VB21-???
3. Lời đáp của người ra đi
* Khẳng đinh lòng mình
Lời của người ở lại phân vân qua sáu câu lục bát, còn lời của người ra đi là những câu trần thuật để khẳng định:
“ Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.”
Hình thức đảo vị trí “ta” và “mình” trong hai vế của một dòng lục đã thể hiện lời khẳng định chắc nịch: mình và ta là một, mối tình giữa mình và ta mãi mãi khăng khít, bền chặc không thể tách rời. Mượn cách bộc lộ tình cảm của ca dao, vận dụng lời thề sắc son, thuỷ chung của dân gian kết hợp với cách sử dụng từ láy gợi cảm “mặn mà”, “đinh ninh”. Người ra đi khẳng định lòng ta trước sau như một, đó là lời động viên, an ủi, gieo vào lòng người người ở lại niềm tin vững chắc vào nghĩa tình sắc son.
Tiếp tục khẳng định lòng mình, người ra đi đã sử dụng hình thức lặp kiểu câu chỉ thay đổi từ “có nhớ” thể hiện sự trăn trở, day dứt của người ở lại thành “lại nhớ” khẳng định nghĩa tình của người ra đi, cách nói ấy đã thể hiện sự đồn điệu trong tâm hồn của người đi kẻ ở .
Vận dụng cách diễn đạt tình cảm của ca dao dân ca: “Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”, ý thơ không chỉ dừng lại ở nghĩa khẳng định nghĩa tình sắc son mà gợi suy ngẫm nghĩa tình người đi kẻ ở như nước trong nguồn trong trẻo, mát lành, thắm thiết không bao giờ cạn. Và dòng suối nghĩa tình ấy sẽ nuôi dưỡng tâm hòn dân tộc, thể hiện đạo lí thiêng liêng của lối sống trọn nghĩa, trọn tình.
Bộc lô nỗi nhớ:
Khái quát nỗi nhớ:“Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”
Mượn hình thức so sánh, người ra đi khẳng định nỗi nhớ Việt Bắc là nỗi nhớ dịu dàng, sâu lắng, gợi nhiều bâng khuâng xao xuyến như “trăng lên đầu núi”_một nỗi nhớ nồng nàn, ấm áp như “nắng chiều lưng nương”. Nỗi nhớ ấy xuyên suốt thời gian (đêm, ngày) và bao trùm cả không gian (núi, rừng, nương rẫy). Đây là nỗi nhớ với nhiều cung bậc_nỗi nhớ da diết, sâu lắng, nỗi nhớ trừu tượng mà cũng rất cụ thể.
Từ sự khái quát nỗi nhớ nhà thơ đã cụ thể hoá nỗi nhớ:
Nhớ Việt Bắc là nhớ cuộc sống sinh hoạt gắn bó
+ Liệt kê những hình ảnh đặc trưng riêng: “Nhớ từng bản khói từng sương”
+ Nhớ thiên nhiên với những đặc trưng riêng. Sử dụng hình thức liệt kê những địa danh, những khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, trữ tình đã ghi bao dấu ấn kỉ niệm: “Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.”
+ Nhớ những âm thanh giản dị mà quen thuộc:
“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa.”
Phải yêu và gắn bó mật thiết với quê hương Việt Bắc người ra đi mới có thể khắc ghi trong tâm trí những hình ảnh, âm thanh mộc mạc, dân giã mà tha thiết thiêng liêng đến thế.
Nhớ cuộc sống sinh hoạt Việt Bắc là nhớ những ngày tháng gian khổ mà nghĩa tình:
+ Mười lăm năm gắn bó là mười lăm năm đồng cam cộng khổ:
“Thương nhau chia củ ắn lùi
Bát cơm sẻ nữa, chăn sui đắp cùng”
Những dòng thơ ngợi ca vẻ đẹp của tình đoàn kết chia ngọt, sẻ bùi, nhường cơm sẻ áo của nhân dân cho kháng chiến. Chính sức mạnh này đã giúp nhân dân và cách mạng vượt qua gian khổ đến ngày thắng lợi.
+ Nhớ những cuộc sống gian khổ mà thắm thiết nghĩa tình là nhớ đến những con người thầm lặng cống hiến, thầm lặng hi sinh:
“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.
”
+ Nhớ cuộc sống sinh hoạt là nhớ đến những ngày tháng vui vẻ, lạc quan:
“Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.”
Đây là biểu hiện của tình quân dân thắm thiết. Chỉ bằng một vài dòng thơ nhưng ân tình của người ra đi sâu nặng, nỗi nhớ da diết cụ thể, sâu sắc. Qua đó tái hiện cuộc sống và sinh hoạt của nghĩa tình nhân dân kháng chiến trong một thời kì lịch sử. Chưa đựng bên trong nỗi nhớ là lòng biết ơn, là sự tri ân sâu sắc của người ra đi mà cũng chính là của nhà thơ Tố Hữu. Đoạn thơ thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của Tố Hữu.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com