Chào các bạn! Truyen4U chính thức đã quay trở lại rồi đây!^^. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền Truyen4U.Com này nhé! Mãi yêu... ♥

Chương 9

Trang trại Muskrat, đại bản doanh của gia tộc Verger tọa lạc gần sông Susquehanna ở bắc Maryland, mang một vẻ đẹp u linh, kỳ quái. Tập đoàn thịt đóng gói Verger đã thâu tóm dinh thự này vào thập niên 1930 khi dời đô từ Chicago về miền Đông để tiện bề tiếp cận giới chính trị Washington, và họ dư sức chi trả cho việc đó. Nhờ đầu óc đánh hơi chính trường và thương trường nhạy bén, nhà Verger đã bám rễ và làm giàu bất chính dựa trên các hợp đồng thầu thịt cho Quân đội Mỹ suốt từ thời Nội chiến đến nay.

Scandal thịt bò tẩm hóa chất thời Chiến tranh Tây Ban Nha - Mỹ suýt soát bằng không đối với gia tộc Verger. Khi Upton Sinclair và nhóm nhà báo điều tra vạch trần điều kiện lao động kinh hoàng tại các xưởng thịt Chicago, họ khui ra chuyện một số nhân công nhà Verger đã vô tình bị nghiền nát và nấu chảy thành mỡ, sau đó đóng lon bán dưới nhãn hiệu Mỡ heo thượng hạng Durham, món ruột của dân làm bánh. Dẫu vậy, tội trạng chẳng hề dính vào nhà Verger. Vụ bê bối không tước đi của họ lấy một hợp đồng thầu nào từ chính phủ.

Gia tộc Verger đi qua những nỗi nhục nhã ê chề đó và vô số tai ương khác bằng cách đấm tiền cho giới chính trị gia - bước lùi duy nhất trong lịch sử của họ là khi Đạo luật Kiểm tra Thịt năm 1906 chính thức được phê chuẩn.

Hiện tại, công suất giết mổ của tập đoàn Verger lên tới 86.000 đầu gia súc và xấp xỉ 36.000 con heo mỗi ngày, số lượng này có dao động một chút theo mùa vụ.

Bãi cỏ mới xén ở trang trại Muskrat, cùng những rặng tử đinh hương dập dềnh trong gió, tuyệt nhiên không vương một chút mùi vị nào của lò mổ. Những con vật duy nhất xuất hiện tại đây là lũ ngựa pony phục vụ đám trẻ đến thăm và những đàn ngỗng túc tắc gặm cỏ trên sân, mông lắc lư và đầu chúi xuống đất. Tuyệt đối không có bóng dáng một con chó nào. Tòa nhà, khu chuồng trại và đất đai bao quanh nằm biệt lập gần trung tâm của một khu rừng quốc gia rộng sáu dặm vuông, quyền sở hữu này là vĩnh viễn nhờ một đặc quyền miễn trừ do Bộ Nội vụ phê duyệt.

Như mọi giang sơn biệt lập của giới đại tư bản, trang trại Muskrat thách thức những ai tìm đến lần đầu. Clarice Starling đã chạy hố mất một lối ra trên đường cao tốc. Vòng ngược lại theo đường dân sinh, nơi đầu tiên cô tiếp cận là lối cổng phụ dành cho xe chở hàng, một cánh cổng lớn xích khóa im lìm trên bờ rào cao ngất cô lập khu rừng. Bên kia cổng, một lối mòn cứu hỏa hun hút chìm vào vòm lá âm u. Không có bốt điện thoại nội bộ nào ở đây. Phải chạy thêm hai dặm nữa cô mới thấy cổng chính, nằm sâu vào trong cả trăm mét sau một con đường dẫn mướt mắt. Gã bảo vệ mặc sắc phục đã chực sẵn với cái tên của cô nằm trên tập hồ sơ kẹp nách.

Chạy dọc theo hai dặm đường mướt mát nữa, cô mới chính thức đặt chân vào trang trại.

Starling hãm con xe Mustang đang gầm rú của mình để nhường lối cho một đàn ngỗng túc tắc băng qua đường. Cách đó một góc tư dặm, một tốp trẻ em cưỡi trên những chú ngựa lùn Shetland béo múp đang thong dong rời khỏi căn nhà kho bề thế. Tòa nhà chính sừng sững trước mặt cô là một biệt thự do chính kiến trúc sư lừng danh Stanford White thiết kế, nằm thế vững chãi giữa những triền đồi thấp. Khung cảnh hiện lên thật kiên cố, phì nhiêu, chuẩn vị của một thiên đường trong mơ. Nó bất giác chạm vào một khoảng trống sâu thẳm trong lòng Starling.

Gia tộc Verger vẫn đủ tỉnh táo để giữ nguyên kết cấu nguyên bản của tòa nhà, trừ một lối kiến trúc cơi nới đơn độc mà Starling chưa thể nhìn ra, một chái nhà hiện đại chìa ra từ mặt tường phía đông, trông dị hợm như một phần chi thể thừa thãi bị khâu bừa vào trong một thí nghiệm y khoa quái dị.

Starling đỗ con xe dưới vòm cổng chính của tòa nhà. Máy tắt, không gian lặng ngắt đến mức cô nghe rõ mồn một nhịp thở của bản thân. Nhìn vào gương, cô thoáng thấy một bóng người đang phi ngựa tới. Starling vừa mở cửa bước xuống thì tiếng móng guốc đã gõ lộc cộc trên nền đá ngay sát bên hông xe.

Một vóc dáng vai rộng, tóc vàng cắt ngắn gọn gàng nhảy phóc xuống từ yên ngựa, thảy dây cương cho gã gia nhân mà không thèm nhìn mặt. "Dắt nó đi," người cưỡi ngựa nói bằng chất giọng trầm khàn, gai góc.

"Tôi là Margot Verger."

Nhìn cận cảnh, đó là một người phụ nữ. Cô chìa tay ra, cánh tay giương thẳng băng từ bả vai. Không nghi ngờ gì nữa, Margot Verger là một dân luyện thể hình chuyên nghiệp. Dưới cái cổ chằng chịt thớ cơ, cặp vai và đôi tay hộ pháp của cô chực chờ xé rách lớp vải lưới của chiếc áo thun thể thao. Ánh mắt cô có cái nhìn ráo hoảnh, quắc lên đầy khó chịu như thể tuyến lệ của cô đã cạn kiệt từ lâu. Cô vận chiếc quần chẽn cưỡi ngựa bằng vải tuýt và mang bốt không gắn đinh thúc ngựa.

"Cô đi con xe gì vậy?" cô ta hỏi. "Mustang cũ à?"

"Đời 1988," Starling trả lời.

"Máy năm chấm à? Nhìn phom xe cứ như đang hạ gầm bám chặt lấy bánh ấy nhỉ."

"Đúng vậy. Đây là bản độ Roush Mustang."

"Mê con xe này à?"

"Rất mê."

"Nó kéo lên được bao nhiêu?"

"Tôi chưa thử hết tầm. Nhưng tôi nghĩ, thế là đủ."

"Sợ con xe đó à?"

"Biết chừng mực với nó thôi. Phải nói là tôi cầm lái nó một cách đầy cẩn trọng," Starling đáp.

"Do cô sành xe thật hay chỉ mua bừa?"

"Tôi thừa khôn ngoan để hốt ngay con này tại một buổi đấu giá đồ lậu của dân buôn ma túy khi nhìn ra giá trị của nó. Mấy thứ khác thì sau này mới học thêm."

"Liệu con này có chấp nổi xe Porsche của tôi không?"

"Còn xem đó là dòng Porsche nào. Cô Verger, tôi có việc cần gặp anh trai cô ngay."

"Tầm năm phút nữa bọn họ mới dọn dẹp cho anh ta xong. Ta cứ lên trên đó trước." Chiếc quần cưỡi ngựa vải thô rít lên ken két giữa hai bên đùi to bản của Margot Verger theo mỗi nấc thang cô ta bước lên. Chỏm tóc hoe vàng như râu ngô đã hói sâu lên tận đỉnh đầu, khiến Starling bất giác hoài nghi có phải cô ta đang nốc steroid vô tội vạ và buộc phải dán băng dính để ém chỗ âm vật bị biến dạng của mình lại hay không.

Trong mắt Starling, một đứa trẻ lớn lên từ cô nhi viện của dòng Lutheran, dinh thự này sừng sững như một viện bảo tàng lạnh lẽo. Không gian rộng hoác, những hàng xà gồ chạm trổ trên cao, và những mảng tường ngợp bóng chân dung của những kẻ đã khuất với diện mạo đầy quyền thế. Đồ pháp lam Trung Hoa ngự trên các chiếu nghỉ, còn những dải thảm dài vạn dặm xứ Morocco thì rải dọc khắp các lối hành lang.

Phong cách kiến trúc bị bẻ gãy một cách đột ngột tại chái nhà mới của biệt thự nhà Verger. Cấu trúc hiện đại mang tính công năng này mở ra sau cánh cửa đôi bằng kính mờ, nằm chướng mắt giữa lòng căn sảnh vòm bề thế.

Margot Verger dừng lại trước lối cửa đôi. Cô quay sang nhìn Starling, vẫn với ánh mắt ráo hoảnh quắc lên đầy khó chịu đấy.

"Nhiều người không chịu nổi khi nói chuyện với anh Mason đâu," cô ta bảo. "Nếu cô thấy dội hoặc chịu không thấu, lát nữa có chỗ nào cô quên hỏi, tôi sẽ nói lại cho mà nghe."

Có một loại xúc cảm phổ biến mà ai trong chúng ta cũng biết nhưng chưa từng gọi tên - niềm khoái trá chờ chực khi sắp sửa được ban phát sự khinh bỉ. Starling đọc vị được điều đó ngay trên nét mặt của Margot Verger. Cô chỉ buông lại một câu "Cảm ơn cô."

Starling không khỏi kinh ngạc khi căn phòng đầu tiên hiện ra ở chái nhà này lại là một phòng chơi rộng rãi với đủ đầy tiện ích cho trẻ nhỏ. Hai đứa trẻ da đen đang đùa nghịch giữa đống thú bông cỡ đại, đứa này cưỡi con xe ba bánh hiệu Big Wheel, đứa kia thì lướt chiếc xe tải đồ chơi trên sàn nhà. Cơ man nào là xe đạp, xe kéo đậu chật các góc phòng, còn ngay trung tâm là một khung giàn giáo cho trẻ leo trèo, phía dưới sàn được lót đệm giảm chấn vô cùng dày dặn.

Nơi góc phòng chơi, một gã đàn ông hộ pháp khoác áo y tá đang chễm chệ trên chiếc ghế bành nhỏ, lật xem tờ Vogue. Cơ man nào là camera an ninh gắn chằng chịt trên tường, cái tít trên cao, cái vừa tầm mắt. Một chiếc camera treo cao nơi góc tường đang bám theo Starling và Margot Verger, ống kính xoay xoạch để bắt nét.

Tâm lý Starling đã chai sạn đến mức việc nhìn thấy một đứa trẻ da đen không còn khiến cô phải nhói lòng nữa, song cô vẫn đặc biệt lưu tâm đến hai đứa nhỏ này. Sự bận rộn đầy hăng say và vui tươi của chúng bên đống đồ chơi là thứ duy nhất mang lại cảm giác dễ chịu khi cô và Margot Verger đi xuyên qua căn phòng.

"Anh Mason thích xem lũ trẻ chơi đùa," Margot Verger bảo. "Để chúng nhìn thấy mặt anh ấy thì có mà kinh hồn bạt vía, trừ mấy đứa còn quá nhỏ chưa biết gì, thành ra anh ấy mới chơi kiểu này. Sau đấy chúng sẽ được dắt đi cưỡi ngựa lùn. Lũ trẻ này được gom từ mấy trại giữ trẻ thuộc diện trợ cấp xã hội ở Baltimore đấy."

Căn buồng của Mason Verger chỉ có một lối tiếp cận duy nhất là đi xuyên qua phòng tắm của hắn, một tổ hợp cơ sở vật chất hoành tráng như spa chiếm hết toàn bộ chiều rộng chái nhà. Nó mang diện mạo của một nhà đài công cộng, ngập búa xua thép và crôm cùng thảm trải sàn công nghiệp, những buồng tắm vòi sen cửa đại, những bồn tắm inox có cần cẩu treo phía trên, những cuộn vòi rồng màu cam, phòng xông hơi và các tủ kính vĩ đại chứa cơ man thuốc xức của hãng Farmacia thuộc vương cung thánh đường Santa Maria Novella ở Florence. Không khí trong phòng tắm vẫn còn om hơi nước chưa tan, sực nức mùi nhựa thông và tinh dầu cây lộc đề.

Starling vừa kịp nhìn thấy vệt sáng lọt qua khe cửa buồng Mason Verger. Vệt sáng biến mất ngay khoảnh khắc tay em gái hắn chạm vào núm cửa.

Khu vực tiếp khách nơi góc buồng của Mason Verger bị phơi ra dưới luồng ánh sáng chói gắt chiếu thẳng từ trên trần. Ngay trên chiếc ghế bành là một bản sao sắc nét bức họa "The Ancient of Days" của William Blake - hình ảnh Thượng đế đang cầm chiếc com-pa đo đạc vũ trụ. Bức tranh được viền vải đen để tang cho sự khuất núi gần đây của vị tộc trưởng tối cao nhà Verger. Toàn bộ phần không gian còn lại của căn phòng đổ sụp vào bóng tối.

Phát ra từ cõi u tối là tiếng một cỗ máy đang chạy đều rầm rập, rít lên một tiếng thở dài sau mỗi nhịp đập.

"Chào buổi chiều, Đặc vụ Starling."

Chất giọng trầm vang bị bóp méo qua máy trợ thanh, khiến âm răng môi f của chữ afternoon hoàn toàn mất hút.

"Chào buổi chiều, ông Verger," Starling cất tiếng vào cõi u uất, luồng đèn trần rọi xuống gắt gao làm nóng rực cả đỉnh đầu. Buổi chiều thuộc về một thế giới nào đó ngoài kia. Còn ở nơi này, buổi chiều không có cửa bước vào.

"Ngồi đi."

Đằng nào cũng phải đối mặt. Ngay lúc này là thích hợp nhất. Lệnh thực thi bắt đầu.

"Ông Verger, buổi thảo luận hôm nay giữa chúng ta có giá trị pháp lý như một phiên cho lời khai, và tôi bắt buộc phải dùng máy ghi âm. Như vậy có phiền ông không?"

"Chắc chắn rồi."

Tiếng nói lọt vào giữa những nhịp thở dài của máy móc, âm xuýt s của chữ đó hoàn toàn mất hút. "Margot, cô lui ra ngoài được rồi đấy."

Chẳng mảy may liếc nhìn Starling, Margot Verger rảo bước ra ngoài trong tiếng cọ xát vun vút của chiếc quần chẽn cưỡi ngựa.

"Ông Verger, tôi muốn cài chiếc mic này lên y phục hoặc gối của ông, miễn là ông thấy tiện. Bằng không, tôi có thể gọi hộ lý vào hỗ trợ nếu ông muốn thế."

"Cứ tự nhiên," hắn bảo, hoàn toàn mất hút các âm môi b và m. Hắn nín lặng đợi luồng hơi tiếp sức từ nhịp xả tiếp theo của cỗ máy. "Đích thân cô vào cài đi, Đặc vụ Starling. Tôi nằm ngay đằng này này."

Chẳng có cái công tắc đèn nào trong tầm mắt để Starling có thể bật ngay được. Đoán chừng việc thoát khỏi luồng đèn trần chói lòa sẽ giúp mắt dễ thích nghi hơn, cô dấn bước vào cõi u tối, một tay dò dẫm phía trước, hướng thẳng về nơi sực nức mùi lộc đề và nhựa thông.

Khi hắn bật đèn, cô mới nhận ra mình đã tiến sát giường hơn hẳn so với tính toán.

Sắc mặt Starling không một chút đổi thay. Nhưng bàn tay đang cầm chiếc mic cài áo của cô đã giật lùi lại, có lẽ chỉ tầm một lóng tay.

Ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong đầu cô tách biệt hẳn với thứ cảm giác đang cồn cào nơi lồng ngực và lộn nhào trong dạ dày; đó là một ghi nhận mang tính nghiệp vụ, tật phát âm của hắn là do tình trạng hoàn toàn thiếu vắng bờ môi. Ý nghĩ thứ hai là việc nhận diện ra hắn không bị mù. Con mắt độc nhất màu xanh biển của hắn đang găm vào cô qua một loại thấu kính một mắt có nối ống y tế để giữ ẩm, bởi con mắt ấy đã mất đi mí mắt. Đối với những phần còn lại, các phẫu thuật viên từ nhiều năm trước đã cố công cứu vãn hết mức bằng các vạt da kéo giãn bọc lấy khung xương.

Mason Verger, một kẻ mất mũi mất môi và không còn một tí mô mềm nào trên mặt, hiện ra trơ khấc toàn răng với lợi, như một quái vật ngoi lên từ vùng biển sâu vạn dặm. Quá quen thuộc với những chiếc mặt nạ da người, chúng ta bị hoãn lại một nhịp trước khi biết sốc. Cú sốc chỉ thực sự kích hoạt khi trí não ta kịp nhận diện, đây là một khuôn mặt người, và có một tâm trí đang trú ngụ sau đó. Nó làm bao tử ta lộn nhào qua từng chuyển động, sự khớp nối rầm rập của quai hàm, hay cái liếc mắt chòng chọc vào ta. Để nhìn vào gương mặt lành lặn của chính ta.

Mái tóc của Mason Verger trông rất lịch lãm và oái oăm thay, đó lại là thứ khiến người ta thấy khó coi nhất. Suối tóc đen hoa râm được bện thành bím đuôi ngựa, dài đến độ nếu thả xuôi qua gối thì sẽ chạm tới tận sàn nhà. Ngày hôm nay, bím tóc bện ấy lại nằm khoanh tròn một đống trên ngực hắn, ngay phía trên chiếc máy hô hấp nhân tạo vòm mai rùa. Mái tóc người sống lộ ra dưới cái nền phế tích loang lổ, những múi tết bóng lên tựa như những lớp vảy cá chồng lên nhau.

Khuất sau tấm vải trải, thân hình bại liệt nhiều năm của Mason Verger tóp rọp lại chẳng còn gì trên chiếc giường bệnh dựng cao.

Ngự ngay trước mặt Mason là bộ lệnh điều khiển bằng nhựa trong, nhìn như một chiếc sáo bè hoặc kèn harmonica. Hắn cuốn lưỡi thành hình ống bọc lấy một đầu ống lệnh, rồi thổi một hơi theo nhịp đẩy kế tiếp của máy thở. Chiếc giường bệnh rung lên một tiếng rầm rì phản hồi, khẽ xoay thân hình hắn về phía Starling và dựng cao thêm góc đầu giường.

"Tôi tạ ơn bề trên vì biến cố năm xưa," Verger cất lời. "Đó là ơn cứu độ dành cho tôi. Cô đã gửi gắm linh hồn cho Chúa Jesus chưa, cô Starling? Cô có đức tin chứ?"

"Tôi lớn lên dưới một mái nhà sùng đạo, ông Verger. Những gì mà bầu không khí ấy nhào nặn nên một con người, thì tôi chính là kết quả của nó," Starling trả lời. "Còn bây giờ, nếu ông không ngại, tôi sẽ kẹp chiếc micrô này vào bao gối. Để vị trí này chắc không phiền toái gì cho ông đâu nhỉ?"

Giọng cô vang lên nghe quá gượng gạo và mang giọng điệu hộ lý, một kiểu hộ sắc không vừa ý cô chút nào.

Khi bàn tay kề sát đầu hắn, việc chứng kiến hai thực thể da thịt ở cự ly gần không giúp Starling lấy lại bình tĩnh, và nhịp đập từ các huyết quản ghép trên khung xương mặt để dẫn máu nuôi hắn lại càng không; sự co bóp đều đặn của chúng nhìn như những con giun đang co giãn để nuốt mồi.

Đầy nhẹ nhõm, cô xả thêm dây nối rồi lùi bước về phía chiếc bàn, trở lại với cái máy ghi âm và chiếc mic độc lập của mình.

"Tôi là Đặc vụ Đặc biệt Clarice M. Starling, mã số FBI 5143690, tiến hành lập biên bản ghi lời khai đối với Mason R. Verger, số căn cước an sinh xã hội 475989823, tại nơi cư trú của đối tượng vào ngày được ghi nhận ở trên, có tuyên thệ và làm chứng. Ông Verger hiểu rõ rằng bản thân đã được cấp quyền miễn trừ truy tố bởi Ủy viên Công lý Liên bang Khu vực 36, cùng các cấp chính quyền sở tại theo văn bản ghi nhớ liên hợp đính kèm, có tuyên thệ và làm chứng."

"Giờ thì, ông Verger-"

"Tôi muốn nói về trại hè," hắn chặn họng cô bằng nhịp xả kế tiếp của máy thở. "Đó là một ký ức tuổi thơ kỳ diệu mà xét về cốt lõi, tôi đã tìm cách tìm về."

"Vấn đề đó chúng ta sẽ quay lại sau, ông Verger, nhưng tôi muốn chúng ta-"

"Ồ, ta có thể vào thẳng chuyện đó ngay lúc này, cô Starling ạ. Cô nhìn mà xem, mọi sự đều liên đới với nhau hết. Đó chính là cơ duyên đưa tôi đến với Chúa Jesus, và cả đời này tôi sẽ chẳng bao giờ hé môi cho cô biết điều gì hệ trọng hơn thế đâu."

Hắn khựng lại một nhịp, chờ tiếng máy thở thở dài một tiếng. "Đó là một trại hè của con chiên do cha tôi bỏ tiền túi ra lập. Ông bao trọn gói từ đầu đến cuối cho cả trăm hai mươi lăm đứa trẻ đến cắm trại ở Hồ Michigan. Trong số đó có những đứa có hoàn cảnh bất hạnh, và chúng có thể làm mọi thứ chỉ vì một phong kẹo. Có thể tôi đã lợi dụng việc đó, có thể tôi đã bạo lực với chúng nếu chúng dám từ chối nhận sô-cô-la và không chịu phục tùng ý muốn của tôi - tôi không che đậy bất cứ điều gì đâu, bởi vì giờ đây tất cả đều đã được dung thứ rồi."

"Ông Verger, chúng ta hãy tập trung vào một số tài liệu có chung-"

Hắn hoàn toàn bỏ ngoài tai lời cô; hắn chỉ việc chờ cái máy tiếp thêm hơi cho mình. "Tôi được miễn trừ rồi, cô Starling, và giờ đây tất cả đều đã ổn. Tôi có giấy xá tội từ Chúa Jesus, tôi có quyền miễn trừ từ Biện lý Liên bang, tôi có quyền miễn trừ từ Công tố viên vùng Owings Mills, Hallelujah. Tôi là kẻ tự do, cô Starling, và mọi sự đã được dàn xếp ổn thỏa. Tôi đứng về phía Người và mọi chuyện đều tốt đẹp. Người là Chúa Jesus Phục sinh, và tại trại hè ngày trước tụi tôi gọi Người là The Riz. Không một ai ăn đứt được The Riz hết. Tụi tôi biến tấu tên Người cho nó có mùi vị đương đại, cô hiểu chứ, The Riz. Tôi hầu cận Người ở châu Phi, Hallelujah, tôi hầu cận Người ở Chicago, ngợi khen danh Người, và tôi hầu cận Người ngay lúc này, rồi đây Người sẽ vực tôi đứng lên từ chiếc giường bệnh này, Người sẽ vùi dập tất cả những kẻ thù của tôi và quét sạch chúng khuất mắt tôi, và tôi sẽ được tận hưởng tiếng khóc than oán hận từ đàn bà con gái của chúng, và mọi chuyện giờ đây đều đã ổn rồi."

Hắn sặc nước miếng rồi khựng hẳn lại, hệ thống huyết quản lộ ra trước mặt tím bầm đi và đập dồn dập.

Starling nhỏm dậy định đi tìm hộ lý, nhưng tiếng của hắn đã chặn bước chân cô ngay trước khi cô chạm đến cửa ra vào.

"Tôi không sao, mọi sự đã ổn thỏa."

Có khi đi thẳng vào vấn đề lại hiệu quả hơn là cứ vòng vo mồi chài hắn. "Ông Verger này, trước khi bị tòa phán quyết phải đến tiếp nhận trị liệu chỗ Bác sĩ Lecter, ông đã từng giáp mặt ông ta bao giờ chưa? Giữa hai người có mối quan hệ giao hảo nào bên ngoài không?"

"Không có,"

"Nhưng hai người đều có tên trong Hội đồng quản trị của Dàn nhạc giao hưởng Baltimore đó thôi."

"Không đâu, tôi có suất ở đó thuần túy là vì chúng tôi có rót tiền vào. Mấy khoản bỏ phiếu biểu quyết tôi đều thảy cho luật sư đi giải quyết."

"Ông chưa bao giờ cung cấp văn bản lời khai nào trong phiên tòa xét xử Bác sĩ Lecter."

Cô bắt đầu biết cách lựa thời điểm đặt câu hỏi sao cho vừa vặn với nhịp tiếp khí của máy thở để hắn có hơi đáp lại.

"Phía công tố nói họ nắm chắc phần thắng để luận tội hắn tới sáu lần, hay thậm chí chín lần liên tiếp. Vậy mà cuối cùng hắn đều rũ sạch mọi tội trạng nhờ vào tấm bài miễn tử mang tên mất trí hành vi."

"Tòa tự tuyên hắn mất trí hành vi. Bản thân Bác sĩ Lecter chưa từng nhận mình điên."

"Cô Starling thấy cái ranh giới đó hệ trọng đến thế cơ à?" Mason hỏi.

Đối diện với câu hỏi ngược ấy, cô mới lần đầu chạm tới tư duy thực sự của hắn, một thứ trí tuệ có khả năng thao túng, luôn giấu kín nanh vuốt, hoàn toàn dị biệt so với thứ ngôn từ hắn dùng để trò chuyện với cô từ đầu đến giờ.

Con lươn lớn lúc này đã thích nghi với ánh đèn, nó rướn mình lên khỏi hốc đá trong bể nuôi và bắt đầu vòng bơi tuần hoàn không ngơi nghỉ, tựa như một dải lụa nâu uốn lượn được điểm xuyết những đốm màu kem bất định tuyệt đẹp.

Starling không phút nào lơ là khỏi nó, thứ sinh vật đang uốn lượn bên rìa tầm nhìn của cô.

"Nó thuộc loài Muraena Kidako," Mason cho biết. "Một con to hơn hiện đang được nuôi giữ ở Tokyo. Còn con này đứng hàng thứ hai."

"Dân gian hay gọi nó là Lươn Biển Tàn Độc, cô có muốn biết tại sao nó có cái tên đó không?"

"Không cần," Starling nói và lật qua một trang ghi chép. "Vậy nên, chính trong thời gian tiếp nhận trị liệu bắt buộc theo phán quyết của tòa án, ông Verger ạ, ông đã chủ động mời Bác sĩ Lecter tới tư dinh của mình."

"Giờ tôi chẳng còn biết nhục là gì nữa. Tôi sẵn sàng khai hết với cô. Mọi sự đã dàn xếp ổn thỏa rồi. Tôi được trắng án vụ mấy cái cáo buộc dâm ô ngụy tạo đó, đổi lại là năm trăm giờ lao động công ích, dọn dẹp ở trại nhốt chó hoang và đi khám tâm lý chỗ Bác sĩ Lecter. Lúc đó tôi tính đường lôi kéo lão bác sĩ dính chàm vào chuyện gì đó, như vậy lão buộc phải mắt nhắm mắt mở cho qua chuyện trị liệu, và không báo cáo tôi vi phạm lệnh tha tù có điều kiện nếu tôi có lỡ bùng vài buổi, hoặc giả như tôi có hơi phê thuốc khi đến gặp lão."

"Thời điểm đó ông đang ở căn biệt thự tại Owings Mills đúng không."

"Phải. Tôi đã khai sạch với Bác sĩ Lecter mọi thứ, từ chuyện ở châu Phi cho đến lão Idi và đủ thứ trò khác, rồi tôi bảo sẽ cho lão mở mang tầm mắt với mấy món đồ độc lạ của tôi."

"Ông cho lão ta xem...?"

"Dụng cụ hành nghề. Đồ chơi của tôi thôi. Ở góc phòng đằng kia kìa, đấy là cái máy chém bỏ túi tôi dùng thời còn làm việc với Idi Amin. Cứ thảy nó ra sau thùng xe jeep là đi khắp nơi, vào tận những bản làng xa xôi nhất. Dựng lên trong vòng mười lăm phút. Tội nhân sẽ mất chừng mười phút để tự quay tời căng lưỡi dao, đàn bà với con nít thì lâu hơn tí. Tôi không thấy nhục nhã vì mấy chuyện đó đâu, vì tôi đã được thanh tẩy rồi."

"Bác sĩ Lecter đã tới tư dinh của ông."

"Phải. Cô biết không, tôi ra mở cửa với một bộ đồ da bó sát. Tôi rình xem lão có biểu hiện gì không, nhưng lão tỉnh bơ. Lúc đó tôi cứ ngại lão sẽ khiếp vía trước tôi, nhưng xem chừng lão chẳng hề hấn gì. Sợ tôi à, giờ nghĩ lại nực cười thật. Tôi mời lão lên gác. Tôi cho lão xem cái này, tôi mới bắt mấy con chó ở trại hoang về nuôi, hai con này vốn là bạn thân thiết, tôi tống cả đôi vào chung một chuồng, nước nôi thì tiếp đầy đủ nhưng cắt hoàn toàn đồ ăn. Tôi tò mò muốn xem rốt cuộc bọn chúng sẽ xử nhau ra sao."

"Tôi khoe với lão cái dàn thòng lọng của tôi, cô biết trò ngạt tình dục tự nguyện rồi đấy, mình tự treo cổ mình lên nhưng có chừng mực thôi, phê lắm khi mình - cô có theo kịp không?"

"Tôi theo kịp," Starling nói.

"Ấy thế mà lão ta lại ra vẻ ngơ ngác. Lão hỏi tôi cái đó hoạt động ra sao, tôi mới khích là ông làm bác sĩ tâm lý kiểu gì mà cái này cũng không biết vậy, rồi lão đáp, tôi thề là cả đời này không quên được nụ cười của lão lúc đó, lão bảo 'Biểu diễn tôi xem nào.' Lúc ấy tôi đã nghĩ, phen này mày chết với ông!"

"Và thế là ông đã biểu diễn cho lão xem."

"Chuyện đó có gì mà phải xấu hổ. Thất bại là mẹ thành công thôi mà. Giờ tôi đã được thanh tẩy rồi."

"Mời ông nói tiếp, ông Verger."

"Thế nên tôi mới kéo cái thòng lọng xuống ngay trước tấm gương lớn, tròng vào cổ và nắm chặt cái lẫy xả cơ khí, một tay thì sục c*c, mắt thì dại ra canh chừng biểu cảm của lão, nhưng tuyệt nhiên không thấy gì. Thường thì tôi nhìn người chuẩn lắm. Lúc đó lão đang ngồi trên ghế bành nơi góc phòng. Chân vắt chữ ngũ, hai bàn tay đan chặt giữ lấy đầu gối. Rồi lão đứng lên, thò tay vào túi áo khoác, phong thái lịch thiệp vô cùng, hệt như James Mason đang lấy cái bật lửa, rồi lão hỏi là 'Ông có muốn làm một ống amyl popper không?' Tôi sướng rơn nghĩ thầm, Tuyệt vời! Lão đã chịu tuồn cho mình một lần thì từ nay về sau lão sẽ phải cung cấp đều đều nếu không muốn bị tước bằng. Coi như có kho thuốc kê đơn miễn phí nhé. Mà thôi, nếu cô đã xem hồ sơ vụ án, cô thừa biết thứ lão đưa cho tôi còn nặng đô hơn cái thứ amyl nitrite ấy nhiều."

"Bột ma túy Angel Dust, vài loại ma túy đá khác cùng với một ít thuốc ảo giác acid," Starling tiếp lời.

"Ý tôi là, lạy Chúa tôi! Lão tiến lại tấm gương lớn tôi vừa soi lúc nãy, đá một cú vào góc dưới rồi nhặt lên một mảnh kính vỡ. Tôi khi đó đang bay bổng trên chín tầng mây. Lão bước tới, dúi mảnh kính vào tay tôi, nhìn xoáy vào mắt tôi rồi thầm thì gợi ý rằng tôi sẽ khoái trá lắm nếu tự rạch nát và lột phăng da mặt mình ra. Lão mở cửa chuồng thả lũ chó ra. Và tôi đã lấy chính da thịt trên mặt mình đem cho chúng ăn. Nghe người ta kể lại là tôi đã mất cả buổi trời mới lột sạch được đống đó, chứ bản thân tôi chẳng còn ký ức gì. Rồi Bác sĩ Lecter dùng dàn thòng lọng bẻ gãy cổ tôi. Sau này người ta có lấy lại được cái mũi khi súc ruột mấy con chó ở trại động vật hoang, nhưng ca phẫu thuật cấy ghép da đã không thành công."

Starling nán lại thêm một chút, giả vờ thu dọn đống hồ sơ trên bàn lâu hơn bình thường.

"Ông Verger ạ, gia tộc ông đã chính thức treo thưởng ngay sau thời điểm Bác sĩ Lecter vượt ngục khi đang bị giam giữ tại Memphis."

"Phải, một triệu đô. Chính xác là một triệu. Chúng tôi cho chạy quảng cáo trên khắp toàn cầu."

"Và phía ông cũng đề xuất trả tiền cho mọi nguồn tin liên quan, thay vì chỉ bó hẹp trong việc bắt nã và luận tội như quy trình thông thường. Lẽ ra ông phải chia sẻ các nguồn tin đó với chúng tôi. Liệu từ trước tới giờ ông có làm đúng như vậy không?"

"Không hẳn, nhưng cũng tại chưa bao giờ có tin tức gì ra hồn để cung cấp."

"Sao ông lại chắc chắn thế? Chẳng nhẽ ông đã tự ý cho người xác minh vài nguồn tin rồi sao?"

"Chỉ vừa đủ để nhận ra chúng là tin rác. Mà chúng tôi tự làm thì có gì sai nào - mấy người bên FBI các cô có bao giờ hé răng nửa lời với chúng tôi đâu. Từng có một nguồn tin từ đảo Crete nhưng rốt cuộc chẳng có gì, và một manh mối từ Uruguay mà chúng tôi không thể kiểm chứng. Tôi muốn cô làm rõ một điều, cô Starling, đây không phải là trò trả thù cá nhân. Tôi đã tha thứ cho Bác sĩ Lecter, y như cách Đấng Cứu Thế tha tội cho đám lính La Mã vậy."

"Ông Verger, ông đã bắn tin cho văn phòng tôi là hiện tại ông đang nắm giữ một thứ gì đó."

"Mở cái ngăn kéo của bàn góc giường ra mà xem."

Starling rút đôi găng tay vải bông trắng từ trong túi xách ra và mang vào. Nằm trong ngăn kéo là một bao thư manila cỡ lớn, sờ vào thấy dày cứng và nặng tay. Cô kéo tấm phim X-quang ra rồi giơ thẳng lên hướng ánh đèn trần sáng lóa. Tấm phim chụp một bàn tay trái có dấu hiệu bị chấn thương. Cô bắt đầu đếm số ngón. Bốn ngón dài và một ngón cái.

"Nhìn vào phần xương mu bàn tay kìa, cô biết tôi đang ám chỉ điều gì rồi chứ?"

"Biết."

"Đếm phần khớp xương mu bàn tay xem."

Năm khớp xương. "Tính cả ngón cái, người này vốn có sáu ngón ở bàn tay trái. Y hệt Bác sĩ Lecter."

"Y hệt Bác sĩ Lecter."

Góc tấm phim, nơi lẽ ra phải hiển thị số hồ sơ và nơi thực hiện chụp X-quang, đã bị xén cụt.

"Nguồn gốc của nó từ đâu ra vậy, ông Verger?"

"Từ Rio de Janeiro. Muốn đào sâu hơn thì tôi phải xùy tiền ra. Một khoản khổng lồ đấy. Cô xác nhận hộ tôi xem đây có đúng là của Bác sĩ Lecter không? Tôi phải chắc chắn rồi mới biết có nên tung tiền ra mua tiếp hay không."

"Tôi sẽ thẩm định thử xem, ông Verger. Phía FBI sẽ cố gắng hết mức. Ông có còn giữ lại cái bọc bưu kiện dùng để gửi tấm phim X-quang này tới đây không?"

"Margot đã bỏ nó vào túi nhựa rồi, lát nữa nó sẽ đưa cho cô. Nếu không có gì nữa thì thưa cô Starling, tôi bắt đầu thấm mệt và cần người vào hỗ trợ y tế rồi."

"Phía văn phòng tôi sẽ phản hồi cho ông sau, ông Verger."

Starling vừa rời khỏi phòng chưa được mấy chốc, Mason Verger đã ngậm ống thổi một hồi còi ra lệnh ở phía cuối rồi cất tiếng, "Cordell đấy à?"

Tên nam y tá bước vào từ phía phòng chơi, hắn mở một kẹp tài liệu có đóng dấu SỞ PHÚC LỢI TRẺ EM THÀNH PHỐ BALTIMORE rồi đọc cho lão nghe.

"Thằng Franklin đấy à? Cho nó vào đi," Mason ra lệnh rồi tắt đèn giường.

Đứa bé độc nhất đứng bơ vơ dưới vầng hào quang rọi thẳng từ trần nhà xuống khu tiếp khách, nó nheo nheo mắt nhìn sâu vào khoảng tối đen ngòm, nơi chỉ có tiếng máy thở rít lên từng hồi gắt gỏng.

Giọng nói vang vọng cất lên, "Nhóc là Franklin đúng không?"

"Franklin ạ," cậu bé nói.

"Nhóc đang sống ở đâu, Franklin?"

"Với Mẹ, Shirley và Stringbean ạ."

"Stringbean có ở đấy suốt không?"

"Anh cứ đi đi về về thôi ạ."

"Nhóc vừa nói là "Anh cứ đi đi về về' đấy hả?"

"Vâng."

"'Mẹ' không phải mẹ đẻ của nhóc, đúng không hả Franklin?"

"Bà ấy là mẹ nuôi tạm thời của cháu."

"Bà ta không phải là người mẹ nuôi đầu tiên của nhóc, đúng chứ?"

"Dạ không."

"Nhóc có thích sống ở cái nhà đấy không, Franklin?"

Mặt đứa bé rạng rỡ hẳn. "Nhà cháu có con mèo tên Kitty Cat. Mẹ còn làm bánh patty-cake trong lò nướng nữa."

"Nhóc ở cái nhà đó, nhà Mẹ ấy, được bao lâu rồi?"

"Cháu không biết."

"Nhóc đã qua cái sinh nhật nào ở nhà đấy chưa?"

"Dạ có một lần. Chị Shirley pha nước Kool-Aid cho cháu."

"Nhóc có thích uống Kool-Aid không?"

"Vị dâu ạ."

"Nhóc có yêu Mẹ với Shirley không?"

"Cháu có yêu, vâng ạ, và yêu cả con mèo Kitty Cat nữa."

"Nhóc có muốn ở cái nhà đấy nữa không? Đêm đi ngủ có thấy sợ gì không?"

"Vâng ạ. Cháu ngủ cùng phòng với Shirley. Chị Shirley là con gái lớn rồi."

"Franklin, nhóc không được ở cái nhà đấy với Mẹ, Shirley với con mèo Kitty Cat nữa đâu. Nhóc phải đi khỏi đó."

"Ai nói thế ạ?"

"Chính quyền nói. Mẹ của nhóc mất việc rồi, người ta cũng hủy tư cách làm hộ gia đình nuôi của bà ta rồi. Cảnh sát vừa tìm thấy một điếu cần sa trong cái nhà đấy. Qua tuần này nhóc không được nhìn mặt Mẹ nữa, cũng không gặp Shirley hay con mèo Kitty Cat luôn."

"Không phải," Franklin nói.

"Hay là tại vì bọn họ không thèm nuôi nhóc nữa hả Franklin? Trên người nhóc có tật gì à? Có vết ghẻ lở hay cái gì tởm lợm không? Nhóc có nghĩ là vì cái da nhóc quá đen nên bọn họ mới không thương nổi nhóc không?"

Franklin vạch áo lên, nhìn chằm chằm vào cái bụng nhỏ màu nâu của mình. Đứa bé lắc đầu. Thằng nhỏ khóc rồi.

"Nhóc có biết con mèo Kitty Cat sẽ ra sao không? Tên con mèo đấy là gì?"

"Bà ấy gọi nó là Kitty Cat, tên nó là thế mà."

"Nhóc có biết con mèo Kitty Cat sẽ ra sao không? Cảnh sát sẽ tống con Kitty Cat vào trại chó mèo lạc, rồi lão bác sĩ ở đấy sẽ chích cho nó một mũi. Nhóc bị chích thuốc ở nhà trẻ bao giờ chưa? Y tá có chích cho nhóc không? Bằng cái mũi kim sáng loáng ấy? Bọn họ sẽ chích cho con Kitty Cat một mũi. Nhìn thấy cái kim là nó sẽ khiếp vía cho xem. Bọn họ sẽ cắm phập vào, con Kitty Cat sẽ đau đớn rồi chết ngoẻo."

Franklin vớ lấy vạt áo, kéo cao lên che bên cạnh mặt. Đứa bé mút ngón tay cái, một việc mà suốt một năm qua nó không hề làm kể từ khi nghe lời Mẹ dặn.

"Lại đây," giọng nói từ trong bóng tối nói. "Lại đây rồi ta bảo cho mà nghe làm thế nào để cứu con Kitty Cat không bị chích thuốc. Nhóc có muốn con Kitty Cat phải chịu mũi kim đấy không, Franklin? Không đúng không? Thế thì lại đây, Franklin."

Franklin vừa mút tay vừa bước từng bước chậm chạp vào bóng tối, hai mắt đẫm lệ. Khi đứa bé vừa tiến đến cách chiếc giường chừng sáu bộ, Mason thổi một hơi vào cây kèn harmonica và ánh đèn bật sáng.

Dù là vì lòng dũng cảm sẵn có, vì khát khao bảo vệ con mèo Kitty Cat, hay vì cái sự thật cay đắng rằng mình đã không còn chốn dung thân, Franklin không hề chùn bước. Đứa bé không chạy. Nó can trường đứng yên đó, nhìn thẳng vào mặt Mason.

Mason hẳn đã cau mày trước kết quả đáng thất vọng này, nếu gã thực sự có một đôi lông mày.

"Nhóc có thể cứu con Kitty Cat khỏi bị chích thuốc nếu nhóc tự tay cho nó ăn thuốc chuột," Mason nói. Âm bật hơi p hoàn toàn bị nuốt mất, nhưng Franklin vẫn hiểu được.

Franklin rút ngón tay ra khỏi miệng.

"Ông là cái đồ già độc ác thối như c*t," Franklin nói. "Mà ông còn xấu xí nữa."

Đứa bé quay ngoắt người, bước thẳng ra khỏi mật phòng, băng qua dãy hành lang ngổn ngang những cuộn vòi, quay về phòng vui chơi.

Mason giám sát nó qua camera.

Tên hộ lý liếc nhìn thằng bé, chăm chú theo dõi từng động thái của nó dưới danh nghĩa đang đọc cuốn Vogue của gã.

Franklin không còn bận tâm đến đống đồ chơi nữa. Đứa bé bước lại gần, ngồi sụp xuống dưới chân con hươu cao cổ, mặt hướng vào tường. Lúc này, việc giữ cho mình không mút tay đã là tất cả những gì nó có thể làm.

Cordell rình xem thằng bé có rơi nước mắt hay không. Thấy bờ vai đứa trẻ rung lên bần bật, gã hộ lý tiến lại gần, dùng gạc vô trùng nhẹ nhàng thấm đi nước mắt của nó. Rồi gã thả những miếng gạc đẫm nước ấy vào chiếc ly martini của Mason, vốn đang được ướp lạnh trong tủ lạnh phòng chơi, nằm kế bên mấy hộp nước cam và lon Coke.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com