Chào các bạn! Truyen4U chính thức đã quay trở lại rồi đây!^^. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền Truyen4U.Com này nhé! Mãi yêu... ♥

triết


  I. SỰ CHUYỂN HÓA CỦA TIỀN TỆ THÀNH TƯ BẢN

1. Công thức chung của tư bản

 Tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông hàng hoá, đồng thời là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản. Mọi tư bản lúc đầuđều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định. Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản,tiền chỉ biến thành tư bản trong những điều kiện nhất định, khi chúng được sử dụng để bóc lột lao động của người khác.Tiền với tư cách là tiền tiền thông thường vận động theo công thức: H - T – H. Tiền với tư cách là tư bản thì vận động theocông thức: T - H – T. Bất cứ tiền nào vận động theo công thức T - H – T đều chuyển hoá thành tư bản.So sánh công thức H - T - H và công thức T - H – T 

a)Điểm giống nhau: 

+ Cả hai sự vận động trên đều do hai giai đoạn đối lập nhau là mua và bán hợp thành, trong mỗi giai đoạn đều có hai nhân tốvật chất đối diện nhau là tiền và hàng, và hai người có quan hệ kinh tế với nhau là người mua và người bán. Hành vi lưu thông : mua và bán

 b)Điểm khác nhau:Giữa hai công thức trên có sự khác nhau về chất.

+ trình tự vận động: Lưu thông hàng hoá giản đơn bắt đầu bằng việc bán (H - T) và kết thúc bằng việc mua (T - H). 

+Điểm xuất phát và điểm kếtthúc của quá trình đều là hàng hoá, còn tiền chỉ đóng vai trò trung gian.Lưu thông của tư bản bắt đầu bằng việc mua (T - H) và kết thúc bằng việc bán (H – T). Tiền vừa là điểm xuất phát, vừa làđiểm kết thúc của quá trình, còn hàng hoá chỉ đóng vai trò trung gian; tiền ở đây không phải là chi ra dứt khoát mà chỉ làứng ra rồi thu về.

+Mục đích của lưu thông hàng hoá giản đơn là giá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu, nên các hàng hoá trao đổi phải có giá trịsử dụng khác nhau.Mục đích của lưu thông tư bản không phải là giá trị sử dụng, mà là giá trị, hơn nữa giá trị tăng thêm. Vì vậy, nếu số tiền thuvề bằng số tiền ứng ra, thì quá trình vận động trở nên vô nghĩa. Do đó, số tiền thu về phải lớn hơn số tiền ứng ra, nên côngthức vận động đầy đủ của tư bản phải là T - H - T', trong đó T' = T + ΔT. Số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra (ΔT), C.Mác gọilà giá trị thặng dư, ký hiệu là m. Số tiền ứng ra ban đầu chuyển hoá thành tư bản.Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Mục đích lưu thông tư bản là sự lớn lên của giá trị, là giá trị thặng dư, nên sựvận động của tư bản là không có giới hạn, vì sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn.C.Mác gọi công thức T - H - T' là công thức chung của tư bản, vì sự vận động của mọi tư bản đều biểu hiện trong lưu thôngdưới dạng khái quát đó, dù là tư bản thương nghiệp, tư bản công nghiệp hay tư bản cho vay. 

2. Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản

 Tiền ứng trước, tức là tiền bỏ vào lưu thông, khi quay trở về tay người chủ của nó, thì tăng thêm một lượng nhất định. Vậycó phải lưu thông đã làm cho tiền tăng thêm và do đó hình thành giá trị thặng dư hay không? 

- Trong lưu thông, dù trao đổi ngang giá hay không ngang giá cũng không tạo ra giá trị mới, do đó cũng không tạo ra giá trịthặng dư.

+Trường hợp trao đổi ngang giá: nếu hàng hoá được trao đổi ngang giá, thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị, từ tiềnthành hàng và từ hàng thành tiền, còn tổng giá trị cũng như phần giá trị thuộc về mỗi bên tham gia trao đổi trước sau vẫnkhông thay đổi. Tuy nhiên, về mặt giá trị sử dụng, thì cả hai bên trao đổi đều có lợi.

+Trường hợp trao đổi không ngang giá:

Nếu hàng hoá được bán cao hơn giá trị, thì số lời anh ta nhận được khi là người bán cũng chính số tiền anh ta sẽ mất đi khilà người mua, rốt cuộc anh ta sẽ không được lợi thêm gì cả. 

Còn nếu mua hàng hoá thấp hơn giá trị, thì tình hình cũngtương tự như trên. Số lời anh ta nhận được khi là người mua sẽ mất đi khi là người bán. Giả sử có một số người chuyên muađược rẻ bán đắt thì điều đó cũng chỉ giải thích được sự làm giàu của những thương nhân cá biệt chứ không thể giải thíchđược sự giàu có của toàn bộ giai cấp tư bản vì tổng số giá trị trước và sau khi trao đổi không thay đổi, mà chỉ có phần giá trịcủa mỗi bên trao đổi là thay đổi, tức là có sự chuyển dịch giá trị từ người này sang người khác chứ không có sự tăng thêmtổng số giá trị trao đổi.Lưu thông không làm tăng giá trị nhưng nếu tiền không vận động trong lưu thông, tức là đứng ngoài lưu thông, thì cũngkhông thể lớn lên được."Vậy là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông. Nó phải xuất hiệntrong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông"). Đó là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản\

.3. Hàng hóa sức lao động

a)sức lao động và điều kiện để sức lao dộng trở thành hàng hóa

-"sức lao đọng , đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong cơ thể của 1 con người, trong nhân các sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hđ để sx ra những vật có ích"

-k phải sức lđ nào cũng có thể trở thành hàng hóa

+ sức lđ của nô lệ k phải là hàng hóa vì bản thân anh ta đã thuộc quyền sở hữu của chủ nô. nên k có quyền bán sức lđ

+ người  thợ thủ công tự do đc tùy ý sử dụng sức lđ của mình nhưng sức lđ của anh ta cũng k phải là hàn hóa vì anh ta chỉ sx tự cung tự cấp k cần bắt buộc phải bán sức lđ để kiếm sống

- sức lđ chỉ trở thành hàng hóa khi đồng thời thỏa mãn 2 đk sau:

+ người lđ phải đc tự do về thân thể làm chủ đc sức lđ của mình và có quyền bán sức lđ của mình như mộ hàng hóa

+ người có sức lđ bị tước đoạt hết mọi tư liệu sx, để tồn tai a ta buộc phải bán sức lđ của mình để kiếm sống

- sức lđ biến thành hàng hóa là đk tiên quyết để tiền biến thành tư bản, but trước chủ nghía tư bản thì hàng hóa sức lđ chưa xuất hiện, chỉ dưới chủ nghĩa tư bản thì hàng hóa sức lđ mới xuất hiện và trở thành phổ biến.

  b)

Hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị. 

*Giá trị hàng hoá sức lao động

 Giá trị sức lao động cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định. Nhưngsức lao động chỉ tồn tại trong cơ thể sống của con người, muốn tái sản xuất ra sức lao động, người công nhân phải tiêudùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định.Vậy thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiếtđể sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy; hay nói cách khác, giá trị hàng hoá sức lao động được đo lường gián tiếp bằng giátrị những tư liệu sinh hoạt để tái sản xuất sức lao động.Là hàng hoá đặc biệt, giá trị hàng hoá sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó bao hàm cả yếu tố tinh thầnvà lịch sử. Điều đó có nghĩa là ngoài những nhu cầu về vật chất, người công nhân còn có những nhu cầu về tinh thần, vănhoá... Những nhu cầu đó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước ở từng thời kỳ, phụ thuộc cả vào điều kiện địa lý,khí hậu của nước đó và mức độ thoả mãn những nhu cầu đó phần lớn phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được củamỗi nước. 

Giá trị hàng hoá sức lao động do những bộ phận sau đây hợp thành:Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động, duy trì đời sống côngnhân;Hai là, phí tổn đào tạo công nhân;Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết chocon cái công nhân.Sự biến đổi của giá trị sức lao động trong một thời kỳ nhất định chịu ảnh hưởng của hai loại nhân tố tác động đối lập nhauđến. Một mặt, sự tăng nhu cầu trung bình của xã hội về hàng hoá và dịch vụ, về học tập và trình độ lành nghề dẫn đến làmtăng giá trị sức lao động; mặt khác, sự tăng năng suấtlao động xã hội lại làm giảm giá trị sức lao động. 

*Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao độngGiá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động được biểu hiện trong quátrình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao độngcủa người công nhân.Quá trình đó là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hoá nào đó; đồng thời là quá trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị củabản thân hàng hoá sức lao động. Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt.Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động có tính chất đặc biệt là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là tạo ra giá trịthặng dư. Đó là chìa khoá để giải thích mâu thuẫn của công thức chung của tư bản.  

  II:  Những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền:

 1)        sự tập trung sản xuất và các hình thức tư bản độc quyền

- Cạnh tranh thúc đẩy tích tụ tập trung tư bản dẫn đến tập trung sản xuất ,sản xuất tập trung được biểu hiện là:

 + Số lượng công nhân trong các xí nghiệp quy mô lớn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lực lượng lao động xã hội số lượngsản phẩm sản xuất ra trong các xí nghiệp quy mô lớn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm xã hội.

+ Sản xuất tập trung vào một số xí nghiệp quy mô lớn thì chúng có khuynh hướng liên minh,thỏa hiệp với nhau,dẫnđến hình thành tổ chức độc quyền. 

+ Tổ chức độc quyền là liên minh các xí nghiệp quy mô lớn nằm trong tay hầu hết việc sản xuất và tiêu thụ một hoặcmột số lọa sản phẩm,chúng có thể quyết định được giá cả độc quyền nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao 

- Quá trình độc quyền hình thành diễn ra từ thấp đến cao, từ lưu thông đến sản xuất và tái sản xuất,có các hình thức độcquyền sau:

+ Cacten là hình thức độc quyền trong lưu thông ở trình độ thấp nó quyết định về mặt hàng và giá cả- Xanhdica là hình thức độc quyền trong lưu thông ở trình dộ cao hơn cacten,nó quyết định về mặt hàng,giá cả và thịphần.

 + Torot là hình thức độc quyền sản xuất,nó quyết định ngành hàng,quy mô đầu tư. 

+ Congxooxion là hình thức độc quyền liên ngành tái sản xuất từ cung ứng nguyên vật tư đến sản xuất và tiêu thụ. 

2)Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính

 + Sự hình thành độc quyền trong ngân hàng và vai trò của ngân hàng:cùng với sự hình thành độc quyền trong công nghiệpthì trong ngân hàng cũng diễn ra cạnh tranh quyết liệt,hàng loạt ngân hàng nhỏ bị các ngân hàng lớn thôn tính, một sốngân hàng nhỏ tự nguyện sát nhập thành ngân hàng lớn, một số ngân hàng lớn thì có xu hướng liên minh,thỏa thuận vớinhau hình thành độc quyền trong ngân hàng. 

+ khi độc quyền trong ngân hàng ra đời thì ngân hàng có một vai trò mới,thể hiện: giữa tư bản ngân hàng và tư bản côngnghiệp thâm nhập vào nhau thông qua chế độ tham dự bằng việc mua cổ phiếu để các công ty cử người vào hội đồng quảntrị của ngân hàng và ngược lại thì ngân hàng cử người vào hội đồng quản trị của các công ty. Sự dung nhập giữa tư bảnngân hàng và tư bản công nghiệp bằng cách trên làm xuất hiện một loại tư bản mới gọi là tư bản tài chính. 

+ Tư bản tài chính và đại diện cho nó là bọn đầu sỏ tài chính, chúng lũng đoạn cả về kinh tế và chính trị 

- Về kinh tế: bằng cổ phiếu khống chế để nắm công ty mẹ, chi phối các công ty con,các chi nhánh nhỏ hơn để thu về lợinhuận cao nhất. 

- Về xã hội: bằng sức ép tập đoàn để nắm giữ các vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước. 

3) Xuất khẩu tư bản:

+ là đưa tư bản ra nước ngoài để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao. 

+ Trong giai đoạn cạnh tranh tự do, xuất khẩu tư bản chủ yếu là tư bản hàng hóa, tức là đưa hàng hóa ra nước ngoài,nó cósức mua lớn hơn và cạnh tranh giảm đi để thực hiện giá trị của hàng hóa. 

+ Trong giai đoạn độc quyền xuất khẩu tư bản chủ yếu là tư bản hoạt động từ những nước phát triển đến những nước đangphát triển hoặc kém phát triển, ở những quốc gia có nhân công, nguyên liệu rẻ, hậu quả sản xuất tư bản là dẫn đến nềnkinh tế phụ thuộc, cạn kiệt tài nguyên.  

 + Xuất khẩu tư bản có hai mặt: một mặt là sự mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra nước ngoài, là công cụ chủ yếuđể bành trướng sự thống trị, bóc lột, nô dịch của tư bản tài chính trên phạm vi toàn thế giới, một mặt xuất khẩu tư bản cónhững tác động tích cực đến nền kinh tế các nước nhập khẩu. 

4) Sự phân chia thế giới kinh tế giữa các tổ chức độc quyền: 

+ Quá trình tích tụ và tập trung tư bản phát triển, việc xuất khẩu tư bản tăng lên cả về quy mô và phạm vi tất yếu dẫn tớisự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các tổ chức độc quyền quốc tế

 + Xu hướng toàn cầu hóa diễn ra cạnh tranh quyết liệt, cạnh tranh giữa các quốc gia, các tập đoàn dẫn đến hình thành cácliên minh kinh tế quốc tế rất đa dạng như liên minh về thương mại, sản xuất,... Các liên minh này phân chia thỏa hiệp vớinhau về khu vực độc quyền,khu vực ảnh hưởng kinh tế. 

5) Sự phân chia thế giới về lãnh thổ giữa các cường quốc đế quốc

 + Do sự hoạt động của quy luật phát triển không đều trong giai đoạn độc quyền thì một nước đang phát triển có thể đuổikịp, vượt một số nước đã phát triển.

 + Sự phát triển không đều về kinh tế dẫn đến không đều về quân sự, chính trị làm thay đổi tương quan lực lượng và đòi hỏiphân chia lại lãnh thổ trên thế giới dẫn đến xung đột quân sự để chia lại lãnh thổ thế giới, đó là nguyên nhân dẫn đến 2cuộc chiến tranh thế giới.Năm đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa đế quốc có liên quan chặt chẽ với nhau, nói lên bản chất của chủ nghĩa đế quốc vềmặt kinh tế là sự thống trị của chủ nghĩa tư bản độc quyền, về mặt chính trị là hiếu chiến, xâm lược.v 

6)Trong 5 đặc điểm kể trên thì đặc điểm thứ nhất là sự tập trung sản xuất và hình thành các tổ chức độc quyền trongsản xuất và tiêu thụ hàng hoá là quan trọng nhất vì: 

- Đó chính là nguyên nhân hình thành và quyết định đến tính chất của chủ nghĩa tư bản, các đặc điểm khác chỉ là hệquả của nó. 

- Nó tập trung sản xuất đến trình độ cao thì sẽ xuất hiện một số doanh nghiệp quy mô lớn, do đó nếu cạnh tranh vớinhau sẽ mang lại nhiều thiệt hại mà các nhà tư bản không bao giờ chịu bất lợi. Nên tất yếu họ sẽ bắt tay thoả hiệp vớinhau trên nguyên tắc cùng có lợi.

 - Đây là điểm mấu chốt, điểm đột biến chuyển từ chủ nghĩa tư bản cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền.- Lê nin đã nói " độc quyền phát sinh là kết quả của việc tập trung sản xuất, là một quy luật phổ biến và cơ bản tronggiai đoạn phát triển hiện nay của chủ nghĩa tư bản". 

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com

Tags: