Chương 3:
Có một quy tắc bất thành văn trong ngoại giao quốc tế mà không trường đại học nào dạy nhưng mọi nhà ngoại giao lâu năm đều biết: kẻ đi trước không nhất thiết là kẻ mạnh nhất. Nhưng kẻ đi trước luôn là kẻ định hình khung của ván cờ.
Việt Nam đã đi trước.
Không phải bằng cách tuyên bố. Không phải bằng cách đe dọa. Bằng cách gửi một trăm tuýp thuốc nhỏ bé trong hộp nhung đỏ thêu hoa sen đến hai mươi ba quốc gia vào ngày mồng một tháng Giêng năm 2000-ngày mà toàn bộ thế giới đang ngủ say trong dư âm pháo hoa, ngày mà không ai muốn nghĩ đến chính trị, ngày mà các văn phòng chính phủ đóng cửa và các nhà lãnh đạo đang ở nhà với gia đình hoặc đang ngủ bù sau đêm tiệc tùng.
Ngày mà không ai có thể phản ứng ngay lập tức.
Đó không phải là sự trùng hợp. Đó là thiết kế.
Hà Nội đang trong kỳ nghỉ lễ Tết Dương lịch. Các cơ quan nhà nước tạm dừng hoạt động. Bộ Ngoại giao sẽ không có thông báo chính thức nào cho đến khi kỳ nghỉ kết thúc. Phía Việt Nam không làm gì cả-và sự không làm gì đó của họ, được tính toán kỹ càng, trao cho hai mươi ba quốc gia kia một thứ quý giá hơn bất kỳ cuộc đàm phán nào có thể trao: thời gian để thở.
Thời gian để hoảng loạn trong im lặng.
Thời gian để đọc hồ sơ, triệu tập quan chức, nhìn vào gương và cố gắng nhận ra khuôn mặt của thế giới mới.
Thời gian-và đây là điều tinh tế nhất-để mỗi quốc gia tự mình đi đến kết luận rằng họ cần Việt Nam, thay vì bị Việt Nam nói thẳng điều đó vào mặt.
Hai mươi ba quốc gia.
Danh sách đó không ngẫu nhiên và bất kỳ nhà phân tích địa chính trị nào đọc qua cũng sẽ thấy ngay cái logic bên dưới: Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Canada-các nền kinh tế lớn của thế giới phát triển, tất cả đều có ngành dược phẩm nội địa mạnh, tất cả đều có thị trường thuốc ức chế riêng, tất cả đều đang ngồi trên cái ghế mà Thuốc X vừa giật ra khỏi bàn. Rồi Brazil, Ấn Độ, Nam Phi, Mexico, Indonesia, Nigeria-các nền kinh tế mới nổi với dân số lớn và tỷ lệ omega nghèo không được tiếp cận thuốc ức chế ở mức cao đến mức mà các báo cáo nhân quyền quốc tế đã gọi là "khủng hoảng nhân đạo tiềm ẩn" trong thập kỷ qua. Rồi Nga, Trung Quốc, Ấn Độ-ba cường quốc đang trỗi dậy, tất cả đều có lý do riêng để nhìn vào hộp nhung đỏ với cảm xúc phức tạp hơn là chỉ đơn giản là lo lắng.
Mỗi quốc gia nhận được đúng một trăm tuýp. Không hơn không kém. Con số đó được chọn lọc với sự hiểu biết rõ ràng về tâm lý chính sách: đủ để kích hoạt phản ứng, không đủ để tự thực hiện nghiên cứu độc lập toàn diện. Đủ để đặt câu hỏi, không đủ để tìm câu trả lời mà không cần người đặt câu hỏi.
Trong số hai mươi ba quốc gia đó, có những quốc gia nhìn cái hộp nhung đỏ và thấy điều mà Mỹ thấy: mối đe dọa kinh tế, bất ổn xã hội, và câu hỏi không thoải mái về hệ thống quyền lực hiện tại.
Và có những quốc gia nhìn cái hộp nhung đỏ và thấy điều gì đó hoàn toàn khác.
Nigeria nhận được hộp quà lúc hai giờ chiều ngày mồng một, theo giờ Lagos. Bộ trưởng Y tế Eyitayo Lambo mở hộp ra, đọc công văn kèm theo, rồi ngồi yên trong mười phút. Sau đó ông gọi điện cho Tổng thống Olusegun Obasanjo-người vừa mới nhậm chức được chưa đầy một năm sau khi Nigeria thoát khỏi hai thập kỷ cai trị quân sự-và nói: "Thưa Tổng thống, chúng ta cần nói chuyện về một món quà Năm Mới."
Obasanjo nghe xong và hỏi một câu: "Họ muốn gì?"
Lambo dừng lại. "Họ muốn hợp tác. Và tôi nghĩ chúng ta nên đồng ý trước khi bất kỳ ai khác kịp đặt điều kiện."
Tỷ lệ omega không được tiếp cận thuốc ức chế tại Nigeria là bảy mươi ba phần trăm. Số người chết liên quan đến chu kỳ phát tình không kiểm soát được-từ bạo lực, từ tự tử, từ biến chứng y tế-chiếm một con số mà chính phủ Nigeria đã ngừng công bố từ năm 1995 vì con số đó không làm đẹp bất kỳ bản báo cáo nào. Đối với Obasanjo, người đang cố gắng tái thiết một quốc gia từ đống đổ nát của chế độ quân sự, cái hộp nhung đỏ không phải là mối đe dọa địa chính trị. Nó là câu trả lời cho bài toán mà ông không biết còn tồn tại giải pháp.
Ông nói với Lambo: "Gọi lại cho họ. Ngay hôm nay nếu có thể."
Bangladesh nhận được hộp quà lúc bảy giờ tối. Thủ tướng Sheikh Hasina-người đang trong năm đầu tiên của nhiệm kỳ thứ hai sau cuộc bầu cử năm 1996-đọc báo cáo y khoa kèm theo và gọi ngay cho cố vấn khoa học của mình lúc tám giờ tối ngày đầu năm, không quan tâm đến giờ giấc. Bangladesh có tỷ lệ omega vị thành niên không được điều trị cao nhất Nam Á. Không phải vì không có thuốc-thuốc có, nhập khẩu từ Ấn Độ hoặc từ các thị trường xám từ Trung Quốc. Mà vì thuốc đắt, gia đình nghèo không đủ tiền, và văn hóa kết hôn sớm ở vùng nông thôn có xu hướng coi chu kỳ phát tình của omega vị thành niên là "dấu hiệu sẵn sàng kết hôn" thay vì "triệu chứng cần điều trị y tế".
Hasina không phải người đa cảm trong chính trị. Nhưng khi bà đọc dòng chữ trong báo cáo lâm sàng Việt Nam-"giảm pheromone xuống mức tương đương nước hoa nhẹ, không gây kích thích hành vi, hiệu quả từ tuần đầu tiên"-bà đặt tập giấy xuống và nhìn ra cửa sổ văn phòng của mình trong im lặng khá lâu.
Thì ra có thể như vậy. Thì ra người ta đã làm được.
Trung Quốc nhận được hộp quà qua kênh ngoại giao tại Hà Nội lúc sáu giờ sáng ngày mồng một, và đến tám giờ tối cùng ngày, Trung Nam Hải đã có một cuộc họp khẩn không có trong lịch trình chính thức. Giang Trạch Dân ngồi đầu bàn, Chu Dung Cơ ngồi bên trái, và không khí trong phòng theo mô tả của một nguồn tin mà CIA sẽ không thu thập được cho đến tận ba tuần sau là "thứ gì đó giữa tức giận và bất an".
Trung Quốc không thiếu ngành dược phẩm nội địa. Trung Quốc có ba tập đoàn nhà nước sản xuất thuốc ức chế, cung cấp cho thị trường nội địa và xuất khẩu sang Đông Nam Á với giá thành thấp hơn phương Tây. Đó là một trong những nguồn thu ngoại tệ ổn định và ít bị để ý nhất của Bắc Kinh-không có trong báo cáo GDP nổi bật, không có trong thống kê xuất khẩu headline, nhưng chảy đều đặn và đáng tin cậy vào ngân sách quốc gia.
Nhưng Giang Trạch Dân nhìn cái hộp nhung đỏ không chỉ bằng con mắt kinh tế.
Ông nhìn bằng con mắt địa chính trị của một người đã dành hai mươi năm quan sát cách Mỹ sử dụng công nghệ y tế như công cụ ảnh hưởng-viện trợ thuốc men là vũ khí ngoại giao nhẹ nhàng nhất và hiệu quả nhất mà Washington từng phát minh ra, vì không ai có thể từ chối thuốc mà không bị gọi là tàn nhẫn. Và giờ đây, Hà Nội đang làm đúng điều đó-nhưng với một loại thuốc mà không ai có thể cạnh tranh được, và với cái lịch sự giả vờ của "chúng tôi chỉ muốn thu thập dữ liệu" mà không ai trong phòng họp tại Trung Nam Hải tin là ngây thơ.
Chu Dung Cơ là người nói thẳng nhất: "Họ đang làm những gì chúng ta đã định làm với Đông Nam Á trong hai mươi năm tới. Và họ làm trong một đêm."
Giang Trạch Dân không trả lời ngay. Ông nhìn vào cái công văn ngoại giao với câu chữ lịch sự và vô hại của nó. Rồi ông nói một câu mà sau này Chu Dung Cơ sẽ trích dẫn trong hồi ký của mình: "Câu hỏi không phải là chúng ta có thể chặn họ không. Câu hỏi là chúng ta muốn ngồi bên nào của bàn cờ mới."
Nga nhận được hộp quà vào buổi chiều ngày mồng một, tại một Moskva đang vật lộn với mùa đông và với cái di sản của một thập kỷ hỗn loạn hậu Liên Xô. Vladimir Putin-người vừa được bổ nhiệm làm Quyền Tổng thống vào ngày hôm trước, ngày 31 tháng 12 năm 1999, khi Boris Yeltsin bất ngờ từ chức-nhận được báo cáo tóm tắt vào lúc ba giờ chiều trong cái ngày đầu tiên của nhiệm kỳ ông chưa chính thức.
Đó là một sự trùng hợp về thời gian mà sau này các nhà sử học sẽ tốn nhiều mực bình luận.
Putin đọc báo cáo một lần. Không đọc lại. Đặt xuống và hỏi trợ lý: "Ai biết về điều này?"
"Toàn bộ bộ máy tình báo của các quốc gia nhận quà, thưa ngài."
"Tức là tất cả mọi người."
"Về cơ bản là vậy."
Putin gật đầu. Liên bang Nga năm 2000 không phải Liên Xô. Nga năm 2000 là một quốc gia với GDP đang hồi phục sau cuộc khủng hoảng tài chính 1998, với ngành dược phẩm nội địa đang trong quá trình tái cơ cấu sau khi các tập đoàn nhà nước thời Liên Xô tan vỡ, và với một tỷ lệ omega và alpha không được tiếp cận thuốc ức chế chất lượng mà-theo các số liệu y tế Nga-đang góp phần không nhỏ vào tỷ lệ bạo lực gia đình và tự tử cao bất thường trong dân số.
Nga có vấn đề với thuốc ức chế. Nga biết mình có vấn đề với thuốc ức chế. Và Nga không có khả năng giải quyết vấn đề đó một mình trong ngắn hạn.
"Chúng ta sẽ trả lời họ như thế nào?" trợ lý hỏi.
Putin suy nghĩ trong vài giây. "Chúng ta sẽ không trả lời ngay. Chúng ta sẽ xem ai trả lời trước và họ nói gì."
Đó là câu trả lời của một người đang học cách chơi trên một bàn cờ mới-quan sát trước khi đi nước đầu tiên, để hiểu luật chơi trước khi đặt cược.
Nhật Bản phản ứng theo cách mà chỉ Nhật Bản mới phản ứng được: bằng sự im lặng có tổ chức và hiệu quả đến mức người ta không biết nó là im lặng hay là chính sách.
Takeda Pharmaceutical-một trong năm tập đoàn lớn nhất thế giới về thuốc ức chế, đặt trụ sở tại Osaka-nhận được thông tin về Thuốc X không phải từ Chính phủ Nhật Bản mà từ văn phòng đại diện tại Mỹ, lúc sáu giờ sáng ngày mồng một theo giờ New York, tức là tám giờ tối ngày mồng một theo giờ Tokyo. Tổng Giám đốc Yasuchika Hasegawa nhận điện thoại từ văn phòng New York, nghe xong, nói "Cảm ơn", và cúp máy.
Rồi ông gọi điện cho mười hai người.
Không phải mười hai nhà khoa học. Không phải mười hai luật sư. Mười hai người-giám đốc điều hành, chủ tịch hiệp hội, cố vấn chính sách-mà trong vòng hai mươi bốn giờ sẽ bắt đầu một chuỗi cuộc gặp không có trong lịch trình chính thức của bất kỳ ai, được thiết kế để trả lời một câu hỏi duy nhất: Làm thế nào để Takeda không bị loại khỏi thị trường mà vẫn giữ được vị trí trên bàn cờ mới?
Đó là câu hỏi thực dụng. Không phải câu hỏi đạo đức, không phải câu hỏi chính trị, không phải câu hỏi về điều gì tốt cho omega hay alpha hay beta. Câu hỏi thuần túy về sự tồn tại của tập đoàn. Và đối với Hasegawa, người đã dành ba mươi năm trong ngành dược phẩm, câu hỏi đó cũng đủ phức tạp để mất ngủ cả đêm rồi.
Takeda có hai lựa chọn: chống lại Thuốc X bằng mọi công cụ pháp lý và vận động hành lang có thể-và thua, chỉ là thua chậm hơn-hoặc tìm cách trở thành một phần của cái thế giới mới thay vì là nạn nhân của nó. Có nghĩa là liên hệ với Hà Nội. Có nghĩa là đặt câu hỏi về điều kiện hợp tác. Có nghĩa là chấp nhận rằng bàn cờ đã thay đổi và vị trí của Takeda trên bàn cờ mới không thể là vị trí cũ.
Hasegawa không ngủ được đêm đó. Nhưng đến sáng hôm sau, ông đã biết mình sẽ làm gì.
Phía sau tất cả những phản ứng đó-những cuộc họp khẩn, những điện thoại lúc nửa đêm, những bộ mặt căng thẳng trên những chiếc xe đen chạy qua thành phố trong buổi sáng đầu năm-có một thực tế địa chính trị mà tất cả hai mươi ba quốc gia đều đang xử lý theo cách riêng của mình nhưng không ai nói thành lời:
Con hậu đã lên bàn. Và con hậu đi trước.
Trong cờ vua, điều đó có nghĩa là bạn phải phản ứng. Bạn không có lựa chọn để không phản ứng-đó là luật chơi cơ bản nhất. Khi đối thủ đi một nước, bạn phải đi nước tiếp theo. Và khi con hậu đặt mình vào một vị trí mà mọi ô vuông trên bàn cờ đều nằm trong tầm tấn công của nó, bạn không còn tự do để chọn nơi che giấu con vua của mình nữa.
Việt Nam không đe dọa. Việt Nam không đòi gì. Việt Nam chỉ đặt con hậu xuống bàn và nói, bằng ngôn ngữ của hoa sen thêu chỉ vàng và công văn lịch sự của ngoại giao: "Chúng tôi đi trước rồi. Đến lượt các vị."
Và tất cả hai mươi ba quốc gia, dù muốn hay không, đều đang phải ngồi xuống và nghĩ về nước đi tiếp theo của mình.
Vấn đề là không ai biết bàn cờ mới trông như thế nào.
Đó là điểm khác biệt cơ bản nhất giữa Thuốc X và mọi thứ vũ khí hay công cụ địa chính trị từng được sử dụng trong lịch sử hiện đại. Vũ khí hạt nhân-dù hủy diệt đến đâu-vẫn hoạt động trong một khung có thể hiểu được: đe dọa bằng hủy diệt lẫn nhau, cân bằng bằng sợ hãi lẫn nhau, kiểm soát bằng hiệp ước và giám sát. Dầu mỏ-dù quan trọng đến đâu-vẫn hoạt động trong một khung thị trường có thể mô hình hóa được: cung và cầu, giá cả và thay thế, phụ thuộc và đa dạng hóa.
Nhưng Thuốc X không phải vũ khí và không phải hàng hóa thông thường.
Nó là câu trả lời cho một nhu cầu sinh học cơ bản của một phần ba nhân loại-nhu cầu kiểm soát cơ thể của mình, nhu cầu sống mà không sợ hãi mỗi khi quên uống một liều thuốc, nhu cầu không bị định nghĩa hoàn toàn bởi hóa học mà cơ thể mình tiết ra. Nhu cầu đó không phân biệt quốc tịch, không phân biệt hệ tư tưởng, không phân biệt đồng minh hay đối thủ. Alpha nghèo ở Mỹ và alpha nghèo ở Nigeria và alpha nghèo ở Nga đều có cùng nhu cầu đó, được diễn đạt bằng ngôn ngữ khác nhau nhưng được cảm nhận theo cùng một cách.
Và điều đó có nghĩa là Việt Nam không cần đồng minh theo nghĩa truyền thống. Họ không cần ký hiệp ước. Họ không cần duy trì liên minh bằng những khoản viện trợ hay cam kết quân sự. Họ chỉ cần duy trì sự thật đơn giản rằng họ có thứ mà phần còn lại của thế giới cần-và rằng sự tiếp cận thứ đó phụ thuộc vào cách các nước khác chọn cách tiếp cận Hà Nội.
Đó là quyền lực mềm ở dạng thuần túy nhất của nó. Không phải quyền lực của sợ hãi. Quyền lực của nhu cầu.
Nhưng có một câu hỏi mà không ai trong hai mươi ba quốc gia đặt ra công khai, dù tất cả đều đang nghĩ:
Nếu con hậu có thể checkmate bất kỳ vua nào trên bàn cờ, thì điều gì ngăn nó làm điều đó?
Câu trả lời không nằm trong công văn ngoại giao. Không nằm trong tạp chí y khoa. Nó nằm trong câu trích dẫn duy nhất mà Nguyễn Minh Quân-người không có ảnh, không có tiểu sử, không có tên ngoài tên-để lại trong New England Journal of Medicine:
"Thánh nhân tồn tại trên thế giới này quá hiếm hoi. Tôi cũng không tự nhận bản thân mình là họ, chỉ là một nhà khoa học, một công dân Việt Nam nhỏ bé mong đất nước của mình ngày càng tốt đẹp hơn."
Clinton đọc câu đó lần thứ tư vào buổi chiều ngày mồng một, sau khi cuộc họp khẩn kết thúc và Phòng Tình huống trở nên yên tĩnh trở lại. Ông ngồi một mình với tập tạp chí và cái hộp nhung đỏ, và lần này ông đọc câu đó không phải như một nhà chính trị đang tìm kiếm thông điệp ẩn mà như một người đang cố hiểu một con người khác.
Mong đất nước của mình ngày càng tốt đẹp hơn.
Không phải mong loài người tốt đẹp hơn. Không phải mong thế giới tốt đẹp hơn. Đất nước. Đất nước nhỏ bé của mình, cụ thể và không trừu tượng, bằng xương bằng thịt với lịch sử riêng và vết thương riêng và con đường riêng.
Đó là câu trả lời cho câu hỏi mà không ai dám hỏi thành tiếng. Việt Nam không muốn thống trị thế giới. Việt Nam không muốn xây dựng đế chế. Việt Nam muốn-và đây là điều thực dụng nhất, không lãng mạn nhất, và vì vậy đáng tin nhất-muốn đủ đòn bẩy để không bao giờ bị đối xử theo cách mà họ đã từng bị đối xử trong suốt thế kỷ hai mươi.
Không phải checkmate để thắng.
Checkmate để không bao giờ thua nữa.
Buổi chiều ngày mồng một tháng Giêng năm 2000, trong khi Hà Nội đang nghỉ lễ và các phố phường còn vương mùi pháo hoa đêm giao thừa, một người trẻ sinh đúng ngày mồng một tháng Giêng năm 1976-vừa tròn hai mươi bốn tuổi đúng vào ngày hôm đó-đang làm gì thì không ai biết.
Không có ảnh. Không có tiểu sử. Không có thông tin về địa điểm hay hoạt động.
Chỉ có một trăm tuýp thuốc nhỏ bé đang nằm trong hai mươi ba cái hộp nhung đỏ trên hai mươi ba cái bàn làm việc của hai mươi ba nguyên thủ quốc gia và bộ trưởng ngoại giao và chủ tịch ủy ban, và sự im lặng của một kỳ nghỉ lễ không bao giờ thật sự yên tĩnh.
Con hậu đã đặt xuống bàn.
Nó đang đợi.
Tối ngày mồng một, Albright gặp riêng Clinton trong Phòng Bầu Dục, sau khi tất cả mọi người đã ra về. Bà đặt một tờ giấy lên bàn-không phải hồ sơ mật, không phải báo cáo tình báo, chỉ là một tờ giấy A4 với một danh sách ngắn viết tay.
"Đây là các quốc gia tôi cho rằng sẽ liên hệ với Hà Nội trước khi kỳ nghỉ lễ kết thúc," bà nói. "Không phải để đàm phán. Chỉ để thiết lập liên lạc. Để đặt mình vào vị trí đã ngồi xuống bàn trước khi bàn chính thức được mở."
Clinton nhìn danh sách. Nigeria. Bangladesh. Senegal. Mozambique. Bolivia.
"Các nước không có ngành dược phẩm nội địa," ông nói.
"Các nước không có gì để mất." Albright ngồi xuống. "Và vì không có gì để mất, họ tự do hơn chúng ta để nhìn thấy rõ hơn điều Hà Nội đang thực sự đề xuất. Đó không phải là mối đe dọa với họ. Đó là cơ hội để lần đầu tiên trong lịch sử có được đòn bẩy trong một cuộc đàm phán quốc tế."
"Và chúng ta thì sao?"
Albright nhìn thẳng vào ông. "Chúng ta có nhiều thứ để mất hơn bất kỳ ai. Và vì vậy chúng ta phải khôn ngoan hơn bất kỳ ai trong cách chọn thứ nào để giữ và thứ nào để buông."
Clinton gật đầu. Nhìn ra cửa sổ lần cuối trong ngày hôm đó.
Washington đêm mồng một tháng Giêng đang lên đèn, lấp lánh trong cái lạnh mùa đông. Đẹp. Bình yên. Không biết gì về những gì đang xảy ra trong các phòng họp kín sau những bức tường dày.
Hay là biết, Clinton nghĩ. Hay là họ biết theo cách mà người dân thường biết những điều quan trọng trước khi chính phủ chính thức thừa nhận-bằng cảm giác, bằng cái gì đó thay đổi trong không khí, bằng cái im lặng kỳ lạ của một buổi sáng đầu năm mà lẽ ra phải vui nhưng lại mang theo một thứ gì đó trĩu nặng và không thể đặt tên.
Con hậu đã lên bàn.
Và thế giới, dù biết hay không biết, đã bắt đầu thay đổi.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com