Chapter 2
Springs – Tháng 11 năm 1952
Lần đầu tiên khi bà nội thấy Amina Harjan, bà dường như ngất đi. Người phụ nữ lớn tuổi nhất đến Nam Phi từ Ấn Độ là nguyên nhân của một sự chấn động trong những hộ gia đình Harjan mà dường như ảnh hưởng đến tất cả mọi người ngoại trừ cháu gái duy nhất của bà. Nó có lẽ cũng làm ra một điều khác biệt với Amina, vì nó không phải là cái thực tế mà cô chỉ đơn giản là không có ở đó, và không thể được tìm thấy. Cô đã đi “làm việc” vài ngày và cô đã nói trên miếng giấy ghi chú chỉ với những chữ nguệch ngoạc ngắn gọn mà cô đã để cho cha mẹ mình ở cái bàn trong nhà bếp, và khi gia đình cô hiếm khi biết được toàn bộ thiên nhiên hay vị trí của những công việc lặt vặt khác nhau của cô đảm nhiệm hết lần này sang lần khác, không ai có thể tìm ra cô. Nó không thường là nguyên nhân cho nhiều mối quan tâm của cha cô, người mà không giống bất kỳ người đàn ông nào khác ở lứa tuổi của ông và cả xuất thân của ông, đã để cho con gái ông làm việc rất nhiều như cô mong muốn từ khi họ chuyển đến Springs vài năm trước. Mẹ của Amina là một người nhu mì, và là người phụ nữ bị kiềm hãm, và nỗi lo lắng của bà là sự im lặng, bà chỉ diễn tả lời nói bởi những đường nhăn vĩnh viễn giữa hai chân mày và trên trán. Đó là vì bà hiểu rõ nhất những rắc rối cho cuộc sống thường ngày của họ mà người mẹ chồng sắp tới của bà mang lại, và bà đã đi đến một điều bất thường là rời khỏi nhà bếp của bà và hỏi về đứa con gái đang ở quán cà phê ở Pretoria, cách khoảng một tiếng lái xe từ nhà của họ ở Springs. Jacob Williams phục vụ cho bà Harjan một ít trà, và lịch sự lắng nghe bà, nhưng giải thích rằng ông không nghe gì về Amina ba ngày qua, bởi vì cô đã làm nghề lái taxi, để chở hai người trên một hành trình dài từ Johannesburg đến Cape Town.
“Cô ấy sẽ trở lại sớm thôi, thưa bà”, ông nói, sử dụng những bản chỉ dẫn địa chỉ phổ biến cho cộng đồng Người Da Màu Cape. Ông mỉm cười khích lệ người mẹ đang lo lắng. “Cô ấy luôn luôn trở về sớm. Luôn luôn.”
Mặc dù cô ấy đã về tới, nhưng cô đã không về đúng giờ, và vì thế người phụ nữ già nua chỉ được đón bởi một mình đứa con trai của bà; không phải cả một gia đình đông đủ chào đón với dạt dào tình cảm mà bà đã trải qua một hành trình dài và kinh tởm để hình dung về nó. Ông Harjan trông có vẻ tiều tuỵ một cách rõ ràng có và gầy gò gần như trơ khung xương trong cái bộ quần áo làm việc rộng thùng thình. Ông đến nhà ga trễ một chút và thấy mẹ mình như ngồi mọc rễ ở cuối thềm sân ga, xem xét cái ga tàu đầy bụi bám và đay ghiến những người Châu Phi với sự chán ghét. Ông không nhiệt tình lắm chào đón bà, như thể ông mới thấy bà ngày hôm qua, và đưa bà đến cái xe đang nổ ầm ầm của ông, lái xe về nhà mà không biểu lộ gì, và với một chút nhận thức rằng người mẹ tàn ác của ông không thoải mái, như thể ông vừa đón một kiện hàng đóng gói mà không có tầm quan trọng gì. Bà liên tiếp lặp đi lặp lại cái danh sách bệnh tật của bà vào đầu ông như một đám muỗi nhỏ, làm người ta phát cáu, nhưng cuối cùng có một chút quan tâm.
Vào cái ngày đầu tiên đó, người phụ nữ già đã tuyên bố vị trí của mình trong gia đình, xoá bỏ bất kì sự tồn tại nào của tư cách con trai và con dâu bà, và kiên quyết áp đặt theo cách riêng của mình. Bà ngồi trong phòng khách nhỏ, trên cái ghế bành của con trai bà, như thể ngồi trong chính quyền nhà nước, và bắt đầu nhận gia đình và những người hàng xóm – một cách khoan dung, nhưng không có đảm bảo rằng họ hiểu được cái thiện ý mà bà ban tặng bằng việc gặp mặt họ. Mối quan tâm của bà về sự vắng mặt của cháu gái bà đã trở nên đáng kể, nhưng những câu hỏi của bà như ở gần nơi nào đều bắt gặp sự mập mờ không chắc chắn từ bậc cha mẹ mà bà đã thoả mãn bản thân bà với một bài giảng ngắn và để nó ở đó. Hai ngày sau đó, Amina trở về.
Người phụ nữ già nghe tiếng động cơ ngắt đột ngột ở cửa trước, và từ chỗ ngồi của bà gần cửa sổ, bà kéo cái màn cửa vải màu xám được treo yếu ớt ở trên tấm kính và nhìn ra ngoài. Bà không thể phân biệt được nhiều, nhưng có cái gì đó làm bà phải khó khăn nhìn chằm chằm vào người con gái vừa nhảy xuống từ cái xe tải nhỏ chở hàng đang đậu ở ngoài đó, và bà thấy người mẹ đang vội vã từ cửa sau, thì thầm năn nỉ với con gái bà và ra hiệu vào phía trong nhà. Bà thấy Amina gật đầu và cười và thấy cô dỡ bỏ cái gì đó – nó trông giống như những túi bột mì – từ cái xe và đưa chúng cho người hầu, Rosemary, người đang nở nụ cười chào đón cô. Amina sau đó đưa cho mẹ cô hai cái áo đầm, giữ chúng đẩy lại phía mẹ mình, người đang xếp chúng một cách nhanh chóng trên tay cô. Người phụ nữ già cau mày – con bé cần đồ mới để làm gì chứ? Bà ngồi lại trong ghế bành, và một cái cau mày trên gương mặt tròn của bà, khi Amina sải bước vào trong nhà, và đi qua cái cửa ngăn. Cô bước vào và bà cô thấy cô xuất hiện và đang mặc là cái quần dài làm việc cũ của cha cô, với dây đeo quần và áo sơ mi cổ ngắn. Cô cũng mang một cái mũ rộng vành, giữ nó trên cái trán cao và vì thế nó giữ lại hầu hết những lọn tóc đen, dài mà nếu không nó sẽ phủ hết xuống mặt cô. Cô nhìn như một trong những người công nhân Boer người mà đến những trạm xăng của cha cô để mua xăng cho những chiếc xe tải của họ.
“Chúa tha thứ cho chúng ta”, người phụ nữ già thì thầm với bản thân. Con bé không bao giờ trông hoàn toàn nghiêm trang hay tỏ ra ngoan ngoãn ở Ấn Độ, nhưng điều này là thứ khác. Một cái mặt nạ của sự kinh tởm cứng ngắt trên gương mặt bà, và khi Amina bước vào trong phòng, cao ráo và mỉm cười, cô ngừng lại nhanh chóng, và hoảng sợ trước biểu hiện của bà nội cô. Theo cái nhìn của người phụ nữ già thì cô ngay lập tức hiểu ra, dĩ nhiên là sự bực mình là do bộ quần áo, thái độ và cái cách mà cô thể hiện bản thân cô. Hơn sáu năm qua trong cuộc sống của mình ở nơi này, Amina đã sống sao cho phù hợp với những mong muốn của cô, và cha mẹ cô dường như là, nếu như họ không thể hiểu được, thì ít ra cũng đồng ý cho đứa con gái duy nhất của họ cái mong ước được tự do. Họ đã đủ mòn mỏi trong những năm qua, và những nổ lực của họ nhằm kiềm hãm Amina đã trở nên công cốc ngay cả khi cô chỉ là một đứa trẻ. Ngay từ khi mới biết đi ở India, mẹ cô đã lạc mất cô ít nhất một hay hai lần trong một ngày. Cả căn nhà đã được lục tung lên, người hầu và người trông trẻ thì bị tra hỏi, khu vườn nhỏ bị lùng sục, và cuối cùng đứa trẻ cũng được tìm thấy, đang thám hiểm ở một vài nơi nào đó, mỉm cười và gật cái đầu tóc xoăn với những người phụ nữ đang nhẹ nhõm vây quanh cô. Chỉ có một người hầu, một cô gái trẻ lanh lợi ở tuổi mười chín, người mà tỏ ra đủ năng lượng như một đứa trẻ biết đi, mới có thể giữ được cô. Nhưng cô ấy chỉ ở với gia đình Harjan trong một năm, trước khi trốn đi với người hầu nam nhà hàng xóm, và sau đó, không ai có thể kiểm soát được Amina. Cô không phải là một đứa trẻ hư – tất cả những ý nghĩ về việc không ngay thẳng, hay lừa đảo rất xa lạ với cô; nhưng năng lượng của cô và sự tò mò thì vô hạn, và cha mẹ trầm lặng của cô dường như đối mặt rất chậm với những câu hỏi trong đầu và những hành động không thể kiềm nén được của đứa con gái đang lớn của họ.
“Đáng lẽ con nên sinh ra là con trai mới đúng”, mẹ cô đã nói với cô một cách mệt mỏi, hơn một lần, và nhận xét này làm cô bối rối, và tổn thương cô. Cô đã suy nghĩ sâu sắc về điều đó, và suy nghĩ về tất cả mọi thứ. Cô thích chơi thể thao với bọn con trai ở trường, và cô làm rất tốt bài tập ở trường – khi có giữ được sự chú ý của cô – và cô muốn làm việc ở một công ty hay kinh doanh gì đó khi cô lớn lên. Tại sao những điều đó chỉ phù hợp với con trai? Nghỉ học ở trường và phải lập gia đình không có ý nghĩa gì với cô cả, nó cũng không có bị phản đối, và dù nó đã ăn sâu vào trong ý thức của tất cả mọi người xung quanh cô, nhưng với cô nó hầu như vẫn còn nằm ở phía bên kia của nhận thức. Cô cảm thấy vào thời gian đó cô như đang sống ở một vũ trụ khác, hít thở một bầu không khí khác với những người kia, và khi lớn lên cô đã tìm thấy nơi trú ẩn của mình trong công việc và những quyển sách. Cô sẽ làm bất cứ công việc lặt vặt nào mà cô tìm thấy, mặc dù chỉ là trong nhà của cha mẹ cô – không có cơ hội cho cô để làm một việc thủ công ở bất kỳ nơi nào khác – và khi ngôi nhà và khu vườn đã trong tình trạng hoàn hảo, cô đọc sách. Những cuốn tiểu thuyết cũ tả tơi, thơ và hồi ký đi theo nhau vào một lớp học khiêu vũ qua nhận thức và tưởng tượng của cô, và với mỗi nhận thức của cô về thế giới và sự đa dạng của nó ngày càng rộng thêm.
Cô cuối cùng rời khỏi trường học vào năm mười sáu tuổi, vì cha cô đã quyết định di cư. Nhiều năm qua, ông đã nghe những câu chuyện từ những gia đình khác về những thời cơ tuyệt vời ở Nam Phi, nhưng thậm chí ngay khi đang làm việc ở một công việc kiểm toán nghèo nàn mà ông khinh thường, ông cũng không dám mang cái ý nghĩ di chuyển đến đó, không phải khi mà mẹ vợ ông còn sống. Ông biết rõ rằng bà còn mang những vết sẹo của thời gian khi bà ở đó, trong những khúc xương biến dạng, bầm tím của cơ thể bà, và trong ký ức đầy sự tàn bạo và bị ngược đãi trong tâm trí bà. Amina đã học hỏi rất nhiều từ Belgum, hầu hết những kiến thức hoặc lời khuyên mà những người phụ nữ bằng tuổi với bà ngoại cô chỉ dám tự học, mà không truyền đạt cho những cô gái trẻ nhạy cảm. Bà ngoại cô nói chuyện với cô về niềm tự hào, sự tự lập, và sự can đảm. Có nhiều điều cần được trau dồi, bà đã nói với cháu ngoại mình, và không có thái độ nô lệ vào những trách nhiệm và những truyền thống mà đã được xây dựng trên sự phụ thuộc, nỗi đau và sự sợ hãi.
Amina biết rằng lời khuyên này rất tốt, vì nó khơi gợi trong ý thức tự nhiên của cô về sự chính trực và công bằng, nhưng sự khâm phục của cô vẫn còn rất trừu tượng, vì cô không có kinh nghiệm trong những nỗi kinh hoàng mà mà cô đã nói. Vì thế, một vài tháng sau cái chết của Belgum, và khi cha cô quyết định rằng họ nên chuyển đến Nam Phi, Amina thấy không có hứng thú với cái ý tưởng đó, cũng như là cô không vui. Sự đau khổ mà bà ngoại cô đã phải chịu đựng là những gì mà cô tôn trọng, nhưng cô biết là cô không thể ghét cả một đất nước bằng tư cách của một người nào khác, thậm chí là của Belgum. Ở tuổi mười bảy, tương lai xa không hơn sáu tháng tiếp theo, và trong sáu tháng, cô biết cô sẽ phải đi nửa vòng đại dương đến Châu Phi với cha mẹ mình.
Vào buổi sang mà họ cập cảng, cô dường như đã đứng một mình trên bong tàu vào lúc tảng sáng, và đã quan sát đường bờ biển dâng lên ở một nơi xa xôi hẻo lánh, ngoài đại dương, sạch sẽ và sáng chói như các góc của bản đồ, và cô mỉm cười khi thấy nó. Cô có thể nhìn thấy được một chút ngoại trừ cái vành đai màu vàng của bờ biển, nhưng chúng dường như không có điểm dừng, và cùng lúc đó, cô đã thấy mình như đang ở nhà, thả lỏng, hít thở và sự tự tin bẩm sinh của cô đã hoà quyện với sự đồng cảm trước mắt với đất nước mà họ đang tới gần, và nó cho cô một sức mạnh ý chí rằng không một ai có thể kiềm chế được. Và cha mẹ của cô đã ngừng cố gắng làm điều đó từ rất sớm. Lướt qua những nỗ lực nửa vời mà họ đã cố gắng làm ở Ấn Độ để cho con gái họ có thể thích ứng, và chấp nhận những qui tắc, đều hoàn toàn bị rũ bỏ ở Nam Phi. Gia đình họ đã đi thẳng từ Durban đến Pretoria, nhưng họ đã không duy trì liên lạc với những người đồng hương ở những vùng Asiatic Bazaar (vùng những đất nước Châu Á được chính phủ Mỹ đánh dấu có thái độ tiêu cực với những người Châu Á nhập cư đầu thế kỷ 20, từ năm 1917 – 1952), thay vào đó họ chọn một ngôi nhà, một công việc kinh doanh, một trạm xăng – bên ngoài Pretoria, ở Springs, nơi những áp lực về sự phù hợp được loại bỏ phần lớn từ cha Amina. Mẹ cô đã bị ném vào một cuộc sống khó khăn hơn thời gian họ ở Ấn Độ, tiền vệ sinh hàng tuần của bà được đếm cẩn thận, và họ không có người giúp việc – ngoại trừ Rosemary, người luôn giúp đỡ hàng ngày sẽ không phải luôn luôn làm việc khi bà cần. Và Amina, thay vì giúp đỡ mẹ cô trong nhà bếp, lại thường làm việc với cha cô trong nhà để xe. Bà Harjan không thể làm gì ngoài việc lo lắng quan sát con gái bà bơm xăng, làm sạch kính chắn gió, và thường rơi vào cuộc sống của riêng nó trong nơi ở mới này. Đất nước hoang dã và không có sự phán xét này phù hợp với Amina như một bộ quần áo được cắt may kỹ, và nó rất thoải mái và là sự tự tin của cô, mà điều đó bây giờ đã được xây dựng dần lên trong nhiều năm, và nó làm cho bà nội – người đang ngồi trước mặt cô không yên. Amina đã hoàn toàn thiếu đi cái vẻ bề ngoài ngoan ngoãn và khiêm tốn mà rất được trông mong – và mặc dù bà nội cô hiểu sẽ không có điều này, và nghĩ đó là do cái quần và cái dây đeo quần đã làm cho bà kinh hoàng, nhưng thực sự là do phong cách và thái độ của cháu gái bà là sự sỉ nhục nhất.
Tuy nhiên, người phụ nữ già nua đã không chịu nhượng bộ. Thực tế là bà phục hồi rất nhanh chóng, với những điểm chính của bài diễn thuyết của bà với con trai bà và vợ của nó (người mà phần lớn phải bị khiển trách, bà chắc chắn) đã được hình thành trong đầu bà. Ngay thời điểm đó, tuy nhiên, trước khi bà có thể nói bất cứ điều gì với Amina, cô gái đã tự giải thoát bản thân mình. Bây giờ, cô đã khá trong việc sử dụng những cách thức của sự phản ứng, đặc biệt là từ những người lớn tuổi trong gia đình, và những phương pháp xử sự của cô với họ đã dần dần dễ dàng hơn từ sự giận dữ và sự tự vệ, cho đến khi họ đạt đến cái cách thức lịch sự của việc loại bỏ những gì mà cô đang thực hiện.
Amina ngay lập tức quay lại, bỏ mũ ra, và chào đón bà nội mình bằng một số từ Gujerati chào hỏi một cách trang trọng và chính xác. Sau đó cái nón đã nằm lại trên đầu cô, và trước khi người phụ nữ già nua thậm chí có thể trả lời, cô đã đóng cái cửa ngăn đằng sau cô.
“Chúa tha tội cho chúng ta”, bà nội cô thở một lần nữa, như là xua đuổi một bóng ma kinh khủng. Bà ngập ngừng đứng dậy và di chuyển nhanh hết mức như thể bà có thể kéo tấm màn của cửa ngăn. Bằng thời gian mà bà có thể kéo nó sang một bên và nhìn qua lớp kính mờ, cháu gái bà đã đi mất, và tất cả những gì còn lại gợi nhớ về nó là vết bánh xe tải và một cơn lốc của bụi trong không khí chốc lát và sau đó rơi từ từ xuống mặt đất.
Delhof
Trong năm đầu tiên ở nông thôn, khi nằm trên giường vào buổi tối, đầu Miriam sẽ đau với im lặng. Nó quá lớn, và nó dường như đến cuốn xoáy xuống từ bầu trời, như thứ gì đó lạnh lẽo và vững chắc. Đặc biệt là bây giờ, trong mùa đông. Không có những con côn trùng hay dế kêu lên để tạo ra thậm chí là một lỗ hổng trên bức tường của sự im lặng. Sau đó Miriam sẽ nhắm chặt mắt lại, và buộc bản thân mình lắng nghe hơi thở của Omar, trong giấc ngủ sâu, dữ dội của người đàn ông nằm bên cạnh cô. Tiếng sột soạt, trượt đầu lên trên gối – trong một đêm dài, cô đã tấn công những âm thanh đó như một người ăn mày trên một cơn mưa tiền.
Vào lúc năm giờ hoặc năm giờ ba mươi cô sẽ thức dậy, luôn thức dậy trước khi ánh nắng của buổi sáng sớm hay tiếng tiếng gáy của chú gà trống choai ở trang trại kế tiếp họ. Cô luôn thức dậy sớm như lúc còn con gái ở Ấn Độ, nhưng thói quen thức trước bình minh chỉ được hình thành sau khi cô kết hôn và đến sống với nhà chồng ở Pretoria. Mặc dù Omar luôn kiên quyết với sự tự tin nghĩa là anh thường xuyên chịu trách nhiệm về gia đình mình, anh trai Sadru của anh lớn hơn, và Farah vợ anh ấy, đã được ưu tiên hơn Miriam trong hệ thống phân cấp tinh tế của những người phụ nữ trong một căn nhà. Chị của Omar ở trên cả hai người họ, nhưng cô ấy đần độn và bị bệnh, và Farah dễ dàng kiểm soát chị ấy bằng những cái tát và đánh đập. Miriam không thích thái độ hách dịch và sự lười biếng của Farah, nhưng cô không có được sự lựa chọn ngoài việc chấp nhận chúng và để bù đắp cho sự thiếu sót của bahbhi (chị – tiếng Hindu) bằng cách làm việc chăm chỉ hơn trong nhà bếp. Mỗi buổi sáng cô buộc phải rời giường vào lúc năm giờ sáng để bắt đầu chuẩn bị bột nhào cho rotlis (bánh mì – Ấn Độ) của bữa sáng. Với một cái lắc đầu, Miriam đặt những hồi tưởng sang một bên và trượt ra khỏi giường.
Cô chẳng phải nỗ lực gì nhiều để giữ im lặng – cô là ánh sáng tự nhiên trong những hoạt động của mình. Dù sao, đây cũng là lúc chồng cô phải thức dậy, và anh biết điều đó, và từ từ hoà mình vào trong những sự thay đổi tinh tế của những hoạt động của vợ mình xuyên qua căn phòng, ra phía ngoài trong cái phòng tắm lạnh lẽo, và quay trở lại hành lang một lần nữa, khi anh có thể nghe cô dừng lại trước cửa phòng bọn trẻ, trước khi cô bước xuống cầu thang. Trong cái ánh sáng mờ mờ của buổi sáng ở nhà bếp, cô có thể thấy Robert, cậu bé mà Omar đã thuê để giúp việc trong cửa hàng, đã thêm đủ than đá mà có thể cháy cả ngày trong lò. Robert nhìn quanh với nụ cười, cái bao tải chất đốt vẫn trong tay cậu ấy. Nó được khai thác gần Witbank, nó rất phong phú và giá thì rẻ. Miriam lặng lẽ chúc cậu ta “Buổi sáng tốt lành”, mà không phải không có một chút lúng túng nào. Cô vẫn thường hay giúp đỡ mẹ trong thời gian niên thiếu, nhưng bằng cách nào đó khác nhau. Thái độ của Omar với người Châu Phi luôn luôn trịch thượng một chút, và thường cay nghiệt. Việc ra lệnh gay gắt thường không đến một cách tự nhiên với Miriam, nhưng anh đã bảo cô phải mạnh mẽ với họ, và cô cảm thấy cô buộc phải cố.
Cánh cửa phía sau nhà mở ra và người canh gác đêm bước vào. Họ đã sớm nhận ra rằng ở vùng nông thôn này, cũng vẫn là một phần của Pretoria, có một người canh gác vào ban đêm là rất cần thiết.
“Bọn kaffirs”, Omar đã nói. “Chúng có thể trộm bất cứ thứ gì”.
Và mỗi buổi tối, khi cửa hàng đóng cửa vào ban đêm, John sẽ đến, cao lớn, to con, mái tóc được cạo sát đầu của ông gần như màu xám. Cô sẽ thấy ông tới gần cửa hàng khoảng hai mươi phút trước khi ông thực sự tới nơi, ông xuất hiện ở phía chân trời từ một vài nơi nào đó chưa biết mà cô nghe nói tất cả những người Châu Phi sống cùng nhau. Ông sẽ giúp Omar kéo các bảng hiệu vào trong cửa hàng từ hiên nhà, và cánh tay dài gầy guộc của ông, mặc dù già hơn chồng cô, làm công việc nhẹ nhàng là khoá chặt các móc khoá khác nhau. Ông sẽ gật đầu với sự tôn trọng để chào Miriam, nhưng ông luôn kiên định trong việc lịch sự từ chối những đề nghị nhút nhát của Miriam về việc cung cấp cho ông nước uống hay một ít thức ăn, cho đến khi cô ấy tới để thấy rằng cô không nên hỏi thêm nữa. Ông sẽ ngồi xuống nghỉ qua đêm trên cái ghế của mình, trên một góc của hiên nhà, trước một cái xi lanh bằng thiếc nhăn nhúm, và với một vài hòn than đá đang cố gắng để giúp ông không bị đông cứng. Thỉnh thoảng, khi mà thức khuya, ngồi trước cái máy may trong nhà bếp, Miriam sẽ quan sát John, khi ông đi qua lại trước cửa sổ, và cô có thể thấy những hòn than cháy đỏ, kêu xì xì liên tục bây giờ và sau đó, đặc biệt là khi gió thổi qua. Khoảng thời gian vào giữa đêm, John sẽ mở ra một bọc vải, và lấy ra một phần mealies (bắp, ngô – Nam Phi), ngô xay mà cô đã thấy chủ yếu ở đây người ta xem nó như gạo ở quê nhà. Và ông sẽ trở vài lần trên lửa nóng trước khi ăn nó.
“Ông khoẻ không John?” cô hỏi.
“Tôi khoẻ, thưa bà, tôi khoẻ”. Ông quan sát Robert cời cái lò với không khí của một sự quan tâm đối với ông bac1, và ông cảm thấy hài lòng rằng thằng bé đã làm cái công việc rất chính xác, ông quay lại và mở cánh cửa sau.
“Hẹn gặp tối nay, thưa bà”, ông nói, và Miriam vẫy tay chào tạm biệt.
Robert khuấy than thêm một lúc, và sau đó đóng lại cánh cửa đen nặng nề.
“Tôi có thể lấy bột không, thưa bà?”
Cô xoay lại phía cậu ta. Cậu bé mới mười lăm tuổi, và bị tật nhẹ do một vài tai nạn trong thời thơ ấu của mình – khi cô hỏi cậu về nó, cô đã không hiểu được nhiều về tiếng Anh của cậu, một ngữ điệu khác với của cô, và vì thế một số tiểu tiết đã bị mất. Cậu bé nhỏ con, thấp hơn cô một chút, và có một hàm răng trắng sáng. Cô gật đầu và quan sát bằng một góc mắt trong khi cậu cúi xuống cái bao tải và cân đong ra ngoài hai chén đầy, và cô ngạc nhiên một lần nữa khi nhìn vào những lọn tóc chặt chẽ dữ dội và làn da màu cà phê sậm màu của cậu, hơi khác một chút so với màu da đen như mực của John. Cô chưa bao giờ thấy một người da đen trong suốt hai mươi năm đầu đời của mình.
“Em không được thân thiện với họ”, chồng cô đã nói với cô như thế. “Nếu họ nghĩ em yếu đuối, họ sẽ tận dụng lợi thế. Bắt họ làm việc. Đó là lý do họ ở đây”. Cô đã lắng nghe, và đã có hàng trăm câu hỏi về “họ” mà cô đã không dám hỏi người chồng mới của mình, và vì thế cô chỉ biết gật đầu và đồng ý với anh. Ở trên lầu, cô có thể nghe tiếng bước chân thỉnh thoảng cọt kẹt trên sàn nhà và cô biết rằng Omar đã lên trên đó, và đó là sự vô ý của anh, những bước chân nặng nề sẽ đánh thức lũ trẻ.
Nhưng dù sao nó vẫn tốt hơn là ở Pretoria. Ở đó không có sự yên tĩnh vào buổi sáng sớm – hay bất kỳ thời gian nào. Ít nhất, bhabhi sẽ thức với cô, và âm thanh của tiếng nói chuyện của hàng xóm, và tiếng khóc của con cái họ sẽ xuyên qua những bức tường mỏng và đến từ phía bên kia đường. Và sau đó cô phải cho chị Jehan của Omar ăn và tắm rửa cho chị ấy, người luôn nói chuyện thất thường và cười lớn và dường như bắt đầu trước bất kỳ một người trong số họ hoàn toàn thức dậy.
Cô lấy bột mì từ Robert với vẻ biết ơn. Và ở cửa trước, cậu bé tìm thấy sữa mà bà Morris, chủ tá điền da màu mà gần họ nhất để ở đó mỗi buổi sáng. Nó nằm ở đó trong bóng tối của buổi sáng sớm, vẫn sủi bọt và còn âm ấm. Robert mang một cái bình to, với những bước chân nhỏ nhanh chóng, vật lộn dưới cái sức nặng của nó. Sữa có mùi tươi, không bị ôi thiu, giống như những cái chai cũ mà họ đã chia sẻ ở Pretoria. Một trong những nghĩa vụ của Miriam vào mỗi đêm, sau khi nấu ăn, phục vụ thức ăn và dọn rửa đi bữa ăn tối, sau khi đưa lũ trẻ lên giường, và sau khi ủi áo cho Omar, là làm một ly sữa cho Jehan. Anh rể cô đã yêu cầu cô làm việc đó, với cách nghĩ ngớ ngẩn của anh ta, vì anh ta tin rằng nó sẽ làm dịu đi cái đầu của chị gái anh ta trước khi đi ngủ, và người vợ của anh ta hiếm khi nào chịu động tay làm như anh ta mong muốn. Nhưng Farah luôn trút những thứ cặn bã cũ cho Jehan, và Miriam đã học để không phản kháng, hoặc những đứa con của cô cũng sẽ phải uống sữa thiu khi cô không trông chúng. Cái mùi sữa đó, trong căn phòng tối tăm ngột ngạt của Jehan luôn làm Miriam muốn bệnh. Và những thời điểm đó, sự buồn nôn vì thiếu ngủ và những cơn váng đầu do đói, cô sẽ nhớ những lời của mẹ mình đã nói khi Miriam đã do dự về lời cầu hôn của Omar.
“Cha mẹ của nó đã chết”, bà nói với cô. “Điều đó sẽ làm cho cuộc sống của con dễ dàng hơn, bởi vì chẳng có người mẹ nào sẽ vui vẻ với vợ của con trai mình đâu”. Đến Nam Phi với nó và hãy biết ơn khi không có một người mẹ chồng sẽ bắt con làm việc như một nô lệ”.
Không có mẹ chồng, có lẽ thế, nhưng Farah đã cố gắng hơn trong việc làm cho cuộc sống của cô trở nên khốn khổ. Ít ra thì bây giờ còn có John và Robert cười với cô. Miriam quan sát bình sữa với sức nóng của nó và gợi lại khoảng thời gian ở Pretoria khi mà chẳng ai cười với cô trong mười ngày trời.
Pretoria, Tháng Chín năm 1951
Cô biết nó được mười ngày rồi bởi vì cô đã đếm trong đầu. Người cuối cùng mỉm cười với cô là người bán thịt sạch cho Đạo Hồi khi cô đến cửa hàng của ông vào thứ Năm tuần trước. Cô đã trở lại kể từ lúc đó, và đã hi vọng người bán thịt sẽ phá vỡ đi cái chuỗi ngày mà cô đã tính, nhưng người đàn ông đó đã quá bận với việc cắt thịt một con cừu mới, và hầu như không nhận ra cô.
Farah mỉm cười và sau đó, nhưng không bao giờ, nó dường như là không có niềm vui thực sự. Chắc chắn là có một số chiều hướng mạnh hơn hoặc che giấu niềm chiến thắng trên gương mặt chị ta mỗi khi cười với cô và đã làm cho Miriam giảm đi việc muốn nhìn thấy hàm răng từ bhabhi của mình.
“Cô làm cái gì với miếng thịt đó thế? Chẳng còn lai gì cả.”
Giọng nói của Farah cắt ngang sự mơ mộng của cô và mang sự chú ý của Miriam quay trở lại với đống thịt cừu đang nằm trước mặt. Với những lần cắt kéo léo của con dao, Miriam đã cắt đi những góc thịt mỡ và loại bỏ những dâu tích của gân.
“Chồng em thích thịt được làm sạch”, Miriam đáp. Cô đã bị rầy la vào tuần trước khi để quá nhiều thịt mỡ trên những miếng thịt cừu mà sẽ được cho vào nồi cà ri.
“Chồng em thích thịt sạch”, Farah nhại giọng. “May quá, chồng tôithích ăn tất cả những loại thịt mà anh ấy phải trả tiền để có, và không phải cắt bất cứ thứ gì vì nó sẽ chẳng còn gì nữa”.
Miriam ngay lập tức buông con dao xuống và bắt đầu xếp thịt vào trong một cái tô lớn để rửa, trước khi nó được thêm hành mà đã được nấu vàng trên bếp.
“Chị đừng lo”, cô nhẹ nhàng nói. “Bao nhiêu đây sẽ đủ cho họ”.
“Phải, nhưng còn cô và tôi thì sao?” bhabhi của cô hỏi.
Miriam rửa sơ miếng thịt. Cô biết rằng Farah sẽ không chịu đi mà không được chia phần bất cứ thứ gì, và nếu như nó bị thiếu phần, thì bản thân Miriam sẽ là người bị mất phần.
“Có thể”, Miriam đơn giản nói, “chúng ta nên mua nhiều thịt hơn là bột để làm rotlis…”
“Chúng ta chẳng có đủ tiền để mua thêm bất thứ cái gì nữa”, Farah nói. “Thật đáng ngạc nhiên là tôi đã xoay sở được đủ thức ăn trên bàn với tất cả những gì mà họ đưa cho tôi.”
Miriam bắt đầu gọt vỏ và bổ những quả cà chua chín rục mà Sadru mang về từ chợ, những quả mà quá mềm để làm bất cứ thứ gì ngoài nấu nó. Miriam biết Farah đang nằm và rằng chị ta đã lấy một phần tiền dọn dẹp nhà cửa để mua quần áo và những món đồ nữ trang rẻ tiền cho bản thân và những đứa con của chị ta, nhưng mà Miriam không có cách nào để phản đối. Omar đã từ chối đưa cho vợ mình số tiền chung của họ – nó là Farah đang lo việc nhà, anh nói với cô, và anh không muốn gây ra những rắc rối.
Tối hôm đó, khi những người đàn ông ngồi xuống và ăn cùng nhau ở bàn ăn, Miriam nhanh chóng làm những quả bóng mềm, nhào bột mềm vào trong những cái vòng tròn hoàn hảo. Cô nhẹ nhàng nhặt chúng lên, đưa chúng trở lại về phía trước giữa hai lòng bàn tay đang mở của cô, và đặt chúng trên cái chảo gang nóng. Cô chờ cho chúng được nấu chín trong sự kiên nhẫn, chuyển trọng tâm từ chân này sang chân kia để làm giảm bớt sự đau đớn ở hai đầu gối của cô. Cô đã đứng suốt từ năm giờ ba mươi sáng hôm đó. Chỉ có một vài lần đi vào nhà vệ sinh mới cho cô một chốc lát được ngồi. Cô kéo cáirotlis ra ngoài với những ngón tay mà từ trước đó rất lâu đã trở nên chai lì với sức nóng của lửa bếp. Ngay khi những mảng màu nâu được hình thành và trải rộng ra khắp bề mặt, cái bánh mì được lấy ra khỏi chảo, được đặt trên dĩa, và bề mặt thì được trét bơ. Khi nào mà hai hoặc ba cái sẵn sàng, cô sẽ mang chúng vào, vẫn còn nóng, cho những người đàn ông, và cho Farah, người bây giờ đang cùng tham gia với họ.
“Đến đây và ăn đi”, Omar nói với cô. Miriam nhẹ nhàng gật đầu, nhưng trước khi cô có thể ngồi xuống, Jehan bắt đầu gọi to từ căn phòng của chị ấy. Chị ấy hét to, một tràng dài những từ ngữ vô nghĩa. Những người đàn ông ngước lên, nhưng Farah vẫn tiếp tục ăn.
“Em cho chị ấy ăn chưa?” Omar hỏi cô. Miriam gật đầu, và đến xem thử chứng ảo giác hay những giấc mơ đã quấy rầy chị của chồng cô.
Jehan nhanh chóng được xoa dịu. Miriam ở với chị ấy khoảng mười phút, vuốt ve trán và thì thầm những câu trả lời không rõ ràng với những lời nói mà chị ấy đã nói. Khi cô quay trở lại nhà bếp, Farah đã đặt những cái dĩa trống rỗng vào bồn rửa chén. Đĩa thức ăn đã không còn gì, vì thế Miriam đứng chỗ cái ấm, và quét sạch nước chấm còn lại trên mặt đĩa với cái rotli nguội ngắt và ăn nó. Một lần nữa, không ai cười với cô; không phải là Omar khi anh trở về nhà từ chỗ làm – thậm chí không phải là Sadru, người có tính nết hiền lành bên dưới vẻ bề ngoài to lớn, thô lỗ, và là người luôn tôn trọng cô nhất. Cô nhấn tay vào phần đau bên dưới cái lưng mình, ngày hôm nay cô đã bế con trai cô quá nhiều, nhưng vì nó sợ con gái của Farah, con bé lớn hơn và mạnh hơn nó. Cô sợ hãi việc Sam và Alisha bị vây quanh bởi những đứa con có cách cư xử tồi tệ của chị dâu, nhưng cô đã thấy một chút lối thoát. Cô đã học hỏi, đã suy nghĩ, qua việc lắng nghe câu chuyện của những người phụ nữ khác, và từ bản thân Farah, đó là việc tạm thời ngừng mang thai, ít nhất là trong một khoảng thời gian nữa. Sự đòi hỏi của Omar đối với cô đã ít hơn khi cả hai người bọn họ đều ngày càng kiệt sức, nhưng tuy vậy, cô đã phải cố gắng làm điều đó từ lúc sinh đứa con thứ hai.
Ngày tiếp theo, cái bầu không khí trong phòng tắm có ít cửa sổ làm cho Miriam cảm thấy buồn nôn một lần nữa, khi cô di chuyển khắp sàn nhà với cái bàn chải cọ sàn, hai đầu gối lạnh ngắt của cô đương đầu với sàn nhà lát đá,. Cô làm nhanh chóng, và cánh cửa đột ngột mở ra, chút nữa là đập vào mặt cô. Cô nhìn lên. Mắt Farah mở to, hai tay đập vào nhau khi chị ta nói.
“Họ nói chúng ta có thể đi. Đến cà phê Bazaar. Để ăn trưa”.
“Hai chúng ta hả?” Miriam hỏi, khó khăn mạo hiểm để tin rằng cô sẽ được thêm vào một phần của sự may mắn này.
“Tất cả chúng ta”. Farah trả lời, vào đảo mắt. “Họ bắt tôi hứa rằng phải dẫn theo mụ điên kia. Họ muốn cho chị ta một buổi đi chơi”. Chị ta xoay lại để rời đi, dừng lại để liếc Miriam một lần nữa.
“Nhanh lên!” chị ta nói. “Đi chuẩn bị sẵn sàng đi. Tôi phải thay đồ”.
Khi Miriam mặc đồ cho Jehan, cô hát cho chị ấy nghe một giai điệu, một bài hát tiếng Hindi từ một bộ phim mà đã nổi tiếng nhiều năm trước ở Bombay. Cô mỉm cười khi hoàn tất công việc, và Jehan cũng cười, cảm nhận một chút ánh sáng trong tâm hồn mà đã không còn cảm thấy trong căn nhà này nhiều tháng qua. Vì đây là lần đầu tiên từ khi cô đến Nam Phi mà Miriam có thể ăn một bữa mà bản thân không cần đụng tay để chuẩn bị. Cô sẽ được ra ngoài, mà không phải để đi mua sắm, hay là phải nghe những tin đồn từ những người phụ nữ là bạn của Farah hay là hàng xóm. Và cô cuối cùng có thể gặp Amina Harjan, chủ đề của hầu hết những câu chuyện phím, bằng tận mắt mình.
Miriam biết cô ấy, tất nhiên, tất cả mọi người ai cũng biết. Mặc dù cô ấy thiếu sự phù hợp, nhưng cô ấy vẫn là người Ấn Độ, vẫn là một cô gái trẻ chưa lập gia đình, và sự tự do của cô ấy dường như không có giới hạn, và chẳng để ý tới sự đúng mực, là mối quan tâm của tất cả mọi người ở Asiatic Bazaar. Cái cách ăn mặc của cô ấy, cái sự thật là cô ấy chỉ vừa mở một công việc làm ăn (“với một người Da Màu”), thậm chí là hình của Belgum được treo lên đầy tự hào ở quán cà phê – tất cả những sự thật chỉ cung cấp cho những sự hiếu kỳ xung quanh cô ấy. Họ đã sợ hãi, kinh tởm và bị sốc, nhưng nhiều người bắt đầu là khách quen của tiệm cà phê của cô vì họ thích thức ăn, họ thích cái không khí, và họ thích những cái giá tiền ở đó.
Thái độ chung của Miriam với Amina ngày đó chỉ là một phần tò mò, với cái cảm giác ban đầu của sự phản đối. Vì bạn của Farah đến nhà chơi ít nhất hai lần một tuần để tán gẫu. Họ sẽ mang những cái hộp da cứng, xoài xanh ngâm được cắt ra, hay có tuần bỏ công ra ngồi bóc vỏ củ tỏi khô, và trong lúc làm họ sẽ nói chuyện. Nhìn xuống đống đinh hương bóc vỏ của cô, Miriam chỉ thấy những ánh sáng sắc bén của mười hoặc mười hai lưỡi dao trong không khí tĩnh mịch xung quanh cô khi họ bổ và rạch, và cô đã lắng nghe khi họ thực hiện một công việc triệt để là đổ lỗi cho người bà quá cố của Amina vì tội lỗi của cháu gái bà.
“Bà ta đã hướng cô ta đi sai đường từ khi bắt đầu. Dạy dỗ cô ta quá tự hào và cao hơn cả bản thân cô ta quá. Nơi nào mà nhận bạn chứ?”
“Nhưng Belgum đã có một cuộc sống khó khăn…”
“Nếu bạn dính tới bọn da đen, bạn có thể trông chờ một cuộc sống khó khăn…”
“Bà ta thậm chí còn không cảm thấy bất kì một nỗi xấu hổ nào. Tưởng tượng xem. Không biết xấu hổ. Và cô ta cũng y chang như vậy. Thật tôi nghiệp cho bà mẹ”.
Miriam hoàn thành việc thay đồ cho Jehan và cả hai người bọn họ phải chờ sự xuất hiện của Farah. Bhabhi của cô, gần như phát ốm với tình trạng phấn khích khi được đi ăn ở ngoài, đã ăn mặc như đi đám cưới, một cái áo shalwaar kameez (áo truyền thống dành cho cả nam và nữ ở Nam và Trung Á) màu hồng đậm, trong khi bản thân Miriam mặc một cái váy hoa đơn giản và áo choàng. Lúc đầu Jehan không thể bị thuyết phục để ra khỏi phòng, và nói chuyện liên tục trong khi Farah la hét và lừa phỉnh, và cuối cùng tát chị ấy để ngăn lại một tràng nói chuyện vô nghĩa. Với cái dấu tay còn ở trên mặt, Jehan lập tức im lặng, và sau đó chị ấy cười, những tràng dài, như muốn chia sẻ một câu chuyện cười với người tấn công chị ấy. Nụ cười bất thình lình mà rất lâu rồi đã làm cho Miriam ngạc nhiên, nhưng nó rất phi tự nhiên, cái cách mà nó tuôn ra dù không có lý do hay sự báo trước vẫn làm cô rùng mình. Cô đã nghe nó vào đêm đầu tiên mà cô và Omar đến Nam Phi. Cô vừa bước vào nhà anh rể, hồi hộp, ngượng ngùng, nhỏ bé bên cạnh chồng mình, với cái đầu cúi xuống và trái tim đang đập dồn, và cô thấy bản thân mình ở giữa một trận cãi vả với tiếng hét thất thanh.
Hai đứa trẻ bé xíu ngồi im lặng và lo sợ trên sàn nhà bên dưới cái bàn, và quan sát cha mẹ chúng, gia đình chồng của Miriam, đang hét vào mặt nhau. Hay đúng hơn là, anh trai của Omar hét lên – Farah sau đó tấn công châm chích và độc địa với những câu nhận xét chế nhạo. Omar nhanh chóng quay sang và nhìn Miriam một chốc, với đôi mắt đầy sự xấu hổ, và sau đó anh hét với anh trai mình im lặng, anh đang ở đây rồi, và cái thái độ cư xử thế này là như thế nào? Căn phòng nín thinh, và người chị dâu mới quay lại và nhìn một lần về phía Miriam, và ngay lúc đó cô ta đã mỉm cười, một nụ cười xảo quyệt của chiến thắng với người chồng đang im lặng của mình. Anh ta đã nổi giận, và hét vào chị ta lần nữa, “ Vậy cô nghĩ điều này vui lắm hả? Cô đang cười tôi đó hả?”, Miriam đã kinh hoàng quan sát dưới cái mí mắt thấp hơn của mình trong khi anh ta tiếp tục hét lên, với cái giọng tiếp tục la mắng, rằng nếu có thể cười vào mặt anh, anh sẽ không đồng ý điều đó, chẳng có gì buồn cười cả, chẳng có cái gì đáng để cười, cô ta có hiểu không? Và nó là lần đầu tiên Miriam nghe thấy, cái tiếng cười trầm dai dẳng, điên cuồng và lập dị, phát ra từ một cái phòng phía sau đâu đó, với thời điểm chính xác không chê vào đâu được, giữa lời cảnh báo của Sadru.
Đó là lời giới thiệu đầu tiên của chị lớn của Omar, Jehan, người bị thiểu năng cộng thêm một loại chứng loạn trí sau khi mặc bệnh giang mai vài năm trước. Cái từ “bệnh giang mai” được thì thầm với cái gật đầu nghiêm trọng bởi Farah, và tất cả những liên kết đó rất xa lạ với Miriam, cô nghĩ có lẽ nó là một cái bệnh riêng của người Châu Phi, dù cô không hiểu được nó bị mắc phải như thế nào, và cô luôn thầm kín cầu nguyện rằng mình sẽ không bao giờ mắc phải nó.
Giữ Jehan ở giữa họ, Miriam và Farah gởi lũ trẻ cho hàng xóm, và sau đó đi bộ qua vài khu nhà để đến quán cà phê, bên dưới những cây kim tước đang nở hoa tím, và qua những dãy nhà phía trước, và một số người vẫy tay với họ từ vài cái cửa sổ khi họ đi qua, Jehan vẫy lại với cánh tay xoay tròn, trò chuyện luôn miệng, và Farah đi trước họ vài bước chân, và gần như phát cáu.
Khi họ bước vào quán cà phê, họ vô cùng tự ý thức, nhưng có một vài người dường biểu hiện đặc biệt thích thú với sự ghé thăm của họ. Jacob Williams chờ ở phía sau quầy trong một chút khi ba người phụ nữ tự chọn cho mình một trong những chỗ ngồi dọc theo bức tường. Sau đó ông đi từ từ đến cái bàn, một chân bị cứng ngắt do chứng viêm khớp mà đã từ từ tràn khắp thân thể, và lịch sự gật đầu, ông đặt ba cái thực đơn xuống.
“Hôm nay chúng tôi có thịt cừu hầm, và keoksisters (loại bánh xuất xứ từ Hà Lan, dạng như donut với siro đường lạnh, có vị như mật ong) mới”, ông nói.
Jehan vỗ tay tán thành. “Koeksisters, koeksisters, koeksisters”, chị ấy nói.
“Shhhh!” Farah lên tiếng.
“Keoksisters là gì?” Miriam ngại ngần, một nửa là với Jacob, một nửa là với bhabhi của mình.
“Đây, tự mình thử đi”, một giọng nói vang lên bên cạnh cô, cô nhìn lên và thấy một cái nĩa trước mặt. Một cái bánh donut chiên vàng và được rắc dừa xung quanh ở trên, và Amina Harjan đang giữ đầu kia của cái nĩa.
“Xem thử cô có thích nó không?”, cô gợi ý một lần nữa, và e thẹn, Miriam lấy cái bánh keoksister từ cái nĩa. Bẻ nó ra làm đôi, cô đưa cho Jehan một miếng và bỏ miếng còn lại vào miệng. Cái bánh nonut ấm nóng và ngọt ngào có vị chín muồi của men và tan chảy đi trong miệng của Miriam.
“Cô có thích nó không?” Amina hỏi, và mỉm cười.
“Nó rất ngon”, Miriam đáp.
“Chúng tôi sẽ lấy vài cái”, Fara nói.
“KEOKSISTERS”, Jehan hét lên, Miriam đỏ mặt vì xấu hổ.
Tất cả mọi người trong quán cà phê, dường như quay lại bàn của họ. Trong sự im lặng đột ngột, Jehan hét lên một lần nữa, và lần này là một từ không thể hiểu được, và từ cái bàn phía sau họ phát ra tiếng khục khịt của tiếng cười, âm thanh bắt chước đầy chế nhạo. Amina nhìn quanh, và đứng quan sát người đang ngồi ở bàn đó một lúc lâu. Khi cô cuối cùng hỏi Miriam và Farah liệu họ muốn ăn cái gì, cô vẫn đang quan sát, và sau đó quay đi và chỉ gật đầu nhẹ với Jacob. Ông ấy gật đáp lại, và bằng thời gian mà Amina đi trở vào nhà bếp với một phần ăn trưa mới được gọi, ông vẫn đã đưa cho những người khách kia phiếu tính tiền của họ, lấy một phần tiền của họ, và những người đó rời đi. Và việc họ chưa có ăn hết bữa trưa của họ dường như có liên quan, Miriam ngạc nhiên với sức mạnh của cô gái trẻ này, thậm chí trẻ hơn cô, dường như được vận dụng qua những người xung quanh cô ấy.
Ba người phụ nữ ngồi đó, mà không nói gì, và chờ đợi thức ăn của họ. Trong những tiếng thì thầm của thực khách khác, họ có thể nghe tiếng Amina trong nhà bếp, và tiếng nấu ăn, tiếng xèo xèo của dầu nóng, và sau đó là sự nảy lên chất lượng của cái đĩa hát được đặt ở trên cái máy hát cũ phía sau quầy. Các thớ thịt bắt đầu căng lên, dao động và để bản thân chúng hướng về phía quầy bar mở “Đêm và Ngày”. Đây không phải là bài hát mà Miriam chưa từng nghe trước đây. Cô thường nghe đài trong nhà bếp ở nhà, và cô biết nhiều bài của Cole Porter và những giai điệu khác của Mỹ bằng trái tim, dù cô không thực sự đặt bất kì cái tên nào cho chúng. Miriam nhìn qua chồng hộp đựng đĩa được dựng trên quầy. Nó quá khó cho cô để có thể giải thích được những chi tiết từ chỗ cô đang ngồi, nhưng cô có thể thấy được đường nét của gương mặt của người đàn ông. Trang bìa đã được gỡ ra khi cô chăm chú nhìn vào nó, cô nhận ra là nó đã được mang hướng về phía cô, dưới cánh tay của Jacob Williams. Ông dừng tại bàn và đặt một tô cừu hầm đang bốc hơi, một đĩa bí đỏ đút lò, và một đĩa bánh mì vàng với hạt ngô. Sau đó ông lấy ra cái vỏ đĩa hát bên dưới cánh tay và đưa nó cho Miriam.
“Amina nói cô có thể sẽ thích thú khi thấy nó, thưa bà”, ông nói, Miriam cảm ơn ông và lấy nó. Farah nhìn chằm chàm và nhướng lông mày lên hỏi.
“Tại sao ông ấy mang cái này lại?” chị ta hỏi, trong khi đặt một miếng bánh mì trước Jehan, người đã ăn một cách thèm khát.
Miriam nhún vai. “Em không biết. Có lẽ họ thấy em đang nhìn nó”.
“Có thể cô ta thích cô đấy”, chị ta nói, mà không có một chút tử tế, và với một nụ cười mà Miriam không thể nào hiểu được. Cô lờ Farah đi và nhìn xuống cái vỏ đĩa hát. Nó đúng là như thế, cô đã nghĩ, một cái chân dung của Cole Porter. Miriam lắng nghe theo tiếng hát trong lúc nó vẫn tiếp tục. “In the roaring traffic’s boom, in the silence of my lonely room, I think of you, night and day…” (“trong sự ồn ào của sự bùng nổ giao thông, trong sự yên lặng của căn phòng cô đơn của tôi, tôi nghĩ đến em, đêm và ngày…”). Thậm chí cái tên đó, Cole Porter, dường như mang rất nhiều quyến rũ, và cái cảm giác của sự tao nhã. Bức ảnh màu trắng đen và sần sùi, nhưng ông ngồi đó, mái tóc bóng mượt chải về phía sau với Brylcreem, hướng người về cái piano, lông mày hướng về phía máy ảnh, biểu lộ một ít khinh thường trên gương mặt ông ấy.
Khi Miriam nhìn lên, Farah vẫn còn đang quan sát cô. Nhưng lần này, Miriam chẳng thèm quan tâm. Mười ngày đến giờ, tìm kiếm một dấu hiệu của sự quan tân, hoặc niềm vui hay sự tử tế, cuối cùng đã kết thúc với nụ cười mà Amina Harjan đã dành cho cô.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com