Thành trì
Xe ngựa tiến vào con đường hẹp với một bên là đồi núi thoai thoải và bên còn lại là những triền cỏ xanh tươi. Bỏ lại đằng sau những cánh đồng hoang lởm chởm đá cùng những thửa đất mới vỡ ruộng cày, tôi đã tiến gần đến địa phận của Northumberland.
Có lẽ trên khắp nước Anh này, chẳng có nơi đâu hoa anh túc nở đỏ như nơi đây, cũng như thật khó để tìm thấy một vùng đất nào lại có những bụi thạch nam tím ngắt mọc xum xuê hai bên đường như thế này.
Xe ngựa leo dốc thêm chừng mươi phút nữa thì dừng trước một lâu đài nằm trên đỉnh Cheviot. Sau khi trả cho phu xe thù lao ba đồng shilling, tôi xuống xe, bước qua cánh cổng sắt han gỉ và tiến vào lâu đài.
Ở cái vương quốc này, thứ không thiếu nhất là những lâu đài, hoặc đã bỏ hoang, hoặc vẫn còn hoa lệ. Tôi đã từng được trông thấy một điện Buckingham rực rỡ hoàng kim, một Windsor kiên cố và bề thế, hay thậm chí là những nơi u ám đến mức chẳng ai dám đến như Charlesville và Maggernie; thế nhưng, dường như chẳng có nơi nào đồ sộ, cũng như hoang tàn được như nơi này.
Chillingham nằm trên một mảnh đất rộng gần ba chục mẫu Anh. Lối đi vào lâu đài chăng kín bởi thường xuân. Những bức tường chuyển sang màu xanh đen vì rêu phong và gió mưa đã bắt đầu có dấu hiệu bục vỡ. Ở mé trái của lâu đài, một đỉnh tháp nhọn đã sụp đổ hoàn toàn.
Tôi đang cần một nơi yên tĩnh để hoàn thành bức tranh của mình. Nơi đây dĩ nhiên hoàn toàn đáp ứng nhu cầu đó, thậm chí, nó còn vượt quá yêu cầu và khiến tôi hơi e ngại. Trong bán kính năm dặm quanh đây, tôi không tìm thấy một ngôi nhà nào.
Người quản gia cũ của lâu đài xuất hiện ở cửa, đón tôi với một nụ cười thân thiện, nhưng phai nhạt sự hứng khởi và vui mừng. Khi nhìn vào những nếp nhăn nheo trên gương mặt trổ đồi mồi của bà, tôi như cảm thấy một sự tiếc nuối trước một vẻ đẹp- mà giờ đã vượt ra khỏi tầm với của sự níu kéo và thương hại. Sau khi mua lại lâu đài Chillingham, tôi đã thuê luôn người quản gia cũ của nó.
Tối hôm đó, sau khi kết thúc bữa ăn với khoai tây và thịt cừu chấm nước sốt bạc hà, tôi ngồi bên lò sưởi và ngẫm ngợi về bức tranh mình sẽ hoàn thành. Thú thực, tôi chưa có bất kì ý tưởng nào về nó, dù là một chút cũng không. Tôi chỉ cảm thấy, đó nhất định phải một bức tranh về cái đẹp. Nhưng là vẻ đẹp đã trở thành quá vãng và đang trở nên hoang tàn. Ý nghĩ đó cứ bám riết lấy tôi, không rời dù chỉ một khắc, khiến đôi lúc tôi như trở nên phát điên, vì dẫu cho lồng ngực có sục sôi niềm hứng khởi, thì bàn tay vẫn cứng nhắc không thể cầm nổi cọ vẽ.
Khi tôi đang bực bội vì mớ ý tưởng nghệ thuật mơ hồ, bà quản gia mang một ấm trà nóng cùng vài loại bánh ngọt vào. Từ khi tôi bước chân vào đây, bà chưa nói chuyện với tôi dù chỉ một câu.
"Bà đã làm quản gia cho nơi này được bao nhiêu năm rồi, bà Diana?"
Bà Diana đặt ấm trà xuống bàn, ngồi xuống chiếc ghế con đặt cạnh lò sưởi.
"Tôi làm quản gia nơi đây từ năm 25 tuổi, đến nay đã được 50 năm, thưa ngài. Mười đời dòng họ nhà tôi đều làm quản gia ở nơi này."
"Chắc hẳn nơi đây đã trải qua nhiều điều lắm rồi. Cũng như chắc hẳn sẽ có rất nhiều thứ để kể về nó."
Tôi gợi chuyện. Lí do đơn giản là vì tôi sắp phát điên với những ý tưởng mơ hồ không lối thoát kia rồi. Mà ở cái nơi khỉ ho cò gáy này, thì làm gì có chuyện gì, cũng như làm gì có ai để bầu bạn- ngoài bà quản gia già cả trước mặt tôi đây.
"Chuyện thì hẳn là có rất nhiều. Nhưng tôi chỉ biết một vài trong số đó. Có một câu chuyện đã xảy ra từ lâu lắm rồi, mà dòng họ nhà tôi, hay những người hầu trong lâu đài, cứ truyền tai nhau, từ đời này sang đời khác."
Tôi rời lưng khỏi ghế tựa, hơi nhoài người về phía bà Diana. Bà đang cho thêm củi vào lò sưởi. Dưới ánh sáng bập bùng, bà chầm chậm mở lời.
"Ấy là một câu chuyện xảy ra từ rất lâu trước đây, thời đó, nước Anh vẫn còn đang trong thời loạn lạc bởi sự tranh giành vương vị giữa hai dòng họ Claythorn và Laynesmith. Để cho ngài dễ hình dung, thì nước Anh lúc đó chẳng khác gì nước Anh thời Chiến tranh Hoa hồng, còn mối thù giữa hai dòng họ, thì sâu đậm không thua kém gì mối thù của hai nhà Montague và Capulet. Lấy sông Tyne làm bờ cõi, họ phân chia vương quốc thành bờ Bắc và Nam. Thủ phủ của nhà Laynesmith ở phía Nam là Edinburgh, giờ đây tòa lâu đài đó vẫn còn, thậm chí còn rực rỡ hơn cả nơi này. Và chắc hẳn ngài cũng cảm thấy thắc mắc, rằng Chillingham quá lớn so với lâu đài của một lãnh chúa. Lí do là vì khi xưa dòng họ Claythorn đã đưa Northumberland trở thành thủ phủ của mình, và nơi đây, lâu đài Chillingham chính là cung điện.
"Đứng đầu dòng họ Claythorn, khi ấy là một vị Bá tước rất trẻ. Ngài William Claythorn, kế nghiệp tước vị của cha mình khi vừa tròn hai mươi tuổi. Việc ngài lên ngôi thì không được lòng những vị chư hầu dưới quyền của nhà Claythorn. Người ta cho rằng ngài quá trẻ để chinh chiến, quá mơ mộng để có thể gạt mọi thứ tình cảm yếu mềm sang một bên và một lòng cho nghiệp vị. Bọn họ tưởng niệm và nhớ về Bá tước Charles Claythorn quá cố, bám lấy hi vọng vào sự mạnh mẽ và khốc liệt của một vị quân vương- lúc này đã bị vùi chôn dưới những nấm mồ. Ngài Bá tước trẻ tội nghiệp, tưởng như nắm mọi quyền lực trong tay, mà hóa ra lại là bị đẩy lên nơi đầu sóng ngọn gió của cuộc tranh đoạt vương vị.
"Hai mươi tuổi, dẫu là quân vương, nhưng ngài cũng giống như bao thiếu niên trẻ tuổi khác. Ngài có vị hôn thê của mình. Cô em họ Harriet xinh xắn, dễ thương, thường xuyên chơi đùa với ngài từ thuở còn thơ trẻ. Họ đã từng có những năm tháng vui vẻ bên nhau. Mặc dù bị quản thúc gắt gao bởi những kẻ hầu người hạ trong lâu đài, nhưng bằng sự nghịch ngợm và láu cá của mình, hai người họ suốt ngày lang thang khắp những cánh đồng như những đứa trẻ không ai quản thúc. Những đứa trẻ thì có rất nhiều trò, mà hầu như trò nào cũng khiến bọn chúng phải bẩn thỉu cả. Có những lúc, hai đứa trẻ trở về lâu đài trong trang phục lấm lem và bị phạt đứng ngoài cổng lâu đài, mãi đến tối khuya mới được phép vào ngủ. Nhưng những hình phạt như thế làm sao làm khó được hai đứa trẻ, bởi vì dù thế nào, thì bọn chúng cũng có nhau. Harriet và William đã lớn lên cùng nhau, như thế."
"Tuổi thơ với những người bạn nhỏ mà bất cứ ai cũng trải qua, và luôn luôn nhớ về."
Tôi nói khi bà Diana ngừng lại để nhấp một ngụm trà. Tôi đã bắt đầu cảm thấy hơi buồn ngủ. Và tôi vừa ái ngại vừa tự hỏi rằng, không biết có phải câu chuyện của bà Diana sẽ kéo dài trong nhàm chán với kết thúc hai đứa trẻ đó sẽ sống với nhau đến già hay không.
"Vâng, những người bạn thuở nhỏ. William và Harriet đã chơi với nhau từ khi còn bé tẹo, rồi có thể sẽ yêu nhau và bên nhau cho đến tận khi về già. Mọi thứ có thể diễn ra như thế, nếu như bọn họ không phải những đứa trẻ sinh ra trong hoàng thất.
"Sau khi Bá tước William Claythorn lên ngôi, cả dòng họ lại tất bật chuẩn bị cho lễ cưới của ngài. Còn ai khác, ngoài Harriet đáng yêu đã lớn lên và bầu bạn cũng ngài suốt những năm qua? Vị hôn thê đã được ấn định, những việc cần làm lúc này chỉ là chuẩn bị cho đám cưới thật xa hoa, xứng tầm với một vị Bá tước nắm trong tay vương quyền.
"Thế nhưng, trong một trận chiến, thời cơ tấn công thích hợp nhất, là khi đối phương đang trong tình thế lơ là mất cảnh giác. Ngày thành hôn, khi mà toàn dòng họ Claythorn cùng những thần dân của họ còn đang chìm trong niềm vui sướng hoan lạc của lễ cưới, quân đội của nhà Laynesmith bất ngờ ập tới. Dường như đã chuẩn bị cho trận đánh này từ rất lâu, đoàn quân hung bạo của chúng sầm sập tấn công như vũ bão vào lãnh địa của nhà Claythorn. Băng qua ranh giới sông Tyne, tràn vào thủ thành Northumberland. Quân đội của nhà Claythorn đã chống trả quyết liệt. Sau một tháng ròng, họ bảo vệ được thủ phủ, nhưng đánh mất năm thành trì vào tay nhà Laynesmith. Chẳng ai còn quan tâm đến đám cưới, cũng như thái độ dành cho ngài Bá tước trẻ- vốn đã chẳng mấy tích cực, giờ đây càng trở nên gay gắt.
"Sau trận chiến, hạt Cumbria náo nhiệt bởi những buổi tiệc ăn mừng của dòng họ Laynesmith. Điều đó giống như một sự thách thức ngông cuồng với dòng họ Claythorn, khi mà lúc này đây, thủ phủ Northumberland, đáng lí phải rất rộn ràng để chào đón vương hậu mới, thì lại im ắng và căng thẳng đến rợn người. Chư hầu phẫn nộ, yêu cầu phế bỏ vương vị của Bá tước William Claythorn. Bọn họ cho rằng, nếu tiếp tục để ngài nắm quyền, nhà Claythorn sẽ sớm bị thất thủ.
"Khi mà những sự căng thẳng chồng chéo tầng tầng lớp lớp trong nội bộ nhà Claythorn, thì một bức thư từ vị Công tước nhà Laynesmith được gửi tới. Trong bức thư, thật ngang trái làm sao, vị Công tước đó ngỏ ý muốn lấy người suýt nữa đã trở thành nữ chủ nhân của nhà Claythorn- hôn thê của William- Harriet, làm vợ. Hóa ra, trong thời gian ăn mừng ở Cumbria, vị Công tước đó đã trông thấy Harriet và đem lòng yêu nàng.
"Trên đời này, càng là những kẻ lắm quyền lực, thì càng dễ bị đắm chìm trong những phù hoa. Vị Công tước đó chấp nhận trả lại cả năm thành trì vừa chiếm được của nhà Claythorn, chỉ cần họ chấp nhận trao cho ông ta Harriet. Harriet trẻ trung lại phải kết hôn với một người đàn ông đã ngoài năm mươi tuổi. Hơn nữa, cô đã có William- người lớn lên cùng cô, và sắp trở thành chồng của cô. Thế nhưng, người đó không chỉ là người mà cô yêu thương, mà còn là người đứng đầu của một gia tộc, tương lai, có thể còn đứng đầu cả một vương quốc.
"Trái ngược hoàn toàn với những suy đoán từ lũ chư hầu, sau khi nhận được bức thư, Bá tước William Claythorn không nóng nảy, cũng không phẫn nộ khi kẻ thù ngang nhiên đòi cướp đoạt vị hôn thê của mình. Ngài trầm ngâm trên ngai vàng một lúc rất lâu. Cuối cùng, ngài cầm bút và viết thư trả lời. Ngài viết, ngài rất hân hạnh được thực hiện cuộc trao đổi. Harriet nhận được tin từ hầu gái, chỉ ngồi lặng người bên bàn trang điểm suốt một ngày dài. Tối hôm đó, cô gặp William lần cuối, ở cánh đồng hoang mà khi nhỏ hai người họ thường rong chơi.
"Chúng ta không thể làm khác sao? Không thể cùng nhau rời xa nơi này, rời xa vương quyền?"
William đứng trước mặt cô. Và chưa bao giờ, Harriet trông thấy ánh mắt người cô yêu lại lạnh lùng như thế:
"Chúng ta được sinh ra trong hoàng thất, ngay từ đầu đã nghiễm nhiên đứng trên mọi người. Là những đứa trẻ của hoàng thất, số phận của chúng ta, vốn dĩ không phải thứ chúng ta có thể quyết định và nắm giữ."
Harriet chấp nhận câu trả lời đó, dù cô không hề mong chờ nó một chút nào.
"Hơn một tuần sau, đích thân Bá tước Claythorn đưa Harriet đến bờ sông Tyne. Ở bờ bên kia, Công tước Laynesmith đã đợi sẵn, với tùy tùng, và bản hiệp ước về việc trả lại năm thành trì chiếm được. Ngày hôm đó, khi đoàn tùy tùng đã đưa Harriet đi hẳn, khi quân đội của cả hai nhà đã rút về, William Claythorn vẫn một mình ở lại bên bờ Bắc sông Tyne. Ngồi trên yên ngựa, ngài phóng tầm mắt ra rất xa. Trong đôi mắt của ngài đã chẳng còn Harriet, cũng chẳng còn năm thành trì vừa lấy lại được, trải dài trong đôi đồng tử xanh thẫm, là một giang sơn rộng lớn không tìm thấy điểm dừng."
"Có vẻ như Bá tước không yêu Harriet như cô ấy đã yêu ngài."
Tôi cắt ngang lời Diana. Câu chuyện đã đi trật so với những suy nghĩ của tôi, theo hướng mà tôi khá không thích.
"Ai cũng nghĩ như ngài. Đến cả những thần dân và chư hầu của nhà Claythorn cũng nghĩ như ngài. Tất cả bọn họ đều vui mừng với suy nghĩ ấy. Rằng lãnh chúa của họ là một kẻ đủ cứng rắn và nhẫn tâm để gạt bỏ những tình cảm cá nhân mà hướng tới tương lai của cả dòng họ. Còn về phần Harriet, sau khi kết hôn với Công tước Laynesmith, trong dòng họ Claythorn đã chẳng còn ai nhắc đến cô, đến cả những người bạn từng rất thân thiết, giờ đây cũng không còn nhớ. Dần dần, cô biến mất trong kí ức của họ, có lẽ còn bao gồm cả Bá tước Claythorn. Ngài đã kết hôn với một cô gái khác, con gái của một vị chư hầu. Cô gái trẻ trở thành nữ chủ nhân của dòng họ, được toàn quyền cai quản lâu đài Chillingham, trừ căn phòng cũ kĩ trên tầng gác mái. Đó cũng là nơi mà ngoài William Claythorn, không ai được phép đặt chân vào, kể cả những gia nhân muốn lên dọn dẹp. Có những lúc ngài Bá tước mất hút sau cánh cửa của căn phòng cả một ngày dài, nhưng chẳng ai biết, và dám hỏi ngài đã làm gì trong đó.
"Những năm sau đó, ngài Bá tước bắt đầu xông pha trận mạc, thay vì chỉ ngồi trên ngai vàng chỉ đạo như hầu hết những lãnh chúa khác. Ngài khiến quân đội nhà Laynesmith phải khiếp sợ vì sự khôn ngoan và lãnh khốc của mình. Những chiến thuật ngài đề ra luôn là những nước đi mà quân địch không thể đoán đọc. Kế hoạch ngài vạch nên thì không một kẽ hở, hoàn hảo tới từng li. Còn thái độ của ngài với quân thù, là không bao giờ nhượng bộ.
"Hai mươi năm sau, thủ phủ của nhà Laynesmith thất thủ. Chiến thắng và ngai vàng đã thuộc về Bá tước Claythorn, chỉ có một thứ duy nhất đã vĩnh viễn không còn thuộc về ngài. Trong giây phút quân đội nhà Claythorn chỉ còn cách thủ thành nhà Laynesmith năm dặm, hoàng thất đã đưa Harriet- giờ đã là vương hậu của chúng, lên dàn hỏa. Lúc bấy giờ, đó là hành động duy nhất mà bọn chúng có thể làm để giẫm đạp lên lòng tự tôn của ngài Bá tước Claythorn. Khi quân đội ập tới thì đã quá muộn. Harriet đã vĩnh viễn vùi thân nơi lớp tro tàn. Ngài Bá tước lỗi lạc ngồi trên lưng ngựa, lạnh lùng ra mệnh lệnh tàn sát. Tất cả những người dân trong thành đều giết hết, không chừa một tên.
"Buổi tối hôm đó, những kẻ sống sót ăn mừng trên thân xác của những kẻ đã chết. Bữa tiệc diễn ra ở Chillingham náo nhiệt chưa từng có. Thế nhưng, người ta lại không trông thấy ngài Bá tước- lúc này đã trở thành nhà vua, ở bất cứ nơi đâu. Và kể từ lúc đó, ngài luôn vắng mặt trong những bữa tiệc của hoàng thất. Vị Bá tước trẻ năm xưa giờ đã thành quốc vương một nước. Chinh chiến đã làm ngài nhận ra, chiến thắng là con đường duy nhất để tồn tại. Và những tiếng kêu đau khổ của kẻ thù sẽ là khúc ngợi ca cho một giang sơn thịnh vượng.
"Mặc dù đã nhiều thứ thay đổi, nhưng chỉ có duy nhất một quy định trong lâu đài không thay đổi: dù lí do là gì, không ai được phép bước chân vào căn phòng gác mái. Vương hậu và cả gia nhân đều tuân theo mệnh lệnh ấy. Những lần quốc vương của họ mất tích sau cánh cửa xuất hiện ngày một dày đặc, và dường như, càng về già, ngài càng ở trong đó lâu hơn. Cho đến một lần, suốt một tuần trời, họ không thấy ngài ra ngoài. Vương hậu đành vượt quyền, gọi người phá cửa căn phòng. Trong bóng tối và lớp bụi dày đặc, người ta tìm thấy ngài Bá tước ngồi trên một chiếc ghế cũ kĩ đặt đối diện với cửa sổ. Đầu ngài cúi xuống, còn thân thể thì đã lạnh ngắt từ lâu. Một bàn tay ngài buông thõng đặt trên bậu cửa sổ, như thể ngài đang cố nắm lấy thứ gì đó đã vượt ngoài tầm với."
Câu chuyện của bà Diana kết thúc, cũng là lúc tách trà trên tay tôi đã trở nên nguội ngắt. Bà buông một tiếng thở dài, cho thêm củi vào lò sưởi.
"Bá tước Claythorn đã có được mọi thứ, nhưng dường như lại chẳng có gì."
Tôi bình phẩm trong ngẫm ngợi, khi nghĩ đến dáng vẻ vị Bá tước ngồi nơi tầng gác mái, cô độc cho đến khi chết.
"Bá tước Claythorn đã có thể có được Harriet, nhưng ngài đã chọn thành trì của ngài. Ngài đã có thể sống bên người mình yêu trọn đời, nhưng ngài lại chọn lựa sự giam cầm trong quyền lực và cô đơn cho tới chết. Bởi suy cho cùng, hoàng thất và những cuộc chinh chiến đã dạy ngài, cô độc nhưng kiêu hãnh trong vinh quang chiến thắng, còn dễ chịu hơn sự trốn tránh và chui lủi trong yên bình."
"Ngài còn cần trà nữa không? Tôi sẽ đi lấy một ấm mới."
Tôi chậm rãi lắc đầu. Bà Diana rời khỏi phòng, sau khi chúc tôi ngủ ngon.
Tối hôm đó, tôi trằn trọc mãi không thể ngủ. Câu chuyện về bà Diana và vị Bá tước dòng họ Claythorn cứ liên tục ám lấy đầu óc tôi. Phiền toái chẳng kém việc hoàn thành bức tranh về vẻ đẹp hoang tàn là mấy. Cuối cùng, ngay giữa đêm khuya, tôi rón rén rời khỏi phòng và đi lên tầng gác mái.
Những tấm gỗ mòn vẹt kêu kẽo kẹt dưới từng bước chân tôi như đang tuôn ra những tràng nguyền rủa. Tôi từ từ mở cửa căn phòng gác mái, và lớp bụi phủ dày trên đó suýt nữa làm tôi ho sặc sụa.
Căn phòng thấp, tối om, và đầy bụi bám. Ở gần chiếc cửa sổ duy nhất trong phòng có đặt một chiếc ghế gỗ giờ đã bị thời gian làm cho mục ruỗng. Đây có lẽ là chiếc ghế mà vị Bá tước Claythorn đã ngồi. Dường như, sau cái chết của ngài, chẳng còn ai lui đến, cũng như chẳng còn ai dọn dẹp căn phòng này.
Tôi tiến đến gần cửa sổ, đứng đúng vào vị trí của cái ghế, thử đặt mắt mình cùng tầm nhìn với con người đã từng ngồi ở đây khi xưa.
Chiếc đèn bão trong tay tôi bất ngờ rơi xuống. Đó là khi, qua khung cửa sổ duy nhất kia, tôi có thể dễ dàng trông về phía xa mà chẳng gặp phải bất cứ trở ngại nào. Từ chỗ này, dù là trong bóng tối dày đặc, tôi vẫn có thể thu trọn vào tầm mắt mình lâu đài Edinburgh- thủ phủ của nhà Laynesmith khi xưa.
Tôi nhớ lại lời bà Diana, về thân xác Bá tước Claythorn lạnh ngắt trên ghế với bàn tay vươn ra ngoài cửa sổ.
Tôi thấy mình buông một tiếng thở dài, và lồng ngực thì đau nhói như vừa bị ai đó bóp nghẹt. Thế nhưng, từ nơi sâu thẳm tâm hồn mình, tôi biết mình đang thở phào nhẹ nhõm. Bởi có lẽ, cuối cùng tôi cũng có thể hoàn thành bức tranh về vẻ đẹp hoang tàn còn đang dang dở trong đầu.
Một cơn gió ùa vào phòng, cuộn lớp bụi trên chiếc ghế mục ruỗng bay bụi mù trong không khí. Một cơn gió thổi từ phương Nam.
HẾT.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com