Chương 12
Chúa ơi, cậu đã không mệt mỏi đến mức này kể từ khi bị nguyền rủa. Những giấc ngủ bị giày vò bởi một nhu cầu đau đớn mà sau này cậu mới biết đó là chu kỳ động dục của người mang dòng máu Rồng bị đẩy lên quá mức do sự can thiệp của Thiên Lý.
Wriothesley mệt mỏi vuốt mặt khi bệnh nhân cuối cùng của Sigewinne được đưa trở về phòng giam. Cô bé Melusine nhỏ nhắn đã ngủ gục ngay tại bàn làm việc sau một đêm dài đằng đẵng.
Nhắc mới nhớ về chu kỳ động dục của mình...
Cậu cố gắng không đánh thức cô bé trong khi lục lọi chiếc tủ nhỏ bên cạnh bàn làm việc—nơi cô cất giữ loại thuốc ức chế mà cô bắt cậu uống hàng tháng để giảm bớt bất kỳ triệu chứng nào có thể xuất hiện. Chúng đúng là cứu cánh, hoặc đơn giản là cậu đã không trải qua chu kỳ nào kể từ khi quay trở lại đây. Uống cạn lọ thuốc trong một ngụm, cậu chọn tin vào giả thuyết đầu tiên.
Khao khát được ngả lưng lên giường hơn bao giờ hết, Wriothesley thở dài nhớ ra rằng ngày của mình còn lâu mới kết thúc. Thách thức của tên Nam tước vẫn văng vẳng bên tai cậu như tiếng chuông báo hiệu bắt đầu một trận đấu.
Tiếng còi báo giờ ăn sáng sẽ vang lên trong vài giờ nữa là cùng. Trước lúc đó, cậu cần phải đến nhà ăn để xem tình hình lương thực thế nào. Các tù nhân ít nhất sẽ mong đợi một vài cải thiện, ngay cả khi đó là một kỳ vọng vô lý sau chưa đầy một ngày.
Wriothesley cần phải chứng minh năng lực nếu muốn giành được sự tin tưởng của họ.
Cậu rửa sạch máu và bụi bẩn từ đêm hôm trước dưới vòi hoa sen, thay một chiếc áo mới rồi đi ra khu vực trung tâm nhà tù. Bầu không khí vẫn còn đầy căng thẳng; adrenaline và ác ý từ cuộc bạo loạn vẫn chưa hoàn toàn tan biến. Số lượng Cảnh vệ đi tuần gấp đôi ngày thường, đang tất bật dọn dẹp đống đổ nát ngổn ngang nhất. Không còn nghi ngờ gì nữa, phần lớn tù nhân sẽ bị giam trong phòng lâu hơn bình thường vào hôm nay.
Điều đó giải thích tại sao tên Cảnh vệ đang đợi cậu ở dưới chân cầu thang lại bồn chồn đến thế; sự lo lắng của hắn càng lộ rõ khi hắn buộc phải ngước lên chạm ánh mắt với Wriothesley.
"N-Nam tước nói anh sẽ cần cái này," hắn lắp bắp, dúi một xấp cuộn giấy vào tay cậu cùng với một chùm chìa khóa, "kiểm kê, ngân sách, lịch giao hàng. Những chìa khóa này cần phải trả lại mỗi tối, nhưng anh được tự do ra vào mọi nơi mà chúng mở được chừng nào còn cầm chúng trên tay."
"Không có bẫy gì chứ?" Wriothesley nheo mắt, cố gắng điều chỉnh xấp giấy để không làm rơi cái nào.
"Đầu của anh mới là thứ đang trên thớt, còn bẫy nào lớn hơn thế nữa chứ?" Tên Cảnh vệ buột miệng.
"Công bằng đấy," Wriothesley thừa nhận, để ý thấy tên lính—mà khi nhìn kỹ hơn, Wriothesley thấy chỉ là một cậu nhóc—liếc nhìn xung quanh đầy lo lắng, kiểm tra xem có Cảnh vệ nào gần đó không, "còn gì nữa không?"
"C-có ạ!"
"Vậy tại sao cậu vẫn còn đứng đó?"
Cậu nhóc tái mặt trước chất giọng khàn đặc như tiếng gầm gừ của Wriothesley.
"Nam tước nói anh phải ở dưới sự giám sát, để anh không thử làm bất cứ trò gì kỳ quặc như... như bỏ thuốc độc vào thức ăn ạ."
Wriothesley đảo mắt—đương nhiên rồi—và quay người bước về phía nhà ăn. Việc giải quyết những "mối quan ngại" như vậy thực sự phí thời gian của cậu. Có lẽ nhìn từ bên ngoài vào thì thấy hợp lý đấy, nhưng điều đó không có nghĩa là Wriothesley phải cảm thấy vui vẻ gì khi có cái đuôi nhãi nhép này lẽo đẽo theo mình mọi lúc mọi nơi.
Cậu nghe tiếng tên lính chạy bộ phía sau để bắt kịp nhịp bước, và họ giữ một sự im lặng tương đối (đầy lo âu đối với tên lính) trong suốt quãng đường đi qua những hành lang uốn lượn và những tấm lưới sắt nóng rực của Pháo đài, cho đến khi họ đặt chân vào nhà ăn vắng lặng.
Đây là một trong những không gian mở rộng lớn nhất mà nhà tù cung cấp, vì thế không khí ở đây mát mẻ hơn đôi chút. Một nửa bức tường phía sau là các quầy phục vụ, và bên tay phải họ là hai cánh cửa lớn. Khi cậu mở khóa, chúng dẫn vào một mê cung gây choáng ngợp với đầy những cánh cửa gỗ phía sau.
"Chúng cũ kỹ thật," cậu lẩm bẩm, chủ yếu là tự nói với chính mình, dù người bạn đồng hành dường như không nhận ra điều đó.
"Chúng là một phần trong bản thiết kế gốc của Pháo đài; mọi thứ bên trên đều được xây sau này ạ."
Cậu ném cho cậu nhóc một ánh nhìn sắc lẹm, khiến mặt cậu ta đỏ bừng.
"Xin lỗi ạ..."
"Tên cậu là gì?"
"Tôi ạ? Ồ, đúng rồi, tôi chưa nói, nhưng mà... nói cho công bằng thì, chúng tôi được cảnh báo là không nên quá thân thiết với tù nhân, và việc cho họ biết tên mình sẽ mời gọi một sự thân mật mà cấp trên không hề thích—"
"Chết tiệt, vậy thì quên đi."
Wriothesley khẽ lắc đầu. Việc gã Cảnh vệ có muốn nói tên hay không vốn chẳng quan trọng với cậu, cậu chỉ hỏi theo một thói quen tiềm thức được hình thành từ khi còn trong bí cảnh—thói quen muốn làm quen với mọi Melusine mà cậu gặp. Rõ ràng, đó là một sai lầm khi áp dụng với con người.
"Là Alban," một giọng nói lí nhí vang lên vài giây đầy ngượng ngùng sau khi cậu đã quay lưng đi.
Wriothesley ngạc nhiên ngoái nhìn lại phía cậu thanh niên đang đứng co ro ở ngưỡng cửa với bờ vai gầy guộc. Cậu nhóc đang xoắn chặt chiếc mũ trong đôi bàn tay đầy lo âu, mái tóc màu vàng đồng gọn gàng giờ đã rối bù vì vừa tháo mũ ra.
"Rất vui được gặp cậu, Alban. Tôi là Wriothesley."
Lông mày Alban nhướn lên, đôi mắt xanh màu hoa ngô mở to hết cỡ.
"Wriothesley, ý anh là 'con chó săn nơi hang hốc' ấy ạ?"
"Danh tiếng của tôi luôn đi trước cả con người tôi mà," cậu đáp lại một cách khô khốc, mân mê chùm chìa khóa cho đến khi tìm được chiếc mở cánh cửa ngay phía sau nhà bếp—nơi cậu đoán là kho lương thực.
Ngay lập tức, cả hai cùng sặc sụa trước mùi bột mì cũ kỹ ập vào mũi khi bước vào. Không khí ẩm mốc, thiếu thông gió đặc quánh lại, và căn phòng chứa đầy những chiếc vại lớn đựng ngũ cốc cùng bột mì, nhiều cái đã bị nứt, và cũng không ít cái chẳng hề được đậy kín. Nơi này còn quá ngột ngạt, một vấn đề hoàn toàn khác mà Alban cũng không thể không chú ý.
"Ở đây quá nóng so với đồ khô rồi ạ."
Wriothesley gật đầu tán đồng.
"Chẳng trách sao phần lớn thức ăn lại bị hỏng, lão đầu bếp cũ toàn dùng nguyên liệu ôi thiu."
Ít nhất là chỉ tính riêng căn phòng này, có vẻ như số lượng không phải là nguyên nhân gây ra tình trạng khan hiếm. Những hàng dài vại và bình gốm xếp dọc các bức tường thành từng cụm, được ngăn cách bởi những kệ gỗ chứa đầy các hũ nhỏ hơn—mà khi mở ra, cậu thấy chứa đủ loại đậu và hạt. Tuy nhiên, cái nóng cũng chẳng hề nương tay với chúng, và Wriothesley đã có thể nhìn thấy sự hư hỏng đang bắt đầu.
"Tiếp tục đi thôi," cậu nói sau khi họ đã đi một vòng quanh kho chứa thứ nhất.
Căn phòng tiếp theo nằm ngay cạnh căn phòng đầu tiên thì trống trải hơn nhiều. Ban đầu, cậu cho rằng đây chỉ là nơi chứa đồ tràn ra từ phòng trước, cậu nhấc nắp của vài chiếc vại đựng phô mai tươi, bột mì và thứ trông như dầu ăn. Đúng là đồ tràn ra thật, nhưng lại được sắp xếp cực kỳ cẩu thả. Nó giống như một nơi để vứt bừa bãi mọi thứ còn thừa, tự thân nó đã là một vấn đề rồi.
Ở đây bụi bặm hơn, chịu chung tình trạng thông gió không hề tồn tại như căn phòng trước. Ánh mắt Wriothesley quét qua từng kệ hàng, từng vết nứt trên sàn thạch cao và tường đá nơi hơi ẩm có thể đang len lỏi vào.
Đây sẽ không phải là một công việc dễ dàng, thậm chí còn chẳng gần với từ đó.
Những kho chứa nằm đối diện với hai căn phòng đầu tiên cũng ở trong tình trạng tương tự. Một lượng lớn đồ khô, nhưng lần này có thêm những thùng cá muối trông chỉ mới lên men một nửa, lớp chất lỏng đọng lại phía trên dày đến vài inch.
Cậu nghĩ rằng cá có thể được tận dụng trong lúc nguy cấp, hơn nữa họ lại được bao quanh bởi đại dương; đó có thể là nguồn protein rẻ tiền và hiệu quả cho tương lai... dù sao cũng tốt hơn chế độ ăn hiện tại chỉ toàn bánh mì và các loại hạt mà họ phải may mắn lắm mới không bị ngộ độc.
Cậu ghi chú nhanh trong đầu rồi bước tiếp.
Tiến sâu hơn vào mạng lưới hành lang tạo nên khu lưu trữ thực phẩm của Pháo đài, các căn phòng ngày càng trống trải hơn, vẽ nên một bức tranh rõ nét về sự lười biếng và bỏ bê theo năm tháng. Rõ ràng ý định ban đầu của thiết kế này là tạo điều kiện cho một hệ thống cung ứng có thể duy trì cho nhà tù trong nhiều tháng liền.
Các căn phòng ở tầng sâu hơn so với nhà ăn mát mẻ hơn hẳn những phòng gần bếp, nhưng chúng hoàn toàn trống trơn. Người ta thà vứt mọi thứ vào cùng một phòng rồi phó mặc cho số phận còn hơn là chia nhỏ thực phẩm ra các kho chứa.
"Thảo nào thực đơn lại hạn chế đến vậy..." Alban cố gắng đùa một cách thân thiện, tiếng cười khúc khích của cậu nhóc tắt ngấm một cách tội nghiệp khi Wriothesley không hề hưởng ứng.
"Các cậu lấy bữa ăn ở đâu?" Cậu hỏi thay vào đó, nhìn nghiêng sang phía đứa trẻ. "Tôi không tưởng tượng nổi các cậu lại ăn cùng thứ rác rưởi giống bọn tôi."
Alban chớp mắt trước câu hỏi.
"Chúng tôi ăn trưa tại nhà ăn của nhân viên, ngay bên dưới khu văn phòng của Nam tước, sao thế ạ?"
"Trên đĩa của cậu, thường thường là món gì?"
"Tôi không nghĩ là..."
"Tôi không định dùng chuyện đó để chống lại cậu đâu," Wriothesley giải thích, "chỉ là tò mò thôi."
"Ừm," Alban ngập ngừng, "bánh mì."
"Loại mới nướng à?"
"Tất nhiên rồi, sao lại không chứ?"
Cậu cố gắng không đảo mắt trước câu trả lời đó, thay vào đó chỉ gật đầu ra hiệu cho cậu nhóc tiếp tục. Sự khích lệ dường như giúp cậu nhóc tự tin hơn khi nói.
"Thường thì chúng tôi có hỗn hợp thịt muối hoặc đậu gà, cá hay cua, nhưng tôi ghét nhất là khi đầu bếp nấu món cua," cậu thở dài.
Wriothesley không hề ngắt lời cậu nhóc dù chỉ một lần, qua đó biết thêm về những bữa ăn thịnh soạn mà các Cảnh vệ được hưởng. Cậu không hề ngốc, cậu biết Cảnh vệ không thể nào phải chịu đựng cùng một chế độ ăn thiếu thốn như tù nhân, nhưng điều đó khẳng định với cậu một điều chắc chắn: hoàn toàn có thể bảo quản thực phẩm ở dưới này mà không bị hỏng.
Vậy thì, vấn đề nằm ở đâu?
"Được rồi, tôi hiểu rồi, cảm ơn," cuối cùng cậu cũng ngắt lời Alban khi cậu nhóc bắt đầu phàn nàn về sự lựa chọn nghèo nàn các loại trái cây tươi ở dưới này. Kiểu như nó chẳng giống với việc hái một quả táo hay quả cam từ vườn cây ăn quả ở trên mặt đất rồi cắn vào lớp thịt mọng nước dưới ánh nắng ấm áp vậy. Những loại trái cây mà các Cảnh vệ có, không may thay, cũng là đồ sấy khô, "Tôi tin là cậu vẫn sẽ sống tốt thôi."
"À, xin lỗi... điều đó..." Alban hắng giọng, một vệt đỏ lan dần trên gò má, "...thiếu tinh tế quá. Tôi quên mất một phút là anh là một, ừm..."
"Phải."
"N-nhưng ở đây vẫn có tiềm năng!" Cậu nhóc cố gắng cứu vãn tình thế khỏi sự ngượng ngùng vừa ập đến. "Nhìn này, anh có nước mắm (garos) để nêm nếm đấy. Trời ơi, tôi đã không được ăn món đó kể từ khi sống cùng bố mẹ, thực lòng tôi khá là ghen tị đấy."
"Nước mắm cá ấy hả?" Wriothesley nhíu mày.
"Là nước sốt đó," Alban đính chính.
Họ quay trở lại khu bếp, và với suy nghĩ đó, cả hai tiến thẳng đến những thùng cá muối ngâm dầu mà cậu đã chú ý từ trước.
"Thứ này à?" Cậu mở nắp một thùng để cả hai cùng nhìn vào bên trong.
"À, giá mà nó được ủ thêm vài tháng nữa thì nó sẽ trở thành thứ tuyệt phẩm đấy ạ."
"Tại sao lại vậy?" Wriothesley gặng hỏi. Alban có vẻ hào hứng hơn hẳn khi câu chuyện xoay quanh chủ đề ẩm thực.
"Cá cần rất nhiều thời gian để lên men hoàn toàn trong muối, nhưng khi đã hoàn thiện, nó tạo ra một loại nước sốt cực kỳ tuyệt vời mà có thể dùng cho bất cứ món gì."
Trái tim Wriothesley hơi chùng xuống; cậu không có thêm vài tháng nữa. Các tù nhân cần được ăn ngay bây giờ.
"Nhưng tôi nhớ mẹ tôi từng dùng nó trong những lúc cấp bách," Alban nói thêm như thể nhận ra cảm giác chán nản của Wriothesley dù cậu vẫn giữ gương mặt vô cảm. Cậu nhóc mỉm cười khi thấy ánh mắt Wriothesley sáng lên trước thông tin mới.
Alban chỉ tay vào phần chất lỏng đọng lại trên mặt cá.
"Nó không đậm đà bằng, nhưng trong tình thế ngặt nghèo thì nó dùng làm gia vị rẻ tiền rất hiệu quả. Có lần lọ nước mắm của mẹ tôi bị rơi vỡ và hôm đó bà phải dùng lớp chất lỏng trên cùng đó làm cốt nước dùng cho bữa tối."
"Và?" Wriothesley nhấn mạnh, giọng đầy thúc giục.
"Và sao ạ?"
"Nó có vị thế nào, Alban?" Lần này, cậu không thể giấu được sự sốt ruột trong giọng nói.
"Ồ!" Alban nhăn mũi. "Không ngon bằng bình thường, nhưng vẫn rất đậm đà."
"Đó là tất cả những gì tôi cần biết."
"Tại sao ạ? Anh đang định làm gì vậy?"
"Súp đậu lăng và bánh mì, thế là đủ để cầm cự vài bữa cho đến khi chúng ta sửa sang lại nơi này xong—"
Một tiếng gõ cửa từ phía lối vào nhà ăn đã ngắt lời cậu. Nó làm cơn đau đầu vì căng thẳng của cậu càng trở nên trầm trọng hơn, nhưng sau khi trao đổi ánh nhìn với Alban, cậu vẫn tiến tới mở cửa. Bên ngoài, cậu ngạc nhiên khi thấy Alekos và Elias đứng lặng lẽ cùng một nữ tù nhân mà Wriothesley chỉ từng thấy với vệt bồ hóng trên má và đôi găng tay thợ rèn dày cộm trên tay.
Cô ấy đang nói dở câu khi họ mở cửa, Wriothesley chỉ kịp nghe thấy đoạn cuối lời phàn nàn về sự kiệm lời của hai gã kia trước khi ba cặp mắt cùng đổ dồn về phía cậu.
"Ồ!" Cô ấy cười lệch một bên miệng khi nhận ra, theo bản năng quệt bàn tay lên bộ đồng phục thùng thình trước khi chìa ra bắt tay cậu. "Nghe anh kêu gọi giúp đỡ trong vụ bạo loạn tối qua, tôi nghĩ mình nên góp sức khi vô tình đụng mặt hai 'anh em cười đùa' này trên đường tới đây. Tên tôi là Cora, rất vui được gặp anh!"
Cô ấy... thật hoạt bát. Cô ấy làm Wriothesley nhớ đến Blathine, sự so sánh đó khiến cậu có cảm tình với cô ngay lập tức.
"Tôi là Wriothesley, còn đây," cậu tựa tay lên khung cửa để gật đầu về phía tên lính, "là Alban. Cậu ấy ở đây để đảm bảo chúng ta không đầu độc ai hay cố trốn thoát qua đường ống khói."
"Đâu có—!"
Wriothesley chẳng thèm để tâm đến Alban khi cậu bắt tay Cora thật chặt, người phụ nữ cười phá lên đầy hào sảng.
"Đấy mới là ý hay chứ, lẽ ra tôi phải thử vận may với mấy cái ống khói lò nung nếu đúng là vậy rồi."
Trong lúc Alban vẫn tiếp tục cố gắng thanh minh, không nhận ra Cora chỉ đang trêu chọc mình, Wriothesley nhìn quanh nhà ăn để xác nhận xem họ có phải là những người duy nhất đến đây không. Dù sao thì ba người vẫn tốt hơn là không có ai. Cậu đứng sang một bên để ba người kia đi vào khu vực phía sau.
"Tôi đã nghĩ sẽ chẳng có ai đến," cậu thú nhận trong khi dẫn họ đi xem một vòng, kết thúc tại căn phòng nằm ngay bên trái lối vào, nơi nối với nhà ăn thông qua các quầy phục vụ. Trong một căn phòng phụ phía sau là nơi hầu hết công việc "nấu nướng" diễn ra.
Thực chất nó chỉ là một phòng lò nung được cải tiến, giờ đã lộ rõ vẻ xuống cấp với những chiếc bếp đất sét lộ thiên xếp dọc tường và những chiếc bàn làm việc bằng đá dài, nơi đầu bếp có thể đi lại xung quanh và sử dụng từ bất kỳ vị trí nào trong phòng.
"Ngay cả khi lão ta chưa chết, tôi cũng không nghĩ là gã đầu bếp cũ đó sẽ thèm ló mặt ra hôm nay đâu," Cora hừ giọng, "bớt được một kẻ là mừng cho cái Pháo đài này. Thằng cha khốn kiếp đó còn hay nhổ nước bọt vào thức ăn của mấy cô gái từ chối lão ta đấy."
Wriothesley chỉ có thể đồng tình; đó cũng chính là lý do cậu chẳng mảy may cảm thấy thương hại khi nhìn thấy cái xác của lão ngoài bệnh xá tối qua. Lão ta có tính khí vô cùng tồi tệ, biến việc ăn uống thành thứ vũ khí—khi thì bỏ đói, khi thì ném bát đĩa vào những tù nhân mà lão ghét hoặc, như Cora nói, những người đã khước từ lão.
"Chẳng trách sao nơi này lại ra nông nỗi đáng buồn này," cô tiếp tục, xua bụi và bột mì ra khỏi mặt sau khi quẹt tay lên mặt bàn, "thằng cha lười biếng đó đến cái nhà vệ sinh còn chẳng thèm đi nếu không sợ phải đái ra quần."
"C-cô Cora," Alban nghẹn lời, "hãy tôn trọng người đã khuất một chút—"
"Tại sao chứ? Chỉ vì thằng khốn đó chết rồi sao?" Cô khoanh tay, cười khẩy trước ý nghĩ đó. "Tôi có thể mất tự do khi bị tống vào cái hố này, nhưng không có nghĩa là tôi mất đi cái đầu hay đôi mắt của mình." Cô nhấn mạnh quan điểm bằng cách gõ tay vào thái dương.
"Quên gã đầu bếp cũ đi," Wriothesley kéo sự chú ý của họ trở lại phía mình, ý thức được thời gian đang trôi đi, "nguồn gốc của nó không quan trọng, tù nhân sẽ ùa đến đây tối đa trong một giờ nữa thôi. Chúng ta còn may chán vì sáng nay họ hoãn mở cửa các phòng giam, nếu không thì bây giờ họ đã ở đây rồi."
"Kế hoạch là gì, sếp?" Cora hỏi. "Có vẻ như chưa có thứ gì được chuẩn bị cả. Tôi không phải là chuyên gia trong bếp, nhưng nếu nó giống như chế tác, thì khâu chuẩn bị còn tốn thời gian hơn cả việc nấu nướng thực tế."
"Không hẳn là không chuẩn bị gì cả—" Alban ngắt lời.
"Cậu ấy nói đúng," Wriothesley không mấy mặn mà gì việc đồng tình với một tên Cảnh vệ, nhưng cậu vẫn tiếp tục, "trước khi ba người đến, Alban đã gợi ý với tôi rằng chúng ta có thể dùng phần dịch lên men từ thùng nước mắm cá làm gia vị cho một món súp giá rẻ. Có những căn phòng đầy rau củ đang bắt đầu hỏng. Tôi đề nghị chúng ta ninh nhừ chúng và dùng nước mắm cá để tạo hương vị."
"Ưm, nghe đã thấy khá hơn rồi đấy," Cora tán thành, "nhưng anh không thể mong chỉ món súp thôi mà lấp đầy được cái bụng của lũ tù nhân đang đói khát, mà chúng ta lại không có thời gian làm bánh mì—"
Cô ấy đã đánh trúng điểm yếu của cậu.
Một nửa số bột mì đã bị hỏng do ẩm ướt, và ngay cả khi nó còn tốt, bánh mì vẫn cần thời gian để ủ bột và nở. Thứ thời gian mà họ hoàn toàn không có.
"Nếu tôi có thể đề nghị," Alban giơ tay lên với vẻ lịch sự ngượng ngùng, "loại bột thô có vẻ tương đối nguyên vẹn vì bản chất chưa qua tinh chế của nó. Mẹ tôi thường dùng nó trong những lúc cấp bách, trộn cùng với chút bột mịn còn sót lại để làm món bánh mì không cần ủ."
Cảm ơn các vị thần vì mẹ của Alban.
Cách đó có thể hiệu quả. Wriothesley gật đầu một cách lơ đãng, chìm đắm trong suy nghĩ khi bước đi, nhóm người giúp việc lạch bạch theo sau cậu vào căn phòng bên kia hành lang—nơi chứa hầu hết các vại bột mì—rồi quay sang nhìn Alban.
"Cậu có nhớ công thức không?"
Alban há hốc mồm như một con cá trong giây lát, gãi gãi mái tóc cắt tỉa gọn gàng bên thái dương.
"Tôi có, ý tôi là... tôi nghĩ là tôi nhớ," cậu lắp bắp, "tôi luôn thích dành thời gian với mẹ trong bếp, mặc dù điều đó không được khuyến khích... bố muốn tôi có một công việc tử tế, anh biết đấy. Một cái gì đó xứng đáng với một người đàn ông hơn, ông ấy nói thế—"
Wriothesley kéo Alban ra khỏi mạch suy nghĩ đang dần lan man của cậu bằng một bàn tay nặng nề, ấm áp đặt lên vai.
"Cố gắng nhớ lại hết mức có thể," cậu khuyến khích, "cậu nghĩ mình có thể tìm thấy mọi thứ ở đây không?"
Alban chớp mắt rồi gật đầu lia lịa.
"Chắc chắn là được ạ."
"Được lắm," Wriothesley bóp nhẹ vai cậu trước khi huýt sáo một tiếng từ khóe miệng, "hai người," cậu quay sang nhìn đám thuộc hạ của Giroux, "đi cùng cậu ấy và mang lên bất cứ thứ gì cậu ấy cho là còn dùng được. Cora và tôi sẽ bắt đầu xử lý phần rau củ."
Nếu cậu từng nghĩ họ có thể kháng cự mệnh lệnh của bất kỳ ai không phải Giroux, thì cậu đã nhầm. Họ nhìn nhau một lần rồi gật đầu dứt khoát, lặng lẽ đi theo Alban ra ngoài.
"Hừm, trông hai gã đó không nói năng nhiều, nhưng cũng khá được việc đấy chứ," Cora nhận xét đầy ấn tượng.
Trong suốt một giờ tiếp theo, họ đã vận chuyển và băm thái nhiều rau củ hơn cả những gì Wriothesley từng thấy trong đời. Hầu hết chúng đã quá lứa, nhưng điều đó cũng chẳng quan trọng lắm khi tất cả đều kết thúc bằng việc bị luộc chín trong những nồi lớn đặt trên ngọn lửa mà Cora đã phụ trách trông coi nhờ kinh nghiệm làm việc trong lò rèn.
Chính trong lúc cùng làm việc, Wriothesley mới biết lý do Cora quyết định giúp đỡ là vì người phụ nữ mà cậu đã giải cứu tối hôm trước: Lucinda, bạn đời của cô. Phải mất một lúc cậu mới hình dung ra người đó – cô gái nhỏ nhắn, mảnh khảnh mà cậu đã đưa ra khỏi cuộc bạo loạn sau khi cô bị đánh ngất. Cô ấy đang dần hồi phục, và Cora muốn bày tỏ sự cảm kích của mình.
Ở phía bên kia gian bếp, Alban, Alekos và Elias đang trộn hết bát bột này đến bát bột khác, thứ bột tỏa ra mùi chua dịu. Alban đã hứa rằng phần chất lỏng lắng lại từ quá trình khuấy bơ sẽ kết hợp với natron để làm bánh mì nở ra khi nướng. Một lời hứa đã được thực hiện trọn vẹn khi Wriothesley tận mắt chứng kiến từng ổ bánh mì nở phồng thành những mái vòm giản dị.
"Tại sao cậu lại bị mắc kẹt ở dưới cái chỗ này vậy?" Wriothesley hỏi một lúc sau đó, đưa cho Alban một ổ bánh mì đã nguội; hương thơm của nó đã khiến miệng cậu ứa nước miếng. "Cậu có con mắt nhìn nghề nấu nướng còn tốt hơn nhiều so với việc kỷ luật tù nhân đấy."
Alban ấp úng một lời cảm ơn, vội lau sạch tay để bẻ đôi ổ bánh mì. Làn hơi bốc lên cùng mùi thơm của bánh mì tươi khiến mọi người trong bếp đều dừng mọi việc đang làm.
"Mọi người ăn ổ này đi," Wriothesley khẳng định, "mọi người xứng đáng với nó. Và sẽ chẳng còn cơ hội nào khác đâu khi đám đông ập đến."
"Nhưng còn món súp—"
"Tôi lo được phần đó, Cora," cậu trấn an cô, "chỉ cần giữ cho nó nóng và chia nhỏ ổ bánh mì ra thành từng phần. Giờ thì ăn đi. Tôi không có Mora để trả cho mọi người, nên ít nhất tôi có thể đảm bảo các bạn được no bụng."
Lấy một khay đựng bốn bát súp, Wriothesley đặt chúng vào giữa chiếc bàn làm việc – nơi họ đã tự nhiên tụ lại từ lúc Alban cắt ổ bánh mì đầu tiên. Cậu để ý thấy Alekos nuốt nước bọt, Elias liếm môi một cách vô thức, nghe thấy tiếng bụng Cora réo lên dù cô đã cố ho để che giấu, và thậm chí nhận ra Alban đang nhìn ổ bánh mì đầy khao khát.
"Ăn đi, tôi lo hết phần còn lại rồi," cậu kiên quyết.
"Thưa anh Wriothesley—" Alban bắt đầu, một nếp nhăn nhẹ đã hằn trên đôi chân mày, "anh cũng chưa ăn gì cả."
"Tôi sẽ ăn ngay sau khi đảm bảo tất cả những người khác đều đã no bụng," Wriothesley nói dối, không hề quay lại nhìn mà tiếp tục dùng chiếc xẻng cán dài lấy thêm mấy ổ bánh mì ra, lật những ổ khác và cuối cùng là cho thêm bánh vào băng chuyền sản xuất tự chế, "đó là trách nhiệm tôi đã nhận, chứ không phải cái cớ để chen hàng và làm đầy cái bụng của mình trước."
"Vậy thì..." Alban tiến lại đứng ở bàn làm việc cạnh lò nướng, "anh sẽ cần người giúp. Tôi đã bắt đầu nghe thấy những đám đông đầu tiên đang kéo đến rồi. Hơn nữa," cậu nhún vai, liếc nhìn lần cuối đầy luyến tiếc về phía ba người còn lại đang ăn ngấu nghiến, "tôi đã ăn rồi. Sẽ chẳng thấy thoải mái chút nào nếu tôi tranh phần ăn của một người đang đói."
Có lẽ mình đã đánh giá sai tên lính nhãi nhép này, Wriothesley suy ngẫm khi họ bắt đầu công việc cắt bánh mì thành từng lát dày, chắc nịch một cách có hệ thống. Cậu nhóc này có tấm lòng nhân hậu hơn những gì Wriothesley từng giả định về nghề nghiệp của cậu ta. Bây giờ, họ làm việc ăn ý, đặt hai lát bánh lên đĩa, tiếp theo là một muôi súp đầy ắp. Khi nhóm của Elias và Alekos ăn xong, họ bắt đầu bưng các khay lớn ra ngoài, còn Cora thì chốt chặn tại quầy với sự hoạt bát, thẳng thắn, thân thiện đầy lan tỏa, khiến lũ tù nhân khi nhận đồ ăn từ tay cô cũng trở nên dễ bảo hơn.
Một hàng dài hình thành và ngày càng kéo dài khi sự hoài nghi tan biến theo miếng bánh mì nóng hổi thấm đẫm súp đang lấp đầy những chiếc bụng đói. Sự ồn ào bị dập tắt bởi một cái thìa gỗ giơ lên, những bó cơ cẳng tay của Cora nổi lên đầy uy lực, nhưng cô chưa bao giờ dọa cắt phần ăn của bất kỳ ai. Đó là một trong những quy tắc duy nhất của Wriothesley. Quy tắc đó, cùng với việc không bao giờ từ chối nếu họ xin thêm.
Đợt cao điểm bữa sáng trôi qua rất nhanh. Wriothesley mỉm cười mệt mỏi khi thấy hai chiếc xúc tu ló lên từ phía bên kia quầy phục vụ.
"Tôi hy vọng mình không đến muộn," Sigewinne thở dài, "ngoài kia có hàng dài người chờ còn dài hơn cả đuôi rồng ấy!"
"Không muộn chút nào," Wriothesley cười khẽ, đặt bát súp và bánh mì trước mặt cô, "đủ phần cho tất cả mọi người."
Khi Sigewinne mỉm cười, nó chạm vào một góc sâu thẳm trong tâm hồn cậu, khiến cổ họng cậu nghẹn lại. Niềm tự hào và tình yêu thương rạng ngời trong đôi mắt màu hồng đó, và lần đầu tiên, Wriothesley thực sự cảm thấy mình đã làm được điều gì đó xứng đáng với nó. Cậu hắng giọng để xua đi cảm xúc rồi nhìn quanh nhà ăn. Dù những băng ghế đang dần trống vắng, nhưng trước đó, chúng đã chật kín những tù nhân đang ăn uống, trò chuyện và thậm chí là cười đùa. Ít nhất là trong ngày hôm nay, họ đã xoay xở để nuôi sống cả nhà tù này.
Khi họ đóng cửa nhà ăn lại vào một giờ sau đó, sau khi tù nhân cuối cùng rời đi, đó là sự mãn nguyện đầy mệt mỏi.
"Tôi không biết phải cảm ơn các bạn thế nào nữa," Wriothesley bắt đầu khi họ đang dọn dẹp, "tôi biết đây chỉ mới là một buổi sáng, nhưng sự khác biệt mà mọi người tạo ra..." cậu bỏ lửng câu nói, không thể tìm được từ ngữ nào để diễn tả.
"Ái chà, dẹp mấy cái trò ủy mị đó đi," Cora dụi mũi, vỗ mạnh vào bắp tay cậu khi cô quay vào phía trong, "vẫn còn bữa tối phải chuẩn bị đấy."
"Mọi người... muốn ở lại sao?" Wriothesley chớp mắt, nhìn Elias và Alekos nhún vai rồi nối gót Cora, cho đến khi chỉ còn lại mình cậu và Alban. Cậu vắt chiếc khăn lau bàn lên vai, vẻ bối rối hiện rõ trên mặt.
"Anh không hiểu sao?" Alban hỏi với vẻ thích thú lặng lẽ, tiến lại đứng cạnh cậu và thở phào một cách đầy mãn nguyện.
"Hiểu cái gì?"
"Tại sao họ lại muốn ở lại."
Trước biểu cảm ngơ ngác của cậu, Alban cười khúc khích rồi học theo Cora, vỗ vào bắp tay cậu nhưng với lực nhẹ hơn hẳn.
"Anh vừa cho họ một mục đích, và ở một nơi như thế này... ai lại không muốn gắn bó sau khi tìm thấy nó chứ?"
Mục đích? Đó là thứ mà người ta gọi là mục đích sao...
"Còn cậu?" Wriothesley nghe chính mình hỏi, nhận ra rằng Alban đã ở cùng cậu vài tiếng trước khi những người khác kịp xuất hiện, "lính gác làm việc theo ca, vậy mà cậu vẫn ở đây. Tại sao? Và đừng nói là vì Nam tước, tôi biết lão ta sẽ cho người khác thay thế vị trí của cậu ngay khi cậu hết ca."
Alban ậm ừ, gõ gõ cằm khi nhìn quanh nhà ăn.
"Anh bắt bài được tôi rồi đấy, ha ha..." cậu cười yếu ớt, "tôi đoán là, vì đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy mình thực sự tạo ra được sự khác biệt trong công việc." Wriothesley không thể giấu được vẻ ngạc nhiên trước lời thú nhận đó. "Lần đầu tiên, tôi có thể thấy ánh bình minh xuyên qua chiều sâu không thể xuyên thủng này. Lần đầu tiên tôi... không thấy nhớ mặt đất nhiều đến thế nữa."
Nói rồi, Alban cũng gia nhập cùng những người khác ở phía sau, nơi tiếng cười sảng khoái của Cora vọng qua cánh cửa mở. Ngay sau đó là tiếng cười trầm đục của Alekos và Elias, rồi tiếng kêu thất thanh cao vút của Alban khi trò đùa tai quái nào đó mà họ vừa bày ra đã thành công mỹ mãn.
Wriothesley khẽ cười, một tiếng cười nhỏ trong lồng ngực khi cậu bước vào sau họ. Cậu không hề ảo tưởng rằng con đường phía trước sẽ bằng phẳng, nhưng giờ đây nó không còn vẻ đáng sợ nữa khi biết rằng mình có những người tốt đồng hành bên cạnh.
Tuần tiếp theo trôi qua nhanh như một cái chớp mắt, nhóm nhỏ của họ đã xoay xở để duy trì thành công đến phút chót, tận dụng từng chút đồ dự trữ ít ỏi cho đến chuyến hàng tiếp theo. Theo một trong những cuộn giấy mà Wriothesley nhận được, chuyến hàng sẽ đến vào đêm hôm sau. Nó không thể đến sớm hơn được nữa. Nhưng không ai có thể phủ nhận, họ đang làm một công việc khá ổn. Ổn đến mức cậu bắt đầu để ý thấy những cái lườm nguýt không mấy vui vẻ của Nam tước và sự thù địch lộ liễu của Renaud mỗi khi hắn ta đòi thêm khẩu phần thứ ba... và thứ tư.
Nếu cậu từng nghĩ công việc chỉ dừng lại ở việc nấu nướng, thì cậu đã hoàn toàn sai lầm. Rất lâu sau khi các tù nhân khác đã về phòng giam để kịp giờ giới nghiêm, Wriothesley vẫn thức bên ánh đèn dầu leo lét trong khi Sigewinne đã chìm vào giấc ngủ say trên giường.
Hết cuộn giấy này đến cuộn giấy khác về kiểm kê, ngân sách, đơn đặt hàng và hậu cần vận chuyển chất đầy trên chiếc bàn nhỏ mà cậu đang cúi gập người. Mắt cậu mỏi nhừ dưới ánh sáng lờ mờ. Cậu không phải là một nhà toán học, nhưng cậu hiểu những phép tính cơ bản, và thật hiếm khi có hai giá trị nào khớp với nhau giữa các văn bản; phần lớn chúng chỉ đơn giản là sai lệch.
Sự quản lý yếu kém và lười biếng dường như chính là thủ phạm thực sự gây ra vấn đề đã khiến biết bao người phải chịu khổ đau đến mức Wriothesley gần như muốn bật cười. Thật quá dễ dàng để làm cho cuộc sống trở nên vô cùng khó khăn đối với những kẻ nằm ở dưới cùng của chuỗi thức ăn.
Điều cậu không thể hiểu nổi là làm thế nào những con số sai lệch này lại được Nam tước ký duyệt mà không hề có chút nghi vấn nào. Chữ ký và con dấu của lão là điểm nhất quán duy nhất ở cuối mỗi bản báo cáo. Đặc biệt là khi lão đã luôn miệng nhấn mạnh ngân sách quan trọng đến thế nào lúc Wriothesley đối chất với lão về việc thay đổi mọi thứ.
Rõ ràng là trong những đơn hàng vừa qua, ngân sách đã hoàn toàn bị phớt lờ. Việc nhập khẩu sữa và thịt tươi đã đẩy chi phí lên cao, và quan trọng hơn, chúng có thời hạn sử dụng ngắn ngủi. Pháo đài dường như lấy các nguồn cung cấp chủ yếu—ngũ cốc, dầu ăn, chất bảo quản—từ khắp Teyvat, bất cứ nơi nào rẻ nhất, nhưng lại thất bại trong việc tính toán giá phí vận chuyển đến Fontaine và những sự chậm trễ có thể xảy ra nếu chúng đến từ những nơi xa xôi hơn.
Cậu không thấy bất kỳ bảng kiểm kê số lượng nào, dẫn đến việc tích trữ quá mức và cuối cùng là làm hỏng hàng loạt các mặt hàng nhất định.
Wriothesley không tự coi mình là người quá khôn ngoan hay thậm chí là thông minh tầm trung, nhưng cậu là một chuyên gia trong việc sinh tồn. Từ số tiền Mora ít ỏi kiếm được qua các trận đấu, cậu đã trở nên lão luyện trong việc làm cho chúng kéo dài vượt xa giá trị thực của nó. Cảnh nghèo khó đã dạy cậu đâu là thứ thiết yếu và đâu là thứ có thể cắt giảm.
Cậu tìm một tờ giấy da để bắt đầu ghi chú lại, nhớ ra rằng Sigewinne thường để vài tờ đâu đó quanh đây. Cậu tìm thấy một chồng giấy gọn gàng trong ngăn kéo hẹp, cứng nhắc gắn liền với bàn làm việc, trên đó có dòng chữ khiến cậu khựng người lại.
Gửi Sigewinne thân mến—
Cậu theo bản năng đóng sầm ngăn kéo lại, khẽ nhăn mặt trước tiếng động phát ra, rồi liếc nhanh về phía Sigewinne. Tiếng thở của cô bé vẫn đều đặn, không hề thay đổi, cô vẫn đang say giấc nồng.
Cậu biết rõ nét chữ ấy—từng nét bút đã viết nên biết bao lời yêu thương và những mảnh giấy tình cảm thường được để lại quanh bí cảnh hay trên giường ngủ để cậu tìm thấy mỗi khi thức dậy. Bằng cách nào đó, việc nhìn thấy một mảnh ký ức của Neuvillette ở nơi này khiến cậu sợ hãi hơn cả những mối nguy hiểm hiện hữu trong Pháo đài.
Dễ dàng hơn để vùi lấp tội lỗi và nỗi hổ thẹn vào công việc nặng nhọc, nhưng những giọt nước mắt thực sự đang cay xè nơi khóe mắt nhắc nhở cậu rằng bản thân chưa bao giờ vượt qua được những gì đã xảy ra giữa hai người. Thậm chí là còn lâu mới làm được.
Nhưng... cậu vẫn cần xấp giấy da đó. Cậu có thể phớt lờ bức thư. Ít nhất đó là điều cậu tự nhủ với bản thân, rồi sau khi nuốt khan một cái, cậu lại mở ngăn kéo ra lần nữa.
Sigewinne thân mến,
Ta không thể diễn tả nổi niềm hạnh phúc mà bức thư của cô mang lại cho ta.
Ngừng đọc lại, cậu tự mắng chính mình, lục lọi dưới xấp giấy để tìm một tờ sạch, nhưng mắt cậu vẫn không tự chủ được mà lướt theo những dòng chữ viết tay mềm mại, tuyệt đẹp ở phía dưới vài đoạn.
Ta đã gửi kèm theo thư này tinh chất mà cô cần để điều chế thuốc bổ cho Wriothesley. Ta không biết phải cảm ơn cô thế nào cho đủ vì đã chăm sóc cậu ấy trong khi ta—
Một vệt mực loang lổ bất thường lan ra từ cuối chữ "ta", Wriothesley vô thức di ngón tay theo dấu vết của sự do dự từ Neuvillette trên giấy—vẫn đang bận rộn ở Tòa án. Cuối cùng, cậu ấy đã đúng... Ta đã để mọi thứ sụp đổ và tan vỡ quá lâu, và giờ đây đang phải gánh chịu hậu quả của việc chắp vá lại từng mảnh một. Ta hy vọng rằng theo thời gian, cô và cậu ấy đều có thể tận hưởng cuộc sống tại Fontaine như nó vốn dĩ phải thế, chứ không phải như những gì nó đã trở thành.
Đầu óc Wriothesley quay cuồng, cơn sóng cảm xúc cuộn trào hòa quyện với sự kiệt sức khiến cậu đóng ngăn kéo lại ngay lập tức trước khi bản thân bị cám dỗ đọc thêm bất cứ nội dung riêng tư nào khác của Sigewinne.
Cậu từng nghĩ Neuvillette sẽ chẳng bao giờ muốn dính líu đến mình sau những chuyện xảy ra với Thiên Lý, chứ đừng nói đến việc nhắc đến cậu trong thư gửi Sigewinne với giọng điệu chừng mực như vậy. Trong sâu thẳm tâm hồn, cậu luôn mặc định rằng Neuvillette khinh ghét mình.
Không có bất kỳ dấu hiệu nào trong bức thư cho thấy điều ngược lại, lý trí của cậu nhắc nhở. Vậy tại sao, nếu họ không còn là gì của nhau nữa, anh ấy vẫn tiếp tục gửi thuốc ức chế kỳ động dục cho cậu? Những lá thư trong Pháo đài vốn hiếm khi được cho phép và bị kiểm duyệt gắt gao, còn các kiện hàng thì hoàn toàn bị cấm. Chắc hẳn họ đã gửi chúng qua những con đường khác. Lối đi ngầm? Có lẽ vậy.
Chừng đó nỗ lực là quá thừa thãi cho một kẻ mà anh căm ghét. Phải chăng điều đó có nghĩa là...?
Hướng suy nghĩ này thật nguy hiểm, và nhịp tim đập loạn xạ trong lồng ngực khiến cậu thấy hoảng sợ.
Cậu gục trán vào hai bàn tay đang chống lên bàn, miệng khô khốc, da thịt nóng bừng, cau mày nhìn tờ giấy da trống trơn trong khi cố nhớ xem mình định dùng nó làm gì.
Cậu không có thời gian cho việc này...
Nhiều giờ trôi qua, trong đó mọi suy nghĩ về vị Rồng ấy vừa đan xen, vừa dần bị lấn át bởi những con số, những bảng hậu cần rối rắm và một kế hoạch cụ thể. Tuy nhiên, hơi nóng mà những suy nghĩ kia khơi dậy vẫn nán lại trong bụng, sưởi ấm cho cậu suốt đêm dài.
Đôi vai cậu chỉ bắt đầu nhức mỏi khi cậu ngồi dậy đúng lúc Sigewinne thức giấc, tiếng ngáp của cả hai đồng điệu: cô bé ngáp vì vừa tỉnh giấc, còn cậu ngáp vì quá mệt mỏi.
"Wriothesley?" Cô bé lầm bầm, dụi mắt. "Cậu đã thức cả đêm sao?"
Cậu xoay xoay khớp vai, cố xua đi sự cứng đờ đã bám lấy mình sau cả đêm cúi người trên bàn làm việc.
"Có lẽ tôi đã quên mất thời gian," cậu đáp, phớt lờ cái nhíu mày không tán thành của cô bé để đứng dậy vươn vai. Lần đầu tiên, cậu chú ý đến sự hoạt động bất thường bên ngoài phòng giam của mình. Cậu cau mày: "Sige, ở yên đó một lát nhé."
"Chuyện gì đang xảy ra vậy ạ?" Cô bé hỏi, mặc kệ lời cậu nói và nhảy xuống giường.
Khi cậu thò đầu ra ngoài để xem xét tình hình, Wriothesley suýt chút nữa đổ lỗi cho đôi mắt thiếu ngủ của mình vì những gì đang thấy. Cora đứng đầu, gương mặt hồng hào nở nụ cười méo xệch, cô hất ngón cái về phía đám đông tù nhân nhỏ đang đứng phía sau mình.
"Tôi tìm được mấy tình nguyện viên trên đường đến nhà ăn nè sếp," cô cười toe toét, "chắc tin đồn đã lan đi rằng làm việc cho anh sướng hơn nhiều so với đám đốc công trong xưởng hay bọn tay sai trong băng của Renaud. Em nghĩ mình nên dẫn họ đến gặp anh trước, còn Eli và Ali thì đã bắt đầu chuyển mấy cái thùng từ kho sâu ra ngoài như anh dặn hôm qua rồi ạ."
"Họ đã ở đó rồi sao?"
Cảm giác tội lỗi ập đến trong lòng cậu. Nếu cậu là người dẫn dắt công việc này, lẽ ra cậu phải là người đến sớm nhất và ra về muộn nhất. Cậu sẽ không đời nào là kẻ ngồi mát ăn bát vàng trong khi người khác phải nai lưng ra làm việc thay mình.
Về phía Cora, cô dường như cũng nhận ra tính cách đó của cậu.
"À, không sao đâu sếp. Biết bọn họ chậm chạp thế nào rồi đấy, chắc họ chỉ mới đến đó được vài phút thôi."
Dù vậy...
Cậu xua đi ý nghĩ đó; họ còn nhiều việc cấp bách hơn phải lo.
Bước hẳn ra khỏi phòng giam, với Sigewinne đang thò đầu ra ngoài đầy tò mò theo sau, cậu đảo mắt nhìn khắp nhóm nhỏ phía sau lưng Cora. Đếm nhanh qua thì có thêm bảy người nữa. Tổng cộng là mười người khi cậu thấy Alban rẽ qua góc hành lang, nước da cậu nhóc trông nhợt nhạt hơn bình thường, nhưng cũng đúng thôi, tính tình của Alban rất dễ bị ảnh hưởng bởi những mùi khó chịu—họ đã dần quen với những kỳ quặc của cậu nhóc trong suốt tuần qua rồi.
"Tôi không có Mora để trả cho các người, nên nếu đó là thứ các người tìm kiếm, tôi e rằng các người sẽ thất vọng thôi," cậu vào thẳng vấn đề, "tất cả những gì tôi có thể cung cấp là sự biết ơn và một bữa ăn nóng hổi, giống như mọi người khác."
Sự thẳng thắn của cậu khiến ba người mới đến lẳng lặng rút lui. Một bữa ăn nóng không thể trả nợ cho cơn nghiện của họ, và cậu cũng không trách họ vì điều đó. Ai cũng cần một thứ gì đó để làm tê liệt thực tại tàn khốc ở nơi này.
"Sẽ có rất nhiều việc chân tay, rất nhiều việc phải bưng bê." Thêm hai người nữa rút lui trước khi cậu kịp nói hết câu, họ viện cớ rằng bản thân muốn tránh xa lao động chân tay chứ không phải là làm thêm. Một người nữa định bỏ đi theo thì Wriothesley vội vã lên tiếng làm rõ: "Nhưng đó không phải là sự giúp đỡ duy nhất chúng tôi cần. Bất cứ ai có kinh nghiệm nấu nướng, dọn dẹp, trồng trọt hay thậm chí là ghi chép sổ sách... chúng tôi đều cần cả."
Cuối cùng cậu còn lại bốn người. Nhiều hơn con số cậu nghĩ ban đầu khi Cora lần đầu xuất hiện cùng một đám tù nhân chưa qua kiểm định.
"Được rồi," cậu thở hắt ra, "theo tôi."
An ninh đã được thắt chặt hơn kể từ sau vụ bạo loạn, các lính gác ít bao dung hơn với việc tù nhân ra khỏi phòng giam, nhưng điều đó lại ảnh hưởng xấu đến công việc kinh doanh, và cuối cùng, mọi thứ lại quay trở về như cũ, cho phép họ đi lại trong nhà tù vào sáng sớm. Bất kỳ thái độ thù địch nào từ các lính gác đang làm nhiệm vụ đều được xoa dịu nhờ lời giải thích vội vã của Alban cùng bộ đồng phục của cậu nhóc.
Một vài kẻ chế giễu, vài kẻ khác bĩu môi, nhưng ít nhất họ cũng không gây khó dễ gì mà để mặc nhóm Wriothesley tiếp tục công việc. Đó là điều tối thiểu họ có thể làm, khi mà những tù nhân kia chính là lý do duy nhất khiến những người còn lại trong nhà tù này được ăn uống.
Một lúc sau, họ chạm mặt Elias và Alekos bên ngoài nhà ăn. Họ đã không vào trước như Cora gợi ý, và những cái cau mày của cả hai khiến Wriothesley thấy căng thẳng ngay khi vừa tới gần. Bên trong, nhà ăn như bị một cơn bão quét qua.
Băng ghế, bàn ăn và khay đựng bị quăng quật không thương tiếc. Dụng cụ ăn uống văng tung tóe hoặc bị bẻ cong, lớp bột mì trắng xóa phủ lên mọi thứ—điều đó cho Wriothesley thấy rằng không chỉ nơi các tù nhân ăn uống mới bị phá hoại. Cậu biết đây là gì.
Một lời cảnh cáo.
Cậu không nói gì khi bước vào, tiếng thủy tinh từ mấy chiếc đèn lồng vỡ vụn lạo xạo dưới đế giày. Ngón tay chạm vào chùm chìa khóa mà Alban đã trả lại lúc nãy, cậu lặng lẽ tính toán thời gian cần thiết để dọn dẹp mọi thứ.
Ở khu vực phía sau, tình hình cũng chẳng khá hơn như cậu lo sợ. Giá kệ bị lật đổ, nhiều vại gốm vỡ nát, thực phẩm bên trong đổ tràn ra ngoài. Có vẻ như kẻ phá hoại không có ý định tiêu hủy hết nguồn lương thực, vì căn phòng nơi họ cất hầu hết những nguyên liệu còn cứu vãn được vẫn gần như nguyên vẹn. Điều đó càng củng cố nghi ngờ của cậu rằng đây chỉ là một sự răn đe.
Kẻ nào làm chuyện này, mục đích của chúng không phải là bỏ đói họ, mà là gây khó dễ. Một lời nhắc nhở đanh thép rằng đừng có làm quá lên hay nảy sinh ý định thách thức trật tự cũ.
Bên cạnh cậu, Cora phun ra một lời nguyền rủa, còn Alban thì bồn chồn lo lắng, đôi mắt mở to kinh hoàng nhìn quanh khung cảnh tan hoang.
"Thay đổi kế hoạch," Wriothesley gằn giọng, "chia làm ba đội, làm thế sẽ nhanh hơn. Alekos," cậu nhìn về phía gã khổng lồ đang đứng gần đó, "dẫn những người mới tới dọn dẹp sạch sẽ nhà ăn. Phải trả lại nó y như tình trạng tối qua, nếu không chúng ta sẽ bị đổ lỗi."
Alekos gật đầu, hất cằm ra hiệu cho hai người mà gã chọn—một nam thanh niên có vẻ ngoài khỏe mạnh và một cô gái nhỏ nhắn trông nhát gan, người lúc này có vẻ đang muốn biến mất ngay lập tức. Đúng là trông mong gì vào đám tình nguyện viên này, cậu sẽ ngạc nhiên lắm nếu họ trụ nổi qua buổi sáng nay chứ đừng nói là quay lại vào ngày mai.
"Elias, làm tương tự với khu kho chứa. Dọn dẹp ổn thỏa nhất có thể và xem thứ gì còn cứu được," Elias gật đầu, hai người mới còn lại miễn cưỡng đi theo gã, "Cora, cô nhớ công thức bánh mì chúng ta dùng chứ? Bắt đầu làm vài mẻ đi để ít nhất chúng ta còn có cái mà phát cho họ. Alban và tôi sẽ vào kho sâu để lấy vài tảng phô mai ra đây."
"Rõ, sếp," Cora đồng ý, nhưng sự giận dữ vẫn nhuốm màu trong giọng nói vốn thường ngày rất hoạt bát của cô.
Vẻ mặt cậu vẫn không thay đổi khi dẫn Alban xuống những bậc thang đến kho lạnh. Mãi cho đến khi họ rẽ vào một góc khuất, khuất tầm mắt của mọi người, Wriothesley mới túm chặt lấy cổ áo gã cảnh vệ và dằn mạnh cậu ta vào bức tường gần nhất.
"Là kẻ nào?" Cậu gầm gừ.
"C-Cái gì ạ?" Alban lắp bắp.
"Thôi đi, cậu đã run rẩy như kẻ lên cơn nghiện mà chẳng có thuốc, và cậu vẫn không dám nhìn thẳng vào mắt tôi," Wriothesley ép sát, tay nắm chặt lấy đồng phục của cậu nhóc, "nếu chỉ là nhà ăn, tôi đã cho rằng đó là đám tay sai của Renaud trả thù vặt vì không được tham gia võ đài. Nhưng chúng đã vào được tận đây," đôi mắt lạnh băng của cậu nheo lại đầy nghi vấn, "và để làm được điều đó, chúng cần chìa khóa."
Wriothesley luôn tự hào về khả năng nhìn người của mình, đó là lý do việc Alban cúi mặt đầy hổ thẹn khiến cậu cảm thấy thật thất vọng. Nắm đấm siết chặt cổ áo Alban, khiến chất vải cứng cáp nhăn nhúm lại trước khi Alban chộp lấy cổ tay cậu.
"Tôi..." cậu bắt đầu, "—không thể nói được..."
Cậu ta không thể nói đó là ai?
Có gì đó không đúng. Alban là người thế nào cậu biết rõ—đôi khi xa rời thực tế, thiếu suy nghĩ và hay than vãn—nhưng trong tâm hồn cậu ta không có lấy một mảy may ác ý. Sự do dự của cậu nhóc ngay cả khi đang run rẩy dưới sự kiểm soát của Wriothesley chỉ làm tăng thêm nghi ngờ trong cậu.
"Không thể... vì mệnh lệnh sao?" Cậu hỏi, và đôi mắt hoảng hốt của cậu nhóc chạm vào mắt cậu là câu trả lời duy nhất cậu cần.
Chính là Nam tước đứng sau chuyện này.
Không khó để tin rằng Alban đã bị ép phải nộp lại chìa khóa cho cấp trên nếu bị ra lệnh. Nam tước có thể đã cho cậu nhóc cơ hội sửa chữa vài sai lầm nghiêm trọng trong Pháo đài, nhưng lão luôn mặc định rằng Wriothesley sẽ thất bại. Và giờ đây, vì lý do gì đó, Doloson không còn thích thú với những kết quả mà cậu đạt được nữa.
Một tràng cười bật ra từ môi Wriothesley, khiến Alban run rẩy vì tưởng sắp bị đánh ngay lúc Wriothesley buông cổ áo cậu ta ra.
"Vậy ra là chúng ta đang làm đúng điều gì đó rồi, nhỉ?"
Nhìn vẻ mặt suy sụp của Alban khi nhận ra thành quả làm việc của họ bị phá hủy, và sự tủi hổ tràn ngập trong đôi mắt đẫm lệ kia, Wriothesley biết rằng bất cứ vai trò nào cậu ta đóng trong âm mưu này đều là ngoài ý muốn.
Tuy nhiên, mệnh lệnh là mệnh lệnh, và cậu không định ép Alban phải thừa nhận sự can thiệp của Nam tước và đám người của lão. Đó sẽ là cách nhanh nhất để Alban bị tước chức vụ, và như thế, họ sẽ mất đi người có quyền lực duy nhất mà họ có trong toàn bộ dự án này.
"Quay lại làm việc đi," cậu nói rồi quay lưng đi, đút tay vào túi quần khi tiếng gọi của Alban khiến cậu dừng lại.
"K-Không chỉ vì anh đang làm đúng đâu," cậu nhóc thừa nhận. Wriothesley quay lại nhìn với sự tò mò lộ rõ, trong khi Alban vò nát hai bàn tay mình, phân vân giữa việc có nên chia sẻ với một tù nhân hay không, "đói khát là một trong những cách dễ nhất để kiểm soát con người," cậu ta trích dẫn lại lời của ai đó mà Wriothesley hiểu ngay là ai, "khi cơn đói không còn là vấn đề nữa, người ta bắt đầu để ý đến tất cả những cách mà họ bị đối xử tệ hại..."
Mọi thứ bắt đầu trở nên logic.
Nếu họ đói, thì dù là sự nhượng bộ nhỏ nhất cũng sẽ trông như chiến thắng vĩ đại nhất—đó chính là cách Nam tước thích. Họ đã làm quá tốt khiến lão ta không hài lòng. Chỉ trong tuần vừa qua, tần suất các vụ bạo lực đã giảm đi, vì cái đói không còn là yếu tố dẫn đến sự tuyệt vọng khiến người ta hành động bốc đồng nữa. Không khí trong cỗ quan tài ngột ngạt này đã nhẹ nhàng hơn, và tất cả chỉ cần một bữa ăn tử tế để làm điều đó.
Thử nghĩ xem điều gì có thể thực hiện được nếu cậu có thể áp dụng tất cả những dự định trong đầu mình...
Nhưng chẳng có gì trong đó khả thi nếu Nam tước cứ cản đường mọi bước đi của cậu. Cậu vuốt bàn tay lên quai hàm.
"Cậu nghe được chính miệng lão nói ra sao?" Cậu cố gắng khéo léo, không nêu tên để Alban tiếp tục cởi mở.
"Tôi... vâng," cậu ta thừa nhận. "Một vài... nhà đầu tư của lão có ở đó, lão nói với họ, n-nhưng tôi nghe được khi đang trên đường đi ra."
Tâm trí cậu trôi về lá thư nhìn thấy trong ngăn kéo của Sigewinne. Ta đã để mọi thứ sụp đổ và tan vỡ quá lâu, và giờ đây đang phải gánh chịu hậu quả của việc chắp vá lại từng mảnh một. Đây—cái Pháo đài này—là một trong những mảnh ghép đó, nhưng nó nằm ngoài tầm mắt và tâm trí. Cậu không thể trông cậy vào những người trên mặt đất, ngay cả vị Long vương, để sửa chữa những gì đã đổ nát ở dưới này.
Nhưng... không có nghĩa là Neuvillette không thể giúp ích.
Dạ dày Wriothesley thắt lại, trái tim bóp nghẹt vì hồi hộp. Việc này chẳng liên quan gì đến quá khứ hay cảm xúc của cậu dành cho vị rồng ấy cả. Nếu cậu muốn tạo ra thay đổi, cậu cần một bằng chứng.
"Cậu có sẵn lòng viết lại chuyện đó không?" Cậu hỏi một cách thận trọng, không nhận ra mình vừa khởi động chính điều mà cậu đã từng do dự. "Giả sử trong tương lai, họ cần một nhân chứng đáng tin cậy..." cậu tiếp tục, liếc nhìn đôi mắt mở to của Alban khi cậu ta nhận ra Wriothesley đang yêu cầu điều gì, "người đó có thể là cậu không?"
Một người tố giác.
Cổ họng Alban nghẹn lại khi điều không nói ra treo lơ lửng giữa họ.
Sự do dự đó càng làm nút thắt quanh tim Wriothesley thêm siết chặt. Chẳng có gì ngăn được gã cảnh vệ này mang thông tin đó quay lại báo cho Nam tước để lấy điểm, và phá hủy mọi thứ trước khi nó kịp bắt đầu.
"Tôi mới chỉ là lính gác ở đây được khoảng sáu tháng," Alban tiếp tục vò hai bàn tay—một thói quen lo lắng mà Wriothesley đã học được, "n-nhưng trong sáu tháng đó, tôi đã chứng kiến nhiều sự tàn bạo h-hơn mức tôi có thể chịu đựng. Nhắm mắt làm ngơ trước những nỗi khổ đau như họ yêu cầu... T-Tôi không thể ngủ được nữa vì điều đó."
Mặc dù Alban ở vị thế tốt hơn bất kỳ tù nhân nào ở đây, Wriothesley vẫn cảm thấy một chút đồng cảm với cậu trai trẻ này. Cậu chưa bao giờ thực sự cân nhắc đến những người chọn làm việc ở đây với ý định tốt đẹp, chỉ để bị vùi dập hoặc xua đuổi bởi chính bộ máy hành chính áp bức đang phát triển nhờ sự thối nát.
"Vậy hãy để đây là cách cậu chuộc lỗi, cách mà cả hai chúng ta cùng chuộc lỗi," Wriothesley bước lại đứng trước mặt cậu ta, những ngón tay bóp chặt vai cậu nhóc đầy khích lệ, "để cuối cùng chúng ta có thể có một giấc ngủ ngon."
Alban thở phào, lấy lại bình tĩnh và gật đầu với một quyết tâm mới—thứ quyết tâm mà chỉ tuổi trẻ mới có được.
"Hãy bảo tôi cần phải làm gì, sếp."
Wriothesley thở ra một tiếng cười mệt mỏi.
"Trước hết, đừng gọi tôi là sếp," cậu xoa rối mái tóc cắt tỉa gọn gàng của cậu trai trẻ, "tôi khá chắc là một Nam tước sẽ không vui vẻ gì khi nghe sự so sánh đó nếu liên quan đến thứ cấp bậc nhảm nhí kia đâu. Đừng để bản thân gặp rắc rối."
Đó là một câu nói khá mỉa mai, chính Wriothesley nhận ra điều đó sau khi nói, bởi lẽ chính cậu vừa yêu cầu Alban thực hiện điều nguy hiểm nhất đối với bất kỳ ai trong số họ: quay lưng lại với hệ thống đang nuôi sống cậu ta.
"Tôi sẽ không gặp rắc rối đâu," cậu ta vội vàng giải thích, đôi má hơi phồng lên, "ý tôi là... không phải nếu người đó có cấp bậc cao hơn Nam tước, như hoàng tử, hay một công tước chẳng hạn—"
"Tiếc là tôi chẳng có cấp bậc hay một giọt máu hoàng tộc nào trong người."
Thằng nhóc này đang nói cái gì vậy? Cậu đã nhận ra Alban hơi xa rời thực tế, là người ưa chuộng những lý tưởng và hư cấu. Những lý tưởng có lẽ là thứ đã đưa cậu ta đến cái hố này ngay từ đầu.
"Dòng máu thì quan trọng gì nếu trái tim anh cao quý?"
Wriothesley không có câu trả lời cho chủ nghĩa lý tưởng của Alban. Bản thân cậu chưa bao giờ có điều đó, ngay cả khi còn là một đứa trẻ. Đó có lẽ là lý do tại sao trí tuệ của cậu nhóc làm cậu rung động đến thế—một ý nghĩ vô hại được thốt ra thành lời, thách thức mọi thứ mà cả hai từng được dạy về nhau.
Cậu... thực sự hy vọng Alban không bao giờ đánh mất những lý tưởng đó, dù rằng thực tế có lẽ sẽ có lợi cho cậu ta hơn... họ cần ai đó thấy được những vì sao trong những khoảng trống giữa các thanh sắt.
Thay vì trả lời, cậu chuyển sự chú ý trở lại những căn phòng lạnh mà cậu đang cố gắng biến thành tủ đông thực thụ. Một nửa căn phòng nhỏ nhất vẫn còn phủ đầy sương giá, những ngón tay cậu lướt trên bề mặt đóng băng để đo xem độ sâu của băng đã tới đâu.
Alban theo sát phía sau, nhìn quanh những tiến triển của cậu rồi huýt sáo một tiếng khẽ.
"Có vẻ như nó hiệu quả," cậu ta chà xát hai bàn tay, thổi vào đó khi cái lạnh bắt đầu thấm dần, "tôi vẫn không hiểu sao anh có thể lén đưa Vision của mình vào đây để làm tất cả những việc này."
"Tôi không có Vision," Wriothesley trả lời lơ đãng, ấn cả hai tay lên tường một lần nữa và nhắm mắt lại, làm đóng băng chính những hạt đất đang lơ lửng trong kim loại phía sau bức tường. Nó quá dày đặc, và Wriothesley đã tỉ mỉ truyền thêm Cryo vào đó suốt tuần qua cho đến khi không còn cách nào làm nó tan chảy được nữa.
Đây là thí nghiệm.
Nếu nó bền vững, cậu có thể áp dụng tương tự cho phần còn lại của căn phòng và có lẽ, thêm hai căn nữa ở dưới này. Thực phẩm có thể được làm mát hoặc thậm chí là cấp đông trong vài trường hợp. Sẽ ít lãng phí hơn và có nhiều cơ hội cho sự đa dạng.
"Chưa từng nghe ai ngoài vị Long vương có thể sử dụng sức mạnh nguyên tố mà không cần Vision," Alban tiếp tục, "anh không định nói với tôi là anh cũng là một con rồng đấy chứ?"
Wriothesley cười khúc khích cùng với tiếng cười của Alban trước ý nghĩ đó.
Giá mà cậu biết...
"Được rồi," cậu gật đầu về phía đống phô mai ở góc đối diện, "chúng ta mang những thứ đó lên đĩa đi. Trong khi các cậu chuẩn bị, tôi sẽ đi gặp Nam tước."
Alban tái mặt.
"Không phải..." Wriothesley làm rõ, "để nói ra bất cứ điều gì cậu đã kể cho tôi, nhưng chúng ta cần sự phê duyệt của lão cho các đơn hàng kiểm kê trong tương lai, và các thương nhân sẽ không đồng ý bất cứ thứ gì nếu không có dấu ấn của lão trên giấy tờ."
Vẻ hoài nghi mà Alban không thể che giấu ít liên quan đến việc Wriothesley có nói thật hay không, mà liên quan đến việc tìm kiếm sự hỗ trợ của Nam tước—điều mà cả hai đều biết lão sẽ chẳng bao giờ sẵn lòng giúp đỡ mặc dù nó mang lại lợi ích chung cho tất cả.
"Cứ để đó cho tôi," Wriothesley trấn an, và trước khi Alban kịp trả lời, cậu ta đã bị một cú "phịch" khi Wriothesley chất hai tảng phô mai vào đôi tay đang mở rộng của cậu nhóc, "giờ thì, quay lại làm việc đi."
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com