vandetrocap
1. Định nghĩa trợ cấp
Theo quy định tại Điều 1 của Hiệp định SCM, để được coi là trợ cấp thì một biện pháp phải thoả mãn đồng thời hai điều kiện sau:
- là một khoản đóng góp về tài chính[1][1]do chính phủ hoặc một tổ chức nhà nước/công (public body) cung cấp; hoặc là một khoản hỗ trợ thu nhập hoặc hỗ trợ giá[2][2]; và
- mang lại lợi ích cho đối tượng được nhận sự đóng góp tài chính hay hỗ trợ thu nhập/hỗ trợ giá đó[3][3].
Cam kết của Việt Nam liên quan tới vấn đề trợ cấp trong đàm phán gia nhập WTO
Là nước đang phát triển ở trình độ thấp, thu nhập bình quân đầu người hàng năm ở mức dưới 1.000 USD, Việt Nam có nhu cầu chính đáng cần duy trì một số chương trình, biện pháp trợ cấp nhất định để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, hỗ trợ một số ngành non trẻ nhưng có ý nghĩa lớn đối với đời sống của bộ phận lớn dân cư. Hiện nay, các chương trình trợ cấp ở Việt Nam nhìn chung có giá trị không lớn, phần nhiều mang tính chất hỗ trợ bổ sung hoặc khuyến khích động viên. Hình thức trợ cấp phổ biến là ưu đãi miễn giảm về thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, v.v…) dưới dạng các ưu đãi đầu tư để thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia vào các lĩnh vực, ngành nghề ưu tiên phát triển hoặc các địa bàn khó khăn cần có đòn bẩy kinh tế để phát triển.
Việt Nam đã gửi cho Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO các Bản Thông báo về các chương trình trợ cấp áp dụng trong các giai đoạn 1996-1998, 1999-2000 và 2001-2002.
Tuy nhiên, theo quy định của WTO thì một số chương trình hoặc biện pháp trợ cấp nói trên của Việt Nam bị coi là trợ cấp bị cấm (như mức thuế nhập khẩu ưu đãi theo tỷ lệ nội địa hóa, thưởng theo kim ngạch xuất khẩu, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho dự án sản xuất hàng xuất khẩu, v.v…) và do đó các thành viên WTO yêu cầu Việt Nam phải sớm chấm dứt.
Mặc dù, theo quy định của Hiệp định SCM về đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển ở trình độ thấp như Việt Nam thì các chương trình này có thể được hưởng một khoảng thời gian chuyển đổi nhất định để điều chỉnh phù hợp với quy định chuẩn mực về trợ cấp của WTO nhưng do Việt Nam là nước đang trong quá trình gia nhập WTO chứ không phải là thành viên nên phải chịu nhiều sức ép từ phía các thành viên hiện tại.
Với quyết tâm sớm hội nhập vào hệ thống thương mại thế giới, đặc biệt là là gia nhập WTO, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc điều chỉnh chính sách trong nước liên quan tới trợ cấp. Cho tới nay, Việt Nam đã cam kết bãi bỏ các hình thức trợ cấp theo tỷ lệ nội địa hoá hoặc yêu cầu sử dụng nguyên liệu trong nước và các hình thức trợ cấp trực tiếp từ ngân sách theo thành tích xuất khẩu từ thời điểm gia nhập WTO.
Đối với các hình thức trợ cấp xuất khẩu bị cấm còn lại theo Hiệp định SCM (chủ yếu dưới hình thức các ưu đãi đầu tư), Việt Nam cam kết bãi bỏ sau 9 năm kể từ thời điểm gia nhập.
Đối với trợ cấp nông nghiệp chủ yếu thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định Nông nghiệp, Việt Nam cũng đã cam kết ràng buộc trợ cấp xuất khẩu nông sản ở mức bằng 0 trong Biểu cam kết về Hàng hóa và khẳng định rằng kể từ thời điểm gia nhập, Việt Nam sẽ không duy trì hoặc đưa ra bất cứ biện pháp trợ cấp xuất khẩu nào đối với nông sản, trừ một số loại trợ cấp xuất khẩu nông sản mà các nước đang phát triển được phép duy trì.
Quy định của Việt Nam về áp dụng thuế chống trợ cấp đối với hàng nhập khẩu vào Việt Nam phù hợp với WTO
Việt Nam cam kết áp dụng các biện pháp chống trợ cấp phù hợp với các quy định của WTO. Cụ thể, Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam số 22/2004/PL-UBTVQH10 ngày 30/8/2004 thể hiện đầy đủ tinh thần và nội dung cơ bản của Hiệp định SCM về áp dụng biện pháp đối kháng đối với hàng nhập khẩu được trợ cấp.
Ngày 11/7/2005 vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/2005/NĐ-CP về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam để hoàn thiện cơ sở pháp lý và thực thi việc sử dụng công cụ thuế chống trợ cấp đảm bảo tính công bằng trong cạnh tranh thương mại trong bối cảnh HNKTQT.
[1][1] Đóng góp về tài chính được thể hiện dưới hình thức Chính phủ trực tiếp đứng ra thực hiện hoặc uỷ thác hay chỉ đạo một tổ chức tư nhân thực hiện một hoặc một số hoạt động như: Chuyển tiền/vốn trực tiếp (Cấp phát, cho vay, tham gia góp vốn); Chuyển tiền/vốn gián tiếp (bảo lãnh vay); Miễn hoặc không thu các khoản đáng lẽ phải thu (miễn giảm thuế); Cung cấp hàng hóa, dịch vụ (trừ cơ sở hạ tầng nói chung); Mua sắm hàng hóa.
[2][2] Chương trình hỗ trợ giá của chính phủ dẫn đến cung vượt cầu (tức dư thừa) tại mức giá hỗ trợ. Để hỗ trợ giá ở mức cao hơn mức giá cân bằng của thị trường, chính phủ buộc phải thực hiện một trong số chính sách sau: mua và dự trữ lượng sản phẩm dư thừa, ấn định hạn mức sản xuất nhất định, kích cầu, hoặc thanh toán cho nhà sản xuất phần chênh lệch giữa giá hỗ trợ với mức giá mà nhà sản xuất thông thường nhận được nếu không có sự hỗ trợ của chính phủ (mức này luôn thấp hơn mức giá hỗ trợ).
[3][3] Một số ví dụ về lợi ích do trợ cấp như: Chính phủ cho một công ty vay với lãi suất thấp hơn lãi suất phổ biến trên thị trường tài chính đối với khoản vay thương mại tương đương (Lợi ích đó chính là khoản chênh lệch giữa lãi suất cho vay của chính phủ và lãi suất cho vay thương mại thông thường); Chính phủ đứng ra bảo lãnh khoản vay của một công ty, nhờ vậy tổng chi phí mà công ty đó phải trả cho khoản vay được chính phủ bảo lãnh sẽ thấp hơn so với trường hợp không được chính phủ bảo lãnh (Khoản chênh lệch giữa tổng số tiền mà công ty phải trả trong hai trường hợp chính là lợi ích mà công ty được hưởng); Chính phủ cung cấp hàng hóa với giá thấp hơn so với giá bán thông thường của mặt hàng đó trên thị trường thương mại; Chính phủ mua hàng hóa với giá cao hơn so với giá mua thông thường của mặt hàng đó trên thị trường thương mại.
Nguyên tắc áp dụng thuế chống trợ cấp là: (i) Mức thuế chống trợ cấp không được cao hơn giá trị trợ cấp tính theo đơn vị sản phẩm nhập khẩu được trợ cấp vì mục đích của việc đánh thuế chỉ là nhằm loại bỏ thiệt hại do trợ cấp gây ra đối với ngành sản xuất trong nước; và (ii) Thuế chống trợ cấp phải được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu từ tất cả các nước bị xác định là có trợ cấp gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất của nước nhập khẩu, trừ hàng nhập khẩu từ những nước đã tuyên bố chấm dứt trợ cấp hoặc đã đưa ra cam kết và được cơ quan điều tra chấp thuận. Tuy nhiên, mức thuế cụ thể áp dụng với hàng nhập khẩu của mỗi nước khác nhau cũng khác nhau phụ thuộc vào mức độ trợ cấp và thiệt hại cụ thể của từng trường hợp.
Thuế chống trợ cấp được áp dụng chừng nào còn cần thiết để đối phó với trợ cấp của nước ngoài gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước. Tuy nhiên, để ngăn chặn việc lạm dụng thuế chống trợ cấp, Hiệp định SCM quy định thời hạn áp dụng thuế chống trợ cấp tối đa là 5 năm kể từ ngày bắt đầu áp dụng. Nếu muốn kéo dài thời hạn trên thì cơ quan điều tra bắt buộc phải tiến hành rà soát việc áp dụng thuế chống trợ cấp theo các thủ tục như điều tra mới trước khi thời hạn áp dụng 5 năm nói trên kết thúc. Cơ quan điều tra có thể chủ động tiến hành rà soát hoặc tiến hành rà soát theo đề nghị của đại diện ngành sản xuất trong nước.
Trong trường hợp khiếu kiện ra Cơ quan giải quyết tranh chấp, nếu nước áp dụng trợ cấp không thực hiện khuyến nghị của Ban hội thẩm thì nước khiếu kiện có thể yêu cầu WTO cho phép sử dụng biện pháp trả đũa. Mặc dù nước nhập khẩu bị tổn hại có thể đồng thời khởi kiện ra Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO và điều tra đánh thuế chống trợ cấp với hàng nhập khẩu được trợ cấp gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước nhưng cuối cùng chỉ được áp dụng hoặc thuế chống trợ cấp hoặc biện pháp trả đũa được WTO cho phép chứ không được áp dụng đồng thời cả hai.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com