Chào các bạn! Truyen4U chính thức đã quay trở lại rồi đây!^^. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền Truyen4U.Com này nhé! Mãi yêu... ♥

đỏ

"Thôn Đông ngồi nhớ thôn Đoài
Một người chín nhớ mười mong một người"

Người làng Hương chẳng biết tự bao giờ cứ hay truyền tai nhau câu vè ngắn cũn "Nhất Biên, nhì Đình", hay còn hiểu như thứ nhất là thầy Biên dạy chữ thôn Đông, thứ nhì là ông giáo gõ đầu trẻ ở thôn Đoài. Cách đây dăm ba năm, hai thầy từ phố huyện về, lần lượt mở lớp dạy cho sấp nhỏ học vỡ lòng. Ban đầu, người ta tò mò cái mác "ở trển mới về", dần đà, các bậc phụ huynh ai nấy đều mừng rơn khi nhẩm đọc tên con cho hai thầy điền vào sổ ghi danh.

Sinh ra và lớn lên ở mảnh đất nghèo cằn cỗi, Biên nhất quyết ra đi học Sư phạm trên huyện. Tại thời điểm tưởng như chẳng ai bước một bước ra khỏi cây đa đình làng ấy, chuyện này là trọng đại và lẫy lừng lắm. Ban đầu trưởng thôn Đông lo, rồi chẳng hiểu sao cả trưởng thôn Đoài cũng lo, và rồi là cả làng Hương lo. Nhưng rồi 4 năm sau, Biên quay về làng, dáng vẻ chẳng khác gì khi xưa, vẫn cao lớn và nghiêm nghị, có khác thì là béo tốt hơn một chút.

Sau lần ra đi huyền thoại ấy, Biên đã gieo vào tiềm thức của rất nhiều người dân trong làng, về việc ra đi, và trở về thật hiên ngang. Bây giờ mọi người đồng loạt gọi Biên là Thầy, dù Biên chối đây đẩy, chỉ muốn lẳng lặng làm một giáo viên bình thường, dạy mấy con chữ đầu đời cho sấp nhỏ, như cách thầy luôn say mê lúc bé. Vậy là thôn Đông có một ông giáo làng.

Ba mạ Đình không ngoại lệ, một năm sau lập tức đẩy con trai lên huyện, và cũng học Sư phạm, rồi bốn năm sau đón về một ông giáo chín chắn. Làng hương thắc mắc trên "trển" có gì, sao ai từ đó về đều khoác lên vẻ trầm mặc và vĩ đại đầy ung dung. Ngay cả thằng Đình quậy từ làng trên xuống làng dưới, từ thôn này đến thôn kia, giờ trông cũng đĩnh đạc hệt như thầy Thanh - ông giáo cũ của cái làng xập xệ, hay như thầy Biên - mới về năm ngoái. Và cũng như thế, Đình bắt đầu được gọi là thầy, dù sướng rơn nên ít khi thấy chối lắm. Ấy là thôn Đoài cũng có một ông giáo làng.

Cả làng đều vui mừng phấn khởi, phần vì người đi đã về, phần vì đã về rồi thì người ta lại nghe mỗi ngày tiếng đánh vần vang vọng len từ những bụi tre tới tận giếng cả, vốn đã tắt kha khá lâu kể từ ngày thầy Thanh bị buộc nghỉ hưu do cổ họng cứ mỗi tối lại phải uống trà bạc hà cái Duyên con gái pha cho. Làng thích thú, cả người lớn cả trẻ con, dường như cả làng đều tập đánh vần, ê a mỗi sớm đến khi gà trưa gáy vang rờn trong bụi rơm. Thế là, sự học đem lại niềm vui tưởng chừng đã mất của làng Hương.

Giờ Ngọ vừa điểm, thầy Đình đã đường hoàng khoác áo chỉn chu, gài nút gọn gàng từ cổ đến hai cổ tay. Thầy dặn dò tụi nhỏ tắm rửa cẩn thận, mặc đồ đẹp đẽ, rồi mới được đi sang thôn Đông. Từ sớm thầy đã nghe tiếng đoàn rước dâu huyên náo bên cầu hoa, thầy bảo tụi nhỏ không được nhiều chuyện đưa đầu ra dòm, vậy mà thầy không ngăn nổi mình cười tủm tỉm cho một thêm đôi uyên ương qua cầu.

Xong xuôi đâu đó, thầy rảo bước bên ba mạ theo đoàn rước dâu sang thôn bên ăn mừng. Miếng trầu cánh phượng, miếng cau cánh tiên nhấp nhô theo nhịp cầu, xác pháo tung bay nhuộm đỏ rực một mảnh đất, như màu mỡ phù sa cả làng luôn trông ngóng. Thầy Đình lơ đễnh hết nhìn lên trời rồi lại nhìn xuống đất, hai tay chỉnh tới chỉnh lui bộ cổ áo nom cho lịch thiệp.

Chẳng biết vì sao làng này nhiều thôn, mà từ trước sinh ra đến giờ, thầy luôn đi từ thôn Đoài sang thôn Đông, rồi lại từ thôn Đông về thôn Đoài, thoắt cái đã là lần ăn cỗ cưới thứ ba. Lần đầu là khi thầy còn nhỏ xíu, lon ton theo ba mạ ăn cưới chú Út với thím Hai, khi đó cầu chưa xây, muốn qua thôn Đông phải đi đò. Lần hai khi Thầy chuẩn bị lên phố học, lênh khênh đi ăn cưới cậu Ba với mợ Năm, lúc này cầu vừa xây xong, mới cóng, nhìn lạ lẫm khó gần. Lần thứ ba là ngay lúc này, Thầy thẳng lưng nép vào góc cầu, tà tà đi ăn cưới chị Duyên con thầy Thanh với ... anh của thầy Biên - anh Tài.

Nghĩ đến đấy tự nhiên thầy rời mắt khỏi mặt đất, nhìn lên đoàn dẫn lễ nhà trai khấp khởi trước mắt. Cô du chú rể sánh bước bên nhau, giữa trưa mà sao nhìn mờ ảo, thoáng chốc lại lộng lẫy như đôi mắt ai vừa rửa hết mơ màng của một giấc ngủ dài. Trong đôi mắt đã nhìn rõ nhân gian, thầy Đình thấy còn một điều lộng lẫy hơn nữa, dường như là dáng em trai anh Tài liêu xiêu, ráo hoảnh cầm lễ vật một mạch bước đi. Dù có dụi mắt bao nhiêu lần, cái lấp lánh đó vẫn còn, và dường như lại còn rõ ràng hơn nữa.

Thầy Biên cao lêu khêu, dưới nắng trưa trông như cánh phượng trên nhất cái tráp mà thầy Đình muốn một ngày được bê.

Mãi đến giờ Thân, các nghi lễ mới xong xuôi, người người rôm rả trò chuyện, nghe râm ran cả một góc nhà. Thầy Đình ru rú góc bàn tận trong cùng, bình thường Thầy ngồi cùng Thầy Biên, tâm sự tỉ tê về cái nghề sư phạm. Nhưng hôm nay Thầy Biên đang bận túi bụi lo cho cái ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời của anh trai mình, nên Thầy Đình thành ra lẻ loi đơn chiếc. Thầy dán mắt vào tấm lưng cặm cụi đang đứng sắp xếp bàn thờ gia tiên, thỉnh thoảng thầy gắp vài miếng chả bỏ vào miệng nhai nhồm nhoàm.

Bàn các lão lách cách mấy cốc rượu chạm vào nhau, ngoài sân lũ trẻ tíu tít chạy nhảy, rứa mà học hành thì uể oải gớm, thầy Đình thầm nghĩ, và ngẫm lại thì thấy hơi buồn. Làng Hương phần nhiều là người già và trẻ nhỏ, những người trẻ, một là lên thành phố, nhưng chớ thấy về, hai là về, nhưng là về làm lễ dạm hỏi, rồi lại rời thôn, rời làng đi biền biệt. Cô gái độ xuân thì cuối cùng là chị Duyên cũng vừa chính thức về nhà chồng, thầy Đình thấy chẳng có ai chơi cùng, đành tàn tàn ra ngoài vườn trước nhà, đứng chắp tay sau lưng bên rặng tre, thơ thẩn nghe kênh hát rì rào và gió lùa xào xạc.

"Thầy mần cái chi rứa?"

Thầy Đình giật mình rụt cổ quay người lại, lỡ chìm đắm trong sóng sánh làm người ta say, thầy mất hơi lâu để nhìn dáng người ngược nắng từ sau đến.
"Tui có mần cái chi mô nà!"

Dù chẳng làm gì thật, nhưng giọng điệu và thái độ của thầy Đình hệt như mấy nhóc tỳ giật thót khi bị kẻ vào tay lúc nổi hứng nghịch ngợm. Thầy Đình nhích qua một bên, nhường chỗ cho một kẻ vãng lai mới tới thăm thú con kênh. Thầy Biên cứ cười mãi, từ lúc theo ba mạ và anh trai sang thôn Đoài để anh Tài hỏi cưới chị Duyên, tới khi lúc lắc đứng cạnh thầy Đình bên rặng tre đưa tay vẫy vẫy tán lá đong đưa trên cái mấn đội đầu.

"Răng chẳng thấy thầy ăn chi?"
"Bựa ni nực quá, tui ra đây cho mát rồi vào ăn ngay"
"Rứa à!"

Rồi tự nhiên Thầy Biên cúi đầu, vuốt vuốt lọn tóc, giọng buồn buồn tủi tủi, nghe đến tội:

"Mấy ni không thấy Thầy sang chơi..."
"Ôi dào, Thầy Biên bận a ri, răng tui ghé nhiều như hồi nớ được"

Thầy Đình cũng chẳng chịu phần thua, rắn rứt trách khéo sự bận rộn của Thầy Biên. Từ ngày mở lớp, công việc của Thầy Biên tăng đáng kể, ban mê đã thấy thầy quét sân xoèn xoẹt, tới tận canh ba còn chong đèn gật gù đọc sách, chẳng còn rỗi hơi sang thôn Đoài ghé nhà Thầy Đình uống chè nữa. Thầy Đình ban đầu còn giả đò đến mượn sách về nghiên cứu, về sau có lần sang lúc chưa tan lớp, mấy đứa nhỏ ngơ ngác nhìn, có thằng cá biệt thì hỏi ngay "Thầy Thanh ngay bên nớ mà răng Thầy Đình hay sang bên ni mượn Thầy Biên hì?", thầy Đình mới tức giận dùng dằng bỏ về thôn một mạch, mặc cho thầy Biên cười tươi rói í ới gọi lại.

"Khi mô thì đến chúng mình hầy?"
"Đến cái chi Thầy"

Thầy Biên xoa mái đầu xuề xòa, hất mắt vào bên trong căn nhà phía sau, nói tỉnh rụi:

"Cưới chứ chi"
"Mồ, bây chừ Thầy đã lo chi cho xa"
"Lo chứ, làng mình còn mỗi tui với Thầy, hay là..."

Thầy Đình nghe đến đấy thì quặn hết cả ruột gan, chẳng nề chi ai dòm ngó, đánh bốp vào vai thầy Biên, và thậm chí là hơi, theo cách Thầy hay răn mấy đứa nhỏ, đe dọa:

"Thầy nói năng kì cục"

Thầy Biên được một tràng cười giòn tan, vô tình đánh rớt cả những xác pháo còn vương vãi xuống nền đất tràn lan tàn tích của cuộc vui đón dâu cách đây vừa vài tiếng thôi.

"Ý tui là sang làng tê xem coi có chi, mà Thầy cản dữ quá, tui phải ở lại đây hì?"
"Tui có cản Thầy mô"

Thầy Đình hạ giọng lí nhí, hắng lên vài tiếng cho có lệ, rồi lấy lại phong thái chỉn chu, nghiêm nghị, toan tìm cách chuồn lại vào nhà, thì Thầy thấy ai giật áo mình liên hồi:

"Mi đang mần cái chi rứa?"
Thầy Đình giắt hai tà áo sang bên, ngồi xổm cho đối diện thằng Nhân lí lắc, dò hỏi.

"Thầy Biên ghẹo Thầy tề!"
"Ừ, cảm ơn mi, tỉ nựa tau xử sau"

Đợi Nhân đi rồi, thầy Đình mới thấy xấu hổ, ai đời hai ông thầy đứng ghẹo nhau bên bụi tre lại bị nhóc con nghe được, nó mà nhiều chuyện rêu rao khắp làng thì Thầy chắc lại bỏ xứ mà đi. Nhưng thằng Nhân đâu có thính đến mức ấy, đang chơi u bị bắt sang sân đội kia, nó chờ mãi chẳng ai cứu được nên đâm ra chán hẳn, đứng lơ đễnh nhìn trời nhìn mây, ai ngờ nhìn trúng lúc thầy Biên đang len lén dán miếng dán chữ Hỷ đỏ thẫm từ trái cau trên mâm lên cổ áo thầy Đình. Thấy việc bất bình, nó lon ton chạy lại mách, hòng ghi điểm trong mắt Thầy, Thầy bảo thầy xử sau, mà mãi đến khi ai về nhà nấy, nó vẫn thấy Thầy để miếng dán y nguyên chỗ cũ, nó thầm nghĩ, thì ra người lớn cũng chóng quên.

Vừa qua giờ Dậu, khách tàn tàn về gần hết, ba mạ Thầy Đình cũng mon men lại chia tay gia chủ, còn thầy Đình thì đứng ngoài sân chia tay thầy Biên. Sau mấy hồi tâm tâm sự, hai thầy nhận ra sự tình cờ lạ lùng, ấy là cứ tầm bốn năm một lần, thôn Đoài và thôn Đông lại có một lần rước dâu qua cầu. Thấy điều kì diệu đó hay hay, nên lúc tạm biệt, thầy Đình có bảo

"Rứa thì hẹn Thầy bốn năm sau lại sang rước du"

Thầy Biên vẫy tay theo trả lời

"Răng mà lâu rứa, ra Giêng là đẹp hì"

Thầy Đình chỉ cười trừ lại, vì Thầy chẳng hiểu mô tê gì. Suốt cả đường về nhà, Thầy lẩm nhẩm đếm lại dân số trong làng. Cái Khuê thì bé quá, chắc phải hai ba năm sau, còn Tuyền thì hình như đã được ba mạ ngắm cho tấm chồng sẵn rồi, chị Duyên thì mới đây thôi, Thầy tự hỏi thiếu nữ tuổi xuân thì thôn Đoài của Thầy có ai phù hợp với cái đám cưới ra Giêng mà thầy Biên nói đâu nhỉ?

Cứ ôm cái bối rối đó về nhà, thầy bứt rứt không làm sao chịu được, miếng dán chữ Hỷ đỏ chói lung linh vẫn yên vị trên cổ áo, nhấp nhô theo từng nhịp bước đi, qua cây cầu gập ghềnh bắc ngang con kênh hát róc rách, qua bụi tre mon men từ tận thôn ấy đến thôn này, qua những mái ngói đỏ gạch san sát đang hứng khói từ bếp lửa nấu cơm của các bà các mẹ, qua những phiến đá khu chợ dẫn về thôn Đoài.

Hồi trống canh đầu tiên dồn dập, thầy Đình mới hí hoáy xong bên ngọn đèn dầu, đương cất đồ đạc đi, chợt thầy nhìn thấy cuốn thơ Nguyễn Bính nằm chỏng chơ trên bàn, cúi xuống nơi ngăn kéo bên hông, thầy mở ra, và thấy thêm một cuốn thơ Nguyễn Bính nữa yên vị bên trong. Thầy vừa để cho hai cuốn cùng gọn gàng nơi ngăn bàn, vừa lầm bầm với thằng nhóc cá biệt bên thôn Đông lần trước dám bắt bẻ khi thầy lấp ló ngoài cổng lớp thầy Biên: "Sách ni tau cũng có chư không riêng thầy Thanh hì"

Đến chán chê, thầy với tay vặn tắt đèn leo lên giường nằm ngủ. lại đếm lại dân số trong làng. "Ai mới được hầy?" Hình như việc dạy học từ sớm biến thầy thành ông cụ non, quên mất rằng bản thân cũng đang độ xuân thì mơn mởn. Số nam thanh nữ tú đếm đủ, lại trừ chính mình ra. Thôi thì đi ngủ trước đã, hôm nào sang mượn sách thầy Biên hỏi sau. Thầy Đình băn khoăn nghĩ tựa sách tiếp theo để mượn, Nguyễn Đình Chiểu nhỉ, thôi sách đấy buộc phải có, lộ liễu quá, hay là Tú Xương, hay là Hồ Xuân Hương, thầy phải đọc thơ Nguyễn Bính nhuần nhuyễn mấy tuần trời rồi. Nhất là khi có bài "Tương tư" trong đấy.

Quá thụ chi hầu, xướng ngọ chi kê, con kênh dềnh dàng thích hát ca mấy bận, dòng suối róc rách qua lũy tre làng.

Giờ Mão hôm sau, thầy Đình lại bước qua cầu đến thôn Đoài, tay cầm cuốn sách, mắt dáo dác trông xem có thằng nhóc nào nom cá biệt không, bận suy nghĩ mãi lỡ đi lố qua cửa lớp mất, thế là thầy phải ngoái đầu lại, lấp ló bên tường chờ thầy Biên đi tới.

"Tui trả Thầy cuốn ni, cho tui mượn cuốn... à cuốn...cuốn chi ấy hì"
Rõ ràng đã liệt kê hết những cái tên hoành tráng trong đầu, song thầy Đình vẫn bối rối quá thể, thấy thế, thầy Biên lao vào cứu nguy.

"Rứa thì lấy cuốn Độ Biên nì"
Trong cơn hoảng loạn, thầy Đình gật đầu lia lịa, mãi đến khi nhận ra Độ Biên là ông giáo làng trước mặt, thầy Biên đã lôi ra cuốn sổ trong lòng, dúi vào tay thầy Đình. Rồi với điệu cười ngặt nghẽo, thầy Biên bảo:

"Thơ tui bắt chước Nguyễn Bính nhiều lắm hì, Thầy thông cảm cho"

Thầy Đình lật qua mấy trang đầu, công nhận rằng giống thật, rồi vẫy tay chào trả thầy Biên lại cho lớp, trên đường về thầy ngó tới ngó lui, còn tưởng mình cầm nhầm cuốn Nguyễn Bính cũ, vì bên trong toàn là thôn Đoài thôn Đông, bên nớ bên nì. Chẳng biết thế lực nào xui khiến, chắc là gió đầu ngày và tiếng gà trong veo, chắc là thế, đã giúp thầy Đình nhận ra rằng

"Té ra mình cũng đang tuổi xuân thì"

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com