Chào các bạn! Truyen4U chính thức đã quay trở lại rồi đây!^^. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền Truyen4U.Com này nhé! Mãi yêu... ♥

Chương 11

VÀ CỨ THẾ, Starling tìm về nơi khởi nguồn cho mọi biến cố của đời mình, Bệnh viện Tâm thần Hình sự Bang Baltimore, nay đã đóng cửa phế bỏ. Khối kiến trúc cũ kỹ màu nâu, ngôi nhà của những cực hình, hiện bị khóa xích và cài thanh chắn, chằng chịt những hình vẽ bậy và đang chực chờ quả tạ phá dỡ lao vào.

Viện vốn đã rệu rã nhiều năm trước khi gã giám đốc Frederick Chilton bốc hơi bí ẩn lúc đi du lịch. Những tiết lộ nối tiếp nhau về nạn lãng phí, bộ máy quản lý tồi tệ cùng sự tàn tạ của cơ sở hạ tầng đã khiến nghị viện nhanh chóng bóp nghẹt nguồn ngân sách. Vài bệnh nhân được đưa tới các nhà dòng hoặc trại điên khác của bang, số khác đã khuất núi, và một nhóm nhỏ thì vật vờ khắp các vỉa hè Baltimore giống như lũ thây ma ngấm thuốc Thorazine, hậu quả của một chương trình điều trị ngoại trú đầy lỗi nhịp khiến nhiều kẻ bị đóng băng đến chết.

Chờ đợi trước tòa nhà cũ, Clarice Starling chợt nhận ra lý do mình lục lọi mọi ngóc ngách khác trước tiên, cô chỉ đang trốn tránh việc phải đặt chân vào cái hang quỷ này thêm một lần nữa.

Gã quản lý đến trễ tới bốn mươi lăm phút. Hắn là một lão già đậm người, đi một chiếc giày chỉnh hình phát ra tiếng nện cồm cộp, mái tóc cắt kiểu Đông Âu trông như tự xử ở nhà. Lão thở hồng hộc dẫn cô đến lối cửa hông, đi xuống vài bậc so với vỉa hè. Ổ khóa cũ đã bị bọn nhặt phế liệu phá tung, cửa giờ được xích lại bằng hai ổ khóa móc. Mạng nhện phủ đầy bụi giăng trên mấy mắt xích. Những cọng cỏ mọc từ khe nứt bậc thềm quệt vào mắt cá chân Starling trong lúc lão quản lý loay hoay với chùm chìa khóa. Trời cuối chiều đầy mây âm u, ánh sáng mờ đục như có hạt và không một bóng râm.

"Tôi không biết rành chỗ này đâu, tôi chỉ đi ngó mấy cái báo động cháy thôi," lão già nói.

Cho ai thắc mắc sao mình lại ghi thành "không biết rành" thì lý do là trong bản gốc ông này dùng sai ngữ pháp (I am not knowing) với dùng từ cổ alarums thay vì alarm, sai chính tả liên tục nên chứng tỏ ông này không sành tiếng Anh, mình ghi thế này cho hợp ngữ cảnh nhân vật hơn. Thực ra chương trước bà Corey cũng sai ngữ pháp liên tục nhưng bả vẫn biết nhiều từ chuyên môn nên bản thân bả cũng là người nói tiếng Anh=)))

"Ông có biết ở đây còn để lại giấy tờ gì không? Có mấy cái tủ sắt đựng tài liệu, hay hồ sơ bệnh án nào không?"

Lão nhún vai. "Hồi viện tâm thần dẹp tiễn, người ta mở phòng khám methadone ở đây được vài tháng. Họ khuân sạch mọi thứ xuống hầm, giường chiếu, chăn màn, tôi cũng chẳng rõ có những gì. Dưới đó độc cho cái bệnh hen của tôi lắm, mốc meo, mốc kinh khủng. Mấy cái đệm giường mốc xanh mốc đỏ lên cả. Vào đấy tôi không tài nào thở được. Đi cầu thang thì cái chân tôi chịu không thấu. Tôi tính dẫn cô đi, nhưng mà-?"

Starling thà có một người đồng hành còn hơn không, dù là gã này, nhưng lão già sẽ chỉ làm vướng chân cô. "Thôi khỏi, ông cứ đi việc của mình đi. Văn phòng ông ở chỗ nào?"

"Dưới dãy nhà đằng kia, chỗ hồi trước là phòng cấp bằng lái xe ấy."

"Nếu một giờ nữa tôi không quay lại-"

Lão già nhìn lên đồng hồ. "Nửa giờ nữa là tôi được nghỉ rồi."

Đúng là chết tiệt, chịu đựng thế là quá đủ rồi. "Việc ông phải làm cho tôi bây giờ, thưa ông, là ngồi im trong văn phòng đợi tôi trả lại chìa khóa. Nếu sau một giờ tôi không quay lại, hãy gọi tới số này trên thẻ đặc vụ và dẫn họ tới chỗ tôi xuống. Còn nếu lúc tôi ra mà ông không có mặt, nếu ông dám thu dọn đồ đạc chuồn về nhà, sáng mai đích thân tôi sẽ đi gặp cấp trên của ông để khiếu nại. Chưa hết đâu - chưa hết đâu, ông sẽ được Sở Thuế vụ sờ gáy để kiểm toán, và hồ sơ của ông sẽ bị Cục Nhập cư và... và Nhập tịch lật lại để xem xét. Ông rõ chưa? Tôi đang chờ câu trả lời đấy, thưa ông."

"Tất nhiên là tôi sẽ chờ chị rồi. Chị việc gì phải dọa dẫm người ta thế chứ."

"Cảm ơn ông nhiều, thưa ông," Starling đáp.

Lão quản lý bám đôi tay thô bự vào thanh vịn để rướn người lên lối vỉa hè, Starling nghe tiếng chân đi thọt cồm cộp của lão xa dần rồi tắt hẳn. Cô đẩy cánh cửa bước vào khu vực chiếu nghỉ của thang thoát hiểm. Ánh sáng xám mờ lọt qua những ô cửa sổ cao vút có rào sắt nơi lồng thang. Cô đắn đo xem có nên chốt cửa lại không, rồi chọn cách buộc thắt nút sợi xích ở mặt trong để phòng hờ trường hợp đánh rơi chìa khóa thì vẫn mở được cửa.

Trước đây, mỗi lần tới nhà thương điên này để lấy lời khai của Hannibal Lecter, Starling đều đi qua cổng chính, vì vậy lúc này cô phải khựng lại một lát để xác định xem mình đang đứng ở vị trí nào.

Cô theo lối thang cứu hỏa đi lên tầng trệt. Mấy khung cửa sổ nhám càng nuốt chửng thứ ánh sáng cuối ngày đang lịm dần, quăng cả căn phòng vào khoảng tối âm u. Sẵn chiếc đèn pin cỡ lớn, Starling rà được một công tắc và bật đèn trần, may mắn thay vẫn còn ba bóng sót lại phát sáng trên chiếc máng đèn đã vỡ. Mấy cọng cáp điện thoại bị cắt đứt loe ngoe nằm chỏng chơ trên bàn lễ tân.

Bọn phá hoại dùng bình sơn xịt đã bén mảng đến nơi này. Một hình thù sinh dục nam dài cỡ tám foot được vẽ thô bỉ ngay trên tường phòng lễ tân, bên cạnh là dòng chữ viết sai chính tả be bét FARON MAMA JERK ME OF.

Cửa phòng giám đốc mở hờ. Starling đứng lặng ở lối vào. Đây là nơi cô bắt đầu nhiệm vụ đầu đời thời còn là lính mới ở FBI, cái thời cô còn tin vào mọi thứ, còn ngỡ rằng chỉ cần làm được việc, chỉ cần chịu được nhiệt là sẽ được đón nhận, chẳng màng đến chủng tộc, tôn giáo, màu da, xuất thân hay việc mình có phải là kẻ biết luồn cúi trong phe cánh của mấy gã cầm quyền hay không. Qua bao biến cố, cô chỉ giữ lại đúng một đức tin duy nhất. Cô tin mình gánh vác được.

Chính tại đây, gã Giám đốc Chilton từng chìa bàn tay nhẫy mỡ ra gạ gẫm cô. Cũng tại đây, lão đã dở trò đi đêm, nghe lén, và với ảo tưởng rằng mình thừa khôn ngoan để đấu trí với Hannibal Lecter, lão đã tự tay đưa ra những quyết định chí mạng, mở đường cho Lecter đào tẩu trong một cuộc tắm máu kinh hoàng.

Chiếc bàn của Chilton vẫn chỏng chơ trong phòng, riêng cái ghế đã bốc hơi, chắc do nó vừa vặn để bọn trộm tiện tay khuân đi. Mấy ngăn kéo trống hoác, chỉ sót lại một viên thuốc sủi Alka-Seltzer nát vụn. Trong phòng vẫn còn hai cái tủ sắt đựng tài liệu. Khóa của chúng thuộc loại xoàng và Starling, với kinh nghiệm của một cựu đặc vụ kỹ thuật, đã bẻ khóa xong xuôi trong chưa đầy một phút. Ngăn kéo dưới cùng chứa một ổ bánh mì kẹp mốc meo quắt queo trong túi giấy, mấy tờ biểu mẫu của trung tâm methadone, kèm theo một chai nước xịt miệng, tuýp keo vuốt tóc, một cái lược và ít bao cao su.

Starling rùng mình nghĩ đến khu biệt giam dưới hầm ngầm như ngục tối của viện tâm thần, nơi gã Lecter đã nếm mật nằm gai suốt tám năm. Cô thực lòng chẳng muốn mò xuống cái hang đó chút nào. Cô hoàn toàn có thể bốc máy gọi một đội cảnh sát địa phương đến hỗ trợ. Hoặc cô có thể đánh tiếng nhờ văn phòng Baltimore cử thêm một đặc vụ FBI nữa đi cùng. Trời cuối chiều âm u đã muộn lắm rồi, và dù có đi ngay bây giờ cô cũng chẳng né nổi đặc sản kẹt xe giờ cao điểm ở Washington. Càng nán lại lâu, mọi chuyện sẽ càng tệ hơn.

Bất chấp bụi bặm bám đầy, cô chống tay lên bàn của Chilton để cân nhắc quyết định. Liệu cô có thực sự tin dưới hầm còn sót hồ sơ, hay cô chỉ đang bị lực hút của nơi đầu tiên mình giáp mặt Hannibal Lecter kéo lại? Nếu quãng thời gian lăn lộn trong ngành cảnh sát dạy cho Starling một bài học về chính mình, thì đó là: Cô không phải loại người ham hố cảm giác mạnh, và cô sẽ mãn nguyện lắm nếu cả đời này chẳng bao giờ phải biết sợ hãi là gì nữa. Nhưng nhỡ đâu dưới hầm có tài liệu thật thì sao. Chỉ năm phút thôi là cô sẽ rõ trắng đen.

Ký ức về tiếng xích sắt va vào nhau rầm rầm của những cánh cửa đặc chủng đóng sập sau lưng năm xưa lại ùa về. Phòng hờ kịch bản có cánh cửa nào đó bất thình lình sập lại giam lỏng mình lần này, cô bốc máy gọi cho văn phòng FBI Baltimore, báo cáo vị trí hiện tại và chốt giao kèo sẽ gọi lại sau một giờ để xác nhận đã rút ra ngoài.

Đèn dọc lối cầu thang bên trong vẫn sáng, lối đi mà năm xưa Chilton từng tháp tùng cô xuống khu hầm ngầm. Chính tại nơi này, lão đã phổ biến các nguyên tắc bảo an khi đối mặt với Hannibal Lecter, và cũng chính tại nơi này, ngay dưới bóng đèn này, lão đã khựng lại để cho cô xem bức ảnh cất trong ví chụp cô y tá từng bị gã Lecter cắn nuốt mất lưỡi trong một ca khám sàng lọc. Nếu bả vai của Lecter từng bị trật khớp trong lúc gã bị khống chế, hẳn là phải có phim chụp X-quang lưu lại chứ.

Một luồng khí lạnh lùa qua cầu thang quẹt qua gáy cô, cảm giác như có khung cửa sổ nào đó đang mở toang quanh đây.

Một vỏ hộp bánh mì kẹp McDonald's vứt ở chiếu nghỉ, khăn giấy bay tứ tung. Cái ly cáu bẩn sót lại vài hạt đậu. Thức ăn bới từ bãi rác. Góc tường có mấy bãi phân người cáu lại cùng giấy chùi. Lối cầu thang có đèn chỉ xuống tới chiếu nghỉ tầng trệt, trước cánh cửa sắt bọc thép khổng lồ của khu biệt giam tội phạm đặc biệt nguy hiểm, giờ đang mở toang hoác và được móc nép vào tường. Cây đèn pin của Starling dùng năm viên pin đại tạo ra một quầng sáng rộng, rõ nét.

Cô quét đèn dọc hành lang sâu hun hút của phân khu tối mật năm xưa. Cuối dãy có cái gì đó to lù lù. Cảnh tượng những cánh cửa buồng giam mở toang mang lại cảm giác âm u, rợn tóc gáy. Mặt sàn ngập ngụa bao bì bánh mì và ly chén bẩn. Một chiếc lon nước ngọt bám muội đen, thứ được chế lại làm tẩu chơi ma túy đá, nằm chỏng chơ trên bàn trực của hộ lý.

Starling gạt thử mấy công tắc đèn đằng sau bàn trực. Điện tối thui. Cô móc điện thoại ra. Ánh đèn đỏ lóe lên đầy nhức mắt giữa khoảng tối âm u. Sóng sánh dưới hầm ngầm hoàn toàn tịt ngóm, nhưng cô vẫn cố ý nói lớn vào ống nghe. "Barry, lùi xe tải vào lối cửa hông đi. Cầm theo cái đèn pha nữa nhé. Nhớ mang mấy cái xe đẩy để còn khuân đống này lên lầu... Được rồi, xuống đây đi."

Đoạn, Starling quát thẳng vào khoảng không tăm tối. "Ai ở bên trong nghe đây. Tôi là cảnh sát liên bang. Nếu các người đang tá túc bất hợp pháp ở đây, các người cứ việc rời đi. Tôi sẽ không bắt bớ ai hết. Tôi không rảnh để bận tâm về các người. Sau khi tôi xong việc, các người có quay lại đây hay không tôi cũng chẳng màng. Giờ thì bước ra ngoài đi. Còn nếu đứa nào dám giở trò cản đường, tao sẽ bắn nát gáo dừa tụi mày khiến tụi mày tàn phế suốt đời đấy. Cảm ơn."

Giọng cô vang vọng khắp dãy hành lang, nơi trước đây biết bao tội nhân đã gào rú đến rách họng, khàn cả giọng và lấy cái lợi sún răng mà cạp vào chấn song.

Starling nhớ đến bóng dáng to lớn đầy tin cậy của Barney, gã hộ lý năm xưa mỗi bận cô tới lấy lời khai của Lecter. Cả cái cách đối đãi lịch sự đến kỳ quặc giữa Barney và gã bác sĩ. Giờ thì vắng bóng Barney rồi. Một mảnh ký ức thời đi học bỗng trỗi dậy, và như một thói quen tự rèn luyện tinh thần, cô ép mình phải gọi tên chính xác điều đó:

Tiếng chân vang vọng miền ký ức

Dọc lối đi xưa ta bỏ qua

Hướng tới cánh cửa chưa từng mở

Bước vào trong một khoảng vườn hồng.

Vườn hồng, phải rồi. Cái chốn chết tiệt này thì chắc chắn éo phải là vườn hồng.

Starling, người dạo gần đây vốn bị các bài báo xã luận nhồi nhét tư tưởng phải ghét bỏ thứ vũ khí cô mang lẫn ghét chính mình, giờ đây lại thấy việc chạm tay vào súng chẳng có gì là đáng ghét mỗi khi lòng thấy bất an. Cô cầm khẩu .45 áp dọc hông chân, bắt đầu dò dẫm tiến vào hành lang theo quầng đèn pin. Thật khó để căng mắt thủ cả hai bên mạn sườn cùng một lúc, nhưng nguyên tắc sống còn là tuyệt đối không được bỏ lại bất cứ ai sau lưng. Tiếng nước nhỏ giọt tong tong đâu đó.

Mấy cái khung giường tháo rời chất đống trong các buồng biệt giam. Vài phòng khác là đệm giường chỏng chơ. Nước ngập thành vũng ngay lối đi giữa, và Starling, một người luôn xót đôi giày của mình, phải nhảy qua nhảy lại bên mép vũng nước hẹp để tiến lên. Ký ức về lời dặn của Barney năm xưa, cái thời các buồng giam còn kín chỗ, chợt ùa về. Xuống đó thì cứ đi ngay giữa lối mà đi.

Đúng là mấy cái tủ hồ sơ rồi. Chúng nằm chễm chệ ngay giữa hành lang, kéo dài suốt lối đi, lộ ra lớp sơn màu xanh ô liu xám xịt dưới quầng đèn pin của cô.

Đây là buồng biệt giam cũ của Multiple Miggs, gã tù mà cô kinh tởm nhất mỗi bận đi qua. Miggs, kẻ chuyên thì thầm những lời dơ dáy và tạt chất thải vào người cô. Cũng chính là Miggs, gã sa cơ bị Lecter ép chết bằng cách bắt tự nuốt chửng cái lưỡi thối tha của mình. Sau khi Miggs bỏ mạng, Sammie chuyển vào căn buồng này. Sammie, gã điên được Bác sĩ Lecter khích lệ làm thơ với những tác động tâm lý rợn người lên gã. Đến tận lúc này, cô vẫn như nghe thấy tiếng Sammie đang gào thét những vần thơ của mình:

TÔI MÚN ĐẾN VỚI CHÚA GIÊXU

TÔI MÚN ĐI CÙNG CHÚA KITÔ

TÔI CÓ THỂ ĐI CÙNG CHÚA GIÊXU

NẾU TÔI CƯ XỬ THẬT NGOAN NGOÃN.

Cô vẫn còn cất giữ mảnh giấy viết nguệch ngoạc bằng bút màu của gã ở đâu đó.

Căn buồng giờ chật ních những tấm nệm xếp chồng, bên cạnh là mấy kiện drap trải giường được bọc túm lại trong các tấm vải lót.

Và cuối cùng thì, buồng biệt giam của Hannibal Lecter.

Chiếc bàn gỗ chắc chắn nơi lão ngồi đọc sách năm xưa vẫn chốt chặt xuống sàn ngay giữa phòng. Mấy tấm ván của kệ sách thì đã bị tháo sạch, chỉ còn trơ lại mấy cái giá sắt nhô ra từ vách tường.

Đáng lý ra Starling phải tập trung vào mấy cái tủ sắt tài liệu, nhưng ánh mắt cô đã bị đóng đinh vào căn buồng trống. Chính tại đây, cô đã trải qua cuộc kỳ ngộ chấn động nhất đời mình. Nơi cô từng đi từ sửng sốt, bàng hoàng cho đến kinh ngạc tột độ.

Cũng tại nơi này, cô đã nghe những sự thật về chính mình, những sự thật trần trụi đến tột cùng khiến lồng ngực cô rung lên bần bật như tiếng chuông lớn trầm sâu.

Cô muốn bước vào trong căn buồng đó. Cô muốn dấn thân vào, một sự thèm khát giống như thứ xung động hối thúc ta gieo mình từ ban công xuống đất, hay như ánh thép lạnh loang loáng của đường ray đang mời gọi ta khi tiếng tàu xình xịch tiến lại gần.

Starling quét đèn pin một vòng quanh mình, nhìn ra sau lưng dãy tủ sắt đựng tài liệu, rồi lướt ánh sáng qua mấy buồng giam kế cạnh.

Lực hút của sự tò mò kéo cô bước qua bậu cửa. Cô đứng giữa lòng căn buồng nơi Hannibal Lecter đã bị giam cầm suốt tám năm trời. Cô thế chỗ vào đúng khoảng không của lão, nơi cô từng nhìn thấy lão đứng sừng sững, cứ ngỡ cơ thể mình sẽ run lên vì ớn lạnh, nhưng tuyệt nhiên không. Cô đặt khẩu súng và cây đèn pin lên bàn của lão, vén khéo để đèn không bị lăn, rồi áp chặt hai bàn tay xuống mặt bàn, bên dưới những ngón tay cô lúc này chỉ có những mảnh vụn rác vụn bánh khô khốc.

Xét cho cùng, ấn tượng tổng thể lại gây thất vọng. Buồng giam trống hoác, người cũ đi rồi chỉ còn trơ lại cái vỏ hệt như lớp da rắn lột. Starling ngộ ra một chân lý: Cái chết và hiểm nguy chẳng cần tới những thứ phông bạt, phụ kiện đi kèm để dọa người. Nó có thể ẩn hiện ngay trong hơi thở ngọt ngào của người tình. Hoặc vào một chiều nắng ráo nơi góc chợ cá, với bản nhạc "La Macarena" xập xình phát ra từ cái đài boombox.

Vào việc thôi. Trước mặt cô là dãy tủ tài liệu dài chừng hai mét rưỡi, gồm bốn chiếc tủ sắt cao đến cằm. Mỗi tủ có năm ngăn kéo, được chốt bằng một ổ khóa bốn khía duy nhất nằm cạnh hộc trên cùng. Chẳng cái nào khóa cả. Ngăn nào cũng nhét đầy hồ sơ trong các bìa kẹp, có tập dày cộp. Những chiếc bìa giấy giả đá kiểu cũ đã mục nát mủn ra theo năm tháng, xen kẽ với những chiếc bìa manila đời mới hơn. Đây là hồ sơ bệnh án của những người đã chết, lưu trữ từ tận ngày thành lập viện năm 1932. Chúng được xếp hờ theo bảng chữ cái, vài xấp tài liệu còn được nhét phẳng phiu phía sau các bìa kẹp trong hộc kéo sâu. Starling lướt nhanh, cô gác cây đèn pin nặng trịch lên vai, những ngón tay của bàn tay rảnh rỗi đảo liên hồi qua các tập hồ sơ, bụng bảo dạ ước gì có cái đèn pin tiểu để ngậm vào mồm cho tiện. Khi đã nắm thóp được quy luật sắp xếp, cô bỏ qua nguyên cả hộc tủ, lướt qua vần Y, vài hồ sơ vần K, tiến thẳng tới vần L và bùm: Lecter, Hannibal.

Starling rút bìa kẹp manila dáng dài ra, nắn nhanh để kiểm tra độ cứng của phim chụp X-quang. Cô đặt tập hồ sơ lên trên và lật ra, để rồi thấy trước mắt là bệnh án của kẻ quá cố I. J. Miggs. Chết tiệt thật. Gã Miggs này chết rồi mà vẫn định ám cô từ thế giới bên kia sao. Cô vứt tập hồ sơ lên đỉnh tủ sắt rồi lật tiếp như bay sang vần M. Bìa manila của chính Miggs nằm ngay đó, đúng vị trí bảng chữ cái. Có điều nó trống hoác. Lỗi xếp tài liệu à? Có ai đó đã nhầm lẫn nhét ruột hồ sơ của Miggs vào vỏ bọc của Hannibal Lecter chăng? Cô rà lại toàn bộ vần M để tìm xem có xấp giấy rời nào mất vỏ bọc không. Cô lại lộn về vần Y, lòng dâng lên nỗi bực bội rõ rệt. Cái mùi của cái chốn này bắt đầu hành hạ cô nặng nề hơn. Lão trông nhà nói chẳng sai, ở đây ngột ngạt đến khó thở. Cô mới rà tới nửa vần Y thì giật mình nhận ra cái mùi hôi thối kia đang... nồng nặc lên một cách nhanh chóng.

Tiếng động nước bõm một cái sau lưng làm cô quay ngoắt lại. Chiếc đèn pin giơ cao sẵn sàng nện xuống, tay kia thọc sâu vào trong áo blazer găm chặt lấy báng súng. Một gã đàn ông cao lớn, quần áo rách rưới bẩn thỉu hiện ra dưới quầng sáng đèn. Một bên bàn chân sưng vù, to quá khổ của gã đang dẫm dưới nước. Một tay gã dang rộng khỏi hông. Tay còn lại đang lăm lăm một mảnh đĩa vỡ. Một bên ống chân và cả hai bàn chân gã quấn chằng chịt những dải vải xé ra từ ga giường.

"Chào cô," gã lên tiếng, giọng nhịu lại vì lưỡi đóng đầy tưa nấm. Chỉ cách năm bộ, Starling đã ăn trọn mùi hơi thở xộc ra từ gã. Dưới lớp áo khoác, tay cô lập tức dời khỏi khẩu súng, chuyển sang thủ thế bình xịt cay.

"Chào anh," Starling nói. "Phiền anh đứng qua bên kia, dựa lưng vào hàng chấn song giùm tôi."

Gã đàn ông vẫn đứng bất động. "Cô là Giêxu phỏng?" gã hỏi.

"Không," Starling nói. "Tôi không phải Chúa Jesus."

Giọng nói này. Starling nhớ ra cái giọng này rồi.

"Có phải Chúa Giêxu không!" Mặt gã méo xệch đi, giật lên bần bật.

Cái giọng này. Nào, nghĩ đi, nhớ ra xem nào. "Chào Sammie," cô lên tiếng. "Anh thế nào rồi? Tôi vừa mới nhắc thầm anh xong."

Hồ sơ về Sammie có những gì? Mấy dòng thông tin xộc thẳng lên não, nhanh nhưng lộn xộn. Lão này từng chặt đầu mẹ đẻ rồi đặt chễm chệ lên khay quyên góp của nhà thờ, đúng lúc cả giáo xứ đang đồng thanh hát bài "Hiến dâng những gì tốt đẹp nhất cho Bề trên".

Lão bảo đó là thứ quý giá nhất lão có. Ở Nhà thờ Baptist bên lộ đại hành đâu đó. Bác sĩ Lecter bảo gã hóa điên, hóa giận là vì Chúa Jesus nỡ đến quá muộn màng.

"Cô có phải Giêxu không?" gã gặng hỏi, giọng điệu lần này đã chuyển sang van nài, ai oán. Gã thọc sâu vào túi quần, lôi ra một mẩu tàn thuốc lá, một mẩu ngon lành dài hơn năm phân. Gã đặt nó lên mảnh đĩa vỡ, kính cẩn chìa ra như một món lễ vật dâng hương.

"Sammie, tôi rất tiếc, tôi không phải. Tôi là-"

Sắc mặt Sammie chợt biến đổi hoàn toàn, gã giận sôi lên vì cô không phải là Chúa Jesus, tiếng gào của gã nổ ra chát chúa, dội dọc hành lang sũng nước:

TAO MÚN ĐI VỚI GIÊXU

TAO MÚN ĐI CÙNG KITÔ!

Gã giương cao mảnh đĩa vỡ, lưỡi cắt bén ngót chỉa ra hệt như một chiếc lưỡi cuốc, rồi nện một bước tiến sát về phía Starling. Hai chân gã lúc này đã dẫm hẳn xuống nước, cơ mặt vặn vẹo biến dạng, bàn tay còn lại thì cào cấu điên cuồng vào không trung giữa hai người.

Sát sau lưng cô đã chạm phải vách tủ sắt cứng đờ.

"ANH CÓ THỂ ĐI CÙNG JESUS.. NẾU ANH CƯ XỬ THẬT NGOAN," Starling gằn giọng đọc lớn, từng chữ rành rọt và vang lên như thể cô đang gọi vọng tới gã từ một miền đất xa xôi.

"Ừ hen," Sammie dịu giọng nói rồi đứng khựng lại.

Starling thọc tay vào túi, móc ra thanh kẹo ăn dở. "Sammie, tôi có cây kẹo Snickers đây. Anh có khoái ăn Snickers không?"

Gã im lặng không đáp.

Cô đặt thanh Snickers lên trên chiếc bìa manila rồi kính cẩn chìa ra cho gã, y hệt như cái cách gã đã dâng mảnh đĩa vỡ cho cô khi nãy.

Gã tợp ngay miếng đầu tiên trước cả khi kịp bóc lớp vỏ giấy, nhổ bẹt mẩu giấy ra rồi lại táp miếng nữa, nuốt chửng nửa cây kẹo.

"Sammie, có ai khác từng xuống đây nữa không?"

Lão lờ tịt câu hỏi của cô, đặt nửa cây kẹo còn lại lên chiếc đĩa rồi lủi mất dạng sau đống nệm chất đống trong căn buồng giam cũ.

"Cái thá gì thế này không biết?"

Có tiếng phụ nữ lên tiếng. "Cảm ơn nhé, Sammie."

"Ai đó?" Starling cất tiếng hỏi giật giọng.

"Việc gì đến cô."

"Cô ở cùng Sammie dưới này đấy à?"

"Đời nào. Tôi xuống đây tâm sự hẹn hò đấy. Cô biến đi cho tụi này tự nhiên được chưa?"

"Được. Với điều kiện cô phải trả lời tôi. Cô trú ở đây từ khi nào?"

"Hai tuần."

"Có kẻ nào khác bén mảng đến đây nữa chưa?"

"Mấy tên bụi đời bị lão Sammie lùa đi sạch."

"Sammie che chở cho cô đấy ư?"

"Ngon thì nhào vô mà thử. Chân tôi còn đi đứng ngon lành. Tôi đi kiếm cái ăn, lão có chỗ an toàn để gặm. Đầy người ngoài kia cũng đổi chác kiểu đó thôi."

"Hai người có ai đang theo diện bảo trợ xã hội ở đâu không? Có muốn vào không? Tôi lo vụ đó cho."

"Lão nếm trải hết mấy thứ đó rồi. Người ta cứ lao ra ngoài đời, làm đủ trò bá dơ thiên hạ rồi cuối cùng cũng mò về cái máng lợn cũ thôi. Cô đang xới tìm cái gì dưới này? Cô muốn cái gì?"

"Mấy tập tài liệu."

"Nếu không nằm ở đây thì có đứa cuỗm đi rồi, bộ phải khôn ngoan lắm mới nghĩ ra được chuyện đó chắc?"

"Sammie?"

Starling gọi. "Sammie?"

Sammie không đáp. "Lão ngủ say rồi," người đàn bà đi cùng gã nói.

"Tôi để lại ít tiền ngoài này nhé, để cô đi mua cái gì đó ăn?"

Starling nói.

"Khỏi, tôi đi mua rượu. Đồ ăn thì kiếm đâu chả thấy. Rượu mới khó tìm chứ. Coi chừng cái quả đấm cửa nó đập vào đ*t khi ra ngoài đấy."

"Tôi đặt tiền ở trên bàn," Starling đáp. Cô thèm chạy trốn phát điên, rồi cô chợt nhớ lại lần rời khỏi chỗ Tiến sĩ Lecter, nhớ mình đã phải gượng đứng vững ra sao trên lối đi hướng về phía trạm trực ngăn nắp của Barney, ốc đảo bình lặng duy nhất vào khoảnh khắc đó.

Dưới ánh đèn hắt ra từ buồng thang, Starling rút tờ hai mươi đô trong ví ra. Cô đặt tiền lên chiếc bàn làm việc loang lổ vết trầy xước, bỏ hoang của Barney, lấy cái vỏ chai rượu rỗng đè lên. Đoạn, cô mở chiếc túi nhựa mua sắm, bỏ vào đó tập bìa hồ sơ Lecter, lúc này chỉ còn vỏn vẹn mớ giấy tờ của Miggs, và cả cái bìa kẹp rỗng không của Miggs nữa.

"Tạm biệt." "Đi nhé, Sammie," cô gọi với theo người đàn ông từng bôn ba ngoài xã hội rồi lại lủi thủi mò về cái địa ngục quen thuộc của gã. Cô đã định bảo rằng cô hy vọng Chúa Jesus sẽ sớm đến cứu rỗi gã, nhưng nghĩ lại thấy sáo rỗng quá nên thôi không nói nữa.

Starling bước ngược lên phía ánh sáng, tiếp tục hành trình bôn ba của cô giữa cuộc đời.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com