vidumoitruong
2.1 Những vấn đề phát triển bền vững để đóng cửa khu mỏ
2.1.1 Những vấn đề môi trường
Trung tâm của một kế hoạch đóng cửa khu mỏ là việc xây dựng một kế hoạch khôi phục dần
dần giúp đảm bảo:
• cảnh quan sau khi khai thác có tính an toàn và ổn định từ gốc độ vật lý, địa hóa và sinh thái
• bảo vệ chất lượng các nguồn nước xung quanh
• thiết lập việc sử dụng đất sau khi khai thác theo như đã thống nhất và xác định rõ ràng
mang tính thỏa đáng đối với cộng đồng và chính phủ
• thống nhất những tiêu chí thành công với các bên liên quan thích hợp, giám sát và báo cáo thông tin cho các bên liên quan.
Việc xây dựng một cơ sở khai thác mỏ trong đó có hệ thống hạ tầng và trang thiết bị xử lý kèm theo, thông thường sẽ yêu cầu thay đổi vĩnh viễn hiện trạng đất hiện tại, tác động tới quần thể động thực vật, những tác động thủy sinh và tiềm ẩn gây nhiễm bẩn ở cấp độ nào đó
Nghiên cứu tình huống: Khu mỏ Bottle Creek, Western Australia
Dự án Khai thác Vàng Bottle Creek nằm cách Menzies 95km về phía tây bắc trong khu
mỏ vàng phía bắc của tiểu bang Western Australia (WA). Khu mỏ bắt đầu hoạt động từ
tháng 6 năm 1988 nhưng do trữ lượng vàng hạn chế nên khu mỏ đã ngừng hoạt động
vào tháng 11 năm 1989. Ba hầm mỏ lộ thiên và các địa hình phế thải, một khu nhà máy,
băng truyền quặng thô và hai cơ sở lưu trữ chất thải đã được hình thành trong giai đoạn
hoạt động của dự án.
Khu mỏ đã được khôi phục trên quy mô lớn vào năm 1994, nhưng ngay sau đó 300
milimet nước mưa xối xả đã gây ra xói mòn nghiêm trọng và tạo ra nhiều rãnh lớn trên
địa hình đất. DME yêu cầu Norgold phải tiến hành công tác khôi phục phù hợp để khắc
phục thiệt hại do thiên tai này gây ra.
Những vấn đề này gồm có việc khắc phục các rãnh xói mòn, tái trồng cây cho những khu vực cằn cỗi, phá bỏ những góc dốc (tại một số cấu trúc còn sót lại), phủ đất mặt cho một số khu vực và lấp đầy những hố khoan.
Tháng 11 năm 1997, Norgold đã nộp bản kế hoạch khôi phục mới. Công tác này đã được
hoàn tất và tháng 5 năm 1998. DME đã tiến hành một cuộc thanh tra khu mỏ mới vào
tháng 5 năm 1998 và xác định thêm một số công việc nhỏ nữa.
Tháng 11 năm 1998, Norgold đã nộp bản đánh giá tuân thủ cũng như một báo cáo của
chương trình giám sát trong đó báo gồm việc xác minh công tác khôi phục và xây dựng
một hệ sinh thái có sử dụng phân tích chức năng sinh thái (EFA).
Khu mỏ Bottle Creek trước và sau khi khôi phục
Nghiên cứu tình huống: Mỏ Mine Misima, Papua New Guinea
Mỏ vàng Misima bắt đầu hoạt động vào năm 1987 và hoạt động cho tới năm 2004 sản
xuất được 3,6 triệu auxơ vàng. Các công việc đào đắp đất khôi phục và tháo dỡ cuối
cùng được hoàn thành vào tháng 4 năm 2005.
Các bộ phận được nhận định thuộc lý sinh chính bao gồm khoảng trống lộ thiên,
bãi đổ rác thải trên mặt đất, hàng dự trữ, bãi rác thải mềm gần biển, hệ thống đuôi
quặng dưới biển, đường xá lưu thông thăm dò và cơ sở hạ tầng. Những nguy hiểm
lý sinh bao gồm sự kém ổn định về lý tính, ăn mòn và đóng cặn, ổn định về địa hóa
(hệ thống thoát nước của đá axít và lọc kim loại) và các khu vực bị ô nhiễm.
Kinh tế xã hội – những nguy hiểm chính đã được xác định liên quan tới tính bền
vững liên tục của những tiện ích (điện, nước, truyền thông), tiến bộ xã hội (sức
khỏe, giáo dục, pháp lý), cơ sở hạ tầng (càu tàu, đường xá, đường băng) phát triển
doanh nghiệp, an toàn thực phẩm, an toàn quỹ ủy thác sau khi đóng cửa mỏ khai
thác.
Có một tương tác đặc trưng giữa các khía cạnh của việc đóng cửa mỏ khai thác về kinh
tế – xã hội và lý sinh khác nhau.
Nghiên cứu tình huống: Mỏ khai thác vàng Timbarra, New South Wales
Mỏ vàng Timbarra nằm cách Tenterfield, New South Wales, 30 km về phía đông. Ross
Mining bắt đầu phát triển vào tháng 5 năm 1998 từ một công ty lọc bãi vàng nhỏ (6 ha),
nhưng đã sớm đóng cửa sáu tháng sau đó, sau khi sản xuất 15.000 auxơ.
thành lập Nhóm Tậptrung Đóng cửa khu mỏ Timbarra (TCFG), mục đích của những người này là tạo điều
kiện thuận lợi để đối thoại với các kỳ vọng khôi phục và các quá trình mong muốn để
đóng cửa mỏ khai thác. TCFG đã đưa ra một số các vấn đề kỹ thuật cần phải có giải pháp nhằm có thể được
giải quyết và đưa vào kế hoạch đóng cửa khu mỏ. Một số nghiên cứu đã được khởi
xướng để hỗ trợ cho kế hoạch đóng cửa. Những nghiên cứu đó gồm:
thiết kế khu vực đầm lầy để giảm sự tập trung nitrat (đe dọa loài ếch) dẫn từ bề mặ
lọc đã được biến đổi lại cơ cấu.
khôi phục môi trường sống cho các loài động vật đang bị đe dọa và quý hiếm
lắp đặt những tổ chim và dơi để tăng khả năng hình thành môi trường sống.
Tìm kiếm những nghiên cứu được sử dụng để lập kế hoạch cho các khái niệm khôi
phục ban đầu, bao gồm hình dạng địa hình dự kiến và các mục tiêu tái phủ xanh. TCGF
đã đánh giá cẩn thận các khái niệm trong suốt năm 2002. Một dự thảo kế hoạch đóng cửa mỏ khai thác đã được lưu hành tới các thành viên
TCFG trước khi hoàn tất, và công bố rộng rãi. Kế hoạch đưa ra một bản thiết kế cho các công việc khôi phục tại khu vực khai thác,
được hoàn thành vào tháng 11 năm 2003 với chi phí 2,6 triệu đô-la.
Nghiên cứu tình huống: Beenup
Khu mỏ Beenup đặt tại vùng Tây Nam của Western Australia, gần nơi giao nhau của
Sông Blackwood và Scott, trên Đồng bằng Duyên hải Scott. Việc sử dụng đất tại khu
vực Đồng bằng Duyên hải Scott chủ yếu gồm có sản xuất cỏ cho bò thịt và bò sữa, lâm
nghiệp và một số khu vực trồng rau quả.
Các công ty khai thác cát khoáng sản tại Beenup bắt đầu khai thác vào tháng một năm
1997 và đóng cửa vào tháng 2 năm 1999 bỏ lại một khu vực lớn nước sâu, nhiều bể
nước tạm thời và vĩnh cửu và những kho dự trữ có chứa phế liệu của khu mỏ gồm có cát
sạch, đất sét chất lượng tốt và nhiều mức khoáng sản pyrit khác nhau.
. Tại thời điểm đóng cửa khu mỏ, một khu vực
tổng 336 ha đất đã bị đào xới. Đa số việc đào xới được kết hợp với ao nạo vét và các cơ
sở lưu trữ trên mặt đất.
Các vấn đề chính được nhận định là:
chất lượng nước thải của khu khai thác
độ an toàn của đất axít
tác động tới nước bề mặt và nước ngầm
khôi phục lâu dài Khu vực Lưu trữ Phát triển K
tác động tới cơ chế nước
khôi phục khu vực khai thác mỏ thử nghiệm
sử dụng đất và cảnh quan trong khu vực.
Kết quả của quá trình tư vấn ban đầu là lựa chọn một khái niệm ưa dùng trong
đó có quá trình lấp ao nạo vét bằng vật liệu khai thác được tạo ra khu vực đầm
lầy bao quanh bởi đồng cỏ và cây cối. Việc lựa chọn khái niệm này định hướng
cho quá trình phát triển Kế hoạch Khôi phục và được công nhận rộng rãi bới
Chính phủ và BCG.
Trong năm 2001, BCG thiết lập một hệ thống kiếm toán độc lập trong tiến trình
chống lại Kế hoạch Khôi phục dựa trên một bản dự thảo mà họ phát triển.
Quá trình này tạo điều kiện để tiếp tục cải thiện và đem lại cho cộng đồng địa
phương và công ty cơ hội để đảm bảo triển khai công nghệ khôi phục tiên tiến
nhất trong tương lai, nhờ đó kết quả cuối cùng sẽ chấp nhận được cho nhiều
thế hệ sau này, một thời gian dài sau khi kết thúc quá trình.
Kể từ khi hoàn thiện công việc đào đắp đất và các hoạt động tái phủ xanh, cả
Chính phủ và công đồng vẫn duy trì niềm tin và quyền sở hữu trong tiến trình
của dự án khôi phục và công đồng trở nên thân thuộc với một số nhà chức trách
và trao đổi với họ về các nguyên tắc và tiến trình hướng tới sự bền vững.
4.2.5 Quá trình khôi phục dần dần
Việc khôi phục dần dần các bộ phận của khu vực mỏ khai thác khi các khu vực này sẵn
sàng là một cách quan trọng để giảm trách nhiệm pháp lý lâu dài khi đóng cửa khu mỏ và
được các cơ quan chức năng có thẩm quyền nhất khuyến khích. Tích cực khôi phục các
khu vực trong suốt các giai đoạn hoạt động có thể đem lại hiệu quả. Các công việc đào đắp đất có thể hoàn thành khi có các thiết bị hay khi thiết bị của nhà thầu được huy động tới một khu vực khai thác để phục vụ cho các công việc khác. Hợp đồng thường có thể kéo dài để tiến hành các công việc khôi phục, hạn chế việc huy động.
Các công việc đào đắp đất có hiệu quả nhất có thể được hoàn thành khi kết hợp với kế
hoạch của mỏ khai thác. Ví dụ, khi đá phế liệu được vận chuyển ra khỏi hầm mỏ và đưa
vào bãi, đá phế liệu có thể được đưa tới một bãi liền kề đang cần đá phủ bên ngoài trên địa hình cuối cùng để giảm ăn mòn. Thay vì phải xử lý vật liệu hai lần, những chi phí ban đầu gia tăng trong quá trình vận chuyển với khoảng cách xa hơn nhiều hơn so với chi phí được bù lại nhờ quá trình khôi phục hiệu quả và tiến triển dần theo thời gian. Lợi nhuận của quá trình khôi phục dần dần gồm có:
giảm “dấu vết” không được khôi phục của khu mỏ •khả năng thử nghiệm các lựa chọn khác nhau và chứng minh các kết quả khôi phục cho một cộng đồng lớn hơn
cam kết với các bên liên quan và người lao động rằng khu mỏ có một chương trình khôi
phục mỏ khai thác thiết thựcgiảm tổng chi phí đóng cửa khu mỏgiảm rủi ro của sai sót và trách nhiệm pháp lý cuối cùnggiảm “trái phiếu khôi phục” được đăng cùng với các cơ quan chức năng có thẩm quyền.Các công ty khai thác mỏ đang đối mặt với áp lực từ các cơ quan chức năng trong việc tiến
hành khôi phục dần dần và giảm tồn đọng những công việc chưa giải quyết xong. Cơ quan
4.3.2 Giảm thiểu trách nhiệm pháp lý tiềm ẩn về môi trường
Khi việc đóng cửa mỏ khai thác tới gần, có một cơ hội để giảm trách nhiệm pháp lý về môi trường bằng cách quản lý luồng chất thải. Có thể có một cơ hội để xử lý quặng có giá trị kinh tế phụ tại các nhà máy mà không được xử lý bình thường nhưng, nếu bỏ không xử lý và đưa vào kho dự trữ, có thể dẫn đến hệ thống thoát nước của đá axít và tốn thêm chi phí để khôi phục so với quá trình tổn thất. Những ví dụ khác có thể có:
• Xử lý vật liệu ôxít tại nhà máy và chuyển vật liệu ôxít thành đuôi quặng để tạo ra địa tầng tốt, hoặc vỏ bọc, trên các đuôi quặng phản ứng mạnh hơn. Điều này có thể là một giải pháp kinh tế, thay vì bố trí xe tải và càng ủi truyền thống cho chất rắn tốt trong quá trình cách ly chất phế thải và có thể yêu cầu vật liệu nguồn gốc từ bên ngoài khu vực bị đào xới hiện nay.
PHỤ LỤC A: Các vấn đề, hậu quả và lựa chọn để giảm bớt tác động
Khoảng trống và hầm dưới lòng đất
Các vấn đề và hậu quả Lỗi khai thác theo bậc hoặc sập
khoảng trống Lún bề mặt Các lựa chọn và kỹ thuật Lấp đất ở nấc trên bằng đá hoặc hỗn hợp phế liệu (trong quá trình hoạt động
Lún bề mặt có kế hoạch
• Tác động tới nước bề mặt -Kết hợp địa hình bị lún xuống
Chuyển hướng sông
Hệ thống thoát nước của đá axít
và ô nhiễm hydrocacbon
• Tác động xấu tới chất lượng
nước ngầm Khôi phục mực nước ngầm (ngập dưới lòng đất)
Xử lý và thay thế nước có tính axít, vi khuẩn
giảm sunfit
Cách ly những lớp ngậm nước đã biết
(trong hoạt động)
Lối vào lấp kín và trát xi măngNgăn tiếp cận các công việc dưới lòng đất bằng
cách lấp đất đầy chỗ bị sụt ở cổng sau đó đặt nắp
xi măng xây dựng (nắp) trên cổng và tất cả lối vào
ở bề mặt (như là đường thoát hiểm , lỗ thông hơi)
An toàn công cộng Gây tổn thương hoặc chết người
Hầm mỏ lộ thiên Các vấn đề và hậu quả Hệ thống thoát nước của đá axít
và sản xuất nước lọc từ vách lộ thiên
• Chất lượng nước ngầm kém Các lựa chọn và kỹ thuậtLấp đất đầy bên trên mực nước ngầm
được khôi phục dự tính
Duy trì chất lượng nước trong suốt quá trình
khai thác mỏ
Xử lý nước (vôi)
Bịt kín các bề mặt có khả năng sản sinh ARD
Làm hầm mỏ ngập nước (như là chuyển hướng
dòng chảy và/hoặc khôi phục nước ngầm
Khoảng trống ổn định
• Sụp đột ngột
• Lỗi vách tường Làm tường cao và sửa lại tường thấp để đạt
góc dốc ổn định
Đập hoặc phá tường cao để có góc ổn định
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com