị núi rừng Tây Bắc, nhớ nghĩa tình, tấm lòng cao cả của đồng bào thân yêu. Chế Lan Viên cũng từng viết về hương vị của tình quân dân ấy trong bài thơ "Tiếng hát con tàu":

Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương

Lính Tây Tiến nay đã xa rồi nhưng có bao giờ quên "Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương" ấy. Hai tiếng "mùa em" là một sáng tạo độc đáo về ngôn ngữ thi ca. "Mùa em" phải chăng nói đến những người thiếu nữ với vẻ đẹp e ấp, duyên dáng để lại trong lòng người lính bao nỗi nhớ niềm thương. Có lẽ vì vậy mà câu thơ trở nên mềm mại, tình thơ trở nên ấm áp tươi vui, mọi khó khăn gian khổ như bị đẩy lùi.

c. Tổng kết, đánh giá đoạn 1

14 câu thơ trên đây đã để lại dấu ấn đẹp về thơ ca kháng chiến. Thành công của đoạn thơ là sự kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, sử dụng nhiều từ láy tạo hình, cách phối thanh bằng trắc, phép điệp từ, nhân hóa, đối lập... Tất cả đã tạo nên 1 đoạn

thơ hay, giàu giá trị.

2.2 Đoạn 2: 8 câu tiếp: Đêm liên hoan văn nghệ và bức tranh sông nước miền Tây qua sự hồi tưởng của Quang Dũng

a. 4 câu đầu: Kí ức về đêm lửa trại Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ


Với những nét vẽ khỏe khoắn, mê say, QD dẫn ta vào 1 đêm văn nghệ rất thực mà ngỡ như

mơ: cả doanh trại bừng sáng dưới ánh đuốc bập bùng tạo nên khung cảnh lung linh, huyền ảo, thơ mộng. Từ "bừng" được sử dụng thật độc đáo như một nốt nhấn của câu thơ. Nó là tiếng nói chân thực, giàu có của đời sống hiện thực, vừa là tiếng nói bay bổng của trí tưởng tượng diệu kì, lại vừa là tiếng nói của con tim đang xúc động. Từ "bừng" gợi cảm giác ấm áp, gợi niềm vui lan tỏa, vừa chỉ ánh sáng rực rỡ, âm thanh rộn rã, không khí tưng bừng và tâm trạng phấn khởi của những chàng trai Tây Tiến. Tố Hữu khi nhớ về Việt Bắc cũng nhớ về đêm liên hoan sáng bừng trong kỉ nệm:

Nhớ sao lớp học i tờ

Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

2 chữ "kìa em" trong câu thơ thứ 2 "Kìa em xiêm áo tự bao giờ" thể hiện sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng của người lính Hà thành trước vẻ đẹp của những cô gái – bông hoa của núi rừng Tây Bắc. Họ xuất hiện trong "xiêm áo" lộng lẫy cùng dáng vẻ e ấp đầy nữ tính. QD đã phát hiện ra vẻ đẹp đáng yêu của họ bằng cả niềm yêu, niềm say mê đến cảm phục. Yêu từ vóc dáng e ấp đến trang phục xiêm áo. Chính trang phục truyền thống đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc càng tôn thêm vẻ đẹp của họ. "Em" trở thành hạt nhân của bức tranh với vẻ đẹp xứ lạ phương xa, duyên dáng và tình tứ làm say đắm tâm hồn những chàng lính trẻ.

Ko chỉ vậy, những chàng trai TT còn ngỡ ngàng trước tiếng khèn "man điệu", Khèn là một loại nhạc cụ quen thuộccủa người dân tộc miền núi Tây Bắc còn man điệu là điệu nhạc, điệu múa đặc trưng cho văn hóa của những con người nơi đây. Khèn đang lên man điệu và dáng em cũng thẹn thùng theo tiếng nhạc. Không khí ấy đã chắp cánh cho tâm hồn những người

lính TT thăng hoa. Bao mỏi mệt như tan biến, thay vào đó là lòng yêu đời, yêu những miền đất lạ, là niềm lạc quan nâng bước chân họ mạnh mẽ hơn trên con đường chiến đấu. Người

lính TT nhập cuộc, hòa mình trong âm nhạc, đưa hồn theo những giấc mơ đến chân trời mới, đến với thủ đô nước bạn Lào để xây đắp tình đoàn kết hữu nghị giữa 2 nước:

Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Những câu thơ thắm tình quân dân, tựa như cá gặp nước. Hơn một lần ta gặp tình cảm ấm nồng êm đẹp đó trong thơ kháng chiến:

Các anh về mái ấm nhà vui

Tiếng hát câu cười rộn ràng xóm nhỏ

(Bộ đội về làng – Hoàng Trung Thông)

b.4 câu sau: Bức tranh sông nước miền Tây


Từ nét vẽ và âm thanh khỏe khoắn trong đêm hội đuốc hoa, QD đã chuyển sang nét vẽ tinh tế, mềm mại khi miêu tả cảnh chiều sương Châu Mộc. Không gian núi rừng, sông nước miền Tây thơ mộng hiện về trong nỗi nhớ với bao nhiêu kỉ niệm:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Thời gian của bức tranh là vào một buổi chiều với sương khói bảng lảng mơ hồ như trong cõi mộng. Không gian của bức tranh là của dòng sông Mã oai hùng với những khóm lau phất phơ trước gió. Trong bài thơ "Việt Bắc" Tố Hữu cũng viết:

Mình đi có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son

Giữa không gian sông nước bến bờ lặng tờ, hoang sơ như cổ tích nổi lên dáng hình thướt tha của cô gái trên chiếc thuyền độc mộc. Bằng thủ pháp nhân hóa qua 2 từ "hồn lau", Quang Dũng đã gợi cho người đọc cảm giác hoang vắng, tĩnh lặng, lại vừa có chút gì đó thiêng

liêng, phảng phất tâm linh rừng núi. Những cây lau không còn vô tri vô giác mà sống động có linh hồn. Phải là một hồn thơ nhạy cảm, tinh tế, tài hoa và lãng mạn mới cảm nhận được vẻ đẹp nên thơ ấy. Phép điệp trong cấu trúc "có nhớ", "có thấy" luyến láy như khắc chạm vào

lòng người một nỗi nhớ da diết, cháy bỏng, khôn nguôi.

Câu thơ cuối sử dụng nghệ thuật đối lập: "Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa". Đó là sự đối lập giữa cái dữ dội "trôi dòng nước lũ" với cái mềm mại dễ thương "hoa đong đưa". Từ láy "đong đưa" được sử dụng rất khéo léo. Đối với trường hợp câu thơ của Quang Dũng, nếu dùng là "đung đưa" thì nghiêng về giá trị tạo hình gợi tả những cánh hoa rừng dập dềnh đôi bờ. Nhưng "đong đưa" còn mang lại cảm nhận về sự tình tứ, duyên dáng. Dáng hoa hòa hợp với dáng người làm nên một bức họa thật lãng mạn.

c.Tổng kết, đánh giá

Tóm lại, 8 câu thơ trên đã vẽ nên khung cảnh thiên nhiên, con người miền Tây với vẻ đẹp mĩ lệ, thơ mộng, trữ tình. Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống giàu chất thơ đã thể hiện được thế giới tâm hồn phong phú của người lính Tây Tiến. Bất chấp mọi gian khổ, hi sinh, họ vẫn nhạy cảm, tinh tế trước thiên nhiên, trìu mến, yêu thương quan sát, đón nhận vẻ đẹp của con người miền Tây. Từng kỉ niệm về cảnh và người đều được họ nâng niu, gìn giữ...

Con thuyền nội dung sẽ đứng yên bất động nếu ko có những bơi chèo nghệ thuật. Thành công của đoạn thơ là sự kết hợp bút pháp lãng mạn tài hoa qua cái tôi tràn đầy tình cảm và bút pháp chấm phá cổ điển, nghệ thuật nhân hóa đầy sức gợi, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, những từ "có nhớ", "có thấy" luyến láy. Thơ là thơ đồng thời là họa, là nhạc, là chạm khắc theo


một cách riêng. (Sóng Hồng). Chất nhạc, chất họa, chất mơ mộng hòa quyện chặt chẽ với nhau trong từng câu chữ của QD.

2.3. Đoạn 3. Bức chân dung người lính Tây Tiến

Nếu như ở các đoạn thơ trước, hình ảnh người lính TT mới chỉ ẩn hiện trong khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ thì đến đoạn thơ này, chân dung các anh được khắc họa rõ nét.

a. 4 câu đầu

QD đã dùng những hình ảnh rất hiện thực để tô đậm cái phi thường của người lính:

TT đoàn binh ko mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Có nhiều cách hiểu về 2 câu thơ này. Có người cho rằng trên đường hành quân vì phải băng rừng lội suối và để thuận tiện hơn khi đánh cận chiến với địch người lính TT đã tự nguyện cạo trọc đầu mình. Khi các anh khoác lên mình lá ngụy trang, màu xanh của lá rừng khiến làn da trở nên xanh xao. Nhưng đa số người đọc lại nghiêng về cách hiểu thứ 2: Nguyên do khiến ngoại hình của người lính ốm yếu, tiều tụy, đầu trọc, da xanh xao héo úa như tàu lá là do hậu quả của những tháng ngày hành quân vất vả, đói khát, là dấu ấn của những trận sốt rét rừng. Những cơn sốt rét rừng ác tính ấy không chỉ có trong thơ QD mà còn ghi dấu trong thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung:

"Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi" (Đồng chí – Chính Hữu)

"Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ Anh vệ quốc quân ơi Sao mà yêu anh thế"

(Tố Hữu)

Với cách diễn đạt độc đáo của QD, câu thơ "TT đoàn binh ko mọc tóc" đã chuyển hoàn toàn từ tình thế bị động sang trạng thái chủ động. Câu thơ tả cái ngoại hình ốm yếu của người lính lại rất ngang tàng như đùa vui hóm hỉnh: "ko mọc tóc" nghe như ko cần mọc tóc, ko thèm mọc tóc mà thôi. Bên cạnh cái bi ta còn thấy cái tráng, cái hào hùng. Thủ pháp đối lập giữa dáng vẻ tiều tụy và nội lực bên trong đã diễn tả khí chất mạnh mẽ của người lính: "quân xanh màu lá" ><"dữ oai hùm". Cách nói ấy cho thấy những người lính TT rất lạc quan, yêu đời, coi thường gian khổ. Cụm từ "dữ oai hùm" làm toát lên vẻ ngoài dữ dằn,quắc thước, uy nghi, lẫm liệt mang sức mạnh của chúa tể rừng xanh khiến quân giặc bạt vía kinh hồn. Mặt khác,


cái hào hùng của người lính TT còn hiện lên qua cách dùng từ Hán Việt "đoàn binh". Chữ "đoàn binh" chứ không phải đoàn quân gợi lên sự khỏe khoắn, mạnh mẽ lạ thường, mang dáng dấp của "Tam quân tì hổ khí thôn ngưu" trong thơ Phạm Ngũ Lão.

Bên cạnh chất bi hùng, đoạn thơ còn để lại dấu ấn lãng mạn của những chàng trai Hà Nội mang tâm hồn hào hoa:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

"Mắt trừng" là đôi mắt dữ dằn, sắc lạnh, mở to, nhìn thẳng về phía kẻ thù, là ánh mắt tìm giặc và diệt giặc. Nhưng đôi "mắt trừng" ấy còn "gửi mộng qua biên giới", ấp ủ giấc mộng lập chiến công, giấc mơ về ngày mai đất nước hoàn toàn sạch bóng quân thù. Đó là đôi mắt có tình, đôi mắt nhớ về quê hương Hà Nội, về 1 "dáng kiều thơm" trong mộng trong mơ. Người lính TT ko chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa, giữa bao gian khổ, thiếu thốn, trái tim họ vẫn rung động, nhớ nhung về vẻ đẹp của Hà Nội. Đó có thể là tiếng rao đêm, nhớ mùi hương cốm mới, nhớ phố cũ, trường xưa, những con đường mùa thu thơm lừng hoa sữa, nhớ về 1 "dáng kiều thơm" – những cô gái Hà thành thướt tha, thanh lịch, yêu kiều. Đến đây, người đọc chợt nhớ tới hình ảnh "Những đêm dài hành quân nung nấu – Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu" trong bài "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi. Với người chiến sĩ trong bài "Đồng Chí" của Chính Hữu, thì nỗi nhớ hướng về ruộng nương, về "gian nhà không mặc kệ gió lung lay", về giếng nước gốc đa.. Nỗi nhớ của anh Vệ quốc quân trong bài thơ "Nhớ" của Hồng Nguyên là cả một mối tình quê đằm thắm thiết tha:

Ba năm rồi gửi lại quê hương, Mái lều gianh,

Tiếng mõ đêm trường, Luống cày đất đỏ,

Ít nhiều người vợ trẻ

Mòn chân bên cối gạo canh khuya

Có thể thấy nỗi nhớ, cái mộng mơ của người lính thời trận mạc đều thật đẹp và đáng yêu. Vì nỗi nhớ ấy, cái mộng mơ ấy đều biểu lộ một tình yêu quê hương thắm thiết.

1 thời người ta cho rằng câu thơ "Đêm mơ HN dáng kiều thơm" là thứ tình cảm yếu đuối, bi lụy ko nên có ở những chiến sĩ ra trận. Tuy nhiên, đó là cách nhìn phiến diện, chúng ta cần

trân trọng những tình cảm riêng tư ấy bởi người lính TT đâu phải người có trái tim sắt đá?


Các anh là người bình thường, xuất thân từ học sinh sinh viên và hầu hết tuổi còn rất trẻ. Họ mang chất lãng mạn, mộng mơ của tuổi cắp sách tới trường, mang cốt cách hào hoa, thanh lịch của người Hà nội. Họ chiến đấu là vì Tổ quốc. Tổ quốc với họ chính là quê hương, là gia đình, là bóng hình người bạn gái họ luôn ấp ủ trong tim. Chính vì thế, những giấc mơ về "dáng kiều thơm" ko những ko làm nhụt ý chí chiến đấu mà trở thành động lực, là lời thúc giục họ tiến lên phía trước, tiếp thêm niềm tin, sức mạnh cho người lính chiến đấu và chiến thắng. Nhìn lại toàn bộ bài thơ ta thấy bất cứ đoạn nào cũng vấn vương, thấp thoáng 1 dáng hình người đẹp: Mai Châu mùa em thơm nếp xôi, Kìa em xiêm áo tự bao giờ, Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

b. 4 câu sau: Sự hi sinh của người lính TT:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Câu thơ "Rải rác biên cương mồ viễn xứ" nhiều từ Hán Việt gợi không khí cổ kính, trang trọng, thiêng liêng: "biên cương", "viễn xứ" – nơi miền đất xa nhất của đất nước. Đoạn thơ sử dụng rất nhiều từ Hán Việt mang sắc thái trân trọng, thể hiện không khí trang nghiêm,

lòng thành kính thiêng liêng của nhà thơ trước sự hi sinh của đồng đội. Những từ ngữ ấy như những nén tâm nhang thắp lên đưa tiễn những người đã ngã xuống.Nhịp 4/3 khiến trọng tâm câu thơ rơi vào chữ "mồ" một từ ngữ gợi sự hiện hữu của cái chết, đem đến cảm giác trầm buồn, ảm đạm. Thơ hay là thơ giản dị, xúc động, ám ảnh. Trong một câu thơ, một đoạn thơ dùng rất nhiều từ HV thì "mồ" là một từ thuần Việt giàu giá trị, khiến ta "xúc động, ám ảnh". Tác giả ko sử dụng từ "mộ" trang trọng, mà dùng chữ "mồ". Danh từ miêu tả chính xác thực tế chiến trường lúc đó, mồ cũng là mộ nhưng không phải mộ theo đúng nghĩa. Đó chỉ là những nấm đất sơ sài, hoang lạnh được đào vội, chôn mau trên hành trình vội vã để đoàn quân lại tiếp tục lên đường.. Nhà thơ nhìn thẳng vào sự khốc liệt, nghiệt ngã của chiến tranh, miêu tả về cái chết, không né tránh hiện thực. Cả bài thơ ko có 1 trận đánh nào được nói tới, ko có 1 tiếng súng nào vang lên mà cái chết vẫn hiện hình rõ nét. Những nấm mồ đơn độc vô danh mọc lên dọc đường hành quân nhưng ko làm chùn bước chân TT. Ngòi bút của QD viết về cái chết mà ko hề nhấn chìm người đọc vào cảm giác bi thương, bi lụy, ngược lại vẫn hào hùng, bi tráng vì nó đc nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng và tinh thần lãng mạn. Cảm giác ảm đạm, ngậm ngùi trong câu thơ trên đã nhanh chóng được xóa đi bởi câu thơ mạnh mẽ, rắn rỏi, dữ dội như lời thề sông núi: "Chiến trường đi chẳng tứ thơ mạnh mẽ,tiếc đời xanh". Hình tượng thơ phảng phất hình ảnh những tráng sĩ xưa "Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao". Bốn từ "chẳng tiếc đời xanh" vang lên dõng dạc, dứt khoát, tô đậm lí tưởng cao cả của thời đại "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Dẫu biết rằng "chiến trường" là đạn bom khốc liệt, là cái chết cận kề, là dữ dội nguy nan; dẫu biết rằng "đời xanh" là tuổi trẻ, là quãng đời đẹp nhất với bao khát vọng hạnh phúc, tình yêu; nhưng vì độc lập tự do của dân tộc, nghe tiếng gọi

thiêng liêng của Tổ quốc, những người lính TT vẫn sẵn sàng "xếp bút nghiên lên đường chinh chiến" ko đắn đo, ko do dự tiếc nuối. Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, vận


mệnh đất nước rất mỏng manh, chiến trường là đích đến duy nhất, là sự lựa chọn đầy trách nhiệm của cả một thế hệ. Cách nói "chẳng tiếc đời xanh" cho thấy sự dứt khoát, lòng quyết tâm, coi thường gian nguy, coi thường cái chết. Họ sẵn sàng hiến dâng cả đời xanh, tuổi trẻ,

quãng đời đẹp nhất cho tổ quốc, hơn thế nữa, tính mạng của họ cũng sẵn sàng hi sinh để làm nên dáng hình đất nước. Họ ra đi với tinh thần của cả thời đại"Người ra đi đầu không ngoảnh lại – Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy ". Quyết tâm ra đi ấy ta cũng từng thấy trong hình ảnh đoàn vệ quốc quân trong nhạc phẩm của Phan Huỳnh Điểu: "Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi

– Nào có mong chi đâu ngày trở về - Ra đi ra đi bảo tồn sông núi – Ra đi ra đi thà chết không lui". Trong tim họ chỉ có một điều tâm niệm, đó là Tổ quốc – 2 chữ thân thương mà gần gũi như lời thơ Chế Lan Viên:

Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta như vợ như chồng Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết

Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi con sông

Hai câu cuối, Quang Dũng nói về sự hi sinh bi tráng của những người lính:

Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Cảm hứng lãng mạn đã biến chiếc áo quân phục cũ kĩ, sờn rách, tấm áo rách vai, tấm áo có vài mảnh vá của người lính thành áo bào đẹp đẽ thiêng liêng. QD có kể lại: "Khi tử sĩ nằm xuống không đủ manh chiếu để liệm, nói áo bào thay chiếu là mượn cách nói của thơ trước đây để an ủi những người đồng chí vừa ngã xuống". Vượt lên trên hiện thực khắc nghiệt của chiến tranh, trong cảm nhận của QD, những đồng đội thân yêu của ông lúc ngã xuống vẫn được khâm liệm trong những tấm áo bào trang trọng vốn chỉ dành cho những vị tướng thời xưa. Hình tượng thơ ko chỉ làm dịu vợi nỗi đau trước hiện thực tàn nhẫn của chiến tranh mà còn hàm chứa niềm biết ơn, cảm phục sâu xa với công lao những người chiến sĩ. "Anh về

đất" là cách nói giảm nói tránh làm câu thơ bi mà ko lụy. Với QD, chết ko phải là sự ra đi, tan biến vào cõi hư vô bất định mà là trở về trong lòng đất mẹ. Cái chết của họ hóa thành bất tử. Máu xương họ gửi về đất mẹ làm cho "lá cờ cách mạng thêm đỏ thắm", làm cho tinh thần Việt Nam càng bất khuất, kiêu hùng. Họ đã "hoá thân cho dáng hình xứ sở" để rồi mỗi thế núi hình sông, mỗi tên đất tên làng đều có bóng hình các anh. Dòng sông Mã, chứng nhân của lịch sử, bạn đồng hành của Tây tiến cũng như nhỏ lệ xót thương, gầm vang khúc độc hành bi tráng, trầm hùng tiễn đưa người lính về nơi an nghỉ cuối cùng để linh hồn các anh trở thành hồn thiêng sông núi. Nghệ thuật nhân hóa trong cụm từ "gầm lên" đã thể hiện những cung bậc cảm xúc mạnh mẽ: vừa xót đau, vừa tiếc thương, cảm phục... Chỉ bằng âm thanh ấy, Quang Dũng đã truyền vào câu thơ tất cả cái bi tráng của sự hi sinh và nỗi đau xót trong lòng người chiến sĩ khi phải vĩnh biệt đồng đội. Nhiều nhà thơ cũng dùng hình ảnh thiên nhiên để nói về sự hi sinh của người chiến sĩ. Tố Hữu khẳng định sự bất tử của những người cách

mạng đã hi sinh bằng những hình ảnh thiên nhiên rộng lớn, trường tồn:


Những hồn Trần Phú vô danh

Sóng xanh biển cả, cây xanh núi ngàn

c. tổng kết, đánh giá

Tóm lại thành công của đoạn thơ là nhà thơ đã sử dụng nhiều từ Hán việt gợi sắc thái cổ kính, trang nghiêm, sử dụng nghệ thuật đối lập, nhân hóa, nói giảm nói tránh, lời thơ hàm súc vừa đượm chất hiện thực, vừa gợi chất hào hùng, bi tráng, bút pháp lãng mạn và sử thi...Tất cả đã làm nên hình tượng người lính cụ Hồ trong 9 năm kháng chiến gian lao mà anh dũng. "Chất hiện thực và lãng mạn đã làm cho bài thơ có gian khổ, mất mát, hi sinh nhưng cũng tràn đầy niềm lạc quan, khỏe khoắn; giọng thơ vừa chân thành vừa bi tráng, hào hùng, phản ánh hào khí và chất lãng mạn một thời gắn với lịch sử kháng chiến anh dũng của dân tộc". (PGS TS Vũ Nho)

4. Đoạn kết: Lời thề gắn bó với TT

Đoạn kết là sự trở về với hiện tại, miền Tây và TT đã lùi xa trong kí ức, trong nỗi nhớ nhung:

TT người đi ko hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Tác giả nhắc đến hình ảnh "người đi" trong những nét nghĩa mơ hồ: có thể hiểu nhà thơ nhắc đến những chiến binh TT, những chàng trai Hà Nội năm xưa từ biệt quê hương, ra đi chinh chiến "ko hẹn ước" ngày trở về, lên với miền Tây thăm thẳm, xa xăm, mờ mịt, cách hiểu này gợi niềm mến thương cảm phục với những người lính "ra đi từ đó ko về". Cũng có thể hiểu nhà thơ nhắc tới thời điểm cuối năm 1948, khi ông đang ở Phù Lưu Chanh, bâng khuâng nhớ về việc mình đã chia xa trung đoàn TT "ko hẹn ước" ngày về, đã giã từ miền Tây chẳng biết bao giờ gặp lại bởi "đường lên thăm thẳm một chia phôi". Cách hiểu này xao xác một nỗi nhớ nhung với những gì thân yêu nhất trong lòng nhà thơ – 1 cựu chiến binh TT.

Những năm tháng ngắn ngủi sống trong đoàn binh TT đã để lại cho nhà thơ nhiều hoài niệm ko thể phai mờ. Bài thơ kết lại bằng lời nhắn nhủ thiết tha:

Ai lên TT mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi

Nhà thơ dường như đang thể hiện tâm nguyện âm thầm mà chung thủy của tất cả những ai "Lên TT mùa xuân ấy". Trong lòng họ, thời gian gắn bó với trung đoàn, với miền Tây là khoảng thời gian quý giá nhất trong cuộc đời, khoảng thời gian vời vợi nhớ thương. Dù có thể chia xa nhưng tâm hồn lính TT sẽ mãi đi về với miền Tây, với những Sầm Nứa, Sài Khao, Pha Luông,

Mường Hịch...những vùng đất xa xôi đựng đầy kỉ niệm với đồng đội trong những tháng năm

gian lao mà anh dũng bởi "Khi ta ở chỉ là nơi đất ở - Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn". Cũng có thể hiểu nhà thơ đang xót xa nhắc đến những người đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại trong những nấm mồ cô đơn miền viễn xứ. Họ đã lên TT mùa xuân ấy, đã chiến đấu kiên cường, đã hi sinh dũng


cảm, linh hồn và thân xác họ đã vĩnh viễn ở lại với miền Tây, để lại nỗi nhớ thương da diết, nỗi chua xót ngậm ngùi cho những người còn sống.

III. Kết luận

Bài thơ đã thể hiện những nét đặc sắc nhất trong phong cách nghệ thuật của QD, đó là bút pháp tương phản đầy ấn tượng của cảm hứng lãng mạn, là chất họa, chất nhạc đậm nét với

giá trị biểu cảm mạnh mẽ, là chất bi tráng đưa đến những xúc động sâu sắc trong lòng người. Qua đó QD đã khắc họa sâu đậm hình ảnh người lính TT, làm hiện lên vẻ đẹp toàn vẹn trong tâm hồn các anh: những người lính kiêu dũng, ngang tàng, lãng mạn và hào hoa. Hình ảnh các anh càng làm rõ thêm cảm hứng chủ đạo của bài thơ: nỗi nhớ tha thiết của người cựu chiến binh TT hướng về miền Tây, đoàn binh TT và những năm tháng oanh liệt hào hùng ko thể nào quên.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com

Tags: #dfag#fvaevv