Chào các bạn! Truyen4U chính thức đã quay trở lại rồi đây!^^. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền Truyen4U.Com này nhé! Mãi yêu... ♥

tron goi

A/ Phần mở đầu

1. Lí do chọn đề tài

Sự phát triển ngày càng cao của nền kinh tế thế giới sau các cuộc chiến tranh thế giới thứ II và sự giải phóng sức lao động tay chân bằng máy móc công nghệ đ• mang tính quyết định đưa đến sự phát triển của ngành du lịch. Trên thế giới, cho đến nay đi du lịch đ• trở thành một xu thế tất yếu của người dân tại tất cả các nước, đặc biệt là các quốc gia phát triển. Du lịch là một hoạt động bắt đầu từ rất xa xưa trong lịch sử nhân loại. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển cho đến nay du lịch đ• trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống x• hội. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, phát triển nhanh chóng, được mệnh danh là "ngành công nghiệp không khói". Ngày nay được rất nhiều quốc gia đầu tư phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Cũng tại Việt Nam, ngày nay đời sống của con người ngày càng cao, họ không những có nhu cầu đầy đủ về vật chất mà còn có nhu cầu được thoả m•n về tinh thần như vui chơi, giải trí và du lịch. Do đó du lịch là một trong những ngành có triển vọng. Ngành du lịch Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước khác trên thế giới nhưng vai trò của nó lại không thể phủ nhận, mang lại thu nhập GDP lớn cho nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam ra toàn thế giới.

Để đạt được những bước phát triển bền vững về cả chất và lượng thì ngành du lịch cũng như là các công ty đều phải chú trọng đến yếu tố con người. Một đội ngũ cán bộ công nhân được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ du lịch là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định thành công của các doanh nghiệp du lịch nói chung và ngành du lịch nói riêng.

Nước ta, nhờ thực hiện đường lối đổi mới về kinh tế, trong những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam đ• khởi sắc và ngày càng có tác động tích cực đến đời sống kinh tế x• hội của đất nước.

Nằm ở khu vực Đông Nam á, nơi đang diễn ra các họat động kinh tế sôi động nói chung và du lịch nói riêng, Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển du lịch. Sự đa dạng về tài nguyên cả về thiên nhiên lẫn nhân văn, là điều kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch với thời gian dài ngắn khác nhau.

Nhận thức được tầm quan trọng của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế x• hội, Đảng và nhà nước đ• xác định: "...phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa lịch sử, huy động tối đa nguồn lực trong nước và tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ quốc tế, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch có tầm cỡ của khu vực, phấn đấu năm 2010 du lịch Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có ngành du lịch phát triển trong khu vực".

ở nước ta, ngành du lịch đ• được Đảng và nhà nước hết sức quan tâm, tạo điều kiện phát triển và đ• đưa mục tiêu xây dựng ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, từ đó tạo điều kiện thuận lợi bằng đường lối chính sách và tập trung đầu tư phát triển ngành du lịch. Trên cơ sở đó giúp ngành du lịch Việt Nam hoạt động phát triển ngày một hiệu quả hơn, đem lại nguồn doanh thu chính đáng cho ngân sách nhà nước và thu nhập cho người lao động trong x• hội.

Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới, điều kiện này đ• tạo thuận lợi cho sự phát triển của du lịch Việt Nam. Với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, ngày nay Việt Nam đ• và đang thu hút số lượng lớn khách du lịch trong nước và ngoài nước đến tham quan.

Cùng với sự phát triển của du lịch nói chung, trong những năm gần đây du lịch sinh thái Việt Nam cũng phát triển nhanh chóng. Với tư cách là một ngành kinh tế mũi nhọn - Du lịch trong đó có du lịch sinh thái ngày càng khẳng định được vị thế của mình đối với sự phát triển kinh tế x• hội của đất nước.

Du lịch sinh thái phát triển nhằm thỏa m•n nhu cầu ngày một tăng của khách du lịch. Nhu cầu này liên quan chặt chẽ đến sự phát triển không ngừng của x• hội, đảm bảo về tổng thể một tương lai phát triển lâu dài của hệ sinh thái.

Bên cạnh các loại hình du lịch như du lịch biển, du lịch nghỉ dưỡng...du lịch sinh thái đang trở thành một hình thức du lịch phổ biến, hấp dẫn du khách. Du khách đến với các khu du lịch sinh thái chủ yếu là những nhà khoa học, sinh viên, học sinh để nghiên cứu, tìm hiểu về môi trường sinh thái, di tích lịch sử văn hóa x• hội. Tuy nhiên cũng có những người đến để thỏa m•n trí tò mò, được tận mắt chứng kiến những loài động vật đang sinh sống trong điều kiện hoang d• hay chỉ đơn giản là đến ngắm cảnh.

Với ưu thế vượt trội về vị trí địa lý và cảnh quan thiên nhiên, Hà Tây (cũ) hội tụ đầy đủ các điều kiện để phát triển các loại hình du lịch, trong đó du lịch sinh thái nghỉ dưỡng cuối tuần là một trong những thế mạnh cần tập trung khai thác. Trong những năm qua, với chủ trương x• hội hóa để phát triển ngành kinh tế du lịch, nhiều khu, điểm du lịch đ• hình thành và phát triển trên địa bàn tỉnh. Một số khu du lịch sau một thời gian hoạt động hiệu quả đ• tiếp tục tăng vốn đầu tư mở rộng kinh doanh như sân golf Đồng Mô, khu du lịch Thác Đa, Thiên Sơn - Suối Ngà...

Một trong những điểm du lịch sinh thái đang thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước là quần thể môi trường sinh thái rộng lớn xung quanh khu vực núi Ba Vì, trong đó có khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà.

Trong nhịp phát triển sôi động của ngành du lịch Việt Nam. Công ty cổ phần Xây dựng và Du lịch Bình Minh được thành lập và đi vào hoạt động, đ• kịp đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà, cũng như các công ty lữ hành khác đ• góp phần thúc đẩy sự lớn mạnh không ngừng của du lịch Việt Nam.

Đ• từ lâu, Ba Vì được coi là huyện du lịch, bao gồm hai vùng lớn: khu vực sườn Đông và sườn Tây, nơi có thác, có suối, có rừng nguyên sinh đẹp và thơ mộng là tiềm năng lớn cho phát triển du lịch sinh thái.

Nơi đây được thiên nhiên ban tặng cả bức tranh sơn thủy hữu tình, với hệ sinh thái phong phú, thảm thực vật đa dạng, được coi là "lá phổi xanh" phía Tây thủ đô Hà Nội.

Khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà nằm ở phía Đông d•y núi Ba Vì, nơi có tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng của tỉnh Hà Tây (cũ). Ba Vì nổi tiếng là vùng đất có những vẻ đẹp hoang sơ mang dấu ấn ngàn năm lịch sử còn lưu lại, với truyền thuyết vua Hùng kén rể đ• diễn ra cuộc đọ sức, đua tài giữa Sơn Tinh - Thủy Tinh. Nơi đây có cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ hoang sơ, với bầu không khí trong lành của núi rừng trùng điệp đ• có từ bao đời nay. Có lẽ hiếm nơi đâu có những cảnh sắc sông nước, núi non, rừng già lại hòa quyện gắn bó với nhau như ở đây. Đến với Thiên Sơn - Suối Ngà, du khách được ngắm nhìn dòng thác trải dài hàng trăm mét, bên những khu rừng nguyên sinh. Rồi thong thả dạo chơi trên những tuyến đường cheo leo sườn núi, được con người tạo dựng hòa quyện với thiên nhiên, thấp thoáng ven hồ là những ngôi nhà sàn xinh xắn ẩn hiện là nơi tổ chức hội thảo-hội nghị, có các vị trí dành riêng cho cắm trại, vui chơi-giải trí, giao lưu văn hóa, văn nghệ và thưởng thức những món ẩm thực xứ đoài.

Là một thắng cảnh đẹp của Ba Vì, khách đến tham quan Thiên Sơn - Suối Ngà ngoài thú vui v•n cảnh còn có thể cắm trại, đi bơi thuyền, câu cá, leo núi, tắm hồ...và được thưởng thức nhiều món ăn đặc sản của núi rừng

Thiên Sơn - Suối Ngà là nơi có tiềm năng du lịch lớn để phát triển du lịch không chỉ với huyện Ba Vì nói riêng mà còn là tiềm năng lớn đối với Hà Nội, tích cực góp phần thu hút số lượng lớn du khách trong và ngoài nước đến tham quan. Chính vì vậy em đ• chọn đề tài nghiên cứu về tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch này từ đó đưa ra hướng phát triển để phát triển du lịch sinh thái tại Thiên Sơn - Suối Ngà một cách bền vững.

Là một sinh viên cuối khoá được đào tạo trong khoa du lịch trường Cao đẳng Công nghiệp Việt - Hung, em luôn mong mình có thể tiếp thu tốt kiến thức trên giảng đường và trở thành một hướng dẫn viên du lịch trong tương lai.

Đặc biệt, tại khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà. Đây là cơ hội tốt để em cọ sát thực tế và nắm bắt được phần nào về thông tin của khu du lịch.

2. Mục đích nghiên cứu

Du lịch Việt Nam đang ngày càng phát triển và trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Để phát triển du lịch một cách bền vững thì đất nước ta cần phải có những chính sách phát triển du lịch từ việc khai thác những tiềm năng sẵn có đến việc bảo tồn và phát triển bền vững đặc biệt là những tài nguyên tự nhiên. Chính vì vậy đề tài của em đề cập đến tiềm năng và thực trạng du lịch tại khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà. Khi nghiên cứu đề tài "Tiềm năng và thực trạng khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà", giúp em có thể hiểu thực tế tiềm năng và hiện trạng của khu du lịch như thế nào. Từ đó có những kiến nghị đối với các bộ ngành và mong cùng khu du lịch khai thác một cách triệt để tiềm năng sẵn có này, và có những chính sách phát triển du lịch một cách bền vững, nhằm hoàn thiện hơn về chất và lượng để đạt được doanh thu và ngày càng thu hút khách du lịch.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong đề tài này đối tượng nghiên cứu chủ yếu là tiềm năng sẵn có của khu du lịch, bao gồm cả tiềm năng về tài nguyên tự nhiên (vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, tài nguyên rừng...), và tiềm năng về nhân lực. Từ đó phân tích thực trạng hoạt động du lịch tại khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian thực tập ngắn và sự hạn chế về kiến thức, nên bài viết của em không đi sâu vào chi tiết, mà chỉ đánh giá tiềm năng và hiện trạng của hoạt động du lịch tại khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà. Từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện về chất lượng, tăng doanh thu và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá tiềm năng sẵn có tại khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà

- Tìm hiểu và phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch

- Đưa ra giải pháp cụ thể để phát triển du lịch tại Thiên Sơn - Suối Ngà

5. Phương pháp nghiên cứu

Có nhiều phương pháp tiếp cận để tìm hiểu về tiềm năng và hiện trạng của khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà. Đề tài này, trên cơ sở kiến thức học ở trường, kiến thức tích lũy trong thời gian thực tập và qua sách báo, em sử dụng một số phương pháp sau đây:

- Thu thập số liệu

Khi thực tập tại công ty, để có được những thông tin sơ cấp, em thường tiếp xúc với nhân viên, quan sát cách làm của họ.

Liên hệ với các phòng ban để có được các báo cáo doanh thu, tìm thêm thông tin trên internet, các tạp trí, báo, đài...

- Xử lý số liệu

- Phương pháp thống kê: là sự biểu hiện một cách tổng hợp đặc điểm, điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể.

- Phương pháp so sánh: Là phương pháp xem xét một chỉ tiêu dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu cơ sở, qua đó xác định xu hướng phát triển du lịch của khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà

6. Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận thì nội dung của báo cáo được chia làm 3 chương:

Chương I: Những cơ sở lí luận chung về hoạt động du lịch tại Thiên Sơn - Suối Ngà

Chương II: Tiềm năng và hiện trạng hoạt động du lịch tại khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà

Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị trong việc phát triển du lịch tại Thiên Sơn - Suối Ngà

B/ Nội dung

Chương I: Những cơ sở lí luận chung về hoạt động du lịch tại Thiên Sơn - Suối Ngà

1. Một số khái niệm, định nghĩa

1.1 Khái niệm về du lịch

Ngày nay, du lịch đ• trở thành một hiện tượng kinh tế x• hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên cho đến nay, không chỉ ở nước ta nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa được thống nhất. Do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu, mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau. Do đó có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch.

Theo từ điển bách khoa toàn thư của Việt Nam (1966)

Nghĩa thứ nhất: Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật.

Nghĩa thứ hai: Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa dịch vụ tại chỗ

Theo tổ chức du lịch thế giới: Du lịch là hoạt động của con người đến và ở tại những nơi ngoài môi trường hàng ngày của họ trong một thời gian nhất định với mục đích giải trí, công vụ hay những mục đích khác.

Theo các nhà kinh tế: du lịch không chỉ là một hiện tượng x• hội đơn thuần mà nó phải gắn chặt với các hoạt động kinh tế. Nhà kinh tế học Picara-Edmod đưa ra định nghĩa: "Du lịch là việc tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách v•ng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách v•ng lai mang đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả m•n nhu cầu hiểu biết và giải trí."

Để hiểu biết đầy đủ về du lịch, chúng ta tách du lịch thành hai phần để định nghĩa nó. Du lịch có thể được hiểu là:

- Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ của các cơ sở chuyên cung ứng

- Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả m•n nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh.

Theo luật du lịch Việt Nam: du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa m•n nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định

Như vậy, du lịch là hoạt động của các tổ chức kinh doanh du lịch thông qua hướng dẫn viên tổ chức đón tiếp, hướng dẫn, phục vụ du khách thực hiện các dịch vụ và giải quyết toàn bộ những vấn đề phát sinh trong quá trình đi du lịch nhằm thực hiện những mong muốn và nguyện vọng của khách du lịch trên cơ sở những thoả thuận trong chương trình du lịch đ• được kí kết.

1.2 Khách du lịch

Theo Tổ chức du lịch thế giới (WTO), thì một số đặc trưng của du khách là:

Là người đi khỏi nơi cư trú của mình

Không theo đuổi mục đích kinh tế

Đi khỏi nơi cư trú từ 24h trở lên

Khoảng cách tối thiểu từ nhà đến điểm đến (30, 40 hoặc 50...dặm) tùy quan niệm của từng nước.

Theo luật du lịch Việt Nam: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.

1.3. Hướng dẫn viên du lịch

Hướng dẫn viên du lịch là những người có chuyên môn làm việc cho các tổ chức kinh doanh du lịch với nhiệm vụ tổ chức thực hiện các chương trình du lịch đ• được kí kết trên thực tế nhằm đảm bảo đúng kế hoạch và đáp ứng các nhu cầu được thoả thuận của du khách, chỉ dẫn và cung cấp lời thuyết minh về các điểm du lịch, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện chương trình du lịch với phạm vi quyền hạn khả năng của mình và tạo ra những ấn tượng tích cực cho du khách.

1.4. Khái niệm khu du lịch

Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên được quy hoạch, đầu tư, phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch đem lại hiệu quả về kinh tế - x• hội và môi trường

Căn cứ vào quy mô, mức độ thu hút khách du lịch, khả năng cung cấp và chất lượng dịch vụ, các khu du lịch được chia thành hai loại: Khu du lịch quốc gia và khu du lịch địa phương

* Khu du lịch quốc gia:

Khu du lịch có đủ những điều kiện sau đây được công nhận là khu du lịch quốc gia

Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn với ưu thế về cảnh quan thiên nhiên, có khả năng thu hút lượng khách du lịch cao

Có diện tích tối thiểu 1000ha, trong đó có diện tích cần thiết để xây dựng các công trình, cơ sở dịch vụ du lịch phù hợp với cảnh quan, môi trường của khu du lịch.

Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đồng bộ có khả năng phục vụ ít nhất một triệu lượt khách du lịch mỗi năm, trong đó có cơ sở lưu trú và dịch vụ cần thiết phù hợp với đặc điểm khu du lịch.

* Khu du lịch địa phương:

Khu du lịch có đủ những điều kiện sau đây được công nhận là khu du lịch địa phương

Có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút khách du lịch

Có diện tích tối thiểu 200ha, trong đó có diện tích cần thiết để xây dựng các công trình, cơ sở dịch vụ cần thiết.

Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch cần thiết phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, có khả năng đảm bảo phục vụ ít nhất một trăm nghìn lượt khách du lịch mỗi năm

1.5. Du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái là một loại hình mới đang có xu hướng phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Theo tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN): du lịch sinh thái là loại hình du lịch tham quan có trách nhiệm với môi trường tại những vùng còn tương đối nguyên sơ để thưởng thức và hiểu biết thiên nhiên (có kèm theo các đặc trưng văn hóa - quá khứ cũng như hiện tại) có hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ du khách, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế x• hội của nhân dan địa phương.

Theo hiệp hội du lịch sinh thái: du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm đối với các khu thiên nhiên, nơi môi trường được bảo tồn và lợi ích nhân dân được bảo đảm.

Theo luật du lịch Việt Nam: du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững

Như vậy, Du lịch sinh thái là hình thức hoạt động du lịch hướng về cội nguồn của du khách, với mục đích giải tỏa những căng thẳng do môi trường đô thị, công việc, hoặc quan hệ x• hội tạo ra. Và mong muốn được trực tiếp tri giác, cảm nhận môi trường và tiêu dùng các sản phẩm sạch tại nơi du lịch.

Nước ta có nhiều khu du lịch sinh thái như rừng quốc gia Cúc Phương, Vườn quốc gia Ba Vì...

* Đặc điểm của du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái luôn gắn với nhu cầu động cơ hướng về cội nguồn và duy trì quan hệ tốt đẹp, thân thiện.

Sự phát triển của x• hội hiện đại, đặc biệt là sự phát triển của công nghiệp và đô thị hóa đ• kèm theo ô nhiễm về không khí, nước uống, sự quá tải thông tin, áp lực của công việc, các mối quan hệ x• hội tạo ra các trạng thái tâm lý căng thẳng. Vì thế nhu cầu thư gi•n, nghỉ ngơi trong môi trường sinh thái để tìm lại sự cân bằng tâm lý ngày càng phát triển.

- Khách du lịch dến đây muốn được tiêu dùng các sản phẩm du lịch trong sạch, tinh khiết (như thực phẩm, rau xanh, hoa quả, nước uống, không khí trong lành, tinh khiết, sạch sẽ...). Du khách muốn được thả mình trong môi trường cảnh quan yên tĩnh, nước suối trong suốt, những đàn cá tung tăng bơi lội, trên cây sương mù bao phủ, khí hậu mát mẻ trong lành, rừng già với những cây cổ thụ, trên cành cây tiếng chim ríu rít, phía dưới thác nước chảy ào ào, trải dài trắng xóa. Bên cạnh đó tiếng suối reo nhè nhẹ, tạo nên những bản nhạc rừng hết sức ấn tượng, quyện với mùi thơm thoang thoảng của tất cả các loại hoa rừng.

Môi trường sinh thái đ• ảnh hưởng lớn tới tâm lý của các du khách, tạo cho họ những ấn tượng mạnh mẽ những rung cảm tuyệt vời. Du khách cảm thấy như được sống trong một thế giới huyền ảo và quên đi nhưng lo toan vất vả của đời thường. Đây là điều kiện tốt nhất giúp cho du khách phục hồi lại sức khỏe và tinh thần một cách nhanh nhất.

Du khách muốn sử dụng những phương tiện đi lại đơn giản trong quá trình du lịch như: thuyền, ghe, xe ngựa, đi bộ...nhằm thỏa m•n những nhu cầu muốn hít thở bầu không khí trong lành, tránh được khói bụi, xăng dầu và khí thải nơi đô thị đông đúc, đồng thời củng cố rèn luyện sức khỏe của mình.

- Du khách rất thích nghỉ ở các lều trại, nhà sàn hoặc các hang đá để được hòa mình hơn với thiên nhiên, được sống chung với cư dân địa phương để biết và hiểu hơn cuộc sống của họ.

- Du khách muốn được sử dụng đặc sản của các vùng miền, rừng núi được chế biến theo những cách đặc trưng như thịt hươu, nai rừng, các nướng, các món ăn đặc trưng của người địa phương và mua quà lưu niệm gắn liền với đặc điểm sinh thái như: mật ong rừng, măng rừng...

2. Những cơ sở lí luận chung của hoạt động du lịch và hướng dẫn viên du lịch

Hướng dẫn viên là người tổ chức thực hiện chuyến tham quan cho du khách, để cho chương trình tham quan du lịch được thành công hướng dẫn viên cần trang bị cho mình đầy đủ những kiến thức về văn hoá - x• hội cũng như kiến thức chuyên môn, đồng thời phải có sự chuẩn bị kĩ lưỡng cho chuyến đi để có thể giới thiệu cho du khách một cách đầy đủ và xúc tích nhất.

2.1. Các bước chuẩn bị cho quá trình hướng dẫn tham quan

* Nghiên cứu và tích luỹ tư liệu

Thông tin được sử dụng trong bài thuyết minh của người hướng dẫn viên đóng vai trò rất quan trọng trong sự thành công của mỗi chương trình du lịch. Chính vì vậy nguồn thông tin phải được thu thập, chọn lọc kỹ càng từ những nguồn đáng tin cậy với những nội dung phong phú về môi trường tự nhiên của vùng như: vị trí địa lý, địa hình, địa chất, khí hậu...; văn hoá lịch sử của vùng như: nguồn gốc hình thành, các di tích lịch sử đáng chú ý...; Những thông tin bổ sung như tình hình kinh tế, chính trị, các quy định tại địa phương.

Hướng dẫn viên cũng có thể thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như qua phương tiện thông tin đại chúng, phòng tư liệu của doanh nghiệp lữ hành, kinh nghiệm của bản thân, qua tiếp xúc trao đổi với người dân địa phương.

* Khảo sát tuyến điểm tham quan.

Trên cơ sở những hiểu biết từ tư liệu, thông tin thu thập được, hướng dẫn viên có được kiến thức về các đối tượng tham quan. Nhưng hướng dẫn viên cũng cần phải tìm hiểu, xem xét trực tiếp các đối tượng để có được tri thức cụ thể, có thể so sánh giữa tài liệu và thực trạng của đối tượng để đưa vào bài thuyết minh những nội dung sinh động. Khi khảo sát tuyến điểm hướng dẫn viên phải nắm được cung đường và vị trí của điểm tham quan, nắm được đặc điểm trên lộ trình và tại điểm du lịch, xác định được vị trí quan sát tốt nhất cho đoàn khách, tính toán được khoảng cách giữa các đối tượng và ước tính khoảng thời gian thực hiện chương trình.

* Lựa chọn đối tượng chỉ dẫn thuyết minh

Sau khi khảo sát thực tế giúp hướng dẫn viên lựa chọn được các đối tượng tham quan để chỉ dẫn thuyết minh sao cho có được tác động tích cực tới tâm lý du khách. Việc lựa chọn đối tượng tham quan rất có ý nghĩa. Nó đảm bảo cho chuyến tham quan của khách hấp dẫn hơn, có hiệu quả hơn.

Đối tượng tham quan phải theo hành trình tham quan của đoàn, hành trình này phải đựơc sắp xếp khoa học, hợp lý, tránh sự trùng lặp giống nhau và đơn điệu dễ gây nhàm chán cho khách tham quan.

* Lập hành trình chuyến tham quan

Tuyến tham quan được xác định là từ khi đoàn khách rời cơ sở lưu trú bằng phương tiện hay đi bộ theo hành trình đến đối tượng tham quan và từ đối tượng tham quan này đến đối tượng tham quan khác. Tuyến tham quan cần được lập đảm bảo tính lôgíc cho việc tìm hiểu của khách, tránh sự rời rạc, không xác định được chủ đề chuyến tham quan.

Tuyến điểm tham quan được xác định một cách khoa học, thực tiễn cần được kiểm chứng chắc chắn từ điểm xuất phát đến đối tượng tham quan đầu tiên và điểm cuối cùng của quá trình tham quan (cần tính toán đến khoảng thời giam dự trữ do những tác động ngẫu nhiên).

* Xem xét khảo sát lại toàn bộ chương trình.

Đây được coi là bước quan trọng nhất trong quá trình chuẩn bị của người hướng dẫn viên.

Sau khi tuyến tham quan đ• đựơc xây dựng, hướng dẫn viên cần tiến hành kiểm tra lại toàn bộ các vấn đề để: xác định được chính xác đường di chuyển của đoàn khách, xác định điểm quan sát chính hoặc phụ tại mỗi đối tượng tham quan, khoảng thời gian di chuyển và thời gian dành cho khách tự tham quan.

Kết thúc quá trình chuẩn bị này hướng dẫn viên lập bảng phương án tiến hành hướng dẫn tham quan, bảng phương án được lập cho từng tuyến, từng điểm tham quan. Nội dung bao gồm các thông tin: tên tuyến (tên điểm), những điểm dừng chân cho khách nghỉ, điểm tham quan, thời gian, nội dung chính chứa đựng trong điểm tham quan, cần phải giới thiệu cho khách, cách thức tổ chức, phương pháp hướng dẫn tham quan và phần ghi chú.

* Xây dựng bài thuyết minh

Sau khi xác định được các đối tượng tham quan, chủ đề chuyến tham quan và lập tuyến tham quan, việc chuẩn bị nội dung thuyết minh cho chương trình tham quan, cho từng điểm tham quan hay cho từng đối tượng tham quan là công việc không kém phần quan trọng.

Từ những tư liệu và qua quá trình khảo sát thực tế, hướng dẫn viên lựa chọn những thông tin xúc tích nhất hàm chứa được những giá trị của các đối tượng tham quan để kết nối tạo thành một bài thuyết minh.

- Nguyên tắc xây dựng bài thuyết minh

Bài thuyết minh phải hướng vào mục đích, chủ đề của chuyến tham quan, phải cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết cho khách, nội dung bài thuyết minh phải mang tính khoa học và phải thể hiện tính Đảng, nội dung bài thuyết minh phải có tính so sánh.

- Nội dung bài thuyết minh

Nội dung phải thể hiện được những thông tin cơ bản cần thiết và phù hợp với mục đích chuyến tham quan, giới thiệu các đối tượng theo trình tự một cách lôgíc nhất, nội dung được trình bày từng phần và gắn kết với nhau thành một chỉnh thể.

Cấu trúc thông thường của một bài thuyết minh:

Phần mở đầu: Giới thiệu ngắn gọn về bản thân hướng dẫn viên, người điều khiển phương tiện, thông báo về chương trình của chuyến tham quan.

Phần nội dung: Nội dung được trình bày từng phần và gắn kết với nhau thành một chỉnh thể với mục đích phân tích, đánh giá các đối tượng tham quan mà khách du lịch được quan sát trong chuyến đi, trong nội dung bài thuyết minh phải có vấn đề chính và vấn đề phụ. Ngoài những thông tin về điểm tham quan hướng dẫn viên cần giới thiệu cho du khách những thông tin khác về phong tục tập quán, tôn giáo, tình hình kinh tế x• hội của địa phương..

Phần kết luận: Tổng kết lại những nội dung chính đ• được giới thiệu trong chuyến tham quan, rút ra kết luận so sánh để giúp cho du khách tự nhận định, đánh giá về điểm tham quan.

2.2. Phương pháp tiến hành hướng dẫn tham quan

* Hướng dẫn du khách quan sát trực tiếp đối tượng tham quan

+ Lựa chọn vị tí quan sát đối tượng tham quan

Vị trí quan sát phải đảm sự an toàn đối với du khách, đảm bảo điều kiện để du khách có thể quan sát được toàn diện đối tượng tham quan và dễ gây ấn tượng cho khách. Thông thường vị trí lý tưởng để quan sát thường gấp hai lần chiều cao đối tượng tham quan đó, cần tránh xa đường đi của phương tiện giao thông, công trình xây dựng, khu vực nguy hiểm.

+ Cách thức tổ chức đoàn

Hướng dẫn viên tổ chức sắp xếp khách một cách nhanh chóng và hợp lý sao cho mọi thành viên trong đoàn đều có khả năng quan sát được rõ đối tượng tham quan và đảm bảo thuận lợi cho công tác hướng dẫn. Thông thường, khách tham quan đứng theo hình vòng cung, hướng dẫn viên đứng ở đầu cánh cung, một nửa người hướng về phía khách, một nửa người hướng về đối tượng tham quan.

+ Tính toán các tác động ngoại cảnh

Các tác động ngoại cảnh hướng dẫn viên thường gặp trong quá trình thuyết minh của mình là: ánh sáng, gió, tiếng ồn...hướng dẫn viên phải tính toán trước những tác động này để có thể chuẩn bị các trang thiết bị hỗ trợ tìm được vị trí quan sát tốt nhất.

+ Tiến hành xem xét đối tượng tham quan một cách khoa học

Hoạt động chỉ dẫn du khách xem tận mắt đối tượng tham quan phải đảm bảo tính lôgíc và phản ánh đúng chủ đề của chuyến tham quan, gây được tác động tích cực về mặt tâm lý đối với du khách.

+ Quan sát tâm lý của khách tham quan

Hướng dẫn viên cần thường xuyên quan sát tâm lý của khách nhằm nắm bắt được các phản ứng cảm xúc, khả năng tiếp thu bằng tai, mắt của khách dễ gây được tác động tích cực tới tâm lý của họ, để đưa ra được những biện pháp ứng xử kịp thời tuỳ theo thái độ, tâm lý của khách.

+ Phương pháp di chuyển

Đây là phương pháp nhằm đạt hiệu quả tâm lý cao.

Khi di chuyển, lời thuyết minh đóng vai trò thứ yếu, không nên để thời gian di chuyển quá nhiều, phải quan sát nhanh những vấn đề bát thường xảy ra trên đường di chuyển để đưa ra những biện pháp xử lý kịp thời không làm ảnh hưởng tới khách, khi thuyết minh những đối tượng trên đường đi thì thông tin đưa ra cần ngắn gọn có định lượng trước về mặt thời gian, sao cho khi đi qua đối tượng thì lời thuyết minh cũng kết thúc.

+ Cử chỉ của hướng dẫn viên

Cử chỉ của người hướng dẫn viên trong quá trình hướng dẫn khách tham quan phải thể hiện tính nghiêm túc, lịch thiệp, phải phù hợp với lời thuyết minh. Không nên chỉ dẫn quá nhanh hoặc quá chậm, không có những cử chỉ thiếu tế nhị như: vung tay, bẻ ngón tay, dựa người vào tường, ngáp không che miệng...vì cử chỉ cũng là ngôn ngữ gián tiếp quan trọng, đặc biệt khi hướng dẫn viên đang là trung tâm chú ý của đoàn khách. Vì vậy hướng dẫn viên cần chú ý tới cử chỉ của mình tránh sự hiểu lầm và tác động xấu tới tâm lý du khách.

* Phương pháp thuyết minh

Khi hướng dẫn tham quan, bài thuyết minh đ• được chuẩn bị công phu nhưng cần có phương pháp để truyền đạt những thông tin đó cho du khách.

+ Phương pháp miêu tả và kể chuyện, tái hiện những sự kiện, huyền thoại...liên quan đến đối tượng tham quan.

+ Giới thiệu minh hoạ và bình luận

+ Kết hợp phương pháp miêu tả, kể chuyện và giới thiệu minh hoạ, bình luận

Những phương pháp thuyết minh trên cần được hiểu và vận dụng một cách thích hợp cho các chuyến tham quan du lịch của khách.

2.3. Hướng dẫn tham quan tài nguyên tự nhiên - Khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà

* Đặc điểm của chương trình tham quan

Chương trình du lịch tham quan những tài nguyên du lịch tự nhiên là các chuyến du lịch đưa du khách đến với các khu rừng, núi để vừa tham quan, khám phá hệ thống động thực vật vừa tìm hiểu cuộc sống thường nhật của cộng đồng dân cư tại địa phương.

Đây là chương trình du lịch độc đáo mà Ba Vì có nhiều tiềm năng để khai thác xây dựng mà không phải nơi nào cũng có.

Hầu hết những du khách đi theo chương trình du lịch này là những người có sức khoẻ tốt, đặc biệt thích đi bộ, thích tìm hiểu những điều mới lạ, còn nguyên sơ, ít bị tác động bởi con người. Ngoài việc thưởng ngoạn sự hùng vĩ của cảnh núi rừng, du khách còn muốn khám phá đời sống của các dân tộc thiểu số cư trú tại đây với những phong tục tập quán truyền thống, những hoạt động văn hoá cộng đồng. Vì thế đây còn là chương trình tham quan có trách nhiệm với việc bảo vệ thiên nhiên, đồng thời có thể đảm bảo cho sự phát triển bền vững của cư dân địa phương.

* Phương pháp hướng dẫn tham quan

- Giai đoạn chuẩn bị

Ngoài việc chuẩn bị như những chuyến tham quan thông thường hướng dẫn viên cần chú ý:

+ Phải xác lập một sơ đồ hành trình và lập kế hoạch hành động cho chuyến tham quan, hướng dẫn viên phải biết định ra thời gian xuất phát cho chuyến tham quan, kết hợp với ăn uống, nghỉ ngơi sao cho phù hợp.

+ Chuẩn bị các vật dụng cần thiết như thuốc men, thuốc chống vắt, muỗi...

+ Hướng dẫn viên phải nắm bắt được những phong tục tập quán của địa phương, những điều kiêng kị.

+ Nắm được đầy đủ các thông tin về môi trường tự nhiên, các nguyên tắc bảo vệ Cần thông báo cho du khách về thời gian, địa hình, trang phục, vật dụng cần thiết ...

- Giai đoạn hướng dẫn tham quan

Khi bắt đầu chuyến tham quan, hướng dẫn viên cần thông báo chính xác cho khách du lịch về thời gian xuất phát, điểm bắt đầu và kết thúc của chuyến đi, điểm dừng nghỉ, đặc điểm địa hình...

Hướng dẫn viên cần nhắc khách về vấn đề bảo vệ môi trường: vứt rác vào thùng rác, không làm ô nhiễm nguồn đất và nước, cách sinh hoạt phải có lợi cho việc bảo vệ tự nhiên.

Hướng dẫn cho du khách về cảnh quan thiên nhiên, về các loài động thực vật phong phú có tại đây...

3. Mối quan hệ giữa hoạt động du lịch và hướng dẫn viên du lịch

Trong lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của du lịch, buổi ban đầu, hướng dẫn viên du lịch chưa hình thành. Khách du lịch chủ yếu tự tìm hiểu để thỏa m•n những nhu cầu của chuyến đi theo mục tiêu đ• định. Sau đó thường là tại các điểm du lịch những người địa phương đảm nhiệm vai trò giới thiệu cho khách từ những hiểu biết của mình. Cùng với thời gian dòng du khách lớn lên kéo theo sự đa dạng hóa của các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch. Hoạt động hướng dẫn du lịch cũng ra đời, ngày càng có vị trí quan trọng và cần thiết trong kinh doanh du lịch nói chung. Hướng dẫn viên ra đời từ đòi hỏi khách quan, đòi hỏi nghề nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu hiểu biết của du khách. Hoạt động hướng dẫn du lịch còn góp phần rất quan trọng vào hoạt động du lịch nói chung. Thông qua hoạt động hướng dẫn, các dịch vụ du lịch cơ bản như dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận chuyển được thực hiện chu đáo hơn, phong phú hơn do có sự phối hợp của hướng dẫn viên. Nhu cầu của khách du lịch về các dịch vụ này thường được đáp ứng chính xác, nhanh chóng, đầy đủ hơn. Ngoài ra, từ hoạt động hướng dẫn du lịch, khách du lịch cũng góp phần làm cho các dịch vụ bổ sung thêm sôi động. Bởi lẽ qua các hướng dẫn viên du lịch các cơ sở kinh doanh du lịch sẽ nắm bắt thị hiếu, tâm lý đặc tính và cả tình trạng sức khỏe... của khách du lịch để kịp thời có những điều chỉnh đáp ứng tốt hơn cho khách và do đó dịch vụ du lịch sẽ phát triển hơn, doanh thu sẽ cao hơn. Các tổ chức kinh doanh du lịch hiện nay nói chung đều có hoạt động hướng dẫn du lịch. Các tổ chức kinh doanh lữ hành quốc tế và lữ hành nội địa càng cần thiết có hoạt động hướng dẫn du lịch. Việc thiết kế tour, bán tour, quảng cáo...phải gắn với yêu cầu hướng dẫn du lịch. Vì vậy, hoạt động hướng dẫn du lịch được thực hiện tốt hay không sẽ góp phần rất cơ bản vào việc bán tour, vào kinh doanh du lịch tại tổ chức này và vào các hoạt động du lịch nói chung.

Hoạt động hướng dẫn du lịch không chỉ thỏa m•n những nhu cầu của khách du lịch theo mục đích của chuyến du lịch, của loại hình du lịch họ lựa chọn, của những đối tượng mà họ cần tìm hiểu, cần sử dụng mà còn góp phần giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình du lịch của họ. Có rất nhiều vấn đề với nhiều tình huống khác nhau xảy ra trong quá trình thực hiện các chuyến du lịch của khách, đòi hỏi người hướng dẫn phải xử lý linh hoạt. Và cũng chính từ những đòi hỏi đó ngày càng trở nên quen thuộc trong du lịch, vì vậy hoạt động hướng dẫn càng có vị trí quan trọng không thể thiếu trong toàn bộ hoạt động du lịch.

Hoạt động du lịch là hoạt động phức tạp bao gồm các mặt như cung cấp các thông tin cho quảng cáo, tiếp thị du lịch, đón tiếp khách và phục vụ khách; giới thiệu các đối tượng tham quan du lịch trong chuyến du lịch; phục vụ khách về các dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận chuyển, mua sắm, giải trí, kinh tế, giải quyết những vấn đề phát sinh... Do đó, hoạt động hướng dẫn du lịch là một loại dịch vụ đặc trưng của hoạt động du lịch nói chung, và do các tổ chức du lịch tiến hành. Bộ phận này cuốn hút các bộ phận chức năng, nghiệp vụ có liên quan tới các mặt công tác khác nhau song chủ yếu vẫn là thông qua các hướng dẫn viên du lịch được thực hiện bởi hướng dẫn viên. Chất lượng phục vụ hướng dẫn du lịch cho khách phụ thuộc chủ yếu vào khả năng, nghiệp vụ, tri thức, phẩm hạnh của hướng dẫn viên du lịch mặc dù sự tham gia của các bộ phận liên quan là không thể thiếu, dù trực tiếp hay gián tiếp. Hướng dẫn viên có vai trò rất quan trọng, là những người thay mặt cho tổ chức kinh doanh du lịch thực hiện các hợp đồng giữa đơn vị mình và khách du lịch. Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với hướng dẫn viên du lịch có tác động qua lại chặt chẽ với nhau. Hướng dẫn viên là nhân vật trung tâm để thực hiện chương trình du lịch, ngoài ra còn có sự điều tra, điều chỉnh của h•ng lữ hành và phòng tổ chức, sự điều chỉnh này sẽ giúp cho chương trình được thực hiện tốt hơn. Người hướng dẫn đóng góp 60% thành công của chuyến đi, năng lực của họ biểu hiện ở mặt tổ chức, thực hiện chương trình. Chính hướng dẫn viên là người thay mặt cho doanh nghiệp du lịch thực hiện những hợp đồng đ• ký kết với khách và là người nắm bắt thị hiếu và phản ánh những khen chê từ phía khách, tạo được nhiều mối quan hệ với nhiều nguồn khách khác nhau từ đó lôi cuốn khách mua các chương trình du lịch của doanh nghiệp.

Như vậy, hoạt động hướng dẫn du lịch có mối quan hệ rất chặt chẽ với hoạt động du lịch nói chung, nó có quan hệ tương hỗ, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau. Chính vì vậy mà du lịch Việt Nam cần có những chính sách phù hợp để đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ lao động đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên, người có vai trò là cầu nối giữa doanh nghiệp du lịch và khách du lịch. Qua đó những đội ngũ hướng dẫn viên cũng không ngừng trau dồi kiến thức kinh nghiệm để làm tốt công tác giới thiệu quảng bá đất nước, góp phần thúc đẩy ngành du lịch phát triển mạnh và bền vững.

* Mối quan hệ giữa hoạt động du lịch và hướng dẫn viên du lịch tại Thiên Sơn - Suối Ngà

Có thể nói rằng hoạt động kinh doanh du lịch và hoạt động hướng dẫn du lịch tại Thiên Sơn - Suối Ngà có mối quan hệ hai chiều tác động qua lại hỗ trợ cho nhau cụ thể là:

Thứ nhất: Hoạt động kinh doanh du lịch của khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà có vai trò quyết định đến sự tồn tại cuả hoạt động hướng dẫn. Mỗi khu du lịch được thành lập đều tạo công ăn việc làm cho người lao động đặc biệt là hoạt động hướng dẫn.

Thứ hai: Ngược lại hoạt động hướng dẫn du lịch là hoạt động đặc trưng của dịch vụ du lịch và có vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh du lịch của khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà. Vì vậy nó đem lại lợi ích nhiều mặt cho cả tổ chức kinh doanh và khách du lịch. Hoạt động hướng dẫn thành công sẽ giúp cho khu du lịch quảng bá được hình ảnh của mình và giúp cho doanh nghiệp du lịch thực hiện tốt quá trình tổ chức tham quan.

Chương II: Tiềm năng và hiện trạng hoạt động du lịch tại khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà

1. Những nét chung về khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Tên doanh nghiệp: Khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà

Địa chỉ: X• Vân Hoà - Ba Vì - Hà Nội

Điện thoại: 0433.880.211 - 0433.966.228

Fax: 0433.880.212

(thuộc) Công ty cổ phần Xây Dựng và Du Lịch Bình Minh

Địa chỉ: X• Thanh Vị - Sơn Tây - Hà Nội

Điện thoại: 0433.838.118

Chi nhánh du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà trực thuộc Công ty Cổ phần tập đoàn Xây dựng và Du lịch Bình Minh.

Trong quy hoạch phát triển du lịch sinh thái (450 ha) đ• được UBND tỉnh Hà Tây phê duyệt. Với diện tích rừng đặc dụng, Công ty đ• triển khai xây dựng cơ sở vật chất kết hợp với bảo vệ và phát triển rừng. Giai đoạn I, cơ sở hạ tầng phần nào đ• đáp ứng được nhu cầu phục vụ khách. Sự kết hợp hài hoà giữa phong cảnh thiên nhiên với bàn tay con người đ• tạo dựng nên một loại hình du lịch sinh thái độc đáo, khác biệt thoả trí tò mò của khách du lịch.

Hiện tại, hạ tầng cơ sở được chia thành 3 khu và đ• đi vào hoạt động được 3 khu bao gồm các dịch vụ: tham quan, ngắm cảnh, lội suối, tắm suối, ngắm thác, ăn uống, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí...

Là khu du lịch có chất lượng cao bên cạnh tiềm năng tự nhiên lớn, hướng đầu tư hợp lý, đó là một thuận lợi để thu hút khách du lịch.

Khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà được xây dựng năm 1994, trước kia nơi đây có cái tên là Suối ổi là một cánh rừng chưa được đầu tư xây dựng, chỉ có một số ít dân cư sinh sống. Nơi đây chỉ có những con đường đất và những ngọn núi bị khai thác bừa b•i. Nhưng nắm bắt được tiềm năng du lịch, năm 1994, ông Phùng Văn Hệ, chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Xây Dựng và Du Lịch Bình Minh đ• đầu tư xây dựng Suối ổi thành một khu du lịch sinh thái.

Nằm dưới chân núi Tản (Ba Vì), khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà, những người làm du lịch đ• gặp phải không ít khó khăn do địa hình núi trùng điệp, thác suối cheo leo và sự cạnh tranh với các điểm du lịch khác trên địa bàn. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian xây dựng, khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà đ• nhanh chóng tạo dựng cho mình một vị thế xứng đáng trên địa bàn. Với hệ thống cơ sở vật chất thông suốt cùng nhiều hạng mục vui chơi giải trí độc đáo đ• được hoàn thành, tháng 4 năm 2005 khu du lịch đ• đi vào hoạt động phục vụ khách tham quan.

1.2. Mục tiêu hoạt động

Khu du lịch được đưa vào hoạt động với mục tiêu phục vụ khách du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí. Đồng thời huy động và sử dụng vốn có hiệu quả thu lợi nhuận cao, tạo việc làm cho người lao động, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.

1.3. Cơ cấu bộ máy tổ chức

1.4. Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận

a) Tổng Giám đốc

Là người có quyền hành cao nhất trong toàn khu vực:

Quản lý tất cả các hoạt động trong khu vực

Quyết định hạng mục đầu tư, mức đầu tư, chi phí về cơ sở vật chất, trang thiết bị.

Quyết định tuyển chọn hay sa thải nhân viên.

Kiểm tra tình hình công việc hàng ngày

Kiểm soát doanh thu, chi phí

Quyết định mức lương, thưởng của nhân viên, đón tiếp những đoàn khách đặc biệt quan trọng

Lựa chọn, quyết định phương hướng kinh doanh chiến lược phát triển lâu dài của Công ty.

Sắp xếp cơ cấu bộ máy tổ chức, quản lý.

Đánh giá tình hình hoạt động chung trong công ty

Lựa chọn cân nhắc các thành viên có năng lực vào các vị trí quan trọng

Điều hành các cuộc họp quan trọng

b) Trợ lý giám đốc

Trợ giúp hoạt động cho tổng giám đốc

Giám sát hoạt động của các bộ phận, sắp xếp trình tự công việc để báo cáo lên tổng giám đốc, truyền đạt thông tin đến giám đốc điều hành

c) Giám đốc điều hành

Thay tổng giám đốc trực tiếp điều hành công việc trong toàn khu vực

Sắp xếp hoạt động chung của tất cả các bộ phận

Giám sát hoạt động của tất cả các thành viên

Kiểm soát doanh thu, chi phí hàng ngày

Đánh giá hoạt động, ý thức làm việc của mọi thành viên

Nắm bắt tình hình công việc chung của toàn khu vực hàng ngày như: số lượng khách, nhu cầu, động cơ du lịch của khách... rồi từ đó đề ra phương pháp sắp xếp, tổ chức công việc hợp lý.

Kiểm tra tình trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị cảnh quan môi trường

Đề đạt lên giám đốc các nguyện vọng của của nhân viên góp phần vào sự phát triển không ngừng của Công ty.

Đón tiếp các đoàn khách quan trọng

Giải quyết các tình huống khó xảy ra

Đề xuất phương hướng kinh doanh

d) Quản lý khu vực

Quản lý trực tiếp các hoạt động trong khu du lịch: bộ phận lễ tân, quầy bar, bộ phận phòng, bộ phận nhà hàng, bếp

Xếp lịch làm việc của tất cả các bộ phận

Kiểm soát doanh thu, chi phí, sổ sách, chứng từ

Giám sát hoạt động của các nhân viên và đánh giá năng lực ý thức của họ

Đón tiếp những đoàn khách lớn, lắng nghe ý kiến đóng góp của khách để từ đó phục vụ tốt hơn

Báo cáo trực tiếp lên giám đốc công việc hàng ngày

- Nhân viên lễ tân

Quản lý trực tiếp bộ phận lễ tân, phòng: đặt phòng, đặt các dịch vụ kèm theo

Kiểm soát lượng khách đến, khách đi, đưa ra dự báo về nguồn khách, lượng khách

Báo cáo doanh thu hàng ngày với quản lý

Lắng nghe ý kiến đóng góp của khách về chất lượng dịch vụ cũng như loại hình dịch vụ

Giải thích tất cả những phàn nàn của khách

Phục vụ khách chu đáo và nhiệt tình với khả năng và nhiệm vụ của mình.

2. Tiềm năng du lịch tại Thiên Sơn - Suối Ngà

2.1. Điều kiện tự nhiên

Đ• từ lâu, Ba Vì được coi là huyện du lịch, trong đó có 59 di tích lịch sử đ• được xếp hạng cấp quốc gia va cấp thành phố, va hơn 10 khu, điểm du lịch sinh thái Ba Vì bao gồm hai vùng lớn: Khu vực sườn Đông núi Ba Vì, có thác, có suối, có rừng nguyên sinh đẹp và thơ mộng là tiềm năng lớn cho phát triển du lịch sinh thái. Nơi đây còn có những di tích lịch sử, văn hoá như đền thờ Bác Hồ, đền Thượng, đền Trung...rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch văn hoá tâm linh.

Khu vực sườn Tây núi Ba Vì được coi là nơi có tiềm năng phát triển du lịch vì có địa thế đẹp, một bên là núi nhìn ra sông Đà tạo ra sức hấp dẫn riêng. Khu du lịch quốc gia hồ Suối Hai là nơi cuốn hút nhất với diện tích vùng ven hơn 2.000ha, có mặt nước hồ, có những hòn đảo nhỏ xanh mát hứa hẹn cho du khách những phút nghỉ ngơi thư gi•n.

Ngoài ra, Ba Vì còn có suối nước khoáng nóng Thuần Mỹ thuận lợi cho việc khai thác du lịch khoáng nóng đối với du khách...Tuy nhiên, khu du lịch Ba Vì không chỉ có vậy mà còn có sân gorl Đồng Mô được đánh giá là sân gorl hàng đầu miền Bắc, khu du lịch Khoang Xanh - Suối Tiên, Đầm Long, Ao Vua, Tản Đà, Thác Đa, Suối Mơ, vườn Quốc Gia Ba Vì, Thiên Sơn - Suối Ngà, những thảo nguyên cỏ xanh mướt, những trang trại bò sữa trải rộng. Chăn nuôi và cung cấp bò sữa đ• và đang là thế mạnh của Ba Vì nhưng chưa được sử dụng triệt để trong phát triển du lịch và dịch vụ.

Ba Vì là một vùng địa linh nhân kiệt thuộc xứ Đoài nổi tiếng là vùng đất có những nét đẹp hoang sơ, mang đậm dấu ấn ngàn năm lịch sử với truyền thuyết huyền thoại "Sơn Tinh - Thuỷ Tinh", ghi dấu đến ngày nay với nhiều di tích lịch sử văn hoá mà ngành văn hoá và du lịch đang bảo tồn, khai thác hiệu quả. Núi Ba Vì là ngọn núi cao nhất trong d•y núi Ba Vì, tương truyền là nơi trú ngụ của vị thần núi Tản Viên "Đệ nhất phúc thần", một trong "tứ bất tử" của tâm thức dân gian người Việt.

Không chỉ có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, Ba Vì chỉ cách Hà Nội 60km, hệ thống giao thông rất thuận lợi. Với những tiềm năng lợi thế trên, UBND huyện Ba Vì đ• xác định: Ba Vì là điểm đến lí tưởng cho du lịch sinh thái, tâm linh, bản sắc dân tộc, nếu phát huy được những tiềm năng lợi thế này Ba Vì sẽ có thể thay đổi được cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang du lịch - dịch vụ

Tỉnh Hà Tây, huyện Ba Vì đ• lên kế hoạch cụ thể cho dự án phát triển du lịch Ba Vì đến năm 2010 du lịch Ba Vì sẽ được phát triển quy mô hơn, chuyên nghiệp hơn, và với mục tiêu đón 1,3 triệu lượt khách du lịch, tạo việc làm cho trên 1.400 lao động tại các điểm du lịch. Các địa danh, các khu du lịch, dịch vụ, vui chơi-giải trí đồng bộ được mở rộng và phát triển.

Khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà thuộc x• Vân Hòa huyện Ba Vì, nằm ở phía Nam núi Tản Viên nổi tiếng là đất địa linh. Hơn 10 năm về trước nơi đây được gọi là Suối ổi do đặc điểm loại cây ăn quả này mọc nhiều ở đây, và giờ đây du khách sẽ không khỏi ngạc nhiên, ngỡ ngàng và thích thú. Một vùng cỏ tranh, lau de thưa thớt, cây rừng bị chặt trụi xưa kia giờ đây đ• phủ màu xanh bạt ngàn, trù phú. Con người không chỉ đem lại cho Suối ổi màu xanh mà còn biến nơi đây thành một khu du lịch sinh thái hấp dẫn, với tên gọi là Thiên Sơn - Suối Ngà. Ông Phùng Văn Hệ, Tổng Giám Đốc khu du lịch sinh thái đ• đặt tên là Thiên Sơn - Suối Ngà, ông cho biết: ý tưởng hình thành lên khu du lịch xuất hiện từ rất sớm trong những người làm du lịch. Với lợi thế diện tích tự nhiên rộng 450ha nằm giữa thung lũng của d•y núi Ba Vì có độ cao từ 200 m trở lên, được bao bọc xung quanh là rừng tự nhiên xen kẽ với những thác nước tạo cho khu du lịch luôn có khí hậu mát mẻ quanh năm, nhất là vào mùa hè, nhiệt độ ở đây thường thấp hơn nhiệt độ ở các khu đô thị từ 4-50C. Không những vậy, trong khu du lịch còn có hệ động thực vật phong phú, nơi tập trung nhiều loài chim, thú như chồn, sóc, chăn, nai, khỉ...đặc biệt là các loài chim quý như sáo, vẹt và chim phượng hoàng, là những yếu tố cho sự hình thành một khu du lịch sinh thái lý tưởng.

Tận dụng những lợi thế đó, Công ty cổ phần Xây Dựng và Du lịch Bình Minh đ• đầu tư hàng trăm tỷ đồng xây dựng hạ tầng giao thông và các hạng mục, biến nơi đây thành một địa chỉ du lịch. Bắt đầu xây dựng vào năm 1994, đến tháng 4-2005, khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà đ• hoàn thành những giai đoạn đầu tiên của dự án và chính thức mở cửa phục vụ khách tới tham quan.

Sau hơn 10 năm bền bỉ đầu tư xây dựng không mệt mỏi, những người công nhân đ• trồng được 922.000 cây xanh các loại, trải nhựa hàng chục cây số đường nối liền các khu với nhau để thuận tiện cho du khách tham quan thưởng ngoạn. Du khách tản bộ dưới tán lá rừng mà không ngờ đây là rừng tái sinh bởi cây ở đây được trồng với nhiều loại đan xen nhau: sấu, trám, lát hoa, giổi, thông, bách xanh, sa mộc...

Mặc dù mới đưa vào khai thác chưa lâu nhưng với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và thơ mộng của rừng núi, suối, hồ, đầm và thác nước đ• tạo nên một điểm đến hấp dẫn khách du lịch, đặc biệt là trong những ngày hè.

Khi mới bắt tay vào xây dựng, những người làm du lịch đ• gặp không ít những khó khăn do địa hình nơi đây là núi rừng trùng điệp, thác suối cheo leo và sự cạnh tranh với các điểm du lịch khác trên địa bàn. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian xây dựng, khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà đ• nhanh chóng tạo cho mình một vị thế tương xứng và có sức cạnh tranh với các điểm du lịch khác trên địa bàn. Với hệ thống hạ tầng vào khu du lịch đ• được thông suốt cùng nhiều hạng mục vui chơi giải trí độc đáo hoàn thành đ• đưa Thiên Sơn - Suối Ngà trở thành một điểm đến lý tưởng hấp dẫn khách tham quan.

Nơi đây cây rừng khép tán che phủ những lối đi đưa du khách thảnh thơi tản bộ hoặc khám phá rừng cây, dòng suối...Suối là đặc sản quý của Thiên Sơn - Suối Ngà. Có độ dốc khá lớn từ 10-42%, Thiên Sơn - Suối Ngà có ba con suối nhỏ ngày đêm ầm ào giữa rừng xanh, tạo cho khu du lịch một vẻ đẹp riêng. Thiên Sơn - Suối Ngà có nhiều hồ lớn nhỏ, như những mảnh gương lấp lánh giữa rừng xanh. Trưa hè khi mặt trời nhô lên cao, mặt hồ in bóng cây rừng dịu mát. Chiều buông, hơi rừng lan tỏa, mặt hồ như sương phủ che mờ trông thật huyền ảo. Những con suối, lòng hồ của Thiên Sơn - Suối Ngà là những nhịp điệu khác nhau làm cho cảnh quan nơi đây trở nên sinh động, không đơn điệu.

Đến Thiên Sơn - Suối Ngà khách du lịch sẽ có cảm giác như đang sống giữa thiên nhiên hoang sơ. Chỉ có những nếp nhà sàn, con đường trải nhựa...là in rõ dấu vết bàn tay của con người, còn lại hầu như vẫn còn nguyên sơ. Công trình rất có ý thức trong trong việc hạn chế can thiệp thô bạo vào cảnh quan nơi đây. Những con đường nhỏ lát đá dọc theo những con suối rất công phu nhưng cũng rất tự nhiên. Khách du lịch đến đây có thể nghỉ ngơi trên những phiến đá ven suối để tận hưởng sự mát mẻ trong lành từ con suối, hoặc khách có thể tắm suối để gột hết những âu lo bụi bặm mệt nhọc của chốn thị thành...Những nếp nhà sàn màu sẫm giản dị, ấm cúng như những bông hoa chuối là nét điểm giữa rừng xanh. Đêm về, núi rừng như những bức màn nhung khổng lồ buông xuống, nếp nhà sàn trở thành tổ ấm, nơi tụ họp đông vui của gia đình bè bạn...Với tổng đầu tư 16 triệu USD, Thiên Sơn - Suối Ngà suối ngà đang dần được hoàn thiện trở thành khu du lịch nổi tiếng gồm các khu chức năng: Khu đón tiếp dịch vụ, khu vui chơi giải trí tự nhiên, khu công viên lịch sử, khu nghỉ dân gi•, khu nuôi thú bảo tồn, đất cây xanh cảnh quan...Đến với Thiên Sơn - Suối Ngà khách du lịch không chỉ được tận hưởng không khí trong lành, nghỉ ngơi thư gi•n, được câu cá, bơi thuyền, nghe chim hót, tắm suối...được thưởng thức những món ăn vừa hợp khẩu vị vừa lạ miệng, được thưởng thức những nét đẹp văn hóa truyền thống, nghe tiếng Cồng Chiêng của rừng núi đất Ba Vì mà còn được ngắm cảnh thiên nhiên hùng vĩ với rừng đại ngàn, các loài cây gỗ và chim thú quý.

Khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà mở ra đ• cùng với các khu du lịch khác như các khu du lịch Thác Đa, Ao Vua, Suối Hai, Vườn quốc gia Ba Vì...trở thành những điểm du lịch hấp dẫn thu hút khách du lịch trong nước và ngoài nước đến nghỉ ngơi, thưởng ngoạn.

Những lợi thế mà thiên nhiên đ• ban tặng cho Thiên Sơn - Suối Ngà cộng với bàn tay của con người đ• biến thành những sản phẩm du lịch hấp dẫn trong đó có những sản phẩm chính là: suối thác, thiên nhiên, không khí trong lành, dịch vụ ăn nghỉ, du lịch hội nghị, hội thảo...nó đ• tạo cho nơi đây một phong cách và chất lượng tốt nhất.

Với diện tích là 450ha, được đưa vào hoạt động năm 2005, nằm gọn trong đường vành đai phòng hộ rừng quốc gia Ba Vì, một con đường trải nhựa chạy uốn lượn theo sườn núi từ chân tới độ cao trên 250m rồi chạy xuống thành một vòng khép kín. Thiên Sơn - Suối Ngà chia làm 3 khu chính là Hạ Sơn, Trung Sơn và Ngoạn Sơn, mỗi khu cách đều nhau khoảng 2km.

Bắt đầu là Hạ Sơn, đến đây du khách du khách được đắm mình trong phong cảnh hữu tình, có thác Tam Cấp và nhiều con suối nhỏ. Chủ nhân của kho báu này đ• rất tài tình và tinh tế khi biết tạo điểm nhấn cho Hạ Sơn bằng một dải cầu bắc ngang qua dòng suối uốn lượn rất hút hồn du khách. Dạo quanh một vòng hồ, ngồi bên Vọng Lâu nghỉ ngơi, nhìn dòng nước chảy hay đùa nghịch với những dòng suối nhỏ, hoặc đạp thuyền thiên nga để thưởng ngoạn cảnh sắc nơi này khiến cho tâm hồn trở nên thư thái, dễ chịu sẽ là điều mà khách du lịch không thể nào quên.

Con đường trải nhựa phẳng chạy len lỏi dưới tán lá rừng qua mép các hồ nước trong xanh lên Trung Sơn. Đây là khu trung tâm có nơi vui chơi cho mọi lứa tuổi, tại đây men theo con đường được lát bằng những phiến đá dưới tán sum suê của cây vàng anh, đa lá lệch, nhội, sung, vả...sẽ tới thác Cổng Trời. Có thể coi Cổng Trời là một trong những ngọn thác đẹp nhất trong khu vực rừng quốc gia Ba Vì. Độ cao của thác xấp xỉ 100m, người đứng dưới chân thác phải ngửa cổ lên mới nhìn được tới ngọn thác. Nước từ trên cao đổ xuống những tảng đá tung bọt trắng xoá, tạo thành một làn hơi nước mát lạnh, giống như một vệt sáng chia đôi ngọn núi thơ mộng, nước chạy soải theo sườn núi tạo thành những cái hồ nhỏ xinh xắn hai bên bờ đá. Dưới chân thác Cổng Trời cao ngất là hai con suối Ngà và suối Chỏi, tiếng Mường nghĩa là suối Trắng. Tương truyền người con gái tắm trong dòng nước này sẽ có làn da trắng ngọc ngà, 3 con suối bắt nguồn từ thác Cổng Trời đ• tạo thành những điểm bơi thư gi•n hoà mình vào thiên nhiên hùng vĩ, những chiếc bể bơi thiên nhiên có độ sâu từ 1,5 đến 2m này được khách du lịch rất ưa thích trong ngày hè oi ả. Du khách sẽ khó mà nhận ra những điểm tắm này được chủ nhân khéo léo xây dựng dựa trên thiên nhiên vốn có và sẽ cảm thấy như trở về với cội nguồn thiên nhiên hoang sơ. Hẳn khách du lịch khi đến đây sẽ khó có thể từ chối nếm thử món bánh tẻ đặc sản núi rừng Thiên Sơn trong quầy hàng bên bờ suối, hay mang về cho gia đình một chút vị đắng của măng rừng, vị rẻo của những hạt nếp nương mới. Thiên Sơn - Suối Ngà còn hấp dẫn bởi hệ sinh thái rừng phong phú và đa dạng. Rừng tự nhiên và rừng trồng chiếm tới 395ha trên tổng số 450ha tổng diện tích khu du lịch, nhiều loại thực vật quý hiếm còn dược giữ gìn và coi như báu vật của núi rừng như Vả rừng, Vàng Anh hay hoa Chẩu...đây không chỉ là nơi để cho du khách nghỉ ngơi mà còn là dịp để tìm hiểu về hệ sinh thái của núi rừng. Cách thác nước không xa là động Thiên Sơn, được xây dựng bởi rất nhiều hòn đá tảng với những hình vẽ sinh động mô tả truyền thuyết Sơn Tinh - Thuỷ Tinh.

Du khách đến với Thiên Sơn - Suối Ngà còn như được trở về với cội nguồn, trở về với truyền thuyết. Nơi đây gắn liền với truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh nổi tiếng của Việt Nam. Tại đây vua Hùng đ• kén rể cho công chúa Mị Nương, và đ• diễn ra cuộc đọ sức đua tài giữa Sơn Tinh Và Thủy Tinh.

Truyện kể về thời vua Hùng thứ 18 có một người con gái con gái rất đẹp tên là Mỵ Nương. Khi công chúa đến tuổi cập kê, nhà vua cho ban truyền trong nhân gian để tìm nhân tài. Sau đó có hai chàng trai đến xin hỏi cưới. Cả hai đều rất tài giỏi. Một người là Sơn Tinh (Thần Núi Tản Viên - Thánh Tản), hai là Thủy Tinh (Thần Nước). Sơn Tinh chỉ tay đến đâu núi mọc lên đến đấy, rừng mọc lên rậm rạp, um tùm. Thủy Tinh vẫy tay thì nước dâng lên cao, ba ba, thuồng luồng nổi đầy mặt nước. Nhà vua không biết nên chọn ai nên quyết định gả Mỵ Nương cho người nào đến trước với sính lễ như sau: Voi chín ngà - Gà chín cựa - Ngựa chín hồng mao mỗi thứ một đôi, đây chính là biểu tượng cô đọng nhất cho những giá trị của nền văn hiến Văn Lang.

Hôm sau, trời vừa bừng sáng Sơn Tinh đ• đến trước cổng thành với tất cả các lễ vật cầu hôn công chúa. Vua Hùng rất mừng bèn gả Mỵ Nương cho Sơn Tinh. Thủy Tinh đến trễ, và ngỡ ngàng khi biết Mỵ Nương đ• theo chồng. Thần lập tức đuổi theo và kêu binh tướng đánh Sơn Tinh để đòi lại Mỵ Nương. Hai thần đánh nhau long trời nổ đất. Thủy Tinh làm phép dâng nước định dìm chết Sơn Tinh, Sơn Tinh làm phép cho núi dâng cao cản nước. Thuỷ Tinh càng làm nước dâng cao, Sơn Tinh càng làm núi mình cao hơn. Cuối cùng Thuỷ Tinh không đánh lại, chịu thua. Từ đó Sơn Tinh và Mị Nương sống vui vẻ bên nhau. Tuy nhiên, hàng năm cứ vào khoảng tháng 7 âm lịch, Thuỷ Tinh lại nhớ đến thù xưa và dâng nước lên đánh Sơn Tinh. Sơn Tinh - Thuỷ Tinh là một truyền thuyết nổi tiếng lí giải về hiện tượng lũ lụt và chống lại lũ lụt hàng năm của người Việt Nam xưa

Nơi đây còn thường được dùng làm nơi biểu diễn, giao lưu văn nghệ giữa các đoàn tham quan.

Thấp thoáng dưới tán cây rừng là những mái nhà, những bộ bàn ghế cho khách nghỉ chân. Tất cả được xắp đặt một cách khéo léo dưới bóng cây rừng che phủ, vừa kín đáo, vừa gần gũi với cảnh quan thiên nhiên trong tiếng rì rầm của thác nước đổ. Những hạt nước li ti mơn man lên làn da tạo nên một cảm giác mát lạnh vô cùng sảng khoái, xua tan những căng thẳng, những mệt mỏi của cuộc sống hối hả đang đè nặng trên vai mỗi du khách khi đến đây. Nơi này rất phù hợp cho việc dạo chơi, khám phá rừng, thưởng ngoạn cảnh đẹp của những con suối, ngọn thác cho tâm hồn được thư thái tĩnh lặng. Khu Trung Sơn là khu phục vụ hội thảo, hội nghị, ăn uống, nghỉ ngơi. ở đây có khu nhà nghỉ cao cấp được nằm xen lẫn giữa những tán cây rừng. Với kiểu kiến trúc khá độc đáo từ chất liệu tới kiểu dáng, những ngôi nhà được dựng lên khá công phu và đ• tạo ấn tượng rất tốt trong lòng du khách.

Đến với khu Ngoạn Sơn, là khu vực thoáng đ•ng có thể ngắm nhìn được toàn cảnh núi Ba Vì, tại đây có những hồ nước sát mép bờ được cải tạo thành những con đường dạo mát hoặc thư gi•n bằng bơi thuyền, câu cá, những mái nhà nép bên sườn núi đá ven hồ vừa mát mẻ vừa thơ mộng với những cây cầu uốn lượn soi bóng xuống hồ nước trong xanh. Các dịch vụ ở đây đa dạng từ phục vụ ăn nghỉ ở nhà sàn bình dân tới các phòng cao cấp theo tiêu chuẩn hai sao.

Những ngôi nhà sàn ở đây được xây dựng theo kiến trúc nhà sàn nằm sen kẽ dưới những tán cây rừng nên luôn mát mẻ. Ngồi trên nhà sàn, du khách có thể vừa ngắm cảnh, vừa nghỉ ngơi vừa hít thở khí trời. Khách du lịch đến đây dù đi ít người vẫn có thể thuê cả một ngôi nhà sàn với giá rất phải chăng, ngay bên hiên nhà sàn là những hàng cau cao vút, những chiếc gáo dừa treo hờ hững bên chum nước mưa trong vắt, bên cạnh là những hòn đá cuội đủ màu sắc...xen giữa thảm hoa mùi giờ đủ màu sắc. Du khách không chỉ mê mải với phong cảnh đẹp và hùng vĩ của núi rừng mà còn thích thú bởi những món ăn dân d• của xứ Đoài như canh măng rừng nấu chua, canh rau sắn nấu với cá suối, quả lặc lày luộc chấm muối vừng...

Khách du lịch đến với Thiên Sơn - Suối Ngà còn rất thích thú với hoạt động giải trí diễn ra vào buổi tối, du khách có thể tham gia vào các hoạt động văn hoá - văn nghệ do những người dân hoặc do các nhân viên trong khu du lịch thực hiện, sẽ là một ấn tượng không thể quên đối với du khách. Mọi ngưồi đều có thể tham gia vào biểu diễn văn nghệ, vui vẻ hay quây quần bên đống lửa trại đầm ấm diễn ra giữa thiên nhiên hùng vĩ, trong nàn sương khói huyền ảo. Bên bếp lửa khách du lịch có thể thưởng thức những món ăn là đặc sản của miền núi vừa dân gi• vừa thú vị như cá nướng, cơm lam hay ngô nướng, sắn nướng.

2.2. Điều kiện x• hội

Thiên Sơn - Suối Ngà nằm ở sườn Đông d•y núi Ba Vì, là một huyện thuộc vùng bán sơn địa, nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Hà Tây (cũ), cách tỉnh lỵ và thủ đô Hà Nội 60 km, có diện tích tự nhiên là trên 428 km2 hình thành 3 vùng địa hình rõ rệt là vùng núi, đồi gò và đồng bằng. Dân số trên 26 vạn người gồm có 3 dân tộc sinh sống chủ yếu là Kinh, Mường, Dao và một số dân tộc thiểu số khác. Từ 1/8/2008 là huyện trực thuộc Hà Nội, gồm 30 x• và 1 thị trấn, trong đó có 7 x• miền núi - nơi sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số.

Ba Vì lối liền với các tỉnh và thủ đô Hà Nội bằng các trục đường chính như: quốc lộ 32, tỉnh lộ 89A,...và các tuyến đường thuỷ qua sông Hồng, sông Đà có tổng chiều dài 70 km. Ba Vì đặc biệt chú ý khai thác tiềm năng về du lịch - dịch vụ. Có lẽ hiếm ở nơi đâu lại có những cảnh sắc sông nước, núi non, rừng già quyện hoà, gắn bó với nhau như ở đây. Vùng núi Ba Vì chiếm 42% diện tích toàn huyện, với trung tâm là ngọn núi Ba Vì cao 1.296 m, cùng hệ động thực vật phong phú, quý hiếm.

Nằm trong khu vực có lợi thế về du lịch, Thiên Sơn - Suối Ngà đang ngày thu hút lượng khách du lịch lớn đến tham quan.

Đến với khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà với khung cảnh thiên nhiên hữu tình cùng với hệ thống nhà sàn sẽ giúp cho du khách có một chuyến đi đầy thú vị. Bên cạnh đó là sự phục vụ nhiệt tình của đội ngũ nhân viên trẻ năng động luôn sẵn sàng phục vụ yêu cầu ăn ở và lưu trú của du khách. Người dân địa phương Ba Vì nói chung và người dân x• Vân Hoà nói riêng là những người rất mến khách và gần gũi với khách du lịch. Khi đến Thiên Sơn - Suối Ngà khách du lịch có thể tiếp xúc trao đổi với người dân ở đây, đó cũng chính là những ấn tượng tốt đẹp mà không dễ gì quên được khi đến đây

* Đánh giá tiềm năng du lịch tại Thiên Sơn - Suối Ngà

Mặc dù đi vào hoạt động muộn hơn so với các khu du lịch khác trong vùng song khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà đ• và đang được du khách chọn làm điểm đến.

Tất cả những tiềm năng du lịch trên của Thiên Sơn - Suối Ngà đ• giúp cho khu du lịch này thu hút một số lượng lớn khách du lịch đến tham quan nghỉ dưỡng đặc biệt là vào những ngày nghỉ cuối tuần. Tiềm năng của khu du lịch là thế nhưng những người quản lí khu du lịch cũng cần phải có những biện pháp để vừa bảo vệ nguồn tài nguyên sẵn có này vừa tái tạo khai thác những nguồn tài nguyên khác tránh tình trạng cạn kiệt tài nguyên, để khu du lịch ngày càng thu hút khách du lịch hơn.

3. Hiện trạng hoạt động du lịch tại Thiên Sơn - Suối Ngà

Ngày nay hoạt động du lịch của con người ngày càng phát triển, các khu du lịch điểm du lịch hấp dẫn đang là điểm đến lý tưởng cho khách du lịch. Việt Nam cũng xác định ngành du lịch là một ngành tương đối trẻ và đang được quan tâm để trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, đem lại nguồn lợi chính đáng cho quốc gia. Cùng với nhịp độ phát triển du lịch của đất nước khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà đ• đi vào hoạt động và thu hút một số lượng khách tương đối lớn.

3.1. Cơ sở vật chất kĩ thuật

STT Cơ sở vật chất ĐVT Năm 2009

1 Tổng diện tích thuê ha 252

2 Diện tích đ• xây dựng ha 4,69

3 B•i đỗ xe b•i 3

4 Cơ sở lưu trú

a Loại hạng hạng 2

b Số lượng buồng phòng 22

5 Nhà hàng

a Số lượng nhà 3

b Số ghế phục vụ cái 780

6 Bể bơi cái 10

7 Karaoke sàn 4

Khu du lịch được chia làm 3 khu, mỗi khu được trang bị đầy đủ các cơ sở vật chất để phục vụ khách du lịch.

Khu Hạ Sơn:

- Có hai nhà sàn gỗ trung tâm thương mại gồm có: một nhà hàng có điều kiện phục vụ 300 khách một lúc, một quầy lễ tân được trang bị đâỳ đủ các thiết bị phục vụ các yêu cầu dặt dịch vụ của khách, hai quầy bar phục vụ các đồ ăn nhẹ, đồ uống cùng với các dịch vụ khác; nhà bếp phục vụ các món ăn đặc sản của núi rừng do các đầu bếp và đội ngũ nhân viên nhiệt tình, giàu kinh nghiệm đảm nhiệm.

- Có 5 phòng nghỉ khép kín loại I với đầy đủ trang thiết bị sẽ làm hài lòng nhu cầu của du khách. Tại đây khách du lịch sẽ được tận hưởng cảm giác như đang nghỉ trong hang đá của người xưa.

- Hai nhà sàn giả gỗ: có 10 phòng nghỉ có sức chứa 20 khách, đây sẽ là nơi lý tưởng để vừa nghỉ ngơi vừa ngắm cảnh mặt hồ phía trước mặt nhà sàn, cùng đối diện với đó là khu nhà hàng lung linh màu sắc về đêm.

Khu Trung sơn:

- Một nhà hàng: bao gồm một nhà hàng có sức chứa 150 khách hướng nhà nghỉ về phía đỉnh núi Ba Vì, phía trước là hồ suối đây là nơi lý tưởng để du khách vừa thưởng thức những đặc sản của núi rừng vừa ngắm cảnh thiên nhiên hùng vĩ dưới bóng mặt hồ lung linh.

- Ba nhà sàn nghỉ loại II: được trang bị đủ tiện nghi nhằm đáp ứng tốt nhu cầu nhu cầu nghỉ ngơi giải trí của du khách. Đến đây khách sẽ được tận hưởng bầu không khí trong lành, yên tĩnh cùng phong cảnh thiên nhiên làm đắm lòng người, với đa dạng loại hình dịch vụ bên cạnh chất lượng phục vụ còn có đội ngũ nhân viên nhiệt tình, trẻ trung duyên dáng và lịch sự.

Ngoài ra, tại đây còn có 10 phòng khép kín với đầy đủ tiện nghi, luôn sẵn sàng phục vụ khách du lịch nghỉ ngơi.

Khu Ngoạn sơn: 5 phòng kép kín loại I, hai nhà sàn giả gỗ có 10 phòng khép kín đủ phục vụ cho 20 khách.

Khách du lịch đến với Thiên Sơn - Suối Ngà không những được ngắm cảnh thác nước núi non mà còn được tắm suối, với những du khách muốn tìm cảm giác mạnh có thể tham gia vui chơi tắm bên hồ tạo sóng, hồ mới được xây dựng xong rất được khách du lịch ưa chuộng đặc biệt là các bạn trẻ. Sau buổi tham quan, du khách còn có thể tham gia vào giao lưu tập thể, chơi các trò chơi ưa thích hay ngồi bên nhau hát cho nhau nghe những bài hát vui nhộn,...

3.2. Đội ngũ lao động

Stt Lao động ĐVT Năm 2009

1 Tổng số Người 77

Lao động nữ Người 35

Lao động thường xuyên Người 75

Lao động không thường xuyên Người 158

2 Trình độ chuyên môn

Đại học Người 5

Cao đẳng Người 7

Trung cấp Người 7

Sơ cấp, chứng chỉ Người 9

Đội ngũ nguồn lao động hoạt động trong lĩnh vực du lịch thường là những đối tượng trẻ năng động và nhiệt tình với công việc

Đối với đội ngũ công nhân viên trong khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà, qua bảng thống kê trên ta có thể thấy trình độ chuyên môn còn thiếu và yếu, số lượng nhân viên có chuyên môn chỉ chiếm 30% trong tổng số 77 người. Số lao động thường xuyên còn mỏng, nhất là khó khăn về thiếu nguồn nhân lực trong mùa du lịch đặc biệt là vào ngày 30/4 và 1/5 hàng năm, đây là thời điểm thu hút khách du lịch nhiều nhất trong năm. Hàng năm cứ vào những ngày lễ như thế này số lượng khách đến tham quan rất đông nhưng số lượng đội ngũ nhân viên lại mỏng nên đôi khi chưa phục vụ được nhu cầu của du khách, mang lại tâm lý khó chịu và mệt mỏi vì phải chờ đợi của khách du lịch, đây cũng là một trong những hạn chế mà khu du lịch cần phải khắc phục kịp thời để nâng cao chất lượng phục vụ.

Do đây là một khu du lịch sinh thái nên đội ngũ nhân viên chủ yếu là những người dân địa phương, không được chuyên môn hoá nghiệp vụ: Khi một khâu nào đó xong công việc của mình thì họ sẽ hỗ trợ và tăng cường các khâu khác để hoạt động. Tuy nhiên, do du lịch sinh thái tại có tính mùa vụ nên sau mỗi mùa du lịch đội ngũ nhân viên ở đây đ• được đào tạo nghiệp vụ, đồng thời gửi một số nhân viên đi học thêm các lớp huấn luyện ngắn hạn tại các trường nghiệp vụ du lịch để đào tạo nguồn nhân lực ngày càng chuyên môn hơn.

3.3. Hoạt động kinh doanh ăn uống

Bảng thực đơn

STT Món ăn Đơn vị Giá (VNĐ)

1 Lợn Mán (hấp, nướng) Đĩa 150.000

2 Xào lăn Đĩa 130.000

3 Bê (nướng, tái) Đĩa 150.000

4 Tái dê Đĩa 150.000

5 Gà đồi (nướng, hấp) Con 220.000

6 Chim đa đa Đĩa 80.000

7 Nai (nướng, xào, hấp) Đĩa 150.000

8 Măng luộc Đĩa 30.000

9 Khoai tây chiên Đĩa 30.000

10 Rau sang rừng Đĩa 30.000

11 Rau lang xào Đĩa 30.000

12 Xu xu Đĩa 30.000

13 Xôi nương Đĩa 30.000

STT Đồ uống Đơn vị Giá (VNĐ)

1 Beer Halida Hộp 10.000

2 Beer Hà Nội Chai 15.000

3 Rượu Voka (1lít) Chai 80.000

4 Vang đỏ Chai 150.000

5 Nước khoáng Chai 7.000

6 Cafê Cốc 10.000

7 Sữa tươi Cốc 10.000

8 Sữa chua Cốc 5.000

9 X.O Chai 500.000

10 Rượu cần Bình 100.00

11 Henessy Chai 300.000

12 Nước cam Chai 10.000

Khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà đ• tận dụng triệt để các sản phẩm du lịch đặc trưng của quần thể núi Tản Viên Ba Vì. Các sản phẩm đặc trưng như: Gà đồi, dê núi, các loại bánh như bánh sữa Thiên Sơn, Sữa tươi, Bánh tẻ, Măng ớt...đây là những sản phẩm rất cần mà chỉ nơi đây mới có. Bên cạnh đó khu du lịch cũng xây dựng những thực đơn phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu của du khách đặc biệt là trong mùa du lịch. Mở thêm một số quầy hàng lưu niệm và đồ ăn nhanh tại điểm dọc tuyến suối, điểm vui chơi giải trí, nơi tập trung đông người. Để đáp ứng phần nào nhu cầu của khách du lịch và đem lại doanh thu lớn.

Lượng khách Đvt Năm Tổng cộng

2005 2006 2007 2008 2009

Nội địa Lượt 38.275 54.886 75.188 99.651 117.993 385.993

Quốc tế Lượt 286 462 679 765 967 3.159

Nhìn vào bảng số lượng khách du lịch đến Thiên Sơn - Suối Ngà qua các năm ta có thể thấy rõ số lượng khách không ngừng tăng lên. Năm 2005 do khu du lịch mới đi vào hoạt động nên khách du lịch chưa biết được về tiềm năng nơi đây chính vì vậy mà số lượng khách lúc đầu còn thấp. Bước sang năm 2006 do khu du lịch đ• có chính sách quảng bá giới thiệu về mình nên được đông đảo du khách biết đến và coi đây như một địa điểm lý tưởng để nghỉ ngơi, tham quan và tận hưởng không khí trong lành nơi đây. Số lượng khách tăng lên gấp đôi kể từ khi bước vào hoạt động. Tuy nhiên, trong những năm sau do khu du lịch còn đang trong quá trình xây dựng các hạ tầng cơ sở, khu vui chơi giải trí nên trong thời gian này khu du lịch không có số lượng khách cao, hơn nữa do du lịch có tính mùa vụ nên, chủ yếu chỉ hoạt động vào mùa hè, đây là thời điểm thu hút đông đảo lượng khách nhất và chủ yếu là đối tượng học sinh, sinh viên.

Số lượng khách du lịch nước ngoài đến với khu du lịch không cao, tuy nhiên trong những năm gần đây khu du lịch đ• có chính sách quảng bá du lịch nhằm thu hút nhiều hơn nữa đối tượng khách nước ngoài giúp quảng bá hình ảnh của mình đối với không chỉ trong nước mà còn với thị trường du lịch quốc tế.

Bước sang năm 2009 do một số cơ sở vật chất đ• được xây dựng phù hợp với nhu cầu của đông đảo khách du lịch nên đ• thu hút số lượng khách tham quan lớn. Đây cùng là một thành công lớn mà doanh nghiệp đạt được nhằm nâng cao doanh thu cho Công ty.

3.4. Hoạt động hướng dẫn du lịch tại Thiên Sơn - Suối Ngà

Trong lịch sử ra đời tồn tại và phát triển của du lịch, buổi ban đầu hướng dẫn viên du lịch chưa được hình thành. Du khách chủ yếu tự tìm hiểu để thoả m•n nhu cầu của chuyến đi theo mục tiêu đ• định. Sau đó các điểm du lịch thường có những người dân địa phương đảm nhiệm vai trò giới thiệu cho khách thông qua những hiểu biết của mình. Cùng với nhịp độ phát triển kinh tế dòng du khách cũng lớn lên kéo theo sự đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch. Từ đó, hoạt động hướng dẫn du lịch cũng ra đời, và ngày càng có vị trí quan trọng và cần thiết trong kinh doanh du lịch.

Khi khách du lịch di chuyển từ vùng này sang vùng khác hay từ quốc gia này đến quốc gia khác họ hầu như chưa có hiểu biết gì hay hiểu sơ sài qua quảng cáo, sách báo hay qua lời giới thiệu...về đối tượng mà họ muốn tìm hiểu, người hướng dẫn viên sẽ đáp ứng cho họ nhu cầu đó một cách trực tiếp, sinh động và đa dạng trong chuyến du lịch của khách.

Hoạt động hướng dẫn du lịch là một hoạt động phức tạp bao gồm các mặt như cung cấp các thông tin cho quảng cáo, tiếp thị du lịch, đón tiếp và phục vụ khách, giới thiệu các đối tượng tham quan trong chuyến đi, phục vụ khách về các dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận chuyển, mua sắm, giải trí, những vấn đề phát sinh trong quá trình đi du lịch. Nếu hoạt động hướng dẫn được thực hiện tốt thì sẽ góp phần thành công trong chuyến đi, một chuyến du lịch được gọi là thành công khi đ• hoàn tất quá trình tham quan, khách du lịch cảm thấy thoải mái hứng thú với chuyến đi.

Khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà là khu du lịch sinh thái, nên hoạt động hướng dẫn chưa thực sự phát triển, mà doanh nghiệp chủ yếu đầu tư vào kinh doanh các dịch vụ. Đây cũng là một trong những khó khăn trước mắt mà các khu du lịch sinh thái đang gặp phải.

Do tính chất của du lịch là tính mùa vụ, hơn thế đây lại là khu du lịch sinh thái nên hầu hết khách đến tham quan với mục đích nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí còn mục đích tìm hiểu nghiên cứu là rất ít, chính vì vậy mà hoạt động hướng dẫn không được phát triển.

Khách du lịch chủ yếu đi theo đoàn qua các công ty lữ hành nên đ• có hướng dẫn viên xuốt tuyến của công ty hướng dẫn mà không cần đến sự hướng dẫn giới thiệu của hướng dẫn viên tại điểm. Nếu khách du lịch muốn tìm hiểu về khu du lịch thì những nhân viên và những người bán hàng ở đây sẽ sẵn lòng giới thiệu cho khách hiểu biết thêm thông tin về khu du lịch này.

Đây cũng là một thực trạng đáng quan tâm đối với khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà nói riêng và các khu du lịch khác trong địa bàn huyện nói riêng, đòi hỏi phải có một chiến lược phát triển mới để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hướng dẫn du lịch tại điểm phát triển đáp ứng phần nào nhu cầu tìm hiểu của khách du lịch.

4. Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái tại Thiên Sơn - Suối Ngà

Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái

- Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao sự hiểu biết cho du khách người hướng dẫn viên ngoài kiến thức về văn hoá tốt còn phải am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phương. Điều này rất quan trọng và có ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động du lịch sinh thái, khác với các lạo hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự tìm hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này ở người hướng dẫn viên. Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải cộng tác với người dân địa phương để có được những hiểu biết tốt nhất, lúc đó người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò là người phiên dịch giỏi

- Hoạt động du lịch đòi hỏi phải có được người điều hành có nguyên tắc. Các nhà du lịch truyền thống chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có cam kết gì đối với việc bao rtồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ đơn giản tạo cho du khách cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn hoá trước khi những cơ hội này thay đổi vĩnh viễn hoặc mất đi. Ngược lại các nhà điều hành sinh thái phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hoá khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương với du khách.

- Nhằm hạn chế tối đa các tác động có thể của hoạt động du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trường, theo đó du lịch sinh thái cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về "sức chứa". Khái niệm "sức chứa" được hiểu từ bốn phía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý, x• hội. Tất cả những khía cạnh này có liên quan tới lượng khách đến một địa điểm vào cùng một thời điểm.

+ Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa được hiểu là số lượng tối đa khách du lịch mà khu du lịch có thể tiếp nhận. Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn không gian đối với mỗi du khách cũng như nhu cầu sinh hoạt của họ.

+ Đứng trên góc độ x• hội, sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến đời sống văn hoá - x• hội, kinh tế - x• hội của khu vực. Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa phương có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập.

+ Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu du lịch có khả năng phục vụ. Nếu lượng khách vượt quá giới hạn này thì năng lực quản lý (lực lượng nhân viên, trình độ và phương tiện quản lý...) cảu khu du lịch sẽ không đáp ứng được nhu cầu của khách, làm mất khả năng quảnlý kiểm soát hoạt động của khách, kết quả là sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường và x• hội.

Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lượng vì vậy khó có thể xác định được một con số chính xác cho mỗi khu vực. Mặt khác, mỗi khu vực khác nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau. Các chỉ số này chỉ có thể xác định được một cách tương đối bằng phương pháp thực nghiệm.

Một điểm cần phải lưu ý trong quá trình xác định sức chứa là quan niệm về sự đông đúc của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, đặc biệt trong những điều kiện phát triển x• hội khác nhau, rõ ràng để đáp ứng yêu cầu này, cần phải tiến hành nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể để căn cứ vào đó mà quyết định về quản lý. Điều này cần được tiến hành đối với các nhóm đối tượng khách, thị trường khác nhau, phù hợp với tâm lý và quan niệm của họ. Du lịch sinh thái ở Thiên Sơn - Suối Ngà nói riêng và của du lịch Việt Nam nói riêng không thể đáp ứng được các nhu cầu của tất cả cũng như mọi loại khách.

Yêu cầu thứ tư là thoả m•n nhu cầu nâng cao kiến thức và hiểu biết của khách du lịch. Việc thoả m•n mong muốn này của khách du lịch sinh thái về những kinh nghiệm, hiểu biết đối với tự nhiên, văn hoá bản địa thường là rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành du lịch sinh thái tại Thiên Sơn - Suối Ngà. Vì vậy, những dịch vụ để làm hài lòng du khách có vị trí vô cùng quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì mà họ quan tâm.

* Những nguyên tắc yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái tại Thiên Sơn - Suối Ngà

Thị trường du lịch sinh thái hiện nay đang phát triển mạnh so với các thị trường khác. Song sự phát triển nhanh chóng này lại đe doạ tính bền vững của du lịch sinh thái và mở rộng ra những cái có thể đóng góp cho sự phát triển bền vững. Du lịch sinh thái bản thân nó đ• bị giới hạn trong phạm vi, mức độ phát triển. Nó không thể tiếp nhận một số lượng lớn du khách mà không phải là nguyên nhân dần dần làm thay đổi dẫn đến sự phá huỷ lý do mà nó tồn tại. Vì vậy vấn đề quan trọng trong sự phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Thiên Sơn - Suối Ngà là sự kiểm soát những nguyên tắc xử lý và thực hiện.

ở Việt Nam, du lịch sinh thái bền vững đóng góp tích cực cho sưk phát triển bền vững. Điều đó không có nghĩa là luôn có sự tăng trưởng liên tục về du lịch. Đây là điểm khác biệt cần nhấn mạnh trong thời điểm mà Việt Nam bắt đầu lo lắng về tốc độ tăng trưởng của du lịch.

"Du lịch sinh thái được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao về môi trường và sinh thái thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. Du lịch sinh thái chứa đựng mối tác động qua lại lớn giữa con người và thiên nhiên hoang d• cộng với ý thức được giáo dục nhằm biến chính những khách du lịch thành những người đi đầu trong việc bảo vệ môi trường. Phát triển du lịch sinh thái làm giảm tối thiểu tác động của khách du lịch đến văn oá và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi chính do du lịch mang lại và cần trú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên".

Sau đây là những nguyên tắc, biện pháp cần thực hiện để phát triển khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà:

- Du lịch sinh thái tại đây phải phù hợp với những nguyên tắc tích cực về môi trường, tăng cường và khuyến khích trách nhiệm đạo đức đối với môi trường tự nhiên. Đặc biệt là đối với đối tượng khách là học sinh, sinh viên một thực tế tại đây cho thấy những đối tượng khách này chưa có ý thức cao trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường khu du lịch.

- Du lịch sinh thái không được làm tổn hại đến tài nguyên, môi trường, những nguyên tắc về môi trường không chỉ áp dụng cho những nguồn tài nguyên bên ngoài nhằm thu hút khách, mà còn bên trong nó.

- Phát triển du lịch sinh thái ở đây phải đảm bảo lợi ích lâu dài đối với tài nguyên rừng, đối với địa phương và đối với ngành (lợi ích kinh tế, văn hóa, x• hội).

- Cần có sự đào tạo đối với tất cả các ban ngành chức năng: địa phương, chính quyền, tổ chức đoàn thể, cán bộ Công ty, nhân viên và khách du lịch (trước, trong và sau chuyến đi).

- Tăng cường sự tham gia của địa phương vào các hoạt động du lịch

- Các nguyên tắc về đạo đức, cách ứng xử và nguyên tắc thực iện là rất quan trọng. Nó đòi hỏi cơ quan giám sát của ngành phải đưa ra các nguyên tắc và các tiêu chuẩn chấp nhận và giám sát toàn bộ các hoạt động.

5. Đánh giá cách khai thác

Khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà, là một nơi nghỉ ngơi thư gi•n rất lý thú, tuy đi vào khai thác muộn hơn so với các khu du lịch khác, nhưng chính nhờ đó mà sau này những người quản lý du lịch ở đây đ• rút ra nhiều bài học trong kinh doanh, khai thác và bảo vệ tài nguyên, môi trường rừng. Đó là việc lập kế hoạch đầu tư có chiều sâu, không nóng vội phá vỡ cảnh quan thiên nhiên, bảo vệ rừng và hệ sinh thái, tạo một không khí trong lành cho du khách khi đặt chân đến nơi này.

Để nâng cao chất lượng của khu du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách tham quan, khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà đang tiếp tục đầu tư tạo sự mới mẻ và dần hoàn thiện tổng thể. Bên cạnh việc đầu tư cho hệ thống đường xá, tạo thuận lợi cho việc đi lại của du khách, Công ty còn đang tiếp tục đầu tư vào hệ thống cơ sở vui chơi, giải trí như ở khu Trung Sơn đang được xây dựng công viên nước rộng 2ha có máy tạo sóng tự nhiên, cầu trượt, xây dựng khu vật lý trị liệu

Với cách làm như hiện nay, vừa có kế hoạch đầu tư xây dựng lâu dài, vừa đảm bảo cảnh quan, môi trường, giữ nguyên vẻ đẹp hoang sơ không xâm hại đến rừng, Thiên Sơn - Suối Ngà đ• và đang là điểm đến thu hút khách du lịch vào mỗi dịp cuối tuần.

Với nhiều tiềm năng về tự nhiên, du lịch Ba Vì nói chung và Thiên Sơn - Suối Ngà nói riêng có nhiều điều kiện để phát triển du lịch sinh thái. Tuy vậy, làm thế nào để phát triển du lịch sinh thái tại dây đang là vấn đề thu hút mọi người quan tâm. Hiện tại sản phẩm du lịch sinh thái tại dây chưa thực sự là điểm nhấn cho khách du lịch. Mọi hoạt động còn mang tính tự phát, chưa có sản phẩm và đối tượng phục vụ rõ ràng, chưa có đầu tư quảng bá, nghiên cứu thị trường và công nghệ phục vụ cho du lịch sinh thái. Nhiều dự án đầu tư phát triển du lịch còn chậm được triển khai thực hiện. Vốn đầu tư vào cơ sở vật chất và hạ tầng còn thấp, đội ngũ nhân viên chưa được đào tạo chuyên sâu

Để phát triển du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà phải hướng và đạt được sự phát triển bền vững, để nơi đây ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế của địa phương và của vùng miền

* Bên cạnh những thuận lợi khu du lịch vẫn còn nhiều hạn chế cần được khắc phục

- Là khu du lịch mới đi vào hoạt động (hơn 5 năm), bên cạnh đội ngũ nhân viên quản lý, nhân viên phục vụ còn hạn chế về chuyên môn, năng lực quản lý cũng như ý thức nhận thức. Đa số chưa qua trường lớp đào tạo cơ bản hay kinh nghiệm thực tiễn.

- Cơ sở vật chất còn chưa đầy đủ, một số hạng mục xây dựng cơ bản còn trong giai đoạn tiếp tục đầu tư và hoàn thiện.

- Do địa bàn rộng lớn cho lên công tác quản lý lao động, bảo vệ còn gặp một số khó khăn.

- Người dân bản địa còn hạn chế về nhận thức, về ích lợi của phát triển loại hình du lịch sinh thái. Còn nhiều hiện tượng chặt phá cây cối, chăn thả trâu bò...ảnh hưởng đến tài nguyên rừng.

Chương III: Những giải pháp và chiến lược phát triển du lịch sinh thái tại Thiên Sơn - Suối Ngà

1. Giải pháp và chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Thiên Sơn - Suối Ngà

Phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà phải hướng tới và đạt dược sự phát triển bền vững của chính loại hình du lịch sinh thái và phải trở thành một nhân tố tích cực đảm bảo, phục vụ cho phát triển du lịch bền vững. Đưa du lịch sinh thái ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế x• hội tạo môi trường thuận lợi để thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế, xây dựng và tạo ra việc quản lý tài nguyên một cách hợp lý, giảm chi phí, tăng tính cạnh tranh, hấp dẫn du khách mà không gây ra tác động xấu lên môi trường, tất cả những điều này đang trở nên cần thiết.

Thiên Sơn - Suối Ngà nằm ở huyện Ba Vì, nơi có vị trí, điều kiện tự nhiên vô cùng thuận lợi cho phát triển du lịch đặc biệt là du lịch sinh thái chính vì vậy doanh nghiệp cần phải có những định hướng và giải pháp để phát triển một cách bền vững.

Những giải pháp cần thiết và trước mắt là cần có những văn bản pháp quy tạo hành lang môi trường pháp lý cho hoạt động du lịch sinh thái có cơ hội phát triển, đồng thời nên có những quy chế, chính sách ưu đ•i riêng rành cho loại hình du lịch khá mới mẻ mà tiềm năng của nó rất lớn chưa dược khai thác có hiệu quả, đồng thời cần có sự phối hợp tốt giữa các cơ quan và bộ phận quản lý với các ngành các địa phương quản có hiệu quả. Việc sử dụng, khai thác tài nguyên thiên nhiên môi trường sinh thái vào mục đích du lịch theo những mục tiêu định hướng đ• đề ra.

Cụ thể:

Thứ nhất: Giáo dục - đào tạo và tuyên truyền về du lịch sinh thái

Giải pháp thiết yếu nhất chính là tuyên truyền, giáo dục về du lịch sinh thái cho một loạt các đối tượng liên quan đến du lịch sinh thái. Đối tượng đó bao gồm: quản lý của khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà, nhân viên, hướng dẫn viên, các nhà hoạch định chính sách liên quan đến bảo tồn và du lịch, cộng đồng địa phương, khách du lịch trong và ngoài nước.

Bằng cách tuyên truyền, giáo dục các vấn đề khúc mắc khác có thể dễ dàng tháo gỡ, như giáo dục tuyên truyền đối với các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý khu du lịch để làm cho họ quan tâm hơn đến việc quy hoạch cho du lịch sinh thái. Đối với họ không chỉ chú trọng tới lợi ích bảo tồn của du lịch sinh thái mà nên nhấn mạnh đến tiềm lực kinh tế mà du lịch sinh thái có thể mang lại cho doanh nghiệp, cũng cần phải lưu ý họ về tầm quan trọng của sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động của khu du lịch.

Đào tạo hướng dẫn viên nên được tiến hành chính quy trong các trường đại học, cao đẳng và trung cấp du lịch. Nên ưu tiên đào tạo các hướng dẫn viên địa phương. Tuy nhiên, trước mắt nếu người dân địa phương chưa có điều kiện tham dự khoá đào tạo chính quy thì khu du lịch nên tổ chức đào tạo ngắn hạn cho họ tại địa phương.

Khách tham quan là một đối tượng giáo dục hiển nhiên. Bản thân giáo dục tại nơi đây cũng nằm trong định nghĩa của du lịch sinh thái. Hay nói cách khác giáo dục về thiên nhiên là một phần tạo nên du lịch sinh thái. Những nội dung giáo dục phải phù hợp, giúp du khách liên hệ trực tiếp với những điều họ đ• từng nghe, từng đọc với những điều mắt thấy tai nghe khi họ đến thăm khu du lịch. Nếu làm được việc này du khách sẽ ý thức hơn trong khi tiếp xúc với thiên nhiên, với động vật hoang d•, và họ sẽ thấy chuyến đi của mình bổ ích hơn và sẽ mong muốn trở lại lần nữa.

Đối với cộng đồng địa phương, chương trình giáo dục phải dựa trên nhiều hình thức, không thể tập chung họ lại dạy cho họ những lý thuyết xuông, mà nên sử dụng những hình thức dễ hiểu, dễ nhớ như băng hình, tranh ảnh, các chương trình biểu diễn văn nghệ...Giáo dục cộng đồng địa phương trước hết phải tập trung vào đối tượng chủ chốt là những nhà l•nh đạo địa phương, những người có uy tín trong cộng đồng như những người lớn tuổi, người có trình độ học vấn hoặc những người đứng đầu các tổ chức đoàn thể...nếu có thể tuyên truyền cho những đối tượng này thì việc giáo dục cho toàn thể cộng đồng trở nên dễ dàng hơn rất nhiều bởi họ luôn được dân nghe theo.

Không chỉ giáo dục đối với cộng đồng địa phương khu du lịch mà nên có những chương trình giáo dục đối với cộng đồng người Việt Nam nói chung, vì họ là những du khách tương lai của các điểm du lịch sinh thái. Chương trình giáo dục phải khuyến khích họ và làm cho họ có mong muốn đựoc đi du lịch theo hình thức du lịch sinh thái. Đối tượng chủ yếu có lễ là học sinh - sinh viên trong các nhà trường, họ là những người thường xuyên tổ chức các chuyến đi tham quan thiên nhiên, nhưng nhiều khi chưa ý thức được vai trò quan trọng của thiên nhiên. Hậu quả những chuyến đi d• ngoại của hoj trong khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà nói riêng và của các khu thiên nhiên nói chung thường là những b•i rác sau khi họ ăn trưa và nhiều tác động tiêu cự khác. Tuy nhiên, thay đổi hành vi, thói quen của họ là việc không phải dễ dàng.

Đối với học sinh - sinh viên nên có những chương trình giáo dục du lịch sinh thái kết hợp với giáo trình của nhà trường về môi trường. Vấn đề này sẽ liên quan đến Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nên có những chương trình giáo dục ngay từ các em nhỏ để các em dễ tiếp thu hơn đối với những gì được dạy. Đối với những đối tượng lớn hơn chỉ nên lưu ý, thuyết phục họ chứ không nên ra lệnh vì lớp trẻ thường thích làm trái lời để thể hiện mình đ• trưởng thành, mặc dù đó không phải là cách tốt nhất để làm vậy.

Không chỉ tuyên truyền giáo dục đối với người dân trong nước, mà cần phải tuyen truyền du lịch sinh thái ở các khu du lịch cho cả đối tượng khách nước ngoài. Nên khuyến khích họ sử dụng dịch vụ và mua sản phẩm, quà lưu niệm tại địa phương, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.

Thứ hai: Cần có sự kết hợp tham gia của cộng đồng địa phương

Giáo dục cộng đồng phải đi đôi với hỗ trợ phát triển cộng đồng và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của cộng đồng địa phương. Không thể vận động họ không phá rừng làm rẫy trong khi họ lại dựa vào hoạt động này để kiếm kế sinh nhai.

Sự thật này dẫn đến một giải pháp khác cho vấn đề phát triển du lịch sinh thái ở đây là vấn đề tạo việc làm, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp và ngành nghề cho người dân địa phương. Do du lịch sinh thái liên quan đến văn hoá địa phương, nên khuyến khích những ngành nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm, sản xuất đồ lưu niệm bằng mây, tre, đá..., những đặc sản của núi rừng như cơm lam, măng rừng, sữa tươi...Văn hoá dân tộc là một hấp dẫn với khách du lịch, do đó nên khuyến khích các hoạt động này vừa như là một hình thức để giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và là một hình thức tăng thu nhập cho nhân dân địa phương.

Hiện tại các dự án phát triển du lịch đang được triển khai nhưng hiệu quả của các hoạt động đó tới đời sống của nhân dân chưa được nhiều. Người ta cho rằng du lịch sinh thái thường là phương tiện để đạt được hao mục tiêu là phát triển cộng đồng và bảo tồn thiên niên. Nhưng thực tế cộng đồng địa phương thường bị đứng ngoài các dự án du lịch. Trong lĩnh vực du lịch nếu thiếu sự tham gia của cộng đồng địa phương thì du lịch đồng nghĩa với tác động tiêu cực đối với nền kinh tế x• hội. Một thực tế đang diễn ra hàng ngày là những người dân sống gần khu du lịch vẫn đang khai thác tài nguyên, lâm sản. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là đời sống của họ vẫn còn nhiều khó khăn thiếu thốn.

Để thu hút cộng đồng địa phương vào các dự án du lịch sinh thái, Ban quản lý khu cần phải phối hợp với cá bên liên quan triển khai các công việc sau:

+ Nghiên cứu phát triên các ngành nghề sản xuất nông lâm nghiệp, nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, bản sắc văn hoá, phong tục tập quán, lễ hội và nâng cao trình độ dân trí của địa phương.

+ Tổ chức giáo dục cho nhân dân địa phương để nâng cao nhận thức bảo vệ tài nguyên tự nhiên, bảo vệ môi trường bằng các phương tiện thông tin đại chúng, tài liệu, tờ rơi, hay mở các lớp huấn luyện.

+ Mở các lớp tập huấn về du lịch sinh thái, nghiệp vụ du lịch, ngoại ngữ, đào tạo hướng dẫn viên du lịch địa phương

+ Chuyển giao các kỹ thuật thích hợp về lâm ngư nghiệp, làm VAC...

+ Xây dựng quy hoạch du lịch với sự tham gia của cộng đồng ngay từ đầu. Hình thành các phân khu cung cấp dịch vụ, các chuyến tham quan với các sản phẩm văn hoá địa phương.

Thứ ba: Quy hoạch tổng thể khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà

Khu du lịch nên có những quy hoạch, chỉ rõ phân khu phân vùng cho du lịch sinh thái. Để có thể quy hoạch tốt cần phải tính đến nghiên cứu, điều tra tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn trong khu du lịch. Cần có sự kết hợp lỗ lực của nhiều ngành, nhiều thành phần. Cần có bản đồ du lịch sinh thái, đây vừa là phương tiện hướng dẫn khách du lịch vừa là công cụ bảo tồn đảm bảo du khách đi đúng chỗ đúng hướng và cung cấp cho họ những thông tin thú vị về khu du lịch này.

Nên có hệ thống thu lệ phí vào cổng và các lệ phí khác như lệ phí thuê dụng cụ, sử dụng bến b•i. Việc quy định mức thu lệ phí cũng cần phải cân nhắc kỹ càng. Nên đặt mục tiêu rõ ràng cho việc thu lệ phí: cần thu lệ phí để bù đắp cho chi phí du lịch của địa điểm, để tăng tối đa lợi nhuận, hay một mục đích nào khác. Mức thu phí phải được xác định dựa vào mục tiêu của việc thu lệ phí, có thể được xác định theo nhiều cách khác nhau như đánh giá thị trường, điều tra nhu cầu du khách, phân tích đường cầu, hoặc quản lý là đấu giá dựa trên cơ sở thị trường.

Thứ tư: Tiếp thị du lịch sinh thái ở Thiên Sơn - Suối Ngà

Mặc dù vơí những sản phẩm tốt nhất mà không được đối tượng nó phục vụ biết đến thì không thể bán được những sản phẩm đó. Điều này cũng đúng với sản phẩm du lịch sinh thái ở Thiên Sơn - Suối Ngà. Tiềm năng là vậy nhưng nếu không tiếp thị quảng cáo thì không ai có thể biết được rằng tại đây lại có một khu du lịch sinh thái lý tưởng như vậy.

Thứ năm: Phát triển cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng là những hấp dẫn thứ cấp bổ sung cho sự hấp dẫn chính của Thiên Sơn - Suối Ngà. Nếu không có cơ sở vật chất phù hợp thì sẽ mất đi một số lượng khách không nhỏ những du khách cần đến chúng như một điều kiện của chuyến đi. Tuy nhiên cơ sở hạ tầng cũng như các phương tiện phục vụ nên sử dụng công nghệ hợp môi trường và mang tính tự nhiên. Các phương tiện phục vụ nên được xây dựng từ các nguyên liệu sử dụng kiến trúc địa phương, nhưng không làm kạn kiệt tài nguyên tự nhiên của địa phương. Sử dụng các phương tiện phục vụ mang tính địa phương người dân sẽ không cảm thấy nền văn hoá của họ bị chà đạp, mặt khác họ còn cảm thấy mình như là người chủ thực sự của điểm du lịch này. Điều đó có ý nghĩa đối với việc tranh thủ sự giúp đỡ ủng hộ của họ đối với các hoạt động và dịch vụ du lịch.

Các ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng bao gồm:

+ Thiết kế và xây dựng nơi ăn nghỉ cho khách theo kiểu nhà nghỉ sinh thái

+ Xây dựng các tuyến đường nội bộ, đường mòn thiên nhiên với hệ thống chỉ dẫn đầy đủ cả về số lượng và nội dung

+ Xây dựng trung tâm đón khách, trung tâm giáo dục môi trường

Thứ sáu: Huy động vốn đầu tư và chính sách đầu tư

Nhà nước nên có một chính sách khuyến khích đầu tư vào các địa điểm du lịch sinh thái. Nếu đầu tư tốt du lịch sinh thái có thể đem lại nguồn lợi lớn bổ sung cho ngân sách quốc gia và cộng đồng địa phương. Tuy nhiên du lịch sinh thái không cần đầu tư nhiều trren phương diện tiền vốn, vì đa số số khỏch du lịch sinh thỏi đều cú xu hướng muốn sống hoà đồng với thiờn nhiờn hơn là sống trong những khỏch sạn đắt tiền. Tuy nhiờn việc thiết kế cho du lịch sinh thỏi lại cần đầu tư nhiều về thời gian và nỗ lực của nhiều lĩnh vực chuyờn mụn khỏc nhau. Vỡ thế nếu muốn phỏt triển được du lịch sinh thỏi nhà nước cần phải cú đầu tư thớch đỏng.

Cần cú chớnh sỏch khuyến khớch cho việc đầu tư vào cộng đồng địa phương để họ phỏt triển cỏc dịch vụ du lịch sinh thỏi, bằng cỏch này du lịch sinh thỏi sẽ mang lại lợi ớch kinh tế cho cộng đồng địa phương. Tuy nhiờn cũng nờn huy động nguồn vốn địa phương nếu cú thể.

1.2. Những kiến nghị

Du lịch sinh thái là một trong các loại hình du lịch đang được ưa chuộng và có nhiều hứa hẹn trong tương lai.

Khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà là nơi thực sự có nhiều tiềm năng, để khai thác được một cách có hiệu quả các tiềm năng đó. Cần có những sự quan tâm, đầu tư đúng mức để khai thác được những thế mạnh của nơi đây, để Thiên Sơn - Suối Ngà thực sự là điểm đến được nhiều du khách lựa chọn và yêu thích.

Xuất phát từ thực tế đó, tôi muốn đưa ra một số kiến nghị sau:

* Cần xây dựng, quy hoạch khu bảo tồn sinh thái, giữ được các thảm thực vật nguyên sinh, phong phú giúp du khách có thể thoả m•n nhu cầu sinh thái. Đặc biệt cần chú ý tới cảnh quan môi trường như bảo tồn các nguồn nước trong sạch, tinh khiết; bảo vệ rừng tự nhiên, các loài chim chóc để tạo cảm giác lôi cuốn thích thú cho du khách

* Đẩy mạnh các chương trình quảng cáo, tiếp thị về khu du lịch này làm nổi bật được các ưu điểm, các nét đặc thù, có một không hai mà du khách có thể được hưởng thụ trong chuyến đi.

Để khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà phát triển bền vững thì cần phải có một chiến lược du lịch được xây dựng với sự tham gia của đầy đủ các thành phần liên quan. Chiến lược này nên nằm trong khuôn khổ chiến lược phát triển du lịch Việt Nam. Mục đích của chiến lược bao gồm: xác định các vấn đề chủ chốt ảnh hưởng đến việc quy hoạch, phát triển và quản lý khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà, phát triển một mô hình để hướng các nhà quản lý, các cấp chính quyền vào mục tiêu phát triển bền vững, tạo chính sách và các chương trình hỗ trợ cho các bên liên quan. Bên cạnh đó còn phải quan tâm đến việc hỗ trợ cộng đồng địa phương.

* Nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến việc đầu tư vào cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng để giúp cho những khu du lịch này thu hút ngày càng nhiều khách du lịch đến tham quan.

Xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển nguồn nhân lực du lịch. Nâng cao chất lượng đào tạo chuyên ngành du lịch với cơ cấu nhân lực phù hợp. Thực hiện phương châm nhà nước, doanh nghiệp cùng tham gia đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch.

Có các cải cách hành chính, phân cấp và đơn giản hóa các thủ tục liên quan đến khách du lịch và doanh nghiệp kinh doanh lữ hành.

C/ kết luận

Du lịch sinh thái là một mắt xích của phát triển bền vững, yêu cầu một cách tiếp cận tổng hợp đa kĩnh vực, quy hoạch cẩn thận (cả trên phương diện vật chất và quản lý) và hướng dẫn chỉ đạo và luật lệ nghiêm túc để có thể đảm bảo cho sự vận hành bền vững. Chỉ thông qua sự tham gia của nhiều thành phần thì du lịch sinh thía mới đạt đựơc mục tiêu của mình. Chính quyền, doanh nghiệp tư nhân, cộng đồng địa phương và nhà nước.

Trên đây là khái quát tiềm năng và hiện trạng tại khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà. Qua đó ta càng nhận thức một cách rõ ràng về quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ phát triển du lịch sinh thái không phải của riêng ai bởi nó luôn gắn liền với môi trường sinh thái, với điều kiện tự nhiên mà con người chúng ta luôn phải sống và hoạt động trong đó. Nhất là trong hoàn cảnh nước ta đang trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và du lịch được coi là một trong 6 ngành công nghiệp mũi nhọn.

Bài báo cáo thực tập tốt nghiệp với chuyên đề "Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tại Thiên Sơn - Suối Ngà" đ• không chỉ đưa ra được tiềm năng và hiện trạng hoạt động kinh doanh và hoạt động hướng dẫn tại đõy mà cũn đưa ra một số giải phỏp nhằm giỳp cho hoạt động kinh doanh và hoạt động hướng dẫn của cụng ty ngày càng phỏt triển hơn nữa. vai trũ và vị thế trờn thương trường luụn luụn được cải thiện. Khỏch hàng sẽ tỡm đến với Điểm du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà là nơi cú uy tớn, chất lượng cao và cũn tiến xa hơn nữa trong tương lai. Khụng chỉ dừng lại ở đú đề tài nghiờn cứu này cũn đưa ra được hiện trạng hoạt động kinh doanh du lịch và hoạt động hướng dẫn tại huyện Ba Vỡ - Hà Nội, đặc biệt là tại khu du lịch Thiờn Sơn - Suối Ngà. Từ hiện trạng đú đề tài đó phõn tớch và đưa ra một số giải phỏp giỳp huyện Ba Vỡ cú thể phỏt triển hơn nữa hoạt động du lịch, mà cụ thể là hoạt động hướng dẫn du lịch tại điểm du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà. Làm sao cú thể diễn ra một cỏch an toàn, thường xuyờn và đỏp ứng được yờu cầu của mọi đối tượng khỏch du lịch khụng chỉ là trong mựa vụ du lịch mà mục tiờu là phục vụ khỏch bốn mựa quanh năm. Và mở rộng hướng tới thị trường khỏch quốc tế, giỳp mang lại nguồn lợi lớn nhằm cải thiện đời sống của người dõn địa phương bằng ngành cụng nghiệp khụng khúi này.

Do thời gian và kiến thức còn hạn hẹp nên bài báo cáo này của em chưa đi vào nghiên cứu chuyên sâu vấn đề tiềm năng và thực trạng tại Thiên Sơn - Suối Ngà, xong đây cũng là một vấn đề có nghiên cứu mà theo em đ• phản ánh và phân tích được phần nào hiện trạng du lịch của các khu du lịch sinh thái hiện nay mà không chỉ riêng đối với khu Thiên Sơn - Suối Ngà, và cần được sự quan tâm đúng mức của các ban ngành quản lý và của nhà nước để khu du lịch này càng thu hút đông đảo lượng khách du lịch hơn.

Tài liệu tham khảo

1. GS.TS Nguyễn Văn Đính; Giáo trình nghiệp vụ lữ hành (2007) - NXB Đại học kinh tế Quốc Dân.

2. Quốc Hội Nước Cộng hoà x• hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI (2005), Luật Du lịch, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

3. PGS.TS Nguyễn Văn Đính - Giáo trình hướng dẫn du lịch (2000) - NXB Thống kê.

4. Giáo trình Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch 1, 2, 3 (2007,2008, 2009) - Lưu hành nội bộ khoa Du lịch trường Cao đẳng Công Nghiệp Việt - Hung

5. Tổng Cục Du lịch Việt nam (2004), Non Nước Việt nam, Xí nghiệp in thống kê Tp Hồ Chí Minh

Mục lục

A/ Phần mở đầu....................................................................... - 1 -

1. Lý do chọn đề tài.........................................................................- 1 -

2. Mục đích nghiên cứu.................................................................. - 4 -

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...................................................- 5 -

3.1 Đối tượng nghiên cứu...............................................................- 5 -

3.2. Phạm vi nghiên cứu.................................................................- 5 -

4. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài..........................................................- 5 -

5. Phương pháp nghiên cứu.............................................................- 5 -

6. Kết cấu đề tài...........................................................................- 6 -

B/ Nội dung............................................................................- 7 -

Chương I: Những cơ sở lí luận chung về hoạt động du lịch tại Thiên Sơn - Suối Ngà ...............................................................................- 5 -

1. Một số khái niệm, định nghĩa........................................................- 7 -

1.1 Khái niệm về du lịch.................................................................- 7 -

1.2 Khách du lịch..........................................................................- 8 -

1.3. Hướng dẫn viên du lịch.............................................................- 8 -

1.4. Khái niệm khu du lịch..............................................................- 9 -

1.5. Du lịch sinh thái...................................................................- 10 -

2. Những cơ sở lí luận chung của hoạt động du lịch và hướng dẫn viên du lịch..........................................................................................- 11 -

2.1. Các bước chuẩn bị cho quá trình hướng dẫn tham quan...................- 11 -

2.2. Phương pháp tiến hành hướng dẫn tham quan...............................- 14 -

2.3. Hướng dẫn tham quan tài nguyên tự nhiên - Khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà..........................................................................- 16 -

3. Mối quan hệ giữa hoạt động du lịch và hướng dẫn viên du lịch............- 17 -

Chương II: Tiềm năng và hiện trạng hoạt động du lịch tại khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà..................................................- 21 -

1. Những nét chung về khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà.....................- 21 -

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển................................................- 21 -

1.2. Mục tiêu hoạt động................................................................- 22 -

1.3. Cơ cấu bộ máy tổ chức............................................................- 23 -

1.4. Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận........................................- 24 - 2. Tiềm năng du lịch tại Thiên Sơn - Suối Ngà - 26 -

2.1. Điều kiện tự nhiên - 26 -

2.2. Điều kiện x• hội - 32 -

3. Hiện trạng hoạt động du lịch tại Thiên Sơn - Suối Ngà - 34 -

3.1. Cơ sở vật chất kĩ thuật - 34 -

3.2. Đội ngũ lao động - 36 -

3.3. Hoạt động kinh doanh ăn uống - 37 -

3.3. Hoạt động hướng dẫn du lịch tại Thiên Sơn - Suối Ngà - 39 -

4. Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái tại Thiên Sơn - Suối Ngà.........................................................................................- 40 -

5. Đánh giá cách khai thác - 43 -

Chương III: Những giải pháp và chiến lược phát triển du lịch sinh thái tại Thiên Sơn - Suối Ngà.............................................................- 45 -

1. Giải pháp và chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Thiên Sơn - Suối Ngà. - 45 -

1.2. Những kiến nghị - 50 -

C/ kết luận - 52 -

Tài liệu tham khảo - 54 -

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com

Tags: #pro67mc