Chào các bạn! Truyen4U chính thức đã quay trở lại rồi đây!^^. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền Truyen4U.Com này nhé! Mãi yêu... ♥

tutuong

*Vấn đề 1: Những tiền đề tư tưởng – lý luận dẫn tới sự hình thành tư tưởng HCM

Trả lời;  Sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống hiếu học và yêu nước,HCM đã lớn lên trong môi trường của áp bức và bóc lột và người đã được chứng kiến cảnh đất nước lấm than;

 - Cuối TK 19 đất nước ta rơi vào cảnh nô lệ lầm than dưới ách thuộc địa của thực dân Pháp. Nhân dân VN liên tiếp nổi dậy chống lại ách thống trị của thực dân Pháp dưới ngọn cờ của 1 số nhà yêu nước tiêu biểu nối tiếp nhau như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, song đều lần lượt thất bại. Dân tộc VN rơi vào khủng hoảng đường lối cách mạng.

- Trong khi đất nước ta đang trong cảnh lầm than thì tình hình trên TG cũng có nhiều chuyển biến to lớn. Chủ nghĩa đế quốc đã xác lập được sự thống trị của chúng trên 1 phạm vi rộng lớn của TG. Chiến tranh TG lần thứ 1 bùng nổ, CMT10 Nga thành công đã lật đổ nhà nước tư bản, nước Nga Xô Viết ra đời mở ra 1 thời kỳ mới trong lịch sử loài người. Quốc tế Cộng Sản được thành lập(3/1919). Từ đó phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc có quan hệ mật thiết với nhau hơn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc.Cũng chính từ những cơ sở đó đã giúp cho HCM có một tiền đề để có thể xây dựng cho bản than những lý luận ,và cũng từ những lý luận đó ma HCM đã từng bươc đưa nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác ,và đích đến cuối cung là mọt đất nươc hòa bình như ngày hôm nay

Ngoài những cơ sở khách quan còn có nhân tố chủ quan đó là khả năng tư duy trí tuệ, phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn của HCM đã hình thành nên những tiền đề tư tưởng- lý luận của Người

a:Giá trị truyền thống dân tộc VN

Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời đã hình thành nên những giá trị truyền thống hết sức đặc sắc và cao quý của dân tộc VN trở thành tiền đề tư tưởng lý luận xuất phát hình thành tư tưởng HCM. Đó là truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất, là tinh thần tương than tương ái, lòng nhân nghĩa, ý thức cố kết cộng đồng… Trong những giá trị đó chủ nghĩa yêu nước là tư tưởng chủ đạo thúc giục Nguyễn Tất Thành quyết trí ra đi tìm đường cứu nước tìm kiếm những gì hữu ích cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

  CN yêu nước sẽ biến thành lực lượng vật chất thực sự khi nó ăn sâu vào tiềm thức, vào ý trí và hành động của mỗi con người. Chính thực tiễn đó, HCM đã đúc kết chân lý;”Dân ta có 1 lòng nồng nàn yêu nước. Đó là 1 truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành 1 làn sóng “.Không chỉ có CN yêu nước mà tinh thần nhân nghĩa đoàn kết tương than tương ái cũng thể hiện rõ giá trị truyền thống dân tộc,nó thể hiện ở chỗ đã là người trong một nước thì phải biết yêu thương chia sẽ đùm bộc  lẫn nhau,tinh thần này nó được thể hiên rất nhiều trong ca dao tục ngữ VN;

                         “Bầu ơi thương lấy bí cùng                          

                  Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn ‘’

Hay :     Lá lành đùm lá rách                      

b:Tinh hoa văn hóa nhân loại

       HCM đã biết làm giàu vốn văn hóa của mình bằng cách học hỏi, tiếp thu tư tưởng văn hóa phương đông và phương tây.

      Về tư tưởng và văn hóa phương đông, HCM đã tiếp thu những mặt tích cực của nho giáo về triết lý hành động, nhân nghĩa, ước vọng về 1 xã hội bình trị, về 1 triết lý nhân sinh, tu than tề gia…Về phật giáo HCM đã tiếp thu tư tưởng vị tha, từ bi bắc ái, cứu khổ cứu nạn coi trọng tinh thần bình đẳng chống phân biệt đẳng cấp, chăm lo điều thiện…

        Về tư tưởng và văn hóa phương tây, HCM đã nghiên cứu tiếp thu tư tưởng văn hóa dân chủ và  CM của CM pháp, CM mỹ: Về tư tưởng dân chủ của CM Pháp, HCM đã tiếp thu tư tưởng của các nhà khai sang:Vônte, rútxô, Môngtexkiơ. Đặc biệt, Người chịu ảnh hưởng sâu sắc về tư tưởng tự do, bình đẳng của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền(1791) của CM pháp. Về tư tưởng dân chủ của CM Mỹ, Người đã tiếp thu những giá trị về quyền sống, quyền tự do& quyền mưu cầu hạnh phúc của Tuyên ngôn độc lập(1776).

c: Chủ nghĩa Mác- Lênin

           CN Mác- Lenin là nguồn gốc lý luận trực tiếp quyết định bản chất tư tưởng HCM, là đỉnh cao của tư duy nhân loại, là thế giới quan là phương pháp luận . Việc tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lenin ở HCM diễn ra trên nền tảng của những tri thức văn hóa tinh túy được chắt lọc, hấp thụ và 1 vốn chính trị, vốn hiểu biết phong phú, được tích lũy qua thực tiễn hoạt động đấu tranh vì mục tiêu cưu nước và giải phóng dân tộc. Bản lĩnh trí tuệ đó đã nâng cao khả năng độc lập tự chủ và sáng  tạo ở Người khi vận dụng những nguyên lý CM của thời đại vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Người đã tìm hiểu thắng lợi của cuộc CM tháng 10 Nga và đọc bản sơ khảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lenin(1920). Đây chính là thời điểm đánh dấu mở đầu con đường cứu nước of Người. Nó phù hợp và đáp ứng những tình cảm, suy nghĩ, hoài bão được ấp ủ từ lâu nay đã trở thành hiện thực. Tháng 12/1920, người bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế cộng sản và thành lập Đảng cộng sản pháp. Từ đây cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào Cộng sản quốc tế, Nguyễn Ái Quốc xúc tiến truyền bá tư tưởng chủ nghĩa Mác- Lenin thông qua các bài đăng trên các báo “ Người cùng khổ, Nhân đạo. Đời sống công nhân” và đặc biệt xuất bản tác phẩm “ Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925).

Từ những tiền đề đó ta thấy, Người đã tiếp thu và vận dụng những chân lý, nguyên lý phổ biến của CN Mác – Lenin 1 cách sáng tạo những gì phù hợp với hoàn cảnh thời đại.

Vấn đề 2: Giá trị tư tưởng HCM

Tư tưởng HCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của Cm VN, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo của CN Mác–Lenin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

Giá trị tư tưởng HCM bao gồm :

*Tư tưởng HCM soi sáng con đường giải phóng và phát triển dân tộc.

- Tài sản tinh thần vô giá của dân tộc VN

   Tư tưởng HCM là sản phẩm của dân tộc và thời đại, nó trường tồn, bất diệt, là tài sản vô giá của dân tộc ta. Sở dĩ như vậy là vì tư tưởng của Người không chỉ tiếp thu, kế thừa những giá trị, tinh hoa văn hóa, là sự kết tinh những giá trị truyền thống của dân tộc ta, nó đáp ứng được những vấn đề của thời đại, đồng thời nó phù hợp vói yêu cầu thực tiễn của CMVN, làm phong phú thêm CN Mác- Lenin.

   Tính sang tạo của tư tưởng HCM được thể hiện ở chỗ: trung thành với những nguyên lý phổ biến của CN Mác Lenin, đồng thời khi nghiên cứu vận dụng những nguyên lý đó, HCM đã mạnh dạn loại bỏ những gì ko thích hợp với điều kiện cụ thể của đất nước, dám đề xuất những vấn đề mới do thực tiễn đặt ra và giải quyết một cách linh hoạt, khoa học, hiệu quả. Về vấn đề này, chủ tịch HCM đã căn dặn: “ Lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo, lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”.

 Tư tưởng HCM đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn, với những hoạt động CM của Người. Ngày nay tư tưởng đó bao gồm một hệ thống những quan điểm lý luận, tư tưởng về chiến lược, sách lược CM dân tộc dân chủ nhân dân, CM XHCN ở nước ta, về sự cải biến CM đối với thế giới, về đạo đức phong cách, phương pháp HCM, về việc hiện thực hóa các tư tưởng ấy trong đời sống xã hội… đang soi sang cho chúng ta. Trong ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng nêu cao tư tưởng HCM và đã quyết định ghi vào cương lĩnh và điều lệ của mình: “Đảng lấy CN Mác- Lenin và tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”.

    Nét đặc sắc nhất trong tư tưởng HCM là những vấn đề xung quanh việc giải phóng dân tộc và định hướng cho sự phát triển của dân tộc. Tư tưởng của Người gắn liền với chủ nghĩa Mác- Lê nin và thực tiễn CM nước ta.

   Ngay từ những năm 30 của TK XX HCM đã xác định phương hướng chiến lược của CMVN là: làm tư sản dân quyền CM và thổ địa CM để đi tới XH cộng sản.

- Nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của CMVN

    Tư tưởng HCM soi đường cho Đảng ta và nhân dân ta trên con đường thục hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, XH công bằng dân chủ văn minh.

      Trong bối cảnh của thế giới ngày nay tư tưởng HCM giúp chúng ta nhận thức đúng những vấn đề lớn có liên quan đến việc bảo vệ nền độc lập dân tộc, phát triển XH và bảo đảm quyền con  người, bởi vì HCM đã suốt đời phấn đấu cho việc giải phóng các dân tộc, đã đề ra lý luận về sự phát triển của các dân tộc giành được độc lập tiến lên CNXH và luôn luôn quan tâm đến lợi ích con người.

*Tư tưởng HCM đối với sự phát triển thế giới

- Phản ánh khát vọng thời đại

C.Mác đã khái quát;Mỗi thời đại xh đều cần có những con người vĩ đại của nó,và nếu nó ko tìm ra những người như thế thì nó sẽ tự nhào nặn ra họ’’

       Đúng như vậy ,HCM là nhân vật lịch sử vĩ đại không chỉ là sản phẩm của  dân tộc,của giai cấp công nhân VN,mà còn là sản phẩm của thời đại ,của nhân loại tiến bộ.

      Ngay trong những năm 20 của thế kỷ XX,cùng với quá trình hình thành về cơ bản tư tưởng HCM người đã có những cống hiến to lớn về lý luận CM giải phóng dân tộc thuôc địa dưới ánh sang của CN Mac LêNin;giành độc lập dân tộc để tiên lên xây dựng CNXH ,người cũng có những nhận thức sau sắc và độc đáo về mối quan hệ chặt chẽ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường CM vô sản

Người chỉ rõ tầm wan trọng đặc biêt 0f độc lập dân tộc trong tiến trình đi lên CNXH ,về tính tự than vân động 0f cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như các nước thuộc địa ,về mối wan hệ giũa CM giải phóng dân tộc thuộc địa với CM vô sản ở chính quốc và về khả năng thăng lợi 0f 2 cuộc CM này.

Từ nghiên cứu lý luận ,việc xác định đúng đắn những vấn đề cơ bản 0f CMVN trong tư tưởng HCM trong đó nó bao gôm tất cả những lý luân chính trị ,đời sống XH,sự hợp tác giao lưu giửa các nước…. nó có giá trị to lơn về mặt lý luận và đang trở thành hiện thực của nhiều vấn đề quốc tế hiên nay

 - Tìm ra các giải pháp đấu tranh giải phóng loài người

   Đóng góp lớn nhất của HCM đối với thời đại là việc xác định con đường cứu nước đúng dắn cho dân tộc đến việc xác định được một con đường CM, 1 hướng đi và 1 phương pháp để thức tỉnh hàng trăm triệu người bị áp bức trong các nước thuộc địa lạc hậu.

  HCM đã giải quyết đúng đán vấn đề: “ Làm cách nào để giải phóng các dân tộc thuộc địa", Người đã xác định CN đế quốc là kẻ thù lớn nhất của các dân tộc bị áp  bức, để chiến thắng CNĐQ cần thực hiện” Đại đoàn kết”, “ đại hòa hợp”. Đây là 1 đóng góp to lớn của HCM.

   Giá trị tư tưởng của HCM đối với thế giới còn ở chỗ Người đã nhận đúng sự biến chuyển của thời đại. Trên cơ sở nắm vững đặc điểm thời đại, HCM hoạt động ko mệt mỏi để gắn CMVN với CMTG. Người đặt CM giải phóng dân tộc thuộc địa vào phạm trù CNVS, Người cương quyết bảo vệ và phát triển của Lenin về khả năng to lớn và vai trò chiến lược of CM giải phóng dân tộc ở thuộc địa đối với CMVS.

   HCM đã đề ra đường lối chiến lược, sách lược và phương pháp CM đúng dắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc VN. Người đi đén khẳng định: “… trong thời đại đế quốc CN, ở 1 nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp VS và Đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào CMTG, trước hết là  of phe XHCN hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi”

 - Cổ vũ các dân tộc đấu tranh vì những mục tiêu cao cả

  HCM đã làm sống lại những giá trị tinh thần of dân tộc VN. Sự nghiệp cứu nước of Người đã xóa bỏ tất cả những tủi nhục nô lệ đè nặng trên đầu dân tộc ta trong gần 1 thế kỉ.

 Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc VN, dưới ngọn cờ bách chiến, bách thắng HCM, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta xóa bỏ được mọi hình thức áp bức, bóc lột và xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước.

Vấn đề 3: vai trò of đại đoàn kết dân tộc(ĐĐKDT)

*.Vai trò of ĐĐK dân tộc trong sự nghiệp CM

- Đại đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công of CM

HCM chỉ ra rằng, trong thời đại mới, để đánh bại các thế lực đế quốc thực dân nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng gia cấp và giải phóng con  người, nếu chỉ có tinh thần yêu nước chưa đủ; CM muốn thành công và thành công đến nơi, phải tập hợp được tất cả mọi lực lượng có thể tập hợp, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững. Chính vì vậy, trong tư tưởng HCM, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất quán và lâu dài, xuyên suốt tiến trình CM.

        Để quy tụ mọi lực lượng vào khối đại đoàn kết toàn dân, cần phải có chính cáh và phương pháp phù hợp với từng đối tượng. Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn CM, trước những yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau, chính sách và phương pháp tập hợp có thể và cần thiết phải điều chỉnh cho phù hợp với từng đối tượng khác nhau, song đại đoàn kết dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là vấn đề sống còn, quyết định thành bại of CM.

         Nhờ tư tưởng nhất  quán và chính sách mặt trận đúng đắn, đảng ta và chủ tịch HCM đã xây dựng thành công khối đại đoàn kết dân tộc, đưa CMVN giành được nhiều thắng lợi to lớn. HCM viết:” Đoàn kết trong mặt trận VIệt Minh, nhân dân ta đã làm CM tháng 8 thành công, lập nên nước VN dân chủ cộng hòa.

  Đoàn kết trong mặt trận liên việt, nhân dân ta kháng chiến thắng lợi, lập lại hòa bình ở đông dương, hoàn toàn giải phóng miền bắc.

 Đoàn kết trong mặt trận tổ quốc VN, nhân dân ta đã giành thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo XHCN và trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền bắc”.

 Từ thực tiễn như vậy, HCM đã khái quát thành nhiều luận điểm có tính chân lý về vai trò of khối đại đoàn kết: Đoàn kết làm ra sức mạnh. HCM rất nhiều lần nhấn mạnh  luận điểm này. Người viết:” Đoàn kết là sức mạnh of chúng ta. Đoàn kết chặt chẽ thì chúng ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn,  phát triển mọi thuận lợi và làm tròn nhiệm vụ nhân dân giao phó”; “ đoàn kết là 1 lực lượng vô địch of chúng ta đề khắc phục khó khăn, giành  lấy thắng lợi”; “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”,” Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt of thành công”.

“ Bây giờ còn 1 điểm rất quan trọng, cũng là điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt: Đó là đoàn kết”.

                           “ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,

                      Thành công, thành công, đại thành công”.

-  Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu of Đảng, of dân tộc .

Trong tư tưởng HCM, yêu nước – nhân nghĩa đoàn kết là sức mạnh, là mạch nguồn of mọi thắng lợi. Do đó, đại đoàn kết dân tộc phải được xác định là nhiệm vụ hàng đầu, phải được quán triệt trong tất cả mọi lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách, tới hoạt động thực tiễn of Đảng. Trong kết thúc buổi ra mắt of Đảng lao động VN ngày 3 tháng 3 năm 1951, HCM đã thay mặt Đảng tuyên bố trước toàn thể dân tộc: “ Mục đích của Đảng lao động VN có thể gồm 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”.

Đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, đồng thời là nhiệm vụ hàng đầu của mọi giai đoạn CM. Nhấn mạnh vấn đề này là nhấn mạnh tới vai trò của thực lực CM. Bởi CM muốn thành công nếu chỉ có đường lối đúng chưa  đủ mà trên cơ sở của đường lối đúng, Đảng phải cụ thể hóa thành những mục tiêu, nhiệm  vụ và phương pháp  CM phù hợp với từng giai đoạn lịch sử để lôi kéo tập hợp quần chúng, tạo thực lực cho CM. Thực lực đó chính là khối đại đoàn kết dân tộc. Năm 1963, khi nói chuyện với cán bộ tuyên truyền và huấn luyện miền núi về CM xã hội chủ nghĩa, HCM chỉ rõ: “Trước CM T8 và trong kháng chiến, thì nhiệm vụ tuyên huấn là làm cho đồng bào các dân tộc hiểu được mấy việc: Một là đoàn kết. Hai là làm CM hay kháng chiến để đòi độc lập. Bây giờ mục đích of tuyên truyền huấn luyện là: Một là đoàn kết. Hai là xây dựng CNXH. Ba là đấu tranh thống nhất nước nhà”.

 HCM còn chỉ ra rằng, đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu of Đảng, mà còn là nhiệm vụ hàng đầu of cả dân tộc. Bởi vì CM là sự nghiệp of quần chúng, phải do quần chúng, vì quần chúng. Từ trong phong trào đấu tranh để tự giải phóng & xây dựng XH tốt đẹp, quần chúng nảy sinh nhu cầu đoàn kết & sự hợp tác. Đảng CS phải có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng, chuyến những nhu cầu, những đòi hỏi khách quan, tự phát of quàn hcungs thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức trong khối đại đoàn kết, tạo thành sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh vì độc lập of dân tộc, tự do cho nhân dân & hạnh phúc cho con người

VĐ4: Quan điểm của HCM về CNXH và con đường quá độ lên CNXH ở VN.

a.       THực chất, loại hình, và đặc điểm của thời kỳ quá độ.

C. Mác, Ph. Ăngghen, Lenin đều khẳng định tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên CNXH và chỉ rõ vị trí lịch sử, nhiệm vụ đặc thù của nó trong quá trình vận động, phát triển của hình thái kinh tế - XH CSCN.

Theo quan điểm của các nhà kinh điển của CN Mác Lenin, có 2 con đường quá độ lên CNXH. Con đường thứ nhất là con đường quá độ trực tiếp lên CNXH từ những nước TB phát triển ơt trình độ cao. Con đường t2 là quá độ gián tiếp lên CNXH[r những nước CNTB phát triển còn thấp, hoặc như Lênin cho rằng, những nước có nền kinh tế lạc hậu, chưa trải qua thời kỳ phát triển của  CNTB, cũng có thể đi lên CNXH được trong điều kiện cụ thể nào đó, nhất là trong đkiện đảng kiểu mới của giai cấp vô sản nắm quyền lãnh đạo( trở thành đảng cầm quyền) và được một hay nhiều nước tiên tiến giúp đỡ.

Trên cơ sở vận dụng lý luận về CM không ngừng, về thời kỳ quá độ lên CNXH của CN Mác Lenin và xuất phát từ đặc điểm tình hình thực tế VN, HCM đã khẳng định con đường CMVN là tiến hành giải phóng dân tộc, dân chủ nhân dân, tiến dần lên CNXH. Như vậy, Quan điểm HCM về thời kỳ quá độ lên CNXH ở VN là quan niệm về một hình thái gián tiếp cụ thể -  quá độ từ một XH thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu sau khi giành được độc lập dân tộc đi lên XHCN. Chính ở nội dung cụ thể này, HCM đã cụ thể và làm phong phú them lý luận Mác- Lenin về thời kỳ quá độ lên CNXH.

Theo HCM khi bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, nước ta có đặc điểm lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiên tiến lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển TBCN. Đặc điểm này chi phối các đặc điểm khác, thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống XH làm cơ sở nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Trong đó, HCM đặc biệt lưu ý đến mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ, đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạng kinh tế- XH quá thấp kém của nước ta.

b.      Nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ lên CNXH ở VN.

Theo HCM, thực chất của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là quá trình cải biến nền sản xuất lạc hậu thành  nền sản xuất tiên tiến, hiện đại. Thực chất của quá trình cải tạo và phát triển nền kinh tế quốc dân cũng là cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp trong điều kiện mới, khi mà nhân dân ta hoàn thành cơ bản CM dân tộc dân chủ, so sánh lực lượng trong nước và quốc tế đã có những biến đổi. Điều này đòi hỏi phải áp dụng toàn diện hình thức đấu tranh cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, XH nhằm chống lại các thế lực đi ngược lại con đường XHXN.

Theo HCM, do những đặc điểm và tính chất quy định quá độ lên CNXH ở VN là một quá trình khó khăn, phức tạp và lâu dài. Nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ lên CNXH ở VN bao gồm 2 nội dung lớn:

Một là, xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật cho CNXH, xây dựng các tiền đề về kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng cho CNXH.

Hai là, cải tạo XH cũ, xây dựng XH mới, kết hợp cải tạo và xây dựng, trong đó lấy xây dựng làm trọng tâm, làm nội dung cốt ếu nhất, chủ chốt, lâu dài.

HCM nhấn mạnh đến tính chất tuần tự, dần dần của thời kỳ quá độ lên CNXH. TÍnh chất phức tạp và khó khăn của nó được Người lý giải trên các điểm sau:

Thứ nhất, đây thực sự là một cuộc CM làm đảo lộn mọi mặt đời sống XH, cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Nó đặt ra và đòi hỏi đồng thời giải quyết hàng loạt mâu thuẫn khác nhau. Như trong Di chúc, HCM đã coi sự nghiệp xây dựng CNXH là một cuộc chiến đấu khổng lồ của toàn đảng, toàn dân VN.

Thứ 2, Trong  sự nghiệp xây dựng CNXH, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta chưa có kinh ngiệm nhất là trên lĩnh vực kinh tế. Đây là công việc hết sức mới mẻ với Đảng ta, lên phải vừa làm vừa học và có thể có vấp váp và thiếu sót. XD XH mới bao giờ cũng khó khăn, phức tạp hơn đánh đổ XH cũ đã lỗi thời.

Thứ 3, sự nghiệp xd CNXH ở nước ta luôn  luôn bị các thế lực phản động trong và ngoài nước tìm cách chống phá.

Từ việc chỉ rõ tính chất của thời kỳ quá độ, HCM luôn luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên trong xây dựng CNXH phải thận trọng, tránh nôn nóng, chủ quna, đốt cháy giai đoạn. Vấn đề cơ bản là phải xác định đúng bước đi và hình thức phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, biết kết hợp các khâu trung gian, quá độ, tuần tự từng bước, từ thấp đến cao. Vì vậy xd CNXH đòi hỏi một năng lực lãnh đạo mang tính khoa học, vừa hiểu biết các quy luật vận đọng XH, lại phải có nghệ thuật khôn khéo cho thật sát với tình hình thực tế.

c.       Quan điểm HCM về nội dung xd CNXH ở nước ta trong thời kỳ quá độ.

Công cuộc xd CNXH ở nước ta là một sự nghiệp CM mang tính toàn diện, HCM  đã xác định rõ nhiệm vụ cụ thể cho từng lĩnh vực.

- Trong lĩnh vực chính trị, nội dung quan trọng nhất là phải giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của đảng, đảng phải luôn luôn tự đổi mới và tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, có hình thức tổ chức phù hợp để đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ mới. Bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, Đảng ta đã trở thành đảng cầm quyền. Mối quan tâm lớn nhất của Người về đảng cầm quyền là làm sao cho đảng không trở thành đảng quan lieu, xa dân, thoái hóa,biến chất, làm mất lòng tin của dân, có thể dẫn đến nguy cơ sai lầm về đường lối, cắt đứt mqh về máu thịt với nhân dân, và để cho CN cá nhân nảy nở dưới nhiều hình thức.

Một nội dung chính trị quan trọng trong thời kỳ quá độ lên CNXH là củng cố và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, nòng cốt là liên minh công nhân, nông dân và trí thức, do ĐCS lãnh đạo, củng cố và tăng cường sức mạnh toàn bộ hệ thống chính trị cũng như từng thành tố của nó.

- Nội dung kinh tế được HCM đề cập trên các  mặt:  lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý kinh tế. Người nhấn mạnh đến việc tăng năng suất LĐ trên cơ sở tiến hành công nghiệp hóa XHXN. Đối với cơ cấu kinh tế, HCM đề cập cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu kinh tế, vùng, lãnh thổ.

Người quan niệm hết sức độc đáo về cơ cấu kinh tế nông – công nghiệp, lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, củng cố hệ thống thương nghiệp làm cầu nối tốt nhất giữa các ngành sản xuất XH, thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của nhân dân.

Đối với kinh tế, vùng, lãnh thổ, HCM lưu ý phải phát triển đông fđều giữa kinh tế đô thị và kinh tế nông thôn. Người đặc biệt chú trọng chỉ đạo phát triển kinh tế vùng núi, hải đảo, vừa tạo điều kiện không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của đồng bào, vừa đảm bảo an ninh quốc phòng cho đát nước.

Ở nước ta, HCM là người đầu tiên chủ trương phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH. Người xác định rõ vị trí và xu hướng vận động của từng thành phần kinh tế. Nước ta cần ưu tiên phát triển kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho CNXH, thúc đẩy việc cải tạo XHCN. Kinh tế hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, Nhà nước cần đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ nó phát triển. Về ttoor chức hợp tác xã, HCM nhấn mạnh nguyên tắc dần dần, từ thấp đến cao, tự nguyện, cùng có lợi, chống chủ quan, gò ép, hình thức. Đối với người làm ngề thủ công và LĐ riêng lẻ khác, NN bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, ra sức hướng dẫn và giúp họ cải tiếncách làm ăn, khuyến khích họ đi vào con đường hợp tác. Đối với những nhà tư sản công thươngvif họ đã tham gia ủng hộ CM dân tộc dân chủ nhân dân, có đóng góp nhất định trong khôi phục kinh tế và sẵn sàng tiếp thu, cải tạo để góp phần xd nước nhà, xd CNXH, nên NN không xóa bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ, mà hướng dẫn họ hoạt động làm lợi cho quốc tế dân sinh, phù hợp với kinh tế NN, khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo CNXH bằng hình thức TB NN.

Bên cạnh chế độ quan hệ sở hữu, HCM rất coi trọng quan hệ phân phối và quản lý kinh tế. Quản lý kinh tế phải dựa trên cơ sở hạch toán, đem lại hiệu quả cao, sử dun gj tốt các đòn bẩy trong phát triển sản xuất. Người chủ trương và chỉ rõ các điều kiện thực hiện nguyên tắc phân phối theo LĐ: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng. Gắn liền với nguyên tắc phân phối theo LĐ, HCM bước đầu đề cập vấn đề khoán trong sản xuất,” Chế độ làm khoán là một điều kieenjcuar CNXH, nó khuyến khích người công nhân luôn luôn tiến bộ, cho nhà máy tiến bộ. Làm khoán là ích chung và lại lợi riêng…; làm khoán tốt thích hợp và công bằng dưới chế đọ ta hiện nay”.

- Trong lĩnh vực VH – XH, HCM nhấn mạnh đến vấn để xây dựng con người mới. Đác biệt HCM đề cao vai trò của VH, giáo dục và KH-KT trong XHCN. Người cho rằng, muốn xd CNXH nhất định phải có học thức, cần phải có cả văn hóa, chính trị, kỹ thuật, và CNXH cộng với KH chắc chắn đưa loài người đến hp vô tận. HCM rất coi trọng việc nâng cao dân trí, đào tạo và sử dụng nhân tài, khẳng định vai trò to lớn của VH trong đời sống XH.

Vấn đê 5: Tư tưởng HCM về cách mạng giải phóng dân tộc

* Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản

            -Rút ra bài học từ sự thất bại của các con đuờng cứu nước trước đó:

Tư tưởng HCM hình thành từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX con đuờng cách mạng Việt Vam lúc này theo tư tưởng tiến lên theo lập trường dân chủ tư sản. Tất cả các phong trào cứu nước của ông cha, mặc dù đã diễn ra vô cùng anh dũng, với tinh thần “ người trước ngã, người sau đứng dậy” nhưng dốt cuộc đều bị thực dân Pháp dìm trong biển máu. Đất nước lâm vào tình hình đen tối tưởng như không có đường ra”. Đó là tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước của VN đầu thế kỷ XX. Nó đặt ra 1 yêu cầu bức thiết phải tìm 1 con đường cứu nước mới.

            Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước đã biến thành thuộc địa, nhân dân phải chịu cảnh lầm than, HCM được chứng kiến các phong trào cứu nước của ông cha . Người nhận thấy cong đường của Phan Bội Châu chẳng khác gì” đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Con đường của Phan Chu Chinh cũng chẳng khác gì “ xin giặc rủ lòng thương”. Con đường của Hòang Hoa Thám tuy có thực tế hơn nhưng vẫn mang nặng cốt cách phong kiến. Chính vì thế , mặc dù rất khâm phục tinh thần cứu nước của ông cha , nhưng HCM không tán thành các con đường của họ do các phong trào này chưa có đường lối và phương pháp đấu tranh đúng đắn, mà quyết tâm ra đi tìm một con đường cứu nước mới.

            -Cách mạng tư sản là không triệt để.

            Trong khoảng 10 năm vượt qua các đại dương đến với nhân loại cần lao đang tranh đấu ở nhiều vùng châu lục và quốc gia trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc đã kết hợp tìm hiểu lý luận và khảo sát thực tiễn nhất là ở 3 nước tư bản phát triển đó là Anh, Pháp, Mỹ

            Người đọc tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ tim hiểu thực tiễn của cách mạng tư sản Mỹ; đọc tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của cách mạng Pháp tìm hiểu cách mạng tư sản Pháp người nhận thấy: “ cách mạng Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ , kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc điạ”. Bởi lẽ đó, Người không đi theo con đường tư sản

            -Con đường giải phóng dân tộc

            Tháng 7 năm 1920 khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênnin, Người thấy “ tin tưởng , sang tỏ và cảm động”. Người khẳng định “ Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”.

            Đầu năm 1923 trong Truyền đơn cổ động mua báo Người cùng khổ, Người viết: “chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc…”

HCM thấy được cách mạng tháng Mười Nga không chỉ là một cuộc cách mạng vô sản, mà còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Nó nêu tấm gương sáng về sự giải phóng các dân tộc thuộc địa và “ mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tôc”

            Người “hoàn toàn tin theo Lê nin và quốc tế thứ 3 “ chính vì Lênin và quốc tế thứ 3 đã “ bênh vực cho các dân tộc bị áp bức” Người thấy trong lý luận của Lênin một phương hướng mới để giải phóng dân tộc đó là con đường cách mạng vô sản

            Trong bài cuộc kháng Pháp HCM viết “ chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”

            Như vậy, vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu và của các nhà cách mạng có xu hướng tư sản đương thời, HCM đã đến với học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mac-lenin và lựa chon khuynh hướng chính trị vô sản. Người khẳng định” Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”… chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Từ đó người quyết tâm đưa dân tộc Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản.

- Con đường cách mạng vô sant theo quan điểm HCM bao hàm nhưng nội dung sau:

+  Tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc và dần dần từng bước “ đi tới xã hộ cộng sản”

+  Lực lượng lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân mà đội tiền phong của nó là Đảng Cộng Sản

+  Lực lượng cách mạng là khối đoàn kết toàn dân, nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và lao động trí óc

+ Sự nghiệp cách mạng của Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, cho nên phải đoàn kết quốc tế.

* Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đạ mới phải có ĐCS lãnh đạo

- Cách mạng trước hết phải có Đảng

      Muốn làm cm thì phải bền gan đòng chí, đòng lòng, quyết tâm “ lại phải biết cách làm thì mới chóng”

Nhưng muốn làm cm trước phải làm cho dân giác ngộ .. phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiều “ cách mệnh phải hiểu phong trào thế giới, phải bày sách lược cho dân... vậy nên sức cách mạnh phải tập chung, muốn tập chung phải có đảng cách mệnh.

trong tác phẩm đg cách mệnh, người khẳng định: “ trước hết phải có đảng cách mệnh, ... vận động và tổ chức ... dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy.

- Đảng cộng sản VN là người lãnh đạo duy nhất

            Đầu năm 1930, Người sáng lập ĐCS VN một chính đảng của giai cấp công nhân và dân tộc VN, lấy chủ nghĩa Mac – Lênin “ làm cốt” có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh và mật thiêt liên lạc với quần chúng

            Theo HCM. ĐCS VN là đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc việt nam

            Kết hợp lý luận Mác- Lênin về ĐCS với thực tiễn cách mạng VN, HCM đã vân dụng và phát triển sang tạo chủ nghĩa Mac-Lenin trên một loạt vấn đề về cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng nên một lý luận cách mạng giải phóng dân tộc

            Phát triển sang tạo học thuyết Mac-Lenin về ĐCS, Người cho rằng, ĐCSVN là Đảng của giai cấp vô sản, đồng thời là “ Đảng của dân tộc VN” “ Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân

            Khi khẳng định ĐCS VN là Đảng của giai cấp công nhân và dân tộc VN, HCM đã nêu một luận điểm quan trọng, bổ sung thêm cho lý luận của chủ nghĩa Mac – Lênin về ĐCS, định hướng cho việc xây dựng ĐCS VN thành một Đảng có sự gắn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân, với nhân dân lao động và cả dân tộc trong mọi thời kỳ của cách mạng VN. Mọi người VN yêu nước, dù đảng viên hay không đều thật sự cảm nhận ĐCS VN là Đảng của Bác Hồ là Đảng của mình, và đều goi Đảng là “Đảng ta”

            HCM đã xây dựng được một Đảng cách mạng tiên phong, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, gắn bó với nhân dân, với dân tộc một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc , phụng sự nhân dân, được nhân dân, được dân tộc thừa nhận là đội tiên phong của mình.

            Ngay từ khi mới ra đời, Đảng do HCM sáng lập đã quy tụ được lực lượng  và sức mạnh của toàn bộ giai cấp công nhân và cả dân tộc VN. Đó là một đặc điểm và đồng thời là một ưu điểm của Đảng. Nhờ đó ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã năm ngọn cờ lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng VN và trở thành nhân tố hàng đầu bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng.

Chuyên đề 6: Quan điểm của HCM về xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân

HCM có quan điểm nhất quán về xây dựng 1 NN mới ở VN là 1 Nhà nước do nhân dân lao động làm chủ. Đây là quan điểm cơ bản nhất của HCM về xây dựng nhà nước VN dân chủ cộng hòa do người sáng lập. Quan điểm đó xuyên suốt có tính chi phối toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của nhà nước cách mạng VN.

Quan điểm xây dựng nhà nước của HCM không những kế thừa mà còn phát triển học thuyết Mác- Lênin về nhà nước cách mạng.

Hiểu 1 cách tổng quát nhất quan điểm về nhà nước của dân, do dân và vì dân chúng ta thấy trong di sản tư tưởng HCM được thể hiện trong những nội dung sau:

* Nhà nước của dân.

Quan điểm nhất quán của HCM là xác lập tất cả mọi quyền lực trong nhà nước và trong XH đều thuộc về nhân dân. Quan điểm này của HCM được thực hiện trong các bản hiến pháp do Người lãnh đạo soản thảo: Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959. Chẳng hạn hiến pháp năm 1956 nêu rõ: tất cả quyền bình đẳng trong nước đều là của toàn thể nhân dân VN, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp tôn giáo. Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra toàn dan phúc quyết. Nhân dân có quyền làm chủ về chính trị, kinh tế, văn hóa- xã hội. Bầu ra quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thể hiện quyền  tối cao của nhân dân.

Nhân dân lao động làm chủ Nhà nước thì dẫn đến 1 hệ quả là nhân dân có quyền kiểm soát nhà nước, cử tri bầu ra các đại biểu, ủy viên cho các đại biểu đó bàn và quyết định những vấn đề quốc kế dân sinh. Đây thuộc về chế độ dân chủ đại diện bên cạnh chế độ dân chủ trực tiếp. Quyền làm chủ và đông thời cũng là quyền kiểm soát của nhân dân thể hiện ở chỗ nhân dân có quền bãi nhiễm những đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân nào nếu những đại biểu tỏ ra không xứng đáng về sự tín nhiệm của nhân dân.

Theo HCM, muốn dảm bảo được tính chất nhân dân của Nhà nước phải xác định được và thực hiện được trách nhiệm của cử tri và đại biểu do cử tri bầu ra. Cử tri và đại biểu cử tri bầu ra phải có mối quan hệ chặt chẽ với nhau do bản chất của cơ chế này quy định. Và khi không hoàn thành nhiệm vụ với tư cách là đại biểu của cử tri thì cử tri có quyền bãi miễn tư cách đại biểu.

HCM đã nêu lên quan điểm dân là chủ và dân làm chủ. Dân là chủ có nghĩa  là xác định vị thế của dân, còn dân làm chủ có nghĩa là xác định quyền, nghĩa vụ của dân. Trong NN của dân, với ý nghĩa đó, người dân được hưởng mọi quyền dân chủ. Bằng thiết chế dân chủ NN phải có  trách nhiệm bảo đảm quyền làm chủ của dân, để cho nhân dân thực thi quyền làm chủ của mình trong hệ thống quyền lực của XH. Quyền lực của nhân dân được đặt ở vị trí tối thượng điều này có ý nghĩa thực tế nhắc nhở những người lãnh đạo,  những đại biểu của nhân dân làm đúng chức trách và vị thế của mình, không phải là đứng trên nhân đân, coi khinh nhân dân “cậy thế” với dân, “quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân”. Một   NN như thế là 1 NN tiến bộ trong bước đường phát triển của nhân loại. NN VN dân chủ cộng hòa do HCM khai sinh ngày 2/9/1945 chính là nhà nước tiến bộ chưa từng có trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc VN bởi và NN đó  là NN của dân, nhân dân có vai trò quyết định mọi công việc của đất nước.

* Nhà nước do dân.

Nhà nước do dân lập nên, do dân ủng hộ, dân làm chủ. Chính vì vậy, HCM thường nhấn mạnh nhiệm vụ của những nguời cách mạng là phải làm cho dân hiểu, làm cho dân giác ngộ để nâng cao được trách nhiệm làm chủ, nâng cao được ý thức trách nhiệm chăm lo xây dựng NN của mình. HCM khẳng định: Việc nước là việc chung, mỗi người đều phải có trách nhiệm ghé vai gánh vác 1 phần. Quyền lợi, quyền hạn bao giờ cũng đi đôi với trách nhiệm nghĩa vụ.

Trong tư tưởng HCM về xây dựng NN VN mới nhân dân có đủ điều kiện cả về pháp luật và thực tế để tham gia quản  lý NN. Người nêu rõ quyền của dân, NN do dân tạo ra và nhân dân tham gia quản lý là ở chỗ:

- Toàn bộ công dân bầu ra quốc hội- cơ quan quyền lực cao nhất của  NN, cơ quan cao nhất có quyền lập pháp.

- Quốc hội bầu ra chủ tịch nước, ủy ban thường vụ quốc hội và hội đồng chính phủ.

- Hội đồng chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của NN, thực hiện các nghị quyết của quốc hội và chấp hành pháp luật.

- Mọi công việc của bộ máy NN trong việc quản lý XH đều thực hiện ý chí của dân ( thông qua quốc hội do dân bầu ra)

* Nhà nước vì dân

Nhà nước vì dân là NN lấy lợi ích chình đáng của nhân dân làm mục tiêu, tất cả đều vì lợi ích của nhân dân ngoài ra không có bất kỳ 1 lợi ích nào khác. Đó là 1 lợi ích trong   sạch không có bất kỳ 1 đặc quyền đặc lợi nào. Trên tinh thần đó HCM nhấn mạnh: mọi đường lối, chính sách đều chỉ nhằm đưa lại quyền lợi cho dân, việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố gắng làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng cố gắng tránh. Dân là gốc của nước. HCM luôn luôn tâm niệm: phải làm cho dân có ăn, phải làm cho dân có mặc, phải làm cho dân có chỗ ở, phải làm cho dân được học hành.

Một NN vì dân, theo quan điểm của HCM là từ chủ tịch nước đến công chức bình thường, đều phải làm công bộc, làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải “làm quan cách mạng” để đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Đối với chức vụ chủ tịch nước của mình HCM cũng quan niệm là do dân ủy thác cho và như vậy cũng phải phục vụ nhân dân, tức là làm đầy tớ cho nhân dân.

* Để học tập và làm theo tấm gương đạo đức của HCM chúng ta cần làm:

- Về ý thức rèn luyện tu dưỡng đạo đức thường xuyên: tự rèn luyện trau dồi phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong của 1 công dân tốt. Không ngừng học tập nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ để góp phần xây dựng đất nước.

- Về ý thức trách nhiệm tâm huyết với công việc:

+ Tích cực lao động học tập với tinh thần lao động sáng tạo, có năng suất, chất lượng hiệu quả cao. Biết quý trọng công sức lao động và tài sản tập thể của nhân dân, không xa hoa lãng phí, không phi trương hình thức.

+ Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, thẳng thắn, trung thực bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ người tốt chân thành, khiêm tốn không chạy theo chủ nghĩa thành tích, không bao che, giấu khuyết điểm.

+ Kiên quyết chống bệnh lười biếng, lối sống hưởng thụ, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít.

+Luôn động viên những nguời thân trong gia đình giữ gìn đạo đức lối sống, xây dựng gia đình văn hóa.

- Phương hướng phấn đấu, rèn luyện tu dưỡng đạo đức lối sống của bản thân theo gương chủ tịch HCM.

+ Phấn đấu hoàn thành tốt và giữ vững kết quả học tập đã đạt được.

+ Luôn là người gương mẫu xứng với niềm tin của nhà trường và gia đình. Luôn gương mẫu trong các hoạt động đoàn trường và của địa phương.

+ Rèn luyện kỹ năng trong đấu tranh phê bình và tự phê bình, mạnh dạn góp ý cho đồng nghiệp, đồng chí để cùng tiến bộ.

Vấn đề 7: tư tưởng HCM về vai trò và bản chất của đảng cộng sản VN

·         về sự ra đời của Đảng CS

Xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của nước Nga và của phong trào công nhân Châu Âu. LêNin nêu lên hai yếu tố, đó là sự kết hợp chủ ngĩa Mác với phong trào công nhân

Bên cạnh hai yếu tố chủ nghĩa Mac - Lenin và phong trào công nhân, HCM còn kể đến yếu tố thứ 3 đó là giải phóng yêu nước. nhân dịp kỉ niệm 30 năm thành lập đảng, HCM viết bài ba mươi năm hoạt động của Đảng, trong đó chỉ rõ: Chủ nghĩa Mác – Lenin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng CS Đông Dương vào đầu năm 1930. Đây chính là một quan điểm quan trọng của HCM về sự hình thành Đảng CS VN, là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lenin trên cơ sở tổng kết thực tiễn VN.

HCM đã thấy dõ vai trò to lớn của chủ nghĩa Mác – Lenin đối với cách mạng VN đối với quá trình hình thành Đảng CCS VN. Người cũng đánh giá cao vị trí, vai trò lãnh đaọ của giai cấp công nhân VN trong sắp xếp lực lượng CM. Số lượng giai cấp công nhân VN tuy ít, nhưng theo HCM, vai trò lãnh đạo của lực lượng CM ko phải do số lượng của lực lượng đó quyết định. HCM chỉ dõ đặc điểm của giai cấp công nhân VN là: kiên quyết, triệt để, tập thể có tổ chức, có kỉ luật. HCM chỉ ra rằng, sở dĩ công nhân VN giưc vai trò lãnh đạo CM VN còn là vì: giai cấp công nhân có chủ nghĩa Mác – Lenin. trên nền tảng đấu tranh, họ xây dựng nên Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lenin .... Đảng đề ra chủ trương đg lối, khẩu hiệu CM, lôi cuốn giai cấp nông dân và tiểu tư sản vào đấu tranh, bồi dưỡng họ thành những phần tử tiên tiến.

·         vai trò của đảng CS VN

 Sức mạnh to lớn của nhân dân chỉ phát huy khi đc tập hợp, đoàn kết và lãnh đạo bởi một tổ chức chíh trị là đảng cộng sản vn. HCM khẳng định: lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn là vô cùng vô tận, nhưng lực lượng ấy cần có đảng lãnh đạo mới chắc chắn thắng lợi”, giai cấp mà ko có đảng lãnh đạo thì ko làm cm đc. Trong cuốn sách Đường cách mệnh xuất bản năm 1927, HCM viết cách mệnh trước hết phải có đảng cách mệnh, trong thì vận động tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. đảng có vững cách mệnh mới thành công. HCM cho rằng: “ muốn khỏi bị lạc phương hướng, quần chúng phải có đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối và định phương châm cho đúng.

sự ra đời tồn tại và phát triển của đảng csvn phù hợp với quy luật phát triển của xh, vì đảng ko có mục đích tự thân, ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, lợi ích của toàn dân tộc vn, lợi ích của nhân dân tiến bộ trên thế giới, đảng ko có lợi ích nào khác.

 vai trò lãnh đạo của đảng csvn tính quyết định hàng đầu từ sự lãnh đạo của đẩng đối với cm vn đã đc thực tế lịch sử c.minh, ko có 1 tổ chức chính trị nào có thể thay thế đc. mọi mưu toan nhằm hạ thấp hoặc xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng csvn, đều xuyên tạc thực tế lịch sử cm dân tộc ta, trái với mặt lý luận lẫn thực tiễn, đều đi ngược lại với xu thế phát triển của xh vn.

·         Bản chất của đảng cs vn

HCM khẳng định: đảng cs vn là đảng của giai cấp công nhân, đội tiên phong của giai cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân.

những quan điểm trên HCM hoàn toàn tuân thủ những quan điểm củaLenin về xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản. Trong báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần t2 của đảng ( 2 / 1951 ) HCM  nêu rõ: trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một. năm 1953 HCM viết: “ đảng lao đọng là tổ chức cao nhất của giai cấp cần lao và đại biểu cho lợi ích cho cả dân tộc .... đảng là đảng của giai cấp lđ, mà cũng là đảng của toàn dân. năm 1957 HCM khẳng định: đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong củadân tộc. nawm1961, HCM tiếp tục khẳng định: đảng ta là đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, ko thiên tư, thiên vị. 1965, HCM cho rằng: đảng ta sứng đáng là đội tiên phong, là bộ tham mưu của giai cấp vs, của nd lđ và của cả dân tộc.

HCM khẳng định bản chất giai cấp công nhân cảu đảng ta dựa trên cơ sở thấy rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân vn, tuy số lượng ít so với dân số nhưng có đầy đủ phẩm chất và năng lực lãnh đạo đất nc thực hiện những mục tiêu của cm. còn các giai cấp tầng lớp khác chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, trở thành đồng minh của giai cấp công nhân. mục tiêu của đảng cần đạt tới là chủ nghĩa cộng sản, đảng tuân thủ một cách nghiêm túc, chặt chẽ những nguyên tắc xd đảng kiểu mới của giai cấp vô sản. HCM phê phán những quan điểm ko đúng như ko đánh giá đúng vai trò to lớn của giai cấp công nhân cũng như quan điểm sai trái chỉ chú trọng công nông mà ko thấy rõ vai trò to lớn của các giai cấp, tầng lớp khác.

Bản chất giai cấp của đảng là bản chất giai cấp công nhân nhưng quan niệm đảng ko những là đảng của giai cấp công nhân mà còn là đảng của nhân dân lđ và của toàn dt có ý nghĩa lớn đối với cm vn. đảng đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc cho lên nhân dân vn coi đảng cs vn là đảng của chính mình. Trong thành phần của mình, ngoài công nhân, còn có những người ưu tú trong giai cấp noong dân, trí thức và các thành phần khác. Đảng ta cũng đã khẳng định rằng, để đảm bảo và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, đảng luôn luôn gắn bó mật thiết với giai cấp công nhân, nhân dân lđ và toàn thể dt trong tất cả các thời kì của cm. HCM rèn luyện đảng luôn luôn chú trọng tính thống nhất giữa yếu tố giai cấp và yếu tố dân tộc, sức mạnh của đảng ko chỉ bắt nguồn từ giai cấp công nhân mà còn bắt nguồn từ các tầng lớp nd lđ khác.

VĐ 9: Quan điểm của HCM về đạo đức.

* ND cơ bản của tư tưởng HCM về đạo đức.

- Quan điểm về vai trò và sức mạnh của đạo đức.

Theo HCM “ đạo đức là cái gốc của người CM”. Muốn thực hiện thành công sự nghiệp CMXHCN cuộc CM sâu sắc nhất, triệt để nhất, toàn diện nhất, chúng ta phải đem hết tinh thần và lực lượng ra phấn đấu, phải tu dưỡng rèn luyện đạo đức CM.

HCM luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức CM cho cán bộ, đảng viên. Một trong những bài giảng đầu tiển cho lớp thanh niên trí thức yêu nước đầu tiên của VNt]f nhưng năm 1920 là bài giảng về” Tư cách của một người CM”. Đến khi viết di trúc, Người vẫn dành một phần trang trọng để bàn về vấn đề đạo đức, yêu cầu mỗi đảng viên và cán boojphair thật sự thấm nhuần đạo đức CM, Đảng phải quan tâm chăm lo, giáo dục đạo đức CM cho đoàn viên thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng” vừa “chuyên”.

HCM xem xét đạo đức trên cả 2 phương diện lý luận và thực tiễn. Về mặt lý luận, Người để lại cho chúng ta một quan điểm lý luận sâu sắc và toàn diện về đạo đức. Về thực tiễn, Người luôn coi thực hành đạo đức là một mặt không thể thiếu của cán bộ, đảng viên. Cũng như Lênin, HCM đào tạo các chiến sĩ CM không chỉ bằng chiến lược, sách lược mà còn bằng chính tấm gương đạo đức trong sang của mình.

Khi đánh giá vai trò đạo đức của CM, HCM coi đạo đức là nền tảng của người CM, cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Người viết: “cũng như song thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì song cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người CM phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi maayscungx không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gi”. Người so sánh: “ Làm CM để cải tạo XH cũ thành XH mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người CM phải có đạo đức CM làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ CM vẻ vang”.

Đạo đức là gốc, là nền tảng vì lien quan tới đảng cầm quyền. HCM trăn trở với nguy cơ của đảng cầm quyền, đó là sự sai lầm về đường lối và suy thoái về đạo đức CM của cán bộ, đảng viên. Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn XH, lãnh đạo Nhà nước, nếu cán bộ đảng viên của Đảng không tu dưỡng về đạo đức CM thì mặt trái của quyền lực có thể làm tha hóa con người. Vì vây, HCM yêu cầu Đảng phải “ là đạo đức, là văn minh”. Người thường nhắc lại câu nói của Lênin: ĐCS phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm, của dân tộc và thời đại. Người nói, cán bộ, đảng viên muốn cho dân tin, dân yêu, dân phục thì không phải” viết lên trán chữ CSản là được quần chúng yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”.

Vai trò của đạo đức CM còn thể hiện ở chỗ đó là thước đo lòng cao thượng của con người lấy hiệu quả thực tế làm thước đo. Chính vì vậy, HCM luôn đặt đạo đức bên cạnh tài năng, gắn đức với tài, lời nói đi đôi với hành độngvà hiệu quả trên thực tế. Người nói” phải lấy kết quả thiết thựcđã góp sức bao nhiêu cho sản xuaatsva lãnh đạo sản xuất mà đo ý trí CM của mình. Hãy kiên quyết chống bệnh nói suông, thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm mục đích nâng cao sản xuất”.

Như vậy, trong tư tưởng  đạo đức HCM, đức và tài, hồng và chuyên, phẩm chất và năng lực thống nhất làm một. Trong đó, đức là gốc của tài, hồng là gốc của chuyên, phẩm chất là gốc của năng lực. Tài là thể hiện cụ thể của đức trong hiệu quả hành động.

Đạo đức là nhân tố tạo lên sức hấp dẫn của CNXH.

Theo HCM, sức hấp dẫn của CNXH chưa phải là lý tưởng cao xa, ở mức sống vật chất dồi dào, ở tư tưởng được tự do giải phóng mà trước hết là ở những giá trị đạo đức cao đẹp, ở phẩm chất của những người CS ưu tú, bằng tấm gương sống và hành động của mình, chiến đấu cho lý tưởng đó thành hiện thực.

Có đạo đức Cm thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại cũng không lùi bước, chán nản…;khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ tinh thần khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo…

Đạo đức là cái gốc của người CM, nhưng phải nhận thức đức và tài có mối quan hệ mật thiết với nhau. Có đức phải có tài, nếu không sẽ không mang lại lợi ích gì mà còn có hại cho dân. Mặt khác, phải thấy trong đức có tài. Tài càng lớn thì đức phải càng cao, vì đức - tài là nhằm phục vụ nhân dân và đưa CM đến thắng lợi.

Tấm gương trong sáng của một nhân cách vĩ đại, song cũng rất đời thường của HCM chẳng những có sức hấp dẫn lớn lao, mạnh mẽ với nhân dân VN mà còn cả với nhân dân thế giới. Tấm gương đó từ lâu, là nguồn cổ vũ động viên tinh thần quan trọng đối với nhân dân ta và nhân loại tiến bộ đoàn kết đấu tranh vì hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH.

- Quan điểm về những chuẩn mực CM:

 Một là, trung với nước hiếu với dân: “ Trung” và “ hiếu” là những khái niệm cũ trong tư tưởng đạo đức truyền thống VN và p.Đông, phản ánh mối quan hệ lớn nhất, và cũng là phẩm chất đạo đức bao trùm nhất: “ Trung với vua, hiếu với cha mẹ”.

 Từ khái niệm cũ "trung với vua, hiếu với cha mẹ" trong đạo đức truyền thống của xã hội phong kiến phương Đông, Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới, phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn là “Trung với nước hiếu với dân”. Đó là một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức.Người nói: “ Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người 2 chân đứng vững được dưới đất đầu ngẩng lên trời”.

HCM cho rằng, trung với nước phải gắn liền hiếu với dân. Vì nước là nước của dân, còn dân là chủ nhân của nước, bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân, cán bộ là đày tớ của dân chứ không phải là” quan CM”.

Trung với nước là tuyệt đối trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, trung thành với con đường đi lên của đất nước, là suốt đời phấn đấu cho Đảng, cho Cm. Hiếu với dân thể hiện ở chỗ thương dân, tin dân,phục vụ nhân dân hết long. Để làm được như vậy phải gần dân,kính trọng và học tập nhân dân, phải dựa vào dân và lấy dân làm gốc. Đối với cán bộ lãnh đạo, HCM yêu cầu phải lắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, thường xuyên quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí.

“Trung với nước hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị-đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau

Hai là, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư: Đây là phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hàng ngày của mỗi người, là đại cương đạo đức HCM. HCM chỉ ra rằng, bọn phong kiến thời xưa chỉ ra cần, kiệm, liêm chính nhưng không bao giờ thực hiện mà bắt nhân dân tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay, ta đề ra cần, kiệm, liêm chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo là để đem lại hạnh phúc cho dân. Với ý nghĩa như vậy, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư cũng là một biểu hiện cụ thể, một nội dung của phẩm chất “ trung với nước, hiếu với dân”

Theo Hồ Chí Minh thì: Cần tức là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ "lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta".

Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; "không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi", không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù.

Liêm tức là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân"; "không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân". Phải "trong sạch, không tham lam". "Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá".

Chính, "nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn". Người đưa ra một số yêu cầu:Đối với mình- không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình.

Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc.

Đối với việc: để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Việc thiện nhỏ mấy cũng làm, việc ác nhỏ mấy cũng tránh.

HCM chỉ ra rằng, các đức tính cần, kiệm, liêm chính có quan hệ chặt chẽ với nhau, ai cũng phải thực hiện, song cán bộ, đảng viên phải là những người thực hành trước để làm kiểu mẫu cho dân. Người cho rằng, những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hạn. Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm chinhsthif dễ trở lên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

Đối với một quốc gia cần, kiệm, liêm chính là thước đo sự giàu có về vật chất, vững mạnh về tinh thần, thể hiện sự văn minh tiến bộ. Và còn là nền tảng của đời sống mới, của các phong trào thi đua yêu nước.

Chí công vô tư, Người nói: "Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc". “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; phải "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ".Chí công vô tư là nêu cao CN tập thể từ bỏ CN cá nhân.

Theo HCM,CN cá nhân là vết tích của XH cũ, đó là lối sống ích kỷ, chỉ biết có riêng mình,thu vén cho riêng mình, chỉ thấy công lao của mình mà quên mất công lao của người khác. CN cá nhân là đồng minh của đế quốc, là một thứ vi trùng rất độc,CN cá nhân đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm, như: quan lieu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí, tham danh,trục lợi, thích địa vị, quyền hành, coi thường tập thể, tự cao tự đại, độc đoán chuyên quyền,..Đó “là một thứ rất gian xảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc”.HCM cho rắng CNXH không thể thắng lợi nếu không loại trừ CN cá nhân.

Ba là, thương yêu con người, sống có tình ngĩa.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện và độc đáo. Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Người nói, người CM là người giàu tình cảm, có tình cảm CM mới đi làm CM. Vì yêu thương nhân dân, yêu thương con người yêu thương nhân dân mà chấp nhận mọi gian khổ hy sinh để đem lại độc lập, tự do, cơm no áo ấm và hp cho con người. Người dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ. Những người lao động bị áp bức bóc lột, Người viết: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành"

Hồ Chí Minh yêu thương đồng bào, đồng chí của Người, không phân biệt họ ở miền xuôi hay miền ngược, là trẻ hay già, trai hay gái... không phân biệt một ai, không trừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người.

Tình yêu thương đoa là một tình cảm rộng lớn, trước hết dành cho những người nghèo khổ, những người bị mất quyền, những người bị áp bức, bị bóc lột không phân biệt màu da, dân tộc. Người cho rằng nếu không có tình yêu thương như vậy thì không thể nói đến Cm, càng không thể nói đến CNXH và CNCS.

Tình yêu thương con người phải được xây dựng trên lập trường giai cấp công nhân, thể hiện trong mối quan hệ hằng ngày với bạn bè, đồng chí, anh em… nó đòi hỏi mỗi người phải chặt chẽ và nghiêm khắc với mình, rộng rãi độ lượng, giàu long vị tha với người khác. Nó đòi hỏi thái độ tôn trongjnh]ngx quyền của con người, nâng con người lên, kể cả những người nhất thời lầm lạc, chứ khoogn phải là thái độ dĩ hòa vi quý, không phải hạ thấp,  càng khoog phải vùi dập con người. Người dạy:” Hiểu CN mác lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu CN Mác Lenin được”.

Tình yêu thương của Người còn thể hiện đối với những người có sai lầm khuyết điểm. Với tấm lòng bao dung của một người cha, Người căn dặn, chúng ta: "Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời"

Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con người

Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng. Đó là, tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản, mà Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng mệnh đề "Bốn phương vô sản đều là anh em"; là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước, mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp bằng hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc.

Chủ ngĩa quốc tế, là một trong những phẩm chất quan trọng nhất của đạo đức CSCN. Nó bắt nguồn từ bản chất giai cấp công nhân, nhằm vào mqh rộng lớn, vượt ra khỏi quốc gia dân tộc.

Nội dung CN quốc tế trong tư tưởng HCM rất rộng lớn và sâu sắc. Đó là sự tôn trọng hiểu biết, thương yêu và đoàn kết với giai cấp vô sản toàn thế giới, với tất cả các dân tộc và nhân dân các nước, với những người tiến bộ trên toàn cầu, chống lại mọi sự chia rẽ, hằn thù, bất bình đẳng và phân biệt chủng tộc; chống lại CN dân tộc hẹp hòi, biệt lập và CN bành trướng bá quyền…HCM chủ trương giúp bạn là tự giúp mình.

Đoàn kết quốc tế là nhằm thực hiện những mục tiêu lớn của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ XH, là hợp tác và hữu nghị theo tinh thần: bốn phương vô sản, bốn bề đều là an hem. Trong suốt cuộc đời hoạt động CM, HCM đã dày công xây đắp tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân VN và nd thế giới. Đã tạo ra một kiểu quan hệ quốc tế mới: đối thoại thay cho đối đầu, nhằm kiến tao một nền văn hóa hòa bình cho nhân loại

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com

Tags: