mo maydckdb3p
Câu hỏi 30 MỞ MÁY ĐỘNG CƠ ĐIỆN KHÔNG ĐỒNG BỘ BA PHA
Khi mở máy động cơ phải thỏa mãn ba yêu cầu:
1. Mômen mở máy động cơ phải lớn hơn mômen cản của tải lúc mở máy
2. Mômen động cơ phải đủ lớn để thời gian mở máy trong phạm vi cho phép
3. Dòng mở máy phải nhỏ để điện áp lưới điện không bị sụt áp và ảnh hưởng đến các
thiết bị khác
8.8.1. Mở máy động cơ rôto dây quấn
Khi mở máy dây quấn rôto được nối với biến trở mở máy. Đầu tiên để biến trở lớn nhất sau đó giảm dần đến không. Đường đặc tính cơ ứng với các giá trị Rmở Khi có điện trở mở máy Rmở , dòng điện pha lúc mở máy : Khi Rmở tăng thì Mmm tăng
Nhờ có Rmở dòng điện mở máy giảm xuống và mômen mở máy tăng Đó là ưu điểm của động cơ rôto dây quấn.
8.8.2. Mở máy động cơ lồng sóc
a. Mở máy trực tiếp
Phương pháp đóng trực tiếp động cơ điện vào lưới điện.
Khuyết điểm của phương pháp này là dòng điện mở máy lớn, làm tụt điện áp mạng điện
rất nhiều. Phương pháp này dùng được khi công suất mạng điện (hoặc nguồn điện) lớn
hơn công suất động cơ rất nhiều.
b. Giảm điện áp cung cấp cho stato
Khi mở máy ta giảm điện áp vào động cơ, cũng làm giảm được dòng điện mở máy.
Khuyết điểm của phương pháp này mômen mở máy giảm rất nhiều, vì thế chỉ sử dụng
được đối với trường hợp không yêu cầu mômen mở máy lớn.Các biện pháp giảm điện áp như sau:
- Dùng điện kháng nối tiếp vào mạch stato
Lúc mở máy, cầu dao K2 mở, cầu dao K1 đóng. Khi động cơ đã quay ổn định thì đóng K2 và ngắt K1. Nhờ có điện áp rơi trên điện kháng, điện áp trực tiếp đặt vào động cơ giảm đi k lần, dòng điện sẽ giảm đi k lần, song mômen giảm đi k2 lần (vì M∼U2)
- Dùng máy tự biến áp
Gọi k là hệ số biến áp ; U1 là điện áp pha lưới điện ; zn là tổng trở động cơ lúc mở máy.
Dòng điện I1 lưới điện cung cấp cho động cơ lúc có máy tự biến áp :
I1=Iđc/k =Uđc/kzn = U1/k2zn Khi mở máy trực tiếp, dòng điện I1 =U1/zn Dòng điện của lưới điện giảm đi k2 lần.
Điện áp đặt vào động cơ giảm k lần, nên mômen sẽ giảm k2 lần.
Phương pháp đổi nối sao - tam giác
Phương pháp này chỉ dùng được với những động cơ khi làm việc bình thường dây quấn
stato nối hình tam giác. Khi mở máy ta nối hình sao để điện áp đặt vào mỗi pha giảm . Sau khi mở máy ta đổi nối lại thành hình tam giác như đúng quy định của máy. Dòng điện dây khi nối hình tam giác: Dòng điện dây khi nối hình sao: Dòng điện dây mạng điện giảm đi 3 lần. vả mômen giảm đi 3 lần. Qua các phương pháp, chúng ta đều thấy mômen máy giảm xuống nhiều. Để khắc phục điều này, người ta đã chế tạo loại động cơ lồng sóc kép và loại rãnh sâu có đặc tính mở máy tốt.
8.8.3. Động cơ điện lồng sóc có đặc tính mở máy tốt
a. Động cơ điện lồng sóc rãnh sâu
Loại động cơ này, rãnh rôto hẹp và sâu (chiều sâu bằng 10-12 lần chiều rộng rãnh). Khi
có dòng điện cảm ứng trong thanh dẫn rôto, từ thông tản rôto phân bố. Từ thông tản móc
vòng với đọan dưới thanh dẫn nhiều hơn đoạn trên.
Do lúc mở máy, điện kháng tản phía dưới lớn, dòng điện tập trung phía trên thanh dẫn
gần miệng rãnh làm sự phân bố dòng điện tập trung nhiều ở phía miệng rãnh, tiết diện dẫn
điện của thanh coi như bị nhỏ đi, điện trở rôto R2 tăng lên sẽ làm tăng mômen mở máy.
Khi mở máy xong, tần số dòng điện rôto nhỏ, tác dụng trên bị yếu đi, điện trở rôto giảm
xuống như bình thường.
b. Động cơ điện lồng sóc kép
Rôto của động cơ có hai lồng sóc, các thanh dẫn của lồng sóc ngoài (còn gọi là lồng sóc
mở máy) có tiết diện nhỏ và điện trở lớn
Lồng sóc trong có tiết diện lớn hơn điện trở nhỏ. Như ở trên khi mở máy dòng điện tập
trung ở lồng sóc ngoài có điện trở lớn, mômen mở máy lớn. Khi làm việc bình thường,
dòng điện lại phân bố đều ở cả hai lồng sóc, điện trở lồng sóc ngoài nhỏ xuống.
Động cơ điện rãnh sâu và lồng sóc kép có đặc tính mở máy tốt, nhưng vì từ thông tản
lớn, nên hệ số công suất cosϕ thấp hơn động cơ lồng sóc thông thường.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com