I Is Another - 4
Hành lang, những ô đen trắng, những bức tượng thạch cao nửa đầu hoặc không đầu.
“Đây, của cậu đây.”
Là ‘Miếng Rác’.
“Đầu tiên. Và trước hết. Hãy thay đổi tư tưởng của cậu về hiện vật xung quanh đi. Không phải cái gì cũng đáng để bắt chước.”
Tại sao?
“Không phải là ‘Tại sao’, mà là ‘Cái gì’. Điều gì đã khiến cậu nghĩ và hành động như vậy.”
Được rồi. Nhưng Musset gọi thế.
“Cậu là Rimbaud.”
Tôi biết.
“Đó là một cô bé.”
Ồ.
“Gọi là Sisyphus.”
Tên nghe hay nhỉ? Gốc Hy Lạp à?
“Ngay từ đầu mọi người đã gọi thế rồi. Ta cũng nên thế. Cô bé ấy cũng không nói gì.”
Được.
Hành lang. Dài. Đen trắng đan xen. Lại là hành lang. Ngổn ngang những ưu tư mang màu thạch cao. Nhưng họ làm gì có não.
Tiếng kẽo kẹt.
Nến. Nhiều nơi vương vãi. Sáp cháy sạm. Óng ánh vàng vọt khắp phòng. Không có sách. Đến cả giá hay bút cũng không. Nơi ánh trăng le lói qua là một ô cửa sổ, hơi gỉ. Có một cái ghế gỗ, lót da, xem chừng khá êm ái.
Còn gì nữa không?
Không. Hết rồi.
Chán ngắt.
Có lẽ tôi nên đem gì đó cho cô?
Cô thích gì? Hả? Hả?
Một hòn đá.
Được, lần tới tôi sẽ đem một hòn đá nhỏ. Đá cuội nhé. Và tôi sẽ gắn hai con mắt lên ấy. Nó sẽ tự đi được, chẳng cần phiền hà tới cô.
Cô thấy sao?
Không tiếng động.
Thế là họ bắt đầu. Nghe bảo là Mallarmé chê- À không, nghe bảo Sisyphus khó dạy nên lần này tới tay người cũng từng khó bảo không kém.
Nhưng đánh giá công tâm thì đó là lần duy nhất Thư Viện bị đốt.
Và họ lại bắt đầu.
Anh nghiêm khắc lắm. Suốt ngày ngồi nghĩ ngợi cả đống kế hoạch rồi sửa. Viết rồi sửa. Sửa rồi lại viết. Chả biết ở đâu mà lắm thế. Cả ngày lẫn đêm.
Đúng là anh có tặng cho cô bé một hòn đá. Đá cuội hẳn hoi! Nhưng anh đã không gắn mắt lên. Sisyphus phải tự ‘gắn’ lên nó vậy. Hì hục cả đêm lẫn ngày. Chốc chốc lại thở hắt ra. Mồ hôi tí tách nhễ nhại. Kế hoạch lại dày thêm. Ngày và đêm. Đá cuội ngày càng lớn hơn. Nhanh thật đấy! Không phút ngơi nghỉ. Bước chân nay đã thêm xích. Chặt, chặt hơn nữa. Lại thêm một đêm trắng.
“Thế nào rồi?”
Thế nào gì cơ?
“Cộng sự của cậu?”
Sắp! Tôi nghĩ. Cô ấy khá. Chẳng kêu ca gì. Gan lì phết.
“Đó cũng là một dấu hiệu đấy.”
‘Dấu hiệu’ gì?
“Việc ‘Chẳng kêu ca’ gì.”
Là sao vậy?
“‘Chẳng kêu ca’ cũng có nghĩa là không còn sức để kêu ca đấy.”
Không có chuyện đó đâu.
Không một tiếng động.
Vệt mực đỏ lè đè nặng nề lên trang giấy.
Sisyphus đã thấy đỉnh chưa?
Hòn đá vẫn lớn dần.
…
Nếu so về độ ấm thì có lẽ là buổi chiều. Chính xác là hoàng hôn.
Cơ thể tôi nặng nề. Vay mượn từng mili trên sàn.
Sàn?
Bằng phẳng.
Sàn nhà bằng phẳng.
Mắt trĩu xuống. Tôi khẽ hé mở. Đầu đinh như chì.
Sàn nhà. Đúng là bằng phẳng thật. Trơn, láng cóng. Đen trắng. Tôi bất giác rùng mình. Nhưng sạch sẽ. Mùi nước lau còn vươn. Màu nắng hôn nhẹ nhàng lên từng nơi nó chạm vào. Ly, ghế, bàn, khăn, một cái quầy, nhiều cái ghế, thêm vài cái bàn, những chiếc gương xỉn màu, ô cửa sổ dài đổ bóng, quốc kì nhỏ treo lủng lẳng.
Một Bistro.
Sao mình lại ở đây?
Theo lẽ thường thì tôi đã hỏi vậy rồi. Nhưng tôi biết. Biết câu trả lời. Nhưng chẳng ai cấm đôi môi này bật ra thứ nghi vấn ấy.
Thế nên tâm trí tôi đã thốt lên điều đó.
Sao mình lại ở đây?
“Ô, chao, Paul phải không? Chào cháu.”
Có tiếng đáp lại kìa. Nhanh! Nhổm dậy tí đi. Xem ai nói nào. Cũng hơi bất ngờ đấy. Cảm giác như đã lâu rồi.
Lâu lắm rồi…
Tôi ngước lên. Cơ thể vẫn là ù lì. Toàn thân chi chít vết thương, vệt cháy xém, tóc còn hơi mang chút thủy tinh, tay chân nóng bỏng, miệng như có con ếch chui vào. Nghẹn thật.
Madame Catherine.
Madame Catherine?
Madame Catherine!
Mắt tôi mở to. Không, thật đấy. Tôi hơi nhổm dậy nhưng lại nhanh chóng bị một bàn tay ấn xuống.
Madame Catherine.
“Sao cháu tơi tả thế này? Chờ chút nhé. Đừng cử động kẻo đau thêm.”
Vài phút vắng lặng.
Hoàng hôn thật. Vẫn có tiếng kim đồng hồ tích tắc, treo trên tường. Nhưng hoàng hôn là thật. Nắng ngả màu máu như da anh. Hơi hơi một chút. Cơ mà ấm quá. Ấm thật. Cơ thể tựa vào quầy Bar mỏi mệt trìu xuống.
Tôi chỉ mong lần này được ‘thật’ một chút.
Dăm tiếng kim nữa, Madame Catherine quay lại. Lần này tôi hơi lim dim chút đỉnh. Người đàn bà tóc trắng mang bông băng, khăn, nước ấm, một bộ áo mới (có thể là không phải mới nhưng đối với tôi thì nó là thế), thêm chút lời ủi an. Đúng. Ta cần một chút thương xót cho tâm hồn.
Madame bắt đầu băng. Bà phải gỡ trước đã. Lầm bầm lầm bầm, đầu cúi. Phi công yên giấc. Một lát thôi. Bà chấm khăn, lau lau. Thuốc. Phải khử trùng mà. Ừ thì khử đi. Lần này tôi hứa sẽ không khạc ra đâu. Rồi đấy. Bà lại băng. Băng mãi không dừng, chấm mãi không hết, rì rầm mãi. Đến bao giờ. Chẳng biết đến bao giờ. Hỏi cây kim ấy chứ đừng đánh thức tôi. Làn da, hơi ấm, chạm và chạm, ôi, thật này. Băng băng băng. Băng qua cánh đồng lúa mạch vừa được tưới tiêu. Lúa chín quá. Thơm quá. Anh mỉm cười vui lòng.
Xong việc, nhà Vua đã có bộ quần áo mới, thơm mùi hương xả. Mùi này tôi biết. Nhưng giờ tôi không thể nói thành lời. Ánh mắt xanh trong vẫn nhắm nghiền, say sưa vuốt ve cùng bóng nắng tàn thưa thớt. Tiếng sột soạt qua lại khẽ vang lên, vài khắc vắng lặng rồi lại vang lên. Tôi lại cảm thấy rất dễ chịu. Chúng như lời ru nhẹ nhàng không rõ lời vậy. Madame đã xoa xoa mái đầu tôi, tôi dám cá vậy. Ừ thì đúng là bà mà.
Một lát sau, tôi tỉnh dậy. Madame đã lót thêm một cái gối và chiếc chăn mỏng đắp hờ lên người tôi. Chăn rớt xuống nền đất khi tôi nhổm dậy, nhìn xung quanh với đôi mắt người ngáy ngủ. Trời tối om om. Nắng tắt. Nắng tắt thật rồi.
“Paul dậy rồi đấy à? Còn đau không cháu?”
Madame Catherine ngồi sau quầy bar, tay lau lau từng cái ly. Madame có một cái cổ dài, dài nên mới có thể ngước ra mà nom tình trạng của quý ngài đây. Mắt bà ánh lên rõ tia lo lắng.
Tôi ngước nhìn đáp trả câu hỏi của bà, cặp kính dày cộp vẫn thế. Tôi nhấc hai tay lên, trắng. Chân, trắng nốt. Sờ sờ lên mặt, đôi chỗ cũng có băng, băng gạc có cả. Xem ra không nhẹ, mà ơn là cũng chẳng đủ nặng.
“Đã có chuyện gì thế?”
Madame Catherine rời quầy, tiến lại chỗ tôi, tay cầm một cái tách- Trà. Bà đưa cho tôi. Tôi nhận và nhớp nháp từng ngụm. Thơm lừng.
Đã có chuyện gì à? Nhiều lắm. Toàn thứ ngớ ngẩn, nhưng cũng đáng để mua vui. Madame muốn nghe từ đâu?
“Thứ gì khiến cháu ra nông nỗi này thế?”
Mấy thứ quái thai ấy mà. Quái thai nhưng cơn đau là thật.
“Cháu đánh lộn à? Hay ai đánh cháu?”
Xác trà đắng nghét len lỏi vào vành miệng, tôi không để ý nước đã cạn từ lúc nào. Và, ồ, không, Madame ạ, chẳng ai đánh tôi hết. Nếu tôi nói tôi và trí óc vật nhau đến khi lết được đến nơi này thì liệu người có tin không?
Madame thì có lẽ sẽ sái cổ mà tin nhỉ?
“Cháu mệt thật nhỉ? Không sao, không cần trả lời cũng được. Đôi khi sự im lặng là câu trả lời chân thật nhất rồi.”
Bà sờ trán tôi. Tôi hoàn toàn bình thường. Nhưng theo bà thì có vẻ hơi sốt. Không sao.
“Paul muốn nghỉ tiếp không? Hay cháu đói chưa? Ăn chút gì đó nhé?”
Bà đứng dậy ra sau quầy, cười giả lả. Tiếng lách cách vang vọng. Lần này tôi thấy hơi nhộn ở bụng. Nhộn, rất nhộn. Tôi bật dậy, tay che miệng, ho sù sụ.
“Ối! Sao vậy?”
Madame giật mình, chạy lại đỡ lấy tôi. Tiếng ho vẫn không ngớt, mỗi lúc một tăng dần. Khó chịu, nhộn nhạo, chóng mặt, tai ù cả lên, cảnh vật xoay vờn như vòng ngựa gỗ.
Đã bảo rồi mà. Toàn thứ ngớ ngẩn.
Bà đỡ tôi đến nhà vệ sinh của quán. Tay đập đập khẽ khàng mỗi khi lưng tôi run lên, cố gắng trút xuống từng thứ gì- Bất cứ thứ gì chứa trong dạ dày, tim gan, hay phèo phổi, ôi, bất cứ thứ gì. Cút ra hết đi. Thứ nhầy nhụa màu máu từng đợt xả xuống. Tôi không thắc mắc đó là gì đâu.
Khoảng chừng hai mươi phút, tôi nôn khan, thở hổn hển, người mềm như bún. Madame lại mớm từng ngụm trà nóng, miệng thổi thổi, an ủi cho đứa nhóc.
Tôi và bà ngồi ở một bàn, lưng tôi dựa vào da ghế phía sau, mắt nhắm mắt mở nhìn theo vì sao lấp lánh ngoài cửa sổ.
“Cháu thấy đỡ hơn chưa? Giống mới uống rượu ghê.”
Ừ, giống thật. Sau lần ực gần nửa chai Absinthe thì đúng là tôi xém vô bệnh viện thật. Thế là Arthur đành mang tất cả chai lo cồn cạ trong nhà đi hết.
Tôi biết thừa anh cất ở đâu.
Mà thôi.
Ngửa đầu ra sau ghế, tôi thở hắt một hơi. Đầu vẫn ong ong nhưng sao lòng thấy nhẹ tênh.
“Cháu đói không? Ăn chút gì nhé?”
Tôi gật đầu.
“Paul ăn gì nào? Đầu bếp về hết rồi nên ta cũng chẳng nấu được gì nhiều. Xem nào…”
Tôi đưa tay, chỉ cái tên cuối cùng trên thực đơn bảng trắng ở quầy.
“À, được, cái đó thì đây nấu được. Chờ chút nhé. Muốn khửa tiếp thì nhà vệ sinh đằng kia.”
Bà biến mất sau cánh cửa gỗ, cọt kẹt cọt kẹt. Tôi nhắm mắt, cằm đặt lên hai tay chống trên mặt bàn. Giờ mà có một hòn đá hay thiên thạch rơi xuống rồi một gia đình từ trong mở cửa vô quán gọi đồ thì tôi cũng tin.
“Đây, của cháu.”
Madame Catherine quay lại. Tay đặt xuống một cái tô. Súp hành tây. Nóng hổi, thơm ngát, nâu sậm, không có phô mai. Không sao.
“Paul tự ăn được không đấy?”
Bà đưa muỗng cho tôi. Tôi gật đầu hai lần ra chiều cảm ơn.
Bà ngồi đó, nhìn trời đoán chòm hoàng đạo. Tôi ngồi đây, sì sụp, chiếc muỗng bạc đưa lên rồi lại đặt xuống. Chưa bao giờ tôi nhận ra súp hành tây có thể mang một hương vị khác đến vậy.
Đây vốn là một món bình dân cứu đói của nông dân khi xưa, dần dà biến đổi thành thức hằng ngày hiện tại. Ừ thì ngon thật. Giờ nó đang thực sự cứu đói đây.
Uống thêm một tách trà, tôi đặt tô xuống.
Madame mỉm cười nhìn tôi.
“Mệt mà ăn vẫn khỏe ghê!”
Bà dọn dẹp rồi trở lại. Hai người ngồi đối diện nhau.
Im lặng.
Chúng tôi cứ ngồi đó, ngơ ngác tận hưởng quang cảnh bên ngoài. Đường phố xám xịt, không người qua lại, rèm che cửa đóng kín đáo, đèn đường le lói cam sẫm. Bà lại đếm sao, và tôi ngồi nghe, hiu hiu tựa cằm.
“Arthur dạo này sao rồi?”
Vẫn khỏe. Chắc vậy. Tôi không biết nữa.
“Hy vọng nó vẫn ổn. Cháu nhắc nó đừng thức khuya hay uống rượu nhiều quá nhé.”
Ừ, tôi sẽ nhắc.
“Ở nhà hai anh em hòa thuận chứ? Không phải bây xô xát đúng không?”
Không. Không phải. Lũ gì gì ấy. Nhưng không phải anh. Tôi gật lên gật xuống, mắt xa dần tâm trí.
“Paul này.”
“Paul.”
Tôi chầm chậm mở mắt. Madame vẫn ngồi đó.
Có chuyện gì sao?
“Ừm, xem ra cốt cách cháu thay đổi nhiều rồi. Cơ mà vẫn quên lau miệng kìa.”
Bà di tay đến chỗ mép miệng, ra ý tôi ở đó. Tôi bật người ra nhẹ, tìm kiếm chiếc khăn lau, trên bàn? Không có. Cửa sổ? Không có. Hỏi Madame đi. Lát vậy.
Madame à, để một lát nữa nhé. Chỉ có hai ta thôi nên việc dính chút đồ cũng đâu hại gì.
Madame Catherine gật đầu. Thôi được. Tí nhớ lau đấy.
Chúng tôi không cần một cuộc trò chuyện kiểu hàn huyên, đối với tôi sự im lặng lúc này có thể kể ra hàng trăm câu truyện.
Bây giờ làm sao? Đúng. Chính là câu hỏi đó. Bây giờ làm sao đây?
Thoát khỏi đây à. Ừ. Đây chẳng phải thế giới thật, việc ở lại hay bị ở lại chỉ còn là vấn đề thời gian. Trời sẽ sáng khi nào?
Madame ngồi đó, tay ôm một cái tách, khói nghi ngút, bà không uống, bà chỉ thổi nhè nhẹ theo nhịp. Bà thổi cho Paul đấy.
Tôi lim dim. Tôi mơ màng. Được săn sóc và no bụng thật là một niềm vui. Và khi vui đủ thì ta sẽ tìm đến những cái khoái lạc khác, ngủ chẳng hạn. Tôi chống hai tay lên sau ghế, lưng tựa vào lớp da lạnh, lạnh nhưng êm. Mọi tiếng động hóa lời ru nồng nàn, chúng lấy xẻng và bắt đầu đào hố, chôn vùi giấc ngủ ngày càng sâu.
“Tối nay cháu ở lại đây nhé?”
Tôi không đáp, mắt vẫn nhắm.
“Trông cháu mệt thế mà. Mai ta sẽ báo cho nhóc kia sau. Có lẽ nó cũng biết cháu ở đây rồi.”
Trà vẫn nguyên, khói vẫn bốc và bà vẫn phù phù.
Làm gì có ngày mai hở, Catherine?
Bàn tay phả hơi ấm khắp mái đầu bù xù, như chiếc bàn ủi, chỗ này rồi chỗ nọ, không ngơi tay. Chà, có lẽ tôi sắp biến thành anh phi công mất thôi.
Tôi nắm lấy bàn tay bà, không, là chụp. Bà khựng lại.
“Sao thế?”
Bầu trời rộng mở, tôi không nhìn bà, tay vẫn nắm chặt cổ tay nhăn nheo. Tôi liếc vào những mảnh gương úa màu. Madame Catherine không có bóng. Biết ngay mà. Nhưng đó là điều bình thường nên tôi sẽ chẳng bận tâm.
Trong từng chiếc gương không phản chiếu bóng ai cả. Tôi, bà, bộ bàn ghế, ly tách nĩa sứ, sàn nhà, quầy hàng, Bistro- Không một thứ gì. Thay vào đó, trong gương là dãy hành lang đen mịt mù, không thấy cuối, trải dài, và dài, sàn nhà cũng chẳng rõ, duy chỉ bóng tối là lòe loẹt.
Tôi nhổm dậy, cong cong cái lưng ra sau. Ngón tay chi chít băng gạc nhả tay Madame.
“Cảm ơn bà. Vì mọi thứ.”
Tôi nhìn xuống gót chân, một cái khăn lau nằm cạnh bên, tôi nhặt lên và quệt sạch miệng, gấp lại, đặt ngay ngắn trên bàn.
“Tôi về đây. Chúc bà phước lành và một buổi tối.”
Madame Catherine không đáp. Bà đứng đó. Tay thả lỏng lên chiếc váy hoa.
Tiếng giày cộp cộp vang vọng, rung rinh những dãy hành lang. Leng keng cửa mở.
Không khí bên ngoài mát mẻ nhưng ngộp phổi. Tôi không quay đầu, cứ thế đi thẳng, thẳng vào màn đêm nơi đèn đường soi rọi.
Một hòn đá to tướng, mang theo sức nặng của quá khứ và thời gian đã giáng xuống, đè nát cả Bistro, không tiếng động.
Nếu tôi có quay đầu thì đáng lẽ tôi sẽ biết Bistro có tên là Sartre rồi.
Nhưng tôi đã không làm thế. Và tôi bước đi.
Vì tôi chỉ là một Paul Verlaine thôi.
…
“Thế nào rồi?”
Có lẽ là không bao giờ nữa.
Cô bé ấy đi rồi. Sisyphus bị đè, bởi chính hòn đá ấy. Đá cuội mà lại ghê gớm đến thế sao?
Nguyên nhân?
“Cậu biết không, khi con người hay bất cứ loài vật nào phải chịu áp lực khủng khiếp trong một thời gian dài thì dần dà tâm trí họ sẽ yếu đi. Và cách dễ dàng nhất để đánh gục họ không phải sức mạnh thần thánh nào cả- Họ vốn quen với điều đó rồi, mà chính là một sự dễ chịu, đúng! Một sự dễ chịu êm ái, nó khiến họ cảm thấy như được giải thoát, và họ sẽ vươn tay ra, chấp nhận nó. Thế là xong. Chấm hết.”
“Cậu hiểu mà, phải không?”
“Arthur.”
Sisyphus chấp nhận sự giải thoát rồi. Hòn đá đã đề nghị điều đó.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com