Chào các bạn! Truyen4U chính thức đã quay trở lại rồi đây!^^. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền Truyen4U.Com này nhé! Mãi yêu... ♥

Fading Chrysanthemum

Thành phố chẳng bao giờ ngủ. Nó là một con quái vật cơ khí khổng lồ luôn ngấu nghiến những khối neon xanh đỏ rồi lại nôn ra thứ ánh sáng nhạt nhòa, nhớp nháp trên những vệt nhựa đường ướt sũng nước mưa. Đêm thành thị được duy trì bằng thứ sinh lực giả tạo từ những tiếng động cơ gầm rú, tiếng phanh xe rít lên ken két dưới gầm cầu vượt lộ thiên và mùi khói xăng nồng nặc bốc lên từ làn xe cộ hối hả. Mưa phùn rơi, không phải những hạt mưa thơ mộng gieo vần cho kẻ thất tình, mà là một thứ bụi nước xám xịt, buốt giá, sẵn sàng len lỏi qua lớp áo cổ cồn, gặm nhấm lòng tự trọng của những kẻ đang đi lạc trong bóng tối. Từng vệt sáng đèn pha từ những chiếc xe tải đường dài quét qua màn đêm cắt lát không gian thành những dải sáng tối đối lập, hắt bóng những tòa nhà cao chọc trời lên nền trời đen kịt như những nấm mồ bê tông khổng lồ.

Thành phố này quá vội vã, quá tàn nhẫn để dung thứ cho những kẻ chậm chân, những kẻ bị gạt ra lề đường nhường chỗ cho sự phát triển. Nhưng ở đây, trong con hẻm lầy lội có những mảng rêu xanh bám chặt vào chân tường gạch mục - nơi thời gian như bị đóng băng dưới mái hiên của những ngôi nhà cổ: tiệm The Memory Atelier đứng đó. Lặng câm. Như một vết rạch sâu hoắm, rỉ máu trên da thịt thực tại.

Choang...

Cánh cửa sồi rít lên một tiếng khô khốc, mệt mỏi. Chuông gió treo trên xà nhà bằng gỗ già nua giật nảy. Thanh âm không ngân dài kiêu hãnh mà đứt sụp giữa chừng, hêt như một dây đàn vĩ cầm bị kéo căng quá mức rồi đứt phựt dưới ngón tay người nghệ sĩ độc ác báo hiệu đây lại là một đêm làm việc miệt mài của Elias đây. Một bóng người đổ sụp vào trong tiệm, mang theo luồng gió lạnh buốt của đêm mưa bão.

Khác với những vị khách trước, lần này là một bà lão. Trông bà nhỏ bé và gầy gò đến thảm thương tưởng chừng như chỉ cần một luồng gió mạnh từ chiếc tàu điện ngầm chạy qua dưới lòng đất cũng đủ thổi bay thực thể ấy vào cõi hư vô. Chiếc áo khoác len màu nâu trầm khoác trên đôi vai gầy guộc của bà đã bở bục từ lâu, gấu áo sờn rách và lốm đốm những vệt nước mưa loang lổ tựa như những chiếc tua rua của một cánh buồm rách nát sau cơn bão biển. Mái tóc bà trắng bợt như cước, xơ xác và ẩm ướt vì nước mưa và bết chặt vào vấng trán nhăn nheo chi chít từng vết rãnh sâu hoắm: vết tích của những năm tháng bị vòng quay thời gian nghiền nát không thương tiếc.

Nhưng đôi mắt bà mới là thứ khiến người ta phải dừng lại thật lâu mỗi khi vô tình chạm phải. Chúng không có tiêu cự. Đục ngầu và mờ mịt, tròng mắt trắng dã một màu sương mù của những buổi sáng mùa đông chết chóc ở những vùng đất hoang tàn, bà từng chôn chân bên thầm cửa cùng hai bàn tay co quắp. gầy gò tựa như hai chiếc gọng kìm rỉ sét trong khi toàn thân bà ôm khư khư lấy một chiếc túi vải cũ kỹ trước ngực. Thứ mùi bốc ra từ người bà không phải mùi đất, cũng không phải mùi mưa gió mà là mùi của sự tàn rữa sinh học: mùi dầu gió nồng nặc, mùi ẩm mốc của những góc tủ tối tăm quanh năm không thấy ánh mắt trời vf mùi của những món đồ đầy bụi bị bỏ quên dưới gầm giường.

Bà đã quên.

Vậy quên là gì? Trong định nghĩa của thế giới y khoa, quên là sự suy giảm chức năng nhận thức, sự đứt gãy của các liên kết nơ-ron thần kinh. Nhưng đối với một con người, quên là khi bạn nhìn vào gương và thấy một kẻ xa lạ đang trừng mắt nhìn lại mình với sự hoài nghi tột độ. Quên là khi những danh từ riêng: tên của một con đường, một góc phố, hay thậm chí là tên của chính bản thân bốc hơi khỏi đại não như bong bóng xà phòng dưới ánh nắng hè. Bà không biết tên mình là gì, bà không biết tại sao mình lại đứng đây, giữa đêm mưa lạnh buốt gân tủy này và bà hoàn toàn không nhớ đường về nhà, không biết mình có nhà hay không...

Căn bệnh Alzheimer không cướp đi mạng sống của bà ngay lập tức để giải thoát cho linh hồn cằn cỗi ấy mà nó ấy tàn nhẫn hơn nhiều: nó dùng một chiếc giũa rỉ sét mỗi ngày giũa đi một mảnh ký ức, lật tẩy căn tính của bà cho đến khi chỉ còn lại một cái xác không hồn bước đi vô định giữa nhân gian. Bà là một kẻ lưu vong ngay chính trong tâm trí của mình, một bóng ma cô độc đi tìm những mảnh vỡ của bản thân trong đống đổ nát của một ngôi nhà đã bị bão quét sạch. Elias đứng sau quầy gỗ sồi đen, anh không di chuyển, cơ thể bất động như một bức tượng được tạc từ bóng tối. Đôi mắt hổ phách của anh không mang chút ấm áp hay thương hại nào của người phàm chỉ có sự lạnh lùng, tĩnh lặng của một kẻ gác đền đã chứng kiến quá nhiều cái chết của những ý niệm. Anh không chọn ngải cứu chát đắng của Raymond, cũng không chọn oải hương hay cam sấy của Arlo.

Những ngón tay thon dài, nhợt nhạt của Elias nhón ra vài cánh hoa cúc họa mi khô rũ, quắt lại từ một chiếc hũ gốm đen cổ đại. Chúng mang màu vàng xỉn của những xác ướp, không còn chút sức sống nào của mùa xuân. Anh thả chúng vào chiếc tách sứ trắng, dội dòng nước sôi sùng sục từ trên cao xuống.

Xèo xèo...

Một làn khói trắng dựng đứng lên như một linh hồn vừa được triệu hồi từ cõi chết. Thứ mùi hương bốc lên sau đó sắc lẹm, thanh sạch nhưng đượm vị đắng nghét của đất ẩm sau cơn mưa rào. Đấy là mùi của sự lụi tàn được ngụy trang bằng mật ngọt rừng nguyên chất: một thứ mùi hương mộc mạc nhưng chân phương khiến ta nhớ về những buổi trưa hè yên bình ở một vùng quê mà bất cứ ai cũng từng một lần đi qua trước khi bị cuốn vào guồng quay điên cuồng của cuộc đời.

"Mời bà ngồi," Elias lên tiếng, giọng anh trầm ấm nhưng vừa mang một thứ từ trường xoa dịu kì lạ lại sắc bén tựa một nhát dao chém vào bầu không khí đang đóng băng. "Ghế sồi này không dành cho những người đứng run rẩy. Tách trà này sẽ sưởi ấm cho bà hoặc ít nhất giúp bà níu kéo lại những tế bào não đang chết đi trước khi sương mù nuốt chửng tất cả."

Bà lão bước tới, đôi giày vải bết bùn đất của bà kéo lê trên sàn gỗ tạo ra những âm thanh sột soạt, những vết đen loang lổ. Bà rụt rè ngồi xuống chiếc ghế bên cửa sổ, tay vẫn ôm chiếc túi vải thô - móng tay cấu chặt vào lớp vải bổ đến mức các đầu ngón tay trắng bệch, rướm máu. "Tôi... tôi là ai?" Giọng bà rít qua kẻ răng, khàn đặc đến mức nghe như tiếng hai mảnh giấy nhám cọ vào nhau giữa sa mạc nóng bức. "Cậu gì ơi, tôi không nhớ đường về nhà nữa rồi. Tôi đi lạc trong chính ký ức của mình, tôi nghe thấy tiếng vo ve của loài ong đang bay lượn trong não, có phải.. chúng đã ăn sạch những cái tên, những khuôn mặt. Tôi có một ngôi nhà phải không? Tôi có một đứa con.. hay một người chồng không?" Bà lão ôm lấy đầu mình lại kêu gào "Sao tôi chẳng nhớ gì cả, tại sao."

Bà cụ đưa bàn tay gầy gò, đầy rẫy những đường gân xanh nổi guốc lên đấm nhẹ vào lồng ngực trái của mình. Thịch... Thịch. Tiếng đập than khổ, mỏi mệt của một trái tim già nua. Nước mắt từ đôi mắt đục ngầu bắt đầu lã chã tuôn rơi, lăn qua những nếp nhăn sâu hoắm trên gò má đồi mồi hốc hác của bà.

"Nhưng ở đây... có một cái dằm. Nó cắm sâu vào da thịt, vào từng tế bào. Tôi không biết nó là gì và cũng không nhớ cái dằm ấy tên là gì, chẳng nhớ khuôn mặt gắn liền với nó. Tôi chỉ biết khi rút nó ra, máu sẽ chảy rất nhiều và tôi biết chắc mình sẽ chết. Có một mảnh ký ức cuối cùng rất quan trọng mà tôi không được phép quên. Đó là lý do tôi vẫn còn thở, là nguyên nhân tôi phải ôm chiếc túi này đi lang thang ròng rã mười mấy năm qua dưới trời mưa gió. Thế nên, làm ơn... hãy giúp tôi tìm lại nó !"

***
Elias chẳng trả lời ngay. Anh nhìn người phụ nữ đã quên đi chính tên tuổi của mình nhưng vẫn bị trói chặt bởi một sợi dây vô hình của tiềm thức. Anh biết, đối với những người mắc bệnh mất trí nhớ, não bộ của họ có thể tàn lụi, những nếp nhăn xám có thể chết đi nhưng các ký ức được khắc ghi bằng cảm xúc mãnh liệt nhất: tình yêu, sự đau đớn, hay một lời hứa sẽ lặn sâu vào tầng sâu nhất của linh hồn, nơi không một căn bệnh thể xác nào có thể chạm tới hoàn toàn. Anh chậm rãi bước đến gần, đưa đôi bàn tay lạnh buốt của mình đặt nhẹ lên chiếc túi vải thô cũ kỹ mà bà cụ đang giữ khư khư trước ngực.

"Chúng ta hãy cùng đi tìm nó nhé." Elias thì thầm, giọng anh như một lời dẫn dụ đưa lối qua lớp sương mù đen tối.

Vút.

Không gian lập thể của tiệm The Memory Atelier bỗng chốc vặn xoắn lại như một tấm vải bị vắt kiệt nước. Bóng tối sụp xuống, rồi một thứ ánh sáng vàng vọt, đục ngầu như màu nước sông mùa lũ tràn ngập mọi ngóc ngách, xua đi lạnh lẽo của thực tại. Ký ức của Margaret - người đàn bà không tên - hiện hình. Nó không trôi chảy mượt mà: nó giật cục, đứt đoạn với những mảng xám đen của thước phim bị cháy hỏng, thể hiện sự tổn thương nghiêm trọng của đại não bà cụ.

Năm Margaret ba mươi tuổi. Đó là một căn nhà cấp bốn nhỏ nằm ở vùng ngoại ô nghèo nàn, nơi có một giàn hoa cúc họa mi nở rộ trắng xóa trước hiên mỗi độ thu về. Ấy thế nhưng những cánh hoa trắng muốt ấy không được thanh sạch, trúng bị bao phủ một lớp bụi than xám xịt từ những ống khói nà máy lân cận. Trên chiếc giường gỗ ọp ẹp kêu kẽo kẹt theo từng nhịp thở, trên đó là một đứa trẻ chừng năm tuổi đang co giật dữ dội vì trận sốt cao. Đó là Henry. Thằng bé nhỏ nhắn, yếu ớt ttừkhi sinh non, lồng ngực gầy giơ xương sườn nhô lên thụt xuống nhọc nhằn dưới lớp chăn mỏng.

"Mẹ... con lạnh... con đau lắm." Tiếng cậu bé Henry nhỏ như tiếng muỗi kêu, nếu chẳng nhờ bà Margaret có thính giác tốt nếu không cũng chẳng thể nghe được. Margaret của quá khứ ôm chặt lấy đứa con thơ ngây vào lòng, dùng chính thân nhiệt và hơi ấm của mình để sưởi ấm cho đứa trẻ tội nghiệp. Bà không khóc. Những người nghèo không có thời gian khóc, nước mắt là một thứ xa xỉ phẩm cần rất nhiều calo để sản sinh và bà cần phải giữ sức để tiếp tục cuộc chiến sinh tồn. Bà chỉ biết siết chặt vòng tay, đôi môi nứt nẻ lẩm nhẩm những lờ cầu xin rách nát gửi lên một bầu trời xám xịt không có vị thần nào ngự trị.

Để nuôi Henry khôn lớn và có tiền mua thuốc men, Margaret đã biến mình thành một cỗ máy sinh học hoạt động bằng sự cam chịu và tình mẫu tử cực hạn. Bà làm việc không ngừng nghỉ từ sáng sớm đến đêm muộn. Thước phim ký ức đặc tả cảnh đôi bàn tay của bà ngâm trong nước hóa chất tẩy rửa rẻ tiền suốt mười hai tiếng mỗi ngày tại những quán ăn đầy dầu mỡ, cho đến khi da tay bong tróc, lộ ra những thớ thịt đỏ hỏn rướm máu. Bà dọn rác, lau chùi những bãi nôn mửa của những kẻ giàu có ngoài trung tâm thành phố. Những đêm mùa đông lạnh giá, dưới ánh đèn đường vàng vọt, Margaret lầm lũi đi nhặt nhạnh từng mảnh chai, từng tấm bìa các-tông phế liệu, đôi va gầy run lên bần bật dưới cơn gió mùa đông bắc.

Mỗi đồng cắc kiếm được bằng mồ hôi và máu, bà đều vuốt thật phẳng phiu, nhét kỹ dưới đáy chiếc hộp thiếc gỉ sét giấu trong hốc tường. Tất cả chỉ để đổi lấy những cuốn sách giáo khoa mới cho Henry, để thằng bé có thể đi học, có thể bước ra khỏi vũng lầy tăm tối của khu ổ chuột ngoại ô này. Hình ảnh trước mắt chuyển cảnh. Henry mười tám tuổi, cậu đã cao lớn mang những nét thanh tú thừa hưởng từ người mẹ gầy gò của mình, cậu đứng trước cổng trường đại học y danh tiếng - chiếc áo thun đồng phục đã bạc màu nhưng đôi mắt thì rực sáng như hai ngọn lửa giữa đêm đen. Cậu ôm lấy bờ vai gầy guộc của mẹ trước sự chứng kiến của hàng trăm người đi đường.

"Mẹ ơi ! Con làm được rồi. Con sẽ học thật giỏi, sau này con đi làm có tiền, con sẽ mua cho mẹ một ngôi nhà thật lớn ở trung tâm, xung quanh trồng đầy cúc họa mi trắng mà mẹ thích. Mẹ sẽ không phải đi rửa bát thuê, không phải ngửi mùi nước rửa chén độc hại nữa. Mẹ đợi con nhé." Margaret đứng cạnh con, cười. Đó là lần duy nhất trong toàn bộ cuộn phim ký ức, người ta thấy bà cười một cách trọn vẹn, rạng rỡ nhất. Một nụ cười làm giãn ra những nếp nhăn hằn học của sự nghèo đói và khổ cực trên gương mặt bà, xua đi mọi vết chai sạn trên đôi bàn tay lam lũ.

***
Nhưng cuộc đời không có nghĩa vụ phải tử tế với bất kì ai, đặc biệt là với những kẻ ngèo khổ.Cuộn phim ký ức bỗng giật mạnh, chuyển sang một màu đen đặc quánh của tro tàn và máu. Năm Henry hai mươi lăm tuổi, chỉ còn vài ngày nữa là đến lễ tốt nghiệp nhận bằng thạc sĩ y khoa. Tiếng còi xe cứu thương rú lên từng hồi dài dồn dập, xé rách màng nhĩ của đêm tối. Âm thanh ấy sắc bén và tàn nhẫn như một lưỡi cưa kim loại đang cưa đôi địa não của Margaret, báo hiệu một sự sụp đổ không thể cứu vãn.

Phòng cấp cứu của bệnh viện thành phố. Ánh đèn huỳnh quang trắng ở trần nhà chiếu xuống lạnh lẽo, phản chiếu lên những bức tường gạch men trơn tuột như một bãi tha ma hiện đại. Margaret đứng đó, cả cơ thể cứng đờ, lưng tựa chặt vào bức tường lạnh buốt để giữ cho mình không ngã quỵ. Trên chiếc giường sắt ở trung tâm phòng, Henry nằm bất động dưới đống dây dợ chằng chịt của các loại máy móc hỗ trợ sự sống. Một vụ tai nạn giao thông liên hoàn thảm khốc trên đại lộ trung tâm đã biến cơ thể tràn đầy nhựa sống, đầy hoài bão của chàng trai trẻ thành một đống đổ nát đẫm máu. Gương mặt cậu thanh tú ngày nào giờ biến dạng, phủ đầy những vết rách và máu tươi đã khô lại thành mảng đen sẫm.

Tít... Tít... Tít...

Tiếng máy đo nhịp tim đập chậm dần, thưa thớt dần như hơi thở của một ngọn nến trước gió bão. Margret không thể thở nổi, lồng ngực bà thắt chặt lại như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Rồi một dải âm thanh kéo dài, phẳng lặng, lạnh lùng phát ra từ màn hình điện tử chặt đứt sợi dây hy vọng cuối cùng của người mẹ.

Tíiiiiiiiiiiiiiiit.

Đường thẳng tắp hiện lên trên màn hình. Không còn nhịp đập. Không còn sự sống, không còn Henry của bà trên cõi đời này nữa. Margaret của quá khứ không hét lên. Bà cũng không quỳ sụp xuống khóc lóc thảm thiết như những người nhà bệnh nhân khác. Bà chỉ đứng đó, đôi mắt mở trừng trừng, chết lặng nhìn vệt máu khô trên trán con trai khi vị bác sĩ chậm rãi kéo tấm khăn trắng phủ kín gương mặt đờ đẫn của cậu. Sự đau đớn vượt quá giới hạn chịu đựng của một thực thể con người đã kích hoạt một cơ chế phòng vệ sinh học tàn nhẫn trong đại não Margaret: não bộ của bà bắt đầu tự hủy hoại các liên kết ký ức để cứu lấy chủ thể khỏi việc bị phát điên vì trầm cảm. Nó tự bốc cháy để dập tắt nỗi đau quá tải.

Bà bắt đầu quên.

Ban đầu là những chi tiết nhỏ nhặt: bà quên mất mình đã ăn tối chưa, quên tắt bếp gas trong bếp suýt gây hỏa hoạn. Rồi đến những thứ lớn hơn: bà quên mất ngày giỗ của con trai, quên mất giọng nói ấm áp của Henry mỗi tối gọi tên mẹ. Và cuối cùng, bà quên luôn cả việc mình từng có một đứa con, quên đi danh tính của người mẹ mà bà đã dùng cả thanh xuân để đánh đổi. Căn bệnh Alzheimer ập đến như một kẻ cướp nhân từ nhưng tàn độc, nó lấy đi nỗi đau tột cùng của sự mất mát nhưng đồng thời cũng biến bà thành một thực thể rỗng tuếch, một bóng ma không quá khứ, không hiện tại và cả không tương lai bước đi vô định giữa dòng đời.

Nhưng bà không thể quên chiếc túi vải thô cũ kỹ này. Bên trong túi là chiếc hộp thiếc gỉ sét đựng chiếc áo len màu xanh dương đan lỗi mũi kim ở cổ áo, cùng một bức ảnh gia đình đã nhuốm màu thời gian đến mức không còn nhìn rõ mặt người. Mỗi ngày, suốt mười lăm năm qua người đàn bà mất trí ấy vẫn vô thức ôm chiếc túi này đi lang thang khắp các con phố cổ của thành phố, tìm kiếm một bóng hình, một bóng hình, một cái tên đã bị bôi xóa hoàn toàn trong trí nhớ bằng một bản năng mẫu tử vĩ đại còn sót lại trong huyết quản đang chảy ngược về phía trái tim.

***
"Henry!" Bà cụ Margaret bất ngờ gào lên. Cái tên ấy thoát ra từ lồng ngực bà như một tiếng thét đau đớn như một kẻ bị chôn sống dưới lòng đất sâu tăm tối. Đôi mắt đục ngầu của bà bừng sáng, những tia máu đỏ sọc lên dữ dội làm gương mặt nhăn nheo của bà trở nên méo mó vì xúc cảm mạnh mẽ dâng trào.

"Henry... con tôi! Nó đâu rồi? Thằng bé đang đợi tôi ở nhà! Nó chưa ăn tối, nó sẽ bị đói mất! Cậu gì ơi, trả Henry lại cho tôi! Sao tôi lại ở đây một mình thế này?" Margaret điên cuồng chộp lấy cổ áo của Elias, giật mạnh. Đôi bàn tay gầy guộc như những cành củi khô của bà lúc này khỏe một cách dị thường, như thể toàn bộ sức lực của cả cuộc đời lam lũ đang dồn vào mười ngón tay cấu chặt ấy. Elias không né tránh cũng chẳng gạt ay bà ra, anh đứng yên nhìn thẳng vào đôi mắt đang ngập tràn sự điên loạn, đau khổ của người mẹ: "Henry chết rồi, Margaret. Cậu ấy chết từ mười lăm năm trước trong phòng cấp cứu. Bà ddax tự chọn cách quên cậu ấy để trốn chạy khỏi nỗi đau quá lớn này."

"Không! Cậu nói dối, cậu gạt tôi.." Margaret gào lên, giọng nói khàn đặc vỡ vụn ra thành từng tiếng nấc nghẹn ngào, đau đớn. Nước mắt từ đôi mắt mờ đục tuôn ra như mưa chảy tràn qua những rãnh sâu hoắm trên mặt bà rồi cuối cùng yên vị tại mặt bàn gỗ sồi khô khốc. Toàn bộ ký ức về vụ tai nạn, tiếng máy đo nhịp tim phẳng lặng kéo dài một dải thanh âm vô tận và cả tấm khăn trắng lạnh lẽo phủ lên mặt con trai - tất cả đều đồng loạt dội về như một trận lũ quét tàn phá đại não bà cụ đáng thương.

Sự thật tàn nhẫn băm vằn lên tâm hồn của người mẹ tội nghiệp, bắt bà phải đối diện với cái chết của con trai mình lần thứ hai trong đời. Bà buông cổ áo Elias ra, gục xuống mặt bàn gỗ, hai tay ôm chặt lấy đầu, cáo cấu da đầu đến mức rướm máu như muốn bứt tung những sợi dây thần kinh đang hành hạ mình. "Tôi đã quên... tôi đã tự tay xóa bỏ con trai mình khỏi cuộc đời, khỏi trái tim này." Giọng bàn rên rỉ thảm thiết như con thú hoang đang bị dồn vào ngõ chết, bị lấy huyết. Bà cứ ngồi đó ôm ngực, vừa khóc vừa trách mắng bản thân "Tôi là một người mẹ tồi... Tại sao tôi có thể quên con? Để tôi đau đớn đến chết, bị ngọn lửa của sự mất mát thiêu rụi tâm can từng ngày còn hơn là sống một cuộc đời vô tri như này. TRẢ NỖI ĐAU LẠI CHO TÔI..."

Bà hét lên. Trong cơn điên dại cả ký ức, không gian xung quanh Margaret bỗng nhòe đi. Dưới sự điều khiển tinh tế của Elias, làn khói trà cúc họa mi bốc lên bao phủ lấy bà cụ, đưa bà vào một chiều không gian giả lập của tiềm thức. Ở đó, không có mùi cồn sát khuẩn nồng nặc của bệnh viện, không có ánh đèn neon lạnh lẽo của phòng cấp cứu. Margaret thấy mình đang đứng giữa một cánh đồng cúc họa mi trắng nở rộ rực rỡ dưới ánh nắng vàng ươm của một buổi chiều thu yên ả, gió thổi qua làm những cánh hoa trắng muốt lay động như những làn sóng nhỏ. Từ phía cuối con đường đất nhỏ chạy giữa cánh đồng, một bóng hình quen thuộc đang chạy lại phía bà.

Đó là hình ảnh Henry năm tuổi, mặc chiếc áo len màu xanh dương do chính tay bà đan với những mũi kim lỗi vụng về, gương mặt bầu bĩnh, đôi mắt sáng ngời cười giòn tan: "Mẹ ơi! Mẹ nhìn con này!" Bà Margaret sững sờ, cả cơ thể run lên bần bật. bà quỳ xuống mặt đất đầy hoa, giang rộng hai tay đón lấy đứa con trai nhỏ bé của mình. Henry lao vào lòng bà, vòng đôi tay nhỏ xíu ôm chặt lấy cổ người mẹ, hơi ấm từ cơ thể gầy guộc ấy chân thật đến mức Margaret có thể cảm nhận được nhịp tim đập thon thót của con dưới lớp áo len dày. Bà ôm chặt lấy con, dụi đầu vào bờ vai nhỏ bé của đứa trẻ, nước mắt tuôn rơi như mưa:

"Henry... con trai của mẹ... Mẹ xin lỗi. Mẹ quên con, mẹ đã quên mất gương mặt con, quên cả những lời hứa của chúng ta..." Henry bé nhỏ khẽ ngước gương mặt bầu bĩnh lên, đôi bàn tay ấm áp, mềm mại xoa lên đôi gò má nhăn nheo của mẹ, giọng nói trong trẻo như tiếng chuông khánh vang vọng giữa cánh đồng: "Mẹ ơi, mẹ không quên con đâu. Con vẫn luôn ở đây mà, ở ngay trong trái tim mẹ này. Mỗi khi mẹ nhìn thấy hoa cúc họa mi nở, mỗi khi mẹ thấy ấm áp, đó là con đang ôm mẹ đấy. Mẹ đừng khóc nữa nhé, con yêu mẹ nhiều lắm. Con luôn tự hào vì được làm con của mẹ."

Margaret ôm chặt lấy bóng hình Henry vào lòng, cảm nhận sự tha thứ và tình yêu thương vô điều kiện của đứa con trai truyền qua từng mạch máu, xoa dịu đi vết thương lòng rỉ máu suốt mười lăm năm qua. Lời xin lỗi dở dang vì sự lãng quên cuối cùng đã được nói ra, và câu trả lời của Henry đã hóa giải toàn bộ sự dằn vặt của người phụ nữ mang tội danh "quên mất con mình".

***
Choang. Tiếng chuông gió giật mạnh một lần nữa, cắt đứt dải sáng màu xanh lục và ảo ảnh của cánh đồng hoa cúc họa mi. Margaret giật mình mở bừng mắt. Bà vẫn đang ngồi trên chiếc ghế sồi bên cửa sổ của tiệm Where the crimson dried. Tách trà cúc họa mi trước mặt đã nguội bớt, khói lam nhạt chỉ còn bay lờ lững trong không khí ấm áp của căn tiệm.

Elias thu đôi bàn tay thon dài của mình về. Một dải ánh sáng màu xanh lục dịu nhẹ - màu của sự sống, của sự tái sinh và của những nhành họa mi mùa xuân - bắt đầu thoát ra từ thái dương của Margaret, chảy dọc theo ngón tay người gác đền rồi nhỏ từng giọt vào chiếc lọ thủy tinh rỗng đặt trên bàn.

Nhưng lần này, Elias không đóng nút lọ lại để nhốt ký ức ấy vào bóng tối vĩnh hằng của thư viện như một sự tước đoạt. Anh dùng quyền năng của một người gác đền để khóa chặt cảm xúc ấm áp, thiêng liêng của ký ức ấy, rồi đẩy ngược nó trở lại, neo đậu vững chắc vào trung khu cảm xúc sâu nhất trong tim của Margaret.
"Tôi không thể chữa khỏi căn bệnh thể xác của bà, Margaret," Elias dịu dàng nói, giọng anh trầm ấm như một lời chúc phúc của thánh đường cổ kính. "Căn bệnh ấy sẽ vẫn tiếp tục tàn phá não bộ của bà, xóa đi những con số, những tên gọi, những lối về nhà. Nhưng kể từ giây phút này, có một thứ mà căn bệnh ấy vĩnh viễn không bao giờ chạm tới được nữa: đó là cảm xúc ấm áp khi nhìn thấy hoa cúc họa mi và hương vị của tách trà ấm.

Mỗi khi nhìn thấy những nhành hoa ấy nở rộ bên đường, trái tim bà sẽ tự động tràn ngập một tình yêu thương vô điều kiện, một cảm giác mãn nguyện rằng bà đã từng là một người mẹ vĩ đại và con trai bà vẫn đang bảo bọc bà từ cõi vĩnh hằng. Bà sẽ không còn cô độc nữa."
Bà cụ Margaret đứng dậy khỏi chiếc ghế sồi. Cơ thể bà không còn run rẩy vì hoảng loạn, sợ hãi hay dằn vặt nữa. Đôi mắt đục ngầu tuy vẫn không có tiêu cự rõ ràng, nhưng sâu thẳm bên trong đã mất đi sự hoang mang của kẻ lạc lối, thay vào đó là một sự bình yên, thanh thản đến kỳ lạ. Bà ôm khư khư chiếc túi vải thô sát vào lồng ngực, nhìn Elias rồi khẽ cúi đầu chào bằng một sự biết ơn lặng lẽ.

"Cảm ơn cậu trẻ... tôi thấy trong lòng ấm áp lắm..." Margaret thì thầm, giọng nói nhẹ bẫm như một cánh hoa họa mi rụng xuống mặt hồ không gió.

Bà bước ra cửa. Tiếng chuông gió ngân lên một hồi dài tiễn biệt, thanh thoát và trong trẻo như một lời cầu nguyện gửi vào cõi hư vô cho một linh hồn đã tìm thấy sự cứu rỗi cuối cùng giữa sa mạc của sự lãng quên. Dáng người nhỏ bé của người mẹ mất trí nhớ khuất dần sau màn mưa phùn của đại lộ thành thị, nhưng lần này, bà không còn là một bóng ma lạc lối; bà bước đi với một trái tim đã được chữa lành và mãn nguyện tuyệt đối.

Trong tiệm, Elias đứng im lặng nhìn vệt nước mưa loang lổ trên sàn gỗ sồi dần dần khô đi. Anh chậm rãi bước vào hành lang tối phía sau quầy, treo chiếc lọ thủy tinh màu xanh lục của Margaret lên sợi dây thừng mảnh. Chiếc lọ khẽ va chạm vào chiếc lọ màu tím của Arlo và chiếc lọ xám tro của Raymond, tạo nên những tiếng coong... coong... trầm bổng hòa quyện vào bóng tối vĩnh cửu của thư viện hoài niệm.

Ngoài kia, thành phố vẫn tiếp tục gầm rú, tước đoạt và kiến tạo không ngừng nghỉ, biến mọi thứ thành những vệt màu nhạt nhòa trên trang sách lịch sử. Nhưng tại góc khuất này, những mảnh vỡ của tình yêu thương vẫn được lưu giữ, nguyên vẹn và bất tử trước sự tàn nhẫn của thời gian. Elias quay trở lại bàn, chậm rãi lau sạch chiếc tách sứ cổ, chuẩn bị đón nhận linh hồn tiếp theo tìm đến tiệm để gửi gắm những mảnh ký ức rỉ máu của mình.

jusstlia.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com

Tags: #fantasy