Chương 5
Starling biết cách vén khéo việc nhà, nhưng không phải kiểu người ngăn nắp đến mức cực đoan. Phía bên căn hộ duplex của cô rất sạch sẽ, đồ đạc cần là có ngay, nhưng chúng lại thường có xu hướng chất đống, quần áo giặt sạch chưa gom, tạp chí nhiều hơn cả chỗ chứa. Cô là cao thủ thế giới trong khoản nước đến chân mới nhảy chuyện là lượt quần áo, lại chẳng màng điệu đà chải chuốt, nên cuộc sống cứ thế trôi qua một cách ổn thỏa.
Những lúc cần tìm lại sự trật tự, cô sẽ bước qua căn bếp chung để sang phía bên nhà của Ardelia Mapp. Có mặt Ardelia ở đó là một đặc ân, bởi cô luôn nhận được những lời khuyên hữu dụng, dù đôi khi chúng quá thẳng thắn đến mức xát muối vào lòng. Còn nếu Ardelia vắng nhà, một giao kèo ngầm giữa hai người cho phép Starling được ngồi giữa không gian ngăn nắp tuyệt đối của Mapp để tĩnh tâm suy nghĩ, miễn là không để lại dấu vết gì. Và hôm nay cô đang ngồi chính tại nơi đó. Đó là một trong những ngôi nhà lúc nào cũng đầy ắp hình bóng của gia chủ, dù cho cô ấy có hiện diện ở đó hay không.
Starling ngồi nhìn tờ giao ước bảo hiểm nhân thọ của bà Mapp, treo trên tường trong chiếc khung gỗ tự làm, y như những ngày nó còn treo trong căn nhà lĩnh canh hẻo lánh của bà, rồi đến căn chung cư trợ cấp của nhà Mapp thuở Ardelia còn thơ ấu. Người bà năm xưa đã bán từng mớ rau bông hoa trong vườn, gom góp từng đồng cắc bạc để đóng phí, nhờ thế bà mới có thể vay tiền dựa trên tờ bảo hiểm đã đáo hạn này để đỡ đần Ardelia vượt qua chặng cam go cuối cùng trên con đường tự bươn chải vào đại học. Cạnh đó là bức hình của người phụ nữ nhỏ bé, già nua, không một nét cười gượng gạo phía trên chiếc cổ áo trắng tinh được hồ cứng, một sự thông thái truyền đời ngời sáng trong đôi mắt đen sâu thẳm dưới vành chiếc mũ rơm cứng.
Ardelia luôn gắn kết với cội nguồn và tìm thấy sức mạnh từ đó mỗi ngày. Giờ đây, Starling cũng đang chạm vào gốc rễ của chính mình để cố gom góp chút tàn lực. Mái ấm Lutheran ở Bozeman đã nuôi ăn nuôi mặc và cho cô một cái khuôn phép đạo đức tử tế, nhưng để đương đầu với nghịch cảnh hiện tại, cô buộc phải thức tỉnh bản năng từ trong dòng máu.
Một kẻ xuất thân từ tầng lớp da trắng bần cùng thì có được những gì? Lại còn từ một mảnh đất mà thời Tái thiết kéo dài dai dẳng đến tận thập niên 1950. Nếu cội nguồn của ta là những người mà giới học thức trên giảng đường hay gọi bằng cái tên miệt thị là lũ vô học với nhà quê cổ đỏ, hoặc nhẹ nhàng hơn một chút là dân lao động nghèo vùng Appalachia. Nếu ngay cả cái đám quý tộc nửa mùa ở miền Nam, lũ người không mảy may ban phát chút tôn nghiêm nào cho lao động chân tay, còn gọi người thân của ta là chim gõ kiến, thì ta biết bám víu vào truyền thống nào để làm gương? Rằng phe ta đã tẩn cho chúng một trận thừa sống thiếu chết ở trận Bull Run đầu tiên sao? Rằng cụ cố đã lập công hiển hách tại Vicksburg, hay một góc trận địa Shiloh sẽ mãi mãi khắc tên thành phố Yazoo? Vẫn có đầy danh dự và thừa khôn ngoan khi một người vươn lên bằng những tàn dư còn sót lại, tự gây dựng cơ nghiệp từ bốn mươi mẫu đất cằn cỗi với một con lừa đầy bùn đất, nhưng chính ta phải tự mình nhìn ra điều đó. Bởi vì sẽ chẳng có một ai nói cho ta nghe đâu.
Starling nỗ lực hoàn thành xuất sắc khóa huấn luyện FBI chỉ vì cô không còn đường lui nào khác. Cô sống sót phần lớn cuộc đời trong các viện mồ côi bằng cách tôn trọng kỷ luật và chơi sòng phẳng, chơi hết mình theo luật chơi. Cô luôn tiến về phía trước, giành học bổng, có tên trong đội tuyển. Việc không thể thăng tiến tại FBI sau một khởi đầu lẫy lừng là một trải nghiệm mới mẻ nhưng kinh khủng đối với cô. Cô va rầm rầm vào bức trần kính vô hình, bất lực như một con ong bị nhốt trong chai.
Cô chỉ có vỏn vẹn bốn ngày để gặm nhấm nỗi đau mất John Brigham, người đã bị bắn chết ngay trước mắt cô. Cách đây lâu lắm rồi, John Brigham từng ngỏ ý với cô và cô đã lắc đầu. Rồi anh hỏi liệu họ có thể làm bạn được không, anh hoàn toàn nghiêm túc, và cô cũng đồng ý với tất cả sự chân thành.
Cô buộc phải đối diện với sự thật trần trụi, chính tay cô đã hạ sát năm người tại chợ cá Feliciana. Trong tâm trí cô, hình ảnh gã giang hồ băng Crip cứ lóe lên hết lần này đến lần khác, lồng ngực gã bị ép nát bét giữa hai làn xe, hai tay gã cào cấu điên cuồng lên nóc xe khi khẩu súng từ từ tuột mất.
Một lần nọ, cần tìm chút bình yên để bấu víu, cô tìm đến bệnh viện để thăm đứa con đỏ hỏn của Evelda. Mẹ của Evelda đang ở đó, ôm đứa cháu trong lòng, chuẩn bị làm thủ tục xuất viện. Vừa nhận ra Starling qua những tấm hình trên báo, bà liền giật phắt đứa bé giao cho cô y tá, rồi trước khi Starling kịp định thần, bà đã giáng một cái tát nảy lửa vào ngay bên má đang quấn băng của cô.
Starling không đánh trả. Cô dùng một đòn khóa cổ tay, ghim chặt người đàn bà lớn tuổi vào cửa kính phòng sinh cho đến khi bà ta thôi giãy giụa, khuôn mặt bà áp sát vào lớp kính mờ mịt vết bọt cùng nước dãi. Máu tuôn ròng ròng xuống cổ Starling và cơn đau thấu trời khiến cô xây xẩm mặt mày. Cô phải vào phòng cấp cứu để khâu lại vết rách ở tai và từ chối báo án. Một tay hộ lý ở đó đã bán đứng thông tin cho tờ báo lá cải Tattler để đổi lấy ba trăm đô la.
Cô buộc phải rời nhà thêm hai bận để lo toan hậu sự cho John Brigham và tiễn đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington. Họ hàng của Brigham thưa thớt lại ở cách biệt, nên trong tờ di chúc viết tay, anh đã gửi gắm Starling lo liệu cho mình khi nhắm mắt xuôi tay. Vết thương quá nặng nơi khuôn mặt khiến linh cữu anh phải đóng nắp hoàn toàn, song cô vẫn cố sửa sang lại diện mạo cho anh chu toàn nhất có thể. Cô đặt anh nằm đó trong bộ đại lễ phục thủy quân lục chiến màu xanh biển tăm tắp, trên ngực cài tấm ngôi sao bạc cùng những dải cuống huân chương vinh danh khác.
Khi tang lễ kết thúc, vị chỉ huy của Brigham đã trao tận tay Starling chiếc hộp đựng những khẩu súng cá nhân, thẻ phù hiệu của anh và vài món đồ thu dọn từ chiếc bàn làm việc vốn chẳng mấy khi ngăn nắp, trong số đó có cả con chim đồ chơi đo thời tiết ngộ nghĩnh cứ cúi đầu mổ nước trong ly của anh.
Năm ngày nữa, Starling phải bước vào phiên điều trần có thể bóp nghẹt tương lai của cô. Ngoại trừ một dòng tin nhắn ngắn ngủi từ Jack Crawford, chiếc điện thoại công việc vẫn lặng ngắt như tờ, và Brigham thì đã vĩnh viễn không còn để cô tâm sự nữa rồi.
Cô liên lạc với người bảo vệ quyền lợi cho mình ở Hiệp hội Đặc vụ FBI. Lời khuyên duy nhất gã đưa ra là cô đừng đeo hoa tai lòng thòng hay xỏ giày hở ngón đến buổi điều trần.
Ngày nào cũng vậy, đám đài truyền hình và báo giới cứ nhao vào xâu xé câu chuyện cái chết của Evelda Drumgo, nghiền ngẫm và giật cục nó như thể một con chó đang ngoạm chặt rồi ra sức quật chết một con chuột.
Giữa không gian ngăn nắp đến tuyệt đối này của căn nhà Mapp, Starling mới có thể cố gom góp lại những dòng suy nghĩ.
Thứ sâu mọt tàn phá bản thân ta chính là nỗi thèm khát được thỏa hiệp với những kẻ định kiến, cốt chỉ để cầu xin sự công nhận từ chúng.
Có tiếng động cắt ngang.
Starling cố lục lọi lại từng từ một cô đã thốt ra trong chiếc xe mật phục. Liệu cô có lỡ lời nói điều gì quá mức cần thiết? Một tiếng động cắt đứt dòng suy nghĩ của cô.
Brigham từng bảo cô phổ biến thông tin về Evelda cho cả đội. Liệu lúc đó cô có tỏ ý hằn học, hay lỡ dùng từ ngữ miệt thị nào không-
Tiếng động cứ lọt vào phòng. Cô định thần lại rồi mới nhận ra đó là tiếng chuông cửa nhà mình ở ngay sát vách. Khả năng cao lại là một tay nhà báo. Cô cũng đang nơm nớp đợi một tờ trát đòi hầu tòa dân sự gửi đến. Khẽ vén góc rèm cửa trước nhà Mapp, cô lén nhìn ra ngoài và thấy người phát thư đang lững thững đi về phía chiếc xe tải của ông ta.
Cô mở toang cửa nhà Mapp rồi gọi với theo người đưa thư, chủ động quay lưng che chắn tầm nhìn của chiếc xe báo chí trang bị ống kính siêu xa ở bên kia đường trong lúc đặt bút ký nhận thư hỏa tốc. Chiếc phong bì có màu tím nhạt, mặt giấy lanh thượng hạng đan xen những sợi tơ lụa óng ánh. Dù đầu óc đang rối bời, món đồ ấy vẫn khơi dậy trong cô một cảm giác quen thuộc. Lùi lại vào trong nhà để tránh những ánh đèn rình rập, cô cúi xuống nhìn dòng địa chỉ. Một nét chữ nét thanh nét đậm viết bằng bút chấm mực vô cùng chuẩn mực và quý phái.
Át đi tiếng o o run rẩy của nỗi kinh hoàng vốn dĩ âm ỉ bấy lâu trong tâm trí Starling, một hồi chuông cảnh giác lập tức kích hoạt. Lớp da bụng cô râm ran co giật, cảm giác giống hệt như có một giọt chất lỏng lạnh buốt vừa tuột thẳng xuống từ cổ áo.
Starling thận trọng cầm chiếc phong bì bằng hai góc và áp tải nó vào bếp. Cô thò tay vào túi xách, rút ra đôi găng tay xử lý vật chứng màu trắng bất ly thân. Miết chặt chiếc phong bì lên mặt bàn bếp cứng, cô cẩn thận nắn bóp từng góc cạnh. Chất giấy lanh tuy dày dặn, nhưng nếu có khối u từ một viên pin đồng hồ dùng để kích nổ phiến thuốc nổ dẻo C-4, cô chắc chắn sẽ nhận ra ngay. Cô biết thừa quy trình là phải đem nó đi soi dưới máy chiếu tia X. Tự tiện bóc nó ra, cô sẽ chuốc lấy rắc rối. Rắc rối sao? Khéo lo. Mẹ kiếp, sợ quái gì nữa.
Cô lấy con dao bếp rạch một đường bén ngót qua miệng phong bì, rút ra tờ giấy lanh mượt mà như tơ lụa. Chẳng cần phải liếc mắt xuống nhìn dòng chữ ký bên dưới, cô đã lập tức nhận ra ai là kẻ vừa gửi thư cho cô.
Clarice thân mến,
Tôi đã dõi theo đầy hào hứng từng bước đường sa cơ và nỗi hổ thẹn trước công chúng mà cô đang phải gánh chịu. Vết nhơ của bản thân chưa bao giờ làm tôi bận lòng, ngoại trừ sự phiền toái khi phải ngồi tù, nhưng cô thì có lẽ đang nhìn nhận vấn đề một cách hạn hẹp.
Trong những buổi sơ giao dưới hầm tối, tôi nhận ra người cha đã khuất của cô, gã tuần đêm bạc mệnh ấy, đóng vai trò cốt tủy trong hệ thống đức tin của cô. Tôi tin rằng chiến tích triệt hạ sự nghiệp nhà mốt của Jame Gumb khiến cô thỏa mãn nhất, chẳng qua vì cô nhìn thấy hình bóng cha mình trong chương hạ màn ấy.
Giờ thì cô đã bị FBI ruồng rẫy. Có bao giờ cô hình dung cha mình từng đứng ở vị trí bề trên tại cái tổng cục đó chưa? Cô có tự vẽ ra viễn cảnh ông là một trưởng phòng, hay - đỉnh hơn cả Jack Crawford - một PHÓ GIÁM ĐỐC, đang hãnh diện chứng kiến cô thăng tiến? Để rồi giờ đây, cô lại thấy ông bị nhục nhã và nghiền nát bởi vết nhơ của cô? Bởi thất bại của cô? Bởi cái kết cục rẻ rúng, vụn vặt của một tiền đồ từng rất xán lạn? Cô có nhìn thấy bản thân đang phải cắm mặt vào những việc tạp dịch thấp kém mà mẹ cô từng phải hạ mình làm thuê, sau cái ngày lũ nghiện bắn nát đầu CHA cô? Hửm? Thất bại của cô có làm liên lụy đến họ không, liệu người đời có mãi khinh miệt cha mẹ cô là loại da trắng rác rưởi hạ đẳng mạt hạng trong mấy khu nhà kéo tạm bợ không? Nói thật cho tôi nghe đi, Đặc vụ Starling.
Hãy lắng lại một nhịp trước khi chúng ta đi tiếp nhé.
Giờ tôi sẽ vạch ra cho cô thấy cái bản lĩnh cốt tủy sẽ cứu rỗi cô: Cô không để nước mắt làm mờ lý trí, cô có đủ gan góc để đọc tiếp đến tận cùng.
Đây là một bài tập thực hành có thể sẽ giúp ích cho cô. Tôi muốn cô thực sự bắt tay vào làm điều này cùng tôi: Nhà cô có chiếc chảo gang đen nào không? Là một cô gái vùng núi miền Nam, tôi không tin là cô lại thiếu một món như vậy.
Đặt chiếc chảo lên bàn bếp. Bật đèn trần lên.
Mapp được thừa hưởng chiếc chảo gang từ bà ngoại và cô dùng nó luôn tay. Mặt chảo đen nhánh, láng mịn như mặt kính và tuyệt nhiên chưa bao giờ biết đến một giọt xà phòng. Starling nhấc chiếc chảo lên, đặt ngay trước mặt cô trên bàn bếp.
Hãy nhìn vào lòng chảo đi, Clarice. Cúi thấp người xuống và nhìn sâu vào đó. Nếu đây là chiếc chảo của mẹ cô, mà điều đó thì hoàn toàn có thể lắm chứ, thì ẩn sâu trong từng liên kết phân tử của nó chính là rung cảm của mọi cuộc trò chuyện từng hiện diện nơi đây. Tất cả những lời qua tiếng lại, những hờn giận tủn mủn, những bí mật kinh hoàng, những lời thông cáo ráo hoảnh về tai ương, và cả những tiếng rên rỉ lẫn chất thơ của ái tình.
Ngồi xuống bàn đi, Clarice. Hãy nhìn sâu vào lòng chảo. Nếu được tôi luyện tốt, nó sẽ là một mặt hồ đen kịt, đúng chứ? Cảm giác như thể đang nhìn xuống đáy giếng sâu. Ảnh ngược của cô không hiện rõ mồn một ở dưới đáy, nhưng hình hài cô đang hiển hiện ở đó, phải không? Chính cô đấy, cô đang ở trong đó với diện mạo nhuốm đen, bao quanh bởi một quầng sáng tựa như mái tóc cô đang rực cháy.
Bản chất chúng ta chỉ là những cấu trúc tinh vi từ carbon, Clarice. Cô, chiếc chảo kia, và Cha cô đã khuất dưới lòng đất, lạnh lẽo như thanh gang đó. Mọi thứ vẫn luôn ở đó. Nghe đi. Họ thực sự đã nói cười thế nào, đã sống ra sao - những người cha người mẹ từng lam lũ của cô? Hãy gọi tên những ký ức trần trụi, chứ đừng bấu víu vào thứ ảo ảnh đang làm thổn thức lòng cô.
Vì sao cha cô không làm phó hạt trưởng, không ăn cánh với bè lũ ở thế lực tòa án? Vì sao mẹ cô phải đi chùi rửa ở mấy nhà nghỉ để nuôi cô, dẫu cho bà đã bất lực trong việc giữ mái ấm ấy lành lặn cho tới ngày cô trưởng thành? Ký ức sâu đậm nhất của cô nơi gian bếp là gì? Đừng nghĩ về bệnh viện, hãy nghĩ về căn bếp.
Cảnh mẹ tôi gột rửa những vết máu trên chiếc mũ của cha.
Còn ký ức ấm lòng nhất của cô ở căn bếp thì sao? Là cảnh cha tôi dùng con dao gấp cũ mèm đã mẻ mũi để bóc cam, rồi chia từng múi cho chị em chúng tôi.
Cha cô, Clarice, chỉ là một gã tuần đêm. Còn mẹ cô là một mụ lao công.
Cái tiền đồ xán lạn ở tổng cục liên bang là tham vọng của cô hay là ước nguyện của họ? Cha cô sẽ chịu uốn lưng đến mức nào để hòa hoãn với cái guồng quay quan liêu rệu rã ấy? Ông sẽ phải bợ đỡ bao nhiêu kẻ? Đã một lần nào trong đời cô thấy ông cam chịu luồn cúi hay nịnh hót ai chưa? Lũ sếp của cô đã chứng minh được chút đức hạnh nào chưa, Clarice? Thế còn cha mẹ cô, họ có để lại giá trị gì không? Nếu có, hai hệ giá trị đó có tương thích? Nhìn vào lòng chảo gang trung thực kia và nói tôi nghe. Cô nghĩ mình đã phản bội hương hồn của gia đình sao? Họ có muốn cô phải cúi đầu nịnh nọt không? Họ nhìn nhận thế nào về lòng gan góc? Cô hoàn toàn có thể mạnh mẽ đến mức cô muốn.
Cô là một chiến binh, Clarice. Kẻ thù đã đền tội, đứa trẻ đã bình an. Cô chính là một chiến binh.
Những nguyên tố ổn định nhất, Clarice, luôn nằm ở quãng giữa của bảng tuần hoàn, tầm giữa khoảng từ sắt cho đến bạc.
Khoảng giữa sắt và bạc. Tôi thấy đó chính là con người cô.
Hannibal Lecter
P.S. Cô biết mình vẫn còn nợ tôi một câu trả lời mà, phải không? Nói tôi nghe, cô còn giật mình tỉnh giấc bởi tiếng cừu non nữa không? Vào một ngày Chủ nhật bất kỳ, hãy đăng thông báo lên mục nhắn tin sầu muộn trên ấn bản toàn quốc của tờ The Times, tờ International Herald-Tribune, và tờ China Mail. Hãy gửi đến địa chỉ A. A. Aaron để bài của cô được xếp lên hàng đầu, và ký tên Hannah.
Lúc đọc thư, Starling như nghe thấy những lời này bằng chính giọng nói từng giễu cợt và đâm toạc cô, từng phẫu thuật đời cô và khai sáng cho cô trong khu an ninh tối cao của trại tâm thần, khi cô buộc phải đem phần máu thịt sâu kín nhất của đời mình ra giao dịch với Hannibal Lecter để đổi lấy thứ kiến thức sống còn về Buffalo Bill. Thanh âm khè khè như kim loại cọ xát của chất giọng cả năm hiếm khi dùng đến ấy vẫn lảng vảng trong những cơn mơ của cô.
Một chiếc mạng nhện mới vừa giăng ở góc trần gian bếp. Starling dán mắt vào đó, đầu óc quay cuồng trong những luồng suy nghĩ hỗn độn. Mừng mừng tủi tủi, nửa tiếc nuối nửa hân hoan. Vui vì lời gợi mở, vui vì đã thấy được lối thoát để tự chữa lành vết thương lòng. Cô vừa mừng vừa buồn cười khi thấy đường dây chuyển tiếp thư từ của Tiến sĩ Lecter tại Los Angeles có vẻ đã thuê phải tay mơ giá rẻ, lần này chúng dám dùng cả máy dập dấu bưu điện. Jack Crawford hẳn sẽ sướng rơn khi có được bức thư này, và cả bên bưu cục lẫn phòng bưu điện hình sự cũng thế.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen4U.Com