Chào các bạn! Truyen4U chính thức đã quay trở lại rồi đây!^^. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền Truyen4U.Com này nhé! Mãi yêu... ♥

Khong De

Mười bảy tuổi, ngày xưa, còn bé lắm. Và càng bé lắm đối với cậu học trò tỉnh lỵ lên Hà Nội trọ học như tôi. Tôi nhớ khi chiếc xe Con Voi của ông Lê Văn Ðịnh rồ máy, mẹ tôi vẫn dúi thêm vào tay tôi ve dầu Nhị Thiên Ðường tuy ở túi tôi đã có một ve và trong va li của tôi, riêng một góc, xếp đầy các thứ thuốc đau bụng, cảm sốt, ho gió, dầu Nhị Thiên Ðường. Chỉ thiếu vài núm vú. Sự săn sóc tỉ mỉ của mẹ tôi đủ nói rằng tôi còn bé lắm. Mẹ tôi bắt tôi mặc hai chiếc áo sơ mi giữa mùa hè, sợ đi đường trúng gió. Lại gói thêm cơm nắm giò rim, dặn dò không được ăn bánh dọc đường, sợ mắc dịch tả. Qua phà Tân Ðệ không được nhìn xuống sông, sợ say sóng. Cậu học trò tỉnh lỵ, dưới mắt mẹ tôi, thế đấy. Tôi ngoan ngoãn nghe lời mẹ dạy. Vì tôi còn bé thật, bé lắm. Chưa đủ, mẹ tôi nhờ mấy người bạn thân của tôi "che chở" tôi, "bênh vực" tôi trên đường dài những trăm cây số ngàn cùng chuyến đi trọ học. Giá xe không chuyển bánh, mẹ tôi sẽ không hết lời dặn dò.

Tôi lên Hà Nội, bỡ ngỡ như chim non vừa rời tổ. Tôi ở trọ trên căn gác của một ông chủ thầu số 13 đường Ngô Thời Nhiệm. Căn gác chia đôi. Một bên bọn Nam Ðịnh, một bên bọn Thái Bình. Hai bọn học trò này không ưa nhau. Chả là, mỗi năm, học trò Thái Bình đều phải sang Nam Ðịnh thi Trung học phổ thông. Và mỗi năm, học trò Nam Ðịnh đều "cậy gần nhà", bắt nạt học trò Thái Bình. Bọn Nam Ðịnh có thằng đã vẩy mực đầy lưng áo tôi kỳ thi vừa qua, hôm thi Lý Hóa. Tên nó là Luyện. Nó ngồi dưới bàn tôi. Nó không thuộc bài, đòi tôi nhích người để nó "quay". Tôi sợ giám khảo, không làm vừa lòng nó. Thế là nó nổi giận, vẩy mực đầy lưng áo tôi. Tôi không quên nó, nhưng nó quên tôi. Tôi lượng sức không địch nổi nó, đành lờ đi. Bọn Nam Ðịnh, ngoài thằng Luyện, còn thằng Hội nổi tiếng cao bồi, thằng Dương thọt chân mà bọn Thái bình đặt tên cho nó là Nhà Sư Thọt hay người Máy Móc hay "L'hommepoint-virgule". Bọn Thái Bình đông hơn bọn Nam Ðịnh hai đứa. Lại có Thịnh học trên tôi hai lớp, đậu tú tài một rồi và từng ở Hà Nội hai năm. Từng ở Hà Nội hai năm là vì cổ tích vĩ đại. Riêng lời khuyên đi đường thì Thịnh đã khiến tôi phục lăn. Nó bảo chúng tôi: "Chúng mày chỉ cần thuộc đường từ nhà ra hồ Gươm và từ hồ Gươm về nhà les chemins mènent à... hồ Gươm. Ði hỏi thăm ra hồ Gươm là mò đường về nhà dễ dàng." Ðêm đầu tiên ở nhà trọ, Thịnh phóng xe đạp đến phố Duy Tân, xách cái túi giấy dầu đựng cả chục cây kem đậu xanh Cẩm Bình về cho chúng tôi. Nó nói chuyện kem Cẩm Bình. Chúng tôi tròn xoe mắt, há hốc miệng nhìn nó. Hà Nội có khác. Ði mua kem cây về nhà ăn chứ chẳng cần chờ người bán kem rao ơi ới trước cửa nhà mình như ở Thái Bình. Kem Cẩm Bình, Thịnh trộ, đựng túi chạy hàng giờ không chảy nước!

Thịnh nghiễm nhiên là "chúa" chúng tôi. Chính nó bảo đảm với bộ mẹ tôi sẽ tìm nhà trọ tử tế cho tôi. Nó dạy khôn chúng tôi. "Lúc ngồi ăn cơm, đừng nói chuyện. Cắm cổ ăn, ăn thật nhanh kẻo hết thức ăn." Nó thù bọn Nam Ðịnh và chuyên tìm cách trêu chọc bọn Nam Ðịnh để bọn Nam Ðịnh phát chán, rời nhà trọ. Nhà Sư Thọt mang theo một lọ ruốc to tướng. Hễ hết thức ăn, nó mở va li, lôi ra ăn một mình, rất bần tiện. Thịnh nghĩ được câu chuyện vui, nó kể sau bữa ăn. Chuyện một anh thọt chân vào hiệu sách mua tiểu thuyết trinh thám của Phạm Cao Củng. Cô hàng sách bị chột mắt. Anh thọt chân: "Thưa cô, cô làm ơn bán cho tôi cuốn Người Một Mắt." Cô hàng sách: "Thưa ông, Người Một Mắt hết rồi, chỉ còn Nhà Sư Thọt cũng trinh thám tiểu thuyết của Phạm Cao Củng." Kể xong nó hỏi thằng Dương: "Hay không, Nam Ðịnh?" Dương thọt chân cáu lắm. Thịnh trêu nó tàn nhẫn hơn nhưng chỉ làm là ruốc của nó vặn chặt nút. Bọn Nam Ðịnh "ít quân", không dám sinh sự. Thỉnh thoảng Thịnh lại rủ Marcel Hiển đến chơi, Marcel Hiển vốn dân Thái Bình. Nó bỏ nhà đi làm con nuôi gã quan ba Tây. Nó theo bố nuôi lên Hà Nội, suốt ngày tập tạ nên nó to con. Marcel Hiển cởi phăng áo, biểu diễn vận bắp thịt là bọn Nam Ðịnh đủ khiếp rồi. Và nhà sư Thọt không dám lôi lọ ruốc ăn lẻ mỗi bữa ăn nữa. Nhưng Thịnh vẫn chưa chịu tha bọn Nam Ðịnh. Nó là thổ công ở nhà trọ này. Thịnh liên kết với thằng nhỏ bưng cơm lên gác. Nó dặc thằng nhỏ bớt thức ăn lại. Chúng tôi cắm cúi ăn. Hết thức ăn, bọn Thái Bình buông đũa. Thịnh gõ mâm báo hiệu. Thằng nhỏ mang thêm muối vừng. Bọn Nam Ðịnh chê muối vừng, rời mâm cơm. Thịnh lại gõ mâm. Lần này thằng nhỏ bê thức ăn đã bớt lên. Bọn Thái Bình tiếp tục ăn và tán láo. Ðại khái về "vật chất," Thịnh đã át giọng bọn Nam Ðịnh nhà quê như vậy. Về "tinh thần" thì dữ dội hơn. Phòng của chúng tôi có cửa sổ. Cửa sổ hướng sang sân sau nhà một ông công chức. Chuyện tình của chúng tôi bắt đầu từ cái cửa sổ này. Tôi sẽ kể sau để nói nốt sự hục hặc giữa những cậu học trò tỉnh lỵ.

Buổi tối, ăn cơm xong rất nóng nực, Thịnh kéo giường sắt chắn lối không cho bọn Nam Ðịnh ra cửa sổ hóng mát. Và hôm Thịnh khám phá ra hai nàng ở nhà có sân sau đối diện với cửa sổ của chúng tôi thì sự phong tỏa càng trở nên khe khắt. Ðến nỗi bọn Nam Ðịnh phải ra đi. Căn nhà trọ của chúng tôi có cái hẻm nhỏ. Cửa sổ ở bên mặt nhìn xuống hẻm là nhìn sang sân sau "nhà bên kia." Thịnh bảo chúng tôi: "Các em mới dọn tới đó. Hai năm liền tao đóng đô nơi đây, có em quái nào đâu." Thịnh giỏi âm nhạc. Nó biết chơi vĩ cầm lục huyền cầm Y Pha Nho. Nó còn biết ngâm thơ nữa. Tôi nhớ nó đã bắc ghế ngồi gần cửa nhìn sang "nhà bên kia" kể lể tâm sự của Nguyễn Bính:

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi

Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh dờn

Hai người sống giữa cô đơn

Hình như nàng có nỗi buồn hơn tôi

Giá đừng có giậu mồng tơi

Thể nào tôi cũng sang chơi thăm nàng

Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng

Có con bướm trắng thường sang bên này

Bướm ơi bướm hãy vào đây

Cho ta hỏi nhỏ câu này chút thôi

Chả bao giờ thấy nàng cười

Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên

Mắt nàng đăm đắm trông lên

Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi

Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi

Tôi buồn tự hỏi hay tôi yêu nàng?

Ngâm thơ chán, Thịnh ôm đàn lục huyền cầm hát:

Ðêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ. Không gian chìm lắng nhu âu yếm ru ai trong giấc mơ. Mái tóc nhẹ rung trăng vờn làm gió. Yêu em anh nắn cung đàn đầy vơi, đôi lứa xa xôi...

Hát "Dư Âm" chán, nó lôi vĩ cầm kéo đi kéo lại bản nhạc của nguyễn Văn Tí đến sốt ruột. í t khi tôi được nhìn rõ hai nàng. Sáng sớm, hai nàng tập thể thao, tôi chỉ thấy lưng hai nàng và bốn cánh tay giơ lên, buông xuống. Trưa hai nàng rửa bát rất chăm chỉ. Tối thì hai nàng biến đâu mất. Ngoài ra, tôi đi học, không biết hai nàng còn làm những công việc gì. Hai nàng chưa biết chúng tôi chú ý đến và nhất là chưa hiểu anh chàng Thịnh đã yêu trộm, nhớ thầm. Một chiều, rất tình cờ, hai nàng nhìn lên bắt gặp những cậu học trò tỉnh lỵ đi trọ học ở Hà Nội nhìn sang. Từ đó, những buổi trưa, tôi không thấy hai nàng rửa bát nữa. Nhưng mỗi buổi tối, hai nàng "nghĩ cách" ra cửa sau đứng vẩn vơ ngóng gió. Thịnh đã bạo dàn tán tỉnh:

Chả bao giờ thấy nàng cười.

Hai nàng vội vàng mở cửa, bước vào. Ðể Thịnh ta ngẩn ngơ, tiếc rẻ. Nó trộ chúng tôi:

- Thế nào nó cũng "lơn" được em.

Thịnh tin tưởng nó có bằng tú tài một, âm nhạc cự, hát hay là các em sẽ mê nó. Tôi cũng tin vậy. ở đời, muốn dễ kiếm người yêu, cần phải nhiều tài mọn. Hễ tối nào hai nàng không ra "Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì," con nhà Thịnh lại ngâm thơ Nguyễn Bính:

... Mấy hôm nay vắng bóng nàng

Giá tôi cũng có tơ vàng mà hong

Cái gì như thể nhớ mong

Nhớ nàng, không, quyết là không nhớ nàng.

Tôi hỏi Thịnh:

- Không nhớ nàng thì mong nàng ra tựa cửa làm gì?

Thịnh "vỡ lòng yêu" cho tôi:

- Mày ngu lắm, nghệ sĩ như bọn tao bắt buộc phải có những mối tình ly kỳ. Mày chưa thuộc một bài thơ tình nào thì sao hiểu nổi cách "lơn" gái của nghệ sĩ. Nguyễn Bính chối quanh chối quẩn là "Nhớ nàng, không, quyết là không nhớ nàng." Thế rồi, khi "Người láng giềng" chết, thi sĩ của tao mới thổ lộ "Ðêm qua nàng đã chết rồi. Nghẹn ngào tôi khóc, quả tôi yêu nàng." Tao cũng như vậy, tao nói miệng tao không nhớ hai em nhưng lòng tao mong nhớ hai em vô cùng.

Nó dạy tôi bài "văn phạm tán gái": Suilt l'amour, l'amour fuit. Fuit l'amour, l'amour suit.

Chẳng biết Thịnh học câu tiếng Tây này ở đâu. Nó viết lên giấy rõ ràng. Và bắt tôi ghi đúng. Tôi đã ghi đúng. Thịnh giải nghĩa tiếng Việt: Theo tình tình phớt, phớt tình tình theo.

Nó tán rộng:

- Mình tỏ ra si mê các em thì các em phớt tỉnh. Song mình phớt tỉnh Ăng-lê thì các em lại tán mình trước.

Tôi nghe Thịnh "luận" về ái tình, lấy làm thích thú lắm. Nó vỗ vai tôi:

- Mày thích "lơn" gái không?

Tôi chưa kịp trả lời. Nó đã nói:

- Có người yêu, thích ra phết. Chiều mưa mà "em đến thăm anh" thì nhất. Tao khoái gối đầu trên đùi các em để các em nhổ tóc sâu cho tao.

Nó dụ dỗ tôi:

- Lên Hà Nội học... yêu trước, học chữ sau. Mày thấy không, tụi Thái Bình nhà quê bỏ bu đi ấy. á o bỏ ngoài quần, guốc đi lẹp kẹp ầm cả phố, mòn hết vỉa hè. Dân Hà Nội đâu có đi guốc bát phố. Mày vớ được một em. Tết mày về kể chuyện, tụi Thái Bình sẽ thèm nhỏ rãi.

Tôi lắc đầu.

- Yêu khó nhọc quá.

Thịnh nhún vai:

- Ngon xơi lắm. Tao dạy mày ít lâu là mày "lơn" gái như ranh.

Tôi xiêu xiêu lòng:

- Ðầu tiên phải học cái gì?

Thịnh gật gù:

- Ðầu tiên mày phải chép thơ của Xuân Diệu. Nào, lấy giấy bút ra.

Tôi quên cả soạn bài Pháp văn, ghi đầy trang vở bài thơ "Vì Sao" của Xuân Diệu như đứa học trò lớp ba viết chính tả mà thầy giáo là Thịnh.

Bữa trước riêng hai dưới nắng đào

Nhìn cô tôi muốn hỏi vì sao?

Khi tôi đến kiếm trên môi đẹp

Một thoáng cười yêu thỏa khát khao

Làm sao mới gặp buổi đầu tiên

Tôi đã đày thân giữa xứ phiền

Không thể vô tình qua trước cửa

Biết rằng gặp gỡ đã vô duyên

Ai đem phân chất một mùi hương

Hai bản cầm ca tôi chỉ thương

Chỉ mặc cho tình theo cảm xúc

Như thuyền ngư phủ lạc trong sương

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu

Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhẹ nhẹ gió hiu hiu

Cô hãy là nơi mấy khóm dừa

Dầm chân dưới nước đứng say sưa

Ðể tôi là kẻ qua sa mạc

Tạm lánh hè gay thế cũng vừa

Rồi một ngày kia tôi sẽ đi.

Vì sao ai nỡ hỏi làm chi

Tôi khờ khạo lắm ngu ngơ quá

Chỉ biết yêu thôi chẳng hiểu gì???

Tôi chép xong, Thịnh hỏi:

- Hay không?

Tôi ngớ ngẩn:

- Hay ở cái chỗ nào?

- Hay ở cái chỗ có bốn đoạn "lơn" gái rất trứ danh. Mày lắng tai nghe đây: Nếu gặp em nào thờ ơ với mình, mày đọc đoạn "Làm sao mới gặp buổi đầu tiên, Tôi đã đầy thân giữa xứ phiền. Không thể vô tình qua trước cửa, Biết rằng gặp gỡ đã vô duyên." Các em nghe đoạn này, cam đoan sẽ hết thờ ơ.

Thịnh ngừng lời. Nó nhìn nắng cuối thu qua khung cửa sổ. Ðôi mắt nó vẫn mở nhưng linh hồn nó đi vắng. Linh hồn nó đã nhập vào xác một con bướm trắng nào đó, lang thang trên những mảnh vườn tình yêu. Mỗi cậu học trò mới lớn lên đều gởi linh hồn mình vào xác con bướm. Tôi bỗng yêu đôi mắt Thịnh lạ lùng. Ðôi mắt ấy chứa đựng nguyên vẹn tình cảm của tuổi trẻ. Nó ví như giếng nước tiên không đáy, trong vắt sương trời. Một ngày kia, khói tình vương mắt, cậu học trò biết khóc. Bấy giờ. giọt nước mắt đầu tiên sẽ rớt xuống giếng nước tiên. Và sương trời sẽ lung linh màu sắc cầu vồng lung linh trên nền trời sau một cơn mưa đẹp.

Tình yêu của Thịnh là thơ, giống thơ, vì nó đã gởi tâm hồn trong thơ là "lơn" gái bằng thơ. Thi sĩ thật đáng kính trọng. Họ là sứ giả của thương yêu. Họ sinh ra đời làm thơ để ca ngợi tình yêu và làm cho loài người biết cái thú yêu đương và thú đau thương. Ðược yêu thương hay được đau thương vì yêu đương, tôi nghĩ, đấy mới là thú sống ở đời. Lúc này, tôi vỡ lẽ, tại sao tác giả những tiểu thuyết bất hủ thích nhân danh một thi sĩ nói với nhân loại. Tuổi trẻ thuở mười bảy của tôi, cái thuở mà so sánh với mười bảy tuổi hôm nay, tôi thấy "ngày xưa còn bé" vô cùng. "Lơn" gái, yêu đương, thất tình cứ như thơ Nguyễn Bính. Cái giậu mồng tơi đã là một hàng rào kẽm gai khó vượt qua. Nên ước ao: "Giá đừng có giậu mồng tơi. Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng." Rồi dối lòng mình: "Nhớ nàng không, quyết là không nhớ nàng" tuy đã "Rưng rưng, tôi gục xuống bàn rưng rưng." Cuối cùng tuyệt vọng mới dám mở cửa tâm hồn mình "Nghẹn ngào tôi khóc, quả tôi yêu nàng."

Thịnh bỏ dở bài dạy tình ái tôi. Nó nói:

- Không có thi sĩ, mình chả biết "lơn" gái ra sao. Tao thích Nguyễn Bính từ thuở "lơn", khoái Xuân Diệu thuở yêu và cảm Huy Cận thuở...thất tình. Mày phải thuộc lòng hàng trăm bài thơ như tao thì mới nói chuyện yêu đương được.

Nó bĩu môi:

- Tình yêu không thơ như dùi đục chấm nước cáy. "Văn phi sơn thủy vô kỳ khi." Văn chương mà thiếu thiên nhiên thì khô hơn gạch nguội. Tình yêu thiếu thơ là thứ tình yêu đầu đường xó chợ.

Nó gật gù:

Khi nắng hoàng hôn phủ núi xa

Khi nguồn tư tưởng vướng chân. Và

Khi không cầm được anh ngồi khóc,

ấ y lúc em tôi đã tới nhà.

Thịnh ngậm điếu Catab:

- Ðưa "Em về nhà" rồi về gác trọ tưởng tượng nắng tàn, em đã tới nhà, nhớ em quá ngồi khóc thì thơ mộng biết mấy, lãng mạn biết mấy. Không có Huy Cận, ai nói giùm rằng mình đã nhớ em, khóc vì em.

Nó nhả khói thuốc. Khói thuốc Catab thơm lừng, quyến rủ, nó lại ngâm nga:

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé,

Ðể lòng buồn anh dạo khắp quanh sân.

Ngó trên tay thuốc lá chạy lụi dần,

Anh khẽ nói: gớm, sao mà nhớ thế.

Thịnh khuyên tôi:

- Mày nên tập hút thuốc lá. Giờ phút hẹn hò với người yêu nó dài ghê lắm. Huy Cận bảo "Thuở chờ đợi, ôi thời gian rét lắm." Mày càng trông đồng hồ, kim nó càng ì ra, không chịu chạy. Mày sẽ làm gì trong lúc chờ đợi "buổi chiều vàng", những "buổi chiều vàng," của đời mày? Hút thuốc lá là tuyệt nhất. Khói thuốc tỏa thành hình dáng người yêu, khói thuốc bắt kim đồng hồ chạy nhanh. Rồi khi bên em, khói thuốc giúp mày làm thời gian ngừng trôi.

Nó xổ thơ Xuân Diệu:

Thong thả, chiều vàng thong thả lại

Rồi đi. Ðêm xám tới dần dần.

Cứ như thế mà trôi cho đến mãi

Những ngày những tháng của mùa xuân.

Thịnh nuốt khói thuốc:

- Cần chó gì ngày tháng mùa xuân, cần một buổi chiều bên người yêu thôi. "Cu nhỏ," mày nên tập hút thuốc lá đi.

Thịnh hạ tôi xuống hàng "cu nhỏ" dù nó hơn tôi có hai tuổi. Nhưng, dưới mắt tôi, cái bằng tú tài một to lắm. Tôi học đệ tam lại càng thấy bằng tú tài một vĩ đại. Chưa kể, Thịnh đã ở Hà Nội hai năm, biết chơi âm nhạc và thuộc thơ tình như cháo. Tôi chiêm ngưỡng Thịnh, mà nó chỉ thích nói chuyện với tôi. Bọn Thái Bình, ngoài tôi còn có Luyến, Ðệ. Luyến đã lấy vợ. Khi Thịnh nhìn sang "nhà bên kia" ngâm thơ "người hàng xóm" thì Luyến viết thư về nhà thăm hỏi vợ. Côn lôi quyển Anh văn ra học. Và Ðệ bận bịu cái "sé ma" ô tô. Chả là, nó lên Hà Nội học sửa máy xe tự động. Thịnh kéo tôi theo nó. Nó hướng dẫn tôi vào con đường tình ái, bắt đầu từ cái cửa sổ của căn gác trọ.

chương Hai

Tôi đã thấy đường vào tình yêu thơ mộng hơn đường đưa tôi đến trường học. Trời thu, lá vàng bay đẹp quá nhưng chắc kém xa thứ tình bay trong trời yêu.Tôi mua cuốn vở bìa dầy, thức khuya để chép những bài thơ tình nồng nàn ở cuốn "Thi nhân Việt Nam." Bao nhiêu thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính tôi chép hết. Không thích Thế Lữ. Vì tôi nghĩ, Thế Lữ không "em em anh anh" nồng nàn, mật ong như Xuân Diệu. Hai tiếng "cô em" của thơ Thế Lữ nó xa cách làm sao ấy, nó có vẻ "bên rừng thổi sáo một hai Kim Ðồng" lắm, nó "tiên" lắm. Mà tiên yêu nhau thì chả có gì thú vị cả.

Thơ Xuân Diệu khiến tôi ghét Hóa học, Vạn vật học, Toán học, Vật lý học. Những môn học này vô tích sự.

Thịnh luôn luôn bảo tôi:

- Không lẽ mày đem nham thạch, phún xuất thạch: mày cho cái hình này quay chung quanh cái trục nọ để nó sinh ra cái khối kia khi mày ngồi bên người yêu? "Cu nhỏ" ơi, "ba vạn sáu ngàn ngày là mấy," Hình học, Ðại số chỉ làm mình già nua, vô duyên. Tình yêu mới làm mình trẻ mãi. Và nói chuyện tình yêu là nói văn thơ.

Nó lại bắt tôi chép thêm tám câu:

Mỗi độ trong vườn cam ửng chín

Mỗi lần em nhớ người trai tơ

Trưa hè năm ấy mùa cam ngọt

Nhưng thấy cam xanh lại chối từ.

Cam chín lòng em cũng héo hon

Ðến nay em đã có chồng con

Tình cờ hôm ấy chàng qua lại

Cam quá mùa rồi hết chất ngon.

Thịnh nói là thơ của Hàn Mặc Tử và giải nghĩa:

- Ðấy mày xem, chối từ tình yêu rồi tiếc cả đời. Cam vừa chín là phải ăn ngay, đợi lâu nó ủng, hết chất ngon.

Nó vuốt mái tóc nghệ sĩ của nó:

Mau với chứ, vội vàng lên với chứ

Em em ơi, tình non sắp già rồi

Con chim hồng trái tim nhỏ của tôi

Mau với chứ, thời gian không đứng đợi.

Thịnh nhìn tôi tình tứ cơ hồ người con gái nào đó đang nhìn tôi:

- Xuân Diệu là triết gia về tình yêu. Mình nên nghe ông ta.

Nó làm ra vẻ bùi ngùi:

Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

Và xuân hết nghĩa là tôi cũng chết

Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ hẹp

Không cho dài tuổi trẻ của thanh xuân

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng đôi lần thắm lại

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi

Nên bâng khuâng thương tiếc cả đất trời.

Thịnh vỗ vai tôi:

- Ðêm mai tao 'chơi" ở Régina. Tao vẫn đi học nhưng học gọi là thôi, không "gạo cụ" như thằng Luyến, thằng Côn đâu. Tao đã viết thư về nhà rồi, từ nay tao không cần tiền nhà gởi lên nữa. Ông đánh đàn cho chúng no nhảy đầm kiếm ba ngàn một tháng. Ngon ơ...đánh đàn và yêu đương kẻo già nua thương tiếc đất trời.

Thịnh cám dỗ tôi quyết liệt. Tôi xiêu lòng và bắt đầu "bát" những giờ Toán, Lý, Hóa, Vạn vật. Niên học đệ tam của tôi mới được quá hai tháng, tôi đã bê bối rồi. Những buổi sáng, Thịnh và tôi đạp xe lên Cầu Gỗ, vào cà phê Giảng ăn phở và phì phèo thuốc lá Catab bên tách cà phê phin. Tương lai học trò của tôi đang nhỏ từng giọt như cà phê nhỏ giọt xuống tách. Rồi Thịnh dẫn tôi lên Hàng Than, đứng xếp hàng chờ ăn phở bò, đến Huyền Trân Công Chúa ăn phở gà và uống cà phê bên đường. Rồi lang thang trong Bách Thảo, trên đê Yên Phụ chờ tới giờ tan học, tới lang vãng gần trường Trưng Vương, len lén ngắm các cô học trò xinh như mộng. Như vậy, tôi "bát" dần sang những giờ Sử, Ðịa. Rồi quên học cả Pháp văn, Anh văn và Việt văn. "Năm đệ tam là năm ôn lại bốn năm đệ nhất cấp, học dưỡng sức chứ báu bổ gì." Thịnh nhún vai "Tao đã ăn chơi rông dài năm đệ tam, thế mà lên đệ nhị tao cứ đỗ tú tài. Học trò thông minh chỉ cần vùi đầu vào sách trước kỳ thi hai tháng là đỗ." Tôi bỗng thấy mình thông minh. Bỏ học luôn. Tôi ghi tên học Pháp văn ở Hàng Trống và Anh văn ở trường Dziên Hồng, rồi cũng bỏ luôn. Những giờ Côn, Luyến ngồi ghế nhà trường, tôi theo Thịnh tha thẩn quanh hồ Gươm nghe lòng mình gợn sóng trên mặt nước xanh, thấy hồn mình đong đưa trên ngọn liễu mềm.

Chuyện hai nàng "nhà bên kia" bị bỏ quên khá lâu. Nhưng Thịnh vẫn nhìn trộm. Nó triết lý:

- Câu tình như câu cá chuối, "cu nhỏ" ạ! Hễ cá đớp hụt mồi, phải lờ nó đi, quăng mồi chỗ khác. Rồi khi quăng mồi đường câu cũ, cá chuối sẽ đớp không hụt. Mình chỉ cần thả chùng dây cho cá dễ nuốt mồi. Và giật lên.

À , thì ra Thịnh đang quăng mồi ở đường câu khác. Tôi hỏi nó:

- Bao giờ giật được hai em bên kia?

- Mày hay tao?

- Mày.

- Tưởng mày thì lâu chớ tao thì ngon ơ. Tao sẽ giật cả hai em một lượt. Lưỡi câu của tao hai móc cơ mà.

- Tại sao tao thì còn lâu?

- Vì mày chưa học "tâm lý." Lên đệ nhất mày sẽ học triết. Môn tâm lý học giúp tao tán gái dễ dàng.

Thịnh đem chương trình triết lý đệ nhất của nó ra trộ tôi. Tôi bèn phục lắm. Và tôi lại mất với nó mấy chầu bánh tôm ở Cổ Ngư để nghe nó luận về "tâm lý" các em, luận về cách chinh phục các em, bằng tâm lý học đệ nhất! Tôi chờ ngày Thịnh quăng mồi sang "nhà bên kia." Thịnh vẫn lờ. Nó mới "chế" thêm cách "lơn" gái, lấy làm đắc ý lắm. Tôi đi trên con đường Thịnh vẽ bản đồ.

Mỗi chiều, tôi thường lai vãng tại các rạp hát xi nê, thấy em nào đèm đẹp vào "ghi sê" mua vé là tôi nối đuôi liền. Em mua vé hạng nhất, tôi cũng mua vé hạng nhất. Em mua vé hạng bét, tôi cũng mua vé hạng bét. Ðể ngồi cạnh em. Ngồi cạnh em hồi hộp, sợ sệt. Luôn luôn, tôi mất cả chì lẫn chài. Không tán nổi nửa câu mà còn thiệt hại về sự giải trí. Phim xem quãng được, quãng không, chẳng hiểu đầu ra sao, cuối ra sao. Tốn tiền kinh khủng. Tôi và Thịnh đua nhau "sưu tầm" vé xi nê. Cái trò sưu tầm chương trình già nua rồi. Chúng tôi tích trữ vé cơ. Ðằng sau mỗi tấm vé, Thịnh và tôi còn ghi xem phim nào, do những tài tử nào đóng.

Tôi không biết kẻ sáng tác cái trò "lơn" gái này có thành công vụ nào không. Riêng tôi, tôi chả sơ múi gì. Nhưng nghe Thịnh kể mối tình trong bóng tối của nó, lòng tôi đã bâng khuâng khôn tả. Thịnh vào rạp Long Biên ở Hàng Chiếu coi phim "Tên tù nhân Zenda" do Stewart Granger và Jean Simmons đóng. Nó bảo hôm đó nó "chán đời" mua vé vô rạp sớm nhất. Thói quen của Thịnh là phải vào rạp nhai kẹo cao su. Bữa "tình sử" ấy, nó đã được diễm phúc ngồi cạnh một em. Dĩ nhiên rất đẹp rồi. Thịnh kể: Nàng dắt một em trai. Ðôi mắt nàng ngơ ngác như đôi mắt con nai vàng của Lưu Trọng Lư. Nàng ngồi xuống ghế. Còn sớm. Nàng quên không lấy tờ chương trình. Bổn phận của Thịnh là đưa nàng mượn tờ chương trình để nàng coi chuyện phim. Nó kêu cậu em về ghế nó, cho cậu em nàng ăn kẹo cao su. Nàng nhỏ: "Ông làm em hư." Nó tình tứ: "Em ngoan lắm mà, em ơi!" Rồi nó cúi xuống hôn trái cậu em. Cả một "xê ăng," nó chỉ ngồi liếc nàng trong bóng tối. Khi tan hát, nó và nàng ra sau hết. Nàng cầm một bên tay cậu em, nó cầm một bên tay cậu em, thong thả bước. Tới vỉa hè, nó và nàng vẫn đi không ai nói với ai một lời. Một lát, chiếc xe Vedette từ đâu chạy đến, đậu sát vỉa hè - chỗ nó và nàng vừa bước tới. Người tài xế mở cửa xuống xe, lễ phép: "Thưa cô, về hay đi chưa nữa ạ?" Nàng đáp: "Về." Nàng dắt em lên xe. Nó cảm khái một câu với cậu em: "Em về nhé, em đẹp lắm, em biết không? Biết ngày nào anh mới gặp em?"

Mối tình thật lãng mạn và không...vụ lợi. Tôi không dám ngờ Thịnh phịa ra để tôi thèm. Và tôi hằng ao ước sẽ gặp một em trong rạp xi nên như em của Thịnh trong rạp Long Biên. Chắc chắn, khả năng "đệ tam" của tôi không đủ thớ nói những câu xa xôi mà gần gũi, vu vơ mà đằm thắm như Thịnh. Nó có bàng tú tài một, lại học tâm lý, luân lý, tôi địch sao nổi. Có lần, tôi hỏi Thịnh:

- Sao mày không "lơn" em ngay?

- Mày tưởng "lơn" gái dễ hả, "cu nhỏ"! Nguyễn Bính đi "lơn" gái mòn hàng chục đôi giày. "Chàng qua chiều ấy, qua chiều khác. Ðếm mãi bâng quơ những dấu giày."

- Mày bảo dễ thôi.

- Dễ với tao.

- Thế sao mày không hé răng?

- Tình yêu càng câm nín bao nhiêu càng cao thượng bấy nhiêu. Tình của tao với em gặp ở Long Biên là tình câm. Mày còn khờ quá. Mày khôn hơn, mày sẽ hiểu rằng đêm ấy em đã khóc.

- Thật à?

- Tao nói dối mày làm gì. Em đã khóc, và tao đã chiêm bao thấy tao và em chở nhau đi Voi Phục, đi Láng...

- Em nói gì trong giấc chiêm bao?

- Vẫn câm nín.

Tôi học thêm được bài học tình yêu câm nín. Yêu ai đừng nói mình yêu người ta. Thế gọi là tình yêu câm nín. và theo "giáo sư" ái tình Thịnh, tình yêu câm nín đẹp nhất thế gian. Tôi bắt đầu thì nghiệm tình yêu câm nín từ cửa sổ nhà trọ. Tôi nghiện cái cửa sổ rồi. Hàng ngày, tôi nhìn sang "nhà bên kia" nhiều hơn Thịnh. Tôi không biết kéo vĩ cầm, hát hay ngâm thơ. Nhưng cứ đần mặt ra nhìn xuống, nhìn sang. Ðến nỗi "giáo sư" Thịnh phải sốt ruột:

- Mê rồi à? Chớ dại dột "cu nhỏ". "Ca líp" hai em, cỡ sành tâm lý như tao mới "lơn" nổi. Mở mắt ngó tao "lơn" em, tao sẽ "cuỗm" cả hai em. Rồi hai em đánh nhau loạn lên vì tao.

- Cho tao tập "lơn" chứ!

- Ðể tao chọn em cho mày tập "lơn." Ðụng hai em này, mày sẽ vỡ mặt.

- Nó tát tao à?

- Không, con sẽ uống giấm thanh, "cu nhỏ" ạ!

- Cái gì?

- Mày sẽ tuyệt vọng. Hai câu thơ này ấm ớ hội tề mà triết lý đáo để: "Ðiều đau khổ nhất trên đời, là yêu người mãi mà người chẳng yêu." "Cu nhỏ" sẽ đau khổ và "cu nhỏ" sẽ uống cạn hai chai giấm thanh hòa thuốc phiện. Ông bố "cu nhỏ" sẽ khóc sưng mắt ở Thái Lọ.

Lời răn dạy của "giáo sư" Thịnh khiến Côn và Luyến bất bình. Thịnh miệt thị tôi quá. Côn thì muốn xỏ tôi. Nó khuyên tôi học hành không xong, đâm ra cáu sườn. Còn đòi viết thư về Thái Bình tố cáo tôi. Nhưng nó chưa nỡ. Nó muôn tôi "vỡ mặt" một lần, sẽ tởn và bỏ mộng ái tình vặt của ranh con. Luyến thì cho Thịnh là thằng nói phét. Nó có vợ, có con rồi, nó được quyền chê Thịnh. Luyến tạm quên cô vợ nó ở Thái, bốc tôi:

- Mày theo thằng Thịnh, mày sẽ ăn bã mía.

Luyến triết lý vụn:

- Làm lấy mà ăn mới ngon. Ta phải tự lập chứ. Ái tình ỷ lại là thứ ái tình tầm gởi.

Nó bích:

- Mày cứ "lơn" con bé trên kia đi, chọn con nào đẹp nhất ấy, tao giúp mày một tay.

Thịnh cười ha hả:

- Dân đồng chua nước mặn vừa ăn nước máy Hà Nội mấy tháng đã ra cái điều. Tao đây này, ngót ba năm ăn nước máy Hà Nội, tao không ra cái điều thì đừng đứa nào ra cái điều. Ðấy con nhà Long thử nghe thằng Luyến đi. Mày "lơn" được gái Hà Nội, ông về Thái lấy vợ liền.

Luyến mỉa mai:

- Thằng ngu dẫu ăn nước máy Hà Nội ba đời, vẫn cứ ngu. Mày dám đánh cuộc gì không Thịnh?

Thịnh vênh vang:

- Cuộc gì?

Luyến mím môi:

- Cuộc trăm bạc thôi. Nếu thằng Long "lơn" được em trước mày, mày mất trăm bạc.

Thịnh tin tưởng ăn trăm bạc của Luyến chìa tay ra:

- Rồi.

Tôi biến thành con thò lò của hai thằng đặt cửa. Luyến thúc giục tôi:

- "Lơn" đi!

Tôi thộn mặt:

- "Lơn" làm sao?

Thịnh móc máy:

- "Lơn" bừa đi như thằng Luyến... lấy vợ ấy. Mẹ, nó nhờ ông bố nó lấy vợ cho nó chứ mã nó lấy chó! "Không thầy đố mầy làm nên." "Lơn" đi!

Luyến cay Thịnh lắm. Nó an ủi tôi:

- Tao đã có cách.

Thịnh xỏ ngọt:

- Mai nó về Thái lọ, "bốc" ông bố thằng Long lên đây hỏi em cho thằng Long. Và, mai này, thằng Long sẽ bắt chước nó, nói phét đã "lơn" em.

Luyến không tức giận câu cay cú quá đà của Thịnh. Nó nói bâng quơ:

- Thánh nhân hay đã kẻ khù khờ.

Và hỏi Thịnh:

- Tâm lý học đệ nhất của mày có đoạn nào diễn tả cái sự mèo mù vớ cá rán không?

Thịnh đáp:

- Tao học những điều cao siêu hơn.

Luyến lắc đầu:

- Khuyên mày nên học triết lý mèo mù vớ cá rán đi. Thằng vỡ mặt sẽ là mày. Tao là con gái, tao sẽ yêu thằng Long chứ không yêu mày. Mày mê hai ả rồi mày sẽ điêu đứng, Thịnh ạ! Thằng Long sẽ là tình địch của mày.

Thịnh phá ra cười. Nó bỏ xuống phố, hai tay thọc vô túi quần miệng huýt sáo, rất tự kiêu về cái bằng tú tài một của nó. Thịnh đi một lúc, hai nàng "nhà bên kia" xuất hiện ở cửa sau. Buổi chiều giữa mùa đông, lạnh thích thú. Tôi đứng bên cửa sổ, ngó xuống. Qua những chắn song sắt, tôi có cảm tưởng mình là tù nhân. Chưa yêu mà như vừa yêu. Vả lại tưởng mình là tù nhân của ái tình. Một nàng len lén trông lén. Tôi ngây người nhìn nàng. Trong chiếc áo len màu lam, nàng đẹp như Giáng Kiều của Tú Uyên.

Tôi mới học "Bích câu kỳ ngộ". Năm đệ thất đã học nhưng học để thuộc lòng thôi. Giờ học "Bích câu kỳ ngộ" để tập tương tư giống anh chàng Tú Uyên. Tôi muốn mình là Tú Uyên căn gác trọ trên này ốm đau vì nàng Giáng Kiều dưới ấy. Mộng mơ hiện nữa, tôi muốn mình là Kim Trọng kiếm đúng gác trọ gần nhà Thúy Kiều chờ dịp "lơn" nàng, Xuân Diệu đã "Tôi tưởng nàng là Ðường Minh Hoàng. Trong cung nhớ nàng Dương Quý Phi" thì tại sao tôi không biết muốn, tưởng nhỉ?

Người con gái vẫn thỉnh thoảng len lén trông lên. Vừa thuộc mấy câu thơ Nguyễn Bính, sau khi nóng bừng tai run rẩy, hồi hộp, tim đập thình thịch, tôi uống ba viên thuốc liền, đọc lớn:

Ðã thấy xuân về với gió đông

Với bên màu má gái chưa chồng

Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm

Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong.

Nàng mỉm cười. Thịnh ngâm thơ, gảy đàn "lơn" nàng, nàng có cười đâu. Mà sao nàng cười với tôi, nàng cười vì tôi. Tôi tin Luyến rồi "Thánh nhân hay đãi kẻ khù khờ." Thánh nhân đã giúp tôi "lơn" gái. Con nhà Luyến nhìn trộm. Biết hai nàng đứng dưới, nó khuyến khích tôi:

- Cố gắng đi, con ông cụ!

Tôi bảo Luyến:

- Em cười mày ạ!

Luyến gật gù:

- Ðộng đậy phao rồi, cá đã rỉa mồi đó.

Tôi bối rối:

- Làm gì bây giờ?

Luyến thộn mặt ra. Lúc này nó mới biết nó không có tài "lơn" gái. Có vợ chưa chắc đã có tài "cua đào." Luyến thấy nó thua "giáo sư" Thịnh của tôi một trời một vực. Giá Thịnh ở nhà, nhiều câu "lý thuyết" được đem ra "thực hành" ngay. Chỉ tiếc nó giận Luyến, bỏ đi. Con nhà Luyến nổi máu tự ái, tỏ ra thừa kinh nghiệm tình trường. Nó xúi dại tôi:

- Ngâm thơ nữa!

Tôi vận dụng trí nhớ để đọc tiếp mấy câu thơ Hồ Dzếnh:

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé

Anh sẽ trách, cố nhiên, nhưng rất nhẹ

Nếu trót đi em hãy gắng quay về.

Ðời mất vui khi đã vẹn câu thề

Tình chỉ đẹp khi còn dang dở...

Chưa đọc hết, Luyến đã dậm chân:

- Hỏng!

Tôi hỏi khẽ:

- Hỏng gì?

- Mày làm như mày đã yêu em rồi ấy. Tìm bài thơ nào khác đi.

Tôi lại đọc thơ Nguyễn Bính:

Thôn Ðoài ngồi nhớ thôn Ðông

Một người chín nhớ mười mông một người

Gió mưa là bệnh của trời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

Hai thôn chung lại một làng

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này...

Luyến thích chí:

- Hợp tình hợp cảnh lắm. Em còn cười không?

Tôi thẫn thờ ngó xuống:

- Em đóng cửa từ lúc nào ấy mày ạ!

Luyến làm như nó đi guốc trong bụng ái tình:

- Tao đã bảo hỏng mà.

Tôi cụt hứng. Rồi buồn man mác. Tôi dặn Luyến:

- Ðừng nói cho thằng Thịnh nghe nhé! Nó cười thối mũi.

Luyến im lặng. Nỗi buồn của tôi tăng dần. Tôi thất tình, tôi đã thất tình. Tôi giống anh Trương Chi quá. Tôi không ăn cơm trọ chiều nay. Tôi cần lên Cổ Ngư, ngồi dưới một góc cây, hút thuốc Catab, nghe gió Ðông thổi lạnh đầy trời.

CHUONG 3

Trời càng mưa lạnh, học trò xa nhà trọ càng lười biếng. "Ôi rét đêm nay mấy học trò," Huy Cận có bài thơ tả cảnh học trì đi trọ học quắp, ôm nhau ngủ suông đêm mưa lạnh lên gác trọ, thật hay. Tôi đã chép bài thơ đó sau bài "Buồn đêm mưa" của ông ta. Không hiểu thời học trò trọ học bây giờ ra sao chứ thời học trò trọ học của chúng tôi nó "khủng khiếp" lắm. Chẳng hạn, "giáo sư nghệ sĩ" Thịnh mùa rét, mỗi tháng tắm một lần. Nó chỉ cần rửa từ khuỷu tay trở xuống để khi nào ống tay áo dơ, xắn lên, cánh tay đỡ cáu bẩn. Và lau cái cỗ kỹ lưỡng. Chúng tôi giặt quần áo lấy. Thịnh tính toán rất chu đáo. Chỗ nào nhét vào quần, nó không thèm là, giải thích rằng chỗ áo nhét vào quần vô tích sự, là làm chi cho tốn điện, tốn công. Chẳng hạn, học trò gương mẫu Côn, mỗi sáng, chả cần đánh răng, súc miệng. Ði xe đạp từ nhà tới trường, mưa phùn hắt đầy mặt, rút mùi xoa lau khô là mặt mũi bảnh bao, khỏi phí sức rửa mặt lỉnh kỉnh.

Cái "triết lý" tắm tay, lau cổ, là áo và rửa mặt của Thịnh, còn được chúng tôi cổ võ nhiệt liệt. Hai đứa bái phục nghiêng mình là Thông tức Lý Thông và Khải mới đến trọ cùng chúng tôi. Khải dân Thái Lọ. Thông dân Phát Diệm. Hai tay này hợp cùng "đổng lý văn phòng quốc trưởng Bảo Ðại" Nguyễn Ðệ của chúng tôi thành ba cây cười Bắc Việt. Ðệ học sửa máy xe hơi. Nó thành thật quá hóa ra đần. Hồi nó ở Trực Nội lên thị xã Thái Bình trọ học nó đã đần rồi, giờ sống giữa nơi nghìn năm văn vật nó phải mán hơn. Một hôm, Ðệ viết thư về Thái cho mẹ, quên không bỏ vào phong bì và đi học luôn. Chúng tôi tóm được, chuyền nhau đọc. Gác trọ đã rung chuyển trận bão cười câu văn viết thư của Ðệ: "Thưa mẹ, từ ngày học tới nay, con mới chỉ biết tháo ra rồi lại đút vào." Thấy "đổng lý" thộn thôn thồn, Thịnh kiếm trò giải trí. Nó bảo kem sô cô la Cẩm Bình có thể vừa ăn vừa đánh giầy cho nó bóng. "Ðổng lý" Ðệ tưởng bở mua kem sô cô la về ăn. Còn miếng cuối cùng nó quết đầy lên đôi giày da mầu mận. "Ðổng lý" Ðệ hí hoáy đánh mãi mà da không chịu bóng. Nó ngây thơ hỏi chúng tôi cách đánh. Chúng tôi ôm bụng cười vặt vẹo.

Chìa khóa mở kho cười thứ hai là Khải. Công tử Thái Lọ đã từng du học ở Hưng Yên, có mái tóc rất lãng tử và máu liều chí mạng. Công tử dám phát mại xe đạp "đuya ra," may một lúc bốn chiếc sơ mi "pô pơ lin xăng pho xuýt BCT." Nó đi học từ sáng sớm, trưa không về ăn cơm trọ. Nhiều lần nó bỏ cơm chiều, đêm khuya mới mò mẫm về. Và về là bật điện, ngồi bàn học, lôi bài "Lecture" ra học thuộc lòng. Chửi nó, nó phớt tỉnh. Khái đọc chữ P thành chữ B. Nó nhai nhải bài tập đọc trích trong tác phẩm của Jean Jacques Rousseau là bài "La peur." Khải rung đùi, thích thú "La bơ. Giê te a la căm... căm ba nhơ..." Chúng tôi vồ lấy điển tích "La peur" đặt tên nó là mông xừ La Bơ. La Bơ Khải thích nói tiếng Việt chêm tiếng Tây. Thí dụ nó đã xổ một câu "Tây Việt đề huề" như vậy "Hôm ấy moa đi bí xi cờ lét tới ga hàng cỏ, moa xa rết tê lại nghe rê duyn ta lô to ri. Rồi moa về, đến chỗ ruy ba rê, moa cứ phóng. Gặp bô lít nó xip phờ lê, nó dẫn moa về bót phạt moa vanh bi át. Buốt quá." Chúng tôi bèn sửa những chữ B thành P và nhại Khải: "Hôm ấy moa đi pi xi cờ lét, tới ga hàng cỏ moa xa rết té lại nghe rê duyn ta lô tơ ri. Rồi moa về, đến chỗ ruy pa rê, moa cứ phóng. Gặp bô lít nó xip phờ lê, nó dẫn moa về bót phạt moa vanh bi. Puốt quá." Và cười bằng thích.

Công tử Thái Lọ liều còn "tuyệt tác" hơn nói tiếng Tây. Không có diêm, nó lười biếng không chịu xuống dưới nhà xin lửa. Nó lôi cái bàn là Calor của Thịnh cắm điện cho đến khi bàn là đỏ rực, nó châm thuốc vào bàn là, khiến Thịnh kêu trời như bọng. Ly kỳ nhất là cái vụ nó đi học kéo đàn vĩ cầm ở nhà cu Duyệt gần hồ Thuyền Cuông. Nó học ròng rã mấy tháng, hỏi nó học "mê tột" gì thì nó trả lời "mới chơi được bài Chiều Ơi!" Thịnh muốn tống cổ Khải khỏi nhà trọ vì nó cứ lôi cái vĩ cầm của Thịnh, đứng bên của sổ, nhìn sang "nhà bên kia" tay đàn miệng hát "Chiều ơi! Lúc chiều về gặp những nương khoai, trâu bò về dục mõ xa xôi hỡi chiều."

Chìa khóa mở kho cười thứ ba là Thông, Lý Thông. Thạch Sanh. Lý Thông học cùng lớp Thịnh. Trước khi về với chúng tôi, công tư Phát Diệm đã "quất ngựa" truy phong một em bé rõ huê ở Khâm Thiên. Nó đến nhà người ta kèm học, ăn ngủ tại nhà người ta, "tòm tem" với con gái lớn nhà người ta, xoay tiền mua vélo solex rồi "vận tải"

dần quần áo, sách vở giầy dép. Ðùng một hôm, nó phóng vélo solex ra đi, để lại hai chiếc va li rỗng tuếch. Nó bảo "nhà em có hàng chục cái lò gạch nhưng tò vò nó làm tổ trên mặt em khiếp đảm quá, hôn em tao chỉ sợ em in dấu lên mặt, nên tao phải đau khổ ra đi." Công tử Phát Diệm của tôi đã nêu một thành tích...sở khanh lẫy lừng như vậy đó. Nó cũng ăn nước máy Hà Nội mấy năm rồi. Luyến nói đúng. Những thằng ngu thì ăn nước máy Hà Nội mấy đời vẫn ngu. Thông khôn ngoan, láu lỉnh ở đâu tôi không biết, nhưng tới nhà trọ của chúng tôi, nó đã biến thành cái chìa khóa mở kho cười vô tận.

Nó mê cải lương hơn xem xi nê. Thông thuộc các đào kép gánh Kim Chung "tiếng chuông vàng Thủ đô" không sót một ai. Tối nay Kim Chung, tối mai Kim Phụng. Thịnh đã chơi xỏ Thông một vố. Nó bằng lòng lên hàng Bạc coi tuồng với Thông. Công tử Phát Diệm đưa cho Thịnh một trăm mua vé, Thịnh mua hai cái vé bảy đồng, thứ vé "đi tuần" trong rạp. Nó cất vé đi. Hai đứa bát phố, ăn mì, uống sô cô la sửa đá chán chê chờ vào coi hát. Thịnh kéo dài thời gian ra. Nó để muộn mười phút mới đưa Thông đến rạp. Thịnh dúi vé cho người soát vé xé, đẩy Thông vào trước. Nó giả vờ quên chưa mua kẹo, dặn Thông chờ nó ở trong. Lý Thông cứ ngỡ vé năm chục thượng hạng thì hai thằng không lạc nhau. Nó yên chí vào. Thịnh đem tám mươi đồng, phú lỉnh về rủ tôi đi xi nê. Công tử Phát Diệm đau khổ, "đi tuần" Kim Chung. Tối về nó chửi loạn xà ngầu. Chúng tôi cười ngặt nghẽo.

Vẫn chưa "diệt" nổi cái máu mê cải lương của Thông. Thịnh bày thêm trò để "cứu vớt linh hồn của một thằng nhà quê." Thịnh bảo thanh niên Hà Nội mà khoái cải lương thì nhà quê cóc chọi nổi. Nó đợi đêm Thông đi coi hát, cài then thật kỹ và dặn đầy tớ không được mở. Thịnh cho đầy tớ mười đồng. Nửa đêm, Lý Thông mò về, gọi cửa ơi ới. Cửa vẫn đóng im ỉm. Nó dắt vélo solex vào ngõ, đứng dưới gào chúng tôi. Chúng tôi lờ đi, Thông đành khóa xe, leo ông máng. Bất ngờ, cảnh sát đi tuần, tưởng nó là đạo chích. Bên thổi còi và "mời" nó về bót. Thông trình bày "hoàn cảnh" mất nửa tiếng đồng hồ, đóng phạt hai chục rồi đi thuê ô ten ngủ. Sáng hôm sau, nó vác bộ mặt hốc hác của nó về ngủ vùi, trưa không thèm ăn cơm. Ðến chiều, nó kể chuyện đêm qua, làm như chúng tôi ngủ say không biết. Nó bảo ở ô ten nó ngủ không được. Nhà thổ gõ cửa, ma cô gõ cửa chào mời nó. Phòng cạnh, lính Tây say rượu hành hạ đàn bà ầm ĩ. Chúng tôi lại cười bò.

Nhưng Thông vẫn không "chừa" cải lương. Nó mê man "khiếp đảm" hơn và dư can đảm thức trắng đêm "phóng tác" những vở tuồng nó đã thưởng thức thành...kịch. Thông theo đạo Thiên Chúa. Thịnh hay chộp quyển sách kinh của Thông, đọc chơi. Thông quên béng mất rằng Thịnh có máu giễu. Nó chỉ Thịnh cách đọc kinh. Thịnh "chế" luôn ra trò chơi...linh mục. Nó quỳ trên giường, gắp cái chân đơn nhỏ lại, máng lên vai, tréo qua lưng và ngực. Thịnh cầm cuốn tự điển Pháp Việt dày cộm. Nó bắt chước ông cố đạo làm lễ ở nhà thờ. Ðại khái, Thịnh đã đọc tiếng La Tinh như vầy: "Aspérine, As pro, Dagenan, Esquimaux, Automobile, Cyclo, Bicyclette, Radio...Amen..." Thịnh nháy chúng tôi. Cả bọn "amen" rất trịnh trọng. "Cố đạo" Thịnh nhìn Thông "ban phép lành." Lý Thông hí hửng cười như lần nhốt Thạch Sanh dưới hầm. Thịnh đọc lơ lớ: "Sư mày Thông ơi, mày nhà quê hạng nặng, mày còn coi cải lương thì Chúa của mày sẽ cho mày về địa ngục...Amen." Lý Thông say sưa "Amen" theo. Ðến khi chúng tôi phá ra cười, nó mới biết Thịnh chơi xỏ nó. Công tử Phát Diệm sửng cổ:

- Ðừng có đem đạo của ông làm hề, nghe chưa?

"Cố đạo" Thịnh hiền hậu:

- Thôi con, "cha" đã trình Chúa tội của con rồi. Con lạc đà có thể chui qua lỗ kim dễ dàng, chứ con, con khó mà vô nước Thiêng đàng. Con có hai tội.

"Con chiên" Thông mím môi, mặt đỏ bừng bừng:

- Ông làm gì có tội!

"Cố đạo" thịnh quắc mắt:

- Tội thứ nhất là quất ngựa truy phong em rỗ huê ở Khâm Thiên. Tội thứ hai là ham coi cải lương.

Thông tức giận đá tung chiếc ghế:

- Ông có tiền muốn làm gì thì làm, mày chõ mõm vào chỉ tổ thối um.

"Cố đạo" Thịnh cười:

- Nhưng Chúa không muốn con coi cải lương.

Thông biết đấu khẩu khó "ăn" Thịnh, nó bỏ đi...coi cải lương "Ðôi mắt huyền trong sa mạc" của đoàn Kim Chung. "Cố đạo" Thịnh đụng nọc "tín ngưỡng" một lần, không dám dở trò nữa. Ðiều đáng nói của "ngày xưa còn bé" là hai cây cười Bắc kỳ công tử Phát Diệm và mông xừ La Bơ cũng trồng cây si ở cửa sổ gác trọ. Tôi có thêm hai địch thủ. Công tử Phát Diệm "lơn" gái ồn ào và nặng tính chất cải lương. Dạo này, một trong hai em gái "nhà bên kia" năng đi chợ sớm. Phố Ngô Thời Nhiệm gần trường Minh Tân nên từ nhà trọ, chúng tôi chỉ mất năm phút là tới trường. Tám giờ đi học, bảy giờ rưỡi chúng tôi còn tụ tập ở cửa sổ, tán nhảm. Em gái "nhà bên kia" đã đi chợ vào giờ đó. Em đi chợ Hôm bằng lối sau. Công tử Phát Diệm tỏ tình:

- Ðẹp quá!

Mông xừ La Bơ phụ họa:

- Duyên dáng ghê!

Công tử Phát Diệm so sánh:

- Mắt em như "Ðôi mắt huyền trong sa mạc" ấy!

Nó "cướp nghề" của Thịnh, ngâm ầm ĩ:

- Mắt em là một dòng sông. Thuyền anh bơi lội trong dòng mắt em.

Thịnh xỏ ngọt:

- Mời em đi coi hát cải lương đi mày!

Luyến vớ dịp may "ngàn năm một thuở" kê Thịnh:

- Thằng Thịnh ghen à?

Thịnh cười nhạt:

- Tao mà ghen với con nhà Thông ư? Còn lâu. Tao "đếch" chịu nổi cái lối "lơn" gái nhà quê của nó. Xấu hổ cả bọn. Tao sẽ bỏ nhà trọ này.

Mông xừ La Bơ phớt tỉnh, dặn với em gái:

- Nhớ mua quà em nhé!

Nó trêu Thịnh:

- Trưa nay ăn cơm sẽ ngon vô cùng. Anh nào ức hộc máu mồm cứ việc nhịn. Ông ăn giùm cho.

Thịnh trả đũa Khải:

- Nhớ liếm sạch bát đĩa đấy. Bà chủ không nuôi chó mà.

Ðặng Xuân Côn lên mặt đạo đức:

- Ở đó mà chửi bới nhau, học hành "đét" lo, chỉ lo ăn chơi, "lơn" gái. Tao sẽ viết thư cho ông bố mày, Long ạ!

Tôi vội vàng phân trần:

- Tao ngoài cuộc, tại sao mày xỉ vả tao?

"Ông cụ" Côn hầm hầm cắp cặp xuống nhà. Tôi biết, nó sẽ vào lớp sớm nhất, ngồi dở bài tập Anh văn Dziên Hồng ra nghiền ngẫm. Tình yêu của nó không ở Hà Nội. Tình yêu của nó ở Thái Bình cơ, và tình yêu ấy, nó đã gởi cho cô bé tên Hà nhà bên cạnh đền Mẫu. "Ðông lý văn phòng" Nguyễn Ðệ "ra đi khi trời vừa sáng." Lúc này, có lẽ, nó đang "tháo ra rồi lại đút vào" ở trường sửa máy xe hơi. Trên căn gác trọ chỉ có hai chìa khóa mở kho cười vô tận, "giáo sư" ái tình Thịnh, Luyến và tôi "kê" nhau một chặp.

Luyến bỏ đi học, mông xừ La Bơ tới âm nhạc học xá của cụ Duyệt, công tử Phát Diệm gấp vở làm đôi nhét túi sau, chuồn êm. Thịnh rủ tôi đi ăn sáng rồi tới nhà nhảy đầm Régina xem nó tập những bản nhạc mới với giàn nhạc của nó.

Trên đường rời nhà trọ. Thịnh phân trần:

- Mày xem, chúng nó "lơn" gái hạ lưu quá. Tao xấu hổ điếng người. Cơ sự này tao phải bỏ mày mất.

Tôi nói:

- Ðể đẩy chúng nó đi.

Thịnh buồn bã:

- Bạn bè ai nỡ xử thế, thôi, tao đi là thượng sách. Cứ mỗi sáng nghe con nhà Khải dặn em mua qua, chịu sao nổi.

Nó đổi giọng:

- Người "phong lưu" "lơn" gái khác bọn "đồng chua nước mặn." Tao biết nói cùng em ra sao?

Tôi hỏi:

- Em nào?

Thịnh đáp:

- Em của tao, em bên "nhà bên kia" ấy?

"Giáo sư" Thịnh làm như em đã yêu nó. Tôi bèn trố mắt ngó Thịnh. Nó cười duyên:

- Mày ngu lắm, "cu nhỏ" ạ! Ðôi mắt là cửa sổ của linh hồn. Tao nhìn hai em, hai em nhìn tao, tức nhiên, linh hồn chúng tao đã nhìn nhau. Mà khi linh hồn nhìn nhau là chúng tao đã yêu nhau.

- Em đã yêu mày?

- Ừ.

- Cả hai em?

- Ừ.

- Còn tao...ra rìa!

Tôi thẩn thờ, suýt lọt bánh xe xuống đường rầy xe điện. Chưa biết yêu mà tưởng mình đã thất vọng vì tình. Bát phở sáng hôm đó, bỗng nhiên, có vài miếng ớt. Tôi nhai ớt. Chẳng cay gì. Ăn xong, tôi bỏ về nhà trọ mặc Thịnh đi tập dượt âm nhạc. Nằm trên giường một mình tôi lôi cuốn vở chép đầy thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính ra nghiền ngẫm. Vớ ngay được bài "Hoa gạo" của Nguyễn Bính. Tôi rên siết với tâm sự của thi sĩ:

Anh đã từng đi khắp bốn phương

Tháng hai anh có thấy trên đường

Những hoa gạo đỏ tươi mầu máu

Nhàu nát như người lính tử thương

Anh ạ, tôi buồn không thiết nói

Cánh tình lỡ rụng tự hôm qua

Một khi tình rụng như hoa rụng

Máu đỏ lìa tim dạ xót xa.

Tôi đang là "người lính tử thương." Máu đỏ vừa lìa tim tôi. Chàng Tú Uyên ở thôn Bích Câu ngày xưa có giống tôi ở gác trọ đường Ngô Thời Nhiệm không nhỉ? Bố mẹ tôi nhờ Thịnh săn sóc tôi. Nó đã không săn sóc chu đáo. Nó đã dạy tôi yêu đương rồi bỏ dở dang khi tôi mới tập "đánh vần." Tôi buồn quá, buồn quá. Ra đứng sát cửa sổ, hai bàn tay nắm lấy hai song sắt. Tôi sắm vai kẻ thất tình bị nhốt trong cũi ái ân. Tôi muốn trở về Thái Bình, trở về miền đồng chua nước mặn của tôi, gục đầu vào lòng mẹ tôi, khóc nức nở. "Mẹ ơi, con không muốn học nữa, con muốn lấy vợ!" Phải, tôi sẽ lấy vợ, sẽ bắt chước một thi sĩ: "Rồi một ngày kia em lấy chồng. Anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em mấy, Anh lấy cho anh bớt lạnh lòng." Tôi sẽ chẳng thèm biết Hà Nội là gì nữa. Tôi không có số đào hoa, không có số "lơn" gái. Nhưng tôi trở về Thái Bình, bố mẹ tôi sẽ buồn lắm. Thôi ta vùi đầu trong sách vở vậy. Ta sẽ đỗ tú tài. Ta học thuốc, làm bác sĩ, các em sẽ lăn sả tới yêu ta. Ta gạt đi, thề không yêu để trả thù con gái. Ðương mơ mộng vậy thì em gái đi chợ về...

:rose: CHUONG4

Nàng ngước mắt lên "Ðôi mắt huyền trong sa mạc" của công tử Phát Diệm đăm đăm trông lên. Không, nàng là khóm dừa ở sa mạc và tôi là kẻ đang khát nước, đang thèm. Nàng cười. Rồi dừng chân, hỏi tôi:

- Không đi học à?

Sao nàng chẳng trông lên mãi, đừng hỏi han, để tôi nhìn xuống cho linh hồn "hai đứa" nhìn nhau. Mà lại hỏi tôi?

- Không đi học à?

Tôi lắc đầu. Tim tôi đập mạnh. Máu đỏ lìa tim đã trở về.

- Trốn học à?

Tôi lí nhí đáp:

- Không..."chị" ạ!

Nàng chưa nghe rõ, hỏi lại:

- Trốn học à?

- Không.

Lần này tôi bỏ tiếng "chị." May quá, suýt nữa "hố" to. Nàng hỏi trống không, tôi cũng trả lời trống không. Cụ Nguyễn Ðình Chiều, ngày xưa, còn can đảm hơn tôi ngàn lần. Cụ dám cho Lục Vân Tiên sảng quát:

- Quê đâu tên họ là chi

Khuê môn phận gái việc gì tới đây?

Gặp nhau chớ giấu nhau này

Hai người ai tớ ai thầy nói ra...

Và nàng của Lục Vân Tiên bèn "khai lý lịch":

- ... Tôi Kiều Nguyệt Nga

Còn nàng tì tất tên là Kim Liên

Quê nhà ở huyện Tây Xuyên

Cha làm tri phủ nhậm miền Hạ Khê

Cho quân đem bức thư về

Ðón tôi ở đó định bề nghi gia

Làm con đâu dám cưỡng cha

Nước non ngàn dặm xông pha cũng đành

Bỗng đâu gặp sự bất bình

Biết vầy tôi dám đăng trình làm chi

Lâm nguy nay gặp giải nguy

Nếu chàng không cứu còn gì là tôi.

Cuộc tỏ tình không có gì "xuất sắc" nhưng nhanh chóng. Nàng tấn công trước:

- Trước xe quân tử tạm ngồi

Ðể cho tiện thiếp lạy rồi sẽ phân

Hà Khê qua đó cũng gần

Xin theo cùng thiếp đền ân cho chàng

Nói thôi, trao chiếc trâm vàng

Gọi là chút vật mọn thường làm tin.

Chỉ cần:

- Vân Tiên ngoảnh mặt chẳng nhìn.

Và:

- Nguyệt Nga lúc ấy càng thìn nết na.

Là đôi người trai gái của cụ Nguyễn Ðình Chiểu đã yêu nhau, đã trao tượng kỷ iệm và "hẹn ngày tái ngộ." Còn tôi, chả biết tỏ tình thế nào.

- Ðứng đấy làm gì?

- Chơi.

- Không đi học ở nhà ngủ à?

- Không.

- Thế làm gì?

- Giặt quần áo!

- Ðưa đây giặt cho.

Nàng đòi giặt quần áo cho tôi? Triết lý "mèo mù vớ cá rán" đã sáng tỏ rồi chăng? Tôi thộn mặt, ngó xuống.

- Ðưa đây giặt cho.

- Thật hả?

- Thật.

- Nói dối thì sao?

- Chết.

Tôi bị khói tình vướng mắt. Cay sè. Nhưng vẫn tỉnh. Học trò đi trọ học chỉ có vài bộ quần áo. Ném xuống tức là đưa quần áo vào cuộc viễn du không hứa hẹn ngày về. Nhưng lại thèm nhờ nàng giặt quần áo giùm. Không nhờ nàng, nàng chê thì hối hận suốt đời. Tôi mới chọn bộ quần áo "tã" nhất, gói vào tờ báo, ném xuống. Bộ quần áo ấy, nếu nàng "chơi xỏ" đem về làm giẻ lau nhà, tôi cũng chả tiếc. Vì nó đã sờn cổ, mòn đầu gối rồi. Bộ quần áo thân mến của tôi là con bướm trắng của Nguyễn Bính. Con bướm trắng đã đậu trên tay nàng.

- Mai đưa.

- Sáng hay chiều?

- Sáng. Mà đưa lên cách nào?

- Ðể nghĩ kế.

- Nghĩ nhanh nhanh đấy.

Nàng trở bước rồi khuất dạng khi cửa say nhà nàng cài then. Tôi ngẩn ngơ một lát như người say thuốc lào. Mở va ly lấy gương ra soi mặt mình. Lẩm bẩm "mình đẹp trai lắm." Và tôi với gương nói chuyện hàng giờ. Buổi trưa, Luyến, Côn, Thịnh, Khải, Thông, Ðệ về học, tiếp tục "kê" nhau chuyện "lơn" gái. Tôi nằm yên tưởng tượng nàng đang "đánh hơi" tôi, nàng đang hôn hít bộ quần áo đã mặc suýt soát tuần lễ của tôi.

Không còn gì thích thú hơn nằm tưởng tượng một người con gái vừa quen nghĩ ngợi về mình. Tôi thấy hương yêu tràn lan ngập căn gác trọ, hương yêu đã "tẩy uế" những mùi hôi hám từ những bộ quần áo, những thân thể lười tắm gội của bọn học trò trọ học. Bữa cơm trưa hôm ấy, tôi ăn không được. Tự nhiên, dạ dày căng ra. "Giáo sư" Thịnh tưởng tôi...đau tương tư. Nó kêu tôi xuống nhà, an ủi tôi:

- Tao sẽ tìm một em cho mày...tập yêu.

Tôi lắc đầu. Thịnh nói:

- Hai em "nhà bên kia" già "giơ" lắm. Mày chưa đủ "thớ" đâu. Ngay thằng sở khanh Lý Thông mà còn sẽ "tho" nữa là mày, mày nên nghe tao, đừng buồn.

- Tao buồn à? Việc chó gì tao phải buồn.

- Mày giận tao, hả?

- Việc chó gì tao phải giận mày.

- Tao hứa sẽ dẫn mày tới nhà thằng bạn tao. Nó có con em đang học đệ ngũ, dốt toán lắm. Tao giới thiệu mày với bạn tao, nó sẽ nhờ mày kèm toán em gái nó. Rồi mày vừa dạy toán vừa..tán. Lửa gần rơm mới bén chứ.

- Tao cóc cần mày.

- Mày muốn "làm lấy mà ăn?"

- Không biết.

Tôi giấu ỉm chuyện nàng hỏi han tôi, xin làm thợ giặt cho tôi. Kể cho Thịnh nghe, lỡ nàng không trả bộ quần áo tã của tôi, nó sẽ chế nhạo tôi hoặc nàng trả, nó sẽ phá đám. Tôi biết tính Thịnh rồi. Tôi lại trót cười Thông, Khải, Ðệ. Tôi không muốn trở thành cái chìa khóa mở kho cười thứ tư. Chẳng phải khôn ngoan đâu, vì nhút nhát, khờ khạo như Xuân Diệu đã phán "Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá, Chỉ biết yêu thôi chả hiểu gì."

- Thì kệ mày.

Nó kháy tôi:

- Chiều mai tao rủ hai em lên Voi Phục.

Và trộ:

- Hai em viết thư trả lời "đắc co" rồi.

Nó huýt sáo bài "La vie en rose." Tôi bỏ nó với nỗi vui của nó, lên gác nằm tưởng tượng nữa. Tôi không tin mà cứ tin hai em đã yêu "giáo sư" Thịnh. Thịnh nó xúi em chơi xỏ tôi chăng? Nó đã âm mưu những trận cười để Thông, Khải, Ðệ làm hề thì cũng có thể đưa tôi lên sân khấu cười. Con nhà Thịnh ghê thật. Tôi tự trách tôi, trong vài phút thiếu suy nghĩ, đã gói bộ quần áo, ném xuống. Tôi lại tưởng tượng bộ quần áo tôi sẽ mất như tình thứ nhất của tôi sẽ mất.

Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất

Anh cho em kèm với một tờ thư

Em không nhận tức là tình anh mất

Tình mất đi ai lấy lại bao giờ.

Tôi bốc đồng, nhại mấy câu thơ trên:

Tôi chỉ có một tình yêu thứ nhất

Dâng cho em với bộ áo quần hôi

Em không trả tức là tình tôi mất

Tình mất đi còn bị chúng nó cười.

Bài thơ phóng tác đầu tiên trong đời tôi đấy. Có những kỷ niệm mà khi nhớ lại, người ta tiếc thương não nề. Kỷ niệm làm thơ của tôi, bây giờ, hồi tưởng, tôi muốn độn thổ. Long ơi, mày đã làm bài thơ thối nhất, "Thái Lọ" nhất. Tôi hồi hộp, lo sợ ngày mai. Tôi nghĩ được cách đem quần từ dưới lên gác rồi. Nhưng cách đó sẽ vất đi, nếu người yêu dấu nhất định dùng bộ quần áo của tôi làm giẻ lau nhà.

Ngày mai, ngày dài nhất, ngày có "Bình minh nạm vàng" hay "hoàng hôn chết chóc" đều phụ thuộc vào sự "hồi chủ" của bộ quần áo tã. Tôi đi chơi trắng buổi chiều. Về ăn cơm. Lại đi qua cửa trước nhà nàng. "Chàng qua chiều ấy qua chiều khác." Người ta qua kỹ quá. Tôi chỉ dám qua mỗi một lần. Tự nhiên tôi muốn nàng chết đi, nàng chết như người trinh nữ của thi sĩ Nguyễn Bính. Ðể tôi mang tâm sự của một "anh chàng":

Nàng đã qua đời để tối nay

Có chàng đi hứng gió heo may

Bên hồ để mặc mưa rơi ướt

Ðếm mãi bâng quơ những dấu giày.

Ðêm về, tôi cố nhắm mắt mà không sao ngủ được. Chỉ sợ mình biến thành chìa khóa mở kho cười vô tận thôi. Sáng dậy, tôi run sợ, đắp chăn kín mặt. Chờ chúng nó đi học, đi "bát" hết, tôi mới chổi dậy, xuống nhà rửa mặt đánh răng. Và không thèm ăn sáng, tôi thập thò ở cửa sổ, chờ đợi nàng. Huy Cận nói thật đúng: "Thuở chờ đợi ôi thời gian rét lắm." Rét quá. Rét muốn run. Sao chưa thấy nàng đi chợ? Sao chưa thấy nàng về? Không có lá rơi nữa vì lá rơi hết rồi. Nhưng tôi tưởng lá đang rơi trong thơ Nguyễn Bính: "Tìm nàng chẳng thấy nàng đâu. Lá rơi lả tả bên lầu như mưa." Bên khung cửa của gác trọ, tôi đã tập mơ mộng. Sự học của tôi, sau này, lỡ dở chính là vì tôi đã mơ mộng quá sớm. Tôi ngó đồng hồ. Chín giờ. Chợt nhớ bài dạy yêu của "giáo sư" ái tình Thịnh, rồi rút điều Catab, bật diêm, châm thuốc, hút. Lớp khỏi đầu tỏa ra. Hơi lạnh kìm chân nó, không cho nó bay nhanh, tan chóng. Trong khói thuốc Catab, lẫn cả hơi khói thở của tôi (mùa lạnh, khỏi cần hút thuốc thở ra hơi như khói thuốc mà,) tôi nhìn rõ ràng. Nàng mặc áo len màu xanh lam. Giáng Kiều của Tú Uyên đấy, Giáng Kiều đi chợ Hôm còn Tú Uyên đứng trên gác trọ phân vân chẳng hiểu Giáng Kiều có định trả bộ quần áo tã hay đã dùng bộ quần áo tã của Tú Uyên làm giẻ lau nhà. Tôi nhìn điếu thuốc "Ngó trên tay thuốc lá cháy lụi dần." Lại nhìn ngõ hẻm. Giáng Kiều đã về.

Mỗi bước chân nàng là mỗi tiếng đập của trái tim tôi. Nàng càng tới gần, tim càng muốn long ra. Lo sợ quá nó hóa thành liều. Và liều thì dễ biến thành...anh hùng. Nàng dừng lại. Ngước mắt nhìn lên. Tôi nhìn xuống. Bốn con mắt gặp nhau. Không, bốn cửa sổ linh hồn đã mở rộng. Nàng hỏi:

- Không đi học à?

Vẫn hỏi trống không như hôm qua. Tôi đáp:

- Không.

- Trốn học, hả?

- Không, có giờ "péc ma năng."

- Lấy quần áo nhé?

- Vâng.

Nàng cau mày. Tôi vội nói tiếp:

- Ừ, lấy quần áo.

Nàng lại cau mày. "Giáo sư" Thịnh chưa dạy tôi cách xưng hô với "đào." Vâng hay ừ? Ngôn ngữ của tình yêu còn chữ gì khác vâng và ừ. Tôi bèn gật đầu. Nàng mỉm cười. Nụ cười của nàng như cơn nắng ấm mùa xuân. Lòng tôi được nhóm lửa. Nàng vẫy nhẹ cánh tay:

- Chờ nhé!

Rồi nàng đẩy cửa sau, khuất bóng. Tôi đã sửa soạn xong cái cách đem bộ quần áo từ dưới lên gác rồi. Và tôi làm ngay. Tôi thông những sợi giây giăng màn được nối dài qua cửa sổ. Y hệt một ngư phủ buông cá. Tôi chờ nàng, chờ cái phao động đậy. Lát sau nàng mở cửa, mang theo bộ quần áo là của tôi, gói cẩn thận bằng tờ báo Tia Sáng (tôi nhớ kỹ lắm). Tôi xấu hổ, không dám ló đầu ra, sợ người khác trông thấy họ cười chết. Nàng lên tiếng.

- Này, này...

Tôi nhú nửa cái đầu, nhích thêm qua cái cằm, vọng xuống:

- Gì?

- Quần áo đây.

- Buộc vào đầu sợi dây giùm đi.

- Dây gì nhỏ thế?

- Dây gai.

Nàng không hỏi thêm. Tôi cũng không dám đứng thẳng. Ðến khi tôi thấy sợi dây gai trùng xuống, và nghe tiếng then cửa gài, mới hay nàng đã buộc gói quần áo vào dây và về nhà. Tôi kéo sợi dây lên, kéo lên. Chả biết phải tả niềm sung sướng lúc ấy như thế nào, dù hôm nay, trời đầy đọa tôi, bắt tôi làm nghề viết tiểu thuyết, tưởng tượng vượt ngục mà vẫn chẳng tưởng tượng nỗi ngôn ngữ để viết cho mối tình còm của mình. Chỉ biết so sánh nỗi sung sướng kéo dây như nỗi sung sướng của cậu học trò nghe rõ tên mình đọc oang oang trong buổi chiều tuyên bố kết quả thi tú tài.

Tôi mừng quýnh, kéo mạnh. Sợi dây gai nhỏ bị tôi "hành hạ," tức quá, bèn đứt. Tôi giật mình đánh thót một cái. Rồi đứng lên, cố chui đầu qua hai chấn song sắt cửa sổ. Tôi lách, lách hoài. Cái đầu tôi đáng ghét ghê. Nó to một cách lố bịch, nó nhỏ đi chừng một nửa, tôi đã thò được cổ xuống ngó. Nhưng tại cái đầu to, nên tôi không biết số phận của bộ quần áo tã của tôi, hiện giờ, ra sao. Tôi không tiếc nó, tôi muốn hít hà nó, vì nó đã được nàng nâng niu, được nàng ôm ấp và phả hương tình vào đó. Cứ đứng thẫn thờ ở khung cửa sổ sau cơn phẫn nộ y hệt người lính thủy đứng trên boong tàu cặp bến, ngó người yêu sau mấy tháng lênh đênh ngoài khơi mà không được nhảy xuống, không dám nhảy bổ xuống vì vừa bị xếp phạt. Người yêu về nhà, cơn phẫn nộ tan như bọt biển còn lại sự thẫn thờ. Tôi đã thẫn thờ giống người lính thủy.

Nàng đứng giữa sân nhà nàng nhìn tôi mà tôi không hay. Dường như, nàng đã giả vờ ho, giơ tay làm hiệu. Tôi vẫn không biết. Tới lúc nàng lên tiếng quát:

- Con Lu Lu hư quá!

Tôi mới hồi tỉnh, ngẩng mặt nhìn sang nhà nàng.

- Ðược chưa?

- Chưa.

- Sao thế?

- Ðứt dây.

Cuộc đối thoại tình yêu lý tưởng là cuộc đối thoại vắng tiếng "em, anh."

- Xuống nhặt lên.

- Sợ.

- Sợ gì?

- Sợ người.

Giữa cái giây phút thiêng liêng đó, bà mẹ của nàng xuất hiện. Nàng giả vờ:

- Con Lu Lu hư quá, mắng nó, nó cứ trơ ra.

Tôi có cảm giác mình là con Lu Lu. Con Lu Lu hư quá nó làm đứt sợi dây. Tôi ngoan ngoãn xuống nhà mở cổng trước đi tới chỗ bộ quần áo của tôi. Tôi muốn khóc. Bộ quần áo của tôi nằm giữa rãnh nước dơ bẩn. Dưới cửa sổ còn có cái rãnh, nay tôi mới biết. Lặng lẽ, tôi nhặt gói quần áo, ngó trước trông sau và đi nhanh về cửa trước. Tôi day cổng, biến vội lên lầu. Bóc tờ báo Tia Sáng ra, tôi cầm chiếc áo sơ mi, định ngửi mà còn ngại ngùng. Cuối cùng, tôi đóng chặt các cửa, bật điện, cởi bộ quần áo tôi đang mặc, thay bằng bộ quần áo tã nàng vừa giặt, là cho tôi. Tôi tìm những chỗ chưa bị thấm nước cống, hít hà say sưa. Có mùi vị lạ lùng thật. Tôi không ngửi thấy mùi nước cống tuy, vô tình, tôi đã để mũi tôi chạm phải chỗ áo thấm nước cống.

Nàng đã ướp hương tình vào quần áo tôi. Và tôi đang truyền hương tình vào mạch máu tôi qua da thịt. Tôi nằm dài trên giường, lấy chăn của Thịnh đắp kín. Tôi lăn đi lộn lại. Rồi cũng phải thay quần áo. Ðem xuống nhà "tắm" cho cả quần áo lẫn người. Sáng đó lạnh lắm. tôi xối nước lạnh ầm ầm, chẳng biết lạnh gì cả. Lên gác, tôi mở tung cửa, ngâm thơ ong ỏng. Và lại đứng bên cửa sổ, nhìn sang kiếm nàng. Nàng mở cửa sau:

- Nhặt lên rồi à?

- Rồi.

- Có sao không?

- Rơi xuống rãnh.

- Vất đây giặt lại giùm.

- Thôi.

- Sao lại thôi?

- Giặt rồi.

- Lần sau nhé? Ðừng sợ nghe chưa.

- Không sợ đâu.

- Thích ăn gì không, mai đi chợ mua cho.

- Ăn gì cũng được.

- Vất cuộn dây dưới này, lát xuống lấy nhé!

Nàng "nghĩ" đến tôi chu đáo quá. "Giáo sư" ái tình Thịnh đã giảng cho tôi nghe một câu: "Khi người con gái nghĩ đến người con trai là nàng yêu chàng, là cá đã cắn câu." Nàng đã yêu tôi rồi chăng? Tôi phấn khởi quá, quên cả chuyện đáp xe Con Voi của ông Lê Văn Ðịnh về Thái Bình, gục đầu vào lòng mẹ tỉ tê: "Con muốn lấy vợ."

Nàng đã khép cửa. Tôi đang định phóng xuống lấy cuộn dây thừng, bọn chúng nó kéo về cả lũ. Bữa cơm trưa vui vẻ lạ lùng. Tôi ăn thật nhanh, len lén xuống nhà, chạy ra con ngõ "nhà nàng," nhặt cuộc dây, giấu kỹ vào cạp quần. Rồi cao hứng, tôi rủ cả bọn đi xi nê. Không đứa nào hiểu tại sao trưa nay tôi bốc đồng, học đòi lối chơi hào hoa của công tử nhà giàu. Học trò đi trọ vốn là những thằng học trò kiết. Vớ món bở, chúng nó ào ra gặm, nuốt. Bỏ giấc ngủ trưa, chúng nó theo tôi, kéo nhau lên tận hàng Cót, rúc vô rạp Ðại Ðồng. Tan xi nê, cả bọn kéo nhau tới Cổ Ngư ăn bánh tôm, hút thuốc Cotab và nhìn gió Ðông lướt vẻ thê lương trên mặt hồ Tây, hồ Trúc Bạch.

Tôi bốc đồng liên miên. Và như vậy, mỗi tháng tôi đều "phịa" ra một căn bệnh để "nã" tiền gia đình. "Thưa bố, từ tháng này con học thêm các lớp chuyên dạy Toán, Lý, Hóa, Anh văn, Pháp văn. Thức đêm nhiều quá con bị đau mắt phải đến y sĩ Lê Toàn chữa nên tiền tháng này tiêu hụt, bố gởi thêm cho con một ngàn nữa." Thư gởi chừng tuần lễ, tôi nhận được thư bảo đảm của bố tôi có "măng đa" cùng ít dòng thương mến "Con học từ từ thôi, học chăm quá rất hại cho sức khỏe. Bố gởi thuốc tễ lên cho con tẩm bổ." Xoay tiền bố mẹ mãi đâm ra ngượng, tôi xoay tiền các cô tôi: "Thưa cô, cháu đã đi học đàn violon. Hiềm vì chưa có tiền mua đàn. Cô cho cháu tiền mua đàn cô nhé! Tết về cháu kéo đàn violon cho cô nghe..." Lại có tiền để "thả" bọn Thịnh, Luyến, Thông.

Nhà đạo đức Ðặng Xuân Côn thấy tiêu điêu đứng như "nước" đã khuyên nhủ vài điều. Tôi không nghe. Nó tức mình, viết thư mách bố tôi thì nó không nỡ nên cương quyết bỏ nhà trọ vác va ly tới hàng Bông Thợ Nhuộm ở với bà thím, ăn học cùng anh em Vũ Thượng Văn. Nó đâu biết ái tình đã hành hạ tôi, ái tình đã thay đổi một thằng "Thái Lọ" chân chỉ hạt bột, bỏ trường, tập ăn diện và suốt ngày lang thang ở Bách Thú, Voi Phục, Láng cùng "giáo sư" Thịnh bàn chuyện yêu đương và mang trong tim một ý nghĩa phi thường là... sẽ làm thơ đăng báo. "Giáo sư" ái tình của tôi chưa hề biết "em của nó" đã giặt quần áo cho tôi, đã tặng tôi một cuộc dây - không, một sợi dây tơ hồng - đã nói chuyện với tôi. Tôi muốn giấu kỹ chuyện này... Một tuần liền, sau ngày bộ quần áo tã của tôi được ướp hương thơm của nàng, tôi không dám nhìn nàng. Vì chúng nó nghỉ lễ cả tuần. Nghèo xác, nằm ì trên gác trọ, không tiền du hí.

Với lại, tôi cũng thích áp dụng nghệ thuật câu cá của "giáo sư" Thịnh. Cho cá chờ mồi chụp hụt đi, rồi quăng câu là cá sẽ mắc lưỡi. Một tuần sao mà dài thế! Một tuần trong mùa đông càng dài. Và càng dài một tuần trong mùa đông, người học trò tỉnh nhỏ lên Hà Nội trọ học, tấp tểnh yêu một người con gái Hà Nội. Tôi đã chờ đợi tuần lễ dài nhất trong đời tôi. Nhì nàng, không dám gọi, không dám "đối thoại" vu vơ "chỉ e" chúng nó cười và giáo sư Thịnh "hại" độ đệ để "phỗng tay trên." Nhưng một tuần lễ dài nhất cũng phải qua đi. Chúng nó lại đi học. Và tôi có nhiều dịp, một mình đứng bên cửa sổ, nói với người yêu, ném quần áo dơ xuống cho người yêu đem về giặt, là, ướp hương tình và nước hoa. Bây giờ, không sợ quần áo rớt xuống rãnh nữa. Yêu nhau lợi thật, đỡ được khoản giặt quần áo.

Chúng tôi âm thầm "yêu đương." Loài người câm nín, loài người điếc tai. Không ai biết chúng tôi tỏ tình bằng dây từ dưới con ngõ nhỏ lên căn gác trọ.

:rose: CHUONG5

Có hai thứ không thể giấu giếm được: Là khói và ái tình. Chả hiểu văn sĩ hay danh nhân nào đã "chế" ra câu này. Khói và ái tình giữ kín cách mấy nó cũng thoát được. Luyến đã biết tôi dan díu với nàng. Một sáng, có giờ "péc ma năng," nó lần về nhà trọ, hỏi tôi:

- Mày "lơn" được em chưa?

- Chưa.

- Ðừng nói dối. Mày không giấu được tao đâu.

- Ai thèm giấu.

- Cổ áo mày kia kìa, con ơi!

Tôi ngạc nhiên, Luyến chỉ tay vào cổ áo tôi:

- Ðứa nào thêu xanh đỏ ở mép dưới cổ áo mày đó?

Chiếc sơ mi trắng mới nhờ nàng giặt hôm kia, tôi lôi ra mặc, không xem xét gì cả. Bây giờ, Luyến nói dưới cổ áo có "đứa nào" thêu xanh đỏ, tôi vội vàng cởi một cái khuy vạch ra xem. Thấy hai chữ B.N. ôm ấp, ràng buộc nhau bằng chỉ màu. Tôi nóng bừng hai mang tai. Và chả khôn ngoan tí nào, tôi khai hết với Luyến như một nhà cách mạng tép riu, vừa gặp "cớm" đã hối hả "em trót dại từ nay em chừa không làm cách mạng chống đối nhà nước nữa."

Luyến võ đùi đét một cái:

- Tao đoán đúng ghê.

Tôi hỏi:

- Mày đoán gì?

- Tự nhiên mày dở chứng nói năng suốt ngày và "bao" tụi ông liên miên. Ông đoán chỉ có ái tình mới gây nhiều biến chứng thế.

Luyến xoa cái cằm chưa có râu của nó:

- Triết lý "mèo mù vớ cá rán" luôn luôn đúng ở mọi chân trời.

Nó hất đầu:

- "Dính" bao lâu?

Tôi ngoan ngoãn đáp:

- Hơn hai tuần.

- Tên em là gì?

- Tao chưa hỏi.

- Em hỏi tên mày chưa?

- Chưa.

- Mày gọi em bằng gì?

- Bằng...trống không!

- Ðồ ngu.

- Thế gọi bằng gì?

Luyến ngẩn ngơ giây lát. Rồi gật gù:

- Khó thật. Tao chưa "lơn" em nào nên không biết gọi bằng gì.

Tôi hỏi:

- Ở nhà mày gọi vợ mày bằng gì?

Luyến sáng rực mắt:

- Bằng...mình nhưng khi tao có con, tao gọi bằng...mợ!

Tôi liếm mép:

- Tao gọi bằng "mình" được không?

Luyến nói:

- Ðược.

Nó vội xua tay:

- Mà không được đâu. Dân Hà Nội nó "đét" dùng tiếng của dân Thái Bình. Mày gọi nó bằng "mình," nó chê mày dân "cả quỷnh," nó hết yêu mày thì bỏ bố.

Luyến lại vỗ đùi đét một cái:

- Tao nghĩ ra rồi.

Tôi hối thúc:

- Gọi bằng gì?

- Bằng tên em.

- Nhưng chưa biết tên em?

- Thì hỏi.

- Hỏi sao?

- Ðồ ngu! Thế mà cũng đòi yêu.

Tôi nhìn Luyến, ngâm nga thơ Xuân Diệu:

Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá,

Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì...

Luyến phì cười. Nó mách nước tôi:

- Mày viết thư hỏi tên nàng đi. B.N. phi Bảo Ngọc thì Bình Nguyên.

Tôi nuốt nước bọt:

- Tao muốn nàng là Bảo Ngọc.

Luyến bỏ rơi chuyện Bảo Ngọc, Bình Nguyên... Nó bỏ rơi luôn chuyện "dạy" tôi cách xưng hô với nàng. Luyến chép miệng:

- Thôi, mày làm lấy mà ăn cho nó ngon.

Nó nheo mắt:

- Còn món quà chợ?

Tôi ngập ngừng:

- Khoan đã.

- Khoan gì nữa! Nàng cho ăn thì phải ăn chứ. Mỗi sáng thả cái hộp bánh "bích quy" xuống, kéo chuối tiêu, hồng, cốm lung tung beng lên mà chén cho nó lên cân. Tao với mày thôi, nghe chưa?

- Ừ.

- Từ mai nhé.

- Ừ.

Luyến bỗng phá ra cười:

- Ông được cuộc thằng Thịnh rồi.

Nó đắc chí:

- Mẹ, tâm lý học cũng vất đi nếu thánh nhân không đãi. Thánh nhân mà đãi mèo mù vẫn vớ cá rán ngon. Thiếu gì những thằng rỗ huê, vổ răng, "lơn" nổi những em đẹp tuyệt trần.

Luyến kể công:

- Nhờ tao đấy nhé!

Tôi đinh ninh nàng đã yêu tôi rồi. Tại sao nàng lại yêu tôi. Xuân Diệu bảo:

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu

Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu.

Thuộc thơ có lợi thật. Hễ "bí" nghĩa tình yêu, cứ đem thơ ra mà tự giải nghĩa. Tôi đã âm thầm "ăn quà" của nàng. Mỗi sáng, tôi thòng cái hộp "bích quy" xuống. Chừng chín giờ kéo lên, hộp "bích quy" của tôi đã đầy các thứ bánh trái. Nhưng tôi vẫn chưa dám hỏi tên nàng là gì. Mãi tối hôm tôi thấy, dưới bánh trái, có một mẩu giấy viết bằng bút chì như vầy:

"Này,

Mai đi Hải Phòng nửa tháng mới về cơ, có nhớ không? Hôm về, sẽ mua quà cho. À, đi cả Hải Dương luôn. Ăn bánh đậu xanh nhé! Cho biết tên đi. Sẽ gởi thư luôn.

Bảo Ngọc"

Tôi vừa biết tên nàng là Bảo Ngọc thì nàng lại đi xa. "Ôi, cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!" Tên em sao đẹp thế! Bảo Ngọc. Bảo Ngọc, con nhà Luyến đoán trúng ghê. Nó đã dạy tôi một "ngón." Tôi đem ra áp dụng liền nghĩa là viết thư cho nàng, xưng hô bằng tên.

"Bảo Ngọc,

Mai đi Hải Phòng, Hải Dương à? Long nhớ chứ. Chả nhớ Ngọc thì ai. Nhớ mua nhiều bánh đậu xanh đấy. Long sẽ nhờ ai giặt quần áo? Ðừng quên Long nhé!

Long"

Có một dòng chữ còm mà tôi phải ráp, viết đi viết lại cả chục lần. Tôi chờ nàng thấp thoáng ở sân bên ấy, thòng cái hộp "bích quy" chở thư tình của tôi xuống. Nàng mở cửa sau ra nhận thư, trong lúc tôi tìm cách trốn tránh. Vũ Hoàng Chương diễn tả tâm trạng của anh chàng mới tập yêu viết thư tình và gởi cho người yêu thật hay:

Lá thư tình xưa nhớ lúc trao tay

Còn e ấp thuở duyên vừa mới bén

Ai dám viết yêu đương và hứa hẹn

Lần đầu tiên ai dám nói em anh

Nét thon mềm run rẫy gắng đưa nhanh

Lòng tự thú giữa khi tìm trốn nấp

Mươi hàng chữ đơn sơ, ồ ngượng ngập

E dè sao mươi hàng chữ đơn sơ

Màu mực tươi xanh ngát ý mong chờ

Tình hé nụ bừng thơm trong nếp giấy.

Lần thứ nhất trong đời, tôi đã viết một mẩu thư tình gởi một người con gái. Mèo mù "Thái lọ" vớ cá rán Hà Nội. Kẻ khù khờ là tôi đây, được thánh nhân đãi ngộ xứng đáng. Tôi đã biết thế nào là tương tư. Gió mấy hôm liền thật ít. "Xa nhau gió ít lạnh nhiều." Nàng xa tôi, xa căn nhà bên kia để đi mãi Hải Phòng, Hải Dương. Tôi đã mơ mộng được làm toa xe lửa, làm chiếc xe ô tô chở nàng đi. Và gần gũi, thiết tha hơn, tôi muốn làm một cái ghế cho nàng ngồi lên cho ấm áp.

"Giáo sư" Thịnh thấy tôi vui buồn bất chợt, tưởng tôi thất tình thật sự, an ủi tôi khiếp quá. Nó "phiệu" rằng nó đã mời hai nàng đi xi nê và hôn một nàng vào môi. Luyến cười khúc khích. Tôi phải nháy mắt Luyến mới "phanh" miệng nó lại. Chúng tôi mặc kệ Thịnh nói phét, ái tình dạy khôn tôi nhiều ghê. "Giáo sư" Thịnh dạo này tập sáng tác nhạc.

Nó làm bản "Duyên Anh" lâm ly ra phết. "Thu tan mơ, lá vàng rơi lác đác. Bao năm qua, tôi vẫn chưa quên nàng. Ai đi dứt cung đàn vương trên mái thơ, muôn kiếp hững hờ, duyên anh nhuốm hận sầu mơ..." Nó đã cùng tôi đem tới nhờ danh ca Quách Ðàm, Kim Tước trình bày trên Ðài phát thanh Hà Nội. Vào đúng đêm nàng xa Hà Nội, Quáng Ðàm hát bản "Duyên Anh" của Thịnh.

- Sau đây bạn Quách Ðàm sẽ trình bày bản nhạc đầu tay của nhạc sĩ Nguyễn Thịnh.

Nhạc sĩ Nguyễn Thịnh! Ôi "giáo sư" của tôi tài ba, hiển hách vô cùng. Tôi thèm tiếng "sĩ." Bao giờ người ta mới gọi tôi là thi sĩ, chẳng hạn? Giọng ca Quách Ðàm ấm áp. Giọng ca đó bắt tôi "ghen" với Thịnh. Nàng mà biết Nguyễn Thịnh là tác giả nhạc phẩm "Duyên Anh," nàng sẽ hết giặt quần áo giùm tôi, hết cho tôi ăn quà, bánh. Nàng sẽ bỏ rơi tôi. Và tôi sẽ đi ăn mày! Chúng tôi ngồi im trên gác trọ nghe Quách Ðàm hát nhạc Nguyễn Thịnh. Tất cả đều kính phục Thịnh. Dân "Thái lọ" đã có thằng làm nghệ thuật đấy. Bản nhạc chấm dứt, "giáo sư" Thịnh gật gù:

- Khi xuất bản tao đề tặng em.

Luyến hỏi:

- Em nào?

Thịnh kiêu hãnh đáp:

- Em..."em bên kia."

Luyến mỉm cười:

- Tên em là gì?

- Kim Liên.

Luyến quay sang tôi:

- Tên hay nhỉ, Long nhỉ? Một em tên Kim Liên, chắc em kia tên Nguyệt Nga.

Thịnh hí hửng:

- Ðúng thế.

Luyến nháy tôi. Hai đứa cười thầm. Nhưng Thịnh đâu biết. Nó ba hoa:

- Một chiều đi với em, tao bèn có hứng sáng tác bài "Duyên Anh." Duyên Anh là tình anh, tình của anh, "mon amour, my love." Lại còn là sự may mắn của anh "ma chance, my chance." Tao may mắn thật, "lơn" sơ sơ là hai em mê tít thò lò. Lúc tối, khi chia tay, em Kim Liên hôn tao vào má. Hương tình của em ước má tao, tao nhất định không lau, để nó khô đi. Tao lãng mạn không?

Luyến xỏ ngọt:

- Lãng mạn nhất thế giới. Nhưng từ chiều, tao đâu thấy hai em?

Tôi phụ họa:

- Tao thấy hai em xách va li đi đâu ấy.

Thịnh nhún vai:

- Hai em về Nam Ðịnh. Chiều nay tao tiễn hai em ở bến xe. Mãi tối mịt xe mới chạy.

Thịnh không dám "phiệu" thêm. Nó rủ chúng tôi đi ăn phở mừng cuộc đời nghệ thuật của nó. Ðêm ấy, nó nghỉ chơi nhạc ở dancing. Nó kéo tôi đi chơi mảnh, khuyên tôi:

- Thất tình nên làm thơ, càng thất tình làm thơ càng hay. Tất cả thi sĩ trứ danh trên đời này đều bị ái tình nó đá đít hết.

Nó vẽ mộng ước:

- Mày làm thơ, tao phổ nhạc. Chúng ta chọn con đường nghệ thuật mà theo. Bằng cấp làm chó gì. Năm nay tao bỏ thi tú tài à...

Tôi nghe bùi tai quá. Ðêm về, tôi thắp nến, hì hục làm thơ. Tìm vần, nghĩ hình ảnh cả tiếng không nặn nổi một câu. Cuối cùng đành đem thơ Huy Cận, Xuân Diệu ra...phóng tác. Nhưng dù cà phê phin có bắt con tim của tôi đập nhanh cách mấy để hai con mắt tôi không rũ xuống, tôi chẳng "sáng tác" nổi một bài thơ...thương nhớ người yêu. Ðến gần sáng, tôi rúc vào giường, ngủ li bì tới trưa. Ðánh thêm giấc ngủ trưa, tôi dậy, dắt xe đạp khỏi nhà trọ, lẽo đẽo "cuốc" trên những con đường ngập nắng hanh vàng. Lạ ghê, cuối đông mà bỗng dưng có nắng hanh vàng. Ðấy, tôi đã tìm ra hứng thơ. Nắng hanh vàng và câu ca dao "Hà Nội ba mươi sáu phố phường, Hàng Mật, hàng Muối, hàng Ðường trắng tinh, Từ ngày ta phải lòng mình..." Tôi gò lưng tôm đạp vội về gác trọ ngồi ở bàn học, rút thuốc Catab hút và...làm thơ. Hai tiếng đồng hồ sau bài thơ chép lem nhem trên mười bảy tờ giấy nháp được nắn nót cẩn thận như vầy:

Tôi là người học trò nghèo khổ

Em là con gái dậy thì xuân

Tôi với em nói chuyện đã bao lần

Sao vẫn thấy quanh tôi vây lạnh giá

Thuở chờ đợi, ôi thời gian rét quá

Tôi bảo em ngồi xích lại gần hơn

Ngồi gần hơn không có nghĩa là..."lơn"

Tôi ngù dại khù khờ em tôi ạ

Chỉ biết yêu chẳng hiểu gì sốt cả

Ngày em đi tôi khóc bởi tôi buồn

Một chiếc hôn, vâng chỉ một chiếc hôn

Tôi muốn lắm tiếc rằng không dám "gạ"

Em cứ hẹn nhưng em đừng hôn nhá

Ðể lòng buồn tôi dệt những vần thơ

Em xa tôi em có hiểu bây giờ

Tôi hút thuốc nhìn em trong khói thuốc

Nếu đêm nay em nằm mơ nghe được

Thì nhớ là "anh đã nói yêu em."

Tôi phì phào thuốc Catab, ngâm khe khẽ. Và bằng lòng lắm. Tôi sẽ đề tặng "Trìu mến tặng Bảo Ngọc, người em gái của lòng tôi." Câu tặng bay bướm này tôi "thuổng" của Nguyễn Minh Lang. Trong tập truyện đầu tay "Trăng Ðồng Nội," Nguyễn Minh Lang đề tặng nữ ca sĩ Tâm Vân, "Trìu tặng Tâm Vân, người em gái của lòng tôi." Tôi thêm chữ "mến" vào cho nó khác. Tôi tin tưởng Bảo Ngọc sẽ cảm động sướt mướt. Một thi sĩ mới bước chân vào làng thơ, "chế" được bài thơ nào là giấu như mèo giấu kít. Khác hẳn những nhà thơ đã vào làng thơ lâu năm, sáng tác bài mới là bắt anh em nghe điếc cả lỗ tai. Và còn giải nghĩa những tư tưởng kín đáo trong bài thơ của mình nữa chứ. Tôi giấu kỹ bài thơ của tôi, phần sợ chúng nó chê mình thối, phần muốn làm ngạc nhiên "giáo sư" Thịnh. Tôi nghĩ cách gởi đăng báo. Hồi ở Thái Bình, nhà tôi đọc báo Giang Sơn của ông Hoàng Cơ Bình. Lên Hà Nội, tôi tiếp tục mua báo Giang Sơn và tôi quyết định gởi "thi phẩm" đầu tay của tôi cho báo Giang Sơn. Ðây là sự mạo hiểm phi thường.

Tôi viết một bức thư cho người phụ trách mục "Thi ca học sinh" của báo Giang Sơn như vầy:

"Hà Nội, 7-2-19...

Kính thưa anh,

Em là độc giả trung thành của nhật báo "Giang Sơn, "tọa soạn và trị sự số... Hàng Trống, Hà Nội, hộp thư số...dây nói số... Hàng ngày theo dõi mục "Thi ca học sinh" do anh phụ trách, em lấy làm phục anh vô cùng. Thơ anh hay không thua gì thơ Huy Cận, ăn đứt thơ Thanh Nam và Hoàng Công Khanh. Em thèm được nổi tiếng như anh quá.

Hôm nay, em lấy hết can đảm viết thư tới ca ngợi và mong anh nhận em làm em nuôi. Sau đây em gởi anh "tác phẩm" đầu tay của em nhan đề, "Tình em, duyên anh" do chính em sách tác suốt một đêm liền. Em hy vọng anh khuyến khích em bằng cách cho đăng lên mục "Thi ca học sinh" để em mạnh dạn tiến bước trên con đường thì ca đầy hoa thơm cỏ lạ. Xin anh đừng từ chối. Anh trả lời em ngay.

Một kẻ ngưỡng mộ anh,

Vũ Văn Long

Bút hiệu Ngọc Long"

Tôi chép bài thơ của tôi thật đẹp. Dưới bút hiệu còn viết thêm câu: "Gác trọ một đêm nhớ người yêu." Tôi bỏ cả thư lẫn thơ vào phòng bì, dám tem và nhờ bưu điện chuyển giùm. Rồi ngày nào cũng đón mua tờ Giang Sơn, dở ngay trang trong coi mục "thư tín." Ba hôm, chả thấy tên mình đâu. Tôi e rằng nhà bưu điện chơi xỏ tôi, dìm một mình tôi ở ẩn. Tôi bèn chép lại thư và thơ. Và đích thân tới tòa soạn vào ty trị sự Giang Sơn bỏ vào thùng thơ của nhà báo.

Cuộc mạo hiểm đến đây mới sinh tử. Nhà mô phạm Nguyễn Bá Học dạy rằng: "Ðường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi đường." Lúc bước chân khỏi cổng nhà trọ, tôi hăng hái đạp xe, tin tưởng bài thơ chứa chan yêu đương của mình lắm. Chừng tới hàng Trống, tim tôi đập lia lịa. Sự hăng hái biến mất nhường chỗ cho sự rụt rè. Tôi đạp xe thật chậm. Qua tòa soạn nhật báo Giang Sơn, tôi chỉ dám liếc mắt nhìn vào. Rồi nhấn "pê đan" cho xe vọt đi. Trong tòa soạn đông người qua. Dưới mắt tôi, lúc bấy giờ, mỗi người là một ông thánh con. Nhà văn, nhà báo đáng kính nể vô cùng. Lại là nhà văn, nhà báo sống bằng ngòi bút của mình thì càng đáng nể. Tôi tự hỏi làm thế nào ông Tam Lang mỗi ngày viết một bài "Hà nội, Hà ngoại"? Thì giờ đâu mà ông viết? Tôi "sáng tác" bài thơ cỏn con phải mất cả đêm, ấy là chưa kể mất công tìm hứng "nắng hanh vàng của cuối mùa đông lạnh lẽo." Tôi phục các nhà viết "phơi ơ tông" sát đất. Phục từ Thanh Nam, Hoàng Công Khanh, Nguyễn Minh Lang miền Bắc đến Thanh Thủy, Ngọc Sơn miền Nam.

Tôi vòng đi vòng lại con đường hàng Trống không biết bao nhiêu lần. Một đôi lần dựng xe bên đây hè, khóa kỹ, toan băng đường sang bên kia tòa soạn Giang Sơn. Cuối cùng, tim đập loạn cả lên, mắt mũi nóng bừng. Ngó trước nhìn sau rặt thấy những người dòm ngó, đợi mình trịnh trọng lôi phong bì chứa thơ và thư xin gia nhập làng văn nghệ của tôi tự bung ra (tôi không dám gấp thơ, cởi khuy áo nhét vào trong) bỏ vô thùng thư của tòa báo để cười ha hả. Tôi lại trở về gác trọ. Chiều lại đi. Lại về. Lại đi. Hàng chục lần đi về trong ngày.

Cuối cùng, tôi nghĩ được cách mới. Tôi dừng bên đây hè phố hàng Trống, xê xế đối diện với tòa báo Giang Sơn, gọi một thằng bé bán kem tới, cho nó năm đồng và nhờ nó băng qua đường bỏ giùm tôi bức thư.

Thằng bé gởi tôi "phích" kem. Nó can đảm lạ lùng. Nó chạy sang đường, anh dũng bỏ bức thư vào thùng thư, ngon như tôi ăn kem Cẩm Bình. Tôi mãn nguyện quá, tin tưởng vô biên. Biếu thêm thằng bé năm đồng nữa. Cuộc đời văn nghệ của tôi khởi sự thật vất vả, khốn nạn, chân lấm tay bùn. Tôi đạp xe, mang từ hàng Trống về nhà trọ một trời tin tưởng.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com

Tags: #kode